CÓ NHỮNG CON NGƯỜI 7
-Có những con người, mà xã hội loài người luôn biết ơn họ!
-------------------------------------------------------------------
(Trích từ: "THỰC TẠI VÀ HOANG ĐƯỜNG 42/b")
PHARAĐÂY
(...)
-------------------------------------------------------------------
(Trích từ: "THỰC TẠI VÀ HOANG ĐƯỜNG 42/b")
PHARAĐÂY
(...)
Farađây
(Michael Faraday) sinh ngày 22-9-1791 ở gần Luân Đôn, thủ đô nước Anh,
trong một gia đình nghèo, bố làm thợ rèn, làm tạp vụ cho những gia đình
khá giả. Sau này chính Farađây đã kể về thời ấu thơ của mình: “Chúng tôi
sống trong một gian nhà vừa ẩm thấp vừa lạnh lẽo. Tôi đã 9 tuổi mà mỗi
ngày chỉ được chia cho hai lát bánh mì mỏng…”
Từ
nhỏ Farađây đã tỏ ra thông minh, hiếu học. Nhưng do gia đình túng bấn
mà ông phải đành bỏ học năm 13 tuổi, theo lời cha đến xin làm “việc sai
vặt” cho người có tên là Ribô, chủ một cửa hàng đóng xén và bán sách báo
ở Luân Đôn. Ban đầu, hầu như ngày nào cũng vậy, Farađây phải mang sách
báo đi giao cho những nơi đặt, sau đó thì về phụ việc cho cửa hàng. Ông
phải làm việc suốt tuần, không công xá, chỉ được nuôi ăn, chủ nhật mới
được về thăm cha mẹ.
Dù
là “việc sai vặt” thì cũng phải làm vất vả, nhưng bù lại Farađây được
tiếp xúc với rất nhiều các loại sách báo, điều mà ông vô cùng thích thú.
Đức tính ngoan ngoãn, cần cù trong công việc, ham học hỏi và niềm say
mê sách báo của Farađây đã làm cho ông chủ Ribô, một kiều dân Pháp tốt
bụng, yêu mến. Sau một năm làm việc tại cửa hàng, Farađây bắt đầu được
học nghề đóng sách. Nhờ tinh ý và khéo tay, ông học nghề rất nhanh. Mặt
khác, tranh thủ mọi thời gian nghỉ ngơi để đọc sách, Farađây cũng đồng
thời tiếp thu được không ít những kiến thức khoa học ban đầu. Các sách
mà ông đặc biệt ưa thích là nói về hóa học và điện học.
Như
có sự mách bảo của định mệnh, một lần, Farađây đọc được câu châm ngôn:
“Tri thức tới từ thực nghiệm” trong một cuốn sách. Thế là từ đó, ngoài
việc đọc sách và ghi chép lại cẩn thận những điều cần ghi nhớ, Farađây
còn cố gắng thực hiện các thí nghiệm trong căn buồng nhỏ sát mái, nơi
ông ngủ ở đó. Ông chủ Ribô biết vậy nhưng không phiền lòng mà còn vui vẻ
mở lời động viên, khích lệ. Hầu hết tiền công không đáng bao nhiêu của
người đang học nghề mà Farađây dành dụm được cùng với tiền thưởng ông
Ribô cho, đều được ông dùng vào việc mua vật dụng mà các chất liệu phục
vụ cho những lần thí nghiệm của mình.
Thiên
tính say mê khoa học của Farađây đã giúp ông đạp bằng mọi khó khăn, vừa
làm tốt công việc kiếm sống, không phụ lòng người chủ tốt bụng, vừa nỗ
lực tự học qua sách báo và thực hành thí nghiệm riêng tư, để chỉ trong
khoảng thời gian tuổi vị thành niên, ông đã tích lũy được lượng kiến
thức quan trọng về hóa học và điện học của thời bấy giờ, đủ để có thể
tiếp thu được những bài giảng mà các giáo sư đại học truyền thụ.
Một
lần, khi mang giao sách cho khách hàng thuê đóng, Farađây thấy có tờ
thông báo: “Ngài Tatum tổ chức diễn giảng đặc biệt về Triết học tự
nhiên…”. Tờ thông báo còn ghi rõ là mỗi buổi dự nghe giảng phải nộp lệ
phí là 1 silinh (tiền Anh). Đó là khoản tiền vượt quá khả năng của
Farađây. Biết chuyện và thấy được nỗi khát khao cháy bỏng của Farađây,
Rôbớt, anh trai của ông, dù có mức thu nhập từ làm công cũng chẳng nhiều
nhặn, lại còn phải gánh vác kinh tế gia đình trong khi người cha đang
lâm bệnh, đã hết lòng giúp đỡ em trai mình. Lúc đầu Farađây còn ngần
ngại nhưng trước sự thúc giục nhiệt thành của người anh trai, ông đã
đồng ý nhận sự giúp đỡ.
Buổi
thuyết trình nào Farađây cũng đến sớm để chọn chỗ ngồi nghe giảng nhất.
Hơn nữa, sau mỗi buổi nghe giảng, khi trở về nhà, ông tiếp tục ngồi vào
bàn thức thâu đêm, ghi chép lại một cách cẩn thận tất cả những gì đã
lĩnh hội được của buổi nghe giảng. Vì vậy mà sau khóa học, Farađây đã tự
đóng được cho mình cuốn sách với tựa đề “Tập bài giảng của giáo sư
Tatum”.
Có
thể thấy ngay từ những buổi đầu tiếp cận với khoa học Farađây đã bộc lộ
ra một đức tính quí báu, đóng vai trò như một yêu cầu tối cần thiết đối
với bất cứ nhà khoa học thực nghiệm nào, đó là kiên nhẫn trong thực
hành, kỹ lưỡng trong quan sát, tỉ mỉ trong ghi chéo và thận trọng trong
nhận định.
Sau
lần nghe giảng ấy, niềm say mê khoa học, nỗi khát khao được tiếp thu
những kiến thức mới, càng trào dâng trong lòng người thanh niên Farađây,
hiếu học như đành bất lực bởi hoàn cảnh khốn khó của mình.
