BẠN BIẾT CHƯA? 48

(ĐC sưu tầm trên NET)

'Chuyện giường chiếu' kinh dị của vua chúa Việt

23:09, Thứ Hai, 14/04/2014 (GMT+7)
Ân ái xong rồi giết, bắt mỹ nữ khỏa thân chèo thuyền, trĩ nặng vì hoang dâm… là những chuyện rùng mình về thói đam mê sắc dục của vua chúa Việt Nam.

Lê Long Đĩnh bị trĩ giai đoạn 4 vì hoang dâm?
Lê Long Đĩnh (986 - 1009) là vị vua cuối cùng của nhà Tiền Lê trong lịch sử Việt Nam. Ông được mô tả là vị vua hoang dâm vô độ, đến mức bị mắc bệnh trĩ, không thể ngồi được, phải nằm để thiết triều, nên bị gán cho biệt danh "Ngọa Triều Hoàng đế".
 Tranh minh họa.
Tranh minh họa.
Theo y học hiện đại, bệnh trĩ ở giai đoạn mà bệnh nhân phải nằm là ở giai đoạn 4, là giai đoạn rất nặng chỉ có thể chữa bằng phương pháp phẫu thuật, điều không thể thực hiện ở Việt Nam thời phong kiến. Phải chăng, đó là lí do khiến ông vua này qua đời rất sớm, ở tuổi 23?
Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, chuyện Lê Long Đĩnh tàn ác, hoang dâm vô độ đã được người thời sau thổi phồng để bôi nhọ vị vua này trong sử sách.
Lê Uy Mục “yêu xong rồi giết”
Lê Uy Mục (1505-1509) là vị vua thứ 8 của nhà Hậu Lê. Ngay từ khi lên ngôi, ông đã nổi tiếng ham rượu chè, mĩ nữ và thích giết người.
Theo sử sách, tuy mới 20 tuổi, Lê Uy Mục đã có một thú vui tình dục rất man rợ. Đêm nào, ông cũng gọi các phi tần, cung nhân vào uống rượu say sưa, hành lạc vô độ. Khi say, ông giết luôn cả cung nhân vừa được mình ôm ấp.
Ai cũng kinh sợ Lê Uy Mục, nhưng vì uy quyền tối thượng và sự tàn nhẫn của vua, nên không dám lên tiếng.
Do chỉ mê hưởng lạc, Lê Uy Mục đã bỏ bê triều chính, mặc cho bọn hoạn quan và bên họ ngoại khuynh đảo, lộng hành… Hậu quả là ông vua này đã bị một số người trong tôn thất và triều thần nổi loạn, bắt và bức tử.
Lê Tương Dực bắt mĩ nữ khỏa thân chèo thuyền
Lê Tương Dực (1495 – 1516) là vị vua thứ 9 của nhà Hậu Lê. Ông lên ngôi sau khi giết bỏ Lê Uy Mục – vị vua được người đời mệnh danh là “Vua Quỷ”.
Theo sử sách, Lê Tương Dực vốn là người có tư chất thông minh. Lúc mới lên ngôi ông cũng ban hành giáo hóa, thận trọng hình phạt, biết nghe lời phải trái, được coi là có công trạng với đất nước.
Nhưng càng về sau, Lê Tương Dực càng chơi bời xa xỉ truỵ lạc, bỏ bê việc nước. Tương truyền, vua đã cho đóng chiến thuyền bắt con gái khỏa thân chèo chơi ở hồ Tây.
Tháng 5/1514, nghe lời của Hiệu uý Hữu Vĩnh, Lê Tương Dực giết chết 15 vương công, cho gọi các cung nhân của triều trước vào cung để gian dâm.
Vì hoang dâm như thế, cho nên sứ nhà Minh sang trông thấy vua, bảo rằng Tương Dực có tướng lợn. Nên mọi người ngoài và dân chúng gọi ông là “Vua Lợn”.
Mạc Mậu Hợp tan nát cơ đồ vì dâm dục
Mạc Mậu Hợp (1562 – 1592) là vị vua thứ 5 của nhà Mạc thời Nam Bắc triều trong lịch sử Việt Nam. Sử cũ chép rằng, Mậu Hợp là người sống xa hoa, kiêu ngạo, hay nghe xiểm nịnh, thường ít lắng nghe lời bàn luận, khuyên can của các bậc lương thần.
Đặc biệt, ông là người rất hoang dâm hiếu sắc. Chính điều này là nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự suy vong của cơ nghiệp nhà Mạc.
Để thỏa mãn dục vọng, Mạc Mậu Hợp đã không ngần ngại “mưu giết bề tôi, đoạt mĩ nhân”. Cụ thể, do thích vợ của viên trấn thủ Nam đạo Sơn quận công Bùi Văn Khuê, ông đã lên kế hoạch giết danh tướng này để cướp vợ.
Kế hoạch bị đổ bể khiến Bùi Văn Khuê đem quân quay sang quy phục vua Lê và chúa Trịnh Tùng. Theo gương Bùi Văn Khuê, hơn 10 tướng nhà Mạc cũng bỏ Mạc Hậu Hợp để chạy sang phe Lê – Trịnh.
Điều này khiến quân Mạc suy yếu nghiêm trọng và bị quân Trịnh Tùng đánh tan sau đó không lâu. Mạc Mậu Hợp phải bỏ kinh thành trốn chạy nhưng không thoát, cuối cùng đã bị Trịnh Tùng treo sống 3 ngày rồi chém đầu tại bãi cát Bồ Đề, sau đó đem đóng đinh vào 2 con mắt, bêu ra ngoài chợ 5 ngày.
Trịnh Giang bỏ gái vào bao tải để thác loạn
Trịnh Giang (tại vị 1729-1740) là vị chúa Trịnh thứ bảy thời Lê Trung Hưng. Theo các sử gia, nếu các chúa từ Trịnh Kiểm đến Trịnh Cáng đều là những nhà cai trị tài giỏi thì việc lên nắm quyền hành của Trịnh Giang lại là khởi đầu cho thời đại suy tàn của họ Trịnh.
Tương truyền, Trịnh Giang có tật mê đàn bà từ thuở nhỏ. Vì vậy, không có gì lạ khi lên cầm quyền, ông sớm nổi tiếng về thói ăn chơi dâm loạn không chừng mực.
Càng về sau, Trịnh Giang càng có nhiều biểu hiện kì dị trong sinh hoạt tình dục. Một số hoạn quan hàng ngày phải lựa ra một người đẹp trong số cung nữ, hoặc bắt cóc dân nữ sống quanh khu vực cho tắm rửa sạch sẽ, đến tối bỏ vào một cái bao tải lớn, vác bỏ vào phòng của chúa Trịnh Giang, rồi mặc cho chúa “hành sự”.
Không chỉ dừng lại ở đó, Trịnh Giang là kẻ dâm loạn còn từng tư thông với vợ lẽ của cha mình là chúa Trịnh Cương.
Sau này, Trịnh Giang bị mắc bệnh "dâm cơ địa" mà sinh ra yếu bóng vía, sợ ánh sáng mặt trời nên phải đào hầm sống dưới đất.
Minh Mạng “một đêm sáu bà”
Vua Minh Mạng (1791-1825) là vị Hoàng đế thứ hai của nhà Nguyễn. Không chỉ là một vị vua có trí tuệ, ông còn nổi tiếng bởi sức khoẻ chăn gối hơn người.
Tương truyền nhà vua hoạt động chăn gối về đêm đều đặn. Mỗi đêm, vua chấm cho thái giám gọi 5 bà vào hầu, mỗi canh vua “chiều” một bà. Có khi chỉ trong một đêm vua làm cho 3 bà có thai.
 Vua Minh Mạng.
Vua Minh Mạng.
Dù “lao lực” cả đêm như vậy, nhưng hàng ngày vua vẫn thiết triều, cưỡi ngựa mà không có biểu hiện mệt mỏi.
Sách sử chép rằng, để vua có sức khỏe trị vì đất nước và "chiều" các bà vợ thì ngự y cung đình đã ngày đêm nghiên cứu, bào chế những bài thuốc có tính năng tráng dương bổ thận rất hiệu dụng, gọi là Minh Mạng thang.
Tuy nhiên, các nhà y học hiện đại cho rằng, vua Minh Mạng là người có năng lực tình dục bẩm sinh, những toa thuốc vua dùng chỉ mang tính trợ lực, chứ không phải đóng vai trò quyết định.
Với “năng lực siêu phàm” của mình, vua Minh Mạng đã trở thành vị vua có số lượng con nhiều nhất trong 13 đời vua Nguyễn, với 142 người con, gồm 78 hoàng tử và 64 công chúa.
Bảo Đại nghiện đàn bà, “sưu tầm” mỹ nữ 5 châu 4 biển
>> Ông hoàng có khả năng giường chiếu 'cao thủ' nhất VN
Vua Bảo Đại (1913 - 1997), vị vua cuối cùng của các triều đại phong kiến Việt Nam nổi tiếng là vị vua ăn chơi và đa tình khét tiếng.
Trong sách “Bảo Đại hay những ngày cuối cùng của Vương quốc An Nam”, tác giả Pháp Daniel Grandclément cho biết sở thích hàng đầu của vua Bảo Đại là đuổi theo những người đàn bà đẹp.
Vua Bảo Đại.
Vua Bảo Đại
Vua Bảo Đại
Vua từng thẳng thắn bộc lộ sự ham muốn sắc dục của mình như sau: "Luôn có nhu cầu đối với đàn bà, một thứ nhu cầu thường xuyên không thể dập tắt được như đồ ăn thức uống. Từ khi đến tuổi lớn, đêm nào cũng phải có một người đàn bà nằm bên, mỗi đêm một người".
Không chỉ thử ăn nằm với những người đẹp Việt Nam, Bảo Đại còn “nếm” cả phụ nữ Trung Quốc, Pháp, Nhật Bản, Châu Phi...
Loạn luân – chuyện không hiếm của vua chúa Việt
Lịch sử Việt Nam đã nhiều lần ghi nhận hiện tượng loạn luân trong cung vua, phủ chúa của nhiều triều đại khác nhau.
Đó là các trường hợp chúa Trịnh Giang tư thông với vợ lẽ của cha mình là chúa Trịnh Cương, vua Mạc Kính Chỉ (?-1593) tòm tem với vợ của vua cha khi còn làm quan phụ chính, chúa Nguyễn Phúc Khoát (1714-1765) - vị chúa Nguyễn thứ 8 trong lịch sử loạn luân với một bà công nữ…
Đặc biệt, loạn luân là một hiện tượng phổ biến, được thừa nhận trong thời nhà Trần như một cách để bảo vệ ngai vàng không rơi vào tay ngoại tộc.
Theo thống kê, nhà Trần có khoảng 35 cuộc hôn nhân loạn luân, tiêu biểu là cuộc hôn nhân giữa vua Trần Anh Tông với hoàng hậu Thuận Thánh mang tính chất chắt chú chắt bác lấy nhau.
Theo Hoàng Phương 
Kiến thức

