NỖI NIỀM OAN KHUẤT 5

-“Một ngày tù, nghìn thu ở ngoài”,
Lời nói người xưa đâu có sai;
Sống khác loài người vừa bốn tháng,
Tiều tuỵ còn hơn mười nǎm trời.
 (Trích bài thơ; "Tứ cá nguyệt liễu – Bốn tháng rồi" của Hồ chí Minh)
-Trong xã hội pháp trị hướng tới công bằng, xử tội và trị tội con người, dù có biện minh cỡ nào, thì rõ ràng cũng là hành vi mang tính ác của Đức Huyền Diệu. Hệ thống lao tù của bất cứ nhà nước nào cũng thể hiện ít nhiều sự vô nhân đạo, sự hạn chế nhân quyền của nó (là sự vô nhân đạo trong nhân đạo, và để đảm bảo tự do, dân chủ thì bắt buộc phải hạn chế nhân quyền!).
-Đó là công việc chẳng đặng đừng để duy trì một xã hội lương thiện nên có tính thiêng liêng!
-Cũng vì như vậy nên người xử án vừa rất dễ được mến phục vừa rất dễ (có khi là vô tình) gây điều tội lỗi, độc ác.
-Muốn không phạm phải tội ác, người thực thi xét xử phải có lòng vừa trong sáng, công tâm, vừa thực sự yêu thương con người, không cậy quyền lực, đồng thời có nhận thức đúng đắn về thiện-ác (vận dụng tối ưu pháp luật, thậm chí vượt tầm ý thức hệ!).

-------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)

Những nhà báo, luật sư bền bỉ đồng hành với ông Huỳnh Văn Nén

TPO - Từ năm 2000 đến nay, các phóng viên báo Tiền Phong và một số luật sư đã bền bỉ đồng hành cùng ông Huỳnh Văn Nén cũng như các bị can, bị cáo trong “vụ án vườn điều”, góp phần minh oan cho họ.
Ông Huỳnh Văn Nén (áo trắng ôm lẵng hoa) cùng con trai Huỳnh Thành Lượng đến Cơ quan đại diện báo Tiền Phong tại Thành phố Hồ Chí Minh để cảm ơn, ngày 4/11/2015 Ông Huỳnh Văn Nén (áo trắng ôm lẵng hoa) cùng con trai Huỳnh Thành Lượng đến Cơ quan đại diện báo Tiền Phong tại Thành phố Hồ Chí Minh để cảm ơn, ngày 4/11/2015
Tại buổi Giao lưu trực tuyến: “Huỳnh Văn Nén - Hành trình giải oan xuyên thế kỷ” do Báo Tiền phong tổ chức lúc 14h hôm nay (2/12), bên cạnh cha con ông Huỳnh Văn Nén và ông Nguyễn Thận, còn có một số vị khách mời đặc biệt. Đó là luật sư Nguyễn Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hòa và nhà báo Nguyễn Đình Quân, Báo Tiền Phong.
Luật sư Nguyễn Hồng Hà chính là luật sư đầu tiên của các bị can vụ án vườn điều, cũng là luật sư đầu tiên có văn bản kiến nghị xét xử lại vụ án Huỳnh Văn Nén để tránh oan sai.
Từ năm 2000 đến nay, các phóng viên của báo Tiền Phong là Hồ Việt Khuê (bút danh khác là Nguyễn Huỳnh, Phương Thảo) và Nguyễn Đình Quân (bút danh khác là Huy Anh) đã viết nhiều bài báo, góp phần minh oan cho các bị can, bị cáo trong “vụ án vườn điều” và nêu những dấu hiệu bị oan của ông Huỳnh Văn Nén trong vụ bà Lê Thị Bông bị giết.
Ngày 4/11 vừa qua, ông Huỳnh Văn Nén đã cùng một số người thân trong gia đình đến Cơ quan đại diện báo Tiền Phong tại TP.HCM, cảm ơn báo Tiền Phong đã có nhiều bài viết minh oan cho ông và nhiều người thân của ông trong “vụ án vườn điều”, nêu những dấu hiệu bị oan của ông trong vụ bà Lê Thị Bông bị giết.
Đúng 14h hôm nay (2/12), buổi Giao lưu trực tuyến: “Huỳnh Văn Nén - Hành trình giải oan xuyên thế kỷ” do Báo Tiền Phong tổ chức sẽ bắt đầu. Mời bạn đọc đặt câu hỏi giao lưu tới các vị khách mời tại đây.
Hai vụ án trên đều xảy ra tại thôn 2, xã Tân Minh (nay là khu phố 2, thị trấn Tân Minh, Hàm Tân, Bình Thuận), bà Dương Thị Mỹ bị giết trong một vườn điều đêm 18/5/1993 rạng ngày 19/5/1993, bà Lê Thị Bông bị giết tại nhà đêm 23/4/1998. Trong “vụ án vườn điều” ông Huỳnh Văn Nén bị kết án 5 năm tù giam về tội “giết người” với vai trò đồng phạm, trong vụ bà Lê Thị Bông ông Nén bị cho là đã trực tiếp sát hại nạn nhân, do vậy bị kết án tù chung thân. Trong “vụ án vườn điều”, ngày 26/12/2005 ông Nén và 9 người thân đã được Cơ quan CSĐT, Bộ Công an đình chỉ bị can, sau đó 9 người kia được các cơ quan pháp luật tỉnh Bình Thuận xin lỗi công khai và được bồi thường oan sai. Riêng ông Huỳnh Văn Nén không được bồi thường oan sai, tiếp tục thụ án tù chung thân tại vụ án bà Bông.
Ngày 12/11/2014, TAND Tối cao có quyết định giám đốc thẩm, hủy phần tội danh và hình phạt đối với ông Huỳnh Văn Nén của bản án hình sự sơ thẩm ngày 31/8/2000 của TAND tỉnh Bình Thuận về vụ bà Lê Thị Bông, giao hồ sơ về cấp sơ thẩm để điều tra lại từ đầu. Ngày 6/1/2015, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bình Thuận tiếp nhận hồ sơ vụ án để điều tra lại, ra lệnh tạm giam 4 tháng đối với bị can Huỳnh Văn Nén. Sau đó, Viện KSND tỉnh Bình Thuận đã hai lần gia hạn tạm giam ông Nén, đến ngày 8/1/2016.

Án oan Huỳnh Văn Nén: Cha người bị tố là thủ phạm nói gì?

