II: Edgar Allan Poe( 1809 - 1849) / ĐỌC TRUYỆN

(ĐC sưu tầm trên NET)

Sách là ngọn đuốc soi rọi chân lý, là chiếc khăn thấm đẫm máu, nước mắt và lòng nhân ái của loài người!
--------------------------------------------------------------------
 
Cái chết và ngôi mộ bí ẩn của ông tổ truyện trinh thám
Mộ phần của nhà văn Edgar Allan Poe trở thành điểm thu hút nhiều người hâm mộ. Họ đến vì muốn tưởng niệm cuộc đời của nhà văn thiên tài nhưng bất hạnh.

Edgar Allan Poe (19 tháng 1 năm 1809 – 7 tháng 10 năm 1849) là ông tổ của thể loại truyện trinh thám và hình sự. Poe viết truyện trinh thám không nhiều nhưng chỉ với 5 truyện ngắn đã để lại cho chúng ta 5 hình mẫu kinh điển của thể loại trinh thám. Hình mẫu thứ nhất là Vụ án đường Morgue: kiểu truyện vụ án với cái chết bí ẩn, khủng khiếp trong căn phòng khóa chặt - chứng cớ mơ hồ qua bản tin trên báo và lời khai của các nhân chứng - cảnh sát bó tay - nhà thám tử nghiệp dư quan sát toàn bộ hiện trường, ghi nhận những chi tiết khác thường, liên kết những thông tin với trí tuệ sắc sảo phát hiện được hung thủ : một con đười ươi khổng lồ vùng Boréo. Hình mẫu thứ hai Con quỷ đồi bại thì đưa ra sáng tạo là người điều tra lại chính là kẻ thủ phạm. Hình mẫu thứ ba là Lá thư bị mất cắp với cốt truyện đơn giản: vật bị mất một cách khó hiểu – cảnh sát trưởng, người có nghiệp vụ chuyên môn và có nhiệm vụ tìm kiếm đã điều tra, truy tìm tỉ mỉ mọi ngóc ngách bí mật nhất nhưng không phát hiện được - nhà thám tử nghiệp dư dựa vào suy đoán tâm lý lại phát hiện chỗ cất giấu ít ngờ nhất là ‘để nó ngay dưới mũi thiên hạ” (Ngô Tự Lập, 2002, 462). Hình mẫu thứ tư là Con cánh cam vàng: bắt đầu từ chi tiết kho báu- mật mã- nhà thám tử nghiệp dư cùng người bạn tìm cách giải mã- tìm được kho báu. Và hình mẫu thứ năm là Bí mật của Marie Roger: một án mạng có thật đăng trên báo, lúc Poe đang là biên tập viên văn học của tờ tạp chí “Grew” của bang Philadelphia. Cách khám phá bí mật vụ án nhờ vào những bức thư cuả nạn nhân gửi cho một người bạn và sự thu thập tư liệu về những mối quan hệ của nạn nhân. Ba năm sau, người ta đã tìm được tên sát nhân và đúng như Poe từng miêu tả trong truyện của mình. Và nhân vật thám tử - nhà quý tộc tài ba A.Dupin của Poe đã trở thành nhân vật được Conan Doyle yêu thích từ bé để làm nhân vật hồi sinh trong đứa con bất tử của mình: Sherlock Holmes.
 


Edgar Allan Poe

Edgar Poe - ông tổ của nền văn học trinh thám

Theo đánh giá của giới phê bình văn học, thế kỷ XIX là thế kỷ mở đầu của thể loại văn học trinh thám và nhà văn Mỹ Edgar Allan Poe được coi là ông tổ khai sáng cho dòng văn học kỳ vĩ này.






Quốc Anh - 
Edgar Allan Poe sinh năm 1809 tại Boston, trong một gia đình diễn viên. Suốt bốn mươi năm ngắn ngủi của cuộc đời mình, Poe đã nhiều lần phải đối mặt với những cái chết bi thảm xảy đến với người thân. Bố mẹ, rồi người vợ thân yêu của ông lần lượt chết bởi bệnh lao phổi. Điều này lý giải tại sao ông thường bị ám ảnh và nói nhiều về cái chết như một nhà phê bình lại đưa ra nhận xét: “Đề tài trung tâm trong các truyện của ông là nỗi buồn, tình yêu và cái chết”.
Nhà văn Edgar Allan Poe.
Nhà văn Edgar Allan Poe.
Bản thân Edgar Poe cũng từ giã cuộc đời vào năm 1849, tại Baltimore, trong một bối cảnh rất đỗi bí ẩn. Theo hồ sơ bệnh án, Edgar Poe được đưa vào bệnh viện trong trạng thái bất tỉnh. Sau đó, ông có hồi tỉnh, người ra nhiều mồ hôi, bị chứng ảo giác và thường cãi nhau với một người tưởng tượng. Tiếp đến là giai đoạn ông bị mất trí nhớ, cấm khẩu rồi tắt thở.
Theo giả thiết của một nhà nghiên cứu thuộc Trung tâm Y tế Trường đại học Maryland (Mỹ) thì nhiều khả năng Edgar Poe đã bị một con vật điên (chó hoặc mèo) cắn, dẫn đến tử vong.
Một kiệt tác làm tác giả bị nghi oan
Những ai đã đọc Edgar Poe hẳn đều không thể không nhớ tới một tác phẩm hết sức độc đáo (có thể xem là độc đáo nhất) của ông, đó là truyện Bí mật của Marie Roger. Truyện dựa trên một vụ án có thật xảy ra vào mùa hè năm 1841 ở, bang New Jersey (Mỹ). Trên con sông Hudson, người ta vớt được thi thể một phụ nữ trẻ. Cơ quan điều tra đã xác định nạn nhân chính là cô gái 21 tuổi Mary Roger, cư dân thành phố New York, vốn là nhân viên của một cửa hiệu thuốc lá.
Thời gian xảy ra vụ án, Edgar Poe đang là biên tập viên văn học của tờ tạp chí Grew của bang Philadelphia, và trong con mắt độc giả, ông đã là một cây bút khá nổi tiếng với một bộ hợp tuyển thơ - truyện gồm 6 tập. Ông đang có ý định thu thập tư liệu để hoàn tất tác phẩm trinh thám Vụ giết người ở phố Morgue, cho nên nhân cái chết của Mary Roger, ông lập tức vào cuộc.
Truyện ngắn Bí mật của Marie Roger xuất hiện liên tiếp trên 3 số tạp chí dành cho phụ nữ từ cuối năm 1842 đến đầu 1843. Trong truyện Mary Roger được gọi chệch đi là Marie Roger. Thành phố New York được chuyển thành Paris, và con sông Hudson hung dữ thì được biến thành dòng sông Seine thơ mộng. Tác giả chỉ ra cho độc giả thấy hung thủ là một sĩ quan hải quân có nước da bánh mật. Trước khi bị sát hại ba năm, chính Mary đã theo người đàn ông này vắng nhà tới cả tháng. Và truyện dừng ở đây. Tác giả không hề cho biết tên của đối tượng nói trên.
Truyện ngắn Bí mật của Marie Roger đã khiến dư luận rất quan tâm. Nhiều ý kiến còn “đồng nhất” tác giả truyện ngắn với hung thủ. Theo ý những người này thì Poe tuy sống ở Philadelphia nhưng vẫn thường xuyên có mặt ở New York nên không loại trừ khả năng ông từng nhiều lần đến mua thuốc lá ở cửa hiệu mà Mary Roger đang làm thuê và đã buông lời tán tỉnh cô, nhưng không được đền đáp.
Một yếu tố mà dư luận tìm cớ vin vào, ấy là việc trong truyện, Edgar Poe mập mờ cho biết ông đã lần ra manh mối hung thủ. Không những vậy, nhà văn còn viết rõ rằng “hung thủ có nước da bánh mật”, mà đấy lại là một đặc điểm dễ nhận thấy của ông (Edgar Poe cũng có nước da ngăm đen).
Rất may tất cả những điều trên chỉ là những phỏng đoán cực đoan. Thực tế, căn cứ vào những lá thư Edgar Poe gửi cho một người bạn ngày 4/6/1842, ta có thể thấy ông kỳ công như thế nào trong việc thu thập tài liệu phục vụ cho việc khám phá cái chết của cô gái. Và ở khía cạnh này, ông chẳng khác gì một thám tử tư.
Xứng danh bậc thày
Sinh thời, Edgar Poe luôn bộc lộ là một người mơ mộng và đa tài. Ông viết nhiều thể loại, từ phê bình, lý luận đến thơ, truyện... Tác phẩm của ông thể hiện vốn học vấn uyên bác trên nhiều lĩnh vực như tâm lý học, tội phạm học, kiến trúc, hội họa, âm nhạc, y học, sinh học, hóa học...
Ngay truyện của ông cũng có thể phân thành nhiều loại: Truyện rùng rợn (Con mèo đen, Vở vũ kịch tử thần đỏ), truyện hoang đường viễn tưởng (Chuyện kể trên những vách núi lởm chởm), truyện trinh thám (Vụ giết người ở phố Morgue, Mi cũng là một con người?), truyện đả kích hài hước (Con quỷ trên gác chuông, Cặp kính). Không dưng mà các nhà nghiên cứu văn học đều thống nhất trong việc khẳng định Edgar Poe không chỉ là “ông tổ” của thể loại văn học trinh thám mà còn là người khai mở cho thể loại truyện kinh dị và truyện khoa học viễn tưởng.
Trong mảng truyện trinh thám, đóng góp lớn nhất của Edgar Poe là ông đã sáng tạo ra nhân vật Dupin, một người lập dị, sống đơn độc, mặc dù chẳng phải là cảnh sát hay thám tử tư, song bằng phương pháp phân tích, suy luận rất độc đáo ông đã phanh phui được nhiều hành động tội ác.
Trở lại với bộ ba truyện ngắn Vụ giết người ở phố Morgue, Bí mật của Marie RogerBức thư bị đánh cắp, tác giả đã cho Dupin kết hợp lời khai của các nhân chứng với các thông tin ông ta thu lượm được trên báo chí, từ đó dựng lên các giả thuyết về tội phạm, khiến người đọc bị chinh phục.
Có thể nói, chính phương pháp phân tích, diễn giải kết hợp với óc quan sát nhạy bén, rồi cách xây dựng nhân vật phá án là mẫu người lập dị, có cách suy luận về nhân tình thế thái sắc sảo... sau này đã trở thành một môtíp quen thuộc của các bậc kỳ tài tên tuổi lừng lẫy như Conan Doyle (với nhân vật thám tử Sherlock Holmes), Agatha Christie (với nhân vật Hercule Poirot)...
Chính Conan Doyle, trong tập sách Hồi tưởng về những cuộc phiêu lưu đã thổ lộ: "Gaboriau (tên một nhà văn Pháp nổi tiếng thế kỷ XIX, cha đẻ của nhân vật cảnh sát lừng danh Lecoq) đã thu hút tôi bằng nét tinh tế của những âm mưu được ông khéo léo đan kết, còn vị thám tử tuyệt vời Dupin của Edgar Poe đã từng là một trong những nhân vật tôi yêu quý nhất thời niên thiếu”.
Ở Việt Nam, cách đây hơn bảy chục năm, Edgar Poe đã được biết đến (chủ yếu qua bản Pháp văn) và ít nhiều có ảnh hưởng tới sáng tác của một số cây bút thành danh thời ấy. Năm 1989, NXB Lao Động cũng đã cho in tập truyện dịch của ông, lấy tên là Truyện kinh dị, tất cả gồm 5 truyện, 134 trang in. Và năm 1997, NXB Công an nhân dân cũng đã cho in tập truyện Bức chân dung hình ô van dày trên 200 trang của Edgar Poe.
Cũng cần nói thêm là, tuy tài năng kiệt xuất vậy, song sinh thời Edga Poe không được hưởng niềm vinh quang trọn vẹn. Nếu như cả châu Âu với những bậc cự phách nhất từng nghiêng mình chào đón ông thì nghịch lý thay, hầu như nước Mỹ lại ngoảnh mặt với ông - khi ông còn sống. Thật đúng như Pautovski đã nhận định một cách chua chát: “Đời ông lúc sống cũng như lúc chết, không lúc nào không chứng thực cái sự thật là xã hội cũ bao giờ cũng tàn nhẫn và bất công đối với những người có tài năng lớn và những tâm hồn lớn”.
Nguồn: Văn nghệ công an