Hé lộ ‘tình một đêm’ của vua chúa Việt Nam

10:01, Thứ Tư, 14/03/2012 (GMT+7)
Cuộc sống chốn thâm cung của vua chúa Việt Nam luôn gây tò mò cho hậu thế, nên những hé lộ "động trời" về "tình một đêm" của bậc đế vương càng có sức "hấp dẫn" khó cưỡng.

Chúa Trịnh Sâm có khoảng 400 bà vợ, nhưng nổi tiếng chỉ có 3 người, gồm: Chính phi Hoàng Thị Khoan (Ngọc Khoan), Quý phi Dương Thị Ngọc Hoan và Tuyên phi Đặng Thị Huệ.

Về bà Dương Thị Ngọc Hoan, theo sử sách, bà là người làng Long Phúc (huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh), không có tài sắc gì, nhưng được chị gái - ái phi của Chúa Trịnh Doanh - đưa vào làm cung tần của Trịnh Sâm. Sách Hoàng Lê nhất thống chí ghi: "Sau khi vào cung, Dương Thị Ngọc Hoan vẫn ngày đêm sống cô quạnh. Bỗng một đêm, bà nằm mơ thấy vị thần đem cho tấm tranh có vẽ đầu rồng. Bà không hiểu đó là điềm gì, đem hỏi viên quan hầu là Khê trung hầu. Khê trung hầu biết chắc là điềm sinh thánh".

Thế là hôm sau, khi Chúa Trịnh Sâm cho vời cung tần Ngọc Khoan vào hầu, Khê trung hầu cố ý giả nghe lầm, đưa ngay Ngọc Hoan đến. Thấy bà, Chúa có vẻ không thích, nhưng đã gọi đến, không nỡ đuổi ra và miễn cưỡng ái ân. Sau đó, Chúa đòi Khê trung hầu vào trách mắng. Khê trung hầu cúi đầu tạ tội, đoạn thuật rõ đầu đuôi chuyện Ngọc Hoan nằm mơ cho Chúa nghe. Chúa nín lặng không nói sao cả.

Bà Ngọc Hoan trải qua một đêm mặn nồng với Chúa, liền có thai ngay. Đến kỳ, bà sinh ra một trai, tên Trịnh Khải (còn có tên khác là Trịnh Tông). Đó là năm Quí Mùi, Cảnh Hưng 24 (1763).

Kết cục ‘thảm’ của Đệ nhất mỹ nhân phủ Chúa Trịnh

Tương tự, có rất nhiều tư liệu dân gian khẳng định rằng, đại thần phụ chính của nhà Nguyễn - Nguyễn Văn Tường (1824-1886) chính là kết quả mối tình một đêm của Vua Thiệu Trị với người con gái đẹp đất Quảng Trị.

Trong cuốn Hương giang cố sự, kết quả sưu tầm và biên soạn của nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, có đoạn cho biết: "Năm ấy đức Minh Mạng đi tuần du Quảng Trị, có đem Tường Khánh Công (tức vua Thiệu Trị sau này) đi theo. Ở hành cung Quảng Trị, thấy một người con gái đẹp đi ngang, gọi vào "dùng", sau đó Công theo phụ hoàng trở lại Huế, không ngờ người con gái ấy có thai và đã sinh ra Nguyễn Văn Tường. Khi sinh còn, bà mẹ đã nói sự thật, nên Nguyễn Văn Tường lấy họ vua để đi thi".

Tác giả Lê Tiến Công (Báo Bình Dương) trích lời ông Tôn Thất Hào, cháu ngoại của Công nữ Như Khuê (công chúa Đoan Thuận), cũng khẳng định, cụ Tường là con của Vua Thiệu Trị, chứ không phải là con một ông thợ mộc như Y.Tsuboi đã viết trong Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa. Lời khẳng định của hậu duệ cụ Tường dựa trên lý luận, con thợ mộc thì khó có điều kiện để ăn học đến đỗ đại khoa.

Theo ông Hào, vì là con hoang nên cụ Tường không được mang họ Nguyễn Phước, song vì Thiệu Trị biết rõ là con mình nên vẫn gửi tiền cho ăn học. Vì thế, khi nộp đơn thi Hương, cụ Tường bỏ họ Nguyễn Văn và tính lấy họ vua.

Tuy nhiên, sách Đại Nam thực lục chính biên thực lục lại ghi: Nhâm Dần, Thiệu Trị năm thứ 2, mùa thu tháng 7, trong danh sách tú tài trường Thừa Thiên có người tên là Nguyễn Phước Tường, vua ghét mạo dùng họ nhà vua, sai cắt bỏ nên trong sổ tú tài, đổi làm Nguyễn Văn Tường và giao cho Viện Đô sát trị tội". Hậu quả, Nguyễn Văn Tường bị tội đồ một năm, học quan ở tỉnh, phủ, huyện, quan Quốc tử giám, quan trường...

Đến nay, việc tại sao Nguyễn Văn Tường có phải là con rơi của Vua Thiệu Trị và tại sao dùng họ vua để đi thi vẫn còn là một câu hỏi lớn.

