NỖI NIỀM OAN KHUẤT 6
-“Một ngày tù, nghìn thu ở ngoài”,
Lời nói người xưa đâu có sai;
Sống khác loài người vừa bốn tháng,
Tiều tuỵ còn hơn mười nǎm trời.
(Trích bài thơ; "Tứ cá nguyệt liễu – Bốn tháng rồi" của Hồ chí Minh)
-Trong xã hội pháp trị hướng tới công bằng, xử tội và trị tội con người, dù có biện minh cỡ nào, thì rõ ràng cũng là hành vi mang tính ác của Đức Huyền Diệu. Hệ thống lao tù của bất cứ nhà nước nào cũng thể hiện ít nhiều sự vô nhân đạo, sự hạn chế nhân quyền của nó (là sự vô nhân đạo trong nhân đạo, và để đảm bảo tự do, dân chủ thì bắt buộc phải hạn chế nhân quyền!).
-Đó là công việc chẳng đặng đừng để duy trì một xã hội lương thiện nên có tính thiêng liêng!
-Cũng vì như vậy nên người xử án vừa rất dễ được mến phục vừa rất dễ (có khi là vô tình) gây điều tội lỗi, độc ác.
-Muốn không phạm phải tội ác, người thực thi xét xử phải có lòng vừa trong sáng, công tâm, vừa thực sự yêu thương con người, không cậy quyền lực, đồng thời có nhận thức đúng đắn về thiện-ác (vận dụng tối ưu pháp luật, thậm chí vượt tầm ý thức hệ!).
-------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
Tại Việt Nam, đảng viên cộng sản phân hóa thành hai nhóm, một nhóm chấp nhận chính sách xét lại của Khrushchev (chủ trương tạm thời sống hòa bình với Việt Nam Cộng hòa), không muốn phát động chiến tranh vũ trang giải phóng miền Nam ngay, mà cho rằng phải xây dựng nền tảng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc trước khi nghĩ đến đấu tranh vũ trang ở miền Nam. Trong giai đoạn 1954-1959, theo BBC Việt ngữ, Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp ủng hộ ý kiến này[6], vì cơ hội thi hành Hiệp định Genève vẫn còn. Họ hi vọng có thể thống nhất hòa bình như Hiệp định Genève quy định; ngược lại, nếu phát động đấu tranh vũ trang sẽ đẩy Hoa Kỳ nhảy vào trực tiếp tham chiến, và khi đó chẳng những sẽ thất bại mà còn làm mất lòng Liên Xô. Nhóm kia ủng hộ quan điểm của Trung Quốc, muốn theo đuổi chính sách cứng rắn của Mao Trạch Đông (tổ chức ngay chiến tranh giải phóng miền Nam). Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã từng phát biểu chỉ trích Liên Xô và nhóm "chủ hòa" rằng: "Chúng tôi không ảo tưởng và không đánh giá thấp Mỹ, có điều chúng tôi không sợ. Nếu ai đó cứ cho rằng kiên quyết chống Mỹ là sẽ thất bại và dẫn đến chiến tranh hạt nhân, thì chỉ còn có cách đầu hàng chủ nghĩa đế quốc". Trong hồi ký "Tử tù tự xử lí" của Trần Thư, ông mô tả không khí lúc bấy giờ là "tâm lý chủ chiến bao trùm xã hội miền Bắc" và "nếu có ai chủ trương chung sống hòa bình và thi đua hòa bình giữa hai miền thì cũng chẳng dám nói ra."[6][7]
Xung khắc giữa Hà Nội và Moskva đưa đến Liên Xô làm áp lực, đe dọa cắt viện trợ cho Bắc Việt. Quan hệ Việt-Xô chỉ cải thiện sau khi Brezhnev lên thay thế Khrushchyov năm 1964. Liên Xô sau đó lại viện trợ cho Hà Nội dồi dào trong cuộc ganh đua ảnh hưởng quốc tế với Bắc Kinh.[8]
Trong khi đó tình hình tại Việt Nam giữa hai miền Nam Bắc từ năm 1960 trở đi đã khiến Hiệp định Genève coi như không thể thi hành được nữa. Hội nghị Trung ương lần thứ 9 tháng 12 năm 1963 cuối cùng chính thức thừa nhận đấu tranh vũ trang là hình thức đấu tranh chủ yếu, kêu gọi các lực lượng cách mạng miền Nam tìm cách giành thắng lợi trong thời gian ngắn nhất, nhưng không đưa quân chủ lực từ miền Bắc vào chi viện để không tạo cớ cho Mỹ nhảy vào. Nghị quyết này cũng đòi hỏi Đảng dẹp mọi hành động chống đối bằng cách loại bỏ những thành phần không tuân phục.[9]
Tại Hội nghị Trung ương lần thứ IX, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và Phạm Hùng đã phê phán chủ trương chung sống hòa bình và hội nghị kết thúc với nghị quyết xác định lập trường đứng về phía Trung Quốc lên án "chủ nghĩa xét lại Khrushchyov", đẩy mạnh công cuộc đấu tranh bằng vũ lực ở miền Nam.
Sau Hội nghị Trung ương lần thứ IX, nhóm do Lê Duẩn đứng đầu tăng cường phê phán "chủ nghĩa xét lại hiện đại". Lê Đức Thọ cho đăng loạt bài "Tăng cường mặt trận tư tưởng để củng cố Đảng" nói rằng một thiểu số trong đảng không đi theo đường lối đã vạch ra và thông báo các đảng viên sẽ phải dự các lớp học tập và chỉnh huấn để thấm nhuần nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ IX.
Những bất đồng của hai nhóm trong nội bộ đảng không dừng lại ở năm 1963-64 mà kết thúc bằng đợt bắt giữ những người ủng hộ quan điểm của Khrushchyov vào năm 1967.
Theo tường thuật của Trần Đĩnh, người tự nhận là đã viết tiểu sử chính thức cho Hồ Chí Minh [cần dẫn nguồn] cùng là phó trưởng ban Tuyên truyền sinh hoạt Đảng Cộng sản Việt Nam thì Lê Duẩn chủ trương chỉnh huấn và dùng lý luận chống xét lại để mở cuộc đánh gục phe chủ hòa, không muốn theo Mao, trong đó có Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp và cả Hồ Chí Minh.[10][nguồn không đáng tin?] Lê Duẩn cũng có tham vọng muốn dùng hậu thuẫn của Hoa lục để đạt ưu thế lãnh tụ, gạt cả Hồ Chí Minh sang một bên.[11][nguồn không đáng tin?] Những mục tiêu này Lê Duẩn đều thủ đắc vì sau Nghị quyết 9, Hồ Chí Minh không còn dự họp Bộ Chính trị nữa. Võ Nguyên Giáp cùng Lê Liêm cũng bị loại.[12][nguồn không đáng tin?] Trường Chinh trước không theo Lê Duẩn nhưng rốt cuộc ngã theo Duẩn nên được lưu dụng. Việc thanh lọc năm 1963 chủ yếu là về mặt lý thuyết nhưng đến năm 1967 thì Lê Duẩn công khai đánh "phái hữu" về mặt nhân sự sau khi Nguyễn Chí Thanh tử nạn vào tháng 7 năm 1967.
Lê Đức Thọ được đưa vào Quân ủy trung ương. Nguyễn Văn Vịnh bị mất chức trong Quân ủy trung ương và quản thúc. Những người thuộc phe Võ Nguyên Giáp như Lê Minh Nghĩa, Lê Trọng Nghĩa, và Đỗ Đức Kiên đều bị loại trong khoản thời gian từ giữa năm 1967 đến 1969.[13] Lê Duẩn đã lợi dụng cơ hội này để vô hiệu hóa đối thủ quốc nội và thiết lập hệ thống công an chặt chẽ ở miền Bắc.[9]
Thời điểm vụ càn quét thanh lọc để bắt những nhân vật không cùng quan điểm với Lê Duẩn được diễn ra vào năm 1967 để dọn đường cho Nghị quyết 14 vào đầu năm 1968, đúc kết và định hướng cho Tổng công kích Tết Mậu Thân 1968.[14]
Bản báo cáo ông Hoàng Minh Chính bị bác bỏ, nhưng ông đã tự ý [31] phân phát bài viết mang tựa đề "Về chủ nghĩa giáo điều ở Việt Nam" cho một số đại biểu tham dự hội nghị. Một số các đại biểu đã hưởng ứng lập trường này như Bùi Công Trừng, Lê Liêm, Ung Văn Khiêm. Chính vì thế ông Hoàng Minh Chính bị coi là người đứng đầu nhóm Xét lại Chống Đảng.
