NỖI NIỀM OAN KHUẤT 5
-“Một ngày tù, nghìn thu ở ngoài”,
Lời nói người xưa đâu có sai;
Sống khác loài người vừa bốn tháng,
Tiều tuỵ còn hơn mười nǎm trời.
(Trích bài thơ; "Tứ cá nguyệt liễu – Bốn tháng rồi" của Hồ chí Minh)
-Trong xã hội pháp trị hướng tới công bằng, xử tội và trị tội con người, dù có biện minh cỡ nào, thì rõ ràng cũng là hành vi mang tính ác của Đức Huyền Diệu. Hệ thống lao tù của bất cứ nhà nước nào cũng thể hiện ít nhiều sự vô nhân đạo, sự hạn chế nhân quyền của nó (là sự vô nhân đạo trong nhân đạo, và để đảm bảo tự do, dân chủ thì bắt buộc phải hạn chế nhân quyền!).
-Đó là công việc chẳng đặng đừng để duy trì một xã hội lương thiện nên có tính thiêng liêng!
-Cũng vì như vậy nên người xử án vừa rất dễ được mến phục vừa rất dễ (có khi là vô tình) gây điều tội lỗi, độc ác.
-Muốn không phạm phải tội ác, người thực thi xét xử phải có lòng vừa trong sáng, công tâm, vừa thực sự yêu thương con người, không cậy quyền lực, đồng thời có nhận thức đúng đắn về thiện-ác (vận dụng tối ưu pháp luật, thậm chí vượt tầm ý thức hệ!).
-------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
Ông Huỳnh Văn Nén (áo trắng ôm lẵng hoa) cùng con trai
Huỳnh Thành Lượng đến Cơ quan đại diện báo Tiền Phong tại Thành phố Hồ
Chí Minh để cảm ơn, ngày 4/11/2015
Nguyễn Thọ, ảnh chụp năm 1997
Để đừng xảy ra án oan sai
Cập nhật ngày: 28/03/2015 03:36
Để đừng xảy ra án oan sai
Cập nhật ngày: 03/04/2015 10:34
Để đừng xảy ra án oan sai
Cập nhật ngày: 11/04/2015 09:41
Lời nói người xưa đâu có sai;
Sống khác loài người vừa bốn tháng,
Tiều tuỵ còn hơn mười nǎm trời.
(Trích bài thơ; "Tứ cá nguyệt liễu – Bốn tháng rồi" của Hồ chí Minh)
-Trong xã hội pháp trị hướng tới công bằng, xử tội và trị tội con người, dù có biện minh cỡ nào, thì rõ ràng cũng là hành vi mang tính ác của Đức Huyền Diệu. Hệ thống lao tù của bất cứ nhà nước nào cũng thể hiện ít nhiều sự vô nhân đạo, sự hạn chế nhân quyền của nó (là sự vô nhân đạo trong nhân đạo, và để đảm bảo tự do, dân chủ thì bắt buộc phải hạn chế nhân quyền!).
-Đó là công việc chẳng đặng đừng để duy trì một xã hội lương thiện nên có tính thiêng liêng!
-Cũng vì như vậy nên người xử án vừa rất dễ được mến phục vừa rất dễ (có khi là vô tình) gây điều tội lỗi, độc ác.
-Muốn không phạm phải tội ác, người thực thi xét xử phải có lòng vừa trong sáng, công tâm, vừa thực sự yêu thương con người, không cậy quyền lực, đồng thời có nhận thức đúng đắn về thiện-ác (vận dụng tối ưu pháp luật, thậm chí vượt tầm ý thức hệ!).
-------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
Những nhà báo, luật sư bền bỉ đồng hành với ông Huỳnh Văn Nén
TPO - Từ năm 2000 đến nay, các phóng viên báo Tiền
Phong và một số luật sư đã bền bỉ đồng hành cùng ông Huỳnh Văn Nén cũng
như các bị can, bị cáo trong “vụ án vườn điều”, góp phần minh oan cho
họ.
Tại buổi Giao lưu trực tuyến: “Huỳnh Văn Nén - Hành trình giải oan xuyên thế kỷ” do
Báo Tiền phong tổ chức lúc 14h hôm nay (2/12), bên cạnh cha con ông
Huỳnh Văn Nén và ông Nguyễn Thận, còn có một số vị khách mời đặc biệt.
Đó là luật sư Nguyễn Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hòa và nhà báo Nguyễn Đình Quân, Báo Tiền Phong.
Luật sư Nguyễn Hồng Hà chính là luật sư đầu tiên của các bị can vụ án vườn điều, cũng là luật sư đầu tiên có văn bản kiến nghị xét xử lại vụ án Huỳnh Văn Nén để tránh oan sai.
Từ năm 2000 đến nay, các phóng viên của báo Tiền Phong là Hồ Việt Khuê (bút danh khác là Nguyễn Huỳnh, Phương Thảo) và Nguyễn Đình Quân (bút danh khác là Huy Anh) đã viết nhiều bài báo, góp phần minh oan cho các bị can, bị cáo trong “vụ án vườn điều” và nêu những dấu hiệu bị oan của ông Huỳnh Văn Nén trong vụ bà Lê Thị Bông bị giết.
Ngày 4/11 vừa qua, ông Huỳnh Văn Nén đã cùng một số người thân trong gia đình đến Cơ quan đại diện báo Tiền Phong tại TP.HCM, cảm ơn báo Tiền Phong đã có nhiều bài viết minh oan cho ông và nhiều người thân của ông trong “vụ án vườn điều”, nêu những dấu hiệu bị oan của ông trong vụ bà Lê Thị Bông bị giết.
Ngày 12/11/2014, TAND Tối cao có quyết định giám đốc thẩm, hủy phần tội danh và hình phạt đối với ông Huỳnh Văn Nén của bản án hình sự sơ thẩm ngày 31/8/2000 của TAND tỉnh Bình Thuận về vụ bà Lê Thị Bông, giao hồ sơ về cấp sơ thẩm để điều tra lại từ đầu. Ngày 6/1/2015, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bình Thuận tiếp nhận hồ sơ vụ án để điều tra lại, ra lệnh tạm giam 4 tháng đối với bị can Huỳnh Văn Nén. Sau đó, Viện KSND tỉnh Bình Thuận đã hai lần gia hạn tạm giam ông Nén, đến ngày 8/1/2016.
Luật sư Nguyễn Hồng Hà chính là luật sư đầu tiên của các bị can vụ án vườn điều, cũng là luật sư đầu tiên có văn bản kiến nghị xét xử lại vụ án Huỳnh Văn Nén để tránh oan sai.
Từ năm 2000 đến nay, các phóng viên của báo Tiền Phong là Hồ Việt Khuê (bút danh khác là Nguyễn Huỳnh, Phương Thảo) và Nguyễn Đình Quân (bút danh khác là Huy Anh) đã viết nhiều bài báo, góp phần minh oan cho các bị can, bị cáo trong “vụ án vườn điều” và nêu những dấu hiệu bị oan của ông Huỳnh Văn Nén trong vụ bà Lê Thị Bông bị giết.
Ngày 4/11 vừa qua, ông Huỳnh Văn Nén đã cùng một số người thân trong gia đình đến Cơ quan đại diện báo Tiền Phong tại TP.HCM, cảm ơn báo Tiền Phong đã có nhiều bài viết minh oan cho ông và nhiều người thân của ông trong “vụ án vườn điều”, nêu những dấu hiệu bị oan của ông trong vụ bà Lê Thị Bông bị giết.
Đúng 14h hôm nay (2/12), buổi Giao lưu trực tuyến: “Huỳnh Văn Nén - Hành trình giải oan xuyên thế kỷ” do Báo Tiền Phong tổ chức sẽ bắt đầu. Mời bạn đọc đặt câu hỏi giao lưu tới các vị khách mời tại đây.Hai vụ án trên đều xảy ra tại thôn 2, xã Tân Minh (nay là khu phố 2, thị trấn Tân Minh, Hàm Tân, Bình Thuận), bà Dương Thị Mỹ bị giết trong một vườn điều đêm 18/5/1993 rạng ngày 19/5/1993, bà Lê Thị Bông bị giết tại nhà đêm 23/4/1998. Trong “vụ án vườn điều” ông Huỳnh Văn Nén bị kết án 5 năm tù giam về tội “giết người” với vai trò đồng phạm, trong vụ bà Lê Thị Bông ông Nén bị cho là đã trực tiếp sát hại nạn nhân, do vậy bị kết án tù chung thân. Trong “vụ án vườn điều”, ngày 26/12/2005 ông Nén và 9 người thân đã được Cơ quan CSĐT, Bộ Công an đình chỉ bị can, sau đó 9 người kia được các cơ quan pháp luật tỉnh Bình Thuận xin lỗi công khai và được bồi thường oan sai. Riêng ông Huỳnh Văn Nén không được bồi thường oan sai, tiếp tục thụ án tù chung thân tại vụ án bà Bông.
Ngày 12/11/2014, TAND Tối cao có quyết định giám đốc thẩm, hủy phần tội danh và hình phạt đối với ông Huỳnh Văn Nén của bản án hình sự sơ thẩm ngày 31/8/2000 của TAND tỉnh Bình Thuận về vụ bà Lê Thị Bông, giao hồ sơ về cấp sơ thẩm để điều tra lại từ đầu. Ngày 6/1/2015, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bình Thuận tiếp nhận hồ sơ vụ án để điều tra lại, ra lệnh tạm giam 4 tháng đối với bị can Huỳnh Văn Nén. Sau đó, Viện KSND tỉnh Bình Thuận đã hai lần gia hạn tạm giam ông Nén, đến ngày 8/1/2016.
Án oan Huỳnh Văn Nén: Cha người bị tố là thủ phạm nói gì?
TPO - "Nếu lỡ Thọ phạm tội thì nó cũng phải chịu
thôi, chứ biết làm sao bây giờ!", ông Nguyễn Thái, cha của Nguyễn Thọ,
người bị tố cáo đã giết bà Lê Thị Bông, cho biết.
Trong vụ án oán Huỳnh Văn Nén, vào ngày 26/8/2000, một phạm nhân tại
Trại giam Sông Cái (Ninh Thuận) là Nguyễn Phúc Thành tố cáo thủ phạm
giết bà Lê Thị Bông (Năm Tép) không phải là ông Huỳnh Văn Nén mà là
Nguyễn Thọ ở xã Tân Minh (Hàm Tân, Bình Thuận), với đồng phạm là Hồ Văn
Việt.
Hồ Văn Việt đã chết vì bệnh cách nay 4 năm. Mới đây, lại có tin rằng Công an đã bắt được nghi phạm giết bà Lê Thị Bông. Phóng viên báo Tiền Phong đã tìm gặp ông Nguyễn Thái, cha Nguyễn Thọ, ở thôn 4, thị trấn Tân Minh.
“Ông cứ ghi âm thoải mái, nhưng đừng chụp ảnh. Tôi không muốn ảnh mình lên báo, rồi đi đường bị người ta chỉ trỏ bình phẩm”, ông Nguyễn Thái giao hẹn khi bắt đầu câu chuyện.
+ Có thông tin anh Nguyễn Phúc Thành tố cáo anh Thọ là thủ phạm giết bà Năm Tép, chú nghe thông tin đó khi nào, khi nghe vậy chú cảm thấy như thế nào?
- Tôi mới nghe cách đây vài năm, nghe trên mạng chứ không trực tiếp nghe ai nói.