Thế
rồi vận may cũng đến. Một hôm, khi Farađây đang cặm cụi đóng sách thì
một vị khách hàng bước tới, mỉm cười hỏi xã giao vài câu rồi trao cho
ông 4 tờ giấy mời dự 4 buổi thuyết trình về hóa học của giáo sư Đêvi,
một nhà khoa học đang có tiếng tăm. Farađây đã vô cùng mừng rỡ. Thật ra,
ông Ribô, thông cảm với ao ước của Farađây, đã cậy nhờ Đanxơ, chức vị
giáo sư, hội viên Hội khoa học Hoàng gian Anh; cũng là khách hàng thân
thuộc của mình, giúp đỡ.
Ngày
29-2-1812, trong bộ quần áo tươm tất nhất, chỉ dùng trong những ngày
chủ nhật khi đi lễ nhà thờ của mình, Farađây bước vào gian phòng lớn của
tòa nhà có gắn biển “Hội khoa học Hoàng gia Anh”, nơi mà sau này, ông
sẽ trở thành một thành viên đáng kính của nó, để nghe bài thuyết trình
đầu tiên của giáo sư Đêri.
Cũng
như lần nghe giảng do giáo sư Tatum thuyết trình, lần này Farađây cũng
ghi chép lại hết sức cẩn thận nội dung mà giáo sư Đêri trình bày sau mỗi
buổi nghe giảng. Và sau khi kết thúc bốn buổi thuyết trình thì ông cũng
tự đóng một cuốn sách rất đẹp có tựa đề trên trang bìa là “Những bài
giảng của giáo sư Hămphơri Đêvi”.
Tháng
10-1812, ông Ribô tuyên bố Farađây đã thành nghề. Vốn dĩ yêu mến chàng
trai có nhân cách tốt đẹp, ông đã tận tình xin cho Farađây đến làm việc
hưởng theo công xá thợ chính tại cửa hàng của bạn mình tên là Đờ Larôsơ.
Đối với một người học nghề bình thường thì đây quả là một may mắn và có
thể sẽ vui mừng khôn tả. Nhưng đối với Farađây, một người đã chìm đắm
trong niềm say mê khoa học, tim óc luôn hướng đến mơ ước được khám phá
những điều còn bí ẩn trong hóa học và điện học, thì dù vẫn biết ơn người
chủ tốt bụng, không thể không lâm vào tâm trạng buồn vui lẫn lộn và
chắc rằng trong sâu thẳm cõi lòng còn có cả sự thờ ơ. Vì thế mà khi đã
đến làm việc ở cửa hàng mới, Farađây vẫn không thể nguôi ngoai được nỗi
niềm, vẫn trăn trở ước mơ được sống và làm việc trong tòa nhà khoa học,
được phụng sự khoa học, được hiến dâng cuộc đời cho nghiên cứu khoa học.
Bạn
bè khuyên Farađây viết thư cầu xin ngày Giôdép Benxơ, chủ tịch Hội khoa
học Hoàng gia Anh, giúp đỡ, nhận cho làm bất cứ việc gì phục vụ công
tác khoa học của Hội. Farađây nghe theo và đã viết thư, nhưng chờ mãi mà
không có hồi âm. Không tuyệt vọng, Farađây lại nghĩ ngay tới việc viết
thư cầu cứu đến giáo sư Đêvi. Trong thư, ông kể về quá trình phấn đấu tự
học, để thỏa mãn lòng khát khao hiểu biết, về tình yêu khoa học nồng
nàn và niềm mong muốn được phụng sự khoa học của mình, nhất là ước mơ
được xả thân cho nghiên cứu khoa học đã trở nên mãnh liệt như thế nào
sau khi dự nghe những bài giảng của giáo sư. Cùng với bức thư, Farađây
còn gửi cả cuốn sách mà ông đã ghi chép cẩn thận nội dung của bốn bản
thuyết trình của giáo sư Đêvi.
Đêvi
chắc rằng đã thực sự cảm động trước sự thành tâm của tác giả bức thư và
hơn nữa cũng vì nội dung bức thư đã gợi nhớ về quá trình cố gắng tự học
để vươn lên thưở hàn vi của chính giáo sư. Bên cạnh đó, qua cuốn sách,
vị giáo dư còn thấy được khả năng tiếp thu và biểu đạt các tri thức khoa
học vừa chính xác vừa tinh tế sắc sảo ở Farađây. Rất có thể lúc đó,
giáo sư Đêvi cũng đã nhận ra rằng phụ tá mà ông cần chính là con người
này.
Trước khi quyết định, giáo sư Đêvi có thăm dò ý kiến của người bạn đồng nghiệp tên là Pipixơ:
-
Đây là bức thư của một anh chàng tên là Farađây. Anh ta nghe các bài
giảng của tôi và xin được có một chỗ làm trong phòng thí nghiệm của tôi.
Tôi phải làm gì với anh ta?
-
Làm gì à? Hãy cho anh ta rửa chai lọ. Nếu anh ta đồng ý thì đó là cách
giải quyết, ngoài ra, chẳng còn gì thích hợp đối với anh ta nữa – Pipixơ
đã trả lời Đêvi với giọng khinh khỉnh.
Tuy nhiên, Đêvi vẫn tin vào cảm nhận của ông.
Ngày 24-12-1812, Farađây nhận được bức thư đầy hứa hẹn của giáo sư Đêvi. Trong đó có viết:
“Tôi
vô cùng cảm động về lòng tin cậy của anh giành cho tôi. Các bản ghi
chép của anh chứng tò lòng nhiệt thành lớn lao, sự cẩn thận, niềm ham mê
học tập và trí nhớ phi thường của anh. hiện nay tôi có việc không thể
không rời khỏi Luân Đôn, tới cuối tháng giêng mới về. Lúc đó, tôi sẵn
sàng tiếp anh vào thời gian thuận tiện…”
Cuối
tháng giêng, năm 1813, Farađây được giáo sư Đêvi tiếp kiến niềm nở tại
phòng khách của Hội khoa học Hoàng gia Anh. Mở đầu, vị giáo sư khen ngợi
Farađây về cuốn sách, về sự chuyên cần tự học và khả năng tự trang bị
học vấn… Tiếp theo, ông nói đến những khó khăn gian khổ mà một nhà khoa
học phải gánh chịu và dẫn lại cầu xin niutơn đã từng nói: “Khoa học là
một nữ chủ nhân đầy cay nghiệt, chỉ đền đáp rất ít ỏi cho những người
hiến thân cho bà ta!”. Farađây đã trả lời chắc nịch:
- Tôi không hề sợ những điều đó! Và tôi cũng không hề nghĩ đến tiền nhiều hay ít, thưa giáo sư!