Ngoài xung đột lý thuyết giữa phe theo Mao của Hoa lục kình nhau với phe theo Krushchev của Liên Xô, soạn giả K.W Taylor còn cho rằng có sự ngăn cách chiến thuật giữa Lê Duẩn và Võ Nguyên Giáp. Lê Duẩn và Nguyễn Chí Thanh đề xuất đường lối quân sự tổng tấn công bằng chiến tranh quy ước trong khi Võ Nguyên Giáp chủ trương chiến tranh du kích. Theo K.W Taylor, cùng lúc đó với sức khỏe Hồ Chí Minh càng kém, Lê Duẩn lo rằng thanh thế Võ Nguyên Giáp sẽ đưa Giáp vào địa vị lãnh đạo Đảng Cộng sản nên mở cuộc tấn công nhằm loại bỏ nhóm ủng hộ đối phương và củng cố quyền lực.[34]
Soạn giả Lien-Hang T. Nguyen thì cho rằng vụ án là tập hợp của tất cả yếu tố: tranh chấp quyền lực trong Bộ Chính trị, sự khác biệt chiến lược và cả tư tưởng giữa Lê Duẩn và Võ Nguyên Giáp, rồi lồng vào xung đột tư tưởng Liên Xô - Trung Hoa, với hậu quả là sự chia rẽ trong chính trị tại Hà Nội.[35]
Tuy nhiên Sophie Quinn Judge lại cho rằng Vụ án Xét lại Chống Đảng thể hiện một cuộc đấu tranh tư tưởng, chứ không chỉ đơn thuần mang tính đấu đá cá nhân.[36] "Đó là cuộc cạnh tranh giữa [một bên là nguyện vọng] thống nhất dân tộc (trong khuôn khổ liên minh yêu nước), phát triển khoa học và tiến bộ kĩ thuật với [phía bên kia là] khát vọng cách mạng của quần chúng và sức mạnh biến đổi của cách mạng bạo lực. Nhóm thứ nhất dựa trên quan điểm rằng trí thức có vai trò quan trọng trong xã hội cộng sản, trong khi nhóm kia đặt giá trị cộng sản lên trên tri thức." [6]
Trong hồi ký của mình, Võ Nguyên Giáp cũng phủ nhận việc ông có bất đồng với Lê Duẩn[cần dẫn nguồn], bản thân ông cũng ủng hộ quan điểm đấu tranh vũ trang giải phóng miền Nam. Ngoài ra, những nhà lãnh đạo Việt Nam chỉ ủng hộ quan điểm đấu tranh vũ trang của Trung Quốc, còn những vấn đề khác họ vẫn ủng hộ Liên Xô. Bởi thực tế họ cũng đã từ chối đề nghị của phó thủ tướng Đặng Tiểu Bình sẽ giúp đỡ mạnh mẽ hơn nữa nếu Việt Nam chấm dứt quan hệ với Liên Xô. Báo chí Việt Nam cũng bóng gió nói về "sự đe dọa từ phía Bắc" từ thời phong kiến. Trong một bài phát biểu tháng 5-1966, Lê Duẩn đã phản bác quan điểm của Trung Quốc, bảo vệ quyền được quan hệ với Liên Xô và đề nghị thái độ hòa giải với "các nước xét lại".
Trong bức thư gửi Ban chấp hành Trung ương Ðảng cộng sản Việt Nam khóa VII, ngày 18 tháng 7 năm 1995, ông Lê Hồng Hà[38], nguyên Chánh Văn phòng, Vụ trưởng Vụ tổng hợp Bộ Nội vụ viết về Vụ án Xét lại Chống Đảng: "Có thể nói, sau những sai lầm, oan trái rộng rãi trong Cải cách ruộng đất và Chỉnh đốn tổ chức (1956), thì đây là vụ án oan sai lớn nhất trong lịch sử Ðảng ta, xét về quy mô, tính chất. Và, có thể nói không ngoa, đây là vụ án oan sai lớn nhất trong hàng ngũ những người yêu nước Việt Nam của thế kỷ XX".[1][nguồn không đáng tin?]
Trả lời BBC về việc được cho là sai lầm của đảng trong Vụ án Xét lại Chống Đảng, Giáo sư Nguyễn Trọng Phúc, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh cho biết: "Năm 1993 và 1994, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn kết luận sai phạm của những người trong nhóm đó là hoàn toàn đúng sự thật và phải xử lý như vậy thôi"[39]
Ông Nguyễn Kiến Giang nguyên Phó giám đốc Nhà xuất bản Sự thật, nguyên tỉnh ủy viên tỉnh Quảng Bình, người bị bắt giam 6 năm và quản chế 3 năm nói: "Cho đến bây giờ tôi cũng không biết là tôi có tội gì nữa cơ. Nghe người ta bảo là tôi phản động, tay sai nước ngoài, thì cũng nghe nói thế thôi, chứ còn trên thực tế từ giam ở xà lim mấy năm, thêm mấy năm quản chế, khoảng gần 10 năm. Khi tôi trở về Hà Nội với tư cách là một người công dân thì tôi cũng không biết là tôi có tội gì. Cho tới nay cũng không ai nói với tôi là tôi có tội gì nữa ".[40]
Năm 1981, Hoàng Minh Chính làm đơn kiện vụ bắt giam này và đòi giải oan cho những người bị bắt trong Vụ án Xét lại Chống Đảng. Kết quả là ông bị bắt giam sáu năm và ba năm quản chế.[cần dẫn nguồn]
Trong di chúc, ông Lê Trọng Nghĩa đã xin khôi phục danh dự, "vì tôi không phạm tội chống Đảng, phản bội tổ quốc như đã quy kết mà chỉ vì quy cho tôi liên quan đến vụ việc Đại tướng Võ Nguyên Giáp.[41]"
.
PV: Vậy vì sao án oan xuất hiện nhiều trong thời gian qua thưa luật sư?
Luật sư Phạm Thị Thanh Tâm: Theo cá nhân tôi, một luật sư đã từng chứng kiến nhiều phiên xử “án oan” nhận thấy có 3 nguyên nhân chính gây nên “án oan”.
Thứ nhất, Quy định pháp luật: Bộ luật hình sự (BLHS) và Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) quy định rất rõ về quyền của người được phân công giải quyết vụ án và hình phạt mà người vi phạm pháp luật phải chịu (hình phạt có khi tính chính xác đến đơn vị là ngày). Tuy nhiên, ngược lại với quyền bình đẳng trên thì trách nhiệm cá nhân của người “cầm cân, nảy mực” lại rất chung chung, nếu không nói là mơ hồ? Ví dụ khoản 2 điều 35 BLTTHS quy định: “Điều tra viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Thủ trưởng Cơ quan điều tra về những hành vi và quyết định của mình”. Trách nhiệm đó là gì (3 đến 10 năm tù hay phạt một “bữa nhậu”) không ai biết mà tùy nghi do người có quyền áp dụng? Hành vi và quyết định của mình là gì (đúng, sai hay vừa đúng, vừa sai, … rồi nguyên nhân khách quan, chủ quan, lỗi …), ai là người “cân, đong” hành vi, quyết định đó? Thực trạng trách nhiệm cá nhân trong hoạt động Tố tụng đang bị vô hiệu hóa bằng những cuộc họp “liên ngành” nhằm tạo tiếng nói thống nhất về một vấn đề chưa rõ hoặc để hợp thức hóa một quan điểm chưa đúng.
Thứ hai, năng lực cá nhân thường chỉ giao động trong khoảng hẹp vì những người được phân công chính thụ lý vụ án đều là những người có chức danh tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán) họ được học nhiều, bài bản và nhiều năm kinh nghiệm bản thân và người đi trước. Trên thực tế có sự khác nhau, nhưng chỉ đơn thuần về năng lực sẽ không thể để xẩy ra những vụ “án oan” có tội và không tội, thậm chí tử hình và không tội. Thấy rằng, giữa khoảng hẹp kiến thức cá nhân và cân bằng về chức danh pháp lý thì không thể tạo ra một hậu quả thực tế quá lớn về “án oan” như vừa qua, hiện nay và rất có thể đang tiềm ẩn trong tương lai.
Đạo đức, xưa nay đây vẫn được xem thuộc phạm trù “phức tạp” vì nó không xác định được bằng hiện thực mà phụ thuộc vào cách đánh giá chủ quan. Vì vậy, đạo đức của người trực tiếp thụ lý vụ án thường bị tác động và thay đổi theo: Quan điểm của lãnh đạo (trực tiếp và cấp trên); theo dư luận xã hội xung quanh; “tác động” của các đối tượng liên quan đến vụ án, …
Bản lĩnh, lại càng phức tạp hơn vì phải thể hiện rõ, dứt khoát quan điểm cá nhân trái ngược với nhiều người. Một số người vẫn nói đùa, Cán bộ thụ lý án chỉ được “múa” bằng một tay mà thôi? Do quy định pháp luật chưa phân định rõ về chức danh quản lý Hành chính và chức danh Tố tụng nên lãnh đạo thường “ôm” luôn quyền phán xét các vụ án mà người có chức danh Tố tụng đang thực hiện phải “bó tay”.
