Chuyển đến nội dung chính

NHÂN TÍNH 14

 -Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất!
-Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...!
-Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó. Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật.
-Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!?
-Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi!
-Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!...

--------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)

Nhẫn nhất quyết không phải là nhu nhược! Người xưa nhẫn như thế nào?

Lận Tương Như vì suy nghĩ cho xã tắc, nhiều lần nhượng bộ, không tranh giành, làm cảm động Liêm Pha (Ảnh: Internet)
Lận Tương Như vì suy nghĩ cho xã tắc, nhiều lần nhượng bộ, không tranh giành, làm cảm động Liêm Pha (Ảnh: Internet)
“Bậc Đế Vương vì nhẫn mà được thiên hạ, tướng lĩnh vì nhẫn mà được lâu dài, thương nhân vì nhẫn mà được giàu sang phú quý, người thường vì nhẫn mà có được tri kỷ”. Nhẫn nhịn luôn là một đức tính truyền thống tốt đẹp từ xưa đến nay của con người. Nhìn lại lịch sử Trung Hoa, có nhiều câu chuyện mang đậm chữ “nhẫn” trong nội hàm ý nghĩa.
Nhẫn là khoan dung, tha thứ
Trong “Thượng thư”, Chu Thành Vương khuyên bảo quân rằng: “Tất hữu nhẫn, kỳ nãi hữu tể; hữu dung, đức nãi đại.” (Tạm dịch: Nhất định phải nhẫn nhịn mới có thể thành công, có thể khoan dung với người thì đạo đức tu dưỡng mới có thể nâng cao lên). Khổng Tử nói: “tiểu bất nhẫn, tắc loạn đại mưu” (Tạm dịch: Không nhịn được điều nhỏ nhặt, sẽ làm hỏng chuyện đại sự) “quân tử vô sở tranh” (Tạm dịch: Người quân tử không tranh gì cả)…
Nhẫn là bài học tất yếu của mỗi người, có thể tinh lọc nhân tâm, hóa giải xung đột. Khoan dung, độ lượng trong cuộc sống là một loại biểu hiện của “Nhẫn”. Có thể nhẫn mới có thể thành tựu việc lớn, hóa giải sự thù hận.
Trong sử ký “Liêm Pha Lận Tương Như liệt truyện” có ghi lại câu chuyện “Chịu đòn nhận tội”. Lận Tương Như bởi vì có công “đem ngọc trả lại vua Triệu “ mà được phong làm Thượng Khanh. Địa vị của Lận Tương Như đột nhiên cao hơn của Liêm Pha (một vị tướng giỏi của nhà Triệu). Liêm Pha không phục liền tuyên bố rằng, chỉ cần gặp mặt Tương Như sẽ làm nhục ông. Sau khi Lận Tương Như biết được, ông đã cố gắng né tránh để không phát sinh xung đột với Liêm Pha. Mỗi lần đến lúc vào triều, Lận Tương Như thường cáo ốm vì không muốn tranh giành chức vị với Liêm Pha. Không lâu sau, lúc Tương Như ở thành Hàm Đan, khi đoàn xe của ông từ xa xa đã nhìn thấy đoàn xe của Liêm Pha, ông đã ra lệnh cho đoàn xe của mình rẽ vào một con hẻm để cho đoàn xe của Liêm Pha đi trước, tránh hai bên xảy ra xung đột.




Lận Tương Như vì suy nghĩ cho xã tắc, nhiều lần nhượng bộ, không tranh giành, làm cảm động Liêm Pha (Ảnh: Internet)
Lận Tương Như vì suy nghĩ cho xã tắc, nhiều lần nhượng bộ, không tranh giành, làm cảm động Liêm Pha (Ảnh: Internet)

Môn khách của Lận Tương Như thấy ông xử sự như vậy, liền cho rằng ông sợ, nên đã nói: “Chúng tôi rời bỏ người thân gia đình đến hầu hạ ngài là vì ngưỡng mộ tiết nghĩa cao thượng của ngài. Bây giờ chức vị của ngài cũng tương đương với của Liêm Pha tướng quân. Tướng quân Liêm Pha mở miệng ra là nói lời ác, vậy mà ngài lại trốn tránh ông ta. Ngài quá sợ ông ta. Dù là người thường gặp phải cũng cảm thấy bị sỉ nhục, huống hồ là tướng quân như ngài! Chúng tôi, những người không có tiền đồ, xin ngài cho chúng tôi được cáo từ!”.
Lận Tương Như kiên quyết giữ họ lại và nói: “Các vị thử nghĩ xem, Liêm tướng quân và Tần Vương ai lợi hại hơn?” Mọi người trả lời: “Liêm Tướng Quân không bằng được Tần Vương” Tương Như lại nói: “Với uy thế của Tần Vương, mà ta còn dám nói lý, quát mắng ông ta ngay trước triều thần nước Tần. Ta, Lận Tương Như mặc dù tài hèn, nhưng lẽ nào lại sợ Liêm Pha? Điều ta nghĩ đến là nước Tần lớn mạnh sở dĩ không dám xâm lược nước Triệu chúng ta, là bởi vì nước Triệu có ta và Liêm tướng quân! Hiện giờ nếu hai hổ đấu nhau, tất không thể cùng sinh tồn. Cho nên, ta nhẫn nhịn Liêm tướng quân như vậy, là vì luôn đặt sự an nguy quốc gia làm đầu mà để chuyện cá nhân ở phía sau!”
Khi những lời này của Lận Tương Như được truyền đến tai Liêm Pha tướng quân, bấy giờ Liêm Pha tướng quân mới bình tâm suy nghĩ cảm thấy mình vì tranh giành địa vị cá nhân mà không nghĩ đến quốc gia đại sự, thật là không phải. Thế là, Liêm tướng quân liền cởi áo bào, mang theo một cành mật gai đến gặp Lận Tương Như để chịu tội. Lận Tương Như thấy Liêm Tướng quân đến xin chịu tội, vội vàng đi ra nghênh đón. Từ đó, hai người trở thành bạn tốt và đồng tâm hiệp lực bảo vệ nước Triệu. 
Đại nhẫn là ở “Tâm”
Nhẫn không chỉ là thể hiện ở sự nhượng bộ, mà còn thể hiện ở chỗ khi bị lăng nhục vẫn có thể chịu nhận mà không động tâm. Chỉ riêng chữ Nhẫn (忍) đã biểu đạt được điều này. Bên trên của Nhẫn (忍) là chữ đao (刀) và còn thêm một điểm để biểu thị sự sắc bén của vết đao, bên dưới của Nhẫn (忍) lã chữ Tâm (心).
Ý tứ ở đây chỉ việc dùng một đao sắc bén đâm vào trái tim thì đương nhiên là đau. Người bình thường bị như vậy phải đau đớn quằn quại lăn qua lăn lại trên mặt đất. Nhưng chữ Tâm ở bên dưới chữ Nhẫn kia vẫn đứng vững yên tĩnh. Biểu hiện không động tâm này chính là hình ảnh lột tả được nội hàm của Nhẫn.




