(ĐC zưu tầm trên NET)
Chuyện về “công tử hảo hán” Nam bộ - Cậu Hai Miêng
Huỳnh Công Miêng sanh năm 1857, là con trai của tên Việt gian phản bội
Huỳnh Công Tấn (kẻ đã chỉ điểm cho Pháp sát hại Bình Tây Nguyên soái
Trương Định). Hai Miêng là nhân vật nổi tiếng khắp vùng miền Đông Tây
Nam bộ, không phải vì tài năng mà lại vì tính cách của ông ta tạo nên
hai chiều dư luận rất khác nhau.
Theo những tài liệu còn lưu giữ ở Thư viện Đại học
quốc gia TP.HCM thì đây là nhân vật phục vụ đắc lực cho nhà cầm quyền
Pháp trong công cuộc chinh phục Nam Kỳ: … Năm 17 tuổi, Huỳnh Công Miêng,
Trần Bá Hựu (em ruột Trần Bá Lộc) Lê Công Phụng, con nuôi của lãnh binh
Tấn, được qua Pháp du học Trường La Seyne gần Toulouse.
Sau
4 năm, cả ba không đỗ đạt bằng cấp gì cả, nhưng nói trôi chảy tiếng
Pháp, về nước được Pháp cho làm thông ngôn, sau thăng ông Phán, Tri
huyện hàm. Đợt sau cậu Hai Miêng có Lê Công Hoàng, Nguyễn Quang Nghiêm
(anh em cô cậu với Trần Bá Lộc) đều đậu Tú tài, hồi hương liền được bổ
làm Tri huyện ngay.
Gia đình một Hội đồng người Việt thời Pháp thuộc ở Nam kỳ (ảnh mang tính minh họa cho bài viết. Nguồn: Internet)
Trường
hợp cậu Hai Miêng lúc mới về nước, Pháp cho cậu phục vụ dưới trướng
Tổng đốc Trần Bá Lộc, hy vọng cậu thẳng tay đàn áp các cuộc khởi nghĩa
lập công. Khi Lộc đem quân ra Bình Thuận, Khánh Hòa, Hai Miêng cũng có
mặt trong đoàn quân đó. Lần này Lộc lập kế bắt mẹ của lãnh tụ nghĩa quân
tra khảo, đe dọa giết để Mai Xuân Thưởng về hàng. Kế sách ấy tuy cũ,
nhưng đã gây tàn độc dã man.
Ở một khía cạnh
khác, với những truyền miệng dân gian thì đây là một công tử hảo hán,
biết bênh vực dân lành. Người ta truyền rằng: Pháp kích động cậu Hai
Miêng lập công, nhưng công việc ấy không hợp với bản tính hào phóng của
cậu. Cậu vốn ghét những kẻ ỷ mạnh hiếp yếu, bênh vực người cô thế, và
rất oán ghét bọn cường hào ác bá. Chán cảnh bị ràng buộc, làm tay sai
cho Pháp, cậu trả chức tước Pháp ban cho để sống cuộc đời của một kẻ miễn tử lưu linh,
có nghĩa là được miễn sưu thuế, đi đâu mặc tình, không ai được phép hỏi
giấy, ngồi ghe hầu chu du khắp Nam Kỳ lục tỉnh. Cậu Hai Miêng sống cuộc
đời ngoại hạng, vượt xa các công thức đương thời. Lúc mới về nước, cậu
chỉ thích võ nghệ, luyện côn quyền, múa kiếm. Hàng ngày cậu đi đá gà,
uống rượu, hối me (một thứ cờ bạc) thả giàn,…
Cảnh một nhà giàu ở Mỹ Tho (Tiền Giang) thời Pháp thuộc (ảnh mang tính minh họa cho bài viết. Nguồn: Internet).
Dân
gian kể lại rằng có một lần cậu vào thăm quan tham biện Mỹ Tho (tương
đương chức tỉnh trưởng bây giờ) với thái độ hống hách khác thường, biểu
hiện trong hai câu thơ sau:
Bước vô trường án, vỗ ván cái rầm/ "Búa xua" (Bon jour) ông tham biện, bạc tiền ông để đâu?
Hành động ấy chứng tỏ hành vi ngang tàng của cậu, không nể bất cứ ai, kể cả viên tỉnh trưởng người Pháp.
Cũng
mạch cảm xúc đó, dân gian gán cho cậu Hai Miêng cách hành xử và bản
lĩnh của một kẻ khác thường. Có lần cậu đi xuống Giồng Tháp để hốt me,
nhiều đàn em theo để mang một bao bạc giấy, thứ bạc con cò, rất có giá
trị hồi cuối thế kỷ 19. Cậu Hai Miêng cầm chén hốt me, có các thủ hạ là
Bảy Danh, Ba Ngà, Tám Hổ lo vùa tiền và chung tiền.
Sòng
me nào có cậu cũng ăn thua rất lớn. Lúc sòng bạc tan, cậu ra về, đi
ngang qua một vườn xoài, thấy nhiều trái xoài vừa chín ửng vàng, trông
rất ngon lành, cậu kêu chủ nhà hỏi mua. Chủ nhà bằng lòng, đi lấy cây
sào tới hái. Cậu cười, nói: Để tôi hái cho, khỏi cần sào!
Nói xong, cậu giậm chân, nhún mình, nhảy lên bứt một lượt mấy trái xoài chín cây. Ai nấy đều khen ngợi.
Trong Thơ Cậu Hai Miêng – tác phẩm khuyết danh, có đoạn mở đầu như sau:
Nam Kỳ có cậu Hai Miêng/ Con quan lớn Tấn ở miền Gò Công.
Cậu Hai là bực anh hùng/ Ăn chơi đúng bực anh hùng liệt oanh!
Nam Kỳ lục tỉnh nổi danh…
Người
Gò Công lớn tuổi, hẳn ai cũng nhớ chuyện cậu Hai Miêng ra tay đánh cặp
rằn Tây vì ức hiếp dân phu đào Ao Trường Đua. Khi Pháp cho đào Ao Trường
Đua (xung quanh là đường vòng đua ngựa), bắt dân phu trong tỉnh Gò Công
phục dịch, làm sưu cực khổ. Họ cưỡng bách lao động như tù khổ sai: ban
ngày đào đất, đắp lộ, ban đêm ăn ngủ tại chỗ. Hết toán này tới toán khác
thay phiên, còn bị cặp rằn (tức giám thị) đánh đập họ tàn nhẫn nhằm đốc
thúc công việc mau hoàn thành.
Một buổi sáng,
cậu Hai Miêng đi ngang qua đó, thấy cảnh làm việc quần quật mà còn bị
đánh như trâu ngựa. Nổi máu anh hùng, cậu liền thộp ngực một tên cai mã
tà hung ác, đấm đá luôn. Cai Phi, cặp rằn đều bị cậu cho ăn mấy bạt tai,
rồi cậu bắt họ đội đất chạy lên chạy xuống như mấy người dân đang bị
hành hạ. Tay quất roi, miệng cậu quát: Tao đánh chúng bây coi tụi bây có đau như dân phu hay không?