TPO - "Nếu lỡ Thọ phạm tội thì nó cũng phải chịu thôi, chứ biết làm sao bây giờ!", ông Nguyễn Thái, cha của Nguyễn Thọ, người bị tố cáo đã giết bà Lê Thị Bông, cho biết.
Nguyễn Thọ, ảnh chụp năm 1997 Nguyễn Thọ, ảnh chụp năm 1997
Trong vụ án oán Huỳnh Văn Nén, vào ngày 26/8/2000, một phạm nhân tại Trại giam Sông Cái (Ninh Thuận) là Nguyễn Phúc Thành tố cáo thủ phạm giết bà Lê Thị Bông (Năm Tép) không phải là ông Huỳnh Văn Nén mà là Nguyễn Thọ ở xã Tân Minh (Hàm Tân, Bình Thuận), với đồng phạm là Hồ Văn Việt.
Hồ Văn Việt đã chết vì bệnh cách nay 4 năm. Mới đây, lại có tin rằng Công an đã bắt được nghi phạm giết bà Lê Thị Bông. Phóng viên báo Tiền Phong đã tìm gặp ông Nguyễn Thái, cha Nguyễn Thọ, ở thôn 4, thị trấn Tân Minh.
 “Ông cứ ghi âm thoải mái, nhưng đừng chụp ảnh. Tôi không muốn ảnh mình lên báo, rồi đi đường bị người ta chỉ trỏ bình phẩm”, ông Nguyễn Thái giao hẹn khi bắt đầu câu chuyện. 
+ Có thông tin anh Nguyễn Phúc Thành tố cáo anh Thọ là thủ phạm giết bà Năm Tép, chú nghe thông tin đó khi nào, khi nghe vậy chú cảm thấy như thế nào?
- Tôi mới nghe cách đây vài năm, nghe trên mạng chứ không trực tiếp nghe ai nói.
+ Chú có bức xúc?
- Không biết nói sao nữa. Người ta nói như vậy, lấy gì mình nói với người ta là có hay không có. Chỉ có pháp luật mới nói ra được. Mình mắc mớ chi phải nôn nóng cho mệt.
+ Nhưng chú nghĩ con chú không có liên quan, dính dáng gì với vụ đó, chú có bực tức gì với người đưa thông tin đó không?  
- Bây giờ mình bực thì mình làm gì đây? Mình không có gì để nói người ta được, biết sao mà nói.
+ Theo ý chú là để cơ quan pháp luật người ta làm?
- Đúng vậy.
+ Bao nhiêu năm nay anh Thọ có liên lạc gì gia đình không?
- Tôi đuổi nó đi từ năm 1997, trước khi xảy ra vụ này (vụ bà Lê Thị Bông bị giết) hơn một năm. Đuổi lâu rồi. Vì nó cũng quậy phá dữ lắm, từ hồi nó mười mấy tuổi, theo bạn bè rủ rê đi đánh bi da, ăn cắp vặt, bắt gà người ta để nhậu nhẹt… Đám bạn nó có cả thằng Nguyễn Phúc Thành nữa. Thằng đó cũng quậy.
+ Anh Thọ sinh năm bao nhiêu ạ?
Hình như năm 1976, đúng, 76. Tôi đuổi nó đi, ở đây người ta biết cả. Lúc đó tôi cũng đã lớn tuổi rồi, mà tôi phải cầm cây đánh đuổi nó. Lúc đó tôi 57, 58 tuổi rồi, tôi sinh năm 1939. Tôi có 7 người con, Thọ là con áp út. Trừ nó quậy phá, những đứa khác đều làm ăn đàng hoàng. 
+ Chú có biết sau khi bị chú đuổi đi, anh Thọ ở đâu không?
- Hoàn toàn không biết.
+ Anh Thọ đi khỏi xã này trước hay sau vụ bà Bông bị giết, chú có biết không?
- Đi trước chứ. Xã cắt hộ khẩu nó mà.
+ Đó là đi khỏi nhà, còn đi khỏi xã lúc nào, đi đâu chú có biết không?
- Không biết.
+ Khi điều tra lại vụ án, cơ quan điều tra có đến gặp chú không?
- Có. Mới đây, cách đây mấy tháng, gặp ở ủy ban. Họ hỏi tôi như ông hỏi tôi bây giờ đấy. Tôi cũng trả lời như trả lời ông. Y vậy luôn.
+ Chú biết điều tra viên tên là gì không ạ?
- Dũng thì phải, Dũng. Ông viết nhiều lắm, viết lung tung, tôi chả coi, ông viết gì cũng được. Lập biên bản bảo tôi ký rồi giữ biên bản, tôi không giữ. Tôi cũng không coi lại biên bản, vì tôi không mang kính, không đọc được. Ông cũng không đọc lại cho tôi. Không lẽ ông viết sai cho tôi? Nhưng tôi không bận tâm chuyện đó. Vì tôi có tội đâu mà sợ. Họ chỉ làm việc với tôi, không làm việc với vợ tôi, vì bả hơi bị lẫn.
+ Từ hồi đi khỏi nhà, anh Thọ có liên lạc với gia đình, hay chú có nghe tin gì về anh Thọ không?
- Không nghe gì hết. Vụ này đã mười mấy năm. Có thể có nhiều nghi vấn, nhưng mình không nói được. Có thể nó đi đào đãi vàng đâu đó, chết rồi hay sao, mình không biết được.
+ Tuy người con có sai quấy, nhưng tình máu mủ ruột thịt, chú cũng có thương nhớ chứ?
- Nếu có một đứa con mà nó hư, mình cũng đau khổ thiệt. Nhưng tôi đang sống với nhiều đứa, sáu bảy đứa an toàn cả, chí thú làm ăn cả, thành ra cũng được an ủi, không nặng nề lắm.  Chuyện con cái không ai muốn, lỡ nó có, thì phải chịu thôi.
+ Cháu có nghe nói công an đã tìm thấy anh Thọ?
-Tôi không biết. Nhưng nếu có thì là đưa về đối chất thôi chứ, đã có chứng cứ gì nó giết người đâu. Chắc gì nó đã nói có giết người. Nó nói không có thì cũng khó cứ bộ. Nhân chứng vật chứng đâu, tuy là báo chí ồn ào lên vậy, nhưng đâu phải dễ. Tôi cũng không có cấn cớ vì với Nguyễn Phúc Thành. Tôi chỉ mong cơ quan pháp luật làm sáng tỏ vụ việc. Chỉ mong thế thôi. Nếu lỡ nó có thì cũng phải chịu thôi, chứ biết làm sao bây giờ.

Người chịu án oan xuyên thế kỷ: 'Chỉ mong không còn án oan sai'

TP - “Có oán có trách hờn cũng không thay đổi được chuyện tôi đi tù. Chuyện cũ đã qua rồi, chỉ mong không còn ai mang án oan nữa”, ông Huỳnh Văn Nén ngậm ngùi.
Ngày 2/12, báo Tiền Phong tổ chức buổi giao lưu trực tuyến: “Huỳnh Văn Nén – Hành trình giải oan xuyên thế kỷ”.
Tham gia buổi giao lưu có ông Huỳnh Văn Nén, cụ Huỳnh Văn Truyện- cha của ông Nén, ông Nguyễn Thận, luật sư Nguyễn Hồng Hà (Phó chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hòa) - luật sư đầu tiên có văn bản kiến nghị xét xử lại vụ án cho ông Nén để tránh oan sai và nhà báo Nguyễn Đình Quân (báo Tiền Phong) - người có nhiều bài viết minh oan cho ông Nén.
Ròng rã kêu oan cho người dưng
Suốt 17 năm “vác” đơn đến khắp các cơ quan ban ngành kêu oan cho ông Huỳnh Văn Nén và 9 người khác trong “vụ án vườn điều”, ông Nguyễn Thận, nguyên Chủ tịch UBND xã Tân Minh (Hàm Tân, Bình Thuận) đã trải qua đủ những cung bậc cảm xúc, từ đỉnh điểm của sự tuyệt vọng cho đến niềm vui vỡ òa khi nghe tin ông Nén được giải oan.
Nhớ lại quãng thời gian đằng đẵng theo đuổi vụ án, ông Thận kể, ngày 19/11/1999, lần đầu tiên ông cầm đơn đi kêu oan cho ông Nén cũng là ngày ông bị tai nạn giao thông dẫn đến chấn thương sọ não phải chuyển vào Bệnh viện Chợ Rẫy, TPHCM cấp cứu. Dù đang nằm viện nhưng ông vẫn cố gượng dậy ngồi viết đơn kêu oan cho ông Nén.
Cho đến phiên tòa phúc thẩm lần một vào ngày 5/4/2002, HĐXX đã tuyên hủy bản án sơ thẩm. “Lúc đó tôi mừng lắm, vì coi như công sức của mình đã có kết quả bước đầu”, ông Thận nói. Tuy nhiên, niềm vui chưa được bao lâu thì ông Thận và những người đồng hành lại gặp phải khó khăn lớn khi không còn luật sư nào nhận bào chữa cho lần xét xử sơ thẩm lần hai vào năm 2004.
“Giai đoạn này gần như tuyệt vọng, tôi lang thang trên internet và tình cờ biết ba luật sư là Trần Vũ Hải, Phạm Hồng Hải, Bùi Đức Trường. Tôi ngồi viết thư tay cầu cứu và cả ba luật sư đều nhận lời bào chữa miễn phí và họ đã bám đuổi vụ việc đến khi ông Nén và những người khác được tuyên vô tội”, ông Thận nói.
Hôm nay (3/12) tại thị trấn Tân Minh, huyện Hàm Tân, Bình Thuận, Viện Kiểm sát, TAND tỉnh và công an tỉnh sẽ tổ chức xin lỗi ông Huỳnh Văn Nén và gia đình vì để xảy ra oan sai suốt 17 năm qua.
Cuối năm 2005, Bộ Công an kết luận không đủ căn cứ buộc tội các bị cáo trong vụ án vườn điều giết bà Dương Thị Mỹ. Lúc này, ông Thận đã bật khóc. Ông khóc vì vui mừng nhưng cũng ẩn chứa sự tức tưởi. Sự tức tưởi đó còn liên quan đến một bị án khác, vẫn là Huỳnh Văn Nén trong vụ án giết bà Lê Thị Bông ngày 23/4/1998. Bởi lẽ, ông Nén là người không phạm tội trong vụ án vườn điều nhưng đang thụ án tù chung thân trong vụ án giết bà Lê Thị Bông.
Ông Thận nói: “Tôi khóc vì niềm vui của các bị án được giải oan, khóc vì nỗi đau của các bị án suốt mười mấy năm tù đày và khóc vì Huỳnh Văn Nén vẫn còn đang thụ án chung thân”.
“Đến tháng 10/2014, đã có quyết định kháng nghị của VKS tối cao hủy bản án chung thân của ông Nén và bản án giám đốc thẩm của tòa án tối cao. Đây như niềm vui trọn vẹn của tôi vì tôi xác định đó là chuyến đi cuối cùng và may mắn cũng là kết quả cuối cùng, giải oan cho ông Huỳnh Văn Nén”, ông Thận nói.
Ngày 22/10/2015, đi cùng ông Huỳnh Văn Nén đến tặng hoa cảm ơn báo Tiền Phong ông Thận cũng lại bật khóc. “Lần khóc này, sự tức tưởi giảm đi nhiều nhưng lòng tôi cũng không được vui trọn vẹn. Bởi phải mất hơn 18 năm thì sự thật mới được phơi bày - Huỳnh Văn Nén được tuyên vô tội”, ông Thận nói.
Đồng hành cùng hành trình giải oan cho ông Huỳnh Văn Nén, hai phóng viên báo Tiền Phong là nhà báo Nguyễn Đình Quân và Hồ Việt Khuê theo đuổi vụ án từ đầu năm 2000.
Ban đầu là từ trách nhiệm phản ánh thông tin của nhà báo. Nhưng càng theo sát diễn biến điều tra, truy tố, xét xử của vụ án vườn điều và vụ Huỳnh Văn Nén, hai nhà báo càng thấy rõ dấu hiệu oan sai. Đi kèm với đó là bi kịch gia đình của các bị can trong hai vụ án, nỗi niềm của người thân họ. Đặc biệt là những đứa trẻ, con, em, cháu của các bị cáo lâm cảnh bơ vơ, “bị đánh cắp tuổi thơ”. “Những điều đó thôi thúc chúng tôi theo đến cùng hai vụ án. Lương tâm không cho phép chúng tôi bỏ cuộc giữa chừng”, nhà báo Nguyễn Đình Quân nhớ lại.
Niềm tin xuyên thế kỷ
Một con người, mang hai bản án oan nhưng không một lời oán trách, người tù Huỳnh Văn Nén rơm rớm nước mắt, lâu lâu ông đưa đôi bàn tay khô cằn của mình lên lau nước mắt nhớ lại nếu không có niềm tin  thì có lẽ ông không có ngày hôm nay, ngày ông được minh oan sau hành trình 17 năm, xuyên qua hai thế kỷ.
Những ngày ở trại tạm giam Xuân Lộc (Đồng Nai), ông vẫn giữ niềm tin, rằng công lý sẽ đứng về mình, và cuối cùng ngày đó đã đến. “Lý trí, lập trường tôi rất vững nên chưa bao giờ tôi có ý định buông xuôi”, ông Nén nói. Nhiều người trong trại giam biết ông bị oan nhưng không giúp được gì, họ chỉ biết an ủi ông trong giờ lao động, trò chuyện với nhau ở những buổi cơm chiều. Ngoài lời động viên từ bạn tù, mỗi lần gia đình vào trại thăm đều động viên ông ăn uống đầy đủ để chờ ngày minh oan, đoàn tụ với gia đình.
Ở ngoài, người cha già ở cái tuổi bên kia sườn dốc ngày nào cũng cầm đơn kêu cứu đến gõ cửa từng cơ quan công quyền để minh oan cho con. Cụ Huỳnh Văn Truyện (91 tuổi) tay lau nước mắt nói: “Không có ai hiểu tính tình con mình bằng cha mẹ. Từ nhỏ thằng Nén nó hiền như cục đất thì làm gì có chuyện nó giết người như thế. Tôi vẫn tin một ngày nào đó, người ta nhận ra cái sai và giải oan cho con trai mình”.
Trong suốt 17 năm qua, cụ Truyện không bao giờ nghĩ rằng mình sẽ nản chí và bỏ cuộc trong hành trình gian nan đi kêu oan cho con trai. Trong khoảng thời gian đó, cụ chỉ lo sợ hai điều là sức khỏe còn đủ để theo tới cùng vụ việc minh oan cho con hay không, và có đủ tiền bạc để đi kêu oan hay không.
Cụ phải cầm cố, bán hết ruộng vườn để làm lộ phí đi kêu oan suốt 17 năm qua. Cụ nhớ lại: “Thực ra nhiều năm liền đi kêu oan cho con trai nhưng không có kết quả, có lúc tôi chẳng còn tin vào công lý nhưng mình tin con trai mình không giết người”.
Chỉ mong không còn án oan