+ Chú có bức xúc?
- Không biết nói sao nữa. Người ta nói như vậy, lấy gì mình nói với người ta là có hay không có. Chỉ có pháp luật mới nói ra được. Mình mắc mớ chi phải nôn nóng cho mệt.
+ Nhưng chú nghĩ con chú không có liên quan, dính dáng gì với vụ đó, chú có bực tức gì với người đưa thông tin đó không?
- Bây giờ mình bực thì mình làm gì đây? Mình không có gì để nói người ta được, biết sao mà nói.
+ Theo ý chú là để cơ quan pháp luật người ta làm?
- Đúng vậy.
+ Bao nhiêu năm nay anh Thọ có liên lạc gì gia đình không?
- Tôi đuổi nó đi từ năm 1997, trước khi xảy ra vụ này (vụ bà Lê Thị Bông bị giết) hơn một năm. Đuổi lâu rồi. Vì nó cũng quậy phá dữ lắm, từ hồi nó mười mấy tuổi, theo bạn bè rủ rê đi đánh bi da, ăn cắp vặt, bắt gà người ta để nhậu nhẹt… Đám bạn nó có cả thằng Nguyễn Phúc Thành nữa. Thằng đó cũng quậy.
+ Anh Thọ sinh năm bao nhiêu ạ?
Hình như năm 1976, đúng, 76. Tôi đuổi nó đi, ở đây người ta biết cả. Lúc đó tôi cũng đã lớn tuổi rồi, mà tôi phải cầm cây đánh đuổi nó. Lúc đó tôi 57, 58 tuổi rồi, tôi sinh năm 1939. Tôi có 7 người con, Thọ là con áp út. Trừ nó quậy phá, những đứa khác đều làm ăn đàng hoàng.
+ Chú có biết sau khi bị chú đuổi đi, anh Thọ ở đâu không?
- Hoàn toàn không biết.
+ Anh Thọ đi khỏi xã này trước hay sau vụ bà Bông bị giết, chú có biết không?
- Đi trước chứ. Xã cắt hộ khẩu nó mà.
+ Đó là đi khỏi nhà, còn đi khỏi xã lúc nào, đi đâu chú có biết không?
- Không biết.
+ Khi điều tra lại vụ án, cơ quan điều tra có đến gặp chú không?
- Có. Mới đây, cách đây mấy tháng, gặp ở ủy ban. Họ hỏi tôi như ông hỏi tôi bây giờ đấy. Tôi cũng trả lời như trả lời ông. Y vậy luôn.
+ Chú biết điều tra viên tên là gì không ạ?
- Dũng thì phải, Dũng. Ông viết nhiều lắm, viết lung tung, tôi chả coi, ông viết gì cũng được. Lập biên bản bảo tôi ký rồi giữ biên bản, tôi không giữ. Tôi cũng không coi lại biên bản, vì tôi không mang kính, không đọc được. Ông cũng không đọc lại cho tôi. Không lẽ ông viết sai cho tôi? Nhưng tôi không bận tâm chuyện đó. Vì tôi có tội đâu mà sợ. Họ chỉ làm việc với tôi, không làm việc với vợ tôi, vì bả hơi bị lẫn.
+ Từ hồi đi khỏi nhà, anh Thọ có liên lạc với gia đình, hay chú có nghe tin gì về anh Thọ không?
- Không nghe gì hết. Vụ này đã mười mấy năm. Có thể có nhiều nghi vấn, nhưng mình không nói được. Có thể nó đi đào đãi vàng đâu đó, chết rồi hay sao, mình không biết được.
+ Tuy người con có sai quấy, nhưng tình máu mủ ruột thịt, chú cũng có thương nhớ chứ?
- Nếu có một đứa con mà nó hư, mình cũng đau khổ thiệt. Nhưng tôi đang sống với nhiều đứa, sáu bảy đứa an toàn cả, chí thú làm ăn cả, thành ra cũng được an ủi, không nặng nề lắm. Chuyện con cái không ai muốn, lỡ nó có, thì phải chịu thôi.
+ Cháu có nghe nói công an đã tìm thấy anh Thọ?
-Tôi không biết. Nhưng nếu có thì là đưa về đối chất thôi chứ, đã có chứng cứ gì nó giết người đâu. Chắc gì nó đã nói có giết người. Nó nói không có thì cũng khó cứ bộ. Nhân chứng vật chứng đâu, tuy là báo chí ồn ào lên vậy, nhưng đâu phải dễ. Tôi cũng không có cấn cớ vì với Nguyễn Phúc Thành. Tôi chỉ mong cơ quan pháp luật làm sáng tỏ vụ việc. Chỉ mong thế thôi. Nếu lỡ nó có thì cũng phải chịu thôi, chứ biết làm sao bây giờ.
Hồ Văn Việt đã chết vì bệnh cách nay 4 năm. Mới đây, lại có tin rằng Công an đã bắt được nghi phạm giết bà Lê Thị Bông. Phóng viên báo Tiền Phong đã tìm gặp ông Nguyễn Thái, cha Nguyễn Thọ, ở thôn 4, thị trấn Tân Minh.
“Ông cứ ghi âm thoải mái, nhưng đừng chụp ảnh. Tôi không muốn ảnh mình lên báo, rồi đi đường bị người ta chỉ trỏ bình phẩm”, ông Nguyễn Thái giao hẹn khi bắt đầu câu chuyện.
+ Có thông tin anh Nguyễn Phúc Thành tố cáo anh Thọ là thủ phạm giết bà Năm Tép, chú nghe thông tin đó khi nào, khi nghe vậy chú cảm thấy như thế nào?
- Tôi mới nghe cách đây vài năm, nghe trên mạng chứ không trực tiếp nghe ai nói.
+ Chú có bức xúc?
- Không biết nói sao nữa. Người ta nói như vậy, lấy gì mình nói với người ta là có hay không có. Chỉ có pháp luật mới nói ra được. Mình mắc mớ chi phải nôn nóng cho mệt.
+ Nhưng chú nghĩ con chú không có liên quan, dính dáng gì với vụ đó, chú có bực tức gì với người đưa thông tin đó không?
- Bây giờ mình bực thì mình làm gì đây? Mình không có gì để nói người ta được, biết sao mà nói.
+ Theo ý chú là để cơ quan pháp luật người ta làm?
- Đúng vậy.
+ Bao nhiêu năm nay anh Thọ có liên lạc gì gia đình không?
- Tôi đuổi nó đi từ năm 1997, trước khi xảy ra vụ này (vụ bà Lê Thị Bông bị giết) hơn một năm. Đuổi lâu rồi. Vì nó cũng quậy phá dữ lắm, từ hồi nó mười mấy tuổi, theo bạn bè rủ rê đi đánh bi da, ăn cắp vặt, bắt gà người ta để nhậu nhẹt… Đám bạn nó có cả thằng Nguyễn Phúc Thành nữa. Thằng đó cũng quậy.
+ Anh Thọ sinh năm bao nhiêu ạ?
Hình như năm 1976, đúng, 76. Tôi đuổi nó đi, ở đây người ta biết cả. Lúc đó tôi cũng đã lớn tuổi rồi, mà tôi phải cầm cây đánh đuổi nó. Lúc đó tôi 57, 58 tuổi rồi, tôi sinh năm 1939. Tôi có 7 người con, Thọ là con áp út. Trừ nó quậy phá, những đứa khác đều làm ăn đàng hoàng.
+ Chú có biết sau khi bị chú đuổi đi, anh Thọ ở đâu không?
- Hoàn toàn không biết.
+ Anh Thọ đi khỏi xã này trước hay sau vụ bà Bông bị giết, chú có biết không?
- Đi trước chứ. Xã cắt hộ khẩu nó mà.
+ Đó là đi khỏi nhà, còn đi khỏi xã lúc nào, đi đâu chú có biết không?
- Không biết.
+ Khi điều tra lại vụ án, cơ quan điều tra có đến gặp chú không?
- Có. Mới đây, cách đây mấy tháng, gặp ở ủy ban. Họ hỏi tôi như ông hỏi tôi bây giờ đấy. Tôi cũng trả lời như trả lời ông. Y vậy luôn.
+ Chú biết điều tra viên tên là gì không ạ?
- Dũng thì phải, Dũng. Ông viết nhiều lắm, viết lung tung, tôi chả coi, ông viết gì cũng được. Lập biên bản bảo tôi ký rồi giữ biên bản, tôi không giữ. Tôi cũng không coi lại biên bản, vì tôi không mang kính, không đọc được. Ông cũng không đọc lại cho tôi. Không lẽ ông viết sai cho tôi? Nhưng tôi không bận tâm chuyện đó. Vì tôi có tội đâu mà sợ. Họ chỉ làm việc với tôi, không làm việc với vợ tôi, vì bả hơi bị lẫn.
+ Từ hồi đi khỏi nhà, anh Thọ có liên lạc với gia đình, hay chú có nghe tin gì về anh Thọ không?
- Không nghe gì hết. Vụ này đã mười mấy năm. Có thể có nhiều nghi vấn, nhưng mình không nói được. Có thể nó đi đào đãi vàng đâu đó, chết rồi hay sao, mình không biết được.
+ Tuy người con có sai quấy, nhưng tình máu mủ ruột thịt, chú cũng có thương nhớ chứ?
- Nếu có một đứa con mà nó hư, mình cũng đau khổ thiệt. Nhưng tôi đang sống với nhiều đứa, sáu bảy đứa an toàn cả, chí thú làm ăn cả, thành ra cũng được an ủi, không nặng nề lắm. Chuyện con cái không ai muốn, lỡ nó có, thì phải chịu thôi.
+ Cháu có nghe nói công an đã tìm thấy anh Thọ?
-Tôi không biết. Nhưng nếu có thì là đưa về đối chất thôi chứ, đã có chứng cứ gì nó giết người đâu. Chắc gì nó đã nói có giết người. Nó nói không có thì cũng khó cứ bộ. Nhân chứng vật chứng đâu, tuy là báo chí ồn ào lên vậy, nhưng đâu phải dễ. Tôi cũng không có cấn cớ vì với Nguyễn Phúc Thành. Tôi chỉ mong cơ quan pháp luật làm sáng tỏ vụ việc. Chỉ mong thế thôi. Nếu lỡ nó có thì cũng phải chịu thôi, chứ biết làm sao bây giờ.
Người chịu án oan xuyên thế kỷ: 'Chỉ mong không còn án oan sai'
TP - “Có oán có trách hờn cũng không thay đổi được
chuyện tôi đi tù. Chuyện cũ đã qua rồi, chỉ mong không còn ai mang án
oan nữa”, ông Huỳnh Văn Nén ngậm ngùi.
Ngày 2/12, báo Tiền Phong tổ chức buổi giao lưu trực tuyến: “Huỳnh Văn Nén – Hành trình giải oan xuyên thế kỷ”.
Tham gia buổi giao lưu có ông Huỳnh Văn Nén, cụ Huỳnh Văn Truyện- cha của ông Nén, ông Nguyễn Thận, luật sư Nguyễn Hồng Hà (Phó chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hòa) - luật sư đầu tiên có văn bản kiến nghị xét xử lại vụ án cho ông Nén để tránh oan sai và nhà báo Nguyễn Đình Quân (báo Tiền Phong) - người có nhiều bài viết minh oan cho ông Nén.