Chuyện
về công tử Hai Miêng còn được đẩy xa tới mức hồi trước ở miền Nam, thấy
ai ăn ở tánh nết ngang tàng, ông bà ta thường nói:
Cậu Hai, cậu chớ có lo/ Hết tiền, cậu cứ xuống kho lấy xài.
Lại
một câu chuyện khác về chuyện đụng độ giữa cậu Hai Miêng với bọn cường
hào ác bá mới nổi lên ở xứ Nam Kỳ thuộc địa. Có một lần đoàn ghe hầu mấy
chiếc của cậu Hai Miêng ngao du tới xứ Bạc Liêu. Lúc đó nhằm mùa khô,
nhiều ghe chài đến ăn lúa tại nhà các đại điền chủ. Khi ấy,
dưới bến sông, trước nhà anh em ông chủ Thời, chủ Vận diễn ra cảnh vác
lúa xuống ghe rộn rịp như cái chợ. Ở địa phương này, dân chúng ai cũng
ngán hai anh em chủ Thời, chủ Vận. Ông chủ Thời có một cô con gái tên là
cô Hai Sáng. Dân chúng khắp trong vùng này không ai dám nói đến chữ Sáng như buổi sáng; hồi sáng mai, mà phải nói lại buổi sớm; sớm mơi... cũng đủ biết thế lực hai ông ấy ra sao.
Khi
mấy chiếc ghe hầu của cậu Hai Miêng do thủ hạ chèo đi ngang qua, vô
tình ông chủ Thời trông thấy, kêu một đứa bạn (người ở đợ) gần đó, hỏi
lớn: Ghe của ai đi dưới sông đó bây?
Nghe
câu hỏi phách lối ấy, cậu Hai Miêng tức giận. Cậu cho ghe ghé lại. Thấy
cô Hai Sáng đang đứng chơi dưới bến, cậu Hai Miêng liền cho tay chân bộ
hạ bắt cô ta trói lại, và kéo lên cột buồm.
Khi
biết đó là cậu Hai Miêng, quan tham biện Pháp còn nể, ông chủ Thời
xuống nước nhỏ, năn nỉ. Ông thương lượng với cậu Hai Miêng xin chuộc
cô Hai Sáng bằng một bao cà ròn giấy bạc. Khi ông chủ Thời năn nỉ xin
tha cho cô Hai Sáng, cậu Hai Miêng bằng lòng, mở trói cho cô Hai Sáng,
rồi gia nhân ôm bao cà ròn đầy nhóc giấy bạc xuống ghe, chèo đi. Từ đó,
ông chủ Thời, chủ Vận bớt hống hách với dân làng.
Tuy
có học bên Tây, nhưng cậu Hai Miêng cũng có ít nhiều tác phong của bọn
du côn do ảnh hưởng của Thiên địa hội. Ông cai tổng Lê Quang Chiểu,
người Phong Điền, Cần Thơ, có soạn quyển Quốc âm thi hiệp tuyển, trong đó, có bài thơ ca ngợi cậu Hai Miêng:
Số hệ ai làm hỡi cậu Miêng?/ Ba mươi tám tuổi du huỳnh tuyền.
Sao lờ Bến Nghé xiêu người ngó/ Khói tỏa Cầu Kho thăm vợ hiền.
Đúng bực phong lưu trời vội dứt/ Những trang hào kiệt đất không kiêng.
Cho hay khuất bóng danh còn tạc/ Nhựt báo đòi nơi đã khắp truyền.
Đến đây có lẽ chúng ta cũng dừng lại để thử tìm xem vì sao dân gian lại hư cấu hình tượng nhân vật này như vậy?
Có lẽ là khi Tây chiếm Nam Kỳ, mượn chuyện cậu Hai Miêng, các sĩ phu yêu nước tạo ra một nhân vật ngang tàng như
vậy vừa kích động tâm lý xem thường Tây và thỏa mãn ẩn ức nỗi niềm mất
nước. Người bình dân chân lấm tay bùn, nghe chuyện lưu truyền nọ có phần
phù hợp với tính cách hảo hán, hành xử nghĩa hiệp kiểu như nhân vật Võ
Tòng, … trong truyện Tàu nên góp phần phát tán.
Cõ
lẽ từ tâm lý ấy, nên người bình dân đã cố tạo ra một hình tượng không
tì vết. Cậu Hai Miêng trở thành một thứ thần tượng trong người bình dân
khắp cõi Nam Kỳ lục tỉnh thời bấy giờ.
Và cậu
Hai Miêng trong những câu chuyện truyền miệng kia không hẳn là Huỳnh
Công Miêng ngoài đời. Có chăng chỉ là bóng dáng, còn hành động, tính
cách được các tác giả tạo ra nó nhằm mục đích khác, ý tưởng khác nhưng
lại vô tình tạo nên sự lập lờ khó phân biệt rạch ròi cho hậu thế chăng?
Cuối
bài viết này chúng tôi xin cung cấp thông tin Huỳnh Công Miêng mất năm
1895, được an táng trong một ngôi mộ lớn nay nằm trên đường là Trần Đình
Xu, TP.HCM.
Gã giang hồ có 'kim bài miễn tử' được thờ ở Sài Gòn
Công tử Hai Miêng, giang hồ ngang tàng nhất Sài Gòn
hơn 120 năm trước, được dân chúng xem như anh hùng và là hình tượng
trượng nghĩa đất Nam Kỳ xưa.
Rộng hơn 1.500 m2, đình Nhơn Hòa trên đường Cô Giang, phường Cầu Ông
Lãnh, quận 1 (đối diện chợ Cầu Muối) là nơi thờ Thành Hoàng, các vị Tiền
Hiền, Hậu Vãng...
Ngoài việc thờ tự những người có công khai lập vùng đất, đình cũng
hương khói cho bài vị sơn son thiếp vàng, chạm trổ rồng phượng của Huỳnh
Công Miêng (1862-1899).
Tương truyền, ông là gã
giang hồ ngang tàng, giỏi võ và là hình tượng anh hùng xứ Nam Bộ cách nay hơn 120 năm. Người dân thường gọi
ông với cái tên thân mật: cậu Hai Miêng.
Cậu Hai Miêng lúc nhỏ với cha mẹ (ngồi).
Huỳnh Công Miêng là con lãnh binh Huỳnh Công Tấn - tay sai đắc lực của
thực dân Pháp trong việc đàn áp các nghĩa quân. Dân xứ Nam Kỳ thời đó
coi lãnh binh Tấn như cái gai trong mắt.