Lúc
tạm biệt, giáo sư Đê vi ân cần dặn dò Farađây rằng hãy yên tâm về, tạm
thời làm nghề cũ, đợi khi nào Hội khoa học Hoàng gia Anh cần người ông
sẽ báo tin cho.
Đúng
là Đêvi đã rất sốt sắng trong việc tìm một chỗ làm trong Hội khoa học
Hoàng gia Anh cho Farađây. Dù hành động đó đơn thuần là do mến mộ tài
năng của Farađây hay cũng còn vì một mục đích riêng tư nào đó của chính
Đêvi thì việc được sớm đứng vào hàng ngũ những nhà hoạt động khoa học đã
là điều hết sức may mắn đối với Farađây và ít nhiều gì ông phải chịu
ơn. Ngược lại Đêvi cũng được cái vinh dự là đã sớm phát hiện ra một
thiên tài cho khoa học. Sau này, khi Farađây đã thành danh, Đêvi có nói
một cách tự hào: “Farađây là phát minh lớn nhất của đời tôi!”
Vài
tuần sau, vào một buổi tối, một người đánh xe ngựa đến trao cho Farađây
một bức thư. Hóa ra đó là thông báo của giáo sự Đêvi:
“Nếu
ý nguyện của anh không có gì thay đổi thì xin mời anh ngày mai tới Hội
khoa học Hoàng gia. Anh sẽ nhận được chức vụ phụ tá phòng thí nghiệm”.
Quá
đỗi vui mừng, Farađây lập tức đi chào mọi người và đến gặp ông chủ Đờ
Larôsơ trình bày sự việc. Ông Đờ Larôsơ tỏ vẽ buồn buồn, bảo:
- Tôi không có con cái. Chỉ cần cậu ở lại, sau này tôi giao cả cửa hàng này cho cậu thừa kế. Cậu thấy thế nào?
-
Thành thật rất cảm ơn ngài đã có ý tốt với tôi, thưa ngài Đơ Larôsơ!
Song, tôi phải đi làm công việc mà tôi hằng mong đợi! – Farađây đã nói
một cách nhẹ nhàng nhưng dứt khoát như vậy.
Sáng
ra, Farađây hồ hởi đến Hội khoa học Hoàng gia Anh để gặp Đêvi. Đêvi,
trong tình trạng đầu và mặt quấn đầy bông băng do vừa bị thương tích sau
một vụ nổ trong khi thực hành thí nghiệm, báo cho Farađây biết rằng Hội
khao học Hoàng gia Anh đã quyết định cho ông được làm phụ tá phòng thí
nghiệm từ ngày 1-3-1813 với mức lượng tuần là 25 silinh. Tiếp theo, Đêvi
cũng ngỏ lời yêu cầu Farađây trong thời gian chờ đợi đến lúc đó, hãy
giúp ông ghi chép những vấn đề nghiên cứu rút ra từ những thí nghiệm mà
ông vừa thực hiện. Farađây vui vẻ nhận lời không một chút đắn đo. Thế là
Farađây đóng vai trò thư ký cho giáo sư Đêvi trong những ngày làm việc
đầu tiên ở Hội hoàng gia Anh.
Trong
vai trò thư ký, Farađây không những ghi chép gọn gàng các số liệu, thể
hiện chính xác những ý tưởng khoa học của Đêvi, mà còn góp nhiều ý kiến
xác đáng vào việc phân tích, nhận xét các thông số thực nghiệm của vị
giáo sư. Điều đó càng làm cho giáo sư Đêvi quí mến năng lực của Farađây.
Đến
thời hạn, Farađây chính thức làm công việc của người phụ tá phòng thí
nghiệm, thường xuyên lo việc chuẩn bị các thí nghiệm cho các giáo sư ở
học viện, kể cả khi họ tổ chức các buổi diễn giảng. Với những công việc
như vậy, vốn tính hay tìm tòi, Farađây cũng học hỏi được rất nhiều kiến
thức bổ ích, theo kịp các vấn đề khoa học có tính thời sự ở Anh cũng như
ở các nước khác.
Khoảng
giữa tháng 10-1813, nhận lời mời của các nhà khoa học Pháp, Ý, Thụy Sĩ,
giáo sư Đêvi tổ chức thực hiện chuyến đi giao tiếp khoa học sang châu
Âu. Ông thu xếp cho Farađây cùng đi với nhiệm vụ vừa là thư ký vừa là
phụ tá kiêm quản lý cho vợ chồng ông. Trong chuyến đi này Farađây đã tỏ
ra hết sức đắc lực trong việc nghiên cứu, thực hiện hàng loạt các thí
nghiệm khoa học, đồng thời ông cũng được tiếp xúc với nhiều nhà khoa học
danh tiếng của nhiều nước thuộc châu Âu lục địa, cũng như có dịp sử
dụng các thiết bị nghiên cứu tiên tiến của họ.
Tháng
4-1815, đoàn hành trình trở lại Luân Đôn. Cuộc hành trình đã giúp
Farađây mở rộng tầm mắt và học hỏi được rất nhiều điều quí báu. Có thể
nói sau một năm rưỡi đi theo ghi chép và phụ giúp cho giáo sư Đêvi, một
cách mẫn tiệp, Farađây đã thực sự trưởng thành, có đủ bản lĩnh nghiên
cứu độc lập một đề tài khoa học. Chính giáo sư Đêvi cũng thấy điều đó
nên đã tiến cử ông vào chức trợ lý nghiên cứu khoa học.