Chữ Nhẫn (Ảnh: internet)
Chữ Nhẫn (Ảnh: internet)

Câu chuyện về hòa thượng Đại Hưng
Hòa thượng Đại Hưng là một người độ lượng và từ bi. Cuộc đời của ông, đã trải qua nhiều gian khổ tủi nhục nhưng rất thành tâm trong tu Phật. Câu chuyện sau đây nói đến cái nhẫn phi thường của ông.
Tại chân núi Cửu Hoa, có một gia đình rất giàu có. Họ có một người con gái tên Tiểu Hội, cô có hôn ước với người con trai của một gia đình giàu có khác.
Ba năm trước khi chọn ngày hôn lễ, Tiểu Hội đã sinh một bé trai. Gia đình cô ta điên đảo lo sợ và thất vọng. Họ bắt cô phải khai ra sự thật. Cuối cùng Tiểu Hội đã nói với gia đình cô ta “Có một lần tôi đi chùa cúng phật tại Núi Cửu Hoa và bị hòa thượng Đại Hưng hãm hiếp. Sau đó tôi mang thai bé trai này.” Cha cô ta tức giận. Ông đem gia nhân của ông đến núi Cửu Hoa làm náo động cả ngôi chùa. Ông và gia nhân đánh đập, chửi bới nguyền rủa hòa thượng Đại Hưng về những tội ác đã làm kể trên. Cuối cùng ông ném thằng bé này cho hòa thượng Đại Hưng và bắt phải nuôi dưỡng nó. Hòa thượng Đại Hưng lặng lẽ nhận đứa bé và nói khẽ “A Di Đà Phật!”
Từ đó danh tiếng của hòa thượng sụp đổ hoàn toàn. Ông đã từng là một vị hòa thượng rất được kính nể, nhưng bây giờ đã bị nguyền rủa là một hòa thượng hiếp dâm phụ nữ. Nơi nào ông đến, đều bị thiên hạ khinh khi cười cợt, phỉ báng. Nhưng, ông không để ý đến. Hằng ngày ông xuống núi xin bố thí để mua sữa nuôi đứa bé. Được sự dưỡng dục chu đáo của ông, đứa trẻ trông rất khỏe mạnh và thông minh.
Ba năm trôi qua rất nhanh.
Tuy rằng cô bị hãm hiếp, những ngày lẽ cưới không thay đổi. Trong đêm tân hôn, người chồng muốn biết sự thật xuất xứ của đứa bé đó, cô ta vừa khóc vừa nói với ông tất cả. Ngay sáng hôm sau, người chồng nói sự thật với gia đình của anh ta là hai người đã lén lút gặp nhau và đó cũng là lý do tạ sao Tiểu Hội đã mang thai và sinh đứa bé ba năm qua. Đó cũng là lý do tại sao anh ta khăng khăng muốn đám cuới với Tiểu Hội dù rằng cô không còn trong trắng. Vì muốn giữ danh tiếng của chồng tương lai của cô, Tiểu Hội đã đổ tội cho hòa thượng Đại Hưng.
Ba ngày sau hôn lễ, Tiểu Hội về thăm gia đình của mình theo phong tục của người Trung Hoa. Cô đã nói với gia đình cha mẹ cô về sự thật đó. Gia đình cô vô cùng kinh ngạc, nhất là đứa bé con của cô ta. Họ rất hối hận là đã làm điều sai trái đối với vị hòa thượng và đã bỏ bê cháu của họ trong ba năm qua.
Hai gia đình gấp rút tới chùa. Họ quỳ trước mặt hòa thượng Đại Hưng, và thành tâm xin lỗi và mong được xin lại đứa cháu. Hòa thượng đã nuôi được một đứa bé khỏe mạnh, và luôn có nụ cười trên môi, Hòa Thượng với dáng bình yên thanh thản như chưa từng xảy ra chuyện gì, ông bế đứa bé trả lại cho Tiểu Hội một cách trang trọng, và nói với họ “Đem đứa bé này về! A di dà Phật!” Ông chấp hai tay trước ngực để ra dấu tạm biệt họ, và thản nhiên trở vào phòng thiền định.
Kể từ đó trở đi, tất cả hòa thượng trong chùa và mọi người càng kính trọng hòa thượng Đại Hưng hơn nữa.




(Ảnh: Internet)
(Ảnh: Internet)

“Nhẫn” quyết không phải là nhu nhược

Nhẫn là một loại tu dưỡng và cảnh giới, tuyệt đối không phải là nhu nhược.

Thuở thiếu niên, Hàn Tín thân thể cường tráng, võ nghệ cao cường, vì là người luyện võ nên thường khoác bảo kiếm đi trên đường. Một hôm, có một kẻ vô lại hỏi Hàn Tín: “Ngươi khoác bảo kiếm làm gì? Ngươi dám sát nhân không? Có can đảm thì giết ta đi!”
Hàn Tín thầm nghĩ: “Ta giết hắn là việc quá dễ dàng, nhưng sát nhân là phải đền mạng, hơn nữa cũng là việc không đáng.” Người kia liền cười to và nói: “Ngươi không dám giết ta, vậy ngươi phải chui háng ta đi nếu không đừng hòng đi qua!” Trong tiếng cười nhạo của cả đám đông bọn họ, Hàn Tín đã thực sự chui qua háng của kẻ vô lại.




Điển tích Hàn Tín chịu nhục chui háng (Ảnh: internet)
Điển tích Hàn Tín chịu nhục chui háng (Ảnh: internet)

Hàn Tín làm như vậy, không những không có người cho rằng ông nhu nhược mà nhiều người còn cho rằng ông có năng lực nhẫn nại và khả năng kiềm chế cao.
Trong “Lưu Hầu luận”, Tô Thức cho rằng: Thời xưa, người được xưng là dũng sĩ nhất định có tiết tháo hơn người, có thể độ lượng với cả những việc người thường không thể chịu đựng được. Người “hữu dũng vô mưu” khi bị vũ nhục, nhất định sẽ rút kiếm, đây không thể được gọi là dũng sĩ. Dũng sĩ thực sự trong thiên hạ, khi gặp những sự tình bất ngờ đều không bị kinh hoảng, khi vô cớ bị người khác vũ nhục, cũng thấy bình thường, không phẫn nộ. Đây thường là bởi vì họ có ý chí, khát vọng vô cùng lớn, chí hướng cao xa phi thường.
Không có “Dục vọng” chính là “Nhẫn”
Cốt lõi của nho gia là “Nhân”, “Nhân” với “Nhẫn” là cùng âm. Vậy thì, cái gì là Nhân? Khổng Tử nói: “khắc kỷ phục lễ vi nhân” (Tạm dịch: Có thể theo “Lễ” thì là Nhân). Một người nếu muốn trở thành người hành xử theo “lễ” phải thường xuyên kiềm chế bản thân, ước thúc lời nói và hành vi của mình, khiến cho lời nói và hành vi của mình đều phù hợp với yêu cầu của “Lễ”.