Thứ ba, do vụ án quá phức tạp mà áp lực dư luận. Bỡi lẽ, án phức tạp hay đơn giản cũng chỉ do một cá nhân hoặc nhóm tội phạm gây ra. Vì vậy, cả về trí tuệ, lực lượng, … đều không thể so sánh với cả một bộ máy của các Cơ quan THTT và sau họ còn có cả hệ thống pháp luật và tai mắt nhân dân.
PV: Vậy thưa luật sư, làm thể nào để giảm thiểu tối đa các vụ án oan?
Luật sư Phạm Thị Thanh Tâm: “Một ngày tù nghìn thu tại ngoại…”, bản thân người bị oan lại chồng thêm nỗi khổ, nhục … khi không làm vẫn bị tội. Quá trình điều tra càng khổ hơn vì họ không biết gì để khai nên thường được gán cho “mật từ” ngoan cố và được “chăm sóc đặc biệt”. Để giảm bớt căng thẳng và sự “hành hạ thể xác” bị can đành nhận tội theo cách “suy diễn” của cán bộ điều tra. Họ vẫn hy vọng tòa án sẽ là nơi nhân danh công lý để được “giải bày” những góc khuất trong quá trình điều tra. Tuy nhiên, “bút sa là chết” người xưa nói không sai. Tòa vẫn … một “nét quen” trích đọc lời khai nhận của bị can khi họ không nhận tội tại tòa? Thật vậy, quy định pháp luật là chuẩn mực buộc mọi người phải chấp hành. Khi quy định còn lỏng lẻo thì còn rất nhiều lý do để đổ lỗi. Hải Ninh (thực hiện)
Lời nói người xưa đâu có sai;
Sống khác loài người vừa bốn tháng,
Tiều tuỵ còn hơn mười nǎm trời.
(Trích bài thơ; "Tứ cá nguyệt liễu – Bốn tháng rồi" của Hồ chí Minh)
-Trong xã hội pháp trị hướng tới công bằng, xử tội và trị tội con người, dù có biện minh cỡ nào, thì rõ ràng cũng là hành vi mang tính ác của Đức Huyền Diệu. Hệ thống lao tù của bất cứ nhà nước nào cũng thể hiện ít nhiều sự vô nhân đạo, sự hạn chế nhân quyền của nó (là sự vô nhân đạo trong nhân đạo, và để đảm bảo tự do, dân chủ thì bắt buộc phải hạn chế nhân quyền!).
-Đó là công việc chẳng đặng đừng để duy trì một xã hội lương thiện nên có tính thiêng liêng!
-Cũng vì như vậy nên người xử án vừa rất dễ được mến phục vừa rất dễ (có khi là vô tình) gây điều tội lỗi, độc ác.
-Muốn không phạm phải tội ác, người thực thi xét xử phải có lòng vừa trong sáng, công tâm, vừa thực sự yêu thương con người, không cậy quyền lực, đồng thời có nhận thức đúng đắn về thiện-ác (vận dụng tối ưu pháp luật, thậm chí vượt tầm ý thức hệ!).
-------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
Từ vụ án oan Nguyễn Thanh Chấn:
Nhớ về vụ án oan của Trung tướng Hữu Ước
(Petrotimes) - Ba năm giời đằng đẵng, ông trải qua 4 phiên tòa và rồi cuối cùng được tuyên trắng án. Rồi ông lại trở về báo Công an nhân dân làm việc nhưng cũng chẳng được phục hồi, chẳng được bồi thường gì cả và ông phải làm lại tất cả mọi việc từ đầu.
Những ngày này, dư luận hết sức quan tâm về vụ án oan đến 10 năm của
ông Nguyễn Thanh Chấn. Đành rằng, đây là một vụ án xảy ra cách đây 10
năm và cho đến bây giờ thì những vụ án oan sai kiểu như thế này có lẽ
không còn nữa. Nhưng, hầu như ai cũng bị ám ảnh rằng, tại sao một số
người bảo vệ pháp luật, những người cầm cán cân công lý lại có thể thờ
ơ, vô cảm với sinh mệnh của người dân đến như vậy.
Rồi đây, các cơ quan chức năng sẽ phải điều tra, làm rõ những ai gây ra
nỗi oan tày đình cho ông Chấn và chắc chắn, họ sẽ phải bị xử lý. Đây
cũng là bài học cho những người làm công tác điều tra, xét xử…
Nghĩ về vụ án này, tôi không thể không nhớ đến một vụ án oan khác đã
xảy ra cách đây gần 30 năm: Đó là vụ án oan của Trung tướng, nhà văn
Nguyễn Hữu Ước, hiện đang là Phó tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực
lượng Công an Nhân dân. Ngày ông bị bắt là vào khoảng tháng 9 năm 1985.
Khi ấy, ông là Đại úy, Trưởng phòng Thời sự Báo Công an Nhân dân.
Trong trí nhớ của tôi, lệnh bắt ông mang số 067 và chỉ có mấy dòng mơ hồ “vi phạm pháp luật”. Không có tội danh nào cụ thể.
Vậy mà người ta bắt ông rồi chuyển thẳng vào trong thành phố Hồ Chí Minh, lúc thì giam ở trại B34, lúc thì ở Chí Hòa.
Ba năm giời đằng đẵng, ông trải qua 4 phiên tòa và rồi cuối cùng được
tuyên trắng án. Rồi ông lại trở về báo Công an nhân dân làm việc nhưng
cũng chẳng được phục hồi, chẳng được bồi thường gì cả và ông phải làm
lại tất cả mọi việc từ đầu.
Chúng tôi đã nói rằng, vụ án oan của ông là điển hình cho việc xâm hại
các hoạt động tư pháp, mà điều đáng nói ở đây, ông là một Đại úy công
an, là một nhà báo, là đảng viên, là người từng chưa đủ 18 tuổi đã lên
đường nhập ngũ sang Lào chiến đấu. Với một người như vậy mà người ta còn
bắt lấy được rồi tống vào Chí Hòa, bị giam chung với những kẻ đầu trộm
đuôi cướp, đám lưu manh chuyên nghiệp thì quả là khủng khiếp.
Nhưng việc ông phấn đấu rồi được đề bạt đến cấp hàm Trung tướng, được
Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thì cũng là một
điển hình về ý chí của một con người và điển hình về sự đổi mới trong
công tác cán bộ.
Lịch sử chắc sẽ không lặp lại một vụ như thế nữa.
Trở lại vụ án của ông. Tôi nhớ. Năm 1991, tôi đi viết về một vụ án lừa
đảo. Khi cùng với các cán bộ điều tra của Công an Hà Nội hỏi cung đối
tượng bị bắt thì gã lại khai ra một chuyện, ấy là hắn từng “được” giam
chung với ông Nguyễn Hữu Ước. Gã còn kể, gã được “vinh dự” giao nhiệm vụ
“giám sát”, không cho ông tự tử.
Sau này, khi ra tù, trở về Báo Công an Nhân dân, ông kể cho chúng tôi
nghe các kiểu hành hạ ông mà một số cán bộ điều tra đã nghĩ ra. Nghe ông
nói mà chúng tôi cứ dựng hết tóc gáy và thầm bảo rằng, nếu mình vào
cảnh như thế này, có khi bị bắt phải “vu cho bố mình là phản động” thì
cũng buộc phải khai cho xong để thoát khỏi cực hình.
Cũng đã có một số vụ án khác mà cán bộ điều tra đã nghĩ ra rất nhiều
trò để tra tấn phạm nhân. Nhiều người chịu không nổi đã phải tìm con
đường giải thoát - ấy là tự tử.
Hiện nay, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao cũng đang điều tra lại về một
vụ án bắt giam sai của Công an Tiền Giang hơn chục năm trước. Báo Năng
lượng Mới cũng đã có phóng sự về vụ án này và cũng đã được biết những
người chịu không nổi cực hình mà phải tự tử. Nhưng Giời vẫn còn thương
họ nên làm cho sợi dây họ dùng treo cổ bị đứt…
Sau này, khi đi viết phóng sự về khám Chí Hòa, tôi được một cán bộ quản
giáo của trại giam - người đã từng làm quản giáo thời ông Hữu Ước bị
giam ở đó dẫn đi tham quan. Ông chỉ cho tôi phòng giam nào ông Ước từng
ở, chỗ nào ông Ước từng nằm. Rồi ông lại kể cho tôi nghe vanh vách
chuyện ông Ước đã từng phải đánh nhau với bọn đầu gấu vì chúng cướp cơm,
cướp chỗ ngủ của ông, hay cả những lần đám phạm nhân há hốc mồm nghe
ông đọc “Tam quốc diễn nghĩa”.