Nguyễn Văn Tường và nghi án cái chết của Vua Kiến Phúc

Cũng là kết quả của cuộc tình một đêm, theo sử sách, khi sống trong cung, cung nữ Hoàng Thị Cúc (tức Từ Cung Thái hậu sau này) đã nhanh chóng "lọt" vào mắt xanh của Hoàng tử Bửu Bảo, con trai cả của bà Tiên Cung, lúc đó đang đang giữ chức Phụng Hóa Công và đã có vợ là con gái của đại quan đầu triều Trương Như Cương, nhưng cả hai người sống với nhau lâu mà không có con.

Cụ thể, trong một lần vào thỉnh an Mẫu hậu, Hoàng tử Bửu Bảo đã "tư thông" với Hoàng Thị Cúc và kết quả là vị cung nữ mang thai và nhận là cốt nhục của Phụng Hóa Công.

Một số tài liệu cho biết, triều thần trên dưới rõ như ban ngày rằng, Phụng Hóa Công mắc căn bệnh bất lực, không thích gần đàn bà, chỉ thích đàn ông, nên việc cung nữ Hoàng Thị Cúc có được "giọt máu rồng" đã gây xôn xao dư luận trong cung. Bà Tiên Cung và Thánh Cung đã nhiều lần tra khảo, thậm chí ép bà Hoàng Thị Cúc phải nằm úp bụng bầu xuống đất và đánh, bắt bà phải khai đó là thai của ai và tại sao lại dám đặt điều. Tuy nhiên, bà Hoàng Thị Cúc vẫn một mực khẳng định con của Bửu Bảo và là kết quả của một lần "gần gũi"...

Sử sách ghi: Đó là năm 1913, bà Hoàng Thị Cúc sinh ra công tử Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy. Năm 1916, Phụng Hóa Công Bửu Đảo được tôn lên làm vua, lấy niên hiệu là Khải Định. Bà Hoàng Thị Cúc lúc đầu chỉ được phong Tam giai Huệ Tân và sau là Nhị Giai Huệ Phi (năm 1918).

Theo Vĩnh Khang
Đất Việt

Chúa Trịnh bị quả báo vì quá dâm dục?

19:22, Thứ Năm, 24/10/2013 (GMT+7)
Trịnh Giang có tật mê đàn bà từ thuở nhỏ. Vì vậy, không có gì lạ khi lên cầm quyền, ông sớm nổi tiếng về thói ăn chơi dâm loạn không chừng mực.

Bắt cóc dân nữ để “ân sủng”

Uy Nam vương Trịnh Giang là vị chúa Trịnh thứ bảy thời Lê Trung Hưng. Trịnh Giang vốn là con trai trưởng của An Đô vương Trịnh Cương, người làng Sóc Sơn, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Khi Trịnh Giang còn làm thế tử, bảo phó của ông là Nguyễn Công Hãng đã dâng mật sớ nhận xét rằng ông là người ươn hèn, không thể gánh vác được ngôi chúa. Trịnh Cương đã có ý định thay đổi ngôi thế tử.

Tuy nhiên, khi Trịnh Cương chưa dứt khoát thay đổi thì lại đột ngột mất. Trịnh Giang vì vậy mà đường hoàng đảm trách ngôi chúa với tư cách thế tử.

Trịnh Giang lên ngôi chúa vào tháng 10/1729, ngay sau khi Trịnh Cương qua đời. Đến tháng 4/1730, Trịnh Giang tự tiến phong là Nguyên soái, Thống Quốc Chính Uy Nam vương. Trịnh Giang rất thích tỏ rõ uy quyền của mình. Vào năm 1731, thượng hoàng Lê Dụ Tông mất. Năm sau, để thể hiện quyền lực ngôi chúa của mình, Trịnh Giang vu tội cho vua Lê Duy Phường, vốn là con thứ của Dụ Tông, tư thông với vợ của Trịnh Cương, phế truất làm Hôn Đức công. Trịnh Giang lập anh Duy Phường là Duy Tường, con cả Dụ Tông, lên ngôi, tức là Lê Thuần Tông.

Sau đó, Trịnh Giang còn ra lệnh thắt cổ giết chết Duy Phường. Chưa hết, vào cuối năm đó, Giang lại giết đại thần Nguyễn Công Hãng vì trước Công Hãng đã bàn với Trịnh Cương bỏ ngôi thế tử của mình. Ngoài ra, Trịnh Giang còn bỏ hết các chính sách về thuế khoá tài chính do Trịnh Cương đặt ra trước đây.

Chúa Trịnh Giang là người thích các hoạt động ăn chơi, hưởng lạc hơn là việc triều đình. Trịnh Giang thích âm nhạc, thơ ca và chơi bời. Chúa cho chế lễ nhạc trong phủ chúa. Mỗi khi chúa đi tuần thường có phường nhạc đi trước dẫn đường. Những buổi không có triều hội, Trịnh Giang thường mời các quan đến cùng ngâm tụng thơ ca, bình luận văn sách và các lối viết chữ.

Ông cũng thường ra đề tại chỗ cho mọi người cùng làm thi và có thưởng. Trịnh Giang còn khuyến khích các nho thần sưu tầm thơ văn. Trịnh Giang có người em thứ ba là Trịnh Doanh, tuổi còn trẻ nhưng có tài kiêm văn võ, được ông rất tin tưởng.

Do không tha thiết việc chính sự, nǎm 1736, Trịnh Giang phong cho Doanh lúc đó mới 17 tuổi làm Tiết chế thủy bộ chủ quân, chức Thái úy, tước Ân Quốc công, cho mở phủ Lượng Quốc. Mỗi tháng ba lần, Trịnh Doanh thay Trịnh Giang triều kiến trǎm quan ở Trạch Các để nghe tâu trình công việc.

Nhờ việc giao quyền hành triều chính cho Trịnh Doanh nên Trịnh Giang có thêm thời gian cho những việc chơi bời, hưởng lạc. Trịnh Giang đặc biệt tin dùng hoạn quan Hoàng Công Phụ vì những ủng hộ của viên quan này trong việc ăn chơi của mình. Để phục vụ cho việc ăn chơi, hưởng lạc của mình, chúa Trịnh Giang đã cho xây dựng nhiều cung quán, chùa chiền rất nguy nga và tốn kém.

Có thể kể đến các công trình mà chúa Trịnh Giang đã cho xây dựng như Chùa Hồ Thiên, hành cung Quế Trạo, Từ Dương, phủ đệ ở các làng họ ngoại như làng Tứ Dương, làng My Thử. Việc xây cất các chùa chiền, hành cung xa hoa, tốn kém cũng như những thú vui chơi bời của Trịnh Giang đã tiêu tốn không biết bao nhiêu tiền của thuế má của nhân dân.

Cũng chính bởi đó mà Trịnh Giang liên tiếp ra lệnh tăng các thứ thuế khoá để bổ sung vào nguồn ngân quỹ thiếu hụt. Đồng thời, Trịnh Giang cũng liên tiếp ra lệnh bắt người dân đi lao dịch cho các công trình ăn chơi của mình. Thuế cao, lao dịch nặng nề khiến nhân dân rất bất bình.
Ảnh minh họa
Ảnh minh họa
Cũng bởi việc Trịnh Giang chỉ mải mê lao vào ǎn chơi, ham mê tửu sắc mà không lo bồi dưỡng cơ thể, đảm đương triều chính nên sức khỏe ngày càng kém sút. Tuy nhiên, điều đáng nói nhất là theo tương truyền, chúa Trịnh Giang có tật mê đàn bà từ thuở nhỏ.

Vậy nên, ngay khi lên nắm quyền chúa, Trịnh Giang đã sớm sử dụng quyền lực của mình để có thể hưởng lạc ái ân. Tất nhiên, ngay sau đó, Trịnh Giang sớm nổi tiếng về thói ăn chơi dâm loạn không chừng mực. Càng về sau, Trịnh Giang càng có nhiều biểu hiện kì dị trong sinh hoạt tình dục.

Hằng ngày, các hoạn quan phải lựa ra một người đẹp trong số các cung nữ hoặc bắt cóc dân nữ sống trong khu vực, tắm cho sạch sẽ rồi bỏ vào bao tải lớn, vác vào phòng chúa Trịnh Giang. Người đẹp này sẽ được chúa “ân sủng” theo ý thích. Việc đam mê đàn bà của chúa Trịnh Giang không chỉ dừng lại ở đó.