Đây là một việc rất khó, kỳ thực trên đời này chiến thắng khó khăn nhất là chiến thắng bản thân mình chứ không phải chiến thắng người khác.

Con người đều có thất tình lục dục. Thất tình theo Nho gia là: hỉ, nộ, ai, cụ, ái, ác, dục. Thất tình theo Phật giáo là: hỉ, nộ, ưu, cụ, ái, tăng, dục. Thất tình theo Trung y là:  hỉ, nộ, ưu, tư, bi, khủng, kinh.
Con người khi chìm đắm trong tình và dục, vì mình, trước đủ loại hấp dẫn, trong lợi ích trước mặt, thì có thể nhẫn được không? Rất nhiều người khi mất đi “danh, lợi, tình” sẽ sản sinh ra một loại cảm giác thống khổ, cảm thấy khó có thể chịu đựng được. Kỳ thực, chỉ cần có thể bỏ đi dục vọng, thì sẽ không có loại cảm giác thống khổ này, Nhẫn lúc đó cũng đã thăng hoa.




Câu Tiễn nằm gai nếm mật (Ảnh: internet)
Câu Tiễn nằm gai nếm mật (Ảnh: internet)

Theo NTDTV chanhkien.org
Mai Trà biên dịch
20. Quỷ Cốc Thử Tài Học Trò


Quỷ Cốc Tôn sư có hai học trò xuất sắc là Tôn Tẩn và Bàng Quyên. Một hôm Quỷ Cốc muốn thử tài học trò bèn kêu họ lại, bảo:
- Ta ngồi trong động, trò nào có thể mời ta ra ngoài được?
Bàng Quyên vội vàng giành mời trước, nói:
- Bạch Tô sư, ngoài cửa động có rồng chầu phượng múa rất đẹp!
Quỷ Cốc nói:
- Hôm nay hung nhật, làm gì có việc đó?
Bàng Quyên lại nói:
- Có Bạch Hạc Đồng Tử mời thầy đi đánh cờ.
Quỷ Cốc lắc đầu, nói:
- Hôm qua ta đã chơi cờ với họ rồi.
Bàng Quyên trâng tráo:
- Nếu thầy không ra thì con nổi lửa đốt động!
Quỷ Cốc mỉm cười.
Đến lượt Tôn Tẫn mời. Tôn Tẫn thành kính thưa:
- Đệ tử không thể mời thầy từ trong ra ngoài được. Nhưng nếu thầy ở ngoài động đệ tử có cách mời thầy vào trong được.
Quỷ Cốc lấy làm lạ bèn truyền đem ghế ra ngoài ngồi, cốt xem Tôn Tẫn sẽ mời bằng cách nào.
Khi Tôn Sư an tọa, Tôn Tử vội quỳ xuống:
- Vậy đệ tử mời thầy ra ngoài được rồi!
Quỷ Cốc phục cái trí của Tôn Tẫn.

LỜI BÀN:
Hai lần Bàng Quyên mời Quỷ Cốc là hai lần lừa gạt một cách lộ liễu thấp kém. Giả sử có rồng chầu phượng múa, hoặc có Bạch Hạc Đồng Tử ở ngoài động, Quỷ Cốc vẫn không ra thì sao? Đến lần thứ ba, Bàng Quyên không cần mời nữa, bèn dùng cái kế "đốt động", Quyên bộc lộ hết cái ác tâm của mình. Quả thật, ngày sau do ghét Tôn Tẫn, Quyên đã đục lấy bánh xương chè của Tôn Tẫn. Quyên đã lừa thầy hại bạn. Tôn Tẫn không nghĩ đến đến chuyện xa vời, chỉ lấy sự thật làm kế (vì không kế nào hay bằng sự thật, không có bí mật nào kín bằng công khai). Bậc Tôn sư như Quỷ Cốc cũng phải mắc mẹo này. Tôn Tẫn ngày sau làm quân sư cho Tề hai lần đánh bại quân Ngụy do Bàng Quyên chỉ huy. Cuối cùng Bàng Quyên tự sát ở Mã Lăng. Qua cuộc thử trí trên đây, ta có thể đoán được tâm hồn của mỗi người. 