Năm
1816, tức khi tròn 25 tuổi, Farađây viết bản báo cáo khoa học đầu tiên
của đời mình và được đăng trên tạp chí “Khoa học” của Hội khoa học Hoàng
gia Anh. Cách viết sáng sủa mà súc tích của Farađây đã làm cho vị chủ
trì tạp chí mến mộ nên đã mời ông làm thêm việc cộng tác viên biên tập.
Năm
1817, Farađây công bố được 6 luận văn khoa học. Năm 1818, ông công bố
thêm được 11 luận văn khoa học. Phần lớn những luận văn này là trình bày
về nghiên cứu hóa học. Đây là thành tựu ban đầu của Farađây, tuy không
thật lớn lao, nhưng đối với một nhà hóa học có năng lực trung bình, có
lẽ chưa dám mơ đến.
Như
đã kể, từ rất sớm, Farađây không chỉ say mê hóa học mà cả điện học. Khi
còn làm việc ở cửa hàng Ribô, ônh đã từng tự làm những thí nghiệm về
điện theo chỉ dẫn trong sách. Đến Hội khoa học Hoàng gia, trong tầm ảnh
hưởng của giáo sư hóa học Đêvi, ông bận rộn nhiều với những công việc
chuẩn bị cho các cuộc thí nghiệm hóa học trong vai trò vừa là phụ tá vừa
là trợ lý nghiên cứu, thành ra không còn thời gian để nghiên cứu về
điện. Tuy nhiên đến lúc này, có thể một phần là do đã có đủ điều kiện để
chủ động sắp xếp lại thời gian làm việc, một phần vì những vấn đề nảy
sinh và những cuộc tranh luận trong lĩnh vực nghiên cứu điện học ở khắp
nơi, nổi lên thành những đề tài nóng hổi tính thời sự, cho nên Farađây
quyết định chuyển sang nghiên cứu điện học nhiều hơn.
Khoảng
thời đoạn cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, nghiên cứu về điện trở nên
nổi trội, làm hình thành một lĩnh vực tương đối chuyên biệt của vật lý,
gọi là “Điện học”. Có thể cho rằng người mở đầu quá trình hình thành này
là Culông (Charles Augustin De Coulomb, 1736-1806), nhà vật lý xuất
chúng người Pháp. Sau khi tốt nghiệp đại học, ông trở thành kỹ sư công
binh, sĩ quan trong quân đội Pháp. Lúc đầu, do nhu cầu xây dựng trong
quân đội thôi thúc, Culông nghiên cứu chuyên sâu trong lĩnh vực cơ học.
Năm 1773, ông xây dựng thành công cơ sở lý thuyết về sức bền vật liệu.
Năm 1779, ông công bố công trình về nguyên lý các máy đơn giản và các
định luật về ma sát. Năm 1784, ông hoàn thành công trình nghiên cứu về
sự xoắn đàn hồi của những sợi dây nhỏ và khám phá ra định luật về lực
xoắn, để rồi dựa vào đó, ông chế tạo ra “cân xoắn”, một dụng cụ dùng để
đo các lực nhỏ. Sau đó Culông bắt đầu nghiên cứu về các lực điện và lực
từ. Trong những năm 1785-1788, ông công bố hàng loạt kết quả nghiên cứu
và phát kiến của mình như: phép đo lực đẩy và lực hút giữa các điện tích
bằng cân xoắn, cách chế tạo kim nam châm, cách khử từ, sự phân bố điện
tích ở mặt ngoài vật dẫn, đưa ra khái niệm mômen từ, lý thuyết về hiện
tượng phân cực điện môi… Thành quả nổi bật nhất trong số những thành quả
đưa tên tuổi ông vào bất tử, chính là việc xác lập được định luật về
lực tương tác tĩnh điện (sau này thường được gọi là định luật Culông).
Đến
năm 1820, Ơcxtet (Christian Oerstedt, 1777-1851), nhà vật lý người Đan
Mạch, đã xuất sắc phát hiện ra được từ tính của dòng điện. Vài tháng sau
phát hiện đó, nhà vật lý tên là Aragô quan sát thấy các mạt sắt bám vào
dây dẫn có dòng điện chạy qua. Vài ngày sau, Ampe và Aragô chế tạo được
nam châm điện đầu tiên của loài người.
Dù
mối quan hệ giữa điện và từ đã được phát hiện nhưng thực chất của mối
quan hệ đó là như thế nào thì lúc đó chưa ai biết tường tận. Ơcxtet có
đưa ra quan niệm của mình nhưng nhiều người khác không tán thành. Còn
bản thân những người này, nếu có những quan niệm nào đó thì cũng chỉ là
phỏng đoán mơ hồ, thiếu cơ sở. Mặt khác, khi bài toán biến điện thành từ
được giải quyết thì từ đó lập tức xuất hiện bài toán thứ hai: vậy thì
có thể biến từ thành điện được không, và nếu được thì bằng cách nào? Rõ
ràng, như lịch sử cho thấy, giải quyết được bài toán này sẽ dẫn đến việc
nhận thấy được bản chất của mối quan hệ tương tác giữa điện và từ.
Sự
kiện có tính bước ngoặt trong sự nghiệp nghiên cứu khoa học của
Farađây, làm ông dứt khoát chuyển hướng sang chủ yếu thực hiện các thí
nghiệm về điện và từ là khi ông nghe nói tới việc tiến sĩ Vôluxtơn, thư
ký của Hội khoa học Hoàng gia Anh đang nghiên cứu thí nghiệm về sự quay
bởi lực sinh ra từ tương tác điện - từ. Đối với ông, đó là một đề tài
thực sự hấp dẫn và ông quyết định tự thực hiện thí nghiệm để tìm hiểu
vấn đề.