Edgar Allan Poe: Thế giới văn chương đầy bí ẩn


Edgar Allan Poe là một nhà văn, nhà thơ, nhà biên kịch, và nhà phê bình văn học người Mỹ, được xem là một cây đại thụ lớn của văn học Mỹ thế kỷ 19.

Edgar Poe (tên đầy đủ là Edgar Allan Poe) sinh ngày 19/1/1809 tại thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts trong một gia đình nghệ sĩ. Người cha, David Poe, mất khi cậu con trai Edgar chưa chào đời, còn người mẹ Eliza cũng từ trần lúc Edgar Poe mới tròn ba tuổi.
Một cuộc đời đau khổ
Cậu bé mồ côi được John Allan, một nhà buôn thuốc lá giàu có nhận về nuôi. Rồi Poe ghi danh vào Đại học Virginia, nhưng chỉ theo học được năm đầu và quyết định xung vào quân đội. Đó là khoảng giữa năm 1827, cũng là thời điểm xuất hiện cuốn sách đầu tiên của Poe.
Sau khi giải ngũ với quân hàm trung sĩ vào đầu năm 1829, Edgar Poe cho ấn hành đầu sách thứ hai có tựa đề Al Aaraf gây tiếng vang lớn. Kế tiếp Poe thi đậu vào Học viện Quân sự West Point và lại… bỏ dở để “dốc lòng” theo nghiệp văn chương.
Cuộc đời đầy những mất mát của Poe đã để lại một dấu ấn đậm nét trong những sáng tác của ông, tạo nên một không khí u uẩn và bi thương.

Edgar Allan Poe: The gioi van chuong day bi an hinh anh 1
Nhà văn người Mỹ Edgar Allan Poe.
Trong suốt bốn mươi năm ngắn ngủi của cuộc đời mình, Poe đã nhiều lần phải đối mặt với những cái chết bi thảm xảy đến với người thân. Bố, mẹ, anh trai, mẹ nuôi, đặc biệt là người vợ trẻ Virginia.
Sau một thời gian dài đấu tranh với bệnh lao, người vợ của Edgar đã ra đi khi tuổi còn quá trẻ vào năm 1847. Một lần nữa, một người phụ nữ yêu dấu đã rời bỏ Edgar mà đi. Một lần nữa, Edgar lại chìm trong đau đớn. Điều này có thể đã để lại những vết thương tâm lý và tình cảm sâu sắc nơi ông, lý giải tại sao ông thường bị ám ảnh và nói nhiều về cái chết. 
Cái chết của người vợ yêu dấu đẩy Edgar Poe tới chỗ kiệt quệ, sức khoẻ suy sụp, bởi Virginia luôn là nguồn sáng tạo mạnh mẽ của Poe, khiến Poe cảm thấy được những ấm áp mà từ nhỏ ông đã không thể có được.
Chỉ 2 năm sau, ngày 7/10/1849, người ta tìm thấy Edgar Poe trong một quán rượu tại Baltimore, quần áo tả tơi, mê sảng, không biết mình ở đâu. Nhà văn được đưa vào bệnh viện và qua đời 4 ngày sau đó, hưởng dương 40 tuổi.
Cái chết của ông cũng mang nhiều bí ẩn như chính những tác phẩm của ông. Theo hồ sơ bệnh án, Edgar Poe được đưa vào bệnh viện trong trạng thái bất tỉnh. Sau đó, ông có hồi tỉnh, người ra nhiều mồ hôi, bị chứng ảo giác và thường cãi nhau với một người tưởng tượng. Tiếp đến là giai đoạn ông bị mất trí nhớ, cấm khẩu rồi tắt thở.
'Con mèo đen' và một thế giới rối loạn tâm thần
Thế giới tâm thần hoảng loạn là một thế giới đặc trưng trong rất nhiều những truyện ngắn của Poe.
Ông đã phản ánh được trong tác phẩm của mình trạng thái tâm lý nhiễu loạn của nhân vật. Nỗi lo âu tiềm ẩn và đời sống tinh thần bất an, từ đó thể hiện mặt trái của giấc mơ Mỹ, giấc mơ của những cá nhân đầy tự lập và thành đạt. Và ông đã đưa ra cái bản chất thực sự của chủ nghĩa vật chất: ấy là sự cô đơn, bất ổn và cảm giác chết chóc luôn lơ lửng trong đời sống nội tâm của những thành viên trong xã hội.
Những tác phẩm kỳ dị của Poe nẩy nở từ dự cảm về vực thẳm ẩn sâu của đời sống hiện đại. Nó là một cơn ác mộng kéo dài, kinh hoàng. Nó in đậm trong những truyện ngắn vừa mang tính kinh dị, vừa đầy sự rối loại, bí ẩn, nặng nề của Poe, mà Con mèo đen chính là một điển hình.
Nhân vật tôi trong Con mèo đen tính tình ban đầu vốn rất vui vẻ, yêu súc vật, đặc biệt là con mèo đen Pluto. Nhưng sau khi cảm thấy sự thân thiết quá độ của con mèo, anh ta lại trở nên khó chịu, cư xử thô bạo với vợ, và bắt đầu hành hạ động vật. Đỉnh điểm của sự tức giận chính là hành vi chọc mù mắt Pluto, giết con mèo và treo lên cành cây.
Vì ân hận, anh ta đã tìm một con mèo đen khác thay thế, nhưng anh ta lại bắt đầu thấy khó chịu và muốn giết nó. Khi anh cầm rìu giết mèo, vợ ngăn lại thì anh ta bổ rìu vào đầu vợ và chôn vợ vào trong bức tường của hầm rượu.
Một câu chuyện đáng sợ không phải nằm ở những hành vi giết người mà nằm trong chính sự rối loạn tâm thần của nhân vật mà Poe đã tạo ra bằng một hệ thống ngôn ngữ rất lãnh đạm, với sự tỉnh lược những miêu tả diễn biến nội tâm nhưng lại dựng nên được một bầu không khí u uẩn, chết chóc, và cô độc, quái dị của tâm hồn con người.

Edgar Allan Poe: The gioi van chuong day bi an hinh anh 2
Con mèo đen là tác phẩm tiêu biểu cho văn chương của Edgar Allan Poe.
Poe thường đặt bối cảnh truyện vào ban đêm, trong bóng tối; tập trung miêu tả những hình ảnh tưởng tượng ghê rợn đến kỳ lạ vốn không có trong hiện thực như trong Mặt nạ tử thần đỏ, Sự sụp đổ của ngôi nhà Usher, Cuộc trò chuyện với một xác ướp, Linh hồn, Con quỷ trên gác chuông, Con mèo đen… Bản thân những hình ảnh ấy đã gợi trí tò mò và sự kinh hãi nơi người đọc.
Những sáng tác của Poe không đơn thuần là sản phẩm của trí tưởng tượng. Chúng còn được viết dựa trên các kiến thức tuyệt vời của ông trong các lĩnh vực khoa học khác nhau như tâm lý học, tội phạm học, nghệ thuật học, y học, sinh - hóa học... Do đó, các câu chuyện cho dù nhuốm màu sắc hoang đường, kỳ ảo nhưng lại rất logic.
Nhịp điệu trầm buồn, kết thúc đầy bất ngờ, những yếu tố tâm linh thể hiện một xúc cảm u buồn mãnh liệt, sự khổ đau và cả nỗi ám ảnh của chứng loạn thần kinh về cái chết, bạo lực và toàn bộ cái nhìn về nhân sinh quan của ông cho thấy một sự thiết tha với cái đẹp bí ẩn đầy bi kịch của cuộc sống.
"Edgar Poe để lại nhiều cái bóng khác nhau. Chúng ta thừa hưởng biết bao nhiêu kho báu từ con người kỳ lạ ấy", Jorges Louis Borges nói. Cũng theo Borgers, nếu đầu thế kỷ 19, nước Mỹ không có Edgar Poe, văn học thế giới hiện nay không giống như chúng ta đang thấy.

Phong Linh

Cái chết lạ lùng của nhà văn Edgar Allan Poe

00:00 28/12/2012

Cái chết của nhà văn Edgar Allan Poe, một trong những cây viết tiểu thuyết kinh dị, trinh thám nổi tiếng nhất của Mỹ, đã trở thành bí ẩn lớn nhất của thế giới văn học. Kể từ khi qua đời, cái chết của Poe đã trở thành đề tài của công chúng và đã có nhiều giả thiết được đưa ra xung quanh sự ra đi của ông.