Ông Huỳnh Văn Nén chia sẻ với bạn đọc: Sự việc đã qua rồi, có oán có trách hờn cũng không thay đổi được chuyện tôi đi tù. Chuyện cũ đã qua rồi, chỉ mong không còn ai mang án oan nữa”.
Về các điều tra viên ép cung, cố tình làm sai lệch hồ sơ, đưa ông vào vòng lao lí ngần ấy năm trời, ông Nén nói: “Nếu gặp lại các điều tra viên, tôi sẽ vẫn vui vẻ với họ. Tôi sẽ gửi gắm đến họ thông điệp đừng để oan sai nữa. Cuộc sống ai cũng mắc sai lầm, chủ yếu họ có biết sửa chữa sai lầm hay không”.
Người chịu án oan xuyên thế kỷ: 'Chỉ mong không còn án oan sai' - ảnh 1 Từ phải qua: Luật sư Nguyễn Hồng Hà, nhà báo Nguyễn Đình Quân (báo Tiền Phong), ông Huỳnh Văn Nén, cụ Huỳnh Văn Truyện,  ông Nguyễn Thận và nhà báo Lý Thành Tâm (báo Tiền Phong) tại buổi giao lưu với độc giả Tiền Phong Online chiều 2/12.
Ở tù ngần ấy năm trời khiến sức khỏe ông tuột dốc. Ngồi giao lưu chưa đầy 15 phút, ông phải đứng dậy, đi lại cho đỡ mỏi, nhìn người cha già bước sang tuổi 91 lúc nào cũng lo lắng, chăm sóc ông. Trong buổi giao lưu trực tuyến, có bạn đọc hỏi: “Sau hơn 17 năm, quay về đời sống xã hội, bản thân ông khó khăn trong việc hòa nhập không?”. Trầm ngâm một hồi, ông Nén nói như muốn khóc: “Lúc tôi bị bắt con trai cả mới 8 tuổi, đứa kế 7 tuổi còn con út 3 tuổi. Tụi nhỏ mất đi người cha là lao động chính gia đình. Vợ tôi thân “cò” một mình gồng gánh nuôi con, bà làm thêm đủ nghề kiếm thêm thu nhập để cùng cha già mang đơn kêu oan cho tôi khắp nơi”.
Cũng theo ông Nén, điều ông day dứt nhất là không nuôi dạy ba đứa con nên người, cũng vì ông mà lũ trẻ phải nghỉ học để mưu sinh phụ mẹ, chúng phải nghỉ học vì không vượt qua nổi sự dị nghị của bạn bè, xã hội, tương lai của chúng phải rẽ sang hướng khác. Tuy trở về hòa nhập cuộc sống chưa được bao lâu, nhưng ông dồn hết khả năng của mình để lo cho gia đình, hằng ngày vợ chồng ông đẩy xe hủ tiếu ra chợ gần nhà mưu sinh, số tiền ít ỏi từ chiếc xe hủ tiếu này chỉ đủ cơm canh ba bữa.
Có mặt tại buổi giao lưu, luật sư Nguyễn Hồng Hà cho rằng dư luận cũng như báo chí đang bức xúc với những vụ án oan diễn ra nhưng những người gây oan sai không bị xử lý, thậm chí còn được thăng tiến. Án oan có yếu tố khách quan và chủ quan. Chủ quan là do nôn nóng chạy theo thành tích nên người ta đã bỏ qua các quy định của pháp luật có liên quan đến quyền công dân, khách quan là do luật còn nhiều quy định bất cập.
Vụ án oan Nguyễn Thanh Chấn và Huỳnh Văn Nén đều không do cơ quan pháp luật giải oan. Việc giải oan trong cả hai vụ án này đều do người dân, luật sư, và cơ quan báo chí tố cáo, khiếu nại nhiều năm. Việc giải quyết không kịp thời là trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng. Đây cũng chính là nguyên nhân khiến oan sai kéo dài. 

Nghi can sát hại bà Bông đầu thú
Ngày 2/12, Đại tá Phạm Thật - Phó Giám đốc, Thủ trưởng cơ quan CSĐT, Công an tỉnh Bình Thuận cho biết đã bắt được nghi can Nguyễn Thọ (SN 1976, ngụ thị trấn Tân Minh, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận), người được cho là hung thủ sát hại bà Lê Thị Bông xảy ra vào rạng sáng 24/4/1998. Trước đó, do không thể lẩn trốn, Thọ đã đến cơ quan công an trình diện. Theo thông tin mà Tiền Phong có được, Thọ khai báo đã cùng Hồ Văn Việt (SN 1979, ngụ thị trấn Tân Minh, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận, đã qua đời vì bệnh vào năm 2001) sát hại bà Lê Thị Bông để cướp tài sản. Để tránh sự  theo dõi, nghi vấn của cơ quan chức năng, Thọ đã thay đổi họ tên.