Ngày
12-6-1821, Farađây kết hôn với người thiếu nữ tên là Xara Bacna, thực
hiện thủ tục nghi lễ cưới tại nhà thờ là xong, không tổ chức tuần trăng
mật, ngày ngày vẫn tới phòng thí nghiệm làm việc đều đặn. Bởi vì tâm trí
ông đang tập trung cao độ, tìm cách giải quyết những khó khăn nảy sinh
trong quá trình thực hành thí nghiệm làm quay dây dẫn điện nhờ tương tác
điện - từ. Sau hàng loạt cuộc thí nghiệm miệt mài, cuối cùng thì
Farađây cũng đi đến thành công. Ngày 23-9-1821 được coi là ngày Farađây
tạo ra chiếc động cơ điện đầu tiên của nhân loại. Điều oái oăm là khi
Farađây thông báo kết quả thí nghiệm trong luận văn “Về những chuyển
động điện từ mới” thì đón đợi ông không phải là sự tán thưởng mà là sự
lên án. Nhiều người cho rằng ông đã cướp công nghiên cứu của tiến sĩ
Vônlaxtơn.
Farađây
đã cố gắng giải thích cho mọi người hiểu rằng thí nghiệm của ông hoàn
toàn độc lập đối với thí nghiệm của Vônlaxtơn, đó là hai thí nghiệ, khác
hẳn nhau không những về ý tưởng, cách thức, dụng cụ thực hành mà cả về
mặt cơ sở lý thuyết. Tuy nhiên, lời phân trần đó chẳng được mấy ai đồng
tình. Sự hiểu lầm đã làm cho ông rất muộn phiền. Thế rồi, vào dịp lễ
giáng sinh năm 1821, Farađây thực hiện lại thí nghiệm. Trong số những
người đến chứng kiến, có cả tiến sĩ Vônlaxtơn. Vônlaxtơn là một nhà khoa
học công tâm. Ông đã thừa nhận thí nghiệm của Farađây là độc đáo, tài
tình, khác hẳn thí nghiệm của ông và ông đã vui vẻ chúc mừng sự thành
công của Farađây.
Năm
1822, Farađây đã ghi vào nhật ký của mình: “Biến từ thành điện”. Song
ông chưa thực hiện ngay được nhiệm vụ đề ra đó vì còn phải thực hiện cho
xong một số đề tài nghiên cứu về hóa học. Trong năm 1823, Farađây đã
tìm ra được phương pháp hóa lỏng các chất khí dưới tác dụng của áp suất
và sự làm lạnh hỗn hợp khí. Với phương pháp đó, ông đã thu được Clo, khí
Sunfuarơ, Cácbonic, Amôniăc, Hydrô Sunfua ở thể lỏng. Sau thành công
đó, ông tiếp tục các thí nghiệm mới và đã tìm ra một chất mới gọi là
Benzen.
Hiểu
được thực tài của Farađây, chính tiến sĩ Vônlaxtơn đã tiến cử ông và
ngày 8-1-1824, ông được bầu là hội viên của Hội khoa học Hoàng gia Anh,
chính thức đứng vào hàng ngũ những nhà khoa học lớn. Trong buổi lễ đó,
vị phụ trách tạp chí “Khoa học” của Hội khoa học Hoàng gia Anh có hỏi:
- Thưa ngài Farađây! Ngài có bí quyết gì để có được những thành công?
Farađây trả lời chân thành và ngắn gọn:
- Quên mình vì khoa học!
Có
một sự việc lạ lùng, trong việc bầu chọn Farađây: chỉ duy nhất có một
lá phiếu chống đối và lá phiếu đó lại chính là của giáo sư Đêvi. Nhiều
người đã không hiểu nổi vì sao Đêvi lại làm như vậy. Có người nhận định
rằng, đó là do lòng đố kỵ tài năng. Dù có thế nào đi chăng nữa thì như
lịch sử đã lưu lại, Farađây bao giờ cũng giữ lòng tôn kính giáo sư Đêvi,
vị ân nhân đã tận tình giúp đỡ và dìu dắt ông trong buổi đầu ông đến
với khoa học. Sau này khi Đêvi đã qua đời và quê hương Đêvi dựng đài kỷ
niệm ông. Farađây đã tự nguyện góp một khoản tiền lớn.
Năm
1825, Farađây giữ chức giám đốc phòng thí nghiệm của Hội khoa học Hoàng
gia Anh. Năm 1827, ông được phong hàm giáo sư đại họa Hoàng gia.
Con
đường đi chinh phục bài toán “Biến từ thành điện” của Farađây, phải nói
là vô cùng khó khăn gian khổ. Ông đã thực hiện hàng trăm, thậm chí hàng
ngàn thí nghiệm mà vẫn không đạt kết quả. Thất bại nối tiếp thất bại
không làm ông nản chí. Bởi vì, niềm tin của ông là không thể lay chuyển.
Sau mỗi lần thí nghiệm không thành công, Farađây đều ghi chép tỉ mỉ và
đưa ra nhận xét. Từ đó và nhờ có sự suy luận sắc sảo, ông đã dần dần đi
đúng hướng và chính vì thế mà may mắn đã cười với ông. Tháng 8-1831,
trong một lần thí nghiệm, Farađây dùng hai dây dẫn đã phủ ngoài một lớp
cách điện, cùng quấn lên một lõi bằng gỗ, một cuộn nối với bộ pin Vônta,
một cuộn nối với điện kế. Chẳng có gì xảy ra! Nhưng khi ông ngắt điện
định dừng cuộc thí nghiệm thì tình cờ phát hiện được sự lay động nhỏ của
kim điện kế. Thời gian xảy ra và kết thúc hiện tượng rất nhanh và cũng
vì thế mà khó phát hiện. Ông lặp lại thí nghiệm và thấy rằng kim điện kế
chỉ lay động khi đóng hay ngắt dòng điện. Phát hiện này là cực kỳ quan
trọng, đóng vai trò quyết định đến việc thực hiện mục tiêu nghiên cứu
“Biến từ thành điện” do chính ông đề ra cho mình từ năm 1822. Hơn thế
nữa nó đã mở ra con đường sán lạn, dẫn Farađây đến với những khám phá
thực sự vĩ đại, với những nhận định và phát kiến thiên tài.