Mới đây, một trong những nhà văn hàng đầu của Mỹ là Matthew Pearl, người từng viết một cuốn tiểu thuyết về cái chết của Poe, tin chắc rằng ông đã tìm được những chứng cứ thuyết phục, hoặc ít nhất thì cũng có thể lý giải được câu hỏi liệu có phải Poe bị mắc bệnh ung thư não.
Nhà văn Edgar Allan Poe
Cái chết bí ẩn và những chứng cứ mơ hồ
Trước khi qua đời, Poe đã đi du lịch đến Baltimore, Maryland và biến mất ở đây. Vài ngày sau, những người lạ mặt đã phát hiện ra ông đang trong tình trạng mê man, nhếch nhác nằm bên ngoài đại sảnh thành phố. Bác sỹ J Snodgrass, bạn của Poe thấy ông đang trong tình trạng bất tỉnh, cho rằng người bạn của mình bị say nặng cần phải nhập viện cấp cứu. Nhưng sau đó tình trạng sức khỏe của ông không được cải thiện. Vài ngày sau, ông suy sụp và lâm vào trạng thái bất tỉnh. Poe mất ngày 7/10/1849.
Hoàn cảnh khác thường về cái chết của Poe khiến nhiều người không thể không đưa ra những dự đoán khác nhau. Đặc biệt là sau khi một kẻ thù địch với Poe đưa ra bản thông cáo, cáo buộc ông rất nhiều tội lỗi và những vụ bê bối tình dục. Có những giả thiết khác nhau từ một vụ án mạng, một vụ treo cổ tự tử, ngộ độc rượu, âm ưu chính trị đến việc bị bệnh truyền nhiễm.
Nhiều học giả sau này khẳng định rằng, Poe là một người nghiện rượu và ông chết vì uống quá say. Một số người khác tin là ông bị nhiễm bệnh như bệnh tả hoặc bệnh dại, những bệnh dịch phổ biến ở Mỹ trong thế kỷ 19. Nhưng cũng có những giả thiết khả nghi hơn. Một số cho rằng Poe bị sát hại, có thể do kẻ xấu đã đánh đập ông đến mức quẫn trí, hoặc do những kẻ thù địch trong giới văn chương. Tuy nhiên vẫn có một giả thiết khác cho rằng Poe là nạn nhân của một âm mưu chính trị được gọi là ép bỏ phiếu.
Matthew Pearl, tác giả cuốn "Bạn Poe", đã dành 3 năm nghiên cứu về Poe, đặc biệt là hoàn cảnh dẫn đến cái chết của ông. Pearl hy vọng có thể khám phá ra những chứng cứ mới có thể giải mã được bí ẩn đã khiến các chuyên gia phải đau đầu trong hơn 150 năm qua. Pearl đã tìm thấy chứng cứ chứng minh rằng Poe bị mắc bệnh u não nghiêm trọng. Điều này lý giải tại sao Poe chết một cách đột ngột như vậy, cũng như tình trạng ảo giác và hôn mê tinh thần trước khi chết. Những điều bí ẩn về Poe cũng bắt đầu từ sau cái chết của ông.
Nỗi thống khổ tuổi thơ
Theo các học giả cùng thời với ông, E.A.Poe sống với đời không dài lâu nhưng phải nhận những tai ương từ tuổi nhỏ cho đến khi lìa đời, con đường ông đi không bằng phẳng như ông tưởng. Poe sinh ra trong một gia đình đờn ca xướng hát, cha là một diễn viên sân khấu, mẹ là một ca kỹ nổi tiếng về sắc đẹp và tài năng. Đau đớn thay, cha ông rơi vào con đường sa đọa, nghiện ngập, hút xách rồi lặng lẽ ra đi và chết ở một phương trời xa xôi, trong khi mẹ ông đang thời kỳ sinh đẻ ông.
Sau ba năm thì mẹ ông từ trần, lúc ấy Poe mới ba tuổi. Mồ côi, ông qua tay một gia đình khác: John Allan (1780-1834), một thương gia giàu có, tuyệt tự. Hai vợ chồng nhà giàu nhận Poe làm con nuôi và cũng là đứa trẻ sẽ nối tiếp cơ nghiệp và dòng dõi J. Allan. Edgar Allan Poe có cái tên gọi từ đó.
Gia đình Poe lên đường định cư ở Anh quốc, năm năm sau thì trở về Virginia (Mỹ). Tuổi thơ của ông phải chia xa, phải cảnh lưu đày từ nơi này đến chốn khác, nỗi đau khổ trong người ông là nỗi bi đát của thân phận vì chính những đổi thay bất ngờ, những đụng chạm bất thường chìm sâu trong đôi mắt tuổi thơ của ông, dấu ấn cuộc đời chôn kín trong tiềm thức Poe, từ những ám ảnh hãi hùng đến những điều mắt thấy tai nghe là những ấn tượng sâu đậm trong trí ông về sau này. Chín năm sau thì mẹ nuôi ông chết (1829), đây cũng là nguyên nhân dẫn đến những hoài nghi, mẫu thuẫn giữa ông và cha nuôi trong vấn đề thừa kế tài sản.
Sau cái chết của mẹ nuôi, Edgar A.Poe bỏ hoc đại học, đầu quân vào West Point, ông muốn xóa bỏ quá khứ bi thương đó, ông muốn lột xác qua cái tên gọi mới hơn Edgar A.Perry; ông phủ nhận tất cả để được giải thoát. Năm 1836, E.A.Poe thiên di về Baltimore sống tạm với dì Glemm được vài năm và cưới người em họ Virginia Glemm làm vợ lúc ấy nàng mới 14 tuổi. Phải chăng định mệnh gài cột tên vợ ông và tên quê hương là một danh xưng như nhắc nhở Poe cho tới ngày nằm xuống và sẽ không bao giờ rời bỏ?
E.A.Poe 14 tuổi đã làm thơ tình tặng người yêu. Poe biết yêu sớm hơn mọi lứa tuổi khác và lấy người vợ chưa tới tuổi trưởng thành, những hiện tượng đó như án ngữ của số phận? Người vợ bé bỏng chỉ chung sống với khoảng 9 năm, nàng mắc chứng đông mạch máu và qua đời ở tuổi 23.
Edgar Allan Poe rơi vào vực thẳm vì tất cả không ai hiểu mình, không ai cứu mình, chỉ cất lên tiếng ca thán trong lòng mình mà thôi. Hoài niệm loãng dần, ông tiếp tục sáng tác, cảm xúc từ đó không còn tùy thuộc về tri giác không gian mà chỉ còn lưu lại trong ký ức. Tương lai chưa thành hình mà khổ đau đầy rẫy trong tim, cũng từ những cảm quan đó mà về sau Poe viết được nhiều hơn. Tuy nhiên vẫn chứa đựng một niềm đau dù rằng ông quyết chống lại nhưng rồi ông vẫn không tìm thấy hạnh phúc.
Ông tổ của nền văn học trinh thám
Theo đánh giá của giới phê bình văn học, thế kỷ XIX là thế kỷ mở đầu của thể loại văn học trinh thám và Edgar Allan Poe được coi là ông tổ khai sáng cho dòng văn học kỳ vĩ này. Chính vì việc suốt 40 năm ngắn ngủi của cuộc đời mình, Poe đã nhiều lần phải đối mặt với những cái chết bi thảm xảy đến với người thân nên ông thường bị ám ảnh và nói nhiều về cái chết như một nhà phê bình lại đưa ra nhận xét: "Đề tài trung tâm trong các truyện của ông là nỗi buồn, tình yêu và cái chết".
Ngay truyện của ông cũng có thể phân thành nhiều loại: Truyện rùng rợn (Con mèo đen, Vở vũ kịch tử thần đỏ), truyện hoang đường viễn tưởng (Chuyện kể trên những vách núi lởm chởm), truyện trinh thám (Vụ giết người ở phố Morgue, Mi cũng là một con người?), truyện đả kích hài hước (Con quỷ trên gác chuông, Cặp kính). Không dưng mà các nhà nghiên cứu văn học đều thống nhất trong việc khẳng định Edgar Poe không chỉ là ông tổ của thể loại văn học trinh thám mà còn là người khai mở cho thể loại truyện kinh dị và truyện khoa học viễn tưởng.
Trong mảng truyện trinh thám, đóng góp lớn nhất của Edgar Poe là ông đã sáng tạo ra nhân vật Dupin, một người lập dị, sống đơn độc, mặc dù chẳng phải là cảnh sát hay thám tử tư, song bằng phương pháp phân tích, suy luận rất độc đáo ông đã phanh phui được nhiều hành động tội ác. Có thể nói, chính phương pháp phân tích, diễn giải kết hợp với óc quan sát nhạy bén, rồi cách xây dựng nhân vật phá án là mẫu người lập dị, có cách suy luận về nhân tình thế thái sắc sảo... sau này đã trở thành một môtíp quen thuộc của các bậc kỳ tài tên tuổi lừng lẫy như Conan Doyle (với nhân vật thám tử Sherlock Holmes), Agatha Christie (với nhân vật Hercule Poirot)...
Chính Conan Doyle, trong tập sách Hồi tưởng về những cuộc phiêu lưu đã thổ lộ: "Gaboriau (tên một nhà văn Pháp nổi tiếng thế kỷ XIX, cha đẻ của nhân vật cảnh sát lừng danh Lecoq) đã thu hút tôi bằng nét tinh tế của những âm mưu được ông khéo léo đan kết, còn vị thám tử tuyệt vời Dupin của Edgar Poe đã từng là một trong những nhân vật tôi yêu quý nhất thời niên thiếu.
Huy Hùng