Nguyễn Đình Quân

Để đừng xảy ra án oan sai
Kỳ 1: Vụ án chồng trộm tiền vợ và bài học cho cơ quan tố tụng

Cập nhật ngày: 28/03/2015 03:36
(BTNO) - Không cá nhân, tổ chức nào mong muốn một bản án oan sai. Tuy nhiên, trong hoạt động tố tụng, do nhiều nguyên nhân khác nhau, vẫn có những vụ án oan làm tổn hại nặng nề về tinh thần và vật chất cho đương sự, gây bức xúc trong dư luận.

Trong loạt bài này, tác giả nêu một vụ án oan sai, một số vụ án hình sự đã và đang chuẩn bị xét xử lại ở Tây Ninh nhưng có dấu hiệu oan sai, với mong muốn qua đó giúp các cơ quan chức năng cẩn trọng, khách quan để có những quyết định đúng đắn, xử lý nghiêm người phạm tội và không xử oan người vô tội.
Ông Nguyễn Thanh Cần với xấp hồ sơ yêu cầu bồi thường.
Trộm tiền... vợ
Ngày 6.12.2013, ông Nguyễn Thanh Cần (ngụ ấp Ninh Hoà, xã Ninh Thạnh, thị xã Tây Ninh (nay là thành phố Tây Ninh) viết đơn gửi Báo Tây Ninh cho biết, ông là người bị oan trong vụ án “trộm cắp tài sản” bị Cơ quan điều tra giam giữ 376 ngày.
Trước đó, ngày 8.11.2013, ông đã viết đơn đề nghị Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Tây Ninh bồi thường thiệt hại do oan sai trong tố tụng và khôi phục danh dự, nhân phẩm cho ông nhưng cơ quan này không giải quyết. Đã hơn 1 năm qua, ông Cần vẫn tiếp tục “đeo đuổi” việc yêu cầu VKSND tỉnh bồi thường thiệt hại.
Ông Cần nhớ lại, ngày 3.7.2013, chủ tọa phiên toà, thẩm phán Phạm Thị Thanh Giang- TAND tỉnh tuyên ông “không phạm tội trộm cắp tài sản” của vợ ông, sau đó ra Quyết định số 09/2013/HSST trả tự do cho ông, từ thời điểm đó ông chính thức được minh oan. “Tôi là một người lính, đã từng tham gia chiến đấu ở chiến trường Campuchia và được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba. Đây là niềm vinh dự và tự hào của tôi trong suốt thời gian qua.
Bỗng dưng tôi bị bắt giam, vì vậy khi được toà tuyên vô tội, tôi dường như “chết đi sống lại”. Nay tôi chỉ mong được cơ quan làm tôi bị oan bồi thường theo quy định của Nhà nước và công bố minh oan cho tôi tại địa phương để tôi không phải xấu hổ với mọi người” – ông Cần tâm sự.
Thế nhưng sau hơn một năm đến cơ quan công quyền đòi quyền lợi chính đáng của mình, ông Cần vẫn chưa được cơ quan này bồi thường và làm các thủ tục cần thiết để minh oan cho ông sau thời gian hơn 1 năm bị giam cầm.
Bản án số 52/2012/HSST ngày 29.8.2012 do thẩm phán Nguyễn Văn Tông chủ toạ phiên toà xét xử đã xác định ông Cần “trộm cắp tài sản”, thể hiện như sau: Năm 1988, ông Cần kết hôn với bà Nguyễn Thị Mén. Hai vợ chồng kinh doanh xe tải và làm vườn mãng cầu, tích luỹ được 10 lượng vàng 9999, 3,97 chỉ vàng 18K và 5 chỉ vàng 24K. Tuy nhiên, thời gian sau đó, ông Cần không quan tâm đến việc làm ăn của gia đình nên hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, dẫn đến sống ly thân, rồi sau đó họ quay lại sống chung.
Trong thời gian đó, bà Mén một mình làm lụng tích luỹ tài sản riêng và cho tiền ông Cần tiêu xài hằng ngày. Năm 2000, bà Mén giao rẫy cao su cho ông Cần khai thác lấy tiền tiêu xài, còn bà tiếp tục quản lý vườn mãng cầu, kinh doanh xe tải, tích luỹ mua được 16 lượng vàng 9999, 10,97 chỉ vàng 24K và 12,42 chỉ vàng 18K. Số tài sản này bà Mén quản lý cất giữ.
Đầu tháng 1.2012, ông Cần và bà Mén sống ly thân, dù cả hai sống chung một nhà nhưng mỗi người một phòng riêng. Ngày 29.4.2012, bà Mén hốt hụi được 97 triệu đồng, sau đó mượn của một chủ vựa mãng cầu 100 triệu đồng. Tất cả vàng, tiền, bà Mén cất trong két sắt, để trong trong phòng ngủ của mình.
Khoảng 17 giờ ngày 20.5.2012, khi đi rẫy về, biết vợ và con chở mãng cầu đi thành phố Hồ Chí Minh bán, ông Cần vặn mạnh cửa phòng của bà Mén bung ra, sau đó lấy 1 cây kim và 1 cây vít đục két sắt lấy 26 lượng vàng 9999, 15,97 chỉ vàng 24K, 16,39 chỉ vàng 18K và 197 triệu đồng (tổng trị giá được giám định trên 1,192 tỷ đồng). Lúc lấy tài sản, ông Cần dùng cưa sắt cưa cửa sổ phòng, tạo hiện trường giả.
Ông Cần xài hết 200 ngàn đồng trong số tiền trộm được của vợ, số tiền còn lại đem gửi cho bà Lâm Nguyệt Ứng ở ấp Ninh Tân, còn số vàng ông mang đến chôn giấu ở vườn cao su của gia đình. Khoảng 00 giờ ngày 21.5.2012, khi về nhà, bà Mén phát hiện mất tài sản, hỏi ông Cần thì ông nói không biết, nên bà Mén trình báo công an. Quá trình điều tra, ông Cần thừa nhận hành vi phạm tội của mình và hướng dẫn cơ quan điều tra đến nơi cất giấu tài sản để thu hồi.
Với hành vi trên, VKSND tỉnh truy tố ông Cần phạm tội “trộm cắp tài sản” theo Điểm a Khoản 4 Điều 138 BLHS. Tại phiên toà sơ thẩm, HĐXX tuyên bị cáo Cần phạm tội “trộm cắp tài sản” phạt bị cáo Cần 7 năm tù. Ông Cần kháng cáo.
Tài sản chung nên không nói... là trộm được
Cuối năm 2012, Toà phúc thẩm TAND Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh tuyên huỷ án, trả hồ sơ để cấp sơ thẩm điều tra, xét xử lại.
Ngày 3.7.2013, TAND tỉnh xét xử sơ thẩm lại, do thẩm phán Phan Thị Thanh Giang làm chủ toạ phiên toà. Tại phiên xử này, toà nhận định, vợ chồng ông Cần có mâu thuẫn, bà Mén là người quản lý tài sản, ông Cần có hành vi đục két sắt lấy tiền, vàng (khoảng 1,389 tỷ đồng- tăng lên so với lần xét xử đầu) tiêu xài cho bản thân nhưng về khách thể, việc ông Cần chiếm đoạt tiền, vàng là tài sản chung của vợ chồng, tài sản này hai vợ chồng “không có thoả thuận với nhau về việc chia tài sản chung, cũng  không có văn bản, quyết định của cơ quan có thẩm quyền về việc phân chia tài sản của vợ chồng.
Như vậy, đây là tài sản chung hợp nhất chưa chia, theo Điều 217 BLDS là sở hữu chung, trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung… Bà Mén chỉ là người cất giữ tài sản chung của vợ chồng, trong số tài sản bị cáo chiếm đoạt có phần của bị cáo nhưng cơ quan điều tra không chứng minh được tài sản riêng của bà Mén là bao nhiêu và số tiền bị cáo chiếm đoạt là bao nhiêu”. Trên cơ sở lập luận trên, HĐXX cho rằng chưa có căn cứ kết luận phạm tội nên tuyên ông Cần không phạm tội “trộm cắp tài sản”.
Ngày 15.7.2013, VKSND tỉnh có Kháng nghị số 01/QĐ/KNPT đề nghị Toà phúc thẩm TAND tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh huỷ toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm trên của TAND tỉnh Tây Ninh để xét xử sơ thẩm lại ở cấp sơ thẩm theo hướng tuyên bố ông Cần phạm tội “trộm cắp tài sản”. Tuy nhiên, ngày 9.10.2013, Toà phúc thẩm TAND tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án trên với lý do, tại phiên toà này, vị đại diện VKS quyết định rút Kháng nghị số 01/QĐ/KNPT ngày 15.7.2013 của VKSND tỉnh Tây Ninh.
Hành trình đi đòi bồi thường oan sai
Sau khi có quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm của Toà phúc thẩm TAND tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, ngày 8.11.2013, ông Cần đã mang đơn đến VKSND tỉnh đề nghị bồi thường do oan sai trong tố tụng theo luật định (ông Cần bị giam từ ngày 22.6.2012 đến ngày 3.7.2013). Ông được ông Đ.V.Đ tiếp và ghi biên nhận. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian khá lâu, ông Cần vẫn không nhận được phản hồi. Vì vậy, ông tiếp tục gửi đơn yêu cầu bồi thường qua đường bưu điện và các cơ quan có trách nhiệm khác của tỉnh nhưng vẫn không thấy hồi âm.
Ngày 11.4.2014, ông Cần làm đơn kiện gửi đến TAND thành phố Tây Ninh yêu cầu VKSND tỉnh bồi thường và được cán bộ trực tiếp nhận đơn nhưng khá lâu không thấy giải quyết. Sau đó, ông gửi đơn đến Cục Bồi thường Nhà nước thuộc Bộ Tư pháp. Ngày 13.5.2014, Cục Bồi thường Nhà nước có Văn bản số 148/BTNN-TT gửi Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án kinh tế - chức vụ, VKSND tối cao với nội dung: “Vụ việc yêu cầu  bồi thường thiệt hại (của ông Cần) trong hoạt động tố tụng hình sự thuộc trách nhiệm quản lý của VKSND tối cao.
Do vậy, Cục Bồi thường Nhà nước kính chuyển đơn của ông Cần đến Quý vụ theo quy định tại Điều 11 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước về thực hiện nhiệm vụ phối hợp trong quản lý công tác bồi thường trong hoạt động tố tụng để Quý vụ kiểm tra vụ việc, tham mưu cho lãnh đạo VKSND tối cao chỉ đạo cho cơ quan có thẩm quyền trả lời hoặc giải quyết yêu cầu của người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật”.
Ngày 23.7.2014, ông Cần nhận được văn bản thông báo của TAND thành phố Tây Ninh trả lại đơn kiện với lý do: “VKSND tỉnh Tây Ninh chưa thụ lý giải quyết đơn yêu cầu của ông Cần theo quy định tại Điều 16,17,18,19, 20 Luật Bồi thường trách nhiệm của Nhà nước do ông Cần chưa đủ điều kiện khởi kiện tại Toà án”. Vì vậy, ngày 12.11.2014, ông Cần tiếp tục đến VKSND tỉnh gửi đơn yêu cầu bồi thường và trưng ra văn bản trên của toà án nên được cán bộ nơi đây tiếp nhận.
Sau đó, ngày 23.1.2015, VKSND tỉnh có Thông báo số 44/TB-VKS-P1 thụ lý đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại. Theo đơn yêu cầu cầu bồi thường, ông Cần đề nghị VKSND tỉnh bồi thường thu nhập thực tế bị mất là 150,4 triệu đồng, bồi thường thiệt hại do tổn thất về tinh thần là 42,864 triệu đồng và thiệt hại sức khoẻ là 50 triệu đồng. Tổng cộng là 243.264.000đ.
Cần sớm giải quyết bồi thường theo quy định
Tiếp xúc với chúng tôi, ông Cần rất bức xúc khi cơ quan có trách nhiệm bồi thường cứ nhùng nhằng, không chịu tiến hành giải quyết bồi thường theo luật định, làm cho ông phải tốn nhiều công sức đi lại, viết đơn gửi nhiều nơi để khiếu nại. Ông Cần mong muốn cơ quan có trách nhiệm sớm hoàn tất các thủ tục bồi thường theo quy định để ông và đơn vị có trách nhiệm bồi thường ngồi lại với nhau trên tinh thần cảm thông, chia sẻ những thiệt hại và lỗi của nhau để có kết quả cuối cùng.
Theo ông Cần, những yêu cầu bồi thường của ông chỉ “tương đối” so với những gì ông bị thiệt hại, chứ không hề nhân sự sai trái của cơ quan Nhà nước mà yêu cầu quá đáng. Trên tinh thần ấy mà ông không yêu cầu luật sư tham gia việc đòi bồi thường này.
Tại Điều 8 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định cơ quan có trách nhiệm bồi thường có nhiệm vụ “tiếp nhận, thụ lý đơn yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại; xác minh thiệt hại, thương lượng với người bị thiệt hại, ra quyết định giải quyết bồi thường; khôi phục hoặc đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại…”. Tại Điều 7 của Luật này cũng nêu rõ, việc giải quyết bồi thường phải tuân theo các nguyên tắc: “Kịp thời, công khai, đúng pháp luật; được tiến hành trên cơ sở thương lượng giữa cơ quan có trách nhiệm bồi thường với người bị thiệt hại hoặc đại diện hợp pháp của họ…”.
Thiết nghĩ, việc thực thi công vụ trong hoạt động tố tụng (cũng như các lĩnh vực khác), việc tiến hành tố tụng có những sai sót (do nhiều nguyên nhân, không tư lợi) là bình thường, điều thiết yếu là các cá nhân, tổ chức nhận ra sai sót để sửa chữa, làm bài học chung trong công tác của mình mới là điều quan trọng.
Đức Tiến
(Còn nữa)
Điều 9. Thủ tục giải quyết bồi thường tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường
1. Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu bồi thường, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải tiến hành việc xác minh thiệt hại để làm căn cứ xác định mức bồi thường theo quy định tại Điều 18 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
2. Trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc việc xác minh thiệt hại, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải tiến hành thương lượng với người bị thiệt hại theo quy định tại Điều 19 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
3. Trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc việc thương lượng, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải hoàn thành dự thảo quyết định giải quyết bồi thường. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan có trách nhiệm bồi thường có thể gửi dự thảo quyết định giải quyết bồi thường để lấy ý kiến của các cơ quan có liên quan.
4. Căn cứ vào kết quả xác minh thiệt hại, thương lượng với người bị thiệt hại và ý kiến của các cơ quan có liên quan (nếu có), cơ quan có trách nhiệm bồi thường ban hành quyết định giải quyết bồi thường theo quy định tại Điều 20 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.
5. Khi quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải thực hiện thủ tục cấp và chi trả tiền bồi thường theo quy định tại Điều 54 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
(Trích Nghị định số 16/2010/NĐ-CP ngày 3.3.2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước).