Farađây
gọi hiện tượng kể trên là “Cảm ứng điện Vônta”. Ông còn nhận ra rằng
nếu thay lõi gỗ bằng một tanh nam châm vĩnh cửu thì dòng điệnxuất hiện
do cảm ứng điện Vônta sẽ mạnh lên rất nhiều và ông gọi hiện tượng này là
“cảm ứng từ điện”. Như vậy mô hình đầu tiên của các biến thế điện đã
được Farađây chế tác ra.
Sau
đó từ suy luận xuất sắc rằng chỉ khi dòng điện trong cuộn dây nối với
bộ pin Vônta biến thiên (khi đóng ngắt mạch) thì trong khoảng thời gian
biến thiên ấy, mới xuất hiện dòng điện cảm ứng trong cuộn dây nối với
điện kế, nhưng đồng thời cuộn dây nối với bộ pin Vônta còn đóng vai trò
của một nam châm điện, Farađây đi đến kết luận rằng có thể sự biến đổi
từ tính quanh cuộn dây nối với điện kế là nguyên nhân trực tiếp làm xuất
hiện trong nó dòng điện. Trên cơ sở lập luận đó, ông tiến hành thí
nghiệm thay cuộn dây nối với bộ pin Vônta bằng một nam châm vĩnh cửu
chuyển động dọc cuộn dây nối với điện kế. Thực nghiệm đã chứng tỏ rằng
ông đã nhận định hoàn toàn đúng đắn và ông ghi vào nhật ký khoa học của
mình: “Dòng điện chỉ xuất hiện khi nam châm chuyển động so với dây dẫn,
chứ không phải vì các tính chất có trong dây dẫn đứng yên”. Đây chính là
nội dung cơ bản của định luật cảm ứng điện từ.
Tiếp
theo, Farađây nghĩ tới việc làm sao cho dòng điện cảm ứng duy trì được
lâu dài. Suốt hai tháng thử nghiệm bằng nhiều cách, cuối cùng, ngày
28-10-1831, ông đã thành công: chế tạo được một cơ cấu phát sinh liên
tục một dòng điện cảm ứng. Cơ cấu này được coi là chiếc máy phát điện
đầu tiên trên thế giới.
Ngày
24-11-1831, Farađây công bố tại Hội khoa học Hoàng gia Anh những khám
phá của mình về hiện tượng cảm ứng điện từ và các hiện tượng liên quan
có tính qui luật khác, gây chấn động dư luận giới khoa học ở tất cả các
nước.
Sự
nghiệp nghiên cứu của Farađây không dừng lại ở đó: Ông vẫn tiếp tục lao
vào hàng loạt các thí nghiệm mới về điện, và khám phá cũng như phát
kiến thêm nhiều hiện tượng, nhiều nhận định quan trọng khác. Chẳng hạn,
ông đã nghiên cứu hiện tượng điện phân và vào khảong năm 1833-1834, tìm
ra hai định luật (định tính) cơ bản của hiện tượng này. Năm 1843, bằng
thực nghiệm, ông chứng minh định luật bản toàn điện tích, tìm ra sự
nhiễm điện bằng cảm ứng. Năm 1845, ông phát hiện ra sự quay mặt phẳng
phân cực của ánh sáng trong từ trường (hiệu ứng Farađây). Năm 1846 ông
khám phá ra rằng năng lượng tĩnh điện được định vị trong các chất điện
môi. Trên cơ sở đó ông tìm ra “hằng số điện môi”, một hằng số quan trọng
của vật lý học…
Loạt công trình mang tên “các nghiên cứu thực nghiệm về điện” kết thúc vào năm 1851. Thực nghiệm sau cùng về điện mang số hiệu
16041.
Từ
sau năm 1851, người ta không còn thấy xuất hiện các công bố khoa học
mới của Farađây đăng trên báo nữa. nhưng chắc chắn rằng ông vẫn không
ngừng thực hành thí nghiệm và suy tư khoa học. Bởi vì không thể phủ nhận
được niềm say mê mãnh liệt được tìm tòi, khám phá, sự xả thân cho
nghiên cứu khoa học một cách vô điều kiện, không màng danh lợi của ông.
Về điều này, có thể nêu ra những dẫn chứng tiêu biểu. Chẳng hạn, năm
1831, một số hãng kinh doanh ở Luân Đôn mời Farađây cộng tác với thù lao
gấp hàng chục lần số lương chính của
ông nhưng ông đã từ chối. Có lần ông nói: “Nhà khoa học không chỉ là
con buôn”. Trong khi đó, ông và gia đình vẫn sống ở hai căn phòng nh
troỏng tòa nhà Hội khoa học Hoàng gia Anh và với đồng lương tuần 160
silinh. Thấy tình cảnh đó, bạn bè của Farađây đã âm thầm vận động chính
phủ Anh trợ cấp cho ông. Vì thế đến năm 1835 ông mới nhận được một khoản
trợ cấp hàng năm là 15000 silinh để phục vụ nghiên cứu khoa học. Cũng
từ năm 1835, Farađây bắt đầu rút lui khỏi các công việc hành chính,
giảng dạy với lý do duy nhất, là dồn hết sức lực cho nghiên cứu khoa
học. Về sau, nhiều lần được đề nghị giữ chức vị Chủ tịch Hội khoa học
Hoàng gia Anh nhưng ông đều từ chối. Năm 1855, chính phủ Anh quyết định
tặng Farađây danh hiệu quí tộc, nhưng khi hỏi ý kiến ông, ông đã trở
lời: “Giáo sư Farađây xuất thân từ tầng lớp bình dân và không mong muốn
biến thành quí tộc!”. Sau này, năm 1858, ông có nhận và cảm ơn Nữ hoàng
Anh đã tặng ông căn biệt thự nhỏ ở Khemtơn Coóctơ (Hampton Court). Dẫn
đến sự việc này cũng là nhờ bạn bè của Farađây vận động nhưng giấu ông.