Khủng khiếp nhất là trong thời gian ông Ước ở Chí Hòa, cứ vài tháng,
các quản giáo lại nhận được lệnh từ một cấp trên nào đó chuyển ông sang
phòng giam khác. Đối với phạm nhân, đang ở phòng giam này mà phải chuyển
sang phòng giam khác, đó là một sự tra tấn vô cùng tinh vi, nhất là khi
“chỗ ở” mới cũng là nơi giam giữ những kẻ lưu manh chuyên nghiệp, đám
đầu trộm đuôi cướp và phòng nào cũng rất sẵn đám “đầu gấu, đại bàng”.
Bởi người mới vào thì phải nằm chỗ bẩn thỉu nhất, phải hầu hạ đám “đầu
gấu, đại bàng” và phải bị ăn những trận đòn “ra mắt”.
Những năm tháng bị giam cầm đã gây cho ông một căn bệnh mà chúng tôi cứ gọi là “hội chứng nhà giam”.
Hàng chục năm đã trôi qua nhưng ông vẫn nằm mê thấy cảnh mình phải ăn
cơm trộn cát; vẫn nằm mê thấy cảnh đánh nhau với bọn đầu gấu… Và ông
cũng vẫn nằm mê thấy cảnh những cán bộ quản giáo tìm cách dúi cho ông
thêm nắm cơm, miếng bánh, an ủi, động viên ông trong những tháng ngày tù
tội đó.
Được trả tự do, sự đền bù duy nhất mà người ta dành cho ông là đưa ông đi khám bệnh và an dưỡng ít ngày.
Nhiều cán bộ công an đã từng gây nên nỗi oan cho ông thì vẫn lấp liếm
rằng: “Nó không có tội, nhưng cũng có lỗi”. Nhưng lỗi gì thì chẳng ai
chỉ ra được.
Ấy vậy mà, ông đã nghiến răng làm lại sự nghiệp của mình. Không nửa lời
oán trách. Không có những phát ngôn bất đắc chí. Không tìm cách kiện
tụng những người đã gây nên nỗi đau khổ tột cùng cho mình và gia đình.
Tôi đã chứng kiến khi làm Tổng biên tập Báo An ninh Thế giới, ông vẫn
đến thăm hỏi, biếu quà vào dịp lễ, tết những người đã trực tiếp hoặc
gián tiếp gây nên vụ án oan của ông. Bởi ông hiểu rõ, những người ấy
thực ra cũng chẳng thù oán gì ông nhưng thời ấy tư duy nó thế, cách làm
tùy tiện, vô luật pháp là thế… Sợi dây oán thù nên cởi không nên buộc!
Kinh Dịch có câu rằng: “Vật cùng tắc biến”, nghĩa là, cái gì phát triển đến cùng rồi thì sẽ có sự thay đổi.
Vụ Thẩm mỹ viện Cát Tường đã khiến cho những người quản lý của ngành y
tế phải tỉnh ra và có những biện pháp quản lý chặt chẽ hơn các cơ sở
khám chữa bệnh, làm đẹp tư nhân. Và đến lúc ấy người ta mới tá hỏa ra,
lâu nay, vẫn tồn tại những cơ sở làm đẹp tư nhân hoạt động không có giấy
phép.
Vụ Nguyễn Thanh Chấn cũng khiến những cơ quan bảo vệ pháp luật phải
tỉnh ra và chắc chắn cũng sẽ có những biện pháp rà soát lại các vụ án có
dấu hiệu oan sai hoặc có những biểu hiện xâm hại hoạt động tư pháp.
Cũng phải công nhận rằng, trong khoảng 5 năm trở lại đây, việc các cán
bộ điều tra dùng nhục hình hoặc nhục hình biến tướng, hoặc bức cung, mớm
cung, dụ cung phạm nhân đã được giảm thiểu rất nhiều. Nhưng, ở đâu đó,
cũng vẫn còn. Mong rằng, những người làm công tác xét xử hãy nghĩ đến
câu “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại” và “Việc gì mình không muốn
thì đừng làm cho người khác”.
Nhà văn Nguyễn Như Phong
-
Sau vụ án oan của Trung tướng Hữu Ước và Nguyễn Thanh Chấn chắc hẳn luật pháp Việt Nam phải nhìn lại "tài năng" của một số cán bộ trong ngành.
-
Tôi xin có ý kiến như thế này: tất cả các cán bộ khi điều tra vụ án phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Do đó khi các cán bộ xử sai hoặc làm sai thì sẽ đem ra xử ngược lại đối với cán bộ đó như thế thì mới công bằng.
-
Mong rằng những người làm công tác điều tra, xét xử sẽ rút ra được bài học kinh nghiệm để không còn những vụ án oan sai nữa.
-
Thật cảm phục sự phấn đấu và tài năng của Trung tướng Hữu Ước. Chúc ông luôn mạnh khỏe và luôn vững vàng trên cương vị của mình.
-
Đúng là "Lửa thử vàng, gian nan thử sức". Tôi rất khâm phục nhà văn Hữu Ước đã đứng lên và làm lại được như ngày hôm nay.
-
Cảm ơn nhà báo đã cho bạn đọc biết một phần nào về nỗi cơ cực của nhà văn Hữu Ước.Thật đáng khâm phục anh! Chúc nhà văn Hữu Ước luôn mạnh khỏe mãi vững lòng tin, tâm luôn trong sáng, hoàn thành tốt cương vị của mình. Mong cho không còn những vụ án oan nào xảy ra nữa!
-
bài viết hay quá
-
Cảm ơn anh Như Phong. Thông tin rất hữu ích.
-
Thật khó tin, một người tài giỏi như nhà văn Hữu Ước mà phải trải qua quãng thời gian chịu oan sai như vậy ư?
-
Thế mới thấy rằng hệ thống thực thi pháp luật Việt Nam còn quá nhiều việc cần phải bàn!
-
Không thể tin được đó là sự thật. Khâm phục ý chí của ông Hữu Ước.
-
Cảm ơn nhà báo đã cho bạn đọc biết một phần nào về nỗi cơ cực của nhà văn Hữu Ước.Thật đáng khâm phục anh! Chúc nhà văn Hữu Ước luôn mạnh khỏe mãi vững lòng tin, tâm luôn trong sáng, hoàn thành tốt cương vị của mình. Mong cho không còn những vụ án oan nào xảy ra nữa!
Vụ án Xét lại Chống Đảng
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Vụ án Xét lại Chống Đảng có tên chính thức là "Vụ án Tổ chức chống Ðảng, chống Nhà nước ta, đi theo chủ nghĩa xét lại hiện đại và làm tình báo cho nước ngoài"[1] mang mã số X77[2] là một vụ án chính trị do Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn trực tiếp chỉ đạo đưa đến việc bắt giam nhiều năm không xét xử nhiều nhân vật quan trọng của Đảng Lao động Việt Nam và nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ năm 1967 với cáo buộc những người này đi theo Chủ nghĩa Xét lại, sau đó từ năm 1973 lần lượt thả ra[cần dẫn nguồn].
