CÂU CHUYỆN TÂM LINH 110

(ĐC sưu tầm trên NET)

Tìm lời giải sau khi chết, chúng ta là ai

00:00:07 17/09/2012
Giải đáp được trọn vẹn câu hỏi trên sẽ là lúc chúng ta hiểu hơn về thế giới tâm linh cũng như niềm tin về cõi chết...
Đối với tất cả mọi người, cuộc sống sau cái chết luôn là một vấn đề huyền bí và không người sống nào chứng minh được. Dù vậy, cuộc sống hiện tại không hề thiếu những bằng chứng và câu chuyện bí ẩn về sự hiện diện của con người khi đã khuất. 

Sau khi con người chết, điều gì sẽ xảy ra? Chúng ta hãy cùng xem xét vấn đề này dưới cái nhìn của các nhà khoa học.

tim-loi-giai-sau-khi-chet-chung-ta-la-ai
Lời kể của nhân chứng “trở về từ cõi chết”

Trường hợp của bác sĩ George Ritchie dưới đây là một trong những trường hợp lạ lùng nhất trên thế giới bởi những gì mà ông kể lại sau khi thoát khỏi “lưỡi hái của Tử thần” thật kỳ lạ.

Vào năm 1943, lúc này ông mới 20 tuổi và đang là một binh lính quân sự ở bang Texas. Trước khi tới thành phố Virginia để học Y khoa, Ritchie đã bị viêm phổi nặng và không lâu sau đó thì ông tắt thở.

tim-loi-giai-sau-khi-chet-chung-ta-la-ai
Bệnh viện đã tiến hành khám nghiệm và chuẩn bị đưa ông vào nhà xác. Thật bất ngờ, sau đó 9 phút, ông đã tỉnh lại cùng với lời kể gây chấn động dư luận thời bấy giờ.

Ông kể mình đã ra ngoài đường trong tình trạng nhẹ bẫng. Khi ngang qua quán cà phê, George hỏi đường một người đàn ông nhưng ông ta hoàn toàn chẳng hề để ý tới những lời nói của George.

tim-loi-giai-sau-khi-chet-chung-ta-la-ai
Thấy ngạc nhiên, George chạm thử vào một chiếc dây điện thoại công cộng thì kỳ lạ thay, bàn tay ông có thể xuyên thấu chúng. Biết mình đã rời khỏi thể xác, George vô cùng hoảng hốt quay trở lại bệnh viện và ở đó có một sinh vật ánh sáng bí ẩn giúp linh hồn của ông nhập vào thân xác.

Sau khi tỉnh dậy trong chính thân thể mình, ông mới biết mình được bệnh viện xác nhận đã chết và đang làm giấy báo tử. Không ai có thể tin, ông lại “cải tử hoàn sinh” như thế.

tim-loi-giai-sau-khi-chet-chung-ta-la-ai
Có thể đối với bác sĩ George, tất cả chỉ là giấc mơ nếu không có ngày, ông lái xe đi ngang qua một thị trấn và cảm thấy vô cùng quen thuộc dù ông chưa từng đến đây.

Bất chợt, ông nhận ra quán cà phê bên đường, lúc này, Ritchie mới biết thị trấn mà ông đã bay tới vào cái đêm định mệnh năm 1943 đó có tên là Vicksburg.

Ý kiến của những nhà khoa học

Kinh nghiệm cận tử: Cảm giác sau khi chết 


2 Votes
Ngày nay ở phương Tây chúng ta đã rất quen thuộc với kinh nghiệm cận tử, cái tên đặt cho một loạt những gì xảy đến cho những người chết hụt , và được họ kể lại sau khi thoát một tai nạn hay một cơn bệnh thập tử nhất sinh. Kinh nghiệm cận tử này đã được kể khá nhiều, trong tất cả các truyền thống huyền học, bởi các văn sĩ, triết gia thuộc đủ trường phái khác nhau như Platon, Giáo hoàng Gregory, một vài bậc thầy giáo phái Sufisme, Toltoi và Carl Jung. Mẩu chuyện mà tôi thích nhất là mẩu chuyện của một sử gia Anh, thầy tu Bede, đã kể lại vào thế kỷ thứ 8.