Trọn
đời, Farađây đã sống đúng với tâm niệm của ông thời thanh niên và những
lời thổ lộ trước giáo sư Đêvi: đến với khoa học để được thỏa mãn niềm
say mê nghiên cứu khoa học chứ không phải vì bổng lộc. Có lẽ vì vậy mà
ông cũng tỏ ra bình dị, chân thành và không ưa hiềm khích. Có thể thấy
cái tính cách bình dị của Farađây ngay trong những ghi chép của ông.
Cần
nhớ lại rằng đồng thời với Farađây, Ampe cũng tiến hành các thí nghiệm
để tìm mối quan hệ giữa điện và từ và cũng đạt những thành tựu xuất sắc.
Đọc các ghi chép của Ampe, có thể thấy các kết quả cô đọng trong từng
công thức với sự chính xác hoàn toàn không thể phủ nhận được, lý thuyết
và thực nghiệm được trình bày song đôi, hợp thành một thể chặt chẽ về
lôgic và toán học. Trong các ghi chép đó, không thể thấy được sự hình
thành từng bước của các ý niệm đã đưa nhà nghiên cứu đến thành công. Khi
công trình đã hoàn thành thì Ampe xóa hết mọi dấu vết, dù rất cần trong
quá trình xây dựng.
Ngược
với Ampe, Farađây thành thật phô bày các bước thử nghiệm cả thành công
cũng như thất bại, cả những ý nghĩ sai lầm đầu tiên cũng như những kết
luận đúng đắn cuối cùng. Cho nên, đọc Farađây, người ta thấy gần gũi hơn
là ngạc nhiên, dù các khám phá và phát kiến của ông là thực sự phi
thường.
Mácxoen
đã nhận xét thế này: “Mọi học sinh cần nghiên cứu các tác phẩm của Ampe
để thấy một mẫu mực, xuất sắc của phong cách công bố các kết quả thuần
túy của phát minh. Nhưng chúng ta cần phải đọc các bài viết của Farađây,
vì qua đó có thể phát triển các suy tư khoa học, tự mình cảm nhận sự
thay đổi của tác động và phản tác động tạo ra bởi tác động qua lại của
các ý niệm đang hình thành và các kết quả vừa mới được phát hiện”.
Mácxoen còn đánh giá một cách xác đáng rằng: “Có lẽ đó là sự may mắn cho
khoa học. Mặc dù biết các dạng cơ bản của không gian, thời gian và tác
dụng lực, nhưng Farađây không phải là nhà toán học thực hành và do đó,
ông không quyến rũ bằng những điều thú vị mà toán học thuần túy cho
phép. Nếu bó gọn các kết quả vào dạng toán học, thì phải chú ý đến thị
hiếu toán học của thời đại, vì nếu không làm như thế, sẽ bị các nhà toán
học phản đối. Nhưng điều đó không làm Farađây chú ý và như vậy, ông
không bị bó buộc chân tay mà có thể đi theo con đường của mình, làm phù
hợp các suy nghĩ với các bằng chứng và trình bày các kết quả với ngôn
ngữ hoàn toàn tự nhiên”.
Chính
Farađây đã đưa ra hàng loạt những thuật ngữ mà ngày nay vẫn được dùng
phổ biến trong vật lý học, như: chất điện phân, điện cực, anot, catốt,
ion, đương lượng điện hóa học, đường sức, trường vật lý, từ trường…
Trong đó thuật ngữ: đường sức và trường mang một ý nghĩa đặc biệt về mặt
nhận thức khoa học đối với hiện thực khách quan.
Theo
quan niệm của Niutơn thì Vũ Trụ là khoảng không gian trống rỗng bao la,
trong đó tồn tại vạn vật có quảng tính tác động lẫn nhau, tạo nên
chuyển động của nhau thông qua một đại lượng biến đổi theo qui luật phổ
biến gọi là “lực vạn vật hấp dẫn”. Dù chưa biết được nguồn gốc của lực
vạn vật hấp dẫn nhưng Niutơn cho rằng nó có tính tác dụng xa, tức thời.
Nếu “đùng một cái” xuất hiện hai vật trong Vũ Trụ và dù khoảng cách giữa
chúng có xa bao nhiêu chăng nữa thì ngay tức khắc cũng xuất hiện lực
tương tác hấp dẫn giữa chúng (thời gian giữa xuất hiện hai vật và xuất
hiện lực hấp dẫn là bằng 0 và lực đó là trực tiếp, không thông qua vật
chất trung gian nào cả). Nếu một trong hai vật đột ngột biến mất thì lực
tương tác hấp dẫn giữa chúng cũng tức khắc không còn nữa. Thật khó hình
dung một thực tại khách quan “xử sự” như thế nhưng định luật vạn vật
hấp dẫn mà Niutơn nêu ra lại hoàn toàn phù hợp với hiện thực khách quan
và được thực chứng khẳng định. Thực ra quan niệm về sự trống rỗng của
không gian dẫn đến tương tác hấp dẫn không thông qua bất cứ khâu trung
gian truyền tiếp lực nào đã là một “bối rối lớn” của Niutơn mà ông không
giải quyết được.
Rút
ra từ việc quan sát những thí nghiệm về tương tác điện - từ do chính
mình thực hiện, Farađây đưa ra khái niệm “trường”, dẫn đến hình thành
một quan niệm mới có tính cách mạng về tồn tại vật chất và phân bố vật
chất trong Vũ Trụ. Farađây cho rằng khi một vật mang điện tích hoặc có
từ tính, nó sẽ làm xuất hiện quanh nó một miền liên tục, có khả năng
tương tác lực, và ông gọi đó là “trường” (điện trường, từ trường). Trong
quá trình nghiên cứu, khảo sát những biểu hiện của trường điện - từ,
ông đã đưa ra thuật ngữ “đường sức”. Ông dùng hình ảnh các đường sức để
diễn giải các kết quả về hiện tượng tương tác điện từ mà ông thu được
qua thí nghiệm, chẳng hạn như: dòng điện cảm ứng xuất hiện khi có các
đường sức từ cắt ngang qua dây dẫn, hay: cường độ dòng điện trong dây
dẫn phụ thuộc vào số lượng các đường sức từ cắt ngang qua dây dẫn đó
trong một đơn vị thời gian … Ngay từ năm 1846, Farađây đã tin tưởng
rằng, đường sức là có thật và mang bản chất vật lý. Ông viết: tôi
nghiêng về giả thuyết là các đường sức của từ trường tồn tại. Các đường
sức của điện trường cũng tồn tại giống như vậy”. Tuy nhiên, Farađây vẫn
chưa xác định được cụ thể đường sức là cái gì. Cho nên ông cũng viết:
“Những ai tán thành giả thuyết ête đến một mức độ nào đó có thể coi
những đường sức như là những dòng chảy, hoặc như những dao động đang
truyền đi, hoặc như một chuyển động sóng dừng, hoặc như một trạng thái
của sự căng”.