Để thỏa mãn như cầu dâm loạn của mình, chúa Trịnh Giang còn từng tư thông với vợ lẽ của cha mình. Chúa Trịnh Giang đã quan hệ với cả cung nữ của cha là Kỳ Viên họ Đặng dù đây một trong những cấm kị nghiêm ngặt của thời phong kiến. Sau Vũ Thái phi biết chuyện Trịnh Giang tư thông với Kỳ Viên đã bắt ép người này phải tự tử.

Bị sét đánh vì quá dâm loạn?

Không rõ có phải vì Trịnh Giang quá dâm dục nên quả báo hay không mà một hôm, bất ngờ, Trịnh Giang bị sét đánh gần chết. Sau khi bị sét đánh, Trịnh Giang mắc bệnh, tâm thần bất ổn định.

Chúa Trịnh Giang cũng từ đó hay hốt hoảng, sợ hãi. Hoạn quan Hoàng Công Phụ vốn xưa hay phục vụ Trịnh Giang liền được thể nói dối rằng: “Đấy là vì dâm dục mà bị ác báo. Muốn không bị hại chỉ có cách là trốn xuống đất”. Nhân đó các hoạn quan hạ lệnh đào đất, làm hầm cho chúa, gọi là cung Thưởng Trì.

Từ đấy, Trịnh Giang ở hẳn dưới hầm, không hề ra ngoài. Hoàng Công Phụ có thêm điều kiện để lộng hành. Việc chúa Trịnh Giang mải ăn chơi, hưởng lạc rồi lại hoang tưởng, tinh thần không ổn định khiến quyền bính của chúa Trịnh có phần lung lay. Hoàng thân Lê Duy Mật định làm binh biến lật đổ Trịnh Giang, giành lại quyền hành chính cho nhà Lê.

Tuy nhiên, sự việc bị bại lộ. Lê Duy Mật bén trốn ra ngoài, phát động khởi nghĩa. Nhân dân vốn phải sống một cuộc sống lầm than, vất vả dưới sự trị vị của chúa Trịnh, nhất là thường xuyên phải đi công dịch, đóng thuế nặng nề phục vụ cho những ăn chơi của chúa nên nổi lên ủng hộ khắp nơi. Triều đình không sao dập tắt được.

Cuối cùng, Vương Thái Phi Vũ thị cùng triều thần lập Trịnh Doanh lên thay quyền Trịnh Giang với hiệu là Minh Đô vương. Trịnh Doanh đưa vua Ý Tông lên làm thượng hoàng và lập cháu vua là Duy Diêu lên ngôi, tức là Lê Hiển Tông. Nhờ đó, mọi chuyện mới trở nên yên ổn hơn.

Như vậy, Trịnh Giang ở ngôi được 11 nǎm (từ năm 1730 đến năm 1740). Chúa Trịnh Giang chính là người làm hỏng chính sự Đàng Ngoài, khiến thế nước của Bắc Hà suy yếu. Tất cả những sai lầm này của chúa Trịnh Giang cũng bắt nguồn từ việc mải mê chơi bời, háo sắc, bỏ bê chính sự của chúa.

Những đặc điểm này của chúa Trịnh Giang khá giống với vua Mạc Mậu Hợp. Tuy nhiên, nhờ việc họ Trịnh đã xây dựng được bộ máy cai trị nề nếp, quy củ từ nhiều đời trước nên cơ đồ vẫn còn giữ được. Thế mới biết, cái thói hoang dâm vô độ của các vị vua có khả năng làm lụi bại danh tiếng, ngôi vị cũng như triều chính của các vị vua đến thế nào.

Thái giám và bí mật phòng the của vua chúa Việt Nam

11:28, Thứ Năm, 09/08/2012 (GMT+7)
Thái giám là người thân cận nhất và biết rõ nhất đời tư của vua; có nhiệm vụ ghi chép lại tỉ mỉ chuyện “ngự dâm” của hoàng đế với mỹ nữ...
Ở phương Đông nói chung và ở Việt Nam nói riêng, trong các triều đại phong kiến, thái giám là những người giúp việc không thể thiếu trong cung cấm.
Theo sử cũ, vào giai đoạn đầu triều Nguyễn, mỗi triều đại thường có khoảng 200 thái giám, bao gồm cả giám sinh (những người bẩm sinh không có bộ phận sinh dục) và giám lặt (những người tự nguyện hiến thân vào cung). Trạng Quỳnh đã có một câu đối nghịch ngợm rất nổi tiếng khi trêu chọc một vị thái giám: “Thị vào chầu, thị đứng, thị trông, thị thấy cũng muốn... thị không có ấy” (thị nghĩa là thái giám).

Trong số các viên thái giám, triều đình cũng có phân biệt. Có nhóm được hầu hạ nhà vua, truyền đạt giấy tờ, có mặt trong các buổi chầu, có người làm vệ sĩ hoặc thành các tướng tả hữu. Nhóm khác chuyên việc hầu hạ hoàng hậu, phi tần. Có nhóm chuyên theo dõi việc ăn ngủ của vua. Lại có cả những người được đấm bóp, cầm tay, xoa phấn cho các bà hoàng... Vì lẽ thế mới nói, từ thân phận thấp hèn, đại đa số thái giám lúc khởi đầu đều chỉ là những người đẹp trai, khỏe mạnh, có nhiều tài vặt: hát xướng, làm trò, đá cầu... nhưng có vị trí trọng yếu trong hoàng cung, thái giám dần dần trở nên có quyền uy, không chỉ trong cung mà cả nơi triều nội.
Những nấm mồ thái giám bị lãng quên theo thời gian
Những nấm mồ thái giám bị lãng quên theo thời gian
Vai trò của thái giám trở nên lớn một cách không ngờ nhờ nắm được nhiều thông tin, được các quan to nhỏ vị nể. Thế nên, nhằm tránh sự lộng quyền, nhà Nguyễn chỉ dùng thái giám để sai vặt, chứ không cho dự vào chính sự. Thái giám thân tín của vua được tuyển chọn rất kỹ; không mọc râu, ngực nhô, mông nở, giọng nói the thé, hành động yểu điệu... như phụ nữ. Công việc đặc biệt nhất và nặng nề nhất của họ là sắp đặt chuyện "ngự dâm" của nhà vua. Cụ thể, ban đêm, sau giờ vua làm việc, đọc sách, làm thơ, hoặc xem hát bội, thái giám đệ lên vua một cái khay đựng các phiến thạch ghi tên các bà phi tần. Vua đọc và chọn những phiến thạch ghi tên người muốn gặp.

Thái giám có bổn phận đem miếng phiến thạch được chọn treo trước cửa phòng của người được chọn. Người được chọn mừng rỡ “đội ơn mưa móc” liền đi tắm rửa sạch sẽ và xức một loại nước hoa đặc biệt do các bà tự tạo, sau đó choàng lên mình một tấm vải lớn và ngồi chờ... Thái giám sẽ quấn chăn, bế mỹ nhân đang độ xuân thì không mặc gì vào phòng vua, rồi lui ra ngoài.

Trong suốt thời gian vua ân ái, mọi tiếng động lúc to lúc nhỏ vang ra trong phòng, thái giám phải ghi chép lại tỉ mỉ bằng cách nghe ngóng, đếm thời gian "mây mưa" của vua với mỹ nữ, nhất là phải ghi rõ tên tuổi người đươc vua yêu, ngày giờ ngự dâm để báo cho Quốc sử quán ghi vào sổ để theo dõi những chuyện về sau. Chẳng hạn, Vua Minh Mạng thông thường mỗi đêm chấm cho thái giám gọi năm bà vào hầu, mỗi canh một bà. Trong năm bà ấy thì có khi đã có ba bà thụ thai. Vì vậy, để cẩn thận "tìm" đúng con vua, thái giám phải chuyển danh sách năm bà ấy cho Tôn nhơn phủ; phủ này lại chuyển một danh sách khác cho Quốc sử quán. Sau này, khi bà nào mãn nguyệt khai hoa, Quốc sử quán có trách nhiệm rà soát, đối chiếu xem thử từ ngày vua "đòi" đến kỳ sinh nở có đúng ngày đúng tháng không.