Vào thời ấy, một phép lạ đáng chú ý, giống như những phép lạ ngày xưa, đã xảy ra ở Anh quốc. Để đánh thức những người đang sống mà tâm hồn đã chết, có một người đã chết trở về lại đời sống trong thân xác cũ của họ và kể nhiều chuyện mà y đã trông thấy. Một vài chuyện trong đấy tôi nghĩ là đáng nói vắn tắt ở đây. Có một gia chủ ở xứ Northumbrian, tên là Cunningham, sống một đời sùng tín. Ông ta ngã bệnh càng ngày càng nặng, cho đến vào đầu một đêm kia, ông chết. Nhưng đến lúc bình minh, ông thình lình sống lại, ngồi dậy trên giường trước nỗi kinh ngạc của mọi người đang khóc xung quanh xác ông. Họ vùng bỏ chạy, chỉ trừ bà vợ, người yêu thương ông hơn ai hết, ở lại bên ông mặc dù bà cũng run lên vì hãi sợ. Ông trấn an bà và bảo : “Đừng sợ, vì tôi quả thực vừa thoát khỏi nanh vuốt thần chết, và tôi được phép sống lại giữa loài người. Nhưng từ đây tôi không được sống theo thói cũ, và phải có một lối sống hoàn toàn khác hẳn” . Không lâu sau đó, ông từ bỏ tất cả trách nhiệm ở đời và gia nhập tu viện Melrose…
Ông thường kể lại kinh nghiệm ông đã trải qua như sau :
Một người đẹp trai trong chiếc áo rực rỡ, hướng dẫn tôi, và chúng tôi im lặng đi về hướng dường như là đông-bắc. Khi tiếp tục đi, chúng tôi gặp một thung lũng rộng, sâu, và có độ dài bất tận… Người ấy liền đưa tôi ra khỏi bóng tối, đến một bầu không khí có ánh sáng trong suốt, và khi người ấy dẫn tôi đi trong ánh sáng ấy, tôi thấy trước mặt một bức tường to lớn dường như có chiều cao và chiều dài vô tận. Vì tôi không trông thấy cửa ngõ, cửa sổ hay lối vào nào cả, tôi tự hỏi tại sao chúng tôi đi đến đấy làm gì. Nhưng vừa khi tới nơi, tôi không hiểu tại sao, chúng tôi đã ở trên nóc bức tường ấy. Bên trong có một cánh đồng khoáng đạt và vui vẻ trải ra… Ánh sáng tràn ngập trong đó, còn sáng chói hơn cả ánh mặt trời giữa ngọ…
Người hướng đạo nói : “Nay ngươi phải trở về nhập xác lại và sống giữa loài người một lần nữa, nhưng nếu ngươi cân nhắc hành động một cách cẩn thận và học hỏi để giữ cho lời nói và tư cách ngươi đều bình dị, có đạo đức, thì khi chết, ngươi cũng sẽ được một căn nhà trong đó và sống giữa những linh hồn hạnh phúc mà ngươi đã thấy. Vì khi ta rời ngươi trong chốc lát là để xem tương lai của ngươi sẽ là gì” . Khi ông ta nói thế, tôi rất miễn cưỡng trở về thân xác, vì tôi đâm ra mê mẩn trước vẻ đẹp và sự vui thú của cái nơi tôi đã thấy và những người trong đó. Nhưng tôi không dám hỏi người hướng đạo tôi, và trong khi ấy, không biết làm thế nào tôi chợt thấy mình sống lại”.
Bede chấm dứt câu chuyện với những lời này :
Con người của Chúa trời này không kể chuyện này và những điều y đã thấy với những người sống bất cẩn, vô cảm, mà chỉ nói với những người sẵn sàng ghi nhớ những lời của y và tăng thêm sự thánh thiện“.
Kỹ thuật y khoa tân tiến đã đem lại một chiều hướng mới mẻ, hấp dẫn cho tầm mức kinh nghiệm cận tử ; bây giờ nhiều người đã sống lại sau một tai nạn, cơn suy tim hay bệnh nặng, hoặc trong khi giải phẫu, trong cuộc chiến. Kinh nghiệm cận tử đã là đề tài của một số lớn khảo cứu khoa học và tư duy triết học. Theo một cuộc trưng cầu ý kiến của viện Gallup năm 1982, có đến 8 triệu người Mỹ, hay một phần hai mươi dân số, đã có ít nhất một lần suýt chết.
Mặc dù kinh nghiệm cận tử không ai giống ai, cũng như không có hai người cùng có một kinh nghiệm giống nhau về cõi Trung Ấm, tuy thế có một mẫu mực chung về các giai đoạn khác nhau trong kinh nghiệm cận tử, một “kinh nghiệm cốt lõi” xuất hiện :
1- Họ đều cảm thấy một tâm trạng đổi khác, an lạc và thoải mái, không đau đớn, hoặc có những cảm thọ về thân, hoặc cảm thấy sợ hãi.
2- Họ có thể để ý đến một âm thanh ào ào hay vù vù, và cảm thấy mình rời khỏi xác. Đây gọi là “kinh nghiệm thoát xác” : Họ có thể nhìn thấy cơ thể họ từ một điểm ở trên cao ; thị giác và thính giác của họ bén nhạy hơn, tâm thức họ sáng suốt và rất nhạy cảm, và họ còn có thể đi xuyên qua vách tường.
3- Họ ý thức đến một thực tại khác, đi vào một bóng tối, trôi nổi trong một không gian có chiều hướng, rồi di chuyển rất nhanh qua một đường hầm.
4- Họ trông thấy một ánh sáng, lúc đầu chỉ là một điểm ở đằng xa, rồi họ bị cuốn hút tới đó và được bao phủ trong ánh sáng và tình yêu thương. Nó được mô tả như ánh sáng chói chang rất đẹp, nhưng không hại mắt nhìn. Vài người kể lại, họ đã gặp “một thực thể thuần là ánh sáng”, một hiện diện bằng quang sắc có vẻ toàn năng mà một số người gọi là Thượng đế hay Chúa Ki-tô, có lòng từ mẫn. Đôi khi trước hiện diện này, họ có thể chứng kiến toàn cảnh cuộc đời họ diễn lại ; thấy mọi việc họ đã làm lúc sống, cả tốt lẫn xấu. Họ nói chuyện bằng thần cảm với hiện diện ánh sáng ấy, và tự thấy mình ở trong một trạng thái phúc lạc, trong đó mọi khái niệm về thời gian và không gian đều vô nghĩa. Mặc dù kinh nghiệm ấy chỉ kéo dài một hai phút, nó vẫn là cái gì rất toàn vẹn và phong phú.