Chuyện kể Tôn Tẫn tầm sư học đạo

Việc nhỏ không nhịn được, việc lớn ắt sẽ hỏng

Phạm Lãi (quỳ) và Câu Tiễn trong phim Việt Vương Câu Tiễn hay còn gọi tên khác là Nằm Gai Nếm Mật lúc này vừa đánh thua quân Ngô (Ảnh: Internet)
Phạm Lãi (quỳ) và Câu Tiễn trong phim Việt Vương Câu Tiễn hay còn gọi tên khác là Nằm Gai Nếm Mật lúc này vừa đánh thua quân Ngô (Ảnh: Internet)
Cổ nhân nói: “Tiểu bất nhẫn tắc loạn đại mưu” (Tạm dịch: Không nhịn được việc nhỏ nhặt, sẽ làm hỏng việc lớn). Trong cách đối nhân xử thế, nếu như có thể nhẫn nhịn thì chính là một loại biểu tượng của thao hối (có tài, có trí mà kín đáo), hàm dưỡng, trí tuệ rộng lớn, và biết nhìn xa trông rộng.
Thời cổ đại Trung Quốc, Việt Vương Câu Tiễn nằm gai nếm mật, chịu nhẫn nhục mà có thể phục quốc. Hàn Tín chịu nhẫn nhục chui háng mà cuối cùng làm lên sự nghiệp lớn. Không ngừng truy cầu nâng cao phẩm chất đạo đức cá nhân là một trong những đặc điểm nổi bật của văn hóa nho gia truyền thống. Câu “Tiểu bất nhẫn tắc loạn đại mưu” thể hiện tinh thần nhẫn nại trong tư tưởng của nho gia. Người xưa cũng nói: “Bách hành chi bản, nhẫn chi vi thượng” (Tạm dịch: Trong trăm cái nết thì nhẫn là cao hơn hết) vì vậy trong tất cả sự nghiệp của đời người đều cần phải kiềm chế và nhẫn nại.
“Tiểu bất nhẫn tắc loạn đại mưu” là một ý trong câu nguyên văn: “Xảo ngôn loạn đức, tiểu bất nhẫn tắc loạn đại mưu.” Có ý rằng, đối với việc nhỏ mà không thể đối đãi đúng đắn, không thể nhẫn nhịn tha thứ thì sẽ khiến cho việc lớn của mình bị thất bại.
Trong lịch sử có rất nhiều câu chuyện kể về các nhân vật khi đối mặt với việc “bị làm cho nhục nhã” mà không hề so đo hay oán hận, không phô trương nên đã tránh được việc gặp phải tai họa.
Ví dụ câu chuyện của Trương Nhĩ và Trần Dư là hai danh sĩ thời nhà Ngụy. Sau khi nước Tần tiêu diệt nước Ngụy. Trương Nhĩ và Trần Dư mai danh ẩn tích đến huyện Trần làm người giữ cổng làng để kiếm ăn.
Một hôm, có một viên quan lại trong làng lấy roi đánh Trần Dư. Trần Dư muốn đứng lên phản kháng, Trương Nhĩ giẫm vào gót chân của Trần Dư ám chỉ Trần Dư hãy cố gắng nhẫn chịu để cho ông ta đánh. Sau khi viên quan lại đi rồi, Trương Nhĩ kéo Trần Dư đến dưới gốc cây dâu và nói: “Trước đây tôi đã nói với anh như thế nào? Hôm nay mới chỉ một cái nhục mà đã không nhịn được, chẳng lẽ anh muốn chết uổng trong tay tên quan lại đó sao?” Trần Dư hiểu ra dụng tâm của Trương Nhĩ mà nghe theo. Không lâu sau đó, cả Trương Nhĩ và Trần Dư đều làm chức thừa tướng. Nếu như lúc trước hai người họ không nhẫn nhịn được tên tiểu quan lại kia thì kết quả chắc chắn sẽ không là như vậy.

Tương truyền Tôn Tẫn chính là cháu của Tôn Vũ (tức Tôn Tử), là người thông minh, có nghĩa khí.