Theo sử sách, việc chọn lựa người để ân ái là do vua chúa quyết định, nhưng các thái giám cũng có nhiều “mánh khóe” để có thể tiếp thị với bậc đế vương nên chọn bà nào. Do đó, nhiều thái giám rất được các bà đút lót quà bánh để được vua chúa “sủng ái” nhiều lần. Có nhiều bà khinh thường thái giám nên suốt đời chưa bao giờ được nhìn thấy mặt người đàn ông quyền lực duy nhất chốn cung cấm.

Để chứng minh thực quyền này của thái giám, câu chuyện tình một đêm của bà hoàng Ngọc Hoan là một ví dụ điển hình. Là người làng Long Phúc (huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh), bà Dương Thị Ngọc Hoan không có tài sắc gì, nhưng được chị gái - ái phi của Chúa Trịnh Doanh - đưa vào làm cung tần của Trịnh Sâm. Sách Hoàng Lê nhất thống chí ghi: "Sau khi vào cung, Dương Thị Ngọc Hoan vẫn ngày đêm sống cô quạnh. Bỗng một đêm, bà nằm mơ thấy vị thần đem cho tấm tranh có vẽ đầu rồng. Bà không hiểu đó là điềm gì, đem hỏi viên hoạn quan là Khê trung hầu. Khê trung hầu biết chắc là điềm sinh thánh".

Thế là hôm sau, khi Chúa Trịnh Sâm cho vời cung tần Ngọc Khoan vào hầu, Khê trung hầu cố ý giả nghe lầm, đưa ngay Ngọc Hoan đến. Thấy bà, Chúa có vẻ không thích, nhưng đã gọi đến, không nỡ đuổi ra và miễn cưỡng ái ân. Sau đó, Chúa đòi Khê trung hầu vào trách mắng. Khê trung hầu cúi đầu tạ tội, đoạn thuật rõ đầu đuôi chuyện Ngọc Hoan nằm mơ cho Chúa nghe. Chúa nín lặng không nói sao cả.

Bà Ngọc Hoan trải qua một đêm mặn nồng với Chúa, liền có thai ngay. Đến kỳ, bà sinh ra một trai, tên Trịnh Khải (còn có tên khác là Trịnh Tông). Đó là năm Quí Mùi, Cảnh Hưng 24 (1763).

Như vậy, rõ là có những chuyện cung cấm tế nhị... chỉ thái giám biết, có thể làm và làm tốt!

Theo Đất Việt

Thê lương chuyện ‘của quý’ của thái giám Việt xưa

10:06, Thứ Tư, 08/08/2012 (GMT+7)
Vốn là nhóm người đặc biệt, thái giám có thể bẩm sinh khuyết tật: có dương vật nhưng không có tinh hoàn, hoặc không có cả dương vật lẫn tinh hoàn, hoặc mất đi do tự thiến...

Việt Nam, thái giám được ghi nhận có từ thời nhà Lý, nhưng đến triều Nguyễn, họ được chia làm năm trật: Quản vụ Thái giám và Điển sự Thái giám; Kiểm sự Thái giám và Phụng nghi Thái giám; Thừa vụ và Điển nô Thái giám; Cung sự và Hộ nô Thái giám; Cung phụng và Thừa biện Thái giám.

Vui như làng đẻ được ông Bộ

Theo tài liệu của Công sứ A. Laborde (Pháp) cũng như câu cửa miệng kháo nhau tại các vùng nông thôn Thừa - Thiên Huế là "Ăn mà đẻ ông Bộ cho làng nhờ", hay "Vui như làng đẻ được ông Bộ", thì có thể thấy ông Bộ - tức giám sinh, hiểu sâu xa hơn là người có phần bộ hạ có vấn đề, rất được coi trọng ở mỗi làng quê xưa. Vậy, nguyên do là thế nào?
Các thái giám phục vụ trong Đại nội. Ảnh chụp lại từ ảnh sưu tập của nhà nghiên cứu Phan Thuận An.
Các thái giám phục vụ trong Đại nội. Ảnh chụp lại từ ảnh sưu tập của nhà nghiên cứu Phan Thuận An.
Sử sách chép rằng, dưới các vương triều phong kiến Việt Nam, làng nào có ông Bộ thì được triều đình miễn thuế trong nhiều năm; nhà có ông Bộ được cấp ruộng đất và tiền bạc rất hậu hỹ. Ông Bộ mà được tiến cung, nghiễm nhiên được hưởng bổng lộc như các quan đại thần nên sống rất sung sướng. Vì thế, theo luật Vua ban, làng nào có ông Bộ từ 10 tuổi trở xuống thì phải trình lên Bộ Lễ để lập hồ sơ tâu lên Vua.
Nếu giấu giếm trong nhà, lúc phát hiện ra sẽ bị phạt nặng, cho ở tù. Bộ Lễ chịu trách nhiệm đào tạo ông Bộ cho đến 12 tuổi thì đưa vào triều học lễ nghi cung đình... để trở thành thái giám phục vụ công việc thường ngày trong cung cấm.

Đau đớn trải qua thủ thuật "tịnh thân"

Loại trừ những người khi sinh ra đã có khuyếm huyết ở bộ phận sinh dục, đa số thái giám phải qua một thủ thuật "tịnh thân" hết sức đau đớn. Theo một số tài liệu, có 4 phương pháp để thiến: cắt toàn bộ âm kinh và dịch hoàn, chỉ cắt bỏ dịch hoàn, đè cho vỡ nát dịch hoàn, cắt bỏ ống dẫn tinh. Ngoài ra, còn có một phương pháp thiến nữa là dùng dây cột chặt dịch hoàn của đứa bé hoặc cho đứa trẻ uống một thứ thuốc tê gọi là ma tuý dược, rồi dùng kim chích nhiều lần vào dịch hoàn đứa trẻ, lâu dần thực khí mất công năng, bị chết đi.

Tuy nhiên, phương pháp trên vẫn nhân đạo vì nói đến thái giám là nghĩ ngay đến chuyện "của quý" bị cắt tận gốc. Điều này có nghĩa là dùng dao sắc hoặc một vật dụng kim loại như kiếm hoặc rìu cắt đứt tận gốc dương vật của nam giới. Cách thức này được miêu tả như một hình thức vô cùng tàn bạo, vì những người sau khi sử dụng phương pháp này đều rất đau đớn, thậm chí có thể bị hôn mê kéo dài...

Có tài liệu cho biết, sau khi cắt bỏ bộ phận sinh dục, âm nang, âm hành của thái giám được gọi dưới tên bảo cụ - được dùng những kỹ thuật riêng để bảo tồn và coi như một món đồ quý, được giữ gìn cẩn thận. Trước khi bảo cụ được tẩm vôi bột cho khỏi thối và hút hết máu mủ còn trong đó để cho khô ráo, thì sau đó dùng giấy bản hoặc vải lau sạch, mới được đem ướp trong hương liệu để dầu thấm vào, đặt trong bao bằng lụa, cất trong hộp gỗ rồi hàn kín lại.

Sau khi chọn ngày lành tháng tốt, người ta cung kính đưa chiếc hộp đó đến từ đường họ người bị thiến, treo nó trên xà nhà. Sau đó mỗi năm, họ lại rút cái hộp đó lên cao thêm một chút, ý chúc tụng cho người bị hoạn phục vụ trong triều đình được thăng quan tiến chức.

Giữ gìn "bảo cụ" để làm gì?

Dù đã bị thiến, nhưng thái giám lúc nào cũng canh cánh nỗi lo phải giữ "bảo cụ". Lý do là mỗi khi được thăng thưởng, thái giám phục vụ trong cung đình đều phải trình cho thượng quan xem bảo cụ để chứng minh rằng quả thực mình đã được tịnh thân. Song, điều quan trọng không kém là mong muốn chết được toàn thây. Khi thái giám chết đi, lúc tẩm liệm, người ta sẽ hạ "của quý" bị cắt mà đang treo trên xà nhà xuống, may cho dính lại như ban đầu, còn tờ đơn tình nguyện xin cắt bỏ bộ phận sinh dục sẽ được đốt trước linh sàng để người chết được khôi phục nguyên trạng thân thể, dưới cửu tuyền còn mặt mũi gặp cha mẹ tổ tiên, nếu có đầu thai thì kiếp sau cũng được toàn vẹn thân thể.