5- Một vài người thấy một thế giới nội tâm tràn đầy vẻ đẹp, dinh thự, phong cảnh thiên đường, với thiên nhạc, và họ có một cảm giác về nhất thể. Một vài người, dường như rất ít người, báo cáo thấy những hình ảnh ghê rợn của hỏa ngục.
6- Họ có thể đạt đến một biên giới mà họ không thể đi xa hơn; vài người gặp bà con bè bạn đã chết và nói chuyện với họ. Họ quyết định (thường rất miễn cưỡng) hoặc được bảo phải trở về lại thân xác và cuộc đời, đôi khi vì ý thức sứ mệnh và phụng sự, đôi khi vì để lo cho gia quyến, đôi khi chỉ để hoàn tất mục tiêu cuộc đời họ đang bị dang dở.
*
Khía cạnh quan trọng nhất của kinh nghiệm cận tử là sự chuyển hóa toàn diện trong sự sống, trong thái độ và trong tương giao của những người đã có kinh nghiệm ấy. Họ có thể không mất nỗi sợ hãi đối với nỗi đau và hấp hối, song chính cái chết thì họ không sợ. Họ trở nên bao dung hơn, đầy tình thương yêu, và quan tâm đến những giá trị tâm linh, đến con đường trí tuệ, và thường họ thiên về đời sống tâm linh nói chung, hơn là quan tâm đến những giáo điều của một tôn giáo.
Thế thì làm sao để giải thích kinh nghiệm cận tử ? Vài người Tây phương đọc Tử Thư Tây Tạng đã so sánh những kinh nghiệm cận tử này với các kinh nghiệm về thân Trung Ấm trong truyền thống Tử Thư. Nhìn qua thì có vẻ tương đồng, nhưng nói chính xác thì những chi tiết của kinh nghiệm cận tử liên hệ như thế nào với giáo lý Bardo ? Tôi nghĩ rằng việc này cần một khảo sát đặc biệt vượt ngoài tầm sách này, nhưng có một số điểm đồng và dị mà ta có thể thấy.
Bóng tối và đường hầm
Có lẽ bạn cũng nhớ, giai đoạn cuối tiến trình tan rã của Bardo chết là khi kinh nghiệm tối đen của sự “thành tựu” xuất hiện “như một bầu trời trống trải trùng trong màn đêm tối mịt” . Ở điểm này, giáo lý nói đến một giây phút hỷ lạc hạnh phúc. Một trong những nét chính của kinh nghiệm cận tử là cái cảm tưởng di chuyển “với tốc độ kinh khủng” và “cảm giác vô trọng lực” qua một không gian tối đen, “một màu đen kỳ diệu, thanh bình, toàn triệt”, và đi xuống “một cái hầm đen dài” .
Một phụ nữ kể cho Kenneth Ring :
Nó giống hệt một khoảng trống thoải mái thanh bình, đến nỗi bạn có thể tiếp tục đi tới. Chỉ toàn là màu đen, không có cảm giác nào cả… như là một đường hầm. Bạn cứ như là trôi giữa hư không“.
Và một bà khác kể :
Điều đầu tiên tôi nhớ được là một tiếng xào xạc kinh khủng… Thực khó thể nói nên lời. Tôi có thể nói là nó như một cơn gió lốc, một trận cuồng phong kéo tôi đi. Và tôi đang được kéo từ một điểm chật hẹp đến một nơi rộng rãi” .
Một phụ nữ kể cho Margot Grey :
Tôi đang ở một nơi giống như là một khoảng trống ngoài trời. Hoàn toàn tối đen, và tôi cảm thấy đang được lôi kéo về phía cuối một đường hầm. Tôi biết thế vì tôi có thể trông thấy một ánh sáng cuối đường. Tôi đang thẳng đứng và bị kéo về phía lối ra. Tôi biết đấy không phải là mộng mộng mị không xảy ra kiểu đó. Tôi không bao giờ tưởng tượng đó lại là mộng mị“.
Ánh sáng
Vào lúc chết, Ánh sáng Căn bản hay Linh quang xuất hiện với tất cả vẻ chói lọi quang vinh. Tử Thư Tây Tạng nói : “Hỡi thiện nam/nữ, tự tánh tâm ngươi là ánh sáng và koảng trống bất khả phân, nó trú như một vùng ánh sáng rộng lớn, vượt ngoài sống và chết ; quả thế, đấy là đức Phật với Ánh sáng không thay đổi” .
Melvin Morse, chuyên gia sưu tầm kinh nghiệm cận tử nơi trẻ em, có nhận xét : “Gần hết mọi kinh nghiệm cận tử của trẻ con (và một phần tư kinh nghiệm của người lớn) đều có yếu tố ánh sáng. Tất cả đều báo cáo rằng ánh sang xuất hiện ở giai đoạn cuối của kinh nghiệm cận tử, sau khi chúng ta đã có kinh nghiệm thoát xác, hoặc đã đi hết đường hầm”.
Một mô tả hay nhất về sự tiến gần ánh sáng được Margot Grey báo cáo :
Dần dần, bạn nhận ra rằng : rất xa ở đằng xa, một khoảng cách vô lượng, bạn có thể đạt đến cuối đường hầm, vì bạn có thể trông thấy một ánh sáng trắng, nhưng nó quá cách xa, tới độ tôi chỉ có thể so sánh nó như khi nhìn lên bầu trời mà thấy một vì sao duy nhất ở đằng xa. Nhưng bạn phải nhớ rằng mình đang nhìn qua một đường hầm, và ánh sáng ấy sẽ lấp đầy cuối đường hầm. Bạn có thể tập trung trên điểm sáng ấy vì khi bạn ngoi tới trước bạn sẽ gặp nó.
Dần dần, khi bạn du hành về phía điểm sáng ấy ở một tốc độ cực nhanh, ánh sáng càng ngày càng lớn. Toàn thể tiến trình này nhớ lại dường như kéo dài chỉ chừng một phút. Khi bạn từ từ tiến đến ánh sáng cực chói lọi ấy, thì không có cảm giác đường hầm đột ngột chấm dứt, đúng hơn bạn có cảm giác mình tan vào trong ánh sáng ấy. Khi đó, đường hầm đã ở sau bạn, và trước mặt là một ánh sáng màu trắng xanh rực rỡ tuyệt đẹp. Ánh sáng vô cùng rực rỡ hơn cả một ánh sáng sẽ làm lòa mắt bạn, nhưng ánh sáng này tuyệt nhiên không làm hại mắt bạn chút nào.