Ròng rã kêu oan cho người dưng
Suốt 17 năm “vác” đơn đến khắp các cơ quan ban ngành kêu oan cho ông Huỳnh Văn Nén và 9 người khác trong “vụ án vườn điều”, ông Nguyễn Thận, nguyên Chủ tịch UBND xã Tân Minh (Hàm Tân, Bình Thuận) đã trải qua đủ những cung bậc cảm xúc, từ đỉnh điểm của sự tuyệt vọng cho đến niềm vui vỡ òa khi nghe tin ông Nén được giải oan.
Nhớ lại quãng thời gian đằng đẵng theo đuổi vụ án, ông Thận kể, ngày 19/11/1999, lần đầu tiên ông cầm đơn đi kêu oan cho ông Nén cũng là ngày ông bị tai nạn giao thông dẫn đến chấn thương sọ não phải chuyển vào Bệnh viện Chợ Rẫy, TPHCM cấp cứu. Dù đang nằm viện nhưng ông vẫn cố gượng dậy ngồi viết đơn kêu oan cho ông Nén.
Cho đến phiên tòa phúc thẩm lần một vào ngày 5/4/2002, HĐXX đã tuyên hủy bản án sơ thẩm. “Lúc đó tôi mừng lắm, vì coi như công sức của mình đã có kết quả bước đầu”, ông Thận nói. Tuy nhiên, niềm vui chưa được bao lâu thì ông Thận và những người đồng hành lại gặp phải khó khăn lớn khi không còn luật sư nào nhận bào chữa cho lần xét xử sơ thẩm lần hai vào năm 2004.
“Giai đoạn này gần như tuyệt vọng, tôi lang thang trên internet và tình cờ biết ba luật sư là Trần Vũ Hải, Phạm Hồng Hải, Bùi Đức Trường. Tôi ngồi viết thư tay cầu cứu và cả ba luật sư đều nhận lời bào chữa miễn phí và họ đã bám đuổi vụ việc đến khi ông Nén và những người khác được tuyên vô tội”, ông Thận nói.
“Đến tháng 10/2014, đã có quyết định kháng nghị của VKS tối cao hủy bản án chung thân của ông Nén và bản án giám đốc thẩm của tòa án tối cao. Đây như niềm vui trọn vẹn của tôi vì tôi xác định đó là chuyến đi cuối cùng và may mắn cũng là kết quả cuối cùng, giải oan cho ông Huỳnh Văn Nén”, ông Thận nói.
Ngày 22/10/2015, đi cùng ông Huỳnh Văn Nén đến tặng hoa cảm ơn báo Tiền Phong ông Thận cũng lại bật khóc. “Lần khóc này, sự tức tưởi giảm đi nhiều nhưng lòng tôi cũng không được vui trọn vẹn. Bởi phải mất hơn 18 năm thì sự thật mới được phơi bày - Huỳnh Văn Nén được tuyên vô tội”, ông Thận nói.
Đồng hành cùng hành trình giải oan cho ông Huỳnh Văn Nén, hai phóng viên báo Tiền Phong là nhà báo Nguyễn Đình Quân và Hồ Việt Khuê theo đuổi vụ án từ đầu năm 2000.
Ban đầu là từ trách nhiệm phản ánh thông tin của nhà báo. Nhưng càng theo sát diễn biến điều tra, truy tố, xét xử của vụ án vườn điều và vụ Huỳnh Văn Nén, hai nhà báo càng thấy rõ dấu hiệu oan sai. Đi kèm với đó là bi kịch gia đình của các bị can trong hai vụ án, nỗi niềm của người thân họ. Đặc biệt là những đứa trẻ, con, em, cháu của các bị cáo lâm cảnh bơ vơ, “bị đánh cắp tuổi thơ”. “Những điều đó thôi thúc chúng tôi theo đến cùng hai vụ án. Lương tâm không cho phép chúng tôi bỏ cuộc giữa chừng”, nhà báo Nguyễn Đình Quân nhớ lại.
Niềm tin xuyên thế kỷ
Một con người, mang hai bản án oan nhưng không một lời oán trách, người tù Huỳnh Văn Nén rơm rớm nước mắt, lâu lâu ông đưa đôi bàn tay khô cằn của mình lên lau nước mắt nhớ lại nếu không có niềm tin thì có lẽ ông không có ngày hôm nay, ngày ông được minh oan sau hành trình 17 năm, xuyên qua hai thế kỷ.
Những ngày ở trại tạm giam Xuân Lộc (Đồng Nai), ông vẫn giữ niềm tin, rằng công lý sẽ đứng về mình, và cuối cùng ngày đó đã đến. “Lý trí, lập trường tôi rất vững nên chưa bao giờ tôi có ý định buông xuôi”, ông Nén nói. Nhiều người trong trại giam biết ông bị oan nhưng không giúp được gì, họ chỉ biết an ủi ông trong giờ lao động, trò chuyện với nhau ở những buổi cơm chiều. Ngoài lời động viên từ bạn tù, mỗi lần gia đình vào trại thăm đều động viên ông ăn uống đầy đủ để chờ ngày minh oan, đoàn tụ với gia đình.
Ở ngoài, người cha già ở cái tuổi bên kia sườn dốc ngày nào cũng cầm đơn kêu cứu đến gõ cửa từng cơ quan công quyền để minh oan cho con. Cụ Huỳnh Văn Truyện (91 tuổi) tay lau nước mắt nói: “Không có ai hiểu tính tình con mình bằng cha mẹ. Từ nhỏ thằng Nén nó hiền như cục đất thì làm gì có chuyện nó giết người như thế. Tôi vẫn tin một ngày nào đó, người ta nhận ra cái sai và giải oan cho con trai mình”.
Trong suốt 17 năm qua, cụ Truyện không bao giờ nghĩ rằng mình sẽ nản chí và bỏ cuộc trong hành trình gian nan đi kêu oan cho con trai. Trong khoảng thời gian đó, cụ chỉ lo sợ hai điều là sức khỏe còn đủ để theo tới cùng vụ việc minh oan cho con hay không, và có đủ tiền bạc để đi kêu oan hay không.
Cụ phải cầm cố, bán hết ruộng vườn để làm lộ phí đi kêu oan suốt 17 năm qua. Cụ nhớ lại: “Thực ra nhiều năm liền đi kêu oan cho con trai nhưng không có kết quả, có lúc tôi chẳng còn tin vào công lý nhưng mình tin con trai mình không giết người”.
Chỉ mong không còn án oan
Ông Huỳnh Văn Nén chia sẻ với bạn đọc: “Sự việc đã qua rồi, có oán có trách hờn cũng không thay đổi được chuyện tôi đi tù. Chuyện cũ đã qua rồi, chỉ mong không còn ai mang án oan nữa”.
Về các điều tra viên ép cung, cố tình làm sai lệch hồ sơ, đưa ông vào vòng lao lí ngần ấy năm trời, ông Nén nói: “Nếu gặp lại các điều tra viên, tôi sẽ vẫn vui vẻ với họ. Tôi sẽ gửi gắm đến họ thông điệp đừng để oan sai nữa. Cuộc sống ai cũng mắc sai lầm, chủ yếu họ có biết sửa chữa sai lầm hay không”.
Từ phải qua: Luật sư Nguyễn Hồng Hà, nhà báo Nguyễn Đình Quân
(báo Tiền Phong), ông Huỳnh Văn Nén, cụ Huỳnh Văn Truyện, ông Nguyễn
Thận và nhà báo Lý Thành Tâm (báo Tiền Phong) tại buổi giao lưu với độc
giả Tiền Phong Online chiều 2/12.
Ở tù ngần ấy năm trời khiến sức khỏe ông tuột dốc. Ngồi giao lưu chưa
đầy 15 phút, ông phải đứng dậy, đi lại cho đỡ mỏi, nhìn người cha già
bước sang tuổi 91 lúc nào cũng lo lắng, chăm sóc ông.
Trong buổi giao lưu trực tuyến, có bạn đọc hỏi: “Sau hơn 17 năm, quay
về đời sống xã hội, bản thân ông khó khăn trong việc hòa nhập không?”.
Trầm ngâm một hồi, ông Nén nói như muốn khóc: “Lúc tôi bị bắt con trai
cả mới 8 tuổi, đứa kế 7 tuổi còn con út 3 tuổi. Tụi nhỏ mất đi người cha
là lao động chính gia đình. Vợ tôi thân “cò” một mình gồng gánh nuôi
con, bà làm thêm đủ nghề kiếm thêm thu nhập để cùng cha già mang đơn kêu
oan cho tôi khắp nơi”.
Cũng theo ông Nén, điều ông day dứt nhất là không nuôi dạy ba đứa con nên người, cũng vì ông mà lũ trẻ phải nghỉ học để mưu sinh phụ mẹ, chúng phải nghỉ học vì không vượt qua nổi sự dị nghị của bạn bè, xã hội, tương lai của chúng phải rẽ sang hướng khác. Tuy trở về hòa nhập cuộc sống chưa được bao lâu, nhưng ông dồn hết khả năng của mình để lo cho gia đình, hằng ngày vợ chồng ông đẩy xe hủ tiếu ra chợ gần nhà mưu sinh, số tiền ít ỏi từ chiếc xe hủ tiếu này chỉ đủ cơm canh ba bữa.
Có mặt tại buổi giao lưu, luật sư Nguyễn Hồng Hà cho rằng dư luận cũng như báo chí đang bức xúc với những vụ án oan diễn ra nhưng những người gây oan sai không bị xử lý, thậm chí còn được thăng tiến. Án oan có yếu tố khách quan và chủ quan. Chủ quan là do nôn nóng chạy theo thành tích nên người ta đã bỏ qua các quy định của pháp luật có liên quan đến quyền công dân, khách quan là do luật còn nhiều quy định bất cập.
Vụ án oan Nguyễn Thanh Chấn và Huỳnh Văn Nén đều không do cơ quan pháp luật giải oan. Việc giải oan trong cả hai vụ án này đều do người dân, luật sư, và cơ quan báo chí tố cáo, khiếu nại nhiều năm. Việc giải quyết không kịp thời là trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng. Đây cũng chính là nguyên nhân khiến oan sai kéo dài.
Tham gia buổi giao lưu có ông Huỳnh Văn Nén, cụ Huỳnh Văn Truyện- cha của ông Nén, ông Nguyễn Thận, luật sư Nguyễn Hồng Hà (Phó chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hòa) - luật sư đầu tiên có văn bản kiến nghị xét xử lại vụ án cho ông Nén để tránh oan sai và nhà báo Nguyễn Đình Quân (báo Tiền Phong) - người có nhiều bài viết minh oan cho ông Nén.
Ròng rã kêu oan cho người dưng
Suốt 17 năm “vác” đơn đến khắp các cơ quan ban ngành kêu oan cho ông Huỳnh Văn Nén và 9 người khác trong “vụ án vườn điều”, ông Nguyễn Thận, nguyên Chủ tịch UBND xã Tân Minh (Hàm Tân, Bình Thuận) đã trải qua đủ những cung bậc cảm xúc, từ đỉnh điểm của sự tuyệt vọng cho đến niềm vui vỡ òa khi nghe tin ông Nén được giải oan.