Edgar Allan Poe – Nhà văn làm nên chuẩn mực Mỹ

Gia tài đồ sộ bao gồm các truyện ngắn, thơ và các các lý thuyết phê bình văn học là minh chứng cho tầm vóc của Poe như một nhân vật quan trọng trong nền văn chương thế giới. Ảnh hưởng của ông đến hình thức thơ ngắn và truyện ngắn là không thể phủ nhận. Trong lịch sử văn chương và các sách giáo khoa, Poe không chỉ được coi như vị “kiến ​​trúc sư” chính cho truyện ngắn hiện đại mà còn là người tiên phong cho phong trào “nghệ thuật vị nghệ thuật” của văn học châu Âu thế kỷ thứ mười chín.
Khác với thế hệ các nhà nhà phê bình đi trước chủ yếu quan tâm đến các khái quát về đạo đức hay ý thức hệ, phê bình của Poe tập trung vào các chi tiết mang tính hình thức như phong cách hay cấu trúc tác phẩm, các yếu tố góp phần vào hiệu quả hay thất bại tác phẩm đó. Người đọc nhận thấy ở ông kĩ thuật cũng như khả năng xử lí ngôn ngữ xuất sắc cùng với một trí tưởng tượng luôn tràn đầy cảm hứng và độc nhất vô nhị.
Giới văn nghệ sĩ theo trường phái Tượng trưng của Pháp vào cuối thế kỷ XIX, những người cũng ghi dấu ấn vào sự thay đổi của văn chương hiện đại đã chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các tác phẩm thơ và truyện ngắn của ông. Chính sự giao thoa giữa triết học và nghệ thuật này đã củng cố vị trí quan trọng của Poe trong lịch sử văn chương.
Sinh thời, cha mẹ Poe đều là những diễn viên chuyên nghiệp hoạt động tại đoàn kịch nghệ Boston. Không may, hai người qua đời trước khi Poe được ba tuổi. Poe được nhận nuôi và chăm sóc một cách bất hợp pháp bởi John Allan, một thương nhân giàu có tại Richmond, Virginia. Nhờ đó, cậu có cơ hội theo học tại các trường tốt nhất và được nhận vào trường Đại học Virginia (Charlottesville) vào năm 1825. Trong giai đoạn này, mặc dù đạt thành tích học tập xuất sắc, Poe bị buộc phải rời trường sau một năm bởi ông không nhận được sự hỗ trợ tài chính từ cha nuôi của mình. Sau khi Poe trở về Richmond vào năm 1827, mối quan hệ giữa hai cha con chấm dứt.
Ngay sau khi rời Boston, Poe nhập ngũ và cho ra đời hai tuyển tập thơ đầu tiên của mình “Tamerlane và Other Poems” và “Al Aaraaf, Tamerlane, and Minor Poems” (1829). Dù vậy, cả hai cuốn đều không nhận được nhiều sự chú ý từ giới phê bình và công chúng.
Cũng trong năm 1829, Poe giải ngũ, đạt tới cấp bậc Trung sĩ trung đoàn và được nhận vào Học viện Quân sự Hoa Kỳ tại West Point. Tuy nhiên, vì một mặt không nhận được hỗ trợ tài chính cho việc học từ cha nuôi, mặt khác không có được từ ông sự cho phép để rời khỏi Học viện, Poe chủ động không thực hiện các nhiệm vụ được giao và cố ý vi phạm các quy định của viện để có thể rời khỏi đó. Ông tới New York và cho xuất bản “Poems” (1831) – tuyển tập thơ thứ 3 của mình, rồi đến Baltimore và sống cùng người dì Maria Clemm.
Trong những năm đầu của sự nghiệp, các truyện ngắn đầu tiên của ông chủ yếu xuất hiện trong cuốn Philadelphia Saturday Courier. Trong số đó, truyện “MS. Found in a Bottle” của ông đã được Baltimore Visitor Saturday trao giải câu chuyện hay nhất. Tuy nhiên, số tiền kiếm được vẫn không đủ để Poe có thể tự trang trải cuộc sống một cách độc lập. Người cha nuôi Allan qua đời vào năm 1834 và không để lại cho ông chút tài sản thừa kế nào.
Những năm sau đó, tình trạng tài chính của Poe được cải thiện dần khi ông chuyển về Richmond cùng dì và cô em họ 12 tuổi Virginia – người mà ông kết hôn sau này vào năm 1836, nhận một chân biên tập viên tại The South Literary Messenger – một tạp chí văn học tại Richmond.
(*) Đây là nơi dừng chân đầu tiên trong số những tạp chí mà Poe sẽ tham gia chỉ đạo trong vòng mười năm sau đó; là bệ phóng cho sự nghiệp nổi bật của ông – trở thành “người đàn ông của ngôn từ” tại Mỹ.
(*) Danh tiếng của Poe không chỉ đến từ việc ông thuộc vào hàng ngũ nhà thơ kiêm tác giả tiểu thuyết bậc nhất; nó còn đến từ trình độ phê bình văn chương cùng với trí tưởng tượng và góc nhìn sâu sắc của ông – điều mà cho đến nay vẫn còn gây nhiều tranh cãi trong văn học Mỹ.
Mặc dù dành được sự chú ý nhất định từ công chúng vào giao đoạn 1830 – 1840, Poe vẫn chỉ nhận được số lợi nhuận ít ỏi từ các tác phẩm của mình. Ông kiếm thêm thu nhập trong vai trò của một người biên tập cho các Tạp chí Burton’s Gentleman, Graham ở Philadelphia và Broadway ở New York.
Sau khi người vợ của ông qua đời do căn bệnh lao phổi vào năm 1847, một cách chóng vánh, Poe lao vào những cuộc tình khác. Tuy nhiên vì những lý do không rõ, ông đến Baltimore vào cuối tháng 9 năm 1849 mặc dù đang trong quá trình chuẩn bị cho cuộc hôn nhân thứ hai của mình. Ngày 3 tháng 10, ông được phát hiện trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê và qua đời bốn ngày sau đó, không có cơ hội để giải thích những gì đã xảy ra trong những ngày cuối cùng của cuộc đời mình.
Đóng góp đáng chú ý nhất của Poe cho nền văn học thế giới là phương pháp phân tích mà ông đã thực hành cả trên hai phương diện là một nhà văn và nhà phê bình các tác phẩm đương thời.
(*) Poe tuyên bố ông muốn xây dựng một hệ thống lý tưởng nghệ thuật chặt chẽ – trong bối cảnh đương thời mà ông cho là chỉ quan tâm đến giá trị thực dụng của văn học – một khuynh hướng mà ông gọi là “dị giáo của Sư phạm.”
Ngoài việc đề ra những điều kiện tiên quyết cho một chủ nghĩa thẩm mỹ thuần túy, ông nhấn mạnh vào chủ nghĩa hình thức của văn chương – điều có liên kết với lý tưởng triết học của ông: thông qua nỗ lực sử dụng ngôn ngữ một cách chính xác, dù không hoàn hảo, một viễn cảnh chân lý và điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của loài người vẫn có thể được biểu lộ.
(*) Lý thuyết về sáng tạo văn chương của Poe có thể được tóm tắt ở hai điểm chính: thứ nhất, để có thể được coi là thành công, một tác phẩm phải có tác động nhất định đến người đọc; Thứ hai, bản thân tác giả phải là người chủ động suy xét để tạo ra tác động này, chứ không để nó phụ thuộc vào cảm hứng hoặc ngẫu nhiên.
Nếu như thơ cần phải gợi lên trong lòng người đọc khả năng cảm thụ cái đẹp – một tác động lý tưởng là liên hệ người đọc với nỗi buồn, sự xa lạ và mất mát; thì trong văn xuôi, câu chuyện phải tiết lộ một chân lí, “mang tính suy lí” hay gợi lên “nỗi khiếp sợ, đam mê, hoặc cảm giác ghê rợn.”
Ngoài có chung một nền tảng lý thuyết, văn chương của Poe còn ghi dấu ấn ở những xúc cảm tâm lí mãnh liệt, đặc biệt là các câu chuyện kinh dị, trong đó bao gồm cả những những tác phẩm hay và nổi tiếng nhất của ông.
Ba câu chuyện “The Black Cat”, “Cask of Amontillado” và “The Tell-Tale Heart” được kể theo ngôi thứ nhất, thông qua đó Poe có thể tự do khám phá thế giới nội tâm của nhân vật. Những khám phá về tâm lý học sau này của Fyodor Dostoyevsky và trường phái hiện thực tâm lý được đặt trên nền tảng kĩ thuật kể chuyện của Poe.
(*) Trong các tác phẩm truyện mang hơi hướng Gothic như “The Fall of the House of Usher,” “The Masque of the Red Death,” hay “Ligeia”, các phương pháp tượng trưng và ẩn dụ được sử dụng, giữ cho các tác phẩm một cảm giác bí ẩn – lí do khiến những câu chuyện này luôn có một chỗ đứng trong lòng người đọc; đồng thời chúng cũng gợi liên tưởng đến các tác phẩm tượng trưng của Nathaniel Hawthorne và Herman Melville.
Thế hệ nhà văn sau đó chịu ảnh hưởng từ Poe có thể kể đến Ambrose Bierce và H.P. Lovecraft – họ cùng thuộc về một nhánh riêng rẽ của nền văn học kinh dị được tiên phong bởi Poe.
Không chỉ là người mở đầu cho văn học kinh dị hiện đại, Poe còn mở lối cho hai thể loại văn chương thịnh hành khác: khoa học viễn tưởng và truyện trinh thám.
Được truyền cảm hứng bởi tinh thần thời đại của cuộc cách mạng Công nghiệp vào đầu thế kỷ XIX, cộng thêm với niềm đam mê khoa học và công nghệ, hai truyện ngắn có cốt truyện xuất sắc “The Unparalleled Adventure of Hans Pfaall” và “Von Kempelen and His Discovery” đã ra đời, dự báo trước cho một thể loại văn học sẽ phổ biến ở thế kỉ 20.
Tương tự như vậy, ba câu chuyện giàu tính suy tư của ông gồm ”The Murders in the Rue Morgue,” “The Purloined Letter,” và “The Mystery of Marie Roget” đã xây dựng một hệ thống các nhân vật chính đặc trưng và các quy ước văn chương cho dòng tiểu thuyết trinh thám: thường là một tay thám tử nghiệp dư giải được một vụ án mà các nhà chức trách phải bó tay, đi cùng với một cộng sự ghi chép lại chuỗi suy luận của anh trong quá trình điều tra.
Được coi như ông tổ cho các trào lưu văn chương quan trọng như Chủ nghĩa biểu tượng và Chủ nghĩa siêu thực lại có ảnh hưởng đến nhiều tác giả nổi tiếng, bản thân Poe cũng chịu ảnh hưởng bởi nhiều tác giả và phong trào văn học.
Kĩ thuật sử dụng các yếu tố ma thuật và quỷ dữ của Poe chịu ảnh hưởng từ các tác phẩm của E.T.A. Hoffman cũng như tiểu thuyết Gothic của Ann Radcliffe, trong khi cảm xúc chủ đạo trong nhiều tác phẩm của ông – nỗi thất vọng và u sầu lại phản ánh đặc điểm của trào lưu văn học Lãng mạn đầu thế kỷ XIX.
Khả năng thiên tài của Poe nằm ở chỗ: ông tái hiện lại những nỗi ám ảnh cá nhân của mình và của thế hệ văn chương trước dưới một hình thức nghệ thuật hoàn hảo, cùng lúc lại tạo ra những hình thức mới, một phương thức biểu đạt nghệ thuật mới cho lứa nghệ sĩ sau này.
Được nhớ đến bởi các tiểu thuyết ngắn, Poe thực chất lại bắt đầu sự nghiệp của mình bằng các tác phẩm thơ ca từ thời niên thiếu. Những vần thơ đầu tiên chịu ảnh hưởng bởi các tác giả Lãng mạn người Anh như Lord Byron, John Keats, và Percy Bysshe Shelley; tuy nhiên có thể nhận thấy chúng báo trước quan điểm chủ quan riêng và chất thần bí, siêu thực ở các bài thơ sau này của ông.
“Tamerlane” và “Al Aaraaf” thể hiện bước tiến của Poe từ việc khắc họa các vai anh hùng trong thơ Byron đến miêu tả những chuyến hành trình trong tưởng tượng hay tiềm thức của chính mình.
“Tamerlane” – hồi tưởng lại “Cuộc hành hương của Childe Harold” của Byron – kể về cuộc đời và những chuyến phiêu lưu của một kẻ xâm lược Mông Cổ ở thế kỉ mười bốn; còn “Al Aaraaf” dẫn người đọc đến một thế giới không có thực, nơi không điều tốt đẹp hay cái xấu xa vĩnh hằng nào có thể tồn tại ngoài một vẻ đẹp tuyệt đối.
Các bài thơ “To Helen,” “Lenore” và “The Raven” đều khắc họa cuộc hành trình khám phá sự biến mất của một cái đẹp lý tưởng và những tranh đấu để giành lại nó. Chủ thể trong cả ba bài thơ này đều là một chàng trai đau buồn trước sự ra đi của người mình yêu.
“To Helen” kể về một người phụ nữ (mà trong mắt người kể chuyện) là hiện thân cho vẻ đẹp cổ điển của Hy Lạp cổ đại và Rome. Nó được ca ngợi là một trong những bài thơ tình đẹp nhất được viết bằng tiếng Anh. “Lenore” là sự tưởng nhớ đến người đã khuất bằng việc khóc than hay ăn mừng sự sống, vượt ra ngoài những ranh giới của trần thế.
Trong khi đó, “The Raven” là sự hòa trộn giữa các lý tưởng triết học với thẩm mỹ của Poe. Trong bài thơ mang nặng tính nội tâm này, một học giả trẻ tuổi chịu đau khổ bởi lời nguyền rủa “Không bao giờ nữa” được lặp đi lặp lại của một con quạ – nó trả lời cho câu hỏi của anh về xác suất anh có thể gặp lại người yêu cũ ở thế giới bên kia.
Trong ấn bản tiếng Pháp của “The Raven”, Charles Baudelaire bình luận ở phần giới thiệu: “Đó là thơ của những đêm dài thao thức mộng mị, của nỗi tuyệt vọng; Nó chẳng thiếu điều gì: dù là cơn sốt của những lý tưởng, trận chiến của màu sắc, những lý luận bệnh hoạn, cơn khủng bố… hay thậm chí sự vui vẻ đến kỳ lạ của đau khổ khiến nó càng trở nên khủng khiếp hơn.”
Những bài thơ của Poe cũng rất phù hợp để đọc thành lời. Kết hợp giữa âm thanh với nhịp điệu, ông sử dụng các kỹ thuật như phương pháp lặp, song song, vần trong, phép điệu và phép cộng hưởng để tạo ra những tác phẩm giàu tính âm nhạc và đầy ám ảnh, có một không hai trong nền thơ ca Mỹ. Ví dụ như trong bài “The Bells”, từ “chuông” được lặp nhiều lần dưới các cấu trúc khác nhau, tái hiện âm điệu của nhiều loại chuông được mô tả trong bài.
Dù khi còn sống, các tác phẩm của ông không nhận được nhiều sự chú ý, Poe vẫn được coi như một tác giả bậc thầy của văn chương hư cấu, một nhà thơ, người đàn ông của ngôn từ; và sự chú ý nhất định từ công chúng cũng đến với ông đặc biệt là với tác phẩm “The Raven.”
Tuy nhiên sau cái chết của Poe, người ta vẫn còn nhiều nhận định và đánh giá trái chiều về ông. Vấn đề này được khởi xướng bởi Poe RW Griswold, người bạn cũng như người phụ trách tài sản văn chương của Poe sau khi ông qua đời, người đã khẳng định trong cáo phó ở New York Tribune rằng những vấn đề tâm lý xuất hiện ở nhiều nhân vật trong các tác phầm hư cấu của Poe thực chất chính là những vấn đề mà bản thân Poe gặp phải.
Sự bôi nhọ của Griswold gợi lên cả sự thông cảm lẫn những lời chỉ trích đến Poe và các tác phẩm của ông, khiến cho nhiều nhà tiểu sử hàng đầu của thế kỷ mười chín bảo vệ, đôi khi quá nhiệt tình, tên tuổi của Poe.
Mãi cho tới năm 1941 phiên bản tiểu sử về Poe dưới góc nhìn của tác giả A.H. Quinn mới cho thấy một cái nhìn khách quan cả về bản thân, sự nghiệp cũng như mối quan hệ giữa đời tư và khả năng tưởng tượng của ông. Tuy nhiên, giới văn học ở thế kỉ 20 vẫn đánh đồng Poe với những tên sát nhân và người điên trong các tác phẩm của ông, đặc biệt trong các nghiên cứu về phân tâm học của Marie Bonaparte và Joseph Wood Krutch.
Thêm vào cuộc tranh cãi về sự tỉnh táo hay sự chín chắn của Poe (Paul Elmer More so sánh ông với “đứa trẻ chưa chín chắn và người đàn ông bất an”), là câu hỏi liệu các tác phẩm của Poe có thể đươc coi như là văn chương một cách nghiêm túc.
Về phía những người phê bình Poe là những nhân vật nổi tiếng như Henry James, Aldous Huxley, và T. S. Eliot – họ coi các tác phẩm của Poe là non nớt, thô tục và làm giảm giá trị của nghệ thuật. Ngược lại, các nhà văn như Bernard Shaw và William Carlos Williams lại cho rằng các tác phẩm của ông đã chạm đến giá trị cao nhất của văn chương.
So với các nhà phê bình khác trên thế giới đặc biệt là ở Pháp, các nhà phê bình Anh và Mỹ đánh giá Poe cao hơn. Nối tiếp những bản dịch và bình luận của Charles Baudelaire trong những năm 1850, các tác phẩm của Poe cũng nhận được sự ngưỡng mộ đặc biệt từ các nhà văn Pháp, đặc biệt là những người liên quan đến chủ nghĩa Tượng trưng ở cuối thế kỷ 19; họ ngưỡng mộ những ước muốn siêu việt của Poe trên cương vị một nhà thơ; hay Phong trào Siêu thực của thế kỷ thứ hai mươi, vốn đánh giá cao trí tưởng tượng kỳ lạ và ngông cuồng của Poe; các tác giả như Paul Valery, người đã nghiên cứu các lý thuyết của Poe và liên tưởng đến một lý tưởng về chủ nghĩa duy lý tối cao.
Ngoài ra, các tác phẩm của ông cũng nhận được sự đánh giá cao tại các quốc gia khác. Đã có nhiều công trình nghiên cứu ảnh hưởng của ông đối với nền văn học thế giới, đặc biệt là ở Nga, Nhật Bản, Scandinavia và Mỹ Latinh.
Ngày nay, Poe được công nhận là một trong những nhà tiên phong hàng đầu của văn học hiện đại, cả ở những hình thức văn chương phổ biến như truyện kinh dị và tiểu thuyết trinh thám, hay ở trong những hình thức phức tạp hơn và có ý thức về cái Tôi hơn, thể hiện được phong cách nghệ thuật chủ đạo của thế kỷ XX.
Trái với những nhà phê bình trước đây đánh đồng tác giả và tác phẩm là một, các nhà phê bình của 25 năm qua đã phát triển một góc nhìn về Poe như một nghệ sĩ độc lập, người quan tâm đến việc thể hiện phẩm chất hơn là cố gắng biểu đạt “linh hồn” của mình; ông duy trì một sự tách bạch thay vì tự viết về bản thân mình trong các tác phẩm của ông.
Trong khi có những nhà phê bình như Yvor Winters muốn xóa ông ra khỏi lịch sử văn chương, người ta không thể không nhắc đến các tác phẩm của ông khi đề cập bất kỳ quan niệm nào liên quan đến chủ nghĩa hiện đại trong nền văn học thế giới.
Herbert Marshall McLuhan đã viết trong một bài luận mang tựa đề “Edgar Poe’s Tradition”: “Trong khi những quý ông New England thư thái đọc về Plato và Đức Phật bên bàn trà, Browning và Tennyson giải khuây cho tâm trí người Anh bằng một màn sương mù, Poe không bao giờ lừa phỉnh bản thân, quay lưng lại với những bệnh dịch của thời đại mình. Người cùng thời với Baudelaire và bậc tiền bối của Conrad cùng Eliot –  không ai khác, chính ông là người đã soi ngọn đuốc dẫn lối cho chúng ta vào tận cùng của vực thẳm.”
Nguồn: https://www.poetryfoundation.org/poets/edgar-allan-poe
Người dịch: Lưu Bích Ngọc 