Gia đình có thế lực, nhiều tiền của, năm Hai Miêng 17 tuổi được cha
đưa sang Pháp học trường La Seyne gần Toulouse. Học 4 năm, không đỗ bằng
cấp gì nhưng nói trôi chảy tiếng Pháp nên cậu Hai về nước được làm
thông ngôn, sau làm tri huyện - quan đứng đầu trong huyện.
Tiếp đó, Pháp cho cậu phục vụ dưới trướng Tổng đốc Trần Bá Lộc với
mong muốn Huỳnh Công Miêng giống cha đàn áp những người Việt chống đối
sự cai trị. Khi Bá Lộc đem quân ra Khánh Hòa dẹp khởi nghĩa Mai Xuân
Thưởng, Hai Miêng cũng đi theo.
Vốn hay bênh vực kẻ yếu, ghét cường hào ác bá nên khi chứng kiến tổng
đốc bắt mẹ Mai Xuân Thưởng để người này ra hàng, Hai trả chức cho Pháp,
chọn cuộc sống giang hồ ngồi ghe chu du khắp Nam Kỳ lục tỉnh.Thừa hưởng
gia tài đồ sộ của cha để lại, Hai Miêng phá phách, coi tiền như rác.
Hằng ngày cậu đi đá gà, uống rượu, hối me (một hình thức cờ bạc)...
Công tử Hai Miêng được giang hồ gọi là "miễn tử lưu linh" bởi cậu
được miễn sưu thuế, đi đâu mặc tình không ai được phép "hỏi giấy"...
Vang danh khắp nơi, từ dân thường đến quan lại đều tỏ ra e ngại công tử
chịu chơi này.
Cậu
Hai như bao gã giang hồ khác thích võ nghệ, luyện côn quyền, múa kiếm
và rất thông thạo các món ấy. Lúc đi đánh bạc ở Đồng Tháp ngang qua vườn
xoài, cậu hỏi mua. Chủ nhà nói chờ để lấy cây sào tới hái, công tử chỉ
cười rồi nhún mình phóng lên cây vặt liền mấy quả chín.
Khu vực Cầu Kho, xã Tân Hòa xưa, nhà của cậu Hai Miêng. Ảnh: Panoramio.
Cuối thế kỷ 19, người Nam Kỳ trong các hội hè thường kể nhiều giai thoại
về cậu Hai Miêng, trong đó có chuyện Pháp cho đào ao giữa trường đua
ngựa bắt dân phu tỉnh Gò Công phục dịch. Một lần Hai Miêng đi ngang qua
đã nổi nóng khi thấy dân phu làm việc nặng nhọc còn bị đánh. Cậu xông
vào nắm đầu tên cai mã tà đấm đá, những tên còn lại đều bị bạt tai. Nhóm
này bị công tử giang hồ bắt đội đất thay dân chạy lên chạy xuống. Sẵn
roi, cậu thẳng tay quất, dân phu Gò Công được dịp hả hê. Từ đó họ bớt bị
hà hiếp.
Ở Bạc Liêu thời ấy dân chúng rất ngán hai địa chủ tên Thời và Vận.
Trong đó, ông Thời có con gái tên Hai Sáng rất hung ác, xem dân như cỏ
rác nên không ai dám nói đụng đến tên cô. Các từ "buổi sáng", "hồi sáng
mai" đều phải đổi sang "buổi sớm", "sớm mơi"... Hay chuyện, một
lần đi thuyền ngang nhà địa chủ Thời, cậu Hai Miêng tức khí bắt cô Hai
Sáng trói trên cột buồm. Nghe danh cậu Hai, ông Thời phải lần mò xuống
thuyền xin tha và chuộc con gái bằng cả bao tiền. Từ đó, cả ông này và
chủ Vận đều bớt hống hách với dân làng.
Ngay cả với người Pháp, Hai Miêng cũng ương ngạnh, không khuất phục.
Những lúc túng tiền cậu ghé dinh tham biện, chủ tỉnh "mượn đỡ" để xài.
Nể tình cha cậu, các quan Tây cũng giúp đỡ ít nhiều, có người thành quen
nên khi thấy mặt cậu Hai, bảo: "Tiền dưới kho cậu xuống mà lấy".
Khác với cha, cậu Hai Miêng ăn ở rất rộng rãi với mọi người, hay chia
sẻ tiền của với anh em, bè bạn và những kẻ dưới tay. Vì điều này, du
côn khắp xứ đều kiêng nể, kính phục, cậu tới đâu cũng được dân ủng hộ,
thương mến.
Tại Gò Công và vùng Sài Gòn Chợ Lớn, nhiều thơ và bài vè về Hai Miêng
xuất hiện và lưu truyền khá phổ biến. Dân gian coi gã giang hồ ngang
dọc đầy khí khái là hình tượng tự do tự tại mà người dân hướng đến giữa
thời buổi nhiễu nhương.
"Nam Kỳ có cậu Hai Miêng, con quan lớn Tấn ở miền Gò Công. Cậu Hai là bực anh hùng, ăn chơi đúng bực anh hùng liệt oanh! Nam Kỳ lục tỉnh nổi danh…"
Đình Nhơn Hòa, nơi thờ tự gã giang hồ Hai Miêng. Ảnh: S.H.
Cuộc đời lừng lẫy giang hồ, lấy bài bạc làm tiêu khiển nhưng cuộc đời
Hai Miêng cũng kết thúc vì nó. Năm 1899, cậu Hai đánh bài với giang hồ
Kèo Vàng (người Hoa) ở bến Bình Đông. Bị thua khá nhiều, cậu Hai cay cú
đập bàn đòi lại tiền. Một cuộc "tả lùi thùi" (đả lôi đài) không công
bằng xảy ra sau đó khiến công tử giỏi võ và có "kim bài miễn tử" bị chục
người đánh tơi tả.
Bị ném ra đường, Hai Miêng "dính" thêm trận phục kích của 40 tay đâm thuê chém mướn do "cô Hai Sáng" từ Bạc Liêu thuê để
trả thù. Chúng sẵn dao xắt chuối tập kích khiến cậu Hai Miêng phải bỏ mạng - chấm dứt cuộc đời khảng khái, đầy giai thoại ở tuổi 38.
Dân khu vực quanh vùng Cầu Muối vì tôn kính gã giang hồ trượng nghĩa
đã đưa bài vị cậu vào thờ cúng ngay trong ngôi đình của làng. Hình tượng
Hai Miêng cũng là khởi đầu cho tính cách người Sài Gòn hào hiệp, sẵn
lòng giúp đỡ người khốn khó.
Theo VnExpress
Những Phú Hộ Lừng Danh Nam Kỳ - Huỳnh Công Tấn Và “Cậu Hai Miêng” - Hứa Hoành
Huỳnh Công Tấn và “cậu hai Miêng”: Cây đắng sanh trái ngọt?