Nhớ lại quãng thời gian đằng đẵng theo đuổi vụ án, ông Thận kể, ngày 19/11/1999, lần đầu tiên ông cầm đơn đi kêu oan cho ông Nén cũng là ngày ông bị tai nạn giao thông dẫn đến chấn thương sọ não phải chuyển vào Bệnh viện Chợ Rẫy, TPHCM cấp cứu. Dù đang nằm viện nhưng ông vẫn cố gượng dậy ngồi viết đơn kêu oan cho ông Nén.
Cho đến phiên tòa phúc thẩm lần một vào ngày 5/4/2002, HĐXX đã tuyên hủy bản án sơ thẩm. “Lúc đó tôi mừng lắm, vì coi như công sức của mình đã có kết quả bước đầu”, ông Thận nói. Tuy nhiên, niềm vui chưa được bao lâu thì ông Thận và những người đồng hành lại gặp phải khó khăn lớn khi không còn luật sư nào nhận bào chữa cho lần xét xử sơ thẩm lần hai vào năm 2004.
“Giai đoạn này gần như tuyệt vọng, tôi lang thang trên internet và tình cờ biết ba luật sư là Trần Vũ Hải, Phạm Hồng Hải, Bùi Đức Trường. Tôi ngồi viết thư tay cầu cứu và cả ba luật sư đều nhận lời bào chữa miễn phí và họ đã bám đuổi vụ việc đến khi ông Nén và những người khác được tuyên vô tội”, ông Thận nói.
Hôm nay (3/12) tại thị trấn Tân Minh, huyện Hàm Tân, Bình Thuận, Viện Kiểm sát, TAND tỉnh và công an tỉnh sẽ tổ chức xin lỗi ông Huỳnh Văn Nén và gia đình vì để xảy ra oan sai suốt 17 năm qua.
Cuối
năm 2005, Bộ Công an kết luận không đủ căn cứ buộc tội các bị cáo trong
vụ án vườn điều giết bà Dương Thị Mỹ. Lúc này, ông Thận đã bật khóc.
Ông khóc vì vui mừng nhưng cũng ẩn chứa sự tức tưởi. Sự tức tưởi đó còn
liên quan đến một bị án khác, vẫn là Huỳnh Văn Nén trong vụ án giết bà
Lê Thị Bông ngày 23/4/1998. Bởi lẽ, ông Nén là người không phạm tội
trong vụ án vườn điều nhưng đang thụ án tù chung thân trong vụ án giết
bà Lê Thị Bông.
Ông Thận nói: “Tôi khóc vì niềm vui của các bị án được giải oan, khóc
vì nỗi đau của các bị án suốt mười mấy năm tù đày và khóc vì Huỳnh Văn
Nén vẫn còn đang thụ án chung thân”. “Đến tháng 10/2014, đã có quyết định kháng nghị của VKS tối cao hủy bản án chung thân của ông Nén và bản án giám đốc thẩm của tòa án tối cao. Đây như niềm vui trọn vẹn của tôi vì tôi xác định đó là chuyến đi cuối cùng và may mắn cũng là kết quả cuối cùng, giải oan cho ông Huỳnh Văn Nén”, ông Thận nói.
Ngày 22/10/2015, đi cùng ông Huỳnh Văn Nén đến tặng hoa cảm ơn báo Tiền Phong ông Thận cũng lại bật khóc. “Lần khóc này, sự tức tưởi giảm đi nhiều nhưng lòng tôi cũng không được vui trọn vẹn. Bởi phải mất hơn 18 năm thì sự thật mới được phơi bày - Huỳnh Văn Nén được tuyên vô tội”, ông Thận nói.
Đồng hành cùng hành trình giải oan cho ông Huỳnh Văn Nén, hai phóng viên báo Tiền Phong là nhà báo Nguyễn Đình Quân và Hồ Việt Khuê theo đuổi vụ án từ đầu năm 2000.
Ban đầu là từ trách nhiệm phản ánh thông tin của nhà báo. Nhưng càng theo sát diễn biến điều tra, truy tố, xét xử của vụ án vườn điều và vụ Huỳnh Văn Nén, hai nhà báo càng thấy rõ dấu hiệu oan sai. Đi kèm với đó là bi kịch gia đình của các bị can trong hai vụ án, nỗi niềm của người thân họ. Đặc biệt là những đứa trẻ, con, em, cháu của các bị cáo lâm cảnh bơ vơ, “bị đánh cắp tuổi thơ”. “Những điều đó thôi thúc chúng tôi theo đến cùng hai vụ án. Lương tâm không cho phép chúng tôi bỏ cuộc giữa chừng”, nhà báo Nguyễn Đình Quân nhớ lại.
Niềm tin xuyên thế kỷ
Một con người, mang hai bản án oan nhưng không một lời oán trách, người tù Huỳnh Văn Nén rơm rớm nước mắt, lâu lâu ông đưa đôi bàn tay khô cằn của mình lên lau nước mắt nhớ lại nếu không có niềm tin thì có lẽ ông không có ngày hôm nay, ngày ông được minh oan sau hành trình 17 năm, xuyên qua hai thế kỷ.
Những ngày ở trại tạm giam Xuân Lộc (Đồng Nai), ông vẫn giữ niềm tin, rằng công lý sẽ đứng về mình, và cuối cùng ngày đó đã đến. “Lý trí, lập trường tôi rất vững nên chưa bao giờ tôi có ý định buông xuôi”, ông Nén nói. Nhiều người trong trại giam biết ông bị oan nhưng không giúp được gì, họ chỉ biết an ủi ông trong giờ lao động, trò chuyện với nhau ở những buổi cơm chiều. Ngoài lời động viên từ bạn tù, mỗi lần gia đình vào trại thăm đều động viên ông ăn uống đầy đủ để chờ ngày minh oan, đoàn tụ với gia đình.
Ở ngoài, người cha già ở cái tuổi bên kia sườn dốc ngày nào cũng cầm đơn kêu cứu đến gõ cửa từng cơ quan công quyền để minh oan cho con. Cụ Huỳnh Văn Truyện (91 tuổi) tay lau nước mắt nói: “Không có ai hiểu tính tình con mình bằng cha mẹ. Từ nhỏ thằng Nén nó hiền như cục đất thì làm gì có chuyện nó giết người như thế. Tôi vẫn tin một ngày nào đó, người ta nhận ra cái sai và giải oan cho con trai mình”.
Trong suốt 17 năm qua, cụ Truyện không bao giờ nghĩ rằng mình sẽ nản chí và bỏ cuộc trong hành trình gian nan đi kêu oan cho con trai. Trong khoảng thời gian đó, cụ chỉ lo sợ hai điều là sức khỏe còn đủ để theo tới cùng vụ việc minh oan cho con hay không, và có đủ tiền bạc để đi kêu oan hay không.
Cụ phải cầm cố, bán hết ruộng vườn để làm lộ phí đi kêu oan suốt 17 năm qua. Cụ nhớ lại: “Thực ra nhiều năm liền đi kêu oan cho con trai nhưng không có kết quả, có lúc tôi chẳng còn tin vào công lý nhưng mình tin con trai mình không giết người”.
Chỉ mong không còn án oan
Ông Huỳnh Văn Nén chia sẻ với bạn đọc: “Sự việc đã qua rồi, có oán có trách hờn cũng không thay đổi được chuyện tôi đi tù. Chuyện cũ đã qua rồi, chỉ mong không còn ai mang án oan nữa”.
Về các điều tra viên ép cung, cố tình làm sai lệch hồ sơ, đưa ông vào vòng lao lí ngần ấy năm trời, ông Nén nói: “Nếu gặp lại các điều tra viên, tôi sẽ vẫn vui vẻ với họ. Tôi sẽ gửi gắm đến họ thông điệp đừng để oan sai nữa. Cuộc sống ai cũng mắc sai lầm, chủ yếu họ có biết sửa chữa sai lầm hay không”.
Cũng theo ông Nén, điều ông day dứt nhất là không nuôi dạy ba đứa con nên người, cũng vì ông mà lũ trẻ phải nghỉ học để mưu sinh phụ mẹ, chúng phải nghỉ học vì không vượt qua nổi sự dị nghị của bạn bè, xã hội, tương lai của chúng phải rẽ sang hướng khác. Tuy trở về hòa nhập cuộc sống chưa được bao lâu, nhưng ông dồn hết khả năng của mình để lo cho gia đình, hằng ngày vợ chồng ông đẩy xe hủ tiếu ra chợ gần nhà mưu sinh, số tiền ít ỏi từ chiếc xe hủ tiếu này chỉ đủ cơm canh ba bữa.
Có mặt tại buổi giao lưu, luật sư Nguyễn Hồng Hà cho rằng dư luận cũng như báo chí đang bức xúc với những vụ án oan diễn ra nhưng những người gây oan sai không bị xử lý, thậm chí còn được thăng tiến. Án oan có yếu tố khách quan và chủ quan. Chủ quan là do nôn nóng chạy theo thành tích nên người ta đã bỏ qua các quy định của pháp luật có liên quan đến quyền công dân, khách quan là do luật còn nhiều quy định bất cập.
Vụ án oan Nguyễn Thanh Chấn và Huỳnh Văn Nén đều không do cơ quan pháp luật giải oan. Việc giải oan trong cả hai vụ án này đều do người dân, luật sư, và cơ quan báo chí tố cáo, khiếu nại nhiều năm. Việc giải quyết không kịp thời là trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng. Đây cũng chính là nguyên nhân khiến oan sai kéo dài.
Nghi can sát hại bà Bông đầu thú
Ngày 2/12, Đại tá Phạm Thật - Phó Giám đốc, Thủ trưởng cơ quan CSĐT, Công an tỉnh Bình Thuận cho biết đã bắt được nghi can Nguyễn Thọ (SN 1976, ngụ thị trấn Tân Minh, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận), người được cho là hung thủ sát hại bà Lê Thị Bông xảy ra vào rạng sáng 24/4/1998. Trước đó, do không thể lẩn trốn, Thọ đã đến cơ quan công an trình diện. Theo thông tin mà Tiền Phong có được, Thọ khai báo đã cùng Hồ Văn Việt (SN 1979, ngụ thị trấn Tân Minh, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận, đã qua đời vì bệnh vào năm 2001) sát hại bà Lê Thị Bông để cướp tài sản. Để tránh sự theo dõi, nghi vấn của cơ quan chức năng, Thọ đã thay đổi họ tên.
Nguyễn Đình Quân
Để đừng xảy ra án oan sai
Kỳ 1: Vụ án chồng trộm tiền vợ và bài học cho cơ quan tố tụng
Cập nhật ngày: 28/03/2015 03:36
(BTNO) - Không cá nhân, tổ chức nào mong
muốn một bản án oan sai. Tuy nhiên, trong hoạt động tố tụng, do nhiều
nguyên nhân khác nhau, vẫn có những vụ án oan làm tổn hại nặng nề về
tinh thần và vật chất cho đương sự, gây bức xúc trong dư luận.
Trong
loạt bài này, tác giả nêu một vụ án oan sai, một số vụ án hình sự đã và
đang chuẩn bị xét xử lại ở Tây Ninh nhưng có dấu hiệu oan sai, với mong
muốn qua đó giúp các cơ quan chức năng cẩn trọng, khách quan để có
những quyết định đúng đắn, xử lý nghiêm người phạm tội và không xử oan
người vô tội.
Ông Nguyễn Thanh Cần với xấp hồ sơ yêu cầu bồi thường.