Nhiều người có kinh nghiệm cận tử đã tả ánh sáng ấy như sau :
Tôi sẽ tả về ánh sáng ấy là – vâng, đấy không phải là ánh sáng, mà là sự vắng mặt của bóng tối, toàn diện và viên mãn… Bạn thường nghĩ, ánh sáng lớn là ánh sáng chiếu trên mọi vật làm nên những cái bóng.v.v… Nhưng ánh sáng này thực sự là vắng mặt của bóng đen. Chúng ta không quen với khái niệm này, vì ta luôn luôn có một cái bóng từ nơi ánh sáng, nếu ánh sáng không bao quanh ta. Nhưng ánh sáng này toàn vẹn, tràn đầy tới nỗi bạn không nhìn vào nó, mà bạn ở trong nó.
Một người kể cho Kenneth Ring : “Nó không sáng. Nó như một ngọn đèn có chụp lại, hay gì ấy. Nhưng đó không phải là loại ánh sáng mà bạn có được từ ngọn đèn. Bạn biết nó ra sao không ? Giống như người nào đã để một cái chụp lên mặt trời. Nó làm cho tôi cảm thấy vô cùng an lạc. Tôi không còn sợ hãi. Mọi sự sẽ không sao cả” .
Một phụ nữ bảo Margot Grey : “Ánh sáng rực rỡ hơn bất cứ gì bạn có thể tưởng tượng nổi. Không có lời nào để mô tả nó. Tôi cảm thấy hạnh phúc khôn tả. Đấy là một cảm giác an lành, một cảm giác kỳ diệu. Ánh sáng chói lọi tới nỗi bình thường có thể làm lòa mắt bạn, nhưng sao nó không làm ta đau mắt chút nào” .
Những người khác kể lại, họ không những trông thấy ánh sáng, mà còn có thể nhập vào đó, và kể về cảm giác ấy như sau : “Tôi không có cảm giác mình là cái gì tách biệt với ánh sáng. Tôi chính là ánh sáng, và là một với nó” .
Một phụ nữ đã qua hai cuộc giải phẫu lớn trong trong hai ngày, đã kể cho Margot Grey : “Chỉ có tinh chất của tôi được cảm thấy. Thời gian không còn là cái gì cả, và không gian thì tràn đầy phúc lạc. Tôi được tắm trong ánh sáng rực rỡ và chìm ngập trong hào quang của ánh cầu vồng. Mọi sự đều tan hòa vào nhau. Những âm thanh thuộc về một trật tự khác, hòa điệu, không tên (bây giờ thì tôi gọi là âm nhạc) “.
Một người đàn ông khác khi đạt đến giai đoạn thể nhập ánh sáng đã tả :
Loạt biến cố sau đây dường như xảy ra đồng thời, nhưng khi mô tả thì tôi phải làm tuần tự. Tôi có cảm giác về một thực thể thuộc loại nào đó, một năng lực, đúng hơn là một con người, một trí tuệ mà ta có thể nói chuyện với. Về tầm vóc thì “thực thể ấy” chiếm trọn khoảng không gian trước mặt ta, nuốt chửng tất cả mọi sự, bạn cảm thấy bạn cũng được bao bọc trong đó.
Ánh sáng ấy liền nói với bạn, đọc được ngay những làn sóng tư tưởng bạn, không cần ngôn ngữ. Thông điệp đầu tiên tôi nhận được là “Hãy thư giãn, mọi sự đều tốt đẹp, con không có gì phải sợ hãi”. Tôi liền được hoàn toàn thoải mái. Trong quá khứ nếu một người nào, như một bác sĩ, nói “Không sao, bạn không có gì phải lo sợ, không đau đâu”, thì thường có đau, nên bạn không thể tin được. Nhưng đây lại là cái cảm giác kỳ tuyệt nhất mà tôi từng biết đến, đầy thuần túy là tình yêu. Mọi cảm giác đều toàn hảo. Bạn cảm thấy ấp áp, nhưng không dính gì đến thời tiết cả. Mọi sự ở đấy tuyệt đối sống động và sáng sủa. Cái mà ánh sáng truyền thông cho bạn là một cảm giác về tình yêu chân thật và thuần tịnh. Lần đầu tiên bạn cảm thấy điều ấy. Bạn không thể so sánh nó với tình yêu của vợ con bạn. Tất cả những tình yêu trên thế gian góp lại cũng không sánh được với cảm giác bạn có được từ nơi ánh sáng ấy” .
Một người đàn ông suýt chết đuối vào năm 14 tuổi, đã kể :
Khi tôi đạt đến nguồn gốc của Ánh sáng, tôi có thể nhìn vào. Tôi không thể nào khởi sự mô tả bằng ngôn ngữ con người những cảm giác mà tôi có về những gì tôi trông thấy. Đấy là một thế giới vô biên, đầy sự an tĩnh, năng lực, vẻ đẹp và tình yêu. Dường như đời người không quan trọng khi so sánh với cái này. Tuy vậy, “nó” nhấn mạnh tầm quan trọng của đời sống, đồng thời cũng xin cầu cái chết như một phương tiện để đạt đến một đời sống khác tốt đẹp hơn. Đây là tất cả vẻ đẹp và ý  nghĩa của mọi hiện hữu. Đó là tất cả năng lực vũ trụ“.
Melvin Morse đã viết rất cảm động về kinh nghiệm cận tử của trẻ em, và kể lại cách chúng mô tả ánh sáng với sự hùng hồn đơn giản : “Cháu có một điều bí mật kỳ diệu để nói với chú. Cháu đã leo lên một cái thang bắc lên thiên đàng” . “Cháu chỉ muốn đi đến Ánh sáng ấy, quên thân thể cháu, quên tất cả mọi sự. Cháu chỉ muốn đạt đến Ánh sáng ấy” . “Có một Ánh sáng thực đẹp trong đó có đủ mọi điều tốt lành. Trong chừng một tuần lễ sau đó, cháu có thể thấy những tia nhỏ của Ánh sáng ấy nơi tất cả mọi sự” . “Khi cháu ra khỏi cơn hôn mê trong bệnh viện, cháu mở mắt và trông thấy những mẩu của Ánh sáng ấy ở khắp nơi. Cháu có thể thấy được mọi sự trong thế giới ăn khớp nhau như thế nào”.
(còn tiếp)…
Sau hơn 30 năm nghiên cứu, các nhà khoa học kết luận, trường hợp như George Richie là một trong những trường hợp phi thường mà ngày nay khoa học vẫn chưa thể giải đáp một cách triệt để.