  Cái kinh dị trong truyện ngắn của Edgar Allan Poe  
MỞ ĐẦU.
1. Lí do chọn đề tài
Edgar Allan Poe (1809 – 1849) là nhà văn, nhà viết kịch, nhà phê bình, nhà thơ Mĩ. Poe là ông tổ của thể loại trinh thám và hình sự, ông có sự ảnh hưởng đến Charles Pierre Poe là một trong những đại diện xuất sắc nhất của chr nghĩa lãng mạn trong văn học Mĩ. Ông làm thơ, viết văn xuôi, viết phê bình văn học và làm cả biên tập viên sách, nhưng mang lại cho ông nhiều danh tiếng nhất là những truyện ngắn thuộc thể loại kinh dị và trinh thám.
Poe chính lag một nhà văn gây nhiều tiếng vang trong dư luận với những tác phẩm “kinh dị: của mình. Đó chính là lí dotoi chọn đề tài cái kinh dị trong sang tác của Edgar Allan Poe để làm đề tài cho bài tiểu luận của mình – một đề tài rất thú vị.
2. Lịch sử vấn đề.
Edgar Allan Poe với những sáng tác của mình đã để lại cho nhân loại nhiều vấn đề để nghiên cứu vf tìm hiểu mà đặc biệt là về mảng đề tài
“kinh dị” mà tôi muốn tìm hiểu và trình bày.
Nhìn lại hành trình 2/3 thế kỉ dịch thuật tác phẩm, ba giai đoạn tiếp nhận Edgar Allan Poe có ba đặc điểm khác nhau, xuất phát từ thực tế của lịch sử xã hội và những nhu cầu nội tại của văn học Việt Nam, có thể thấy đầu thế kỉ XXI đang báo hiệu sự trở lại của Edgar Allan Poe. Cho đến nay, cái tên Edgar Allan Poe trên sách báo và những trang web tiếng Việt không còn là điều hiếm hoi nữa. điều mà trước đây 5 năm hầu như không thể nào làm được. những thông tin, tài liệu về Poe chỉ có bằng tiếng anh tại các website taiij các trường đại học Mĩ Baltimore, Virginia…và Poe Studied Association. Hiện nay, ở Việt Nam, giới nghiên cứu văn học vẫn đi tìm cách giải mã các “câu đố Edgar Poe”. Truyện ngắn Poe vẫn tiếp tục xuất hiện trong nhiều tuyển tập. Thơ Edgar Allan Poe được giới thiệu nhiều hơn dù vẫn còn rải rác (trên các website văn học, các trang web cá nhân). Tình yêu và sự đồng cảm đối với Edgar Allan Poe hình như cũng tỉ lệ thuận của những trang Tiếng Việt viết về ông đang ngày càng nhiều hơn trong đời sống văn học. Điều gì khiến cho người ta trở nên yêu thích Edgar Allan Poe ? Có lẽ là do chính sức hấp dẫn kì diệu của những câu chuyện chết choc nhưng đầy tính nhân văn mà không ai có thể suy ngẫm khi đọc Edgar Allan Poe . Và nỗi sợ hãi trong các truyện kinh dị của Poe đã giúp cho con người đối với chính mình, thôi thúc họ khám phá và vượt lên chính nỗi sợ hãi của bản thân mình.
3. Phạm vi nghiên cứu.
Chủ yếu nghiên cứu cái “kinh dị” trong sang tác của Edgar Allan Poe và được thu hẹp lại ở một số tác phẩm như : Con mèo đen, Con quạ ,Bản thảo tìm thấy trong chai…
Ngoài ra, để phục vụ cho đề tài trên tôi cũng đi vào tìm hiểu văn bản tác phẩm, ngoại cảnh đã tác động đến tư tưởng sáng tác của nhà văn.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Để hoàn thành bài tiểu luận với đề tài đã xác định rõ tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
Thứ nhất, sử dụng các phương pháp nghiên cứu chung của văn học và phương pháp logic, trong đó chủ yếu là phương pháp sưu tầm, đọc và phân tích tác phẩm trên phương diện văn bản, nghiên cứu tư liệu trên các nguồn nghiên cứu khoa học, so sánh, hệ thống hóa các tư liệu đã có sẵn.
5. Cấu trúc bài tiểu luận.
Bài tiểu luận gồm 3 phần:
A. Mở đầu.
B. Nội dung.
1. Tiền đề để hình thành đề tài “kinh dị” của Edgar Allan Poe .
2. Cảm giác rung rợn trong một số tác phẩm của Edgar Allan Poe .
C. Kết luận.
6. Đóng góp của tiểu luận.
Dựa trên các nguồn tư liệu thành văn, bài tiểu luận trình bày một cách có hệ thống, tương đối đầy đủ về mảng đề tài của cái kinh dị trong các sáng tác của Edgar Allan Poe để thấy được tầm lớn lao của tư tưởng của Poe thông qua tác phẩm của mình.