Ảnh dienanh
Ảnh dienanh
Tôn Tẫn là người nước Yên, cha là Tôn Tháo, mẹ là Công Chúa Yên Đơn, ông nội là Tôn Võ Tử .
Công Chúa Yên Đơn thọ thai 48 tháng mới sanh ra Tôn Tẫn. Lúc sanh ra là lúc Công Chúa Yên Đơn đương bị khổn trong trận do Hỗn Thiên Tán của Túy Vân, nên nằm bất tỉnh rồi lâm bồn đúng giờ Tý tại núi Kinh Kha nước Yên
Lúc Tôn Tẫn lên 9 tuổi thì Tôn Tháo mất, Tôn Kiều là chú đang làm quan Đại Phu nước Tề đem Tôn Tẫn về nuôi dưỡng. Sau đó Tôn Kiều gặp nạn, phải lánh sang nước Châu, gia đình sa sút, Tôn Tẫn phải đi làm thuê để sinh sống .
Tôn Tẫn lớn lên, nghe đồn Quỉ Cốc Tiên Sinh có tài cao phép lạ , nên tìm đến xin thọ giáo. Nguyên ở Dương Thành thuộc địa phận nhà Châu, có một chỗ gọi là Quỉ Cốc, vì nơi ấy có núi cao rừng rậm, âm khí nặng nề. Trong núi ấy có một ẩn sĩ họ Vương tên Hủ , trước ở núi Vân Mộng cùng Mặc Địch hái thuốc, tu Tiên, sau đến ẩn nơi Quỉ Cốc, nên người ta thường gọi là Quỉ Cốc Tiên Sinh .
Quỉ Cốc Tiên Sinh có học vấn uyên bác, tu Tiên đắc đạo, tinh thông lý số, thông hiểu lẽ huyền vi của Trời Đất, lại cũng tinh thông binh thơ đồ trân. Học trò của Quỉ Cốc Tiên Sinh có nhiều người tài giỏi như : Tôn Tẫn, Bàng Quyên, Tô Tần, Trương Nghi, vv… Tôn Tẫn và Bàng Quyên thì học về binh pháp. Còn Tô Tần và Trương Nghi thì học về du thuyết .
Bàng Quyên học được 3 năm, tự cho mình đã giỏi rồi, nên xin thầy cho xuống núi đi lập công danh.
Quỉ Cốc bảo Bàng Quyên đi hái một cành hoa đem vào đây để thầy đoán vận mạng cho. Bàng Quyên đi ra khỏi động, nhằm lúc khí Trời nóng nực, cây cối không ra hoa, chỉ thấy một bông hoa cỏ, liền nhổ lên cả gốc, toan đem trình thầy, bỗng nghĩ rằng bông hoa nầy mềm yếu và không đẹp nên ném xuống đất, rồi đi tìm hoa khác, nhưng không tìm được cành hoa nào, đành trở lại chỗ cũ, nhặt cành hoa đã bỏ lúc nảy, bỏ vào túi áo, rồi vào trình thầy rằng :
– Trong núi mùa nầy không có hoa.
– Không có hoa thì vật gì trong túi áo của ngươi đó ?
Bàng Quyên không giấu được, buộc phải đưa ra trình.
– Nhà ngươi có biết cái hoa nầy tên gì không ? Nó là hoa Mã Đâu Linh, mỗi lần nở 12 bông, ứng với số năm vẻ vang của ngươi. Hoa nầy hái ở Quỉ Cốc, thấy mặt Trời thì héo, bên chữ QUỈ có chữ ỦY  thành chữ NGỤY (đây đều là chiết tự tiếng Trung Quốc) , nhà ngươi xuất thân ở nước Ngụy. Sau nầy nhà ngươi vì việc lừa dối người mà bị người lừa dối lại. Vậy nên lấy điều đó mà răn mình. Ta có 8 chữ nầy, nhà ngươi khá nhớ : “ Gặp dê thì vinh, gặp ngựa thì hỏng.”
Bàng Quyên lạy thầy 2 lạy nói rằng :
– Lời giáo huấn của thầy, đệ tử hết lòng ghi nhớ.
Tôn Tẫn tiễn Bàng Quyên xuống chơn núi.
Bàng Quyên nói :
– Đệ cùng huynh kết nghĩa anh em, thề giàu sang cùng hưởng, khốn nàn cùng gánh. Chuyến đi nầy nếu đệ lập được công danh thì sẽ tiến cử huynh để cùng lập cơ nghiệp.
Hai người chia tay, Tôn Tẫn buồn rớm nước mắt, trở lên núi. Quỉ Cốc Tiên Sinh hỏi Tôn Tẫn :
– Ngươi bảo cái tài của Bàng Quyên làm được Đại Tướng không ?
– Nhờ ơn thầy dạy bảo đã lâu, lẽ nào Bàng Quyên không làm được Đại Tướng ?
– Không làm được, nhứt định không làm được.
Tôn Tẫn nghe thầy nói vậy thì lấy làm lạ nhưng không dám hỏi thầy lý do. Hôm sau, Quỉ Cốc bảo các học trò :
– Ban đêm, ta rất khó ngủ, ta rất ghét tiếng chuột kêu. Các trò phải luân phiên nhau thức mà đuổi chuột cho ta.
Các trò đều vâng lời, chia phiên thức gác. Tới phiên Tôn Tẫn, Tiên sinh lấy một quyển sách trao cho Tôn Tẫn nói :
– Đây là 13 thiên binh pháp của ông nội nhà ngươi tên là Tôn Võ Tử, xưa đem dâng cho vua Hạp Lư nước Ngô, nhờ đó mà Hạp Lư phá tan quân Sở. Hạp Lư giữ cuốn sách nầy làm gia bảo, bỏ vào hộp sắt, giấu vào cột Cô Tô Đài. Từ khi quân nước Việt đốt Cô Tô Đài, cuốn sách ấy mất tích luôn.Ta có chơi thân với ông nội ngươi, nên được xem sách ấy, ta nhớ và ghi lại, tự tay ta chú giải thêm nhiều điều bí mật trong cách hành binh. Ta chưa từng cẩu thả giao sách cho ai, nay thấy ngươi trung hậu, nên ta giao cho ngươi học, trong 3 ngày giao lại cho ta. Học cuốn sách nầy, khéo dùng thì làm lợi cho thiên hạ, không khéo dùng thì hại rất lớn. Bàng Quyên không là người tốt, nên ta không dạy.
Tôn Tẫn đem sách về phòng, ngày đêm nghiền ngẫm, trong 3 ngày thì nằm lòng. Ba ngày sau, Tôn Tẫn đem sách nộp cho thầy. Tiên Sinh theo từng thiên hỏi lại Tôn Tẫn, Tôn Tẫn đối đáp rất trôi chảy. Tiên Sinh mừng rỡ nói :
– Ngươi biết dung tâm như thế, Tỗ phụ ngươi dầu đã qua đời chắc rất vui lòng.
Nói về Bàng Quyên, xuống núi thẳng đến nước Ngụy, vào cầu quan Tướng Quốc Vương Thác. Vương Thác tiến cử Bàng Quyên lên vua Ngụy Huệ Vương. Khi Bàng Quyên vào chầu vua, gặp lúc nhà bếp dâng lên món thịt dê. Bàng Quyên mừng thầm vì nhớ lời thầy dặn , gặp dê thì vinh .
Bàng Quyên được Huệ Vương trọng dụng, lần lần phong lên đến chức Nguyên Soái, kiêm Quân Sư. Con trai là Bàng Anh, cháu là Bàng Thông, Bàng Mai đều được vua phong làm Tướng, cả nhà vinh hiển.
Lúc bấy giờ có Mặc Địch ghé Quỉ Cốc thăm bạn cũ là Vương Hủ (Quỉ Cốc Tiên sinh), Mặc Địch gặp Tôn Tẫn, đàm luận rất hợp ý, bèn bảo Tôn Tẫn :
– Anh học nghệ đã thành, sao không đi lập công danh ?
– Tôi có người bạn học là Bàng Quyên, đã ra làm quan ở nước Ngụy, có hẹn khi nào đắc chí sẽ tiến cử tôi, nên tôi đợi.
– Bàng Quyên đã làm Nguyên soái nước Ngụy, để tôi vì anh mà đến đó dọ ý Bàng Quyên thế nào ?
Mặc Địch từ giã Quỉ Cốc rồi đi vào nước Ngụy, nghe Bàng Quyên cậy tài, nói quá không biết thẹn, không có ý tiến cử Tôn Tẫn. Mặc Địch vào nói cho Huệ Vương rõ các việc. Huệ Vương liền đòi Bàng Quyên đến hỏi :
– Ta nghe nói Tôn Tẫn cùng học một thầy với Nguyên soái, lại được học riêng binh pháp bí truyền của Tôn Võ Tử, tài giỏi không ai bằng, sao Nguyên soái chẳng vì Quả nhân mà tiến cử người ấy đến giúp Trẫm.