Trong trường hợp này, cái chết của George được coi là chết lâm sàng nhưng một câu hỏi lớn được đặt ra là: Khi tới được thị trấn Vicksburg, George Ritchie đang tồn tại trong trạng thái gì? Liệu đó có phải là linh hồn mà người ta vẫn thường nhắc tới?

tim-loi-giai-sau-khi-chet-chung-ta-la-ai

“Ý thức có phải là sản phẩm của não bộ?”

Những giả thiết trên đặt ra một sự nghi ngờ đối với kiến thức mà chúng ta đã biết và thừa nhận từ lâu: “Ý thức là sản phẩm của não bộ”. Điều đó giờ đây có thể không còn chính xác nữa. Vì nếu như vậy, ý thức sẽ không thể tồn tại nếu não bộ ngừng hoạt động. 

Hai học giả của ĐH Oxford là Stuart Hameroff và Roger Penrose lại giải thích những hiện tượng trên bằng quá trình lượng tử. Hai ông cho rằng, não bộ con người được chia ra làm hàng tỉ ô siêu nhỏ, ô này liên kết với nhau thông qua một quá trình di chuyển của các lượng tử. Khi cơ thể ngừng hoạt động, máu sẽ không được chuyển đến các ô này và chúng cũng ngừng hoạt động. 

tim-loi-giai-sau-khi-chet-chung-ta-la-ai

Tuy nhiên, sự di chuyển của các lượng tử thì không mất đi. Chúng sẽ thoát ra bên ngoài não bộ và ghi nhận những gì tồn tại ở không gian xung quanh. Nếu người đó tỉnh lại, các lượng tử sẽ quay trở lại não và hoạt động với chức năng thông thường của chúng. Những gì chúng ghi lại được khi thoát ra bên ngoài cũng được não bộ tiếp nhận. 

tim-loi-giai-sau-khi-chet-chung-ta-la-ai
Đó là lý do tại sao một người hấp hối nhưng sau đó được cứu sống lại có thể biết được những sự kiện mà anh ta không hề tận mắt chứng kiến hoặc được nghe kể lại.

Tiếp tục mở rộng với giả thuyết trên, các nhà khoa học nghiên cứu về khả năng các chuỗi lượng tử đó sẽ được tiếp nhận trong bộ não của trẻ sơ sinh, hay nói cách khác đó chính là sự tái sinh.

Lời kết

tim-loi-giai-sau-khi-chet-chung-ta-la-ai
Cho đến tận bây giờ, câu hỏi xảy ra chuyện gì khi con người ta chết đi vẫn chưa có lời giải đáp. 