Về cuộc kháng chiến chống Pháp của anh hùng Trương Công Định, từ trước
đến nay nhiều sách báo đề cập đến, viết đi viết lại nhiều lần, chúng tôi
sợ nói thêm làm nhàm chán độc giả. Hơn nữa, yếu tính của những bài viết
có liên quan đến lịch sử phải là những khám phá mới lạ. Ở đây chúng tôi
nói đến một nhân vật bị người đòi lên án, nguyền rủa nhiều nhất là Lãnh
Binh Huỳnh Công Tấn (1838-1875) mà ngay cả những bài học lịch sử cũng
nói rất ít về bản tính, con người của ông ta do quan niệm “văn dĩ tải
đạo” (văn chương chuyên chở đạo lý).
Theo truyền thuyết của người địa phương kể lại thì Huỳnh Công Tấn là hậu
duệ, thuộc hạ của nhóm di thần nhà Minh, tới vùng Cù Úc, Định Tường vào
cuối thế kỷ 17. Huỳnh Công Tấn làm tội phản phúc, đã sát hại chủ tướng
của mình để tranh đoạt quyền lực vinh thân phì gia. Một nguồn tin khác
cho rằng, “viễn tổ của Huỳnh Công Tấn gốc Đàng Ngoài (tỉnh Quảng Bình)
di dân vô Nam thời Trịnh Nguyễn phân tranh. Hai thuyết có sự khác biệt,
nhưng có một điều giống nhau về cá tính: “Tấn dốt nát, hiếu sát, nhiều
tham vọng”.
Theo “Hồ sơ lãnh binh Huỳnh Công Tấn” do nhà văn Sơn Nam kể lại thì
chính Tấn đã kể lại với Paulin Via ngày 31-7- 1869 thì “Tấn bị Pháp bắt
trong một trận hành quân, và sau đó hắn xin đoái công chuộc tội”. Nhưng
theo cụ Nguyễn Văn Vực, một người bạn vong niên của chúng tôi, một người
chuyên nghiên cứu chuyện xưa tích cũ ở miền Nam, thì “Tấn là người có
tật đam mê đàn bà con gái, thường trêu chọc và có những hành vi bất
chánh với phụ nữ, nên có một lần bị chủ tướng là Trương Công Định tát
tai để cảnh cáo”. Tấn căm thù để bụng và chờ dịp trả thù. Tấn bí mật
liên lạc với một người quen cũ là Nguyễn Hữu Nguồn, đã đầu thú Pháp, để
được Nguồn giới thiệu Tấn xin hàng”. Nguồn đưa Tấn về Chợ Lớn trình diện
với Trung Úy Francis Garnier, lúc đó làm tham biện tại đây. Lúc bấy
giờ, F. Garnier rất quan tâm đến việc vãn hồi trật tự, an ninh trong
vùng mới chiếm, nhứt là vùng từ Chợ Lớn qua tới Cần Giuộc nằm trong phạm
vi trách nhiệm của hắn. Francis Garnier là một người trẻ tuổi, rất hăng
hái hoạt động. Mấy năm sau, F. Garnier theo phái đoàn Doudart de Lagrée
đi thám hiểm sông Cửu Long. Xưa nay trong chiến trận, tiếp nhận kẻ địch
về hàng để khai thác là một lợi thế của kẻ làm tướng, ít khi bỏ qua. F.
Gamier đối đãi với Tấn lịch sự, niềm nở và chỉ đường cho Pháp trong
những trận ruồng bố các vùng Tân An, Mỹ Tho, Gò Công. Hoàn toàn không có
mặc cảm khi ra phục vụ chủ mới, Tấn dẫn đường cho Pháp tìm diệt nghĩa
quân. Thấy Tấn hăng hái lập công, Pháp cho Tấn làm đội trưởng mã tà. Hai
năm sau, Tấn được đề bạt chức “lãnh binh” là quan võ coi việc quân sự
trong một tỉnh thời đàng Cựu. Có chức, có quyền, Tấn vừa tận tuỵ phục vụ
chủ mới vừa tìm cách mua điền đất của nhà giàu bỏ chạy để làm của
riêng.
Năm 1862, ba tỉnh Biên Hoà, Gia Định, Định Tường đã mất nhưng Gò Công
nhờ địa thế hiểm yếu, rừng rậm âm u, sông rạch chằng chịt, mà Đại tướng
Trương Công Định còn cố thủ được thêm 3 năm nữa. Ngoài yếu tố địa thế,
tại đây, lòng người vẫn còn hướng về triều đình vì có dòng họ ngoại của
nhà vua. Nhiều lần từ Định Tường, Tấn dẫn quân Pháp đánh qua Chợ Gạo,
tới Thạnh Nhứt, Gò Bầu và đụng độ với nghĩa quân nhiều trận, không tiến
xa hơn được. Mỗi lần như thế, Pháp lại rút về Mỹ Tho củng cố lại lực
lượng. Vẫn theo kế sách dùng gián điệp, Pháp tìm cách mua chuộc một
người địa phương có thế lực mà dân chúng gọi là “Bá Hộ Huy” (không rõ họ
gì). Huy là người quê ở Đồng Sơn, bí mật hẹn làm nội ứng cho pháp. Quả
nhiên lần này Pháp ruồng xuống, tấn công các vị trí hiểm yếu của nghĩa
quân, tiến sát rồi bao vây tỉnh Gò Công, bắt sống Tri Huyện Đỗ Trình
Thoại (sách Pháp gọi là “Tri Huyện Toại") rồi giết đi. Đỗ Trình Thoại là
người huyện Tân Hoà, trước kia làm tri huyện Long Thành, tỉnh Biên Hoà.
Khi Pháp chiếm Gia Định, Đỗ Trình Thoại cùng Thủ khoa Huân, Trương Công
Định chiêu mộ quân ứng nghĩa, chiếm địa bàn Tân An, Gò Công làm căn cứ.
Khi Pháp chiếm Gò Công, tri huyện Thoại cho mở đường máu để thoát. Hai
bên đánh xáp lá cà, tri huyện Thoại đâm chết tên lính Bodier, nhưng bị
Pháp bắt rồi giết tại trận. Sau đó, Pháp rút về Định Tường, phong Bá Hộ
Huy làm tri huyện, cai trị Gò Công. Lúc đó, Trương Công Định bận qua Lý
Nhơn, chiêu tập thêm binh sĩ để lập chiến khu Bình Xuân. Hay tin Gò Công
mất, Định đem quân về bắt Tri Huyện Huy giết đi, đuổi tàn quân Pháp về
phía Gò Bầu, và chặn đánh thêm mấy trận phục thù.