– Tâu Bệ hạ, hạ thần không phải không biết tài của Tôn Tẫn, nhưng Tôn Tẫn là người nước Tề, nay làm quan nước Ngụy thì thế nào cũng liên lạc với Tề. Nay Bệ hạ muốn triệu Tôn Tẫn thì hạ thần xin viết thơ gọi đến.
Bàng Quyên ở vào thế buộc phải viết thơ gọi Tôn Tẫn, nhưng thâm tâm rất sợ Ngụy Vương trọng dụng Tôn Tẫn, bỏ rơi mình, nên thầm tính kế hại Tôn Tẫn.
Bàng Quyên viết thơ xong, Huệ Vương dùng xe Tứ Mã và đồ lễ long trọng, sai người đến Quỉ Cốc rước Tôn Tẫn.
Tôn Tẫn tiếp được thơ của Bàng Quyên, vội đem trình thầy. Tiên sinh bảo Tôn Tẫn đi hái một cành hoa để bói coi tốt xấu. Tôn Tẫn thấy bình hoa trên án có một cành hoa cúc, bèn đến rút lấy đem trình thầy, rồi đem cắm trở lại vào bình.
Tiên sinh đoán rằng : Cành hoa nầy bị bẻ, không hoàn hảo, nhưng tánh chịu rét, dẫu có bị tàn hại cũng không hề gì. Vả cắm trong bình, mọi người đều quí trọng, mà cái bình ấy lại là vàng đúc cùng một loại với chung đỉnh, chắc rồi sẽ có tiếng tăm lừng lẫy. Nhưng cành hoa nầy 2 lần cất nhắc lại cắm vào bình, vậy sự nghiệp của ngươi chưa thể đắc ý ngay được, mà kết cuộc sẽ làm nên ở quê mình. Vậy ta đổi tên cho, có thể mong tiến thủ được. Tên ngươi là TÂN  , ta thêm một chữ NHỤC  ở bên tả thành chữ TẪN , vậy tên của ngươi là Tôn Tẫn (các ký tự tiếng Trung Quốc) . (Tân là khách, Tẫn là bị chặt xương đầu gối) Tiên sinh đổi tên như thế là vì Tiên sinh biết trước học trò mình bị cái hoạ chặt chân, nhưng không dám tiết lộ. .
Khi Tôn Tẫn lạy thầy từ biệt, Thầy trao cho một bức cẩm nang, dặn kỹ khi nào gặp việc nguy cấp mới mở ra xem. Tôn Tẫn lạy tạ thầy lần nữa, rồi xuống núi, lên xe Tứ Mã thẳng đến nước Ngụy, tạm ở trong phủ của Bàng Quyên.
Bàng Quyên biết Tôn Tẫn tài giỏi hơn mình, sợ Ngụy Vương dùng Tôn Tẫn, bỏ rơi mình, nên Bàng Quyên, ngoài mặt giả đò anh em thân thiết, nhưng ngầm lập kế ám hại Tôn Tẫn. Bàng Quyên giả mạo chứng cớ, cáo buộc Tôn Tẫn tư thông nước Tề để hại nước Ngụy. Huệ Vương nghe lời sàm tấu của Bàng Quyên, bắt Tôn Tẫn chặt chưn và thích vào trán 4 chữ “ Tư Thông Ngoại Quốc ”.
Tôn Tẫn trở thành phế nhân, mỗi ngày chịu ơn Bàng Quyên cung cấp 3 bữa ăn. Bàng Quyên lại dùng thủ đoạn để gạt người bạn cũ chép 13 thiên binh pháp truyền lại cho mình.
Tôn Tẫn vì lầm gian kế của Bàng Quyên nên rất khổ sở, quá chán nãn cho tình người đen bạc, lại bị vết thươngchặt chưn hành hạ quá đau đớn, muốn tìm kế thoát thân, nhưng chưa biết phải làm sao, sực nhớ bức cẩm nang thầy ban cho, liền bí mật mở ra xem, thấy thầy đề 2 chữ : Giả điên.
Buổi chiều hôm ấy, khi mâm cơm đưa tới, Tôn Tẫn cầm đũa định ăn, bỗng làm ra dáng mê man, nôn oẹ, hồi lâu nổi giận giương mắt hét to lên rằng : Mày dùng thuốc độc hại ta, rồi hất đổ mâm cơm xuống đất, miệng lảm nhảm chửi hoài.
Bàng Quyên được lính hầu báo cho biết việc Tôn Tẫn nổi điên thì không tin, đến tận nơi xem xét và nhốt Tôn Tẫn vào chuồng heo, đem cơm đến cho ăn. Tôn Tẫn lại hét : “ Mày lại đem thuốc độc đến hại ta à ?” Nói rồi gạt mâm cơm đổ xuống đất. Tên lính hầu nhặt cơm cho chó ăn, lấy một cục bùn đưa Tôn Tẫn thì Tôn Tẫn liền lấy ăn ngay.
Bàng Quyên tin chắc Tôn Tẫn điên thật nên không lấy làm lo, dần dần thả lỏng Tôn Tẫn muốn đi đâu thì đi, nhưng ra lịnh cho người theo dõi, mỗi sáng phải trình báo cho biết Tôn Tẫn hiện đang ở đâu.
Bấy giờ Mặc Địch sang chơi nhà Điền Kỵ nước Tề. Có người học trò tên Cầm Hoạt ở nước Ngụy đến. Mặc Địch hỏi thăm Cầm Hoạt lúc nầy Tôn Tẫn có đắc ý không ? Cầm Hoạt thuật lại việc Tôn Tẫn bị chặt châ và trở nên điên khùng.
Mặc Địch nói :
– Ta muốn tiến cử hắn nào ngờ lại thành ra hại hắn.
Mặc Địch liền nói rõ tài học của Tôn Tẫn cho Điền Kỵ nghe và việc Bàng Quyên ganh tài ám hại Tôn Tẫn, khuyên Điền Kỵ tìm cách rước Tôn Tẫn sang Tề. Điền Kỵ vào tâu với vua Tề là Tề Uy Vương. Uy Vương muốn đem binh đón Tôn Tẫn thì Điền Kỵ can, nói phải lập kế mới rước Tôn Tẫn được. 
Uy Vương sai Thuần Vu Khôn sang Ngụy dâng trà, đem Cầm Hoạt đi theo giả làm kẻ hầu. Qua đến Ngụy, Cầm Hoạt bí mật đi tìm Tôn Tẫn, rồi mướn người khác giả làm Tôn Tẫn, đặng rước Tôn Tẫn thật về Tề.
Thuần Vu Khôn và Cầm Hoạt đưa được Tôn Tẫn ra khỏi nước Ngụy thì đi thẳng về Lâm Tri, có Điền Kỵ thân hành ra đón. Tề Uy Vương rất mừng, muốn phong Tôn Tẫn làm Quân Sư, nhưng Tôn Tẫn tâu rằng :
– Hạ thần chưa có chút công chi nên chưa dám nhận quan tước. Vả nếu Bàng Quyên biết thần làm quan cho Tề ắt lo đề phòng, chi bằng tạm giấu đi mới dễ bề hành động.
Uy Vương bằng lòng, cho Tôn Tẫn ở trong dinh Điền Kỵ, tôn là thượng khách.
Lúc đó, Ngụy Huệ Vương sai Bàng Quyên đi đánh nước Triệu để đòi đất Trung Sơn. Quân Triệu bị thua. Triệu Thành Hầu cầu Tề cứu viện. Tề Uy Vương định phong Tôn Tẫn làm Đại Tướng đem binh cứu Triệu. Tôn Tẫn tâu rằng :
– Hạ thần là kẻ tàn phế, nếu cho làm Đại Tướng e cho quân địch sẽ cười Tề không có tướng tài, chi bằng Đại Vương cử Điền Kỵ làm Tướng, và hạ thần bí mật theo giúp mưu kế.
Tề Uy Vương cử Điền Kỵ làm Đại Tướng, Tôn Tẫn làm Quân Sư bí mật ở trong xe, kéo đại binh cứu Triệu.
Điền Kỵ muốn đem quân thẳng đến Hàm Đan là kinh đô của Triệu. Tôn Tẫn nói : Tướng nước Triệu không đánh nổi Bàng Quyên, nên khi ta kéo quân đến đó thì Hàm Đan đã mất về tay quân Ngụy rồi, chi bằng ta cứ đóng quân giữa đường, rêu rao nói rằng ta đi đánh Tương Lăng của Ngụy. Huệ Vương lo sợ, ắt phải gọi Bàng Quyên trở về giữ Tương Lăng. Bấy giờ ta đón đánh Bàng Quyên thì thế nào cũng thắng.
Điền Kỵ y theo kế đó mà làm. Quả đúng như lời Quân Sư Tôn Tẫn, Bàng Quyên kéo binh về giữ Tương Lăng. Điền Kỵ bày binh theo cách của Tôn Tẫn, đánh Bàng Quyên một trận tơi bời, Bàng Quyên ban đêm chạy trốn về Ngụy.
Năm sau, Bàng Quyền cùng Thái Tử Thân đem binh đánh nước Hàn. Hàn sang cầu cứu Tề. Tề Uy Vương cử Điền Kỵ và Tôn Tẫn đi cứu Hàn.
Điền Kỵ muốn kéo quân đến nước Hàn. Tôn Tẫn nói :