Để đừng xảy ra án oan sai
Kỳ 2: Đương sự chiếm lại nhà là hành vi phạm tội không chấp hành án (!?)

Cập nhật ngày: 03/04/2015 10:34
(BTNO) - Tại huyện Châu Thành xảy ra hai trường hợp cơ quan thi hành án bàn giao nhà đất cho người được thi hành án xong, sau đó đương sự chiếm lại nhà. Trong đó có trường hợp cơ quan chức năng xử lý về hành vi không chấp hành án. Đó là trường hợp của vợ chồng ông Tạ Văn Đùa.




Vợ chồng ông Đùa bên số tài sản còn để lại trên phần đất bị cưỡng chế.

Nguồn gốc sự việc

Theo bản án số 10/2006/DSST ngày 14.3.2006 của TAND huyện Châu Thành, năm 2001, vợ chồng ông Tạ Văn Đùa, bà Lê Thị Hạnh (ngụ ấp Long Chẩn, xã Long Vĩnh, huyện Châu Thành) sang lại một phần đất 14m x 70m ở ấp Long Chẩn, do ông Nguyễn Thành Suối đứng tên quyền sử dụng đất (QSDĐ) nhưng chưa làm thủ tục chuyển nhượng theo quy định (giấy CNQSDĐ ông Suối thế chấp cho ngân hàng).

Năm 2002, vợ chồng ông Đùa sang lại toàn bộ diện tích này cho ông Nguyễn Thanh Phong (ngụ Trường Huệ, Trường Tây, Hoà Thành) với giá 1,5 triệu đồng/mét ngang. Ông Phong còn sang lại của ông Suối 1 phần đất (3m x 70m) giáp ranh với đất mà ông vừa sang nhượng, với giá 1,4 triệu đồng/mét ngang.

Khi sang nhượng đất, ông Phong đặt cọc cho ông Suối 4,2 triệu đồng, cho ông Đùa 5,8 triệu đồng. Sau đó, ông Phong trả thêm cho ông Đùa 10 triệu đồng, còn nợ số tiền 5,5 triệu đồng đến nay chưa trả. Vì vậy, ông Đùa yêu cầu huỷ hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ. Trong khi đó, ông Phong cho rằng, ông chưa trả 5,5 triệu đồng là do ông Đùa, ông Suối chưa thực hiện chuyển QSDĐ cho ông. Phần lỗi này do ông Đùa nên ông Phong không đồng ý huỷ hợp đồng.

Ngược lại, vợ chồng ông Suối cho rằng, khi ông Đùa sang nhượng đất cho ông Phong, ông Đùa cho vợ chồng ông Suối mượn 6,3 triệu đồng trả nợ ngân hàng để lấy giấy CNQSDĐ, còn việc ông Phong sang nhượng đất, do chưa trả tiền nên vợ chồng ông Suối yêu cầu huỷ hợp đồng.