Tương truyền, có thái giám đã giữ bảo cụ làm của riêng nhằm bán lại hoặc cho ai đó thuê nếu muốn thăng quan tiến chức. Vì thế, những thái giám này rất dễ không giữ được món đồ của mình vì bị thất lạc hay bị kẻ gian ăn cắp mất. Mỗi khi có biến loạn ở kinh thành, nhiều thái giám đã hoảng hốt chạy đi tìm “bảo cụ” của mình, có khi tranh cướp nhau...

Minh chứng cho điều này là theo nhiều người cao tuổi kể lại, vào cái ngày “thất thủ kinh đô” (1885), khi trận phục thù của tướng quân Tôn Thất Thuyết thất bại, quân Pháp phản công dữ dội, người người chạy đạp lên nhau để thoát thân. Trong Tử Cấm Thành, các vua chúa, cung nữ, quan lại... hoảng loạn tìm đường tháo chạy, chỉ riêng các thái giám cũng chạy đi chạy lại nhưng không phải tháo thân mà là tìm cái “thực khí” của mình đã cắt bỏ khi vào cung để dù có chết cũng không phải hối hận gì.

Theo sử sách, loại thái giám "kinh doanh" bảo cụ của mình đã không được triều Lý chấp nhận ngay từ năm 1162. Nhà Lý đã xuống chiếu kẻ nào tự thiến, xử 80 trượng, thích 23 chữ vào mặt. Quốc triều hình luật nhà Lý cũng ghi: "Ai tự hoạn xử tội lưu, ai thiến hộ hoặc chứa chấp giảm tội một bậc, xã quan không phát giác xử tội đồ, tức giam cầm làm khổ sai".

Như vậy, có thể nói rằng, vì có cấu tạo không bình thường về mặt tâm sinh lý như thế, thái giám luôn mang nét mặt nhợt nhạt, vóc dáng mảnh mai, giọng nói khao khao, bộ điệu rụt rè, tính tình nhút nhát khác với người bình thường.
Theo Đất Việt

Ông hoàng có khả năng giường chiếu 'cao thủ' nhất VN

19:10, Thứ Ba, 05/11/2013 (GMT+7)
Trong số những hậu duệ của vua Minh Mạng - vị vua được mệnh danh là "sung mãn" nhất trong các triều đại phong kiến Việt Nam với 142 người con thì Bảo Đại được cho là tiếp nối "truyền thống" của tiên đế tốt nhất.
Các tài liệu sử học và các chuyên gia nghiên cứu đều ghi nhận, Bảo Đại có khả năng giường chiếu rất tuyệt vời và đó là lí do mà đi tới đâu, ông cũng làm các mĩ nữ mê mệt. Vì vậy, bí quyết để giữ gìn phong độ chốn phòng the tới tận cuối đời của vị vua cuối cùng triều Nguyễn cho đến nay vẫn khiến rất nhiều người rất tò mò. Liệu Bảo Đại có trong tay bài "xuân dược" danh tiếng Minh Mạng thang mang tên tiên đế hay sử dụng bí thuật riêng nào khác?

Ngoài 8 người vợ xinh đẹp thì Cựu hoàng Bảo Đại còn có vô số nhân tình... Không chỉ thử "cảm giác" với người đẹp ở bản xứ, ông còn rất nhiều nhân tình ở Trung Hoa, Hong Kong, Pháp, Nhật Bản, Zaire... và các mĩ nữ đến với Bảo Đại hầu hết đều bị mê mệt bởi khả năng "chăn gối" của ông hoàng đào hoa này.
Cựu hoàng Bảo Đại.
Cựu hoàng Bảo Đại.
Không thể thiếu đàn bà trong giấc ngủ

  
    Bảo Đại không giống như các vị vua tiền nhiệm lấy vợ sớm mà tới năm 1934, khi đã 21 tuổi ông mới bước vào cuộc sống hôn nhân. Người vợ đầu tiên của Cựu hoàng là bà Nam Phương (tên thật là Nguyễn Hữu Thị Lan). Bảo Đại gặp bà Nam Phương trên chuyến tàu trở về Việt Nam sau nhiều năm dài du học phương Tây và ngay lập tức choáng ngợp trước vẻ đẹp "nghiêng nước, nghiêng thành" của người con gái xuất thân trong gia đình danh giá.
    Lúc đó, để cưới được giai nhân, Bảo Đại đã phải chấp nhận 4 điều kiện gắt gao mà nhà gái đặt ra: Tấn phong cho Nguyễn Hữu Thị Lan làm Hoàng hậu chính cung ngay trong ngày cưới (các bà vợ của 12 đời vua trước đó chỉ được phong tước Vương phi, đến khi chết mới được truy phong Hoàng hậu); Lễ cưới của hai người phải được tòa thánh La Mã cho phép một cách đặc biệt; Sau khi cưới, Nguyễn Hữu Thị Lan có quyền được giữ nguyên đạo công giáo và các con khi sinh ra phải được rửa tội theo luật công giáo và giữ đạo còn Bảo Đại thì vẫn giữ đạo cũ là Phật giáo.

    Mối tình đẹp của Cựu hoàng Bảo Đại và Nam Phương Hoàng hậu được cho là có một không hai trong lịch sử các triều Vua nước Việt bởi ngoài việc quyết định cưới một cô gái theo đạo Thiên chúa làm vợ thì vị hoàng đế từng sống nhiều năm ở trời Tây còn khăng khăng đòi chấm dứt hẳn chế độ cung phi của các triều đại trước để lại.
    Họ có với nhau 5 người con và nhiều người tin tưởng rằng mối tình này sẽ đẹp bất tử với lời thề "chỉ một vợ một chồng" của Bảo Đại. Tuy nhiên, với trái tim đa tình và cách sống "thoáng" ảnh hưởng từ Âu châu, chính Bảo Đại đã tự phá vỡ lời thề, kết thúc 12 năm "hương lửa mặn nồng" với Hoàng hậu bằng việc nạp thêm Thứ phi Mộng Điệp năm 1946 (người đẹp gốc Kinh Bắc sinh trưởng ở Hà Nội và đã từng trải qua một đời chồng).

    Lúc đó, bà Mộng Điệp mới 21 tuổi và là một vũ nữ nổi danh Hà thành; còn Bảo Đại vừa từ giã ngai vàng ở tuổi 32. Họ phải lòng nhau, cùng về chung sống tại căn hộ số 51 đường Trần Hưng Đạo. Thứ phi Mộng Điệp được cho là người phụ nữ có thời gian gần gũi với Cựu hoàng nhiều và mặn nồng nhất.
    Một số sách cũng chép rằng, xuất hiện cùng thời với bà Mộng Điệp trong quan hệ tình cảm với ông hoàng Bảo Đại còn có bà Lý Lệ Hà, nổi tiếng nhan sắc và đa tình. Nhưng cuộc tình này cũng không kéo dài lâu bởi lúc này, vị vua cuối cùng triều Nguyễn luôn bị xao động mỗi khi có một mĩ nữ mới xuất hiện.

    Một chuyện khác lại kể rằng, việc Bảo Đại thường xuyên có nhân tình bên ngoài khiến cho Nam Phương Hoàng Hậu rất buồn lòng và ghen tuông. Nam Phương còn có ý định cho lái xe bắn lén vào chồng và người tình khi đang tự tình ở Đà Lạt. Câu chuyện này tất nhiên chỉ là truyền miệng, không có tài liệu nào xác thực nhưng việc Bảo Đại đào hoa, đi tới đâu cũng có nhân tình thì ai cũng biết.
    Ngoài Nam Phương Hoàng hậu và 7 Thứ phi, nhân tình được nhiều người biết đến là Mộng Điệp, Lý Lệ Hà, Hoàng Tiếu Lan (vũ nữ Trung Hoa lai Pháp), Lê Thị Phi Ánh, Vicky (Pháp), Clément (vũ nữ Pháp) và Monique Marie Eugene Baudota (Pháp) thì khó có thể tính hết được đã có bao nhiêu phụ nữ đủ các dân tộc, quốc tịch đi qua cuộc đời của ông hoàng đa tình này.