– Không nên, trước kia ta cứu Triệu mà chưa hề đến Triệu, nay cứu Hàn cũng y theo kế hoạch đó. Cái thuật giải cứu Hàn là phải đánh vào nơi yếu trọng của Ngụy thì quân Ngụy tất phải kéo về. Cái kế ngày nay là phải đem binh thẳng đến kinh đô Ngụy thì mới cứu được Hàn.
Bàng Quyên đang thắng thế ở nước Hàn, nhưng Ngụy Huệ Vương ra lịnh cho Bàng Quyên phải tức tốc rút binh về đón đánh quân Tề đang thừa cơ kéo đến đánh kinh đô của Ngụy. Tôn Tẫn bày kế lừa Bàng Quyên. Quân Tề làm như sợ hãi khi biết Bàng Quyên kéo quân trở về Ngụy. Ban đầu làm 10 vạn bếp, sau đó rút quân như bỏ chạy, hôm sau làm 6 vạn bếp, hôm sau rút chạy nữa, chỉ còn làm 3 vạn bếp.
Bàng Quyên cho quân quan sát các bếp của quân Tề, cười lớn nói với Thái Tử Thân :
– Thật là hồng phúc của Ngụy Vương, quân Tề hèn nhát, vào đất Ngụy có 3 ngày mà binh sĩ bỏ trốn quá nửa. Kỳ nầy, Quyên sẽ bắt sống bọn Điền Kỵ để rửa cái hận Tương Lăng năm trước.
Nói xong, Bàng Quyên chọn 2 vạn tinh binh tiến gấp đánh quân Tề, còn đại binh từ từ đi sau.
Tôn Tẫn dọ biết tin đó, tính toán và dự kiến đoàn quân của Bàng Quyên sẽ đến Mã Lăng vào lúc tối. Đường Mã Lăng ở giữa hai trái núi có cây cối um tùm, rất dễ phục binh. Tôn Tẫn sai chặt cây ngã ngang để chẹn lối đi, chỉ chừa một cây to giữa đường, cho cạo sạch một một ô vuông vỏ cây ở phía Đông, rồi dùng than viết lên đó mấy chữ : “ Quân Sư Tôn bảo : Bàng Quyên chết tại cây nầy.”
Tôn Tẫn sai bộ tướng Viên Đạt, Độc Cô Trần, kén 5000 quân cung nỏ, mai phục 2 bên tả hữu Mã Lăng, dặn kỹ hễ nơi gốc cây có ánh lửa phát ra thì nhất tề nhắm vào đó bắn.
Lại sai Điền Anh dẫn 1 vạn quân mai phục cách Mã Lăng 3 dặm chẹn đường quân Ngụy.
Tôn Tẫn phân phát binh xong thì cùng Điền Kỵ dẫn binh còn lại lên đóng phía Bắc để dự bị tiếp ứng.
Bàng Quyên kéo binh đến Mã Lăng thì Trời vừa tối, thấy cây cối bị đốn ngã nằm ngổn ngang, cho rằng quân Tề sợ quân Ngụy đuổi theo kịp nên đốn cây cản đường như thế.
Bàng Quyên cho thu dọn cây cối, bỗng thấy có một cây giữa đường, gần nơi gốc đẽo trắng, có viết chữ nhưng Trời tối không thấy rõ. Bàng Quyên sai một tên lính châm lửa lên xem, Bàng Quyên đọc xong mấy chữ thì la lên :
– Ôi ! Ta mắc mưu thằng què rồi !
Vừa la xong thì có cả muôn mũi tên từ nỏ bắn ra, quân Ngụy chết thôi vô số. Bàng Quyên bị loạn tên trọng thương, liệu không thoát được, bèn rút kiếm tự đâm cổ chết.
Cuộc đời của Bàng Quyên đúng y như lời của Quỉ Cốc Tiên Sinh đã nói trước : Ngươi sẽ vì lừa người mà bị người lừa lại, gặp dê thì vinh, gặp ngựa thì hỏng. Bàng Quyên chết tại Mã Lăng. (Mã là ngựa).
Giết xong Bàng Quyên rồi, Tôn Tẫn xin với vua Tề cho về ẩn dật tu luyện ở núi Thạch Lư. Một năm sau, không còn ai biết Tôn Tẫn ở đâu nữa.
Tôn Tẫn lúc mới đến nước Tề, lúc này còn chưa ai biết về tài năng của ông , vậy ông làm sao để trở thành nhà quân sư lừng lẫy trong lịch sử.
ton tan
Thời Chiến Quốc, đại tướng nước Tề là Điền Kỵ thường cùng Tề Vương và các quý tộc cung đình cá cược đua ngựa. Mỗi cuộc thì đặt tiền cửa đến hàng trăm lượng vàng. Tuy ở chiến trường ông oai phong dữ dội, chiến công hiển hách là thế nhưng ở sòng bạc ông lại nhiều lần bị thất bại.
Sẩm tối ngày hôm ấy, nhà Điền Kỵ có một vị khách trông rất phong trần dầu dãi, người này tuy mặc áo vải nhưng có phong thái hơn người. Ông tên gọi Tôn Tẫn .Trong tiệc rượu, hai người đàm luận về chiến thuật chiến lược khi hai quân giao chiến. Nói đến chiến trận, Điền Kỵ phấn chấn hẳn lên, đặc biệt cách ăn nói thông minh và tài thao lược kinh người của Tôn Tẫn càng khiến ông hứng khởi vui thích. Bất giác đã qua ba tuần rượu, Điền Ky chợt nhớ tới chuyện đua ngựa, mặt mày như có đảm mây sầu che phủ. Tôn Tấn cảm thấy băn khoăn, vội vã hỏi:
Lão huynh, có chuyện gì phiền não thế?
 Điền Kỵ trầm ngâm hồi lâu, sau rất mới ngượng nghịu thổ lộ nỗi khổ não chất chứa trong lòng bấy lâu.
Tôn Tẫn nghe ông kể xong, trầm tư giây lát rồi nói: Việc này không hề khó, lần sau huynh có thể đặt tiền cược lớn gấp ba, đệ bảo đảm huynh sẽ thắng!
Điền Kỵ bán tín bán nghi hỏi;
– Lão huynh có diệu kế gì vậy?
Tôn Tấn có vẻ đã tính toán sẵn:
– Thưa vâng, đến lúc đó huynh tất sẽ rõ, không cần phải suy nghĩ nhiều đâu!
Đến hôm đó, Điền Kỵ đặt cược một nghìn đồng vàng ngay trước mặt mọi người. Tề Vương và những vương công quý tộc kia tưởng rằng ông thua nhiều nên cay cú làm bừa. Họ cười nói;
– Lần này ông ta sẽ thua thảm hơn, nhìn mà xem!
Phương pháp đua ngựa hồi đó là: người dự đua đều phải tự mình chia ngựa của mình làm ba loại thượng, trung, hạ. Sau đó vào cuộc đua lần lượt theo thứ tự thượng đẳng, trung đăng, rồi hạ đẳng. Cuộc đua xong xuôi, chỉ cần ngựa của ai hai lần được ghi, tên là ”đầu bảng cược”, coi như là thắng.
Lại nói hôm đó Điền Kỵ tuy đứt khoát đặt tiền cửa nhưng trong lòng vẫn không khỏi lo lắng, lẩm bẩm: ”Lần này nếu lại thua, thì có thể.. ”.
Lúc này, Tôn Tẫn đến gần Điền Ky, nói nhỏ:
Lão huynh, đừng có lo lắng, lại đây.. Hãy cho ngựa hạ đẳng của huynh đua với ngựa thượng đẳng của họ rồi lại dùng ngựa thượng đẳng của huynh đua với ngựa trung đẳng của họ, ngựa trung đẳng của huynh để cuối cùng mới dùng, như thế họ chỉ còn lại ngựa hạ đẳng. Hiểu rõ chưa?
Ái chà! –  Điền Kỵ nghe thế, vỗ đùi đen đét – Tại sao xưa nay ta không nghĩ ra điều này nhỉ?
Liền vội vàng đặn dò thủ hạ cứ sắp xếp như thế, như thế.
Kết quả cuộc đua, không ngoài dự kiến, Điền Ky thắng hai cuộc, thoắt cái mặt mày tưng bừng, bình tĩnh lấy đi một nghìn lạng vàng từ tay Tề Vương.
Ít lâu sau, Điền Kỵ không đã đem bí mật khiến ông chiến thắng trong cuộc đua ngựa kể cho quốc vương. Tề Vương vội vàng sai ông vời Tôn Tẫn đến. Từ đó, Tôn Tấn làm quân sư cho nước Tề, nhiều lần đánh bại địch thủ trên chiến trường, tiếng tăm lừng lẫy, trở thành một trong những nhà quân sự kiệt xuất trong lịch sử Trung Quốc.
st