Toà sơ thẩm xác định vợ chồng ông Đùa sang nhượng đất của vợ chồng ông Suối đã trả đủ tiền, nhưng chưa hoàn tất thủ tục sang nhượng đất. Năm 2002, vợ chồng ông Đùa lại sang nhượng đất lại cho ông Phong.

Toà cũng xác định vợ chồng ông Suối trực tiếp làm giấy tay chuyển nhượng 2 phần đất (trong đó một phần đã sang nhượng cho ông Đùa) cho ông Phong, đồng thời ông Phong đã trả tiền cho vợ chồng ông Suối, ông Đùa 20 triệu đồng (do ông Đùa đại diện ký nhận).

Sau đó, vợ chồng ông Đùa đưa cho vợ chồng ông Suối 6,3 triệu đồng. Toà cũng xác định ông Phong có đưa vợ chồng ông Suối 4,2 triệu đồng. Tuy nhiên, vợ chồng ông Suối không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng, gây thiệt hại cho ông Phong.

Thời điểm toà án đưa vụ án ra xét xử (năm 2006), Toà xác định giá đất chênh lệch so với năm 2002 là trên 10 triệu đồng, nên vợ chồng ông Suối có trách nhiệm phải trả cho ông Phong.

Việc ông Phong chưa trả 5,5 triệu đồng khi sang nhượng đất của vợ chồng ông Đùa, Toà xác định là ông Phong vi phạm hợp đồng. Bởi việc ông Đùa chuyển nhượng đất cho ông Phong, nhưng lại do ông Suối đứng tên, việc này cả ông Phong và ông Đùa đều biết là trái luật nhưng vẫn thực hiện, là lỗi cả hai bên.

Vì vậy, toà sơ thẩm tuyên hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa vợ chồng ông Đùa với ông Phong và giữa vợ chồng ông Suối với ông Phong là hợp đồng vô hiệu, buộc vợ chồng ông Đùa hoàn trả cho ông Phong 15,8 triệu đồng, vợ chồng ông Suối hoàn trả cho ông Phong số tiền 4,2 triệu đồng tiền chuyển nhượng đất và 10,999 triệu đồng tiền bồi thường thiệt hại về hợp đồng.

Cả hai vợ chồng ông Đùa và ông Suối tiếp tục sử dụng phần đất trên. Toà ghi nhận việc tự nguyện tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa vợ chồng ông Đùa và vợ chồng ông Suối.

Tuy nhiên, tại bản án phúc thẩm ngày 21.5.2006, thẩm phán Huỳnh Văn Minh – Chủ toạ phiên toà cho rằng toà sơ thẩm tuyên hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa vợ chồng ông Đùa với ông Phong và giữa vợ chồng ông Suối với ông Phong là hợp đồng vô hiệu là có căn cứ.

Nhưng việc buộc vợ chồng ông Suối phải bồi thường giá trị chênh lệch phần đất cho ông Phong, trong khi vợ chồng ông Đùa lại không phải bồi thường là chưa bảo đảm  quyền lợi các bên và thiếu căn cứ pháp luật.

Toà phúc thẩm cho rằng, việc làm cho hợp đồng vô hiệu, ông Phong là người có 2/3 lỗi, vì ông là cán bộ địa chính nên biết rõ việc sang nhượng đất cần phải thực hiện đầy đủ các thủ tục do pháp luật quy định; còn vợ chồng ông Đùa, vợ chồng ông Suối mỗi người phải chịu 1/3 thiệt hại do đất tăng giá.

Vì vậy, Toà xác định vợ chồng ông Đùa phải có trách nhiệm trả cho ông Phong 18 triệu đồng (trong 54.200.000đ giá trị chênh lệch đất) và tiền đã nhận khi sang nhượng đất là 15,8 triệu đồng. Tương tự, vợ chồng ông Suối phải trả 3,6 triệu đồng (trong 10,8 triệu đồng giá trị chênh lệch đất) và tiền đã nhận khi sang nhượng đất là 4,2 triệu đồng.

Hoàn thành việc thi hành án

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, ngày 20.3.2008, Chi cục Thi hành án dân sự (THADS) huyện Châu Thành ra quyết định thi hành án. Tuy nhiên, do vợ chồng ông Đùa không tự nguyện thi hành nên ngày 22.4.2009, Chi cục THADS huyện Châu Thành ban hành quyết định kê biên tài sản là nhà và đất toạ lạc tại ấp Long Chẩn, xã Long Vĩnh, huyện Châu Thành, sau đó tiến hành bán đấu giá tài sản. Ngày 2.3.2011, ông Trần Minh Trung trúng đấu giá tài sản trên.

Do vợ chồng ông Đùa không giao nhà đất nên ngày 25.7.2011, Chi cục THADS huyện Châu Thành ra quyết định cưỡng chế buộc vợ chồng ông Đùa giao quyền sử dụng đất cho ông Trung. Ngày 4.8.2011, Chi cục THADS huyện Châu Thành tiến hành cưỡng chế giao tài sản cho ông Trung. Sau đó, vợ chồng ông Đùa tự ý phá khoá để dọn đồ dùng vào nhà ở.

Ngày 6.3.2014, ông Trung làm đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với vợ chồng ông Đùa. Ngày 7.10.2014, Cơ quan CSĐT Công an huyện Châu Thành ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can đối với vợ chồng ông Đùa, bà Hạnh.

Ngày 4.11.2014, bà Hạnh bị Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành bắt tạm giam. Sau đó, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành ra cáo trạng truy tố vợ chồng ông Đùa tội “không chấp hành án” theo quy định tại Điều 304 Bộ luật Hình sự.

Tiếp xúc với chúng tôi, vợ chồng ông Đùa cho biết, vợ chồng ông làm nghề bán vé số, rất nghèo khổ. Sau khi Chi cục THADS huyện Châu Thành cưỡng chế giao nhà đất cho ông Trung, vợ chồng ông Đùa đã di dời tài sản sang nhà của ông Lê Văn Được (anh ruột của bà Hạnh). Quá trình cưỡng chế giao tài sản do Chi cục THADS huyện Châu Thành chủ trì, ông Đùa, bà Hạnh không chống lại việc thực hiện quyết định cưỡng chế.

Ban ngày, vợ chồng ông Đùa đi bán vé số, ban đêm về không có chỗ ở, trong khi đó ông Trung nhận tài sản nhưng chưa ở nên vợ chồng ông Đùa ra phía sau nhà tá túc tạm, đến mùa mưa gặp nhiều khó khăn. Trong một cơn mưa lớn, bà Hạnh đang bị bệnh nên vợ chồng bà “làm liều” phá khoá cửa chính vào bên trong để tá túc, sau đó ở luôn trong đó.

Khi ông Trung phát hiện, yêu cầu dọn đồ ra ngoài, trả lại nhà cho ông sử dụng thì vợ chồng ông Đùa không trả. Lúc này vợ chồng ông Đùa đang trông chờ vào khiếu nại gửi TAND tối cao xem lại bản án theo trình tự giám đốc thẩm.

Quá trình tìm hiểu vụ việc, chúng tôi được biết ngày 17.8.2011 và ngày 30.7.2012, Chi cục THADS huyện Châu Thành có văn bản gửi Phòng Tài nguyên và Môi trường khẳng định “việc cưỡng chế giao tài sản cho người mua đấu giá thành đã thực hiện xong”.

Ngày 3.9.2014, Cục THADS tỉnh có văn bản gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành tiếp tục khẳng định điều này với nội dung sau: “Quá trình giải quyết vụ việc, chấp hành viên đã thực hiện các thủ tục tống đạt, niêm yết các văn bản thi hành án cho đương sự.

Tài sản bán đấu giá đã được giao xong cho người mua trúng đấu giá là ông Trần Minh Trung vào ngày 4.8.2011 và được cấp giấy CNQSDĐ vào ngày 10.11.2012 của UBND huyện Châu Thành. Toàn bộ quá trình giải quyết hồ sơ đều có sự tham gia giám sát việc tuân theo pháp luật của VKSND huyện Châu Thành và đơn vị này không có kiến nghị, kháng nghị nào. Như vậy, việc cưỡng chế để bảo đảm thi hành án đối với ông Đùa, bà Hạnh đã giải quyết xong”.

Chưa phù hợp theo quy định?

Theo tìm hiểu của chúng tôi, trong trường hợp này, Chi cục THADS huyện Châu Thành xác định việc thi hành án và giao tài sản xong, có sự giám sát của cả VKSND huyện Châu Thành, đồng thời không có đơn yêu cầu xử lý hình sự vợ chồng ông Đùa về hành vi không chấp hành án, vì đã có “hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của… thi hành án trong việc bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” được quy định tại Điều 292 Chương XXII Bộ luật Hình sự.