Trộm tiền... vợ
Ngày
6.12.2013, ông Nguyễn Thanh Cần (ngụ ấp Ninh Hoà, xã Ninh Thạnh, thị xã
Tây Ninh (nay là thành phố Tây Ninh) viết đơn gửi Báo Tây Ninh cho
biết, ông là người bị oan trong vụ án “trộm cắp tài sản” bị Cơ quan điều
tra giam giữ 376 ngày.
Trước
đó, ngày 8.11.2013, ông đã viết đơn đề nghị Viện Kiểm sát nhân dân
(VKSND) tỉnh Tây Ninh bồi thường thiệt hại do oan sai trong tố tụng và
khôi phục danh dự, nhân phẩm cho ông nhưng cơ quan này không giải quyết.
Đã hơn 1 năm qua, ông Cần vẫn tiếp tục “đeo đuổi” việc yêu cầu VKSND
tỉnh bồi thường thiệt hại.
Ông
Cần nhớ lại, ngày 3.7.2013, chủ tọa phiên toà, thẩm phán Phạm Thị Thanh
Giang- TAND tỉnh tuyên ông “không phạm tội trộm cắp tài sản” của vợ
ông, sau đó ra Quyết định số 09/2013/HSST trả tự do cho ông, từ thời
điểm đó ông chính thức được minh oan. “Tôi là một người lính, đã từng
tham gia chiến đấu ở chiến trường Campuchia và được Chủ tịch nước tặng
thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba. Đây là niềm vinh dự và tự hào của
tôi trong suốt thời gian qua.
Bỗng
dưng tôi bị bắt giam, vì vậy khi được toà tuyên vô tội, tôi dường như
“chết đi sống lại”. Nay tôi chỉ mong được cơ quan làm tôi bị oan bồi
thường theo quy định của Nhà nước và công bố minh oan cho tôi tại địa
phương để tôi không phải xấu hổ với mọi người” – ông Cần tâm sự.
Thế
nhưng sau hơn một năm đến cơ quan công quyền đòi quyền lợi chính đáng
của mình, ông Cần vẫn chưa được cơ quan này bồi thường và làm các thủ
tục cần thiết để minh oan cho ông sau thời gian hơn 1 năm bị giam cầm.
Bản
án số 52/2012/HSST ngày 29.8.2012 do thẩm phán Nguyễn Văn Tông chủ toạ
phiên toà xét xử đã xác định ông Cần “trộm cắp tài sản”, thể hiện như
sau: Năm 1988, ông Cần kết hôn với bà Nguyễn Thị Mén. Hai vợ chồng kinh
doanh xe tải và làm vườn mãng cầu, tích luỹ được 10 lượng vàng 9999,
3,97 chỉ vàng 18K và 5 chỉ vàng 24K. Tuy nhiên, thời gian sau đó, ông
Cần không quan tâm đến việc làm ăn của gia đình nên hai vợ chồng thường
xuyên xảy ra mâu thuẫn, dẫn đến sống ly thân, rồi sau đó họ quay lại
sống chung.
Trong
thời gian đó, bà Mén một mình làm lụng tích luỹ tài sản riêng và cho
tiền ông Cần tiêu xài hằng ngày. Năm 2000, bà Mén giao rẫy cao su cho
ông Cần khai thác lấy tiền tiêu xài, còn bà tiếp tục quản lý vườn mãng
cầu, kinh doanh xe tải, tích luỹ mua được 16 lượng vàng 9999, 10,97 chỉ
vàng 24K và 12,42 chỉ vàng 18K. Số tài sản này bà Mén quản lý cất giữ.
Đầu
tháng 1.2012, ông Cần và bà Mén sống ly thân, dù cả hai sống chung một
nhà nhưng mỗi người một phòng riêng. Ngày 29.4.2012, bà Mén hốt hụi được
97 triệu đồng, sau đó mượn của một chủ vựa mãng cầu 100 triệu đồng. Tất
cả vàng, tiền, bà Mén cất trong két sắt, để trong trong phòng ngủ của
mình.
Khoảng
17 giờ ngày 20.5.2012, khi đi rẫy về, biết vợ và con chở mãng cầu đi
thành phố Hồ Chí Minh bán, ông Cần vặn mạnh cửa phòng của bà Mén bung
ra, sau đó lấy 1 cây kim và 1 cây vít đục két sắt lấy 26 lượng vàng
9999, 15,97 chỉ vàng 24K, 16,39 chỉ vàng 18K và 197 triệu đồng (tổng trị
giá được giám định trên 1,192 tỷ đồng). Lúc lấy tài sản, ông Cần dùng
cưa sắt cưa cửa sổ phòng, tạo hiện trường giả.
Ông
Cần xài hết 200 ngàn đồng trong số tiền trộm được của vợ, số tiền còn
lại đem gửi cho bà Lâm Nguyệt Ứng ở ấp Ninh Tân, còn số vàng ông mang
đến chôn giấu ở vườn cao su của gia đình. Khoảng 00 giờ ngày 21.5.2012,
khi về nhà, bà Mén phát hiện mất tài sản, hỏi ông Cần thì ông nói không
biết, nên bà Mén trình báo công an. Quá trình điều tra, ông Cần thừa
nhận hành vi phạm tội của mình và hướng dẫn cơ quan điều tra đến nơi cất
giấu tài sản để thu hồi.
Với
hành vi trên, VKSND tỉnh truy tố ông Cần phạm tội “trộm cắp tài sản”
theo Điểm a Khoản 4 Điều 138 BLHS. Tại phiên toà sơ thẩm, HĐXX tuyên bị
cáo Cần phạm tội “trộm cắp tài sản” phạt bị cáo Cần 7 năm tù. Ông Cần
kháng cáo.
Tài sản chung nên không nói... là trộm được
Cuối năm 2012, Toà phúc thẩm TAND Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh tuyên huỷ án, trả hồ sơ để cấp sơ thẩm điều tra, xét xử lại.
Ngày
3.7.2013, TAND tỉnh xét xử sơ thẩm lại, do thẩm phán Phan Thị Thanh
Giang làm chủ toạ phiên toà. Tại phiên xử này, toà nhận định, vợ chồng
ông Cần có mâu thuẫn, bà Mén là người quản lý tài sản, ông Cần có hành
vi đục két sắt lấy tiền, vàng (khoảng 1,389 tỷ đồng- tăng lên so với lần
xét xử đầu) tiêu xài cho bản thân nhưng về khách thể, việc ông Cần
chiếm đoạt tiền, vàng là tài sản chung của vợ chồng, tài sản này hai vợ
chồng “không có thoả thuận với nhau về việc chia tài sản chung, cũng
không có văn bản, quyết định của cơ quan có thẩm quyền về việc phân chia
tài sản của vợ chồng.
Như
vậy, đây là tài sản chung hợp nhất chưa chia, theo Điều 217 BLDS là sở
hữu chung, trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu chung không
được xác định đối với tài sản chung… Bà Mén chỉ là người cất giữ tài sản
chung của vợ chồng, trong số tài sản bị cáo chiếm đoạt có phần của bị
cáo nhưng cơ quan điều tra không chứng minh được tài sản riêng của bà
Mén là bao nhiêu và số tiền bị cáo chiếm đoạt là bao nhiêu”. Trên cơ sở
lập luận trên, HĐXX cho rằng chưa có căn cứ kết luận phạm tội nên tuyên
ông Cần không phạm tội “trộm cắp tài sản”.
Ngày
15.7.2013, VKSND tỉnh có Kháng nghị số 01/QĐ/KNPT đề nghị Toà phúc thẩm
TAND tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh huỷ toàn bộ bản án hình sự sơ
thẩm trên của TAND tỉnh Tây Ninh để xét xử sơ thẩm lại ở cấp sơ thẩm
theo hướng tuyên bố ông Cần phạm tội “trộm cắp tài sản”. Tuy nhiên, ngày
9.10.2013, Toà phúc thẩm TAND tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh ra
quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án trên với lý do, tại phiên toà
này, vị đại diện VKS quyết định rút Kháng nghị số 01/QĐ/KNPT ngày
15.7.2013 của VKSND tỉnh Tây Ninh.
Hành trình đi đòi bồi thường oan sai
Sau
khi có quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm của Toà phúc thẩm TAND tối
cao tại thành phố Hồ Chí Minh, ngày 8.11.2013, ông Cần đã mang đơn đến
VKSND tỉnh đề nghị bồi thường do oan sai trong tố tụng theo luật định
(ông Cần bị giam từ ngày 22.6.2012 đến ngày 3.7.2013). Ông được ông
Đ.V.Đ tiếp và ghi biên nhận. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian khá lâu,
ông Cần vẫn không nhận được phản hồi. Vì vậy, ông tiếp tục gửi đơn yêu
cầu bồi thường qua đường bưu điện và các cơ quan có trách nhiệm khác của
tỉnh nhưng vẫn không thấy hồi âm.
Ngày
11.4.2014, ông Cần làm đơn kiện gửi đến TAND thành phố Tây Ninh yêu cầu
VKSND tỉnh bồi thường và được cán bộ trực tiếp nhận đơn nhưng khá lâu
không thấy giải quyết. Sau đó, ông gửi đơn đến Cục Bồi thường Nhà nước
thuộc Bộ Tư pháp. Ngày 13.5.2014, Cục Bồi thường Nhà nước có Văn bản số
148/BTNN-TT gửi Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án kinh
tế - chức vụ, VKSND tối cao với nội dung: “Vụ việc yêu cầu bồi thường
thiệt hại (của ông Cần) trong hoạt động tố tụng hình sự thuộc trách
nhiệm quản lý của VKSND tối cao.
Do
vậy, Cục Bồi thường Nhà nước kính chuyển đơn của ông Cần đến Quý vụ
theo quy định tại Điều 11 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước về
thực hiện nhiệm vụ phối hợp trong quản lý công tác bồi thường trong hoạt
động tố tụng để Quý vụ kiểm tra vụ việc, tham mưu cho lãnh đạo VKSND
tối cao chỉ đạo cho cơ quan có thẩm quyền trả lời hoặc giải quyết yêu
cầu của người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật”.
Ngày
23.7.2014, ông Cần nhận được văn bản thông báo của TAND thành phố Tây
Ninh trả lại đơn kiện với lý do: “VKSND tỉnh Tây Ninh chưa thụ lý giải
quyết đơn yêu cầu của ông Cần theo quy định tại Điều 16,17,18,19, 20
Luật Bồi thường trách nhiệm của Nhà nước do ông Cần chưa đủ điều kiện
khởi kiện tại Toà án”. Vì vậy, ngày 12.11.2014, ông Cần tiếp tục đến
VKSND tỉnh gửi đơn yêu cầu bồi thường và trưng ra văn bản trên của toà
án nên được cán bộ nơi đây tiếp nhận.
Sau
đó, ngày 23.1.2015, VKSND tỉnh có Thông báo số 44/TB-VKS-P1 thụ lý đơn
yêu cầu bồi thường thiệt hại. Theo đơn yêu cầu cầu bồi thường, ông Cần
đề nghị VKSND tỉnh bồi thường thu nhập thực tế bị mất là 150,4 triệu
đồng, bồi thường thiệt hại do tổn thất về tinh thần là 42,864 triệu đồng
và thiệt hại sức khoẻ là 50 triệu đồng. Tổng cộng là 243.264.000đ.