Vụ án này bắt nguồn từ cuộc tranh chấp quyền lực và mâu thuẫn đường lối
chính trị trong nội bộ Đảng Lao động Việt Nam và chính quyền Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa. Một phe là Lê Duẩn, Nguyễn Chí Thanh. Phe kia là Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp. Hồ Chí Minh lúc đầu không ủng hộ phe nào cả nhưng sau chấp nhận đường lối của Lê Duẩn, mở đầu cho cuộc thanh trừng năm 1963.[3] Theo Trần Đĩnh, nhóm ủng hộ Lê Duẩn còn có Tố Hữu, Lê Đức Thọ, Hoàng Tùng.[4]
Bối cảnh
Vào tháng 9 năm 1953, Khrushchyov được bầu làm bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Tại đại hội lần thứ 20 Đảng Cộng sản Liên Xô, ông đã đọc báo cáo về sự sùng bái cá nhân của I.V. Stalin. Ông chủ trương chung sống hòa bình với thế giới Tư bản ("Các nước không cùng lập trường chính trị có thể sống chung")[5]. Đường lối của Khrushchyov bị Trung Quốc, dưới thời Mao Trạch Đông, chống lại và gọi là "Chủ nghĩa Xét lại".Tại Việt Nam, đảng viên cộng sản phân hóa thành hai nhóm, một nhóm chấp nhận chính sách xét lại của Khrushchev (chủ trương tạm thời sống hòa bình với Việt Nam Cộng hòa), không muốn phát động chiến tranh vũ trang giải phóng miền Nam ngay, mà cho rằng phải xây dựng nền tảng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc trước khi nghĩ đến đấu tranh vũ trang ở miền Nam. Trong giai đoạn 1954-1959, theo BBC Việt ngữ, Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp ủng hộ ý kiến này[6], vì cơ hội thi hành Hiệp định Genève vẫn còn. Họ hi vọng có thể thống nhất hòa bình như Hiệp định Genève quy định; ngược lại, nếu phát động đấu tranh vũ trang sẽ đẩy Hoa Kỳ nhảy vào trực tiếp tham chiến, và khi đó chẳng những sẽ thất bại mà còn làm mất lòng Liên Xô. Nhóm kia ủng hộ quan điểm của Trung Quốc, muốn theo đuổi chính sách cứng rắn của Mao Trạch Đông (tổ chức ngay chiến tranh giải phóng miền Nam). Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã từng phát biểu chỉ trích Liên Xô và nhóm "chủ hòa" rằng: "Chúng tôi không ảo tưởng và không đánh giá thấp Mỹ, có điều chúng tôi không sợ. Nếu ai đó cứ cho rằng kiên quyết chống Mỹ là sẽ thất bại và dẫn đến chiến tranh hạt nhân, thì chỉ còn có cách đầu hàng chủ nghĩa đế quốc". Trong hồi ký "Tử tù tự xử lí" của Trần Thư, ông mô tả không khí lúc bấy giờ là "tâm lý chủ chiến bao trùm xã hội miền Bắc" và "nếu có ai chủ trương chung sống hòa bình và thi đua hòa bình giữa hai miền thì cũng chẳng dám nói ra."[6][7]
Xung khắc giữa Hà Nội và Moskva đưa đến Liên Xô làm áp lực, đe dọa cắt viện trợ cho Bắc Việt. Quan hệ Việt-Xô chỉ cải thiện sau khi Brezhnev lên thay thế Khrushchyov năm 1964. Liên Xô sau đó lại viện trợ cho Hà Nội dồi dào trong cuộc ganh đua ảnh hưởng quốc tế với Bắc Kinh.[8]
Trong khi đó tình hình tại Việt Nam giữa hai miền Nam Bắc từ năm 1960 trở đi đã khiến Hiệp định Genève coi như không thể thi hành được nữa. Hội nghị Trung ương lần thứ 9 tháng 12 năm 1963 cuối cùng chính thức thừa nhận đấu tranh vũ trang là hình thức đấu tranh chủ yếu, kêu gọi các lực lượng cách mạng miền Nam tìm cách giành thắng lợi trong thời gian ngắn nhất, nhưng không đưa quân chủ lực từ miền Bắc vào chi viện để không tạo cớ cho Mỹ nhảy vào. Nghị quyết này cũng đòi hỏi Đảng dẹp mọi hành động chống đối bằng cách loại bỏ những thành phần không tuân phục.[9]
Diễn biến
Tháng 9 năm 1963, Lê Đức Thọ, Trưởng ban Tổ chức Trung ương, đăng một bài báo trên Báo Nhân Dân nói rằng một số đảng viên bị ảnh hưởng của "chủ nghĩa xét lại" vì thế nghi ngờ chiến lược thống nhất đất nước của đảng.Tại Hội nghị Trung ương lần thứ IX, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và Phạm Hùng đã phê phán chủ trương chung sống hòa bình và hội nghị kết thúc với nghị quyết xác định lập trường đứng về phía Trung Quốc lên án "chủ nghĩa xét lại Khrushchyov", đẩy mạnh công cuộc đấu tranh bằng vũ lực ở miền Nam.
Sau Hội nghị Trung ương lần thứ IX, nhóm do Lê Duẩn đứng đầu tăng cường phê phán "chủ nghĩa xét lại hiện đại". Lê Đức Thọ cho đăng loạt bài "Tăng cường mặt trận tư tưởng để củng cố Đảng" nói rằng một thiểu số trong đảng không đi theo đường lối đã vạch ra và thông báo các đảng viên sẽ phải dự các lớp học tập và chỉnh huấn để thấm nhuần nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ IX.
Những bất đồng của hai nhóm trong nội bộ đảng không dừng lại ở năm 1963-64 mà kết thúc bằng đợt bắt giữ những người ủng hộ quan điểm của Khrushchyov vào năm 1967.
Theo tường thuật của Trần Đĩnh, người tự nhận là đã viết tiểu sử chính thức cho Hồ Chí Minh [cần dẫn nguồn] cùng là phó trưởng ban Tuyên truyền sinh hoạt Đảng Cộng sản Việt Nam thì Lê Duẩn chủ trương chỉnh huấn và dùng lý luận chống xét lại để mở cuộc đánh gục phe chủ hòa, không muốn theo Mao, trong đó có Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp và cả Hồ Chí Minh.[10][nguồn không đáng tin?] Lê Duẩn cũng có tham vọng muốn dùng hậu thuẫn của Hoa lục để đạt ưu thế lãnh tụ, gạt cả Hồ Chí Minh sang một bên.[11][nguồn không đáng tin?] Những mục tiêu này Lê Duẩn đều thủ đắc vì sau Nghị quyết 9, Hồ Chí Minh không còn dự họp Bộ Chính trị nữa. Võ Nguyên Giáp cùng Lê Liêm cũng bị loại.[12][nguồn không đáng tin?] Trường Chinh trước không theo Lê Duẩn nhưng rốt cuộc ngã theo Duẩn nên được lưu dụng. Việc thanh lọc năm 1963 chủ yếu là về mặt lý thuyết nhưng đến năm 1967 thì Lê Duẩn công khai đánh "phái hữu" về mặt nhân sự sau khi Nguyễn Chí Thanh tử nạn vào tháng 7 năm 1967.
Lê Đức Thọ được đưa vào Quân ủy trung ương. Nguyễn Văn Vịnh bị mất chức trong Quân ủy trung ương và quản thúc. Những người thuộc phe Võ Nguyên Giáp như Lê Minh Nghĩa, Lê Trọng Nghĩa, và Đỗ Đức Kiên đều bị loại trong khoản thời gian từ giữa năm 1967 đến 1969.[13] Lê Duẩn đã lợi dụng cơ hội này để vô hiệu hóa đối thủ quốc nội và thiết lập hệ thống công an chặt chẽ ở miền Bắc.[9]
Thời điểm vụ càn quét thanh lọc để bắt những nhân vật không cùng quan điểm với Lê Duẩn được diễn ra vào năm 1967 để dọn đường cho Nghị quyết 14 vào đầu năm 1968, đúc kết và định hướng cho Tổng công kích Tết Mậu Thân 1968.[14]
Những nhân vật trong vụ án
Nghiên cứu về sự kiện này được Sophie Quinn-Judge công bố trên tạp chí Journal of Cold War History tháng 11 năm 2005, ước lượng trong Vụ án Xét lại Chống Đảng, khoảng 300 người bị bắt trong đó có 30 nhân vật cao cấp.- Những nhân vật bị bắt: gồm những nhân vật lão thành trong đảng, nhiều vị tướng cùng một số những nhà nghiên cứu và nhà báo như: Viện trưởng Viện Triết học Mác-Lênin Hoàng Minh Chính[15] (bị bắt ngày 27-7-1967); Vụ trưởng Lễ tân Bộ Ngoại giao Vũ Đình Huỳnh[16] (bị bắt ngày 18-10-1967)[17]; Cục trưởng Cục 2 (Cục Tình báo quân đội) đại tá Lê Trọng Nghĩa[18]; Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng Đại tá Lê Minh Nghĩa; Cục trưởng Cục Tác chiến Đại tá Đỗ Đức Kiên[19]; Tổng Biên tập báo Quân đội Nhân dân Hoàng Thế Dũng; phó giám đốc nhà xuất bản Sự thật, nguyên Tỉnh ủy viên tỉnh ủy Quảng Bình Nguyễn Kiến Giang; Giám đốc nhà xuất bản Sự thật Minh Tranh[20]; Phó bí thư thành ủy Hà Nội kiêm Phó chủ tịch Ủy ban Hành chính TP Hà Nội Trần Minh Việt; phó tổng biên tập báo Hà Nội Mới Phạm Hữu Viết[21]; phó tổng biên tập tạp chí Học Tập Phạm Kỳ Vân[22]; Tổng thư kí toà báo Quân Đội Nhân Dân Trần Thư[23]; nhà báo Vũ Thư Hiên, nhà văn Bùi Ngọc Tấn...