Chắc chắn, đề tài này sẽ còn được các nhà khoa học nghiên cứu cho tới khi tìm ra được sự thật. Bởi khi đã giải được trọn vẹn câu hỏi trên cũng sẽ là lúc lịch sử văn minh con người có một bước tiến lớn - giải đáp sự thật về thế giới tâm linh cũng như niềm tin về cõi chết.
Theo Hải Yến / Mask Online
Các nhà nghiên cứu cho biết: “Chúng ta mới chỉ nghiên cứu trên bề mặt”
Bruce Greyson cho rằng việc nghiên cứu mới chỉ tiếp cận được bề mặt của hiện tượng trải nghiệm cận tử, và các nghiên cứu trong tương lai sẽ có rất nhiều triển vọng (Stephanie Lam / Thời báo Đại kỷ nguyên)
Durham, NC – Cụ Bà mới được cứu sống trở lại. Bà tỉnh dậy và kể cho bạn bè một câu chuyện kỳ lạ về việc bà đã rời khỏi thể xác và lên tới thiên đàng. Bà mắc bệnh tâm thần chăng? Hay não bộ của bà bị chấn thương do thiếu ốc-xy?
Sau hơn 30 năm nghiên cứu sưu tầm, các nhà khoa học đã kết luận rằng trường hợp này không phải như vậy. Thay vào đó, họ nghĩ rằng hiện tượng này là một điều mà khoa học ngày nay vẫn chưa hiểu được, và đó là một cơ hội cho sự tiến bộ phát triển của khoa học.
Hiện tượng này được gọi là “kinh nghiệm cận tử” (NDE) trong “Life After Life”, một cuốn sách được xuất bản năm 1975 của Raymond Moody. Ông là một bác sỹ y khoa và là tiến sĩ triết học và tâm lý học. NDE nói chung bao gồm các kinh nghiệm về nhận thức, cảm xúc, siêu hình, và huyền ảo.
Những trường hợp điển hình của NDE bao gồm: trải nghiệm sự thay đổi trong nhận thức và lối suy nghĩ, cảm nhận được sự an hòa hoặc tĩnh tại, có khả năng ngoại cảm (ESP), trải qua sự hồi tưởng về cuộc đời của mình và thấy được ảnh hưởng của hành động của mình đối với người khác, cảm giác thoát ra khỏi thân xác, nhìn thấy những người đã chết và những sinh mệnh khác ví dụ các thiên thần, và cảm thấy như đã bước vào một chiều không gian khác.
NDE được trải nghiệm bởi mọi thành phần dân chúng, và hầu hết các nghiên cứu cho thấy  khoảng 10-20% trong số những người gần kề cái chết đã có trải nghiệm cận tử (NDE).
Việc nghiên cứu NDE đã được chú ý nhiều sau khi cuốn sách của Moody được xuất bản. Sau đó, vào năm 1981, Hiệp hội Quốc tế Nghiên cứu Cận tử (IANDS) được thành lập nhằm "thúc đẩy chịu trách nhiệm, liên hợp nhiều bộ môn thám dò kinh nghiệm cận tử và những kinh nghiệm tương tự, ảnh hưởng của họ đến cuộc sống của người dân, và đối với niềm tin về cái chết, cuộc sống, và mục đích của con người ", theo website IANDS.
Từ ngày mùng 2 đến mùng 4 tháng 9/2011, IANDS tổ chức một hội nghị ở Durham, North Carolina,  Hoa kỳ, để cho các nhà nghiên cứu NDE trình bày những phát hiện của họ.
Chức năng trí tuệ tốt hơn khi bộ não bị chấn thương
Bruce Greyson, bác sỹ y khoa, giám đốc Bộ môn Nghiên cứu Tri giác thuộc trường Đại học Virginia Hoa kỳ, cho biết kinh nghiệm cận tử (NDE) là đáng tin cậy bởi vì sự mô tả của những người trải qua kinh nghiệm cận tử là giống nhau từ trước tới nay. Ông đã so sánh một loạt những mô tả về NDE của những người từng trải nghiệm cận tử được đưa ra cách nhau 20 năm và thấy rằng chúng vẫn rất giống nhau.
Greyson tin rằng NDE là một dấu hiệu cho thấy tư duy là độc lập với bộ não, bởi vì các chức năng não suy yếu đã được dự đoán trước trong trạng thái lâm sàng mà những người từng có kinh nghiệm cận tử trải qua, nhưng nghiên cứu của ông cho thấy rằng không có sự suy giảm chức năng thần kinh tương ứng ở những người từng có kinh nghiệm cận tử.
Greyson cho biết trong một cuộc phỏng vấn với Thời báo Đại Kỷ Nguyên: “Trong hầu hết các trường hợp, trong trạng thái NDE chức năng thần kinh của người ta tốt hơn sơ với lúc tỉnh táo bình thường”.
Suy nghĩ của họ nhanh hơn, rõ ràng hơn, và có tính logic hơn, họ kiểm soát được chuỗi tư tưởng tốt hơn, các tri giác của họ nhạy bén hơn, những ký ức của họ sinh động hơn.
Nếu bạn hỏi ai đó về kinh nghiệm cận tử của họ đã xảy ra 15 năm trước đây, họ sẽ nói về nó như thể nó mới xảy ra ngày hôm qua. Nhưng nếu bạn hỏi họ về những kinh nghiệm khác trong cuộc sống của họ tại cùng thời điểm đó, dẫu họ có chút ký ức nào đi chăng nữa thì nó cũng rất mờ nhạt.
[...] Khi bạn nghĩ rằng những kinh nghiệm này – vốn thường xuất hiện khi quá trình tư duy được tăng cường, lại xảy ra khi bộ não không hoạt động tốt hoặc đôi khi không hề hoạt động, vì nó xảy ra ở trạng thái tim ngừng đập hoặc bị gây mê sâu – những lúc mà theo khoa học nghiên cứu về não bộ cho rằng người ta không thể suy nghĩ hoặc nhận thức hoặc hình thành ký ức, thì rõ ràng là chúng ta không thể giải thích điều này dựa trên cơ sở của sinh lý học não”.
Eben Alexander đã có một kinh nghiệm cận tử sống động khi bộ não của ông bị tổn thương nghiêm trọng. (Stephanie Lam / The Epoch Times)
Eben Alexander, là một bác sỹ y khoa và nhà giải phẫu thần kinh cũng đã phát biểu tại hội nghị. Ông đã từng có một trường hợp NDE và đó là thí dụ điển hình. Vào năm 2008, ông từng bị viêm màng não cấp tính do vi khuẩn, bị tổn thương vỏ não và hôn mê, phải dùng máy thở trong 6 ngày.
Mức glucose trong dịch tủy não của ông là 1 mg/dl (milligram trên một phần mười của lít), trong khi mức bình thường là 60-80 mg/dl. Khi mức glucose giảm còn 20 mg/dl, thì sự nhiễm trùng màng não được coi là nghiêm trọng. Những ngày sau khi hôn mê, Alexander phải cố gắng hết sức để
kể lại được và hồi tưởng ký ức trước khi bị hôn mê. Không có người nào bị chấn thương não nghiêm trọng như thế này lại có hy vọng sẽ hồi phục hoàn toàn.
Tuy nhiên, trong thời gian cạn tử của mình, Alexander đã có những trải nghiệm sống động liên quan đến nhiều giác quan, chẳng hạn như thị giác, thính giác, và khứu giác. Ông nói rằng ông không biết phải mô tả như thế nào những trải nghiệm đáng kinh ngạc ấy.
Tôi nghĩ rằng bộ não của tôi ngay bây giờ đã hồi phục khá tốt, nhưng nó không thể làm được công việc tương tự với những gì mà bộ não của tôi đã làm [lúc kinh nghiệm cận tử ấy]“, Alexander nói. Làm sao mà một bộ não đang hấp hối rốt cuộc lại mạnh mẽ hơn, hơn nhiều và có thể xử lý khối lượng thông tin khổng lồ đó tức thời và lắp ráp chúng lại với nhau được?”