Như vậy, trong trường hợp này, ông Trung tham gia tố tụng với tư cách gì trong vụ án- người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan hay là người bị hại, trong khi ông Trung là người có đơn yêu cầu xử lý hình sự hành vi chiếm tài sản là nhà đất của vợ chồng ông Đùa?

Chúng tôi được biết, trước đây tại huyện Châu Thành có xảy ra một trường hợp tương tự như trường hợp vợ chồng ông Đùa, nhưng các ngành chức năng không xử lý hình sự về hành vi tái chiếm tài sản của đương sự này.

Cụ thể, bà H.L.T gửi đơn đến Báo Tây Ninh khiếu nại về trường hợp vợ chồng bà N.T.N.T và ông N.T.G tái chiếm tài sản là nhà đất của bà toạ lạc tại ấp Thanh Thuận, xã Thanh Điền, sau khi cơ quan thi hành án đã bàn giao tài sản cho gia đình bà khi bản án có hiệu lực pháp luật. Bà T nhiều lần gửi đơn yêu cầu cơ quan chức năng huyện Châu Thành xử lý hành vi chiếm tài sản của những người trên nhưng cơ quan chức năng không xử lý.

Theo tìm hiểu của chúng tôi, khi giải quyết khiếu nại trường hợp này, Cục THADS tỉnh có công văn báo cáo UBND tỉnh Tây Ninh, trong đó cho biết Văn bản số 404/TT-THA ngày 24.5.2005 của Thứ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn xử lý trường hợp đương sự tái chiếm đất khi đã cưỡng chế thi hành án xong rằng “cơ quan thi hành án giải thích và hướng dẫn đương sự đề nghị UBND hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét giải quyết…

Đây là hành vi vi phạm pháp luật phát sinh mới của bên phải thi hành án. Có thể là hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản của công dân được quy định tại Điều 137 Bộ luật Hình sự”.

Đức Tiến – Huy Thông

(Còn tiếp)

Ý kiến của Luật sư Nguyễn Thế Tân – Công ty Luật Đắc Tâm (Đoàn Luật sư Tây Ninh)

Điều 304 BLHS quy định: “Người nào cố ý không chấp hành bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật mặc dù đã áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết, thì bị cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm”.

Tội phạm này thể hiện hành vi không chấp hành bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật biểu hiện ở 2 dạng: Thứ nhất, dạng không hành động (như không bồi thường cho người bị thiệt hại; không giao lại nhà, tài sản chiếm giữ trái phép, không phân chia tài sản chung, không cấp dưỡng…) theo quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật. Thứ hai, biểu hiện dưới dạng hành động (như phân tán tài sản, xô xát, giằng co, chửi bới, xúc phạm danh dự của cán bộ thi hành án khi họ cưỡng chế thi hành án…).

Mặt khác, hành vi không chấp hành án chỉ bị coi là phạm tội, nếu trước đó người này đã bị các cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết (như kê biên, niêm phong tài sản; cưỡng chế thi hành án, phạt hành chính…) nhưng vẫn không chịu thi hành bản án, quyết định của toà án.

Rõ ràng trong vụ án này, các bị can không có hành vi nào thuộc các trường hợp nêu trên mà vẫn bị truy tố về tôi danh này (?). Trước đó, các bị can đã bị cơ quan Thi hành án kê biên tài sản là ngôi nhà duy nhất bán đấu giá, và thi hành xong bản án phúc thẩm của toà án và các cơ quan cũng đã tiến hành cưỡng chế bàn giao tài sản cho người trúng đấu giá. Người trúng đấu giá đã nhận tài sản và mua ổ khoá khoá cửa nhà lại. Theo tôi, trong trường hợp này các bị can không thể phạm tội “không chấp hành án” theo quy định của BLHS hiện hành.

Để đừng xảy ra án oan sai
Kỳ 3: Vụ án ông Trần Công Nè phạm tội “không chấp hành án”
Liên ngành nói không, rồi lại nói... có (!?)

Cập nhật ngày: 11/04/2015 09:41
(BTNO) - Số báo thứ bảy tuần trước, chúng tôi đã có bài phản ánh về vụ án hai vợ chồng ông Tạ Văn Đùa ngụ ở Châu Thành bị Cơ quan Điều tra (CSĐT) Công an huyện Châu Thành khởi tố về hành vi “không chấp hành án”. Tuy nhiên, Thẩm phán Phạm Công Hùng- Toà phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM cho rằng, nếu căn cứ vào diễn biến sự việc thì vợ chồng ông Đùa không phạm tội, bởi hành vi của họ không thoả mãn các yếu tố cấu thành một tội phạm.

Trong số báo kỳ này, chúng tôi xin phân tích vụ án ông Trần Công Nè, cũng phạm tội “không chấp hành án” cách đây 3 năm. Hiện nay, vợ chồng ông Nè liên tục có đơn gửi các cơ quan có thẩm quyền đề nghị xem xét lại bản án, vì vụ án có dấu hiệu oan sai.


Ông Trần Công Nè trình bày sự việc với phóng viên.

Không ký tên... là phạm tội không chấp hành án (!?)

Bản án số 162/2011/HSST ngày 15.12.2011 của TAND Thị xã (nay là thành phố Tây Ninh) cáo buộc ông Trần Công Nè (ngụ Suối Dây – Tân Châu) phạm tội “Không chấp hành án”.

Ông Nè và ông Ngô Thành Thảo có mối quan hệ làm ăn kinh tế. Năm 1999, ông Nè nợ ông Thảo gần 200 triệu đồng, được TAND huyện Tân Châu  ra Quyết định số 40/DSST công nhận sự thoả thuận giữa các đương sự, trong đó ông Nè có trách nhiệm trả số tiền trên cho ông Thảo bằng hình thức giao căn nhà 61,20m2 trên phần đất diện tích 152,6m2 tại phường 2, Thị xã.

Sau đó, ông Thảo làm đơn yêu cầu thi hành án, cơ quan Thi hành án dân sự (THADS) huyện Tân Châu (nay là Chi cục THADS huyện Tân Châu) yêu cầu ông Nè lập thủ tục sang tên nhà đất cho ông Nguyễn Văn Đính, nhưng ông Nè không thực hiện.

Năm 2008, THADS tỉnh (nay là Cục THADS tỉnh) rút hồ sơ về tỉnh thi hành. Ngày 18.4.2008, THADS tỉnh tổ chức cưỡng chế giao nhà đất cho ông Đính. Ngày 19.4.2008, ông Nè cùng gia đình đến chiếm lại căn nhà. Bản án sơ thẩm tuyên ông Nè phạm tội “không chấp hành án”, xử phạt một năm tù giam. Ông Nè kháng cáo.

Tại toà phúc thẩm ngày 29.2.2012, thẩm phán Mai Văn Triến (TAND tỉnh) chủ toạ phiên toà cho rằng, mặc dù được các cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại và đã áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết nhưng ông Nè vẫn cố tình không chấp hành án và “có hành vi không ký tên vào biên bản cưỡng chế”, đến chiếm lại nhà, nên toà sơ thẩm buộc tội “không chấp hành án” theo Điều 304 BLHS “là có căn cứ, không oan”.

Công an, viện kiểm sát, toà án nói không phạm tội

Theo tìm hiểu của phóng viên, khi ông Nè quay lại chiếm nhà, ngày 6.2.2009, THADS tỉnh có công văn gửi cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT), Công an Thị xã (nay là Công an thành phố Tây Ninh) đề nghị khởi tố hình sự đối với ông Nè về hành vi “không chấp hành án”.

Qua điều tra, Thượng tá Huỳnh Thanh Hồng- Phó Thủ trưởng cơ quan CSĐT, CATX ký báo cáo kết thúc điều tra xác định: “đơn đề nghị phục hồi hiệu lực thi hành án của ông Ngô Thành Thảo ngày 28.6.2008 tại bang California, nước Mỹ chỉ được công chứng tại Văn phòng của công chứng viên Lam Thai chứ không qua Tổng lãnh sự hoặc Đại sứ quán Việt Nam tại Mỹ là chưa đủ căn cứ để khôi phục thời hiệu yêu cầu thi hành án…

Quyết định công nhận sự thoả thuận giữa các đương sự là ông Trần Công Nè và ông Ngô Thành Thảo ngày 15.7.1999 của TAND huyện Tân Châu là vi phạm nghiêm trọng Bộ luật Tố tụng Dân sự, vì không đưa vợ ông Nè là bà Lan vào tham gia tố tụng…

Quyết định khôi phục thời hiệu thi hành án của THADS  huyện Tân Châu xét đơn khôi phục thi hành án của ông Ngô Thành Thảo, ngụ tại Hoa Kỳ nhưng ghi địa chỉ thường trú trước ngày 16.9.2006: X6/58 ấp Long Yên, xã Long Thành Nam, huyện Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh là không có cơ sở.