- Những nhân vật không bị bắt nhưng bị khai trừ đảng: Ngoại trưởng Ung Văn Khiêm[24], Thứ trưởng Bộ Văn hóa Lê Liêm[25][26]; thiếu tướng Đặng Kim Giang (Theo Vũ Thư Hiên, ông này cũng bị bắt giam ở Hoả lò); Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Văn Vịnh[27]; phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học nhà nước Bùi Công Trừng[24]. Ngoại trưởng Ung Văn Khiêm bị quy trách nhiệm về bản tuyên bố chung "thân Liên Xô" trong chuyến thăm Việt Nam vào tháng 1 năm 1963 của Chủ tịch Tiệp Khắc Novotny và bị thay thế bởi Xuân Thủy[28]
- Những nhân vật xin tị nạn tại Liên Xô: có khoảng 40 người lúc đó đang đi học hay đi công tác ở Liên Xô đã xin ở lại như Phó chủ tịch Ủy ban Hành chính Hà Nội Nguyễn Minh Cần; Chính uỷ sư đoàn 308, Phó chính uỷ Quân khu khu III đại tá Lê Vinh Quốc; nguyên Tổng biên tập Báo Quân đội Nhân dân thượng tá Ðỗ Văn Doãn.
Hoàng Minh Chính
Ở cương vị Viện trưởng Viện Triết học, Hiệu phó trường đảng Nguyễn Ái Quốc, một trong những lý thuyết gia của đảng, ông Hoàng Minh Chính[30] được Trường Chinh giao nhiệm vụ soạn thảo bản Báo cáo chính trị của Hội nghị TW9.Bản báo cáo ông Hoàng Minh Chính bị bác bỏ, nhưng ông đã tự ý [31] phân phát bài viết mang tựa đề "Về chủ nghĩa giáo điều ở Việt Nam" cho một số đại biểu tham dự hội nghị. Một số các đại biểu đã hưởng ứng lập trường này như Bùi Công Trừng, Lê Liêm, Ung Văn Khiêm. Chính vì thế ông Hoàng Minh Chính bị coi là người đứng đầu nhóm Xét lại Chống Đảng.
Nguyên nhân của vụ án
Nguyên nhân của vụ án đến nay vẫn chưa rõ ràng. Nhiều nhân vật bị bắt trong thời kỳ này cho rằng nguyên nhân của Vụ án Xét lại Chống Đảng là vì Lê Duẩn và Lê Đức Thọ muốn dùng "hiểm họa xét lại" để hạ bệ tướng Võ Nguyên Giáp. Đồng quan điểm này trong bài "Revisionism in Vietnam" (1995), Judith Stowe cũng nói ông Võ Nguyên Giáp "là đối tượng chính của chiến dịch bài trừ khuynh hướng xét lại." Trao đổi với BBC ngày 02/12/2013, nhà văn Vũ Thư Hiên nói ông và những người khác bị bắt và bị bỏ tù trong vụ án "Xét lại chống Đảng" chỉ là những 'con dê tế thần' của một âm mưu trong nội bộ Đảng Cộng sản khi đó, mà theo ông là để hạ uy tín của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.[32] Pierre Asselin[33], trong tiểu luận "Lê Duẩn, the American War, and the Creation of an Independent Vietnamese State" nói rõ thêm rằng "do quá nguy hiểm nếu công kích cá nhân ông Giáp, nên ông Lê Duẩn nhắm đến đội ngũ ủng hộ vị tướng, đặc biệt những người thân cận và trung thành nhất trong hàng ngũ cấp cao của Đảng và chính phủ."Ngoài xung đột lý thuyết giữa phe theo Mao của Hoa lục kình nhau với phe theo Krushchev của Liên Xô, soạn giả K.W Taylor còn cho rằng có sự ngăn cách chiến thuật giữa Lê Duẩn và Võ Nguyên Giáp. Lê Duẩn và Nguyễn Chí Thanh đề xuất đường lối quân sự tổng tấn công bằng chiến tranh quy ước trong khi Võ Nguyên Giáp chủ trương chiến tranh du kích. Theo K.W Taylor, cùng lúc đó với sức khỏe Hồ Chí Minh càng kém, Lê Duẩn lo rằng thanh thế Võ Nguyên Giáp sẽ đưa Giáp vào địa vị lãnh đạo Đảng Cộng sản nên mở cuộc tấn công nhằm loại bỏ nhóm ủng hộ đối phương và củng cố quyền lực.[34]
Soạn giả Lien-Hang T. Nguyen thì cho rằng vụ án là tập hợp của tất cả yếu tố: tranh chấp quyền lực trong Bộ Chính trị, sự khác biệt chiến lược và cả tư tưởng giữa Lê Duẩn và Võ Nguyên Giáp, rồi lồng vào xung đột tư tưởng Liên Xô - Trung Hoa, với hậu quả là sự chia rẽ trong chính trị tại Hà Nội.[35]
Tuy nhiên Sophie Quinn Judge lại cho rằng Vụ án Xét lại Chống Đảng thể hiện một cuộc đấu tranh tư tưởng, chứ không chỉ đơn thuần mang tính đấu đá cá nhân.[36] "Đó là cuộc cạnh tranh giữa [một bên là nguyện vọng] thống nhất dân tộc (trong khuôn khổ liên minh yêu nước), phát triển khoa học và tiến bộ kĩ thuật với [phía bên kia là] khát vọng cách mạng của quần chúng và sức mạnh biến đổi của cách mạng bạo lực. Nhóm thứ nhất dựa trên quan điểm rằng trí thức có vai trò quan trọng trong xã hội cộng sản, trong khi nhóm kia đặt giá trị cộng sản lên trên tri thức." [6]
Trong hồi ký của mình, Võ Nguyên Giáp cũng phủ nhận việc ông có bất đồng với Lê Duẩn[cần dẫn nguồn], bản thân ông cũng ủng hộ quan điểm đấu tranh vũ trang giải phóng miền Nam. Ngoài ra, những nhà lãnh đạo Việt Nam chỉ ủng hộ quan điểm đấu tranh vũ trang của Trung Quốc, còn những vấn đề khác họ vẫn ủng hộ Liên Xô. Bởi thực tế họ cũng đã từ chối đề nghị của phó thủ tướng Đặng Tiểu Bình sẽ giúp đỡ mạnh mẽ hơn nữa nếu Việt Nam chấm dứt quan hệ với Liên Xô. Báo chí Việt Nam cũng bóng gió nói về "sự đe dọa từ phía Bắc" từ thời phong kiến. Trong một bài phát biểu tháng 5-1966, Lê Duẩn đã phản bác quan điểm của Trung Quốc, bảo vệ quyền được quan hệ với Liên Xô và đề nghị thái độ hòa giải với "các nước xét lại".
Nhận định
Theo Huy Đức thì Tướng Đồng Sỹ Nguyên, uỷ viên Bộ Chính trị Khoá VI từng nói: vụ "chống Đảng năm 1967 là một vụ án được dựng lên".[37]Trong bức thư gửi Ban chấp hành Trung ương Ðảng cộng sản Việt Nam khóa VII, ngày 18 tháng 7 năm 1995, ông Lê Hồng Hà[38], nguyên Chánh Văn phòng, Vụ trưởng Vụ tổng hợp Bộ Nội vụ viết về Vụ án Xét lại Chống Đảng: "Có thể nói, sau những sai lầm, oan trái rộng rãi trong Cải cách ruộng đất và Chỉnh đốn tổ chức (1956), thì đây là vụ án oan sai lớn nhất trong lịch sử Ðảng ta, xét về quy mô, tính chất. Và, có thể nói không ngoa, đây là vụ án oan sai lớn nhất trong hàng ngũ những người yêu nước Việt Nam của thế kỷ XX".[1][nguồn không đáng tin?]
Trả lời BBC về việc được cho là sai lầm của đảng trong Vụ án Xét lại Chống Đảng, Giáo sư Nguyễn Trọng Phúc, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh cho biết: "Năm 1993 và 1994, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn kết luận sai phạm của những người trong nhóm đó là hoàn toàn đúng sự thật và phải xử lý như vậy thôi"[39]
Ông Nguyễn Kiến Giang nguyên Phó giám đốc Nhà xuất bản Sự thật, nguyên tỉnh ủy viên tỉnh Quảng Bình, người bị bắt giam 6 năm và quản chế 3 năm nói: "Cho đến bây giờ tôi cũng không biết là tôi có tội gì nữa cơ. Nghe người ta bảo là tôi phản động, tay sai nước ngoài, thì cũng nghe nói thế thôi, chứ còn trên thực tế từ giam ở xà lim mấy năm, thêm mấy năm quản chế, khoảng gần 10 năm. Khi tôi trở về Hà Nội với tư cách là một người công dân thì tôi cũng không biết là tôi có tội gì. Cho tới nay cũng không ai nói với tôi là tôi có tội gì nữa ".[40]
Năm 1981, Hoàng Minh Chính làm đơn kiện vụ bắt giam này và đòi giải oan cho những người bị bắt trong Vụ án Xét lại Chống Đảng. Kết quả là ông bị bắt giam sáu năm và ba năm quản chế.[cần dẫn nguồn]
Trong di chúc, ông Lê Trọng Nghĩa đã xin khôi phục danh dự, "vì tôi không phạm tội chống Đảng, phản bội tổ quốc như đã quy kết mà chỉ vì quy cho tôi liên quan đến vụ việc Đại tướng Võ Nguyên Giáp.[41]"
Chú thích
- ^ a ă Chương Tự bạch, hồi ký Đêm giữa ban ngày
- ^ Trần Đĩnh. Đèn cù. Tr 337.