Đại Tướng Trương Công Định giữ Gò Công được 3 năm (1862-1864). Do đó,
lần này Pháp quyết tâm triệt hạ Gò Công. Lần đó Huỳnh Công Tấn làm hướng
đạo, dẫn đường cho Đề Đốc Jaurés đem 3 chiến thuyền từ Vàm Bao Ngược
tiến vào sông Tra, đổ bộ lên Xóm Tre (nay là Bình Thành Đông) bắn phá
các đồn luỹ của nghĩa quân, nhưng không chọc thủng phòng tuyến được ở
mặt trận này. Vốn thông thạo địa hình, Tấn bày kế cho Pháp đem mấy tàu
chiến chạy vòng trở ra biển, vào Cửa Tiểu, tấn công vào phía Đông tỉnh
thành. Pháp đổ quân ở Bến Chùa, vào Cửa Khâu, đánh bọc lên Giồng Nâu,
Tân Quân Trung, rồi chiếm thành Gò Công. Đại Nguyên Soái Trương Công
Định gom tàn quân rút về phía rừng Sác, nằm gần biển, gọi là “đám lá tối
trời” mất dạng. Thất vọng vì không bắt được Trương Công Định, Tấn tức
giận lắm, tìm mọi cách để trả thù. Tấn tung ra một số tiền để mướn những
người chỉ điểm, phát giác chỗ lẩn trốn của Trương Công Định. Trong một
lần ruồng bố vào Bình Xuân, Tấn bị thương ở bắp chân, được Pháp ưu ái
săn sóc, chở về Sài Gòn điều trị. Lành bịnh, Tấn hung hăng đánh phá
không ngừng nghỉ. Về cái chết của Trương Công Định, truyền thuyết của
địa phương thường kể lại rằng:
“Buổi chiều 17 rạng 18 tháng 7 Âm Lịch năm 1864, lối 3 giờ chiều, Đại
Tướng Định cảm thấy trong người bần thần bứt rứt khó chịu. Ông muốn đi
Lý Nhơn, nên gọi hai tên hộ vệ bảo sửa soạn ghe thuyền chèo đưa ngài đi.
Nhưng có người thuộc tướng tên gọi Xã Tài, năn nỉ cầm Ngài ở lại vì anh
ta đang làm tiệc rượu sắp dọn ra. Vì thế Ngài hoãn chuyến đi Lý Nhơn.
Đêm ấy, sau buổi tiệc, Trương Công Định ngủ lại tại nhà Xã Tài cùng mấy
mươi binh lính thân tín, bị Tấn đem binh đến bao vây. Ngài phá vòng vây
thoát ra ngoài nhưng bị Tấn bắn một phát quỵ xuống. Tấn lại khuyên Định
ra hàng. Ngài tuất gươm chỉ vào mặt Tấn mắng nhiếc rồi tự đâm vào bụng
tự sát”.
Trước cái chết của người anh hùng lãnh đạo cuộc kháng chiến, dân chúng
và nhứt là giới sĩ phu hết lòng thương tiếc. Trong số những bài thơ của
tác giả vô danh ca ngợi Trương Công Định có những câu:
Gò Công mấy trận thắng Gò Bầu,
Địa hiểm, Trương Công dụng võ mầu,
Quốc biến loạn thần cùng phản tặc,
Một trung, hai nịnh khó đương đầu.
Một trung là Trương Công Định, hai nịnh là Huỳnh Công Tấn và Xã Tài, lập mưu giết chủ tướng. Theo lời ông Việt Cúc:
“Đến những năm đầu thế kỷ 20, Gò Bầu trở thành sào huyệt bọn cướp nổi
tiếng. Chúng đem đồ gian ăn cướp được, dắt trâu bò khắp nơi quy tụ về
đây, nhốt dưới hầm kín, để cho bè bọn dẫn đi bán nơi khác cho mất tích.
Đồng lõa, chủ chứa là Ba Dư, Sáu Nhọn, Mười Ngỗng... chỉ sống sung túc
nhờ nghề bất lương ấy. Thật là một cõi chợ đen có tổ chức hoàn toàn bí
mật, qua mặt nhà chức trách. Nhưng cũng được một thời gian sôi đọng, sau
rồi cơ mưu bại lộ. Nhà chức trách vây bắt nhiều phen, nhóm ấy lần hồi
tan rã. (“Gò Công, cảnh cũ người xưa”, trang 78)
Khi Bình Tây Đại Tướng Trương Công Định chết rồi, nhiều tuỳ tướng của ông lần lượt sa lưới Pháp hoặc bị bắt, hoặc bị giết.
Đốc Binh Chấn, người lập chiến công trong trận đánh sông Tra, và trận
phục kích tại Gò Sơn Quy, Xóm Tre tới Gia Thuận... bị bắt, kết án lưu
đày ra Côn Đảo tới 9 năm sau mới trả tự do. Khi được tha về nhà, ông
Chấn mở trường dạy học tại Giồng Tháp, cho đến khi mất vì tuổi già. Các
ông Đội Nhon, Đội Được, Đội Sài cũng bị giam mấy năm tại đề lao Mỹ Tho
mới được thả về làm ruộng. Riêng Đội Tùng bị đày và mất tại Côn Đảo. Ông
Đội Lang bị án 4 năm tù, khi mãn hạn về quê làm ruộng, phá mé rừng Cóc,
dạy học trò khá đông. Chỗ này về sau gọi là xóm “Đội Lang”.
Khi hạ được Trương Công Định, Pháp ra lịnh đem xác Ngài về Gò Công phơi
nắng 3 ngày, cho đến khi sình thúi mới ra lịnh cho thân nhân chở về
chôn. Một bà thiếp của Ngài đứng ra làm lễ mai táng. Ít ai biết rằng
trong đạo quân “Bình Tây” của Đại Nguyên Soái Trương Công Định có một
toán nghĩa quân do nữ binh giỏi võ nghệ tên Phạm Thị Hiền cầm đầu. Bà
Hiền là em ruột của ông Phạm Tự, cùng là tùy tướng của Trương Công Định.
Khi Định rút về Gia Thuận, Kiểng Phước và “đám lá tối trời”, thì toán
nghĩa quân của bà Phạm Thị Hiền giữ nhiệm vụ giao liên, tiếp tế. Đến khi
Trương Công Định thọ hại, Phạm Thị Hiền cũng bị bắt và bị giết cùng một
số đồng đội. Ông anh cả vượt sông Tiền, sông Cổ Chiên lánh nạn ở Rạch
Rừng, bây giờ là xã Hựu Thành, quận Vũng Liêm. Về sau do sự phát hiện
của Tổng Dõng, ông này cũng bị bắt và bị giết.