Xét thấy hành vi của ông Trần Công Nè không cấu thành tội phạm, Cơ quan CSĐT, CATX Tây Ninh báo cáo kết thúc điều tra, ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự theo Khoản 2 Điều 107 BLTTHS”.

Trên cơ sở báo cáo kết thúc điều tra trên, ngày 23.4.2009, VKSND Thị xã có Văn bản số 162/VKS-HS  kiểm sát quyết định không khởi tố vụ án của Cơ quan CSĐT CATX do Phó Viện trưởng VKSND Thị xã Ngô Văn Lập ký cũng nêu rõ: “Hành vi của ông Trần Công Nè chưa đủ cơ sở cấu thành tội “không chấp hành án” theo Điều 304 BLHS nên cơ quan CSĐT CATX ra quyết định không khởi tố vụ án là đúng theo quy định tại Khoản 2 Điều 107 của BLHS”.

Hơn một năm sau, vào tháng 4.2010, Cơ quan CSĐT CATX nhận được đơn của ông Đính, do Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Tây Ninh chuyển với nội dung tố cáo ông Nè chiếm giữ trái phép nhà và đất.

Sau quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT CATX có văn bản báo cáo kết quả, do Trung tá Nguyễn Thanh Dũng ký, trong đó nêu, qua xem xét hồ sơ giải quyết dân sự trước đây giữa ông Thảo, ông Đính, ông Nè và lời trình bày của những người có liên quan, thấy vụ việc phức tạp, ngày 24.5.2010, liên ngành Thị xã tổ chức họp để bàn thống nhất giải quyết đơn của ông Đính.

Cũng trong báo cáo này, ý kiến của Cơ quan CSĐT CATX như sau: ông Đính được ông Thảo uỷ quyền nhận căn nhà. Thực tế, THADS tỉnh đã cưỡng chế lập biên bản giao nhà cho ông Đính xong. Sau đó ông Nè vào tái chiếm ở luôn cho đến nay, cần xem xét hành vi chiếm giữ trái phép của ông Nè.

Còn ý kiến của VKSND Thị xã và TAND Thị xã: căn cứ cuộc họp liên ngành tỉnh ngày 11.3.2010, việc ông Thảo uỷ quyền cho ông Đính không đúng luật vì không qua Lãnh sự quán tại Mỹ nên việc uỷ quyền không hợp pháp, dẫn đến việc ông Đính nhận căn nhà do THADS tỉnh giao là không đúng.

Hiện tại căn nhà ông Nè còn đứng tên chủ quyền, ông Đính không có liên quan gì đến căn nhà trên. Vì vậy, ông Đính tố cáo ông Nè chiếm giữ trái phép căn nhà trên là không có cơ sở.

Theo nội dung cuộc họp liên ngành tỉnh ngày 11.3.2010, nếu ông Đính có khiếu nại thì chuyển đơn cho Cục THADS tỉnh giải quyết, cho nên liên ngành Thị xã thống nhất chuyển đơn của ông Đính cho Cục THADS tỉnh.

Tuy nhiên, hơn một năm sau, ngày 3.6.2011, ông Nè bị Cơ quan CSĐT CATX bắt tạm giam, sau đó toà án xét xử tuyên ông Nè phạm tội “không chấp hành án”.

Cần kiến nghị xem xét lại bản án

Sau khi chấp hành án phạt tù, ông Nè liên tục gửi đơn đến các cơ quan pháp luật kêu oan. Ông cho rằng, ông không có hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan Thi hành án. Bởi vì, quá trình cưỡng chế thi hành án ông không có hành vi chống đối, việc thi hành án đã xong.

Ông Nè cũng cho rằng, Chi cục THADS huyện Tân Châu cho khôi phục thời hiệu thi hành án là chưa đúng quy định. Mặt khác, tài sản nhà đất là tài sản chung của vợ chồng ông, nhưng toà án không đưa vợ ông là bà Lý Thị Lan vào tham gia tố tụng là vi phạm tố tụng.

Khi tổ chức thi hành án, giấy CNQSDĐ do vợ chồng ông đứng tên có diện tích lớn hơn diện tích phải thi hành ghi trong bản án, nhưng THADS tỉnh vẫn không xem xét, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định. Quá trình sinh sống, vợ chồng ông Nè xây dựng, cơi nới thêm nhưng khi tiến hành cưỡng chế, cơ quan THADS không xem xét yêu cầu các bên thoả thuận theo quy định. Quá trình tiến hành tố tụng, Cơ quan CSĐT vi phạm tố tụng…

Được biết, khi vợ ông Nè khiếu nại, ngày 2.1.2013, Tổng cục THADS thuộc Bộ Tư pháp đã có công văn yêu cầu THADS tỉnh sao gửi toàn bộ hồ sơ thi hành án của ông Nè. Ngày 1.4.2014, Tổng cục THADS có văn bản gửi TAND tỉnh Tây Ninh cho biết: “Do quyết định của bản án tuyên chưa rõ giao cho ai được nhận tài sản nên không có cơ sở để Cơ quan THADS ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu thi hành án…”.

Việc các cơ quan tố tụng điều tra đi điều tra lại, sau đó có văn bản kết luận không có căn cứ xác định ông Nè phạm tội “không chấp hành án” và ra quyết định không khởi tố vụ án, nhưng sau đó Cơ quan CSĐT lại bắt giam ông Nè… là điều không bình thường.

Thiết nghĩ, các cơ quan có trách nhiệm cần có văn bản kiến nghị Chánh án TAND tối cao xem xét lại bản án theo thủ tục giám đốc thẩm. Bởi việc sai mà không sửa sai là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến khiếu nại kéo dài, gây mất an ninh trật tự.

Đức Tiến

Ông Võ Văn Tài- giảng viên Phân hiệu Trường đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát tại thành phố Hồ Chí Minh cho rằng:

Thứ nhất, về căn cứ pháp lý của việc cưỡng chế thi hành án: Vào ngày 15.7.1999, TAND huyện Tân Châu ra quyết định công nhận sự thoả thuận giữa các đương sự là ông Nè và ông Thảo. Quyết định này có hiệu lực ngay, nên thời điểm này cũng là thời điểm làm phát sinh quyền yêu cầu thi hành án của ông Thảo. Điều 21 Pháp lệnh THADS 1993 hay Điều 25 Pháp lệnh THADS 2004 về thời hiệu yêu cầu thi hành án được quy định như sau:

1. Trong thời hạn ba năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án…

2. Nếu người yêu cầu thi hành án chứng minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn thì thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng đó không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án”.

Theo Khoản 1 đã viện dẫn trên, đến hết ngày 15.7.2002, nếu ông Thảo không có đơn yêu cầu thi hành án, thì sau thời gian ấy, ông Thảo không còn quyền yêu cầu nữa, vì thời hiệu thi hành án đã hết. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2, ông Thảo vẫn có thể tiếp tục yêu cầu thi hành án nếu ông Thảo chứng minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn. Việc ông Thảo qua Mỹ sinh sống không phải là trở ngại khách quan làm cho ông không thể yêu cầu thi hành án. Ông Thảo có thể sử dụng các phương tiện khác để thực hiện việc yêu cầu thi hành án đúng thời hạn theo luật định. Cơ quan Thi hành án quyết định khôi phục việc thi hành án như đã nêu trên tôi e rằng chưa đúng nội dung và tinh thần của điều luật. Khi quyết định khôi phục thi hành án không đúng luật sẽ làm cho quyết định cưỡng chế thi hành án mất căn cứ pháp lý của nó.    

Kết hợp với việc người phải thi hành án là ông Nè khiếu nại về diện tích nhà đất mà ông bị buộc phải giao cho người được thi hành án (ông Thảo uỷ quyền cho ông Đính) lớn hơn diện tích nhà đất mà theo ghi nhận trong quyết định công nhận sự thoả thuận giữa các đương sự, cơ quan THADS chưa giải quyết khiếu nại của ông Nè một cách thấu đáo mà tiến hành cưỡng chế là vội vàng.

Thứ hai, về tố tụng hình sự: Ông Nè quay lại chiếm căn nhà đã bị cưỡng chế về mặt pháp lý là sai. Nhưng việc dùng pháp luật hình sự để xử lý hành vi sai trái trên của ông Nè là quá nặng, vì hành vi ấy là sự phản ứng của người dân trước sự việc mà họ cho rằng cơ quan có thẩm quyền đang thực hiện một công vụ trái luật. Hơn nữa, khi vụ việc được chuyển giao sang cơ quan điều tra và chính cơ quan này cho rằng hành vi của ông Nè không cấu thành tội phạm và đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự theo Khoản 2 Điều 107 BLTTHS. Quyết định không khởi tố vụ án hình sự trên đã được VKS cùng cấp chấp nhận, về mặt pháp lý phải xem như vụ việc đã được giải quyết xong.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32