- ^ Davidson, Phillip. Tr 304-6.
- ^ Trần Đĩnh. Đèn cù. Tr 291-2.
- ^ Theo chính sách đó, các nước cộng sản không nên tìm kiếm đối đầu quân sự với phương Tây mà cần theo đuổi cạnh tranh kinh tế với khối tư bản.
- ^ a ă â “Kỳ 3: Cuộc đấu tranh trong nội bộ”. BBC. Ngày 10 tháng 5 năm 2006.
- ^ Thư Trần (1996). Tử tù tự xử lí. Nhà xuất bản Văn Nghệ. ISBN 1886566178. Trang 21.
- ^ "The Vietnam-Soviet Union-China Triangle Relations during the Vietnam War (1964-1973) from Vietnamese Sources"
- ^ a ă "Hanoi and the American War"
- ^ Trần Đĩnh. Đèn cù. Tr 259-60.
- ^ Trần Đĩnh. Đèn cù. Tr 266.
- ^ Trần Đĩnh. Đèn cù. Tr 275.
- ^ Trần Đĩnh. Đèn cù. Tr 320
- ^ Nguyen, Lien-Hang T. Hanoi's War: An International History of the War for Peace in Vietnam. Tr 106.
- ^ Người được coi là đứng đầu nhóm Xét lại Chống Đảng
- ^ Cựu bí thư của Hồ Chí Minh, cựu tù Sơn La, từng là thành viên Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, cha Vũ Thư Hiên, bị giam 6 năm trong Vụ án Xét lại Chống Đảng, mất ngày 3 tháng 5 năm 1990
- ^ Chương 6, Đêm giữa ban ngày, hồi ký của Vũ Thư Hiên mô tả khi nghe ông Huỳnh bị bắt Đỗ Mười đã sửng sốt:"Tại sao lại bắt anh Huỳnh, anh Giang? Những người cách mạng như thế sao có thể đổ cho người ta chống Đảng được? Bậy quá! Bậy quá!"
- ^ Được mời đi họp, rồi đưa thẳng tới trại giam vào sáng ngày 6-1-1968,
- ^ Đại tá Đỗ Đức Kiên, tên thật là Phạm Khương, sinh ngày 10 tháng 1 năm 1924, nguyên quán Thái Bình. Năm 1944, ông tham gia hoạt động Việt Minh từng giữ chức: Chủ nhiệm Chính trị kiêm Phó Bí thư Trường Sĩ quan Lục quân; Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng; Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu; Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Phòng không Không quân
- ^ Bị kết tội cho dịch bừa bãi nhiều sách của Liên Xô, được đưa đi cải tạo ở Nam Hà
- ^ Ông chết trong thời gian bị bắt giam năm 1971
- ^ Hoạt động cách mạng từ khi còn là học sinh, sau đó sang Tàu cho Hồ Chí Minh huấn luyện cách mệnh, 21 tuổi đã là xứ ủy viên Ðảng cộng sản Ðông Dương.
- ^ Trần Thư vào Đảng Cộng sản Việt Nam vào khoảng đầu thập niên 1940, chiến đấu tại Hà Nội trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Sau năm 1954, phục vụ cho tờ Quân Đội Nhân Dân trở thành Thư ký toà soạn của tờ báo này. Trong Vụ án Xét lại Chống Đảng bị bắt ngay tại tòa soạn báo Quân Đội Nhân Dân, giam 6 năm ở Yên Bái và Sơn Tây; quản chế 3 năm lao động cải tạo tại Hưng Yên
- ^ a ă Bị khai trừ đảng tịch theo nghị quyết ngày 27-1-1972 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
- ^ Từng được bổ nhiệm làm Cục trưởng Cục Dân quân kiêm chức Cục trưởng Cục Chính trị bằng sắc lệnh 116/SL ngày 18 tháng 10 năm 1949 CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
- ^ Bị khai trừ đảng tịch theo nghị quyết ngày 27-1-1972 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
- ^ Ông Nguyễn Văn Vịnh bị tước quân hàm trung tướng, khai trừ đảng tịch theo nghị quyết ngày 27-1-1972 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Cho đến ngày 13-10-1977, thì có Quyết định số 255 do chính Lê Đức Thọ ký, viết: "Đồng chí Nguyễn Văn Vịnh biết Đặng Kim Giang là phần tử xấu có quan điểm chống lại Nghị quyết 9 của Đảng vẫn quan hệ trao đổi một số quan điểm sai trái về đường lối chống Mỹ, tiết lộ những tin tức cơ mật về quân sự, chính trị với Giang. Giang đã sử dụng những tin ấy để hoạt động chống Đảng và cung cấp cho người nước ngoài. Nhưng tác hại không lớn. Đồng chí Vịnh không có quan hệ về tổ chức và hành động với nhóm chống Đảng của Đặng Kim Giang và không biết Giang hoạt động chống Đảng có tổ chức như sai lầm của 3 ủy viên Trung ương: Ung Văn Khiêm, Lê Liêm, Bùi Công Trừng".
- ^ Đề xuất của Dương Bạch Mai tại Quốc hội nhằm hoãn việc thay thế Ung Văn Khiêm cho tới tháng 9 năm 1963 đã bị bác bỏ. Xem SAPMO, BArch, DC 900/54, 1, AND Hanoi, Zum Besuch von Liou Chao chi, Pommerening, 28 tháng 5 năm 1963.
- ^ Trần Đĩnh. Đèn cù Tr 334.
- ^ Nữ ký giả Judy Stow từng là đặc phái viên của đài BBC ở Ðông Nam Á, sau đó làm trưởng ban Việt Ngữ đài này đã gọi Hoàng Minh Chính là cha đẻ của Chủ nghĩa xét-lại Việt Nam
- ^ Trả lời Bader, ký giả Ba Lan thì sở dĩ ông đã dám cho phổ biến bài viết của mình vì nghĩ rằng ông được sự ủng hộ của nhiều người và gần nửa số ủy viên bộ chính trị. Mặc khác ông đã chứng kiến trên 70 đảng trong số 86 đảng cộng sản trên toàn thế giới đã ủng hộ lập trường "xét lại" (81 trong số 86 đảng đã tham dự đại hội các đảng cộng sản và công nhân thế giới tại Moscow năm 1960, do Khrutshchev triệu tập)
- ^ “'Chúng tôi chỉ là những con dê tế thần'”. BBC Vietnamese. Truy cập 21 tháng 2 năm 2015.
- ^ Pierre Asselin là Phó Giáo sư Lịch sử tại Viện đại học Hawaii Thái bình dương, tác giả sách Một nền hòa bình cay đắng: Washington, Hà Nội và việc ký kết Hiệp định Paris (Chapel Hill: Nhà xuất bản Viện đại học North Carolina, 2002).
- ^ Taylor, K. W. A History of the Vietnamese. Tr 603
- ^ Nguyen, Lien-Hang T. Hanoi's War: An International History of the War for Peace in Vietnam. Tr 102-9.
- ^ Cold War History, Vol. 5, No. 4, November 2005, © Taylor & Francis
- ^ Bên thắng cuộc- Phần 2: Quyền Bính- Chương 15. Vụ Án "Năm Châu - Sáu Sứ"
- ^ Lê Hồng Hà sinh năm 1926, tên thật là Lê Văn Quỳ, tham gia hoạt động từ trước Cách mạng Tháng Tám. Trong cuộc khởi nghĩa 19 tháng 8 năm 1945, tham gia đánh chiếm Trại Bảo An Binh. Tháng 7 năm 1946, chính phó Tổng Giám đốc Nha Công an Việt Nam Lê Giản giới thiệu ông vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1958, được đề bạt Chánh Văn phòng Bộ Công an
- ^ 'Một đảng không có nghĩa là mất dân chủ'
- ^ Tôi từ bỏ CNCS như thế nào?
- ^ “Ông Lê Trọng Nghĩa từ trần”., BBC, 22 tháng 2 2015
Để không còn những vụ "án oan" đau lòng
Thứ tư, ngày 6 tháng 11 năm 2013 | 16:8
KTNT- Sau 10 năm ngồi tù
oan, công dân Phạm Thanh Chấn ở thôn Me, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên,
tỉnh Bắc Giang mới được "tạm tha". Rõ ràng, vấn đề điều tra, truy tố,
xét xử của cơ quan bảo vệ pháp luật đang có vấn đề.