NỘI DUNG.
1. Những tiền đề hình thành đề tài “kinh dị” của Edgar Allan Poe .
Edgar Allan Poe sinh ra trong một gia đình bố là một diễn viên sân khấu, mẹ là một ca kỹ nổi tiếng về tài năng và sắc đẹp. Nhưng cuộc đời của Poe đã sớm gặp phải những bất hạnh khi cha cua Poe trở nên nghiện ngập và đi vào con đường sa đọa và bỏ đi xa.. Mẹ ông đã rất vất vả nuôi con lúc không có chồng bên cạnh ngay từ khi Poe đang còn trong bào thai. Edgar Allan Poe đã lớn lên trong bàn tay chăm sóc của mẹ cho tới khi ông 3 tuổi thì bà qua đời.
Kể từ đó cuộc đời Poe bắt đầu bất hạnh thực sự. Ông trở thành một đứa trẻ mồ côi, không nơi nương tựa và ông qua tay một gia đình khác : John Allan (1780-1834). Đó là một thương gia giàu có. Poe trở thành con nuôi và là người nối tiếp cơ nghiệp và dòng dõi gia đình J. Allan. Kể từ đó ông mang cái tên Edgar Allan Poe. Không lâu sau, gia đình Poe lên đường định cư sang Anh quốc, năm năm sau trở về Virginia (USA) sinh sống. Cuộc sống ở gia đình J. Allan đã làm cho ông trở thành người lãnh cảm, lãnh cảm do những điều mắt thấy tai nghe.
Poe đã từng nói rằng : “Sống là phải chuyển động với thời gian chấp nhận đau thương”. Ông đã phải trải qua các giai đoạn : thai nhi, thơ ấu, thanh xuân, trưởng thành, già cả và hủy diệt. Đó là tất cả những gì ông phải trải qua trong bất hạnh. Poe đã trở nên tuyệt vọng và có đôi lúc ông muốn tìm cho mình một lối thoát riêng.
Năm 1829, mẹ nuôi của ông mất, cuộc đời Poe đã bước lên đến nấc thang cuối cùng của sự bất hạnh. Poe đã bắt đầu cuộc đấu tranh với cha nuôi. Đó là một mối mâu thuẫn lớn do sự ngờ vực chiếm lĩnh gia sản nhà Allan. Đó cũng chính là tiền đề để Poe viết nên những thảm trạng về tội ác xã hội về sau.
Edgar Allan Poe đã sớm biết yêu so với những người cùng lứa tuổi. Ngay từ khi mới 14 tuổi, Poe đã bắt đầu yêu. Và sau này ông đã yêu và lấy một cô gái chưa đến tuổi vị thành niên. Vợ ông là một cô gái trẻ sống với ông chỉ được 8 năm thì mất, để lại mình ông với bao cay đắng, uất hận.
Những năm tháng cuối đời (từ 1847-1849), Poe đã sống trong tình trạng lao đao, nửa mất trí, kèm theo những thành công lớn và những thất bát, cộng thêm những lời vu cáo của kẻ thù.
Ba cái chết của ba người phụ nữ đã để lại trong ông hình tượng dữ dội, bi đát nhất, xâm nhập vào thơ văn ông. Poe viết lên những câu thơ cay đắng “một bài thơ giống như cái chết của những người đàn bà đẹp”.
Suốt cuộc đời từ khi còn là một đứa trẻ mới sơ sinh cho tới lúc từ giã cõi đời, Poe đã phải sống một cuộc sống đầy nỗi đau khổ, bất hạnh và dần trở thành nỗi ám ảnh trong lòng ông. Nỗi ám ảnh của Edgar Allan Poe đang dần biến thành một nhu cầu thôi thúc đến với thiên tài độc đáo này.
Ông tưởng tượng mình như một dòng nước man dại chay quanh giữa vô vàn khối đá đen, đôi khi thật kinh hoàng !
Trong nỗi cô đơn trầm thống với tình yêu, Poe chỉ còn lại sự gào thét với than phận mình :
Tôi không thể đánh thức
Niềm đam mê của tôi vươn dậy
Khỏi dòng trôi
Và;
Tất cả chỉ còn
Tôi yêu tình yêu
Yêu nỗi cô đơn.
(Tamerlan và Những bài thơ khác)
Đó là tâm thức phản kháng của Poe phản ánh từ những cuồng si, kinh dị, đau đớn vây quanh làm cho Poe quằn quại đưa tới những trạng thái chao động tâm thần nằm giữa dạng thức thực và ảo. Chính những trạng thái đó, Poe đã viết nên những câu chuyện quái dị và đẫm máu lệ, đó cũng chính là hiện thực đời ông phải đương đầu. Một khoảnh đời đầy máu lệ.
Truyện ông viết tạo cho người ta tin những điều đó xảy ra dù truyện được miêu tả bí hiểm hiện đại hay những tiểu thuyết về những vụ án điều tra đều có giá trị trong khoa học dã tưởng và một thứ văn chương cổ quái.
Khi còn sống, Poe bị giới phê bình văn học đánh giá là quá tỉnh táo và lạnh lùng. Nhà văn quả thực rất thích toán học và tâm lí học. Ông đã nghiên cứu những cơn ác mộng của mình và của những người khác và đưa chúng thành thơ và văn xuôi. Con lắc cứ từ từ đung đưa và càng ngày càng rơi thấp xuống để vạch lên nhát chém cuối cùng ngang ngực kẻ tuẫn nạn- đó là hình ảnh nổi bật nhất của định mệnh thời gian không gì cưỡng nổi. Mỗi một cú đung đưa của con lắc lại làm giảm bớt khoảng cách giữa sự sống và cái chết tất yếu sẽ tới.
Edgar Allan Poe đã sống một cuộc đời điển hình của một thi sĩ bẩm sinh. Ông sớm bỏ nhà ra đi, lang bạt kì hồ, uống rượu và có lẽ đã là một trong những người đầu tiên đắm vào vực sâu thí nghiệm với chính bản than mình. Ông không coi ma túy như mục đích tự thân mà chỉ muốn biết liệu có ranh giới giữa cơn mơ và cái chết hay không. Ông đã rất nhiều lần trải qua cái chết của mình và ghi chép lại tỉ mỉ các cảm giác về cái chết trong văn xuôi, cho tới khi tử nạn trong những tình huống không rõ ràng.
Nhưng có một điều, trong cuộc sống đời thực, Poe không hề tỏ ra bi quan, văn xuôi của ông toat lên sự lạnh lẽo của thế giới bên kia chứ bản thân ông lại rất đắm đuối yêu người, yêu đời. Edgar Allan Poe quả thực đã bị định mệnh của cuộc đời ám ảnh. Nếu có nhà văn nào tự lập tình cho số phận của mình thì chắc chắn hẳn người đó chính là Edgar Allan Poe.
2. Cảm giác rùng rợn trong một số tác phẩm của Edgar Allan Poe
Như chúng ta đã biết, Edgar Allan Poe là nhà văn thuộc thế hệ đầu tiên của nền văn học độc lập Mĩ. Edgar Allan Poe đặc biệt thành công và ghi tên tuổi của mình trong thể loại văn học trinh thám, văn học kinh dị và văn học viễn tưởng.
Không đơn thuần là 1 sản phẩm của trí tưởng tượng, các tác phẩm của Edgar Allan Poe còn được viết dựa trên các kiến thức tuyệt vời của ông trong các lĩnh vực khoa học khác nhau như tâm lý học, tội phạm học, nghệ thuật học, y học, sinh hóa học… Do đó, cho dù các câu chuyện nhuốm màu sắc hoang đường, kỳ ảo nhưng lại rất logic. Ngay cả trong những truyện ngắn kinh dị cũng có yếu tố hài hước. Edgar Allan Poe đã đem tất cả tài năng kinh nghiệm, sự nhiệt huyết về nghề văn cùng những ám ảnh của cuộc đời hào chung với nhau, tạo thành một hợp chất sánh đặc mà người ta gọi là “kinh dị” để đem đến cho người đọc cái cảm giac nghẹt thở của sự sợ hãi, nối kinh ngạc đến choáng ngợp nhưng lại dính chặt đôi mắt của mình vào những trang cuối cùng mà không muốn rời ra…
Nhịp điệu trầm buồn, nhưng kết thúc đầy bất ngờ, những yếu tố tâm linh thể hiện một cảm xúc u buồn mãnh liệt, sự khổ đau và cả nỗi ám ảnh của chứng loạn thần kinh về cái chết, bạo lực và toàn bộ cía nhìn về nhân sinh quan của ông cho thấy một sự thiết tha với cái đẹp bí ẩn đầy bi kịch của cuộc sống.
Vì thế các nhà nghiên cứu của văn học đều thống nhất và khằng định Edgar Allan Poe không chỉ là ông tổ của thể loại truyện trinh thám mà còn là người khai mở cho thể loại truyện kinh dị.
Truyện ngắn của Edgar Allan Poe là một sự pha trộn tài tình. Trong một truyện trinh thám của ông người ta có thể thấy những yếu tố kinh dị đan xen những chi tiết hài hước. Trong một truyện kinh dị người ta lại thấy có những ý tưởng ngộ nghĩnh của nhân vật hoặc giọng văn đôi chỗ rất hóm hỉnh. Lại co những truyện có vẻ như hải hước một cách thuần túy nhưng lại bộc lộ khá rõ tình trạng thần kinh không bình thường của nhân vật chính để từ đó tạo nên một tình huống khá kỳ dị trong truyện. Truyện ngắn của Poe có lẽ nên gọi là dị truyện thì thích hợp hưn cả vì chúng luôn vượt quá khuôn khổ nội dung của một câu chuyện thông thường, chúng luôn luôn hướng đến sự độc đáo và gây nên những ấn tượng rất mạnh mẽ cho bạn đọc. Dựa vào những truyện ngắn của Edgar Allan Poe có thể tạm chia truyện ngắn của ông thành 3 dạng chính: kinh dị, trinh thám, rối loạn tâm thần. Do khuôn khổ của để tài đã đưa ra chúng tôi chỉ xin khảo sát mảng đề tài kinh dị trong một số sáng tác của ông. Với lối viết cầu kỳ, sự giải thích tỉ mỉ, những sự kiện đặc biệt được diễn giải hợp lý đã làm tăng mạnh cảm giác rufngg rợn trong những truyện ngắn của ông. Truyện kinh dị của Edgar Allan Poe đậm đặc không khí chết chóc, rùng rợn, người đọc bị nhấn trìm trong một trạng thái kỳ lạ: Thê lương, ủ dột. đôi khi là kinh hoàng. Những nhân vật ảm đạm của ông dường như không liên quan đến thực tại. Họ tự chôn vùi mình trong những lâu đài tối tăm, ủ rũ, đổ nát được trang hoàng bằng những tấm thảm, bức màn rủ kỳ quái tọa nên sự cách biệt hẳn với thế giới bên ngoài, thế giới của cộng đồng, của những tia nắng, cây cỏ và những khung cửa thoáng đáng. Sự sụp đổ của ngôi nhà dòng họ Usher là một ví dụ cho những truyện ngắn kinh dị. Truyện ngắn kinh dị gây cảm giác u ám rợn ngợp, bí ẩn của Poe có khá nhiều như Nàng Legiea (Legiea), Mặt nạ tử thần đỏ (The Masque of the red death), Bản thảo tìm thấy trong chai (Ms. Found in a Bottle), Tụt xuống xoáy nước Maelstrom (A Descent into the Maelstrom)… Chúng dự báo trước sự ra đời của những nhà văn Mỹ viết truyện rùng rợn, kỳ lạ như: H.P.Lovecraft, Stephen King. Những tác phẩm của Edgar Allan Poe được đông đảo các bạn đọc nhiều thế hệ yêu thịch vì nó khá ly kỳ và gây nhiều hồi hộp.
Trong truyện Con mèo đen, hình tượng con mèo hiện lên rất gần gũi và đáng yêu, chỉ vì hành động gây ra tội ác của nhân vật “tôi” đã làm nên một thảm họa lớn, hình của mặt con mèo phút chốc được in rõ trên bức tường trong ngôi nhà sau trận hỏa hoạn. Đó phải chăng là do tâm lý ám ảnh bởi tội ác của mình hay vì con mèo chính là “phù thủy trá hình” như người vợ của nhân vật “tôi” đã nói. Chi tiết được miêu tả đó gây cho người đọc một cảm giác rùng rợn và có thể dễ dàng liên tưởng tới khuôn mặt con mèo đnag ngay trước mắt mình giống như một bóng mà, đôi mắt đỏ ngầu, thân mình đen ngòm cứ thế chằm chằm vào nhân vật “tôi”, vào độc giả, như muốn trì triết, như muốn đe dọa, cảnh báo với những au đã gây ra tội ác trong cuộc đời.