    Trong cuốn "Bảo Đại hay những ngày cuối cùng của Vương quốc An Nam", tác giả người Pháp Daniel Grandclément cho rằng, sở thích hàng đầu của Hoàng đế Bảo Đại là đuổi theo những người đàn bà đẹp. Ông từng thẳng thắn bộc lộ sự ham muốn sắc dục của mình: "Luôn có nhu cầu đối với đàn bà, một thứ nhu cầu thường xuyên không thể dập tắt được như đồ ăn, thức uống. Từ khi đến tuổi lớn, đêm nào cũng phải có một người đàn bà nằm bên".

    Say mê hoàng đế  vì "chuyện ấy"

    Phong lưu, đa tình vốn là bản tính cố hữu của các Hoàng đế xưa, tuy nhiên không phải ông vua nào cũng có đủ sức khỏe để "phục vụ" những mĩ nhân xung quanh mình. Chẳng thế mà người ta thường cho rằng đa số vua chúa sớm lìa đời là do "tốn sức" quá nhiều cho thê thiếp. Đối với Bảo Đại, mặc dù kết thúc chế độ cung phi từ các triều đại trước bằng việc thực hiện chế độ hôn nhân "một vợ một chồng" tiến bộ nhưng cuối cùng ông vẫn dành cả đời để theo đuổi những cuộc tình mới lạ.
    Đối với phụ nữ, vị Cựu hoàng đào hoa này lúc nào cũng lịch sự, hào phóng và lãng mạn. Những khi kiếm được tiền ông có thể vung tay hết mức mua biệt thự đắt giá tặng cho người tình.
     Hoàng phi Mộng Điệp - người phụ nữ được cho là gần gũi Bảo Đại nhiều nhất.
    Hoàng phi Mộng Điệp - người phụ nữ được cho là gần gũi Bảo Đại nhiều nhất.
    Trong cuốn "Giai thoại và sự thật về Bảo Đại - Vua cuối cùng triều Nguyễn" của tác giả Lý - Nhân Phan Thứ Lang có ghi lại một buổi tiệc khi Thứ phi Mộng Điệp ở Đà Lạt. Tại buổi tiệc này, bà đã bày tỏ tình yêu và sự ngưỡng mộ hết lòng với người đàn ông từng ngồi trên ngai vàng: "Thật là em có phúc… Em, một gái vừa nghèo, vừa hèn làm nghề vũ nữ được "bóng dương" soi tới. Em được hầu hạ anh, anh thương em, em muốn gì được ấy. Được theo anh về Đà Lạt, được chu du sang Pháp…".
    Bà Mộng Điệp còn kể rằng trong lần cùng Bảo Đại sang Pháp, đến Nice chơi bạc; ông gặp vận đỏ thắng cả chục triệu quan. Khi một người Ý thua bạc hết tiền, bán cái hột xoàn 5 triệu, ông liền mua rồi đeo vào cổ người tình luôn.

    Không chỉ Thứ phi Mộng Điệp mà tất cả những người phụ nữ từng được Bảo Đại để ý tới đều say mê ông "như điếu đổ". Và hầu như tất cả họ sau thời gian "hạnh phúc giống trên mây" đều rơi vào tình cảnh cô đơn, buồn tủi với việc ôm nỗi ghen tuông chồng chất vì sự đa tình của người đàn ông điển trai, phong lưu.
    Ngoài vẻ ngoài ưa nhìn, tính cách vui vẻ và sự ga lăng, chiều chuộng hết mức với người đẹp thì nhiều sử gia còn cho rằng, sức hút của cựu hoàng Bảo Đại còn đến từ sức khỏe "sung mãn" của ông. Ông luôn làm hài lòng nhân tình về khoản "chăn gối", trong đó có khá nhiều người đẹp từ Âu châu hiện đại, phóng khoáng. Ngay cả hoàng phi Mộng Điệp, trong một phút nói thật khi tình cờ gặp và trò chuyện với một nhà báo trên bờ biển cũng thừa nhận: "Tôi say mê theo Ngài, không phải vì chiếc ngai vàng, mà vì cái giường ngủ".
    Theo GĐ&XH

    Những cái chết ‘thảm’ của vua chúa Việt Nam

    19:29, Thứ Bảy, 30/07/2011 (GMT+7)
    Ở ngôi Thiên tử, hưởng cuộc sống vương giả thì chết cũng phải đế vương. Thế nhưng, một số vua chúa Việt Nam đã chịu những cái chết thảm khốc.

    Bị chém đầu đóng vào cọc, bêu ngoài chợ

    Mạc Mậu Hợp (1562 – 1592) là vị vua thứ năm của nhà Mạc thời Nam Bắc triều trong lịch sử Việt Nam. Nguyên quán Mạc Mậu Hợp là người xã Cao Đôi, huyện Bình Hà (nay là thôn Long Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương).

    Mạc Mậu Hợp sinh năm 1562 là con trưởng của Hoàng đế Mạc Tuyên Tông. Do vua cha bị bệnh đậu mùa mất sớm, Mạc Mậu Hợp mới lên 2 tuổi đã được Khiêm vương Mạc Kính Điển là phụ chính đưa lên ngôi tháng 1 năm 1562. Lúc này, triều chính vẫn do hai ông chú là Mạc Kính Điển và Mạc Đôn Nhượng phụ tá. Mậu Hợp lên ngôi lấy niên hiệu là Thuần Phúc thứ nhất.

    Sử sách chép rằng, Mạc Mậu Hợp sét đánh không chết. Thế nhưng, vào ngày 14 tháng 12 năm 1592, khi vua thua trận, phải bỏ kinh thành chạy về Kim Thành (Hải Dương); cạo đầu làm sư, ẩn ở chùa Mô Khuê hạt Phượng Nhãn thì bị lộ. Lúc đó, tự liệu không thể thoát thân, vua xin: "Mấy ngày nay đói khát quá, cho xin 1 bình rượu uống cho đã".

    Quân sĩ bèn cho bình rượu. Sau khi Mậu Hợp uống thỏa thích, ngậm ngùi than rằng: "Nghiệp chướng quá sâu! Nay cầu làm một người dân thường, cũng không thể được. Tội lỗi chỉ vì tổ tiên đã làm sự giết vua cướp ngôi, đến nổi con cháu ngày nay phải mắc tội nặng như vầy. Mong tướng sĩ dẫn tôi đến trước Hoàng đế, để bầy tỏ thực tình. Đó là lòng tôi rất mong muốn...".

    Trịnh Tùng thấy Mạc Mậu Hợp về hàng, không nỡ cực hình, bèn sai đem treo sống Mậu Hợp 3 ngày, rồi chém đầu tại bãi cát Bồ Đề, rồi đem đóng đinh vào 2 con mắt, bêu ra ngoài chợ 5 ngày.

    Mạc Mậu Hợp ở ngôi vua cộng 29 năm, thọ 30 tuổi. Vì ông bị giết và sau khi ông chết, nhà Mạc cũng mất nên không được đặt miếu hiệu và thuỵ hiệu.

    Buộc ép uống thuốc độc mà chết

    Vua Hiệp Hòa (1846-1883) là vị vua thứ 6 của nhà Nguyễn. Ông tên thật là Nguyễn Phúc Hồng Dật và còn có tên là Nguyễn Phúc Thăng. Một số tài liệu ghi ông sinh ngày 24 tháng 9 năm Đinh Mùi, tức 1 tháng 11 năm 1847. Hồng Dật là con thứ 29 và là con út của vua Thiệu Trị và bà Đoan Tần Trương Thị Thuận.
    Mô tả ảnh.
    Vua Hiệp Hòa
    Năm 1883, vua Dục Đức bị phế và chết trong tù. Các quan sai lính đến xóm Kim Long đón Hồng Dật về cung để đưa lên làm vua mới. Hồng Dật thoái thác, nhưng bị ép lên ngôi ngày 30 tháng 7 năm 1883, lấy hiệu Hiệp Hoà. Do có ý thân Pháp, vua Hiệp Hòa lên ngôi chưa được bao lâu thì bị hai đại thần phụ chính Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường phế bỏ và bắt uống thuốc độc tự vẫn vào ngày 30 tháng 10 năm Quý Mùi, tức 29 tháng 11 năm 1883.