Kinh nghiệm cận tử được chia sẻ”


Raymond Moody, một nhà nghiên cứu kinh nghiệm cận tử nổi tiếng (Stephanie Lam / Thời báo Đại Kỷ Nguyên)

Một hiện tượng khác liên quan đến NDE là “kinh nghiệm cận tử chia sẻ” – SDE, trong đó một người ở cạnh một người đang hấp hối cũng trải nghiệm được điều tương tự như NDE.
Moody lần đầu nghe nói đến hiện tượng kinh nghiệm cận tử chia sẻ vào năm 1972 từ một giáo sư y khoa của mình. Mẹ của vị giáo sư bị tim suy trụy, và khi bà đang cố gắng cứu sống mẹ mình, bà cảm thấy mình rời khỏi cơ thể và nhìn thấy thân xác của bà đang cứu sống mẹ mình. Khi mẹ bà qua đời, bà nhìn thấy mẹ mình dưới dạng thức linh hồn, và linh hồn đó đã gặp một số sinh mệnh, bà có thể nhận ra một số người trong số đó là những người mà mẹ bà quen biết. Sau đó, mẹ bà và những người khác đã bị hút vào một đường hầm.
Sau hơn 30 năm nghiên cứu, Moody ước tính rằng hiện tượng kinh nghiệm cận tử chia sẻ cũng phổ biến như NDE. Theo nghiên cứu của ông về các trường hợp này trong những năm qua, ông đã phát hiện rằng các đặc điểm của hiện tượng kinh nghiệm cận tử chia sẻ cũng tương tự như những đặc điểm của NDE.
Một trong những nét đặc trưng phổ biến nhất của kinh nghiệm cận tử chia sẻ là là những người trải nghiệm hiện tượng này nhìn thấy linh hồn của người sắp chết, có hình dáng như một bản sao trong suốt của người đó, hoặc một ánh sáng hình bầu dục hay hình cầu thoát ra từ đầu hoặc ngực của thân thể người hấp hối, Moody phát biểu trong một cuộc phỏng vấn với Thời báo Đại Kỷ Nguyên.
Đôi khi, người ngoài cuộc cũng sẽ cảm nhận được sự hồi tưởng về cuộc đời của người sắp chết. Một phụ nữ ở Georgia được ghi lại đã nói chuyện với linh hồn của chồng bà khi bà nhìn thấy sự hồi tưởng cuộc đời của ông lúc ông sắp lâm chung, và bà cũng nhìn thấy một sinh mệnh tự nhận là đứa con gái mà vợ chồng bà sảy thai.
Moody nghĩ rằng kinh nghiệm cận tử chia sẻ có tác dụng như một bằng chứng mạnh mẽ cho thấy tư duy không phụ thuộc vào bộ não, bởi vì những người trải nghiệm chúng không hề bị suy giảm chức năng thần kinh vào lúc đó.
Tất cả các đặc điểm tôi gọi là các “kinh nghiệm cận tử ban đầu” mà tôi đã nghiên cứu từ nhiều năm trước, cũng xuất hiện ở những người ở bên cạnh giường bệnh, vốn không ốm đau thương tích gì”, Moody phát biểu trong bài thuyết trình của ông tại hội nghị.
Lưu lượng oxy tới não của họ không có gì bất ổn, và họ có những trải nghiệm giống hệt với những gì mà tôi đã được nghe từ những người từng gần kề cái chết”.
Trong cuộc phỏng vấn với Thời báo Đại Kỷ Nguyên, Moody kể lại một bằng chứng thậm chí còn thuyết phục hơn, đó là trường hợp của một linh mục và một nữ tu sĩ ở Nam Phi cùng bị tai nạn xe hơi. Tim của cả hai đã ngừng đập và sau đó là một trải nghiệm cận tử (NDE). Sau khi họ được cứu sống lại, cả hai đã kể lại trải nghiệm thoát ra khỏi cơ thể và cùng nhau đi vào ánh sáng, với các tình tiết giống hệt như nhau.
Với số lượng nghiên cứu trong hơn 30 năm qua, Moody cho biết rằng “Giờ thì đã có một bước tiến thực sự vững chắc – tôi cần nhấn mạnh từ “thực sự” – hướng tới nhận thức hợp lý về thế giới bên kia”.
Tương tự như vậy, Greyson cho biết: “Khoa học về kinh nghiệm cận tử hiện nay đã tiến bộ hơn rất nhiều so với 30 năm trước đây”.
Tuy nhiên, Greyson nghĩ rằng vẫn còn nhiều việc phải làm trong lĩnh vực nghiên cứu về cận tử, đặc biệt là với các công cụ kỹ thuật hiện đại mà chúng ta chưa có trước đây, và ông cũng hy vọng rằng trong tương lai, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về nguyên nhân của NDE.  (Còn tiếp)