Hiện nay lăng mộ của Trương Công Định ở tại châu thành Gò Công, nằm trên
đường Kinh lấp cũ tức đường Phạm Đăng Hưng. Sau khi Định chết rồi,
Huỳnh Công Tấn càng ngày càng hống hách. Hắn bắt người tình nghi tra tấn
khảo của. Tấn ngang nhiên cướp ruộng đất của các nhà giàu bỏ chạy xuống
3 tỉnh miền Tây ty nạn. Ngoài ra Tấn còn mở sòng bạc lấy xâu. Chỉ trong
một thời gian ngắn hơn 10 năm, Tấn trở thành người giàu nhứt Gò Công,
có hàng ngàn mẫu ruộng. Để củng cố lòng tin của Pháp, Tấn còn đem quân
qua Cần Giuộc để dẹp một cuộc khởi nghĩa do Bùi Duy Nhứt lãnh đạo... Sẵn
uy quyền Tấn mặc tình sanh sát với mục đích làm tiền. Nghi ngờ ai có
tình với nghĩa quân, Tấn cho bắt về tra khảo. Người nhà nóng lòng, đem
vàng bạc đến xin đút lót cho vợ Tấn để xin tha. Cũng trong thời gian
này, nhiều người vì tư thù cũng tố cáo lẫn nhau “là quân hoang dã” để
chúng mặc tình hãm hiếp, cướp bóc. Trời bất dung gian. Năm 1875, Tấn
ngồi ghe hầu đi Sài Gòn. Giữa đường Tấn bị cảm rồi chết trên ghe, năm đó
hắn mới 37 tuổi!
Lúc thịnh thời, Lãnh Binh Tấn rất hống hách, ai cũng sợ. Gặp ông ta, dân
chúng khúm núm: Bẩm ông lớn! và gọi vợ ông ta là “bà lớn” hoặc “bà Lãnh
binh”. Tôi được nghe một cụ già, dân cố cựu đất Gò Công kể lại là: “Ông
từng nghe ông bà nhắc về Huỳnh Công Tấn khi chết thực dân Pháp cho làm
đám ma rất lớn, có dàn nhạc Tây đưa linh cữu. Pháp muốn làm ra vẻ biết
ơn một người bản xứ đã cúc cung phụng sự cho quyền lợi đất nước họ. Khi
Tấn chết, quan tài quàn trong nửa tháng, để dân chúng vì sợ ông ta đến
phúng điếu, lạy và khóc trước linh cữu. Mỗi ngày gia đình Tấn cho vật
trâu, bò để đãi hàng trăm thực khách xa gần. Khi động quan, có các chức
sắc Pháp Việt, lính mã tà bồng súng đi theo sau quan tài từ nhà Tấn đến
làng Tân Luông Đông. Trước khi an táng, hồi đó người ta cho đào sẵn 5
cái huyệt (giống trường hợp cái chết của Tổng Đốc Lộc năm 1900) ở 5 chỗ
khác nhau. Khi hạ rộng, chỉ có quan binh và người thân trong gia đình
mới biết rõ huyệt nào có quan tài, có lẽ sợ kẻ ăn trộm đào mồ cướp vàng
bạc. Mỗi năm đến ngày Tết, lễ Thanh Minh, “bà lớn” đi viếng mộ, sai đầy
tớ, gia nhân dọn cỏ, quét cả 5 cái mộ ấy. Đến trước mỗi mộ, “bà lớn” đều
nói:
- Đây là mộ ông lãnh binh!
Sau khi Tấn chết rồi, Pháp vẫn để vợ Tấn ở trong một căn nhà lớn phía
sau Ty Công An thời ông Diệm. Hàng tháng, Pháp cấp cho bà một số tiền
tựa như “tử tuất” của chồng. Ngoài số ruộng đất lên tới một ngàn mẫu,
gia đình Lãnh Binh Tấn thừa hưởng tài sản của ông để lại kếch xù, nên
được dân Gò Công liệt vào hạng nhà giàu nhứt địa phương vào cuối thế kỷ
19.
Pháp cho dựng một đài kỷ niệm ghi ơn Lãnh Binh Tấn với mấy dòng chữ “à
la mémoire du Lãnh binh Huynh Cong Tan, chevalier de la Légion d’
honneur, fidèle servicteur de la France” (Tưởng nhớ Huỳnh Công Tấn,
người được ân thưởng Bắc Đẩu Bội Tinh công bộc trung thành với Pháp).
Chỗ đó, khi Nhựt đảo chánh Pháp vào năm 1945, dân chúng phẫn nộ, kéo tới
đập phá bia, đem bỏ vào trong chùa Bà, và di ảnh Huỳnh Công Tấn họ thả
trôi sông!
Về sau, nhà cầm quyền cho xây dựng Phòng Thông Tin, nhưng người cố cựu
vẫn gọi di tích đó là “Tháp Lãnh Binh”. Kế bên Tháp Lãnh Binh có một căn
nhà cao, rộng, cất bằng vật liệu nặng, là nhà ông “Thông Sang”, một
cộng sự viên đắc lực cho Pháp ở địa phương vào cuối thế kỷ 19. Ông Thông
Sang là người theo Pháp vào những thập niên cuối thế kỷ, làm giàu nhỏ,
Pháp nâng đỡ theo kiểu Huỳnh Công Tấn. Đến năm 1920, nhà ông Thông Sang
bán cho công ty Húi Bon Hoa của chú Hoả để mở tiệm cầm đồ.
Cuộc đời Huỳnh Công Miêng, con trai Lãnh Binh Huỳnh Công Tấn có nhiều
nét độc đáo. Huỳnh Công Miêng là người có máu giang hồ mã thượng, thích
ngao du và làm việc nghĩa, tính tình hào phóng, dám ăn thua đủ với kẻ
mạnh hiếp yếu. Các hành vi nghĩa hiệp ấy được dân chúng Nam Kỳ ưa thích,
truyền tụng và tôn làm “cậu” và gọi “cậu Hai Miêng”. Công tử Hai Miêng
xuất hiện trước tiên ở Nam Kỳ, là “công tử” tiên phong lớp trước, mệnh
danh là “miễn tử lưu linh”, có nghĩa là được miễn sưu thuế, đi đâu mặc
tình, không ai được phép “hỏi giấy”... Thừa hưởng sự nghiệp đồ sộ của
cha để lại, cậu Hai Miêng ăn xài huy hoắc, phá phách, coi tiền như rác.
Đương thời cậu Hai Miêng ăn chơi khắp trong lục tỉnh. Ai cũng nghe danh
cậu. Nếu cậu có phạm tội gì nhỏ, cũng không bị truy tố vì Pháp còn nhớ
ơn thân phụ cậu. Truyền thuyết về cậu Hai Miêng kể lại rằng:
“Có một lần cậu vào thăm quan tham biện Mỹ Tho (tỉnh trưởng bây giờ) với thái độ hống hách khác thường:
Bước vô trường án (1), vỗ ván cái rầm,
Búa xua (2) ông tham biện, bạc tiền ông để ở đâu?
Hai câu trên được dân chúng truyền tụng, chứng tỏ hành vi ngang tàng của
cậu, không nể bất cứ ai, kể cả viên tỉnh trưởng người Pháp.