Cần sớm giải quyết bồi thường theo quy định
Tiếp
xúc với chúng tôi, ông Cần rất bức xúc khi cơ quan có trách nhiệm bồi
thường cứ nhùng nhằng, không chịu tiến hành giải quyết bồi thường theo
luật định, làm cho ông phải tốn nhiều công sức đi lại, viết đơn gửi
nhiều nơi để khiếu nại. Ông Cần mong muốn cơ quan có trách nhiệm sớm
hoàn tất các thủ tục bồi thường theo quy định để ông và đơn vị có trách
nhiệm bồi thường ngồi lại với nhau trên tinh thần cảm thông, chia sẻ
những thiệt hại và lỗi của nhau để có kết quả cuối cùng.
Theo
ông Cần, những yêu cầu bồi thường của ông chỉ “tương đối” so với những
gì ông bị thiệt hại, chứ không hề nhân sự sai trái của cơ quan Nhà nước
mà yêu cầu quá đáng. Trên tinh thần ấy mà ông không yêu cầu luật sư tham
gia việc đòi bồi thường này.
Tại
Điều 8 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định cơ quan có
trách nhiệm bồi thường có nhiệm vụ “tiếp nhận, thụ lý đơn yêu cầu bồi
thường của người bị thiệt hại; xác minh thiệt hại, thương lượng với
người bị thiệt hại, ra quyết định giải quyết bồi thường; khôi phục hoặc
đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp
của người bị thiệt hại…”. Tại Điều 7 của Luật này cũng nêu rõ, việc
giải quyết bồi thường phải tuân theo các nguyên tắc: “Kịp thời, công
khai, đúng pháp luật; được tiến hành trên cơ sở thương lượng giữa cơ
quan có trách nhiệm bồi thường với người bị thiệt hại hoặc đại diện hợp
pháp của họ…”.
Thiết
nghĩ, việc thực thi công vụ trong hoạt động tố tụng (cũng như các lĩnh
vực khác), việc tiến hành tố tụng có những sai sót (do nhiều nguyên
nhân, không tư lợi) là bình thường, điều thiết yếu là các cá nhân, tổ
chức nhận ra sai sót để sửa chữa, làm bài học chung trong công tác của
mình mới là điều quan trọng.
Đức Tiến
(Còn nữa)
Điều 9. Thủ tục giải quyết bồi thường tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường
1.
Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu bồi
thường, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải tiến hành việc xác minh
thiệt hại để làm căn cứ xác định mức bồi thường theo quy định tại Điều
18 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
2.
Trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc việc xác minh thiệt
hại, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải tiến hành thương lượng với
người bị thiệt hại theo quy định tại Điều 19 Luật Trách nhiệm bồi thường
của Nhà nước.
3.
Trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc việc thương lượng,
cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải hoàn thành dự thảo quyết định
giải quyết bồi thường. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan có trách
nhiệm bồi thường có thể gửi dự thảo quyết định giải quyết bồi thường để
lấy ý kiến của các cơ quan có liên quan.
4.
Căn cứ vào kết quả xác minh thiệt hại, thương lượng với người bị thiệt
hại và ý kiến của các cơ quan có liên quan (nếu có), cơ quan có trách
nhiệm bồi thường ban hành quyết định giải quyết bồi thường theo quy định
tại Điều 20 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và chịu trách
nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.
5.
Khi quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực, cơ quan có trách
nhiệm bồi thường phải thực hiện thủ tục cấp và chi trả tiền bồi thường
theo quy định tại Điều 54 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
(Trích
Nghị định số 16/2010/NĐ-CP ngày 3.3.2010 của Chính phủ quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường
của Nhà nước).
|
Để đừng xảy ra án oan sai
Kỳ 2: Đương sự chiếm lại nhà là hành vi phạm tội không chấp hành án (!?)
Cập nhật ngày: 03/04/2015 10:34
(BTNO) - Tại huyện Châu Thành xảy ra hai
trường hợp cơ quan thi hành án bàn giao nhà đất cho người được thi hành
án xong, sau đó đương sự chiếm lại nhà. Trong đó có trường hợp cơ quan
chức năng xử lý về hành vi không chấp hành án. Đó là trường hợp của vợ
chồng ông Tạ Văn Đùa.
Vợ chồng ông Đùa bên số tài sản còn để lại trên phần đất bị cưỡng chế.
Nguồn gốc sự việc
Theo
bản án số 10/2006/DSST ngày 14.3.2006 của TAND huyện Châu Thành, năm
2001, vợ chồng ông Tạ Văn Đùa, bà Lê Thị Hạnh (ngụ ấp Long Chẩn, xã Long
Vĩnh, huyện Châu Thành) sang lại một phần đất 14m x 70m ở ấp Long Chẩn,
do ông Nguyễn Thành Suối đứng tên quyền sử dụng đất (QSDĐ) nhưng chưa
làm thủ tục chuyển nhượng theo quy định (giấy CNQSDĐ ông Suối thế chấp
cho ngân hàng).
Năm
2002, vợ chồng ông Đùa sang lại toàn bộ diện tích này cho ông Nguyễn
Thanh Phong (ngụ Trường Huệ, Trường Tây, Hoà Thành) với giá 1,5 triệu
đồng/mét ngang. Ông Phong còn sang lại của ông Suối 1 phần đất (3m x
70m) giáp ranh với đất mà ông vừa sang nhượng, với giá 1,4 triệu
đồng/mét ngang.
Khi
sang nhượng đất, ông Phong đặt cọc cho ông Suối 4,2 triệu đồng, cho ông
Đùa 5,8 triệu đồng. Sau đó, ông Phong trả thêm cho ông Đùa 10 triệu
đồng, còn nợ số tiền 5,5 triệu đồng đến nay chưa trả. Vì vậy, ông Đùa
yêu cầu huỷ hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ. Trong khi đó, ông Phong cho
rằng, ông chưa trả 5,5 triệu đồng là do ông Đùa, ông Suối chưa thực hiện
chuyển QSDĐ cho ông. Phần lỗi này do ông Đùa nên ông Phong không đồng ý
huỷ hợp đồng.
Ngược
lại, vợ chồng ông Suối cho rằng, khi ông Đùa sang nhượng đất cho ông
Phong, ông Đùa cho vợ chồng ông Suối mượn 6,3 triệu đồng trả nợ ngân
hàng để lấy giấy CNQSDĐ, còn việc ông Phong sang nhượng đất, do chưa trả
tiền nên vợ chồng ông Suối yêu cầu huỷ hợp đồng.
Toà
sơ thẩm xác định vợ chồng ông Đùa sang nhượng đất của vợ chồng ông Suối
đã trả đủ tiền, nhưng chưa hoàn tất thủ tục sang nhượng đất. Năm 2002,
vợ chồng ông Đùa lại sang nhượng đất lại cho ông Phong.
Toà
cũng xác định vợ chồng ông Suối trực tiếp làm giấy tay chuyển nhượng 2
phần đất (trong đó một phần đã sang nhượng cho ông Đùa) cho ông Phong,
đồng thời ông Phong đã trả tiền cho vợ chồng ông Suối, ông Đùa 20 triệu
đồng (do ông Đùa đại diện ký nhận).
Sau
đó, vợ chồng ông Đùa đưa cho vợ chồng ông Suối 6,3 triệu đồng. Toà cũng
xác định ông Phong có đưa vợ chồng ông Suối 4,2 triệu đồng. Tuy nhiên,
vợ chồng ông Suối không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng, gây thiệt
hại cho ông Phong.
Thời
điểm toà án đưa vụ án ra xét xử (năm 2006), Toà xác định giá đất chênh
lệch so với năm 2002 là trên 10 triệu đồng, nên vợ chồng ông Suối có
trách nhiệm phải trả cho ông Phong.
Việc
ông Phong chưa trả 5,5 triệu đồng khi sang nhượng đất của vợ chồng ông
Đùa, Toà xác định là ông Phong vi phạm hợp đồng. Bởi việc ông Đùa chuyển
nhượng đất cho ông Phong, nhưng lại do ông Suối đứng tên, việc này cả
ông Phong và ông Đùa đều biết là trái luật nhưng vẫn thực hiện, là lỗi
cả hai bên.
Vì
vậy, toà sơ thẩm tuyên hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa vợ chồng ông
Đùa với ông Phong và giữa vợ chồng ông Suối với ông Phong là hợp đồng vô
hiệu, buộc vợ chồng ông Đùa hoàn trả cho ông Phong 15,8 triệu đồng, vợ
chồng ông Suối hoàn trả cho ông Phong số tiền 4,2 triệu đồng tiền chuyển
nhượng đất và 10,999 triệu đồng tiền bồi thường thiệt hại về hợp đồng.
Cả
hai vợ chồng ông Đùa và ông Suối tiếp tục sử dụng phần đất trên. Toà
ghi nhận việc tự nguyện tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ
giữa vợ chồng ông Đùa và vợ chồng ông Suối.
Tuy
nhiên, tại bản án phúc thẩm ngày 21.5.2006, thẩm phán Huỳnh Văn Minh –
Chủ toạ phiên toà cho rằng toà sơ thẩm tuyên hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ
giữa vợ chồng ông Đùa với ông Phong và giữa vợ chồng ông Suối với ông
Phong là hợp đồng vô hiệu là có căn cứ.
Nhưng
việc buộc vợ chồng ông Suối phải bồi thường giá trị chênh lệch phần đất
cho ông Phong, trong khi vợ chồng ông Đùa lại không phải bồi thường là
chưa bảo đảm quyền lợi các bên và thiếu căn cứ pháp luật.
Toà
phúc thẩm cho rằng, việc làm cho hợp đồng vô hiệu, ông Phong là người
có 2/3 lỗi, vì ông là cán bộ địa chính nên biết rõ việc sang nhượng đất
cần phải thực hiện đầy đủ các thủ tục do pháp luật quy định; còn vợ
chồng ông Đùa, vợ chồng ông Suối mỗi người phải chịu 1/3 thiệt hại do
đất tăng giá.
Vì
vậy, Toà xác định vợ chồng ông Đùa phải có trách nhiệm trả cho ông
Phong 18 triệu đồng (trong 54.200.000đ giá trị chênh lệch đất) và tiền
đã nhận khi sang nhượng đất là 15,8 triệu đồng. Tương tự, vợ chồng ông
Suối phải trả 3,6 triệu đồng (trong 10,8 triệu đồng giá trị chênh lệch
đất) và tiền đã nhận khi sang nhượng đất là 4,2 triệu đồng.
Hoàn thành việc thi hành án
Sau
khi bản án có hiệu lực pháp luật, ngày 20.3.2008, Chi cục Thi hành án
dân sự (THADS) huyện Châu Thành ra quyết định thi hành án. Tuy nhiên, do
vợ chồng ông Đùa không tự nguyện thi hành nên ngày 22.4.2009, Chi cục
THADS huyện Châu Thành ban hành quyết định kê biên tài sản là nhà và đất
toạ lạc tại ấp Long Chẩn, xã Long Vĩnh, huyện Châu Thành, sau đó tiến
hành bán đấu giá tài sản. Ngày 2.3.2011, ông Trần Minh Trung trúng đấu
giá tài sản trên.
Do
vợ chồng ông Đùa không giao nhà đất nên ngày 25.7.2011, Chi cục THADS
huyện Châu Thành ra quyết định cưỡng chế buộc vợ chồng ông Đùa giao
quyền sử dụng đất cho ông Trung. Ngày 4.8.2011, Chi cục THADS huyện Châu
Thành tiến hành cưỡng chế giao tài sản cho ông Trung. Sau đó, vợ chồng
ông Đùa tự ý phá khoá để dọn đồ dùng vào nhà ở.