Con mèo đen là một câu chuyện đã kể lại ám ảnh mạnh mẽ và là một trong những truyện ngắn có ảnh hưởng lớn nhất của Edgar Allan Poe. Ngay nhan đề của câu chuyện đã làm cho người đọc bắt đầu có cảm giác rờn rợn sau lưng. Edgar Allan Poe đã khéo léo chọn con vật nuôi thích hợp là một con mèo đen – biểu tượng của bóng tôi và thần chết. Đặc biệt hơn nữa, nhân vật tôi đã đặt cho con mèo cái tên Pluto – một sự cố ý rõ ràng của tác giả. Pluto là tên La mã của thần Hades – vị thần của những người chết, chúa tể cai quản cõi âm. Con vật quấn quýt, bám riết lấy nhân vật “tôi”, nhưng sự thay đổi đến bất ngờ về thái độ tâm lý của nhân vật “tôi” đã làm cho biến cố xảy ra, một thảm cảnh thực sự xuất hiện: một con mèo vốn được yêu quý bỗng bị đem ra chọc mù một mắt và sau đó lại bị treo cổ lên cành cây cho đến chết.
Một thời gian sau lại xuất hiện một con mèo lạ giống hệt con mèo đã chết từ kích thước, màu lông cho tới việc bị chột một mắt – mà sự xuất hiện của con mèo đen đã trở thành một ẩn dụ có ý nghĩa biểu tượng cho phần thú tính, cho “xung lực nguyên thủy tồn tại sâu thẳm trong bản ngã con người. Chính nhân vật “tôi” cũng đã nhận thấy rằng: “nỗi sợ hãi của tôi hẳn là một nối sợ về một con quỷ có hình thù cụ thể, nhưng tôi thật bối rối khi xác định nó là nỗi sợ hãi gì?” Sự tồn tại của con mèo lần thứ 2 như là một sự ám ảnh khiến “tôi” trở nên khốn khổ và lương tâm luôn bị cắn rứt không chút nào yên ổn. Nhưng có lẽ nỗi sợ hãi lớn nhất đó là những cơn ác mộng báo hiệu đầy sự tai họa ghê sợ và rùng rợn hiện lên trong giấc ngủ.” Edgar Allan Poe đã rất khéo léo trong việc tạo ra các chi tiết mơ hồ hư thực để biến nó thành để biến nó thành điềm mơ hồ kinh dị cho người đọc. Ngay trong cái đêm nhân vật “tôi” treo cổ con mèo (con mèo thứ nhất) đã xảy ra một vụ hảo hoạn. Tất cả bỗng dưng bị sập đổ, của cải biến thành tro bụi, chỉ còn trơ lại bức tường với nhiều vết loang nham nhở được in hằn lên do tác động của khói lửa ghép lại thành một hình con mèo khổng lồ với cái hình thòng lọng treo trên cổ. Cả độc giả lẫn nhân vật “tôi” đều bị Edgar Allan Poe làm cho rối trí. Khi băn khoăn không biết đó là con mèo bị treo cổ đã thoát được, nhảy vào phòng và trở thành nạn nhân của vụ hảo hoạn và các phản ứng hóa học đã tạo nên bức hình con mèo trên tường hay là hồn ma của con mèo hiện về như một sự báo ứng, tố cáo tội ác dã man của nhân vật “tôi”. Và chi tiết con mèo thứ hai xuất hiện giống hệt con mèo cũ khiến cho cả “tôi và độc giả băn khoăn không biết đây là con mèo cũ thoát được hay là sự đầu thai mới quay trở lại báo ứng hay không. Đặc biệt, sự trả thù dường như với sức mạnh siêu nhiên đã thực sự diễn ra khi con mèo đùa giỡn khiến nhân vật “tôi” phải nổi cáu và có hành động ngộ sát đối với vợ, sau đó là màn trả thù rùng rợn ở cuối truyện. Con mèo ngồi trên đầu thi thể người vợ bị chôn sống sau bức tường gạch mở con mắt chột và cái miệng đỏ lòm, tố cáo tội ác dã man của kẻ điên khùng. Và những lời tố cáo thực sự đã đến trong cơn ác mộng của “tôi”.
Song hành với Con mèo đen là truyện ngắn Bản thảo tìm thấy trong trai một câu chuyện kinh dị không kém với Con mèo đen chút nào. Nhân vật “tôi” có mặt trên chuyến tàu cùng cơn bão biển lớn đã tạo nên những hình ảnh kỳ dị. Một không gian đen ngòm bao quanh con tàu khiến cho con người không thể nhìn thấy vật gì quá 20 thước. Vào lúc này khoảng cách giữa sự sống và cái chết chỉ trong gang tấc. Chính nhân vật “tôi” cũng đã cho rằng cái chết không quá 1 tiếng đồng hồ nữa. Con tàu cứ thế “leo lên đến độ cao của chhim hải âu, rồi lại xây xẩm choáng váng khi nó lao xuống cái địa ngục bằng nước với tốc độ kinh hoàng”. Con tàu rơi hẳn xuống một vực thẳm sâu hoắm. Trong lúc nhân vật “tôi” và người bạn già đồng hành người thụy Điển vẫn chưa hết cảm giác sợ hãi bởi cơn va đập thì bất ngờ xuất hiện 1 vòng sáng màu đỏ lù mủ, ảm đạm đnag lao xuống theo triền vực bao la… Khiến cho máu trong người như đông lại”. Sự xuất hiện của con tàu khổng lồ ngay trên đầu nhân vật “tôi” với trọng lượng khoảng 4 ngàn tấn, màu “đen kịt” lạ thường không giống bất kỳ con tàu nào khác có thể thấy trên thế giới. Điểm kinh dị hơn nữa khiến cho cả nhân vật “tôi” lẫn độc giả phải cảm thấy rùng rợn đó là con tàu “giương hết buồm lên mà chạy giữa những chiếc răng nanh khổng lồ của biển siêu nhiên đang lên cơn giông tố cuồng dại”. Con tàu lạ đồ sộ như một khối đen khổng lồ lao xuống vực đập vào chiếc tàu của nhân vật “tôi” khiến cho “tôi” hất tung lên và rơi xuống con tàu lạ kia. Một cảnh tượng với những con người trên tàu khổng lồ này cũng kỳ lạ giống như hình dạng con tàu. Đó là những người thủy thủ mà theo nhân vật “tôi” thì hắn đã già và rất yếu ớt. họ đi ngang qua chỗ “tôi” ẩn nấp mà không cần để ý đến sự có mặt của một người lạ trên tàu. Sự kỳ lạ còn được thể hiện ngay cả ở những dụng cụ kỳ quái, và ngya cả thân tàu cũng được đóng bằng một loại gỗ hoàn toàn xa lạ, không thể xác định được đó là loại gỗ gì, “nó hoàn toàn xốp, không phải do bị mối ăn mà bởi đã đi quá nhiều trên biển, cũ đến mục ruỗng”.
Hình ảnh người thuyền với “đôi mắt màu xám hơn cả mái tóc lại như một bầy phù thủy của tương lai”. Tất cả mọi thứ từ con tàu cho tới những thứ nó mang theo đều “nhuốm màu một thời địa xa xưa nào đó. Các thủy thủ thì đi đi lại lại như bóng ma của những thế kỷ đã bị chôn vùi, đôi mắt toát ra một sự hăm hở và lo âu”. Mọi thứ từ con người đến đồ vật, không gian đều trở nên kỳ lạ đến đối với con mắt của nhân vật “tôi”. Tất cả mọi thứ như ở một thế giới khác hoàn toàn xa lạ và kỳ dị khác thường.
Ở Việt Nam, nhìn chung đại đa số độc giả mới chỉ biết đến Edgar Allan Poe như một nhà văn trinh thám, kinh dị mà chưa biết đến tài năng thi ca của ông. Với đề tài viết về cái kinh dị, tôi muốn đi vào tìm hiểu bài thơ Con quạ để một phần nào đó Edgar Allan Poe không chỉ sáng tác truyện ngắn kinh dị mà còn có biệt tài trong sáng tác thơ kinh dị nữa. Bài con quạ vẫn được đánh giá là tác phẩm thi ca tuyệt đỉnh từ trước tới nay.
Trong bài thơ Con quạ, người kể chuyện thao thức trong cảm giác rờn rợn, anh ta đnag đọc sách và buồn rầu về nàng Lenore đã mất. Vào lúc nửa đêm, một con quạ loài chim hiện thân của tang tóc, hắc ám bất chợt bay đến đậu trên cánh cửa. Nó lặng thinh, cô độc chỉ lặp đi lặp lại điệp khúc: “không bao giờ nữa” ở 11 khổ thơ cuối. Có thể coi điệp khúc “không bao giỡ nữa” là một sáng tạo tuyệt vời của Edgar Allan Poe. Từ này ngân lên vừa âm u, sầu muộn lại vừa tuyệt vọng, nhất là lại bật lên từ một con quạ lạ lùng và đầy cổ quái.
Trong không gian của một đêm tối với không khí ảm đạm, thê lương của xác chết, thì sự xuất hiện của con quạ bên ô của sổ với một câu duy nhất được nhắc lại nhiều lần “không bao giỡ nữa” đã khiến cho người đọc hay chính nhân vật “tôi” trong bài thơ cũng có cảm giác rờn rợn đến lạnh người. Bất chợt “tôi” đứng phắt dậy gào lên” “là chim hay là quỷ, lời ngươi kia là dấu hiệu của chia lìa”. Nhân vật “tôi” muốn xua đi những đau buồn mà ngoại cnahr đưa lại:
“Trên bức tường xanh xao,
Tượng Pallas bán thân bên trên cánh cửa
Và mắt ấy,
Mắt quỷ đang mơ ngủ,
Và ánh đèn trên cao đổ xuống
Và hồn tôi khi nào thoát khỏi
Bóng quạ đen dập dềnh trên sàn
Không thể nào bay lên
Không bao giỡ nữa!”
Nỗi đau thương, tuyệt vọng dần bao phủ lòng “tôi”. một không khí tang tóc không thể nào xua đuổi. Bóng dáng của cái chết cứ dập dờn trước mặt khiến cho “tôi” cũng cảm thấy lo âu.
Phải nói rằng, poe thành công lớn trong cách miêu t, tạo nên những chi tiết, tình huống đầy hãi hùng khiến cho người đọc cũng phải lạnh sống lưng.
Khi còn sống, Edgar Allan Poe được nhiều đồng nghiệp và bạn đọc đương thời hâm mộ, nhưng cũng không ít người ác cảm vói những tác phẩm kiệt xuất, dị thường của ông.
Edgar Allan Poe đã trở thành nhà văn lớn một phần vì tính chất ly kỳ rùng rợn, huyền ảo, bí hiểm trong tác phẩm của ông, một phần là tài năng của ông với tư cách là một người đi trước, một người đổi mới trong văn học viễn tưởng, văn học kinh dị. Hiếm có tác giả nào khai thác những câu chueyenj rùng rợn mà đi sâu vào tâm hồn, tìm kiếm sâu sắc những vấn đề trong đời sống hàng ngày và trong lương tri con người… như Edgar Allan Poe. Thơ ông bay theo những giấc mơ trong suốt, ở đó có sự buồn bã pha trộn thứ ánh sáng mwor ảo nhiều khi phản ánh từ một thế giới khác hoàn toàn xa lạ.
Edgar Allan Poe đã có lần phát biểu” “mơ mộng là công việc duy nhất của đời tôi”. quan điểm này thể hiện rõ trong sáng tác của ông. Trong tiểu thuyết, nó thể hiện ở tính chất ly kỳ, rùng rợn, ở sự tự vấn của lương tri tội lỗi, ở cách tưởng tượng. Bên cạnh đó, trong thơ ông cũng thể hiện sự bí ẩn, hòa trộn trong đó gợi lên một thế giới phi hiện thực, có tính chất siêu nhiên. Ông cũng đã từng nói: “với tôi thơ ca không phải mục đích mà là sự đam mê”, nguyên tắc sáng tác của ông là thẩm mỹ, quan điểm nghệ thuật của ông là sự nỗ lực sáng tạo một niềm lạc thú vô biên nhưng con đường hướng tới đó thì khủng khiếp, kinh sợ. Vì vậy, giống như người yêu của một hồn ma, Edgar Allan Poe đã phải đtặ mình vào nguy cơ bị tổn hại cái cuộc sống duy nhất mà ông có. Niềm đam mê và những nỗi kinh dị đã trộn lẫn vào một cách hòa hợp trong tác phẩm của ông.