Năm 17 tuổi, Huỳnh Công Miêng, Trần Bá Hựu (em ruột Trần Bá Lộc) Lê Công
Phụng, con nuôi của Lãnh Binh Tấn, được qua Pháp du học trường La Seyne
gần Toulouse. Sau 4 năm, cả ba không đỗ đạt bằng cấp gì cả, nhưng nói
trôi chảy tiếng Pháp, về nước được Pháp cho làm thông ngôn, sau thăng
ông phán, tri huyện... hàm. Đợt sau cậu Hai Miêng có Lê Công Hoàng,
Nguyễn Quang Nghiêm (cô cậu với Lộc) đều đậu tú tài, hồi hương liền được
bổ làm tri huyện ngay. Trường hợp cậu Hai Miêng lúc mới về nước, Pháp
cho cậu phục vụ dưới trướng Tổng Đốc Trần Bá Lộc, hy vọng cậu nối nghiệp
cha, thẳng tay đàn áp các cuộc khởi nghĩa lập công. Khi Lộc đem quân ra
Bình Thuận, Khánh Hoà, cậu Hai Miêng cũng có mặt trong đoàn quân thứ
đó. Lần này Lộc lập kế bắt mẹ của lãnh tụ nghĩa quân tra khảo, đe doạ
giết để Mai Xuân Thưởng về hàng. Kế sách ấy tuy cũ, dã man nhưng hiệu
quả. Pháp kích động cậu Hai Miêng lập công, nhưng công việc ấy không hợp
với bản tính hào phóng của cậu. Cậu vốn ghét những kẻ ỷ mạnh hiếp yếu,
binh vực người cô thế, và rất oán ghét bọn cường hào ác bá. Chán nghề
chém giết, cậu Hai Miêng xin xuất ngũ để sống cuộc đời của một kẻ “miễn
tử lưu linh”, ngồi ghe hầu chu du khắp Nam Kỳ lục tỉnh. Cậu Hai Miêng
sống cuộc đời ngoại hạng, vượt xa các công thức đương thời. Nghe đồn
rằng cậu được Pháp cấp cho tấm giấy “miễn tử lưu linh”, đi tới đâu cũng
không bị ai làm khó dễ, miễn dòng thuế thân, miễn sưu dịch, miễn lính
tráng. Tuy nhiên, một nhà văn chuyên sưu tầm truyện xưa tích cũ là cụ
Vương Hồng Sển cũng cho biết “chỉ nghe đồn như vậy, chớ chưa thấy tận
mắt tấm giấy “miễn tử lưu linh” của cậu Hai Miêng”.
Cậu Hai Miêng cũng cờ bạc cầu vui, hút thuốc phiện, bao em út ăn xài
không tiếc của. Dư luận Gò Công hồi trước thường kể giai thoại về cậu
Hai Miêng như sau:
Lúc mới về nước, cậu chỉ thích võ nghệ, luyện côn quyền (một loại võ khí
cổ, chỉ dùng sức mạnh), múa kiếm. Cậu nổi tiếng anh hùng khắp xứ. Vì
không muốn bị ràng buộc, làm tay sai cho Pháp. Cậu trả chức tước Pháp
ban cho. Hàng ngày cậu đi đá gà, uống rượu, hối me (một thứ cờ bạc) thả
giàn. Có lần cậu đi xuống Giồng Tháp để hốt me, nhiều đàn em theo để
mang một bao bạc giấy, thứ bạc con cò, rất có giá trị hồi cuối thế kỷ
19. Cậu Hai Miêng cầm chén hốt me, có các thủ hạ là Bảy Danh, Ba Ngà,
Tám Hổ lo vừa tiền và chung tiền. Sòng me nào có cậu cũng ăn thua rất
lớn. Lúc sòng bạc tan, cậu ra về, đi ngang qua một vườn xoài, thấy nhiều
trái xoài vừa chín ửng vàng, trông rất ngon lành, cậu kêu chủ nhà hỏi
mua. Chủ nhà bằng lòng, đi lấy cây sào tới hái. Cậu cười, nói:
- Để tôi hái cho, khỏi cần sào!
Nói xong, cậu giậm chân, nhún mình, nhảy lên rứt một lượt mấy trái xoài chín cây. Ai nấy đều khen ngợi.
Trong “Thơ Cậu Hai Miêng” có đoạn mở đầu như sau:
Nam Kỳ có cậu Hai Miêng,
Con quan lớn Tấn ở miền Gò Công.
Cậu Hai là bực anh hùng,
Ăn chơi đúng bực anh hùng liệt oanh!
Nam Kỳ lục tỉnh nổi danh
Khác với cha hống hách, cậu Hai Miêng ăn ở rộng rãi với mọi người, hay
chia xẻ tiện nghi với anh em, bè bạn và những kẻ dưới tay, cho nên du
côn khắp xứ đều kiêng nể cậu, kính phục cậu Cậu tới đâu cũng được đồng
bào ủng hộ, thương mến:
Xóm làng ai cũng đều thương,
Cậu Hai trung hậu, lòng nhân ai bì?
(Thơ Cậu Hai Miêng)
Hồi đó, trong những đám giỗ, đám cưới có dịp thức khuya, đồng bào Nam Kỳ hay kể nhiều giai thoại về cậu Hai Miêng:
“Khi Pháp cho đào ao trường đua (xung quanh là đường vòng đua ngựa), bắt
dân phu trong tỉnh Gò Công phục dịch, làm sưu cực khổ. Họ cưỡng bách
lao động như tù khổ sai: Ban ngày đào đất, đắp lộ ban đêm ăn ngủ tại
chỗ. Hết toán này tới toán khác thay phiên, còn bị cặp rằn (tức giám
thị) đánh đập như súc vật vì muốn công việc mau xong. Một buổi sáng, cậu
Hai Miêng đi ngang qua đó, thấy cảnh làm việc quần quật mà còn bị đánh
như trâu ngựa. Nổi máu anh hùng, cậu liền thộp ngực một tên cai mã tà
(cảnh sát bây giờ) hung ác, đấm đá luôn. Cai Phi, cặp rằn đều bị cậu cho
ăn mấy bạt tay, rồi cậu bắt họ đội đất chạy lên chạy xuống như mấy
người dân đang bị hành hạ. Ngoài ra cậu còn quất cho họ mấy roi.
- Tao đánh chúng bây coi tụi bây có đau như dân phu hay không?