Ngày
6.3.2014, ông Trung làm đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với vợ chồng ông
Đùa. Ngày 7.10.2014, Cơ quan CSĐT Công an huyện Châu Thành ra quyết định
khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can đối với vợ chồng ông Đùa, bà
Hạnh.
Ngày
4.11.2014, bà Hạnh bị Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành bắt tạm
giam. Sau đó, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành ra cáo trạng truy
tố vợ chồng ông Đùa tội “không chấp hành án” theo quy định tại Điều 304
Bộ luật Hình sự.
Tiếp
xúc với chúng tôi, vợ chồng ông Đùa cho biết, vợ chồng ông làm nghề bán
vé số, rất nghèo khổ. Sau khi Chi cục THADS huyện Châu Thành cưỡng chế
giao nhà đất cho ông Trung, vợ chồng ông Đùa đã di dời tài sản sang nhà
của ông Lê Văn Được (anh ruột của bà Hạnh). Quá trình cưỡng chế giao tài
sản do Chi cục THADS huyện Châu Thành chủ trì, ông Đùa, bà Hạnh không
chống lại việc thực hiện quyết định cưỡng chế.
Ban
ngày, vợ chồng ông Đùa đi bán vé số, ban đêm về không có chỗ ở, trong
khi đó ông Trung nhận tài sản nhưng chưa ở nên vợ chồng ông Đùa ra phía
sau nhà tá túc tạm, đến mùa mưa gặp nhiều khó khăn. Trong một cơn mưa
lớn, bà Hạnh đang bị bệnh nên vợ chồng bà “làm liều” phá khoá cửa chính
vào bên trong để tá túc, sau đó ở luôn trong đó.
Khi
ông Trung phát hiện, yêu cầu dọn đồ ra ngoài, trả lại nhà cho ông sử
dụng thì vợ chồng ông Đùa không trả. Lúc này vợ chồng ông Đùa đang trông
chờ vào khiếu nại gửi TAND tối cao xem lại bản án theo trình tự giám
đốc thẩm.
Quá
trình tìm hiểu vụ việc, chúng tôi được biết ngày 17.8.2011 và ngày
30.7.2012, Chi cục THADS huyện Châu Thành có văn bản gửi Phòng Tài
nguyên và Môi trường khẳng định “việc cưỡng chế giao tài sản cho người
mua đấu giá thành đã thực hiện xong”.
Ngày
3.9.2014, Cục THADS tỉnh có văn bản gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công
an huyện Châu Thành tiếp tục khẳng định điều này với nội dung sau: “Quá
trình giải quyết vụ việc, chấp hành viên đã thực hiện các thủ tục tống
đạt, niêm yết các văn bản thi hành án cho đương sự.
Tài
sản bán đấu giá đã được giao xong cho người mua trúng đấu giá là ông
Trần Minh Trung vào ngày 4.8.2011 và được cấp giấy CNQSDĐ vào ngày
10.11.2012 của UBND huyện Châu Thành. Toàn bộ quá trình giải quyết hồ sơ
đều có sự tham gia giám sát việc tuân theo pháp luật của VKSND huyện
Châu Thành và đơn vị này không có kiến nghị, kháng nghị nào. Như vậy,
việc cưỡng chế để bảo đảm thi hành án đối với ông Đùa, bà Hạnh đã giải
quyết xong”.
Chưa phù hợp theo quy định?
Theo
tìm hiểu của chúng tôi, trong trường hợp này, Chi cục THADS huyện Châu
Thành xác định việc thi hành án và giao tài sản xong, có sự giám sát của
cả VKSND huyện Châu Thành, đồng thời không có đơn yêu cầu xử lý hình sự
vợ chồng ông Đùa về hành vi không chấp hành án, vì đã có “hành vi xâm
phạm hoạt động đúng đắn của… thi hành án trong việc bảo vệ quyền lợi của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” được quy
định tại Điều 292 Chương XXII Bộ luật Hình sự.
Như
vậy, trong trường hợp này, ông Trung tham gia tố tụng với tư cách gì
trong vụ án- người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan hay là người bị
hại, trong khi ông Trung là người có đơn yêu cầu xử lý hình sự hành vi
chiếm tài sản là nhà đất của vợ chồng ông Đùa?
Chúng
tôi được biết, trước đây tại huyện Châu Thành có xảy ra một trường hợp
tương tự như trường hợp vợ chồng ông Đùa, nhưng các ngành chức năng
không xử lý hình sự về hành vi tái chiếm tài sản của đương sự này.
Cụ
thể, bà H.L.T gửi đơn đến Báo Tây Ninh khiếu nại về trường hợp vợ chồng
bà N.T.N.T và ông N.T.G tái chiếm tài sản là nhà đất của bà toạ lạc tại
ấp Thanh Thuận, xã Thanh Điền, sau khi cơ quan thi hành án đã bàn giao
tài sản cho gia đình bà khi bản án có hiệu lực pháp luật. Bà T nhiều lần
gửi đơn yêu cầu cơ quan chức năng huyện Châu Thành xử lý hành vi chiếm
tài sản của những người trên nhưng cơ quan chức năng không xử lý.
Theo
tìm hiểu của chúng tôi, khi giải quyết khiếu nại trường hợp này, Cục
THADS tỉnh có công văn báo cáo UBND tỉnh Tây Ninh, trong đó cho biết Văn
bản số 404/TT-THA ngày 24.5.2005 của Thứ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn xử
lý trường hợp đương sự tái chiếm đất khi đã cưỡng chế thi hành án xong
rằng “cơ quan thi hành án giải thích và hướng dẫn đương sự đề nghị UBND
hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét giải quyết…
Đây
là hành vi vi phạm pháp luật phát sinh mới của bên phải thi hành án. Có
thể là hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản của công dân được quy định
tại Điều 137 Bộ luật Hình sự”.
Đức Tiến – Huy Thông
(Còn tiếp)
Ý kiến của Luật sư Nguyễn Thế Tân – Công ty Luật Đắc Tâm (Đoàn Luật sư Tây Ninh)
Điều
304 BLHS quy định: “Người nào cố ý không chấp hành bản án, quyết định
của toà án đã có hiệu lực pháp luật mặc dù đã áp dụng biện pháp cưỡng
chế cần thiết, thì bị cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc bị phạt tù
từ 6 tháng đến 3 năm”.
Tội
phạm này thể hiện hành vi không chấp hành bản án, quyết định của toà án
đã có hiệu lực pháp luật biểu hiện ở 2 dạng: Thứ nhất, dạng không hành
động (như không bồi thường cho người bị thiệt hại; không giao lại nhà,
tài sản chiếm giữ trái phép, không phân chia tài sản chung, không cấp
dưỡng…) theo quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật. Thứ hai,
biểu hiện dưới dạng hành động (như phân tán tài sản, xô xát, giằng co,
chửi bới, xúc phạm danh dự của cán bộ thi hành án khi họ cưỡng chế thi
hành án…).
Mặt
khác, hành vi không chấp hành án chỉ bị coi là phạm tội, nếu trước đó
người này đã bị các cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế
cần thiết (như kê biên, niêm phong tài sản; cưỡng chế thi hành án, phạt
hành chính…) nhưng vẫn không chịu thi hành bản án, quyết định của toà
án.
Rõ
ràng trong vụ án này, các bị can không có hành vi nào thuộc các trường
hợp nêu trên mà vẫn bị truy tố về tôi danh này (?). Trước đó, các bị can
đã bị cơ quan Thi hành án kê biên tài sản là ngôi nhà duy nhất bán đấu
giá, và thi hành xong bản án phúc thẩm của toà án và các cơ quan cũng đã
tiến hành cưỡng chế bàn giao tài sản cho người trúng đấu giá. Người
trúng đấu giá đã nhận tài sản và mua ổ khoá khoá cửa nhà lại. Theo tôi,
trong trường hợp này các bị can không thể phạm tội “không chấp hành án”
theo quy định của BLHS hiện hành.
Để đừng xảy ra án oan sai
Kỳ 3: Vụ án ông Trần Công Nè phạm tội “không chấp hành án”
Liên ngành nói không, rồi lại nói... có (!?)
Cập nhật ngày: 11/04/2015 09:41
(BTNO) - Số báo thứ bảy tuần trước, chúng
tôi đã có bài phản ánh về vụ án hai vợ chồng ông Tạ Văn Đùa ngụ ở Châu
Thành bị Cơ quan Điều tra (CSĐT) Công an huyện Châu Thành khởi tố về
hành vi “không chấp hành án”. Tuy nhiên, Thẩm phán Phạm Công Hùng- Toà
phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM cho rằng, nếu căn cứ vào diễn biến sự
việc thì vợ chồng ông Đùa không phạm tội, bởi hành vi của họ không thoả
mãn các yếu tố cấu thành một tội phạm.
Trong
số báo kỳ này, chúng tôi xin phân tích vụ án ông Trần Công Nè, cũng
phạm tội “không chấp hành án” cách đây 3 năm. Hiện nay, vợ chồng ông Nè
liên tục có đơn gửi các cơ quan có thẩm quyền đề nghị xem xét lại bản
án, vì vụ án có dấu hiệu oan sai.
Ông Trần Công Nè trình bày sự việc với phóng viên.
Không ký tên... là phạm tội không chấp hành án (!?)
Bản
án số 162/2011/HSST ngày 15.12.2011 của TAND Thị xã (nay là thành phố
Tây Ninh) cáo buộc ông Trần Công Nè (ngụ Suối Dây – Tân Châu) phạm tội
“Không chấp hành án”.
Ông
Nè và ông Ngô Thành Thảo có mối quan hệ làm ăn kinh tế. Năm 1999, ông
Nè nợ ông Thảo gần 200 triệu đồng, được TAND huyện Tân Châu ra Quyết
định số 40/DSST công nhận sự thoả thuận giữa các đương sự, trong đó ông
Nè có trách nhiệm trả số tiền trên cho ông Thảo bằng hình thức giao căn
nhà 61,20m2 trên phần đất diện tích 152,6m2 tại phường 2, Thị xã.
Sau
đó, ông Thảo làm đơn yêu cầu thi hành án, cơ quan Thi hành án dân sự
(THADS) huyện Tân Châu (nay là Chi cục THADS huyện Tân Châu) yêu cầu ông
Nè lập thủ tục sang tên nhà đất cho ông Nguyễn Văn Đính, nhưng ông Nè
không thực hiện.
Năm
2008, THADS tỉnh (nay là Cục THADS tỉnh) rút hồ sơ về tỉnh thi hành.
Ngày 18.4.2008, THADS tỉnh tổ chức cưỡng chế giao nhà đất cho ông Đính.
Ngày 19.4.2008, ông Nè cùng gia đình đến chiếm lại căn nhà. Bản án sơ
thẩm tuyên ông Nè phạm tội “không chấp hành án”, xử phạt một năm tù
giam. Ông Nè kháng cáo.
Tại
toà phúc thẩm ngày 29.2.2012, thẩm phán Mai Văn Triến (TAND tỉnh) chủ
toạ phiên toà cho rằng, mặc dù được các cơ quan có thẩm quyền giải quyết
khiếu nại và đã áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết nhưng ông Nè vẫn
cố tình không chấp hành án và “có hành vi không ký tên vào biên bản
cưỡng chế”, đến chiếm lại nhà, nên toà sơ thẩm buộc tội “không chấp hành
án” theo Điều 304 BLHS “là có căn cứ, không oan”.