Cách thức phân biệt người quân tử và kẻ tiểu nhân của người xưa

Điển tích Hàn Tín chịu nhục chui háng (Ảnh: internet)
Điển tích Hàn Tín chịu nhục chui háng (Ảnh: internet)
Ngụy Hi – người được xưng là “Thanh sơ tam đại gia” (một trong ba nhà văn lớn hàng đầu của triều đại nhà Thanh) đã từng nói:

“Ta không hiểu biết như thế nào là người quân tử, nhưng nhìn vào khả năng “chịu nhận phần thiệt” trong mỗi sự việc của người ấy là sẽ biết. Ta không biết được như thế nào là kẻ tiểu nhân, nhưng nhìn vào việc “tranh giành phần lợi” của người ấy là sẽ biết.”

Suy ngẫm kỹ càng, thật đúng nó là quanh co như vậy. Có thể chịu thiệt quả là không phải một việc dễ dàng. Cần phải có tấm lòng khoan dung, độ lượng lớn mới có thể chịu thiệt thòi một cách cam tâm tình nguyện. Tiêu biểu là phải khoan dung độ lượng, chịu nhẫn nhục, co được giãn được (tức là biết ứng phó thích hợp với tình hình cụ thể) thì chính là một quân tử. Chẳng trách mà người xưa dùng tiêu chuẩn “có hay không có khả năng chịu thiệt” là yếu tố đầu tiên để nhận biết người quân tử và kẻ tiểu nhân.
Ngày xưa, có một vị thượng thư tên Lâm Thoái Trai, ông ta phúc đức rất nhiều, con cháu đầy đàn. Lúc ông ta sắp lâm chung, con cháu quỳ gối trước mặt ông xin thỉnh cầu lời giáo huấn. Lâm Thoái Trai nói: “Ta không có lời nào khác, chỉ khuyên bảo các con học “chịu thiệt” là được rồi”.
Những người già Trung Quốc cũng thường hay nói “chịu thiệt là phúc”, bởi vì họ biết rõ “Phúc, Lộc, Thọ” ở thế gian con người đều là đổi từ đức mà ra, mà chịu thiệt lại có thể tích đức. Xưa nay, rất nhiều anh hùng, cũng đều do có thể chịu nhịn nhục, chịu thiệt mà làm nên đại sự. Nổi danh nhất chính là Hàn Tín có thể chịu nhục chui háng, có thể nói đó là “chịu thiệt” đến cực điểm, bởi vậy sau này Hàn Tín đăng đàn bái tướng, được Lưu Bang phong làm Tam Tề Vương.
Trái lại, nếu như luôn luôn khiến cho người khác phải chịu hại chịu thiệt, như thế thì người này chẳng phải là mất đức rồi sao? Làm nhiều việc xấu còn bị trời trừng phạt, thật sự là cái được không bù nổi cái mất.
Biên dịch: Mai Trà






Loạn luân với chị ruột đã đành, một thời gian sau đó ông vua trẻ họ Lưu lại tìm mọi cách để đưa người cô ruột của mình vào hậu cung để hầu hạ. Khi cuộc tình chung đụng giữa Lưu Tử Nghiệp và Công chúa Sơn Âm đã nhạt dần, một lần, Sơn Âm nói với Lưu Tử Nghiệp rằng, bệ hạ thì có tam cung lục viện, mỹ nữ hàng đàn tron

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

MIỀN TÂY HOANG DẠI

MUÔN MẶT ĐỜI THƯỜNG III/153

VẪN THẾ MÀ!