Cũng từ đó, dân phu đào ao trường đua bớt bị hà hiếp, đánh đập như từ
trước đến nay. Đi ngao du tới đâu, cậu Hai Miêng cũng trừng trị bọn
cường hào ác bá tới đó. Đối tượng trừng trị của cậu là bọn nhà giàu,
điền chủ hống hách, các ông làng, cai tổng chuyên môn bắt nạt dân địa
phương. Ngay đến cả Tây, cậu Hai Miêng cũng ương ngạnh, cứng đầu, không
khuất phục. Khi hết tiền, cậu ghé dinh tham biện, chủ tỉnh “mượn đỡ” để
xài. Nể tình cha cậu, các quan Tây cũng giúp đỡ ít nhiều. Hồi trước ở
miền Nam, thấy ai ăn ở tánh nết ngang tàng, ông bà ta thường nói:
Cậu Hai, cậu chớ có lo,
Hết tiền, cậu cứ xuống kho lấy xài (3)
Tôi được nghe một giai thoại chính cụ Nguyễn Văn Vực kể lại:
“Có một lần đoàn ghe hầu mấy chiếc của cậu Hai Miêng ngao du tới xứ Bạc
Liêu. Lúc đó nhằm mùa khô, nhiều ghe chài đến “ăn lúa” tại nhà các đại
điền chủ. Lúc đó, dưới bến sông, trước nhà anh em ông Chủ Thời, Chủ Vận
diễn ra cảnh vác lúa xuống ghe rộn rịp như cái chợ. Ở địa phương này,
dân chúng ai cũng ngán hai anh em Chủ Thời, Chủ Vận. Ông Chủ Thời có một
cô con gái tên là “Cô Hai Sáng”. Dân chúng khắp trong vùng này không ai
dám nói đến chữ “Sáng” như “buổi sáng”, “hồi sáng mai”, mà phải nói lại
“buổi sớm”, “sớm mới”... thì đủ biết thế lực hai ông ấy ra sao.
Khi mấy chiếc ghe hầu của cậu Hai Miêng do thủ hạ chèo đi ngang qua, vô
tình ông chủ Thời trông thấy, kêu một đứa bạn (người ở đợ) gần đó, hỏi
lớn:
- Ghe của ai đi dưới sông đó bây?
Nghe câu hỏi phách lối ấy, cậu Hai Miêng tức giận. Cậu cho ghe ghé lại.
Thấy cô Hai Sáng đang đứng chơi dưới bến, cậu Hai Miêng liền cho tay
chân bộ hạ bắt cô ta trói lại, và kéo lên cột buồm. Khi biết đó là cậu
Hai Miêng, quan tham biện Pháp còn nể, ông Chủ Thời xuống nước nhỏ, năn
nỉ. Ông thương lượng với cậu Hai Miêng “xin chuộc” cô Hai Sáng bằng một
bao cà ròn giấy bạc. Bao cà ròn đơn bằng đệm bàng, đáy rộng, miệng túm,
hồi trước thường dựng gạo, dung lượng khoảng 10 lít (hay 1 yến), rất
thông dụng ở Nam Kỳ hồi đầu thế kỷ 20. Lúc đó nhiều Hoa kiều từ miền Hoa
Nam nhập cư vào miền Nam, chịu khó buôn bán lẻ. Hàng ngày, họ vác một
bao cà ròn trên vai đựng cốm, kẹo, thuốc cảm mạo, kim, chỉ, thuốc hút,
bánh in... đi len lỏi vào các miền quê bán dạo. Người dân quê gọi “cái
chợ nhỏ lưu động ấy” là “chệt cà ròn” (cà ròn khị). Khi ông Chủ Thời năn
nỉ xin tha cho cô Hai Sáng, cậu Hai Miêng bằng lòng, mở trói cho cô Hai
Sáng, rồi gia nhân ôm bao cà ròn đầy nhóc giấy bạc xuống ghe, chèo đi.
Từ đó, ông Chủ Thời, Chủ Vận bớt hống hách với dân làng.
Bình thời, cậu Hai Miêng có tác phong của người bình dân, thân với tá
điền, lối xóm quen lạ. Gặp lúc đương đầu với ai, cậu rất hung dữ vì có
võ nghệ, dám chấp cả bọn du côn, đàng điếm chuyên ăn hiếp kẻ cô thế. Có
lần cậu Hai Miêng xuống điền ông La Bách (Labast) ở Sóc Trăng, trừng trị
bọn cặp rằng hà hiếp các nông dân tá điền, dân chúng địa phương còn
nhắc tới cậu như một cử chỉ biết ơn.
Tuy có học bên Tây, nhưng cậu Hai Miêng cũng có ít nhiều tác phong của
bọn du côn do ảnh hưởng của Thiên Địa Hội. Ông Cai Tổng Lê Quang Chiều,
người Phong Điền, Cần Thơ, là thúc phụ của Bác Sĩ Lê Văn Hoạch (?), có
soạn quyển “Quốc Âm Thi Hiệp Tuyển”, trong đó, có bài thơ ca ngợi cậu
Hai Miêng:
Số hệ ai làm hỡi cậu Miêng?
Ba mươi tám tuổi du huỳnh tuyền. (1857-1895)
Sao lờ Bến Nghé xiêu người ngó,
Khói toả Cầu Kho thăm vợ hiền.
Đúng bực phong lưu trời vội dứt
Những trang hào kiệt đất không kiêng.
Cho hay khuất bóng danh còn tạc,
Nhựt báo đòi nơi đã khắp truyền.
Huỳnh Công Miêng mất năm 1895, được an táng trong một ngôi mộ lớn ở
đường Nguyễn Tấn Nghiệm (nay là Trần Đình Xu). Thơ Cậu Hai Miêng là một
trong những tập thơ có sức phổ biến rất mạnh ở Nam Kỳ. Thấy dân chúng
hâm mộ con người ngang tàng ấy, người Pháp tìm cách ngăn cấm, nhưng
không ngặt nghèo như các bài thơ khích động tinh thần yêu nước khác.
Nhiều người lớn tuổi vẫn thuộc lòng từng đoạn khác nhau. Quyển “Thơ Cậu
Hai Miêng” do tác giả Văn Phước Nguyễn Bá Thời Sáng tác, nhà in Tín Đức
Thư Xã ấn hành năm 1928, lưu truyền lai rai, mãi đến năm 1954 mới tuyệt
bản. Hai vợ chồng Huỳnh Công Tấn chỉ có 3 người con: Một trai là Huỳnh
Công Miêng, hai gái đều tu theo dòng kín. Thay vì sống cảnh đời trần tục
để hưởng phú quý do tài sản của cha để lại, cả 3 người đều tìm một cuộc
sống riêng tư. Tuy không phải là con đường phục vụ dân tộc để trả món
nợ tội lỗi của cha, nhưng họ cũng không làm điều gì đáng chê trách. Vì
lẽ đó, trong dư luận miền Nam có người nói rằng trường hợp Huỳnh Công
Tấn “cây đắng sanh trái ngọt” không biết có đúng không?
Chú thích:
(1) Trường án: Cái bàn dài; bua-rô ông chánh tham biện
(2) Búa xua: Bonjour, câu chào tiếng Pháp.
(3) Kho bạc, tức ty ngân khố
Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 27 tháng Mười 2009
Nhận xét
Đăng nhận xét