Công an, viện kiểm sát, toà án nói không phạm tội
Theo
tìm hiểu của phóng viên, khi ông Nè quay lại chiếm nhà, ngày 6.2.2009,
THADS tỉnh có công văn gửi cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT), Công an Thị
xã (nay là Công an thành phố Tây Ninh) đề nghị khởi tố hình sự đối với
ông Nè về hành vi “không chấp hành án”.
Qua
điều tra, Thượng tá Huỳnh Thanh Hồng- Phó Thủ trưởng cơ quan CSĐT, CATX
ký báo cáo kết thúc điều tra xác định: “đơn đề nghị phục hồi hiệu lực
thi hành án của ông Ngô Thành Thảo ngày 28.6.2008 tại bang California,
nước Mỹ chỉ được công chứng tại Văn phòng của công chứng viên Lam Thai
chứ không qua Tổng lãnh sự hoặc Đại sứ quán Việt Nam tại Mỹ là chưa đủ
căn cứ để khôi phục thời hiệu yêu cầu thi hành án…
Quyết
định công nhận sự thoả thuận giữa các đương sự là ông Trần Công Nè và
ông Ngô Thành Thảo ngày 15.7.1999 của TAND huyện Tân Châu là vi phạm
nghiêm trọng Bộ luật Tố tụng Dân sự, vì không đưa vợ ông Nè là bà Lan
vào tham gia tố tụng…
Quyết
định khôi phục thời hiệu thi hành án của THADS huyện Tân Châu xét đơn
khôi phục thi hành án của ông Ngô Thành Thảo, ngụ tại Hoa Kỳ nhưng ghi
địa chỉ thường trú trước ngày 16.9.2006: X6/58 ấp Long Yên, xã Long
Thành Nam, huyện Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh là không có cơ sở.
Xét
thấy hành vi của ông Trần Công Nè không cấu thành tội phạm, Cơ quan
CSĐT, CATX Tây Ninh báo cáo kết thúc điều tra, ra quyết định không khởi
tố vụ án hình sự theo Khoản 2 Điều 107 BLTTHS”.
Trên
cơ sở báo cáo kết thúc điều tra trên, ngày 23.4.2009, VKSND Thị xã có
Văn bản số 162/VKS-HS kiểm sát quyết định không khởi tố vụ án của Cơ
quan CSĐT CATX do Phó Viện trưởng VKSND Thị xã Ngô Văn Lập ký cũng nêu
rõ: “Hành vi của ông Trần Công Nè chưa đủ cơ sở cấu thành tội “không
chấp hành án” theo Điều 304 BLHS nên cơ quan CSĐT CATX ra quyết định
không khởi tố vụ án là đúng theo quy định tại Khoản 2 Điều 107 của
BLHS”.
Hơn
một năm sau, vào tháng 4.2010, Cơ quan CSĐT CATX nhận được đơn của ông
Đính, do Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Tây Ninh chuyển với nội dung tố cáo
ông Nè chiếm giữ trái phép nhà và đất.
Sau
quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT CATX có văn bản báo cáo kết quả, do
Trung tá Nguyễn Thanh Dũng ký, trong đó nêu, qua xem xét hồ sơ giải
quyết dân sự trước đây giữa ông Thảo, ông Đính, ông Nè và lời trình bày
của những người có liên quan, thấy vụ việc phức tạp, ngày 24.5.2010,
liên ngành Thị xã tổ chức họp để bàn thống nhất giải quyết đơn của ông
Đính.
Cũng
trong báo cáo này, ý kiến của Cơ quan CSĐT CATX như sau: ông Đính được
ông Thảo uỷ quyền nhận căn nhà. Thực tế, THADS tỉnh đã cưỡng chế lập
biên bản giao nhà cho ông Đính xong. Sau đó ông Nè vào tái chiếm ở luôn
cho đến nay, cần xem xét hành vi chiếm giữ trái phép của ông Nè.
Còn
ý kiến của VKSND Thị xã và TAND Thị xã: căn cứ cuộc họp liên ngành tỉnh
ngày 11.3.2010, việc ông Thảo uỷ quyền cho ông Đính không đúng luật vì
không qua Lãnh sự quán tại Mỹ nên việc uỷ quyền không hợp pháp, dẫn đến
việc ông Đính nhận căn nhà do THADS tỉnh giao là không đúng.
Hiện
tại căn nhà ông Nè còn đứng tên chủ quyền, ông Đính không có liên quan
gì đến căn nhà trên. Vì vậy, ông Đính tố cáo ông Nè chiếm giữ trái phép
căn nhà trên là không có cơ sở.
Theo
nội dung cuộc họp liên ngành tỉnh ngày 11.3.2010, nếu ông Đính có khiếu
nại thì chuyển đơn cho Cục THADS tỉnh giải quyết, cho nên liên ngành
Thị xã thống nhất chuyển đơn của ông Đính cho Cục THADS tỉnh.
Tuy
nhiên, hơn một năm sau, ngày 3.6.2011, ông Nè bị Cơ quan CSĐT CATX bắt
tạm giam, sau đó toà án xét xử tuyên ông Nè phạm tội “không chấp hành
án”.
Cần kiến nghị xem xét lại bản án
Sau
khi chấp hành án phạt tù, ông Nè liên tục gửi đơn đến các cơ quan pháp
luật kêu oan. Ông cho rằng, ông không có hành vi xâm phạm hoạt động đúng
đắn của cơ quan Thi hành án. Bởi vì, quá trình cưỡng chế thi hành án
ông không có hành vi chống đối, việc thi hành án đã xong.
Ông
Nè cũng cho rằng, Chi cục THADS huyện Tân Châu cho khôi phục thời hiệu
thi hành án là chưa đúng quy định. Mặt khác, tài sản nhà đất là tài sản
chung của vợ chồng ông, nhưng toà án không đưa vợ ông là bà Lý Thị Lan
vào tham gia tố tụng là vi phạm tố tụng.
Khi
tổ chức thi hành án, giấy CNQSDĐ do vợ chồng ông đứng tên có diện tích
lớn hơn diện tích phải thi hành ghi trong bản án, nhưng THADS tỉnh vẫn
không xem xét, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định.
Quá trình sinh sống, vợ chồng ông Nè xây dựng, cơi nới thêm nhưng khi
tiến hành cưỡng chế, cơ quan THADS không xem xét yêu cầu các bên thoả
thuận theo quy định. Quá trình tiến hành tố tụng, Cơ quan CSĐT vi phạm
tố tụng…
Được
biết, khi vợ ông Nè khiếu nại, ngày 2.1.2013, Tổng cục THADS thuộc Bộ
Tư pháp đã có công văn yêu cầu THADS tỉnh sao gửi toàn bộ hồ sơ thi hành
án của ông Nè. Ngày 1.4.2014, Tổng cục THADS có văn bản gửi TAND tỉnh
Tây Ninh cho biết: “Do quyết định của bản án tuyên chưa rõ giao cho ai
được nhận tài sản nên không có cơ sở để Cơ quan THADS ra quyết định thi
hành án theo đơn yêu cầu thi hành án…”.
Việc
các cơ quan tố tụng điều tra đi điều tra lại, sau đó có văn bản kết
luận không có căn cứ xác định ông Nè phạm tội “không chấp hành án” và ra
quyết định không khởi tố vụ án, nhưng sau đó Cơ quan CSĐT lại bắt giam
ông Nè… là điều không bình thường.
Thiết
nghĩ, các cơ quan có trách nhiệm cần có văn bản kiến nghị Chánh án TAND
tối cao xem xét lại bản án theo thủ tục giám đốc thẩm. Bởi việc sai mà
không sửa sai là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến khiếu nại kéo
dài, gây mất an ninh trật tự.
Đức Tiến
Ông Võ Văn Tài- giảng viên Phân hiệu Trường đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát tại thành phố Hồ Chí Minh cho rằng:
Thứ nhất, về căn cứ pháp lý của việc cưỡng chế thi hành án: Vào
ngày 15.7.1999, TAND huyện Tân Châu ra quyết định công nhận sự thoả
thuận giữa các đương sự là ông Nè và ông Thảo. Quyết định này có hiệu
lực ngay, nên thời điểm này cũng là thời điểm làm phát sinh quyền yêu
cầu thi hành án của ông Thảo. Điều 21 Pháp lệnh THADS 1993 hay Điều 25
Pháp lệnh THADS 2004 về thời hiệu yêu cầu thi hành án được quy định như
sau:
“1.
Trong thời hạn ba năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp
luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu Cơ
quan thi hành án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án…
2.
Nếu người yêu cầu thi hành án chứng minh được do trở ngại khách quan
hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời
hạn thì thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng đó
không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án”.
Theo
Khoản 1 đã viện dẫn trên, đến hết ngày 15.7.2002, nếu ông Thảo không có
đơn yêu cầu thi hành án, thì sau thời gian ấy, ông Thảo không còn quyền
yêu cầu nữa, vì thời hiệu thi hành án đã hết. Tuy nhiên, theo quy định
tại khoản 2, ông Thảo vẫn có thể tiếp tục yêu cầu thi hành án nếu ông
Thảo chứng minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả
kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn. Việc ông Thảo qua
Mỹ sinh sống không phải là trở ngại khách quan làm cho ông không thể yêu
cầu thi hành án. Ông Thảo có thể sử dụng các phương tiện khác để thực
hiện việc yêu cầu thi hành án đúng thời hạn theo luật định. Cơ quan Thi
hành án quyết định khôi phục việc thi hành án như đã nêu trên tôi e rằng
chưa đúng nội dung và tinh thần của điều luật. Khi quyết định khôi phục
thi hành án không đúng luật sẽ làm cho quyết định cưỡng chế thi hành án
mất căn cứ pháp lý của nó.
Kết
hợp với việc người phải thi hành án là ông Nè khiếu nại về diện tích
nhà đất mà ông bị buộc phải giao cho người được thi hành án (ông Thảo uỷ
quyền cho ông Đính) lớn hơn diện tích nhà đất mà theo ghi nhận trong
quyết định công nhận sự thoả thuận giữa các đương sự, cơ quan THADS chưa
giải quyết khiếu nại của ông Nè một cách thấu đáo mà tiến hành cưỡng
chế là vội vàng.
Thứ hai, về tố tụng hình sự: Ông
Nè quay lại chiếm căn nhà đã bị cưỡng chế về mặt pháp lý là sai. Nhưng
việc dùng pháp luật hình sự để xử lý hành vi sai trái trên của ông Nè là
quá nặng, vì hành vi ấy là sự phản ứng của người dân trước sự việc mà
họ cho rằng cơ quan có thẩm quyền đang thực hiện một công vụ trái luật.
Hơn nữa, khi vụ việc được chuyển giao sang cơ quan điều tra và chính cơ
quan này cho rằng hành vi của ông Nè không cấu thành tội phạm và đã ra
quyết định không khởi tố vụ án hình sự theo Khoản 2 Điều 107 BLTTHS.
Quyết định không khởi tố vụ án hình sự trên đã được VKS cùng cấp chấp
nhận, về mặt pháp lý phải xem như vụ việc đã được giải quyết xong.
Nhận xét
Đăng nhận xét