    Việt sử Tân Biên, quyển 5 tập thượng có ghi: "Vua Hiệp Hoà thấy ông Tường và ông Thuyết có lập trường chính trị trái ngược mình, liền viết một bức thư giao cho Hồng Sâm, vừa là Bí thư vừa là anh em thúc bá của mình, để mang qua toà Khâm để nhờ tay Pháp hạ hai quan Phụ chính trên. Việc lén lút này, bị Nội giám Đạt biết được, mách với ông Tường. Và ông Tường bắt được lá thư nằm trong chiếc hộp sơn, có đóng dấu của nhà vua.

    Ngay trưa hôm ấy (29-11-1883), sau khi truyền đóng hết tất cả các cửa Hoàng thành lại, triều thần nhóm họp bất thường hạch tội vua Hiệp Hoà. Nhà vua bị buộc ba tội: Thâm lạm công nhu; -Không chịu nghe lời khuyến cáo của các quan phụ chính; Tư thông với đại diện của Pháp.

    Vua Hiệp Hoà không cãi được, triều đình buộc ông phải thoái vị.

    ...Sau khi ông vua vừa bị phế do dự một lát rồi chọn chén độc dược. Vào khoảng 4 giờ, người ta khiêng ông về đến tư thất, rồi trút hơi tàn vào khoảng mặt trời lặn".

    Dưới thời Thành Thái vào năm 1891, ông được truy phong là Văn Lãng Quận vương.

    Chết không toàn thây

    Lê Uy Mục (1488-1509) là vị vua thứ 8 của nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam. Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, so với lịch sử vẻ vang kéo dài suốt 100 năm của nhà Lê, từ năm 1428 (Lê Lợi lên ngôi) đến năm 1527 (khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê), với nhiều vị vua hiền tài như Lê Thái Tổ, Lê Thánh Tông... thì thói lạm sát vô tội vạ, sự nhẫn tâm bức hại ngay chính tổ mẫu (hoàng thái hậu Trường Lạc)... của vua Uy Mục không xứng với bậc đế vương. Và cái chết không toàn thây của ông là một kết quả tất yếu.

    Theo sử sách, sự tàn bạo quá đáng của vua Uy Mục đã gây nên một làn sóng bất bình trong dân chúng và trong hàng ngũ quan lại, dòng dõi họ Lê. Giản Tu công Lê Oánh đã sai Lương Đắc Bằng viết Hịch dụ đại thần và các quan: "Bạo chúa Lê Uy Mục, phận con thứ hèn kém, làm nhơ bẩn nghiệp lớn, mới gần 5 năm mà tội ác đã đủ muôn khoé. Giết hại người cốt nhục, dìm hãm các thần liêu. Bọn ngoại thích được tin dùng mà phường đuôi chó ngang ngược làm bậy, người cứng cỏi bị ruồng bỏ mà kẻ đầu cá ẩn nấp nẻo xa. Quan tước đã hết rồi vẫn thưởng tràn không ngớt, dân chúng đã cùng khốn còn vơ vét chẳng thôi. Vét thuế khoá từng cân lạng, tiêu tiền của như đất bùn, bạo ngược ngang với Tần Chính. Đãi bề tôi như chó ngựa, coi dân chúng tựa cỏ rác, ngạo mạn quá cả Nguỵ Oanh. Huống chi lại xây cung thất to, làm vườn hoa rộng. Xua dân đi trồng cây, giẫm theo vết xe đổ chất gò Hoa Cương đời Tống; lấp biển xây cung điện, nối gót thói u mê xây cung A Phòng nhà Tần. Công trình thổ mộc xây lên rồi thay đổi, thay đổi rồi xây lên, dân Hải Dương, Kinh Bắc mệt mỏi, lao đao; tông thất xa hoa, kiêu căng lại ngang ngược, ngang ngược lại kiêu căng, cõi tứ tuyên phiên trấn xôn xao, rối loạn. Cư dân nhức óc, cả nước đau lòng".

    Tiếp đến, Lê Oánh lại làm bài hịch rằng: "Đoan Khánh làm vua, họ ngoại chuyên quyền. Tử Mô làm phường ngu hèn nơi phố chợ làm rối loạn kỷ cương. Thắng Chủng là hạng trẻ ranh miệng còn hơi sữa đã tái oai tác phúc. Đến mức đánh thuốc độc giết bà nội, tàn sát các thân vương. Theo ý riêng mà giết hại sinh dân, không biết đâu cho thoả; dùng ngón ngầm để vét vơ tiền của, càng mặc sức tham lam. Bốn biển đã khốn cùng, muôn dân đều sầu oán".

    Khi Giản Tu công từ Tây Đô đem các dinh thuỷ, bộ cùng tiến phát, tiến vào sát thành, mọi người đều chạy trốn. Ngày 28/8, vua chạy tới phường Nhật Chiêu, một vệ sĩ cũ đuổi theo bắt được, nộp cho Giản Tu công giam ở cửa Lệ Cảnh. Tháng 12, vua bị ép uống thuốc độc tự tử. Giản Tu công vì việc trước đây vua giết hại cha mẹ, anh chị em mình rất thảm khốc, mới căm giận chưa nguôi, sai người dùng súng lớn, để xác vua vào miệng súng, cho nổ tan hết hài cốt, chỉ lấy ít tro tàn về chôn tại An Lăng ở quê mẹ là làng Phù Chẩn.

    Sau này Lê Chiêu Tông lên ngôi mới đặt tên thụy cho ông là Uy Mục đế. Lê Uy Mục ở ngôi được 4 năm, thọ 21 tuổi.

    Xác bị đốt thành tro bụi

    Lê Tương Dực (1495 – 1516) tên húy là Oánh, có tên nữa là Trừ, là cháu nội Lê Thánh Tông và là vị vua thứ chín của nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam, trị vì từ năm 1509 đến khi bị Trịnh Duy Sản giết hại ngày 7 tháng 4 âm lịch năm 1516.

    Không kém cạnh tiền nhân Lê Uy Mục, Tương Dực cũng lao vào con đường ǎn chơi trụy lạc. Chưa hết, tháng 5 năm Giáp Tuất (1514), vua nghe lời tâu của Hiệu úy Hữu Vĩnh, giết chết 15 vương công, cho gọi các cung nhân của Mẫn Lệ công (Vua Uy Mục) và triều trước vào để gian dâm. Năm Bính Tý (1516), vua cho đắp thành mấy nghìn trượng, bao vây cả điện Tường Quang, quán Trấn Vũ, chùa Thiên Hoa... Chắn ngang sông Tô Lịch... Lại làm điện hơn trăm nóc, đóng thuyền chiến, sai bọn nữ sử cởi truồng chèo thuyền ở Hồ Tây cùng Vua chơi đùa, lấy làm thích thú.

    Trước tình hình đó, các thế lực phong kiến địa phương như Trần Cảo nổi lên. Trịnh Duy Sản nhiều lần can ngăn, vua không nghe, lại còn đem Sản ra đánh bằng trượng. Duy Sản bàn cùng với một số quần thần khác như Lê Quảng Độ, Trịnh Chí Sâm mưu việc phế lập. Tháng 4 năm Bính Tý (1516), Trịnh Duy Sản sai người đâm chết vua Tương Dực, đem xác đốt thành tro bụi.

    Lúc bị giết, Tương Dực bị giáng làm Linh Ẩn vương, sau Lê Chiêu Tông mới đặt thụy hiệu là Tương Dực Đế. Ông ở ngôi được 7 năm, hưởng thọ 21 tuổi, được an táng ở Nguyên Lăng.
    Theo Đất Việt

     

    Nhận xét

    Bài đăng phổ biến từ blog này

    NHÂN TÍNH 37

    BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

    ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32