Ngày
nay, chúng ta có thể hiểu đại khái, đường sức là sự thể hiện “cấu
trúc”, cách thức “phân bố” năng lượng theo qui luật nhất định của một
trường lực. Có thể dựa vào hình dạng hình học cũng như biểu diễn toán
học của hệ đường sức mà xác định được cường độ (khả năng tương tác lực)
và phương chiều tác dụng tại một điểm bất kỳ thuộc miền của trường lực
đó.
Đến
với quan niệm trường, Farađây đồng thời cũng rời bỏ quan niệm lực tác
dụng xa, qua không gian trống rỗng của Niutơn đang ngự trị trong vật lý
học lúc bấy giờ. Ông coi trong không gian luôn tồn tại một trường lực
nào đó và tại mỗi điểm của trường lực có một trị số và véctơ của lực.
Nếu một vật lọt vào trong đó, nó sẽ phải nhận một lực tác động. Nếu
Đềcác đến với quan niệm không gian lấp đầy vật chất và tác dụng gần bằng
sự suy lý thuần túy thìfa đến với quan niệm trường và tác dụng gần bằng
con đường suy ra từ thực nghiệm. Theo Farađây giả thiết, nếu hai thực
thể vật chất ở cách xa nhau mà tương tác nhau thì thực thể vật lý đóng
vai trò trung gian chuyển tiếp trong việc truyền tương tác ấy phải là
trường lực.
Trường
hay trường lực là tên gọi chung cho các loại: trường tĩnh điện, trường
từ, trường điện từ, trường hấp dẫn… Farađây tin tưởng sâu sắc vào sự
thống nhất của thế giới vật chất. Năm 1842, ông đã ghi vào nhật ký: “Lực
hấp dẫn chắc chắn thích hợp để chúng ta tìm sự liên hệ bằng thực nghiệm
với lực điện - từ và các lực khác cũng như những gì cấu tạo nên từ
chúng, tương tác với chúng và cho kết quả giống nhau”
Dù
rằng vẫn chưa thành công trong việc khảo sát sự biến đổi qua lại giữa
trường hấp dẫn và trường điện từ, ông vẫn khẳng định niềm tin ấy: “Kết
quả thí nghiệm là phủ định. Điều đó không làm lay chuyển niềm tin mạnh
mẽ của tôi về sự phụ thuộc giữa lực hấp dẫn và điện từ trường, ngay cả
khi còn chưa chứng minh được bằng thực nghiệm.
Vật
lý học ngày nay đáng thừa nhận rằng, Vũ Trụ “chứa đầy” vật chất, không
có không gian trống rỗng, vật chất tồn tại dưới hai dạng cơ bản là các
vật thể và trường, chúng có thể tương tác lẫn nhau theo lối tiếp cận từ
gần đến xa, theo những cách thức đặc thù về mặt động lực học mà chúng
thể hiện.
Thành
tựu khoa học mà Farađây đạt được là thật lớn lao. Sau khi những công
trình khoa học của ông được công bố, tên tuổi ông trở nên lừng lẫy khắp
Châu Âu. Cả thế giới khâm phục tài năng của ông. Ông được nhiều trường
đại học ở Châu Âu phong tặng học vị tiến sĩ danh dự, trở thành viện sĩ
Viện hàn lâm khoa học Pháp, D(ức, Nga…
Tổng
kết sự nghiệp nghiên cứu khoa học của Farađây, có lẽ không gì bằng nhận
xét ngắn gọn sau đây của Xtôlêtôp, nhà vật lý học nổi tiếng người Nga:
“Từ Galilê chưa xuất hiện và sẽ không sớm xuất hiện nhà bác học làm giàu
cho khoa học bằng các phát minh toàn diện và kỳ diệu như Farađây”.
Mùa
hè năm 1867, Farađây bị điếc và lãng trí. Ngày 25/9/1867, như thường
lệ, ông ngồi trên chiếc ghế bành ở phòng làm việc trong ngôi biệt thự cổ
mà Nữ hoàng Anh đã tặng ông, thiu thiu ngủ và rồi lần này, ông không
bao giờ trở dậy nữa.
Mọi người an táng ông tại nghĩa trang ở Haiget, quê hương ông. Trên tấm bia mộ không có gì đặc biệt, chỉ khắc:
“Mixen Farađây
Sinh ngày 22-9-1791
Mất ngày 25-8-1867”
Sự
thể hiện giản dị đó cũng chính là nguyện vọng cuối cùng của ông: “Là
người bình thường, sau khi chết tôi muốn vẫn là người bình thường”.
Farađây
thực sự là một thiên tài trên cương vị nhà nghiên cứu khoa học, đồng
thời là một nhân cách lớn, đáng kính phục trên cương vị con người. Ông
mãi là tấm gương chói lọi về đức tính tự lực cánh sinh, về ý chí phấn
đấu vươn lên không mệt mỏi và về tinh thần làm việc hăng say, đầy trách
nhiệm, không bị vẩn đục bởi sự thèm khát danh lợi thấp hèn.
Người
lãnh sứ mạng “toán học hóa” những khám phá, những suy luận xác đáng rút
ra từ những khám phá đó về hiện tượng tương tác, cảm ứng giữa điện và
từ của Farađây, hệ thống hóa, nâng cao thành một lý thuyết tổng quát
hoàn chỉnh, cũng là một thiên tài. Thiên tài đó có tên là Mắcxoen.
(...)
Nhận xét
Đăng nhận xét