BÀI LIÊN QUAN:
Bài 1: VKSNDTC kháng nghị tái thẩm và tạm đình chỉ thi hành án đối với phạm nhân Nguyễn Thanh Chấn bị kết án tù chung thân về tội giết ngườiBài 2: Vụ “Giết người”, có dấu hiệu bị tù oan trên 10 năm: Sai lầm nghiêm trọng của cơ quan tố tụng!
Bài 3: Luật sư nói về bồi thường án tù oan 10 năm
Bài 4: Ngày về đẫm lệ của bị án "giết người" sau 10 năm kêu oan
Bài 5: VKSNDTC họp báo thông tin cụ thể về vụ án oan sai của ông Nguyễn Thanh Chấn
Bài 6: Sẽ điều tra nghi án cơ quan điều tra ép cung ông Chấn
Bài 7: Án oan - trách nhiệm thuộc tòa, ép cung - "tội" của điều tra
Bài 8: Bộ trưởng Công an: Nếu ông Chấn bị oan, phải xử lý nghiêmBài 9: Chủ tịch nước: Khẩn trương minh oan, đền bù cho ông Nguyễn Thanh Chấn
Trao đổi với phóng viên Kinh tế nông thôn xoay quanh sự việc này Luật sư Phạm Thị Thanh Tâm, Trưởng chi nhánh văn phòng Luật sư HL Nghi Xuân cho rằng:
Chuyện “án oan” ở Việt Nam thời gian qua thật sự không thể kể hết. Nhiều bạn đọc, cũng như tôi rất bức xúc khi tiếp nhận thông tin về một vụ “án oan” ở Bắc Giang được phát hiện. Những ngày gần đây, dư luận “vỡ òa” khi hay tin người bị oan phải ngồi tù 10 năm được trở về nhà.
BÀI LIÊN QUAN:
Bài 1: VKSNDTC kháng nghị tái thẩm và tạm đình chỉ thi hành án đối với phạm nhân Nguyễn Thanh Chấn bị kết án tù chung thân về tội giết ngườiBài 2: Vụ “Giết người”, có dấu hiệu bị tù oan trên 10 năm: Sai lầm nghiêm trọng của cơ quan tố tụng!
Bài 3: Luật sư nói về bồi thường án tù oan 10 năm
Bài 4: Ngày về đẫm lệ của bị án "giết người" sau 10 năm kêu oan
Bài 5: VKSNDTC họp báo thông tin cụ thể về vụ án oan sai của ông Nguyễn Thanh Chấn
Bài 6: Sẽ điều tra nghi án cơ quan điều tra ép cung ông Chấn
Bài 7: Án oan - trách nhiệm thuộc tòa, ép cung - "tội" của điều tra
Bài 8: Bộ trưởng Công an: Nếu ông Chấn bị oan, phải xử lý nghiêmBài 9: Chủ tịch nước: Khẩn trương minh oan, đền bù cho ông Nguyễn Thanh Chấn
Trao đổi với phóng viên Kinh tế nông thôn xoay quanh sự việc này Luật sư Phạm Thị Thanh Tâm, Trưởng chi nhánh văn phòng Luật sư HL Nghi Xuân cho rằng:
Chuyện “án oan” ở Việt Nam thời gian qua thật sự không thể kể hết. Nhiều bạn đọc, cũng như tôi rất bức xúc khi tiếp nhận thông tin về một vụ “án oan” ở Bắc Giang được phát hiện. Những ngày gần đây, dư luận “vỡ òa” khi hay tin người bị oan phải ngồi tù 10 năm được trở về nhà.
| Luật sư Phạm Thị Thanh Tâm |
PV: Vậy vì sao án oan xuất hiện nhiều trong thời gian qua thưa luật sư?
Luật sư Phạm Thị Thanh Tâm: Theo cá nhân tôi, một luật sư đã từng chứng kiến nhiều phiên xử “án oan” nhận thấy có 3 nguyên nhân chính gây nên “án oan”.
Thứ nhất, Quy định pháp luật: Bộ luật hình sự (BLHS) và Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) quy định rất rõ về quyền của người được phân công giải quyết vụ án và hình phạt mà người vi phạm pháp luật phải chịu (hình phạt có khi tính chính xác đến đơn vị là ngày). Tuy nhiên, ngược lại với quyền bình đẳng trên thì trách nhiệm cá nhân của người “cầm cân, nảy mực” lại rất chung chung, nếu không nói là mơ hồ? Ví dụ khoản 2 điều 35 BLTTHS quy định: “Điều tra viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Thủ trưởng Cơ quan điều tra về những hành vi và quyết định của mình”. Trách nhiệm đó là gì (3 đến 10 năm tù hay phạt một “bữa nhậu”) không ai biết mà tùy nghi do người có quyền áp dụng? Hành vi và quyết định của mình là gì (đúng, sai hay vừa đúng, vừa sai, … rồi nguyên nhân khách quan, chủ quan, lỗi …), ai là người “cân, đong” hành vi, quyết định đó? Thực trạng trách nhiệm cá nhân trong hoạt động Tố tụng đang bị vô hiệu hóa bằng những cuộc họp “liên ngành” nhằm tạo tiếng nói thống nhất về một vấn đề chưa rõ hoặc để hợp thức hóa một quan điểm chưa đúng.
Thứ hai, năng lực cá nhân thường chỉ giao động trong khoảng hẹp vì những người được phân công chính thụ lý vụ án đều là những người có chức danh tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán) họ được học nhiều, bài bản và nhiều năm kinh nghiệm bản thân và người đi trước. Trên thực tế có sự khác nhau, nhưng chỉ đơn thuần về năng lực sẽ không thể để xẩy ra những vụ “án oan” có tội và không tội, thậm chí tử hình và không tội. Thấy rằng, giữa khoảng hẹp kiến thức cá nhân và cân bằng về chức danh pháp lý thì không thể tạo ra một hậu quả thực tế quá lớn về “án oan” như vừa qua, hiện nay và rất có thể đang tiềm ẩn trong tương lai.
Đạo đức, xưa nay đây vẫn được xem thuộc phạm trù “phức tạp” vì nó không xác định được bằng hiện thực mà phụ thuộc vào cách đánh giá chủ quan. Vì vậy, đạo đức của người trực tiếp thụ lý vụ án thường bị tác động và thay đổi theo: Quan điểm của lãnh đạo (trực tiếp và cấp trên); theo dư luận xã hội xung quanh; “tác động” của các đối tượng liên quan đến vụ án, …
Bản lĩnh, lại càng phức tạp hơn vì phải thể hiện rõ, dứt khoát quan điểm cá nhân trái ngược với nhiều người. Một số người vẫn nói đùa, Cán bộ thụ lý án chỉ được “múa” bằng một tay mà thôi? Do quy định pháp luật chưa phân định rõ về chức danh quản lý Hành chính và chức danh Tố tụng nên lãnh đạo thường “ôm” luôn quyền phán xét các vụ án mà người có chức danh Tố tụng đang thực hiện phải “bó tay”.
Thứ ba, do vụ án quá phức tạp mà áp lực dư luận. Bỡi lẽ, án phức tạp hay đơn giản cũng chỉ do một cá nhân hoặc nhóm tội phạm gây ra. Vì vậy, cả về trí tuệ, lực lượng, … đều không thể so sánh với cả một bộ máy của các Cơ quan THTT và sau họ còn có cả hệ thống pháp luật và tai mắt nhân dân.
PV: Vậy thưa luật sư, làm thể nào để giảm thiểu tối đa các vụ án oan?
Luật sư Phạm Thị Thanh Tâm: “Một ngày tù nghìn thu tại ngoại…”, bản thân người bị oan lại chồng thêm nỗi khổ, nhục … khi không làm vẫn bị tội. Quá trình điều tra càng khổ hơn vì họ không biết gì để khai nên thường được gán cho “mật từ” ngoan cố và được “chăm sóc đặc biệt”. Để giảm bớt căng thẳng và sự “hành hạ thể xác” bị can đành nhận tội theo cách “suy diễn” của cán bộ điều tra. Họ vẫn hy vọng tòa án sẽ là nơi nhân danh công lý để được “giải bày” những góc khuất trong quá trình điều tra. Tuy nhiên, “bút sa là chết” người xưa nói không sai. Tòa vẫn … một “nét quen” trích đọc lời khai nhận của bị can khi họ không nhận tội tại tòa? Thật vậy, quy định pháp luật là chuẩn mực buộc mọi người phải chấp hành. Khi quy định còn lỏng lẻo thì còn rất nhiều lý do để đổ lỗi. Hải Ninh (thực hiện)