KẾT LUẬN
Tuy Edgar Allan Poe không có những ánh hào quang bao phủ cuộc đời và sáng tác của ông như một số tác giả cùng thời nhưng Edgar Allan Poe được đánh giá là một nhà thơ thiên tài, là cha đẻ của thể lại truyện trinh thám và kinh dị. Tên tuổi, tài năng của Edgar Allan Poe ngày cnagf được thừa nhận và thu hút sự quan tâm của người đọc cũng như giới nghiên cứu lý luận phê bình, sáng tác của oonng không chỉ trong biên giới nước Mĩ mà đã mở rộng tầm ra nhiều nước trên thế giới.
Cũng cần nói thêm là, tuy tài năng kiệt xuất vậy song sinh thời Edgar Allan Poe không được hưởng niềm vinh quang trọn vẹn. Nếu như cả châu Âu đã từng nghiêng mình chào đón ông thì hầu như nước Mỹ lại ngoảnh mặt lại với ông khi ông còn sống. Thật đúng như Pautoski đã nhận định một cách chua chát” “đời ông lúc sống cũng như lúc chết, không lúc nào không chứng thực cái sự thật là xã hội cũ bao giờ cũng tàn nhẫn và bất công với những người có tài năng lớn và những tâm hồn lớn.”
Với văn học Việt Nam. Edgar Allan Poe không phải là cái tên xa lạ. Nhiều độc giả “mê” mảnh đề tài kinh dị đã tìm đến với những câu truyện ngắn đầy sức hấp dẫn của ông để thưởng thức và mê đắm trong cảm giác rùng rợn ớn lạnh trong người.

------------------------------------------------------

2- TRUYỆN NGẮN CỦA Edgar Allan Poe

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32