Kinh Nghiệm Cận Tử: 30 Năm Nghiên Cứu – Phần 2

Tìm hiểu về trạng thái không quan sát được thông qua tác động của nó

Những giải trình mới đây của các nhà thần kinh học đối với Kinh nghiệm Cận tử đưa ra vài thiếu sót và không thể quy cho những báo cáo của những người giàu kinh nghiệm.(Photos.com)
Những giải trình mới đây của các nhà thần kinh học đối với Kinh nghiệm Cận tử đưa ra vài thiếu sót và không thể quy cho những báo cáo của những người giàu kinh nghiệm.(Photos.com)

Bài viết này là phần thứ hai của loạt bài năm phần về Kinh nghiệm Cận tử, khám phá dựa trên hàng chục năm nghiên cứu về đề tài này. Click vào đây để bắt đầu với phần 1.
DURHAM , NC- Đó là năm 1993. Kathleen Elmore lái xe qua một ngã tư và một chiếc xe tải di đâm vào cô từ cánh trái. “Có vẻ gì đó không tốt ” cô nghĩ.
“Cái chết thật ra không đau đớn,” Elmore nói khi kể lại những kinh nghiệm của mình ở Hội nghị năm nay của Hiệp hội Quốc tế về Nghiên cứu Cận tử (IANDS).
“Một cảm giác bao la và bình an, một tác động rất lớn cứ như ai đó chỉ cần đẩy nhẹ vào vai tôi , và tôi bay lên. “
Elmore nói rằng cô nhận thức được bản thân đã lên cao 15  đến 18 mét và bước vào một luồng ánh sáng trắng mỹ diệu, nơi cô cảm nhận được một “tình yêu phi thường” cùng thứ âm nhạc tuyệt vời. Ở đó cô gặp ba giác giả, “và họ vượt xa những thiên thần,” cô nói, họ là những người đã đặt định cuộc đời cô trước khi cô được sinh ra. Cô vừa trò chuyện với họ vừa nhìn xem người ta đang tất bật cứu chữa cho cô ở phía dưới. Sau khi trở lại với cuộc sống, cô đã đạt được khả năng nhìn thấy trường năng lượng bao quanh trái đất và ý thức tập thể của con người, cô nói.
Giai đoạn mà mọi người trải nghiệm khi họ chết lâm sàng hoặc gần với cái chết lâm sàng này được gọi là Kinh nghiệm Cận tử (Near Death Experience – NDE) trong cuốn sách “Cuộc sống phía sau cuộc sống” (Life after life) năm 1975 của Raymond Moody, tiến sĩ y khoa và tiến sĩ triết học và tâm lý học. Cuốn sách đã thu hút các học giả nghiên cứu về hiện tượng này, và làm tiền đề cho IANDS vào năm 1981, tạo điều kiện cho các nghiên cứu cận tử. Vào ngày 2 – 4 tháng 09, những người có Kinh nghiệm Cận tử (NDErs) và các nhà nghiên cứu tập trung tại Durham, North Carolina để chia sẻ trải nghiệm và những phát hiện của họ trong 30 năm qua.
Trong phần 1 của loạt bài này, chúng tôi đã đề cập rằng Eben Alexander, một Tiến sĩ y khoa, đã trải qua NDE vào thời điểm não ông bị tổn thương bởi chứng viêm màng não cấp do vi khuẩn; và Bruce Greyson, Tiến sĩ y khoa và là Giám đốc Bộ phận Nghiên cứu Tri giác tại Đại học Virginia, cho biết, trong hầu hết các trường hợp, chức năng trí óc của NDErs trong suốt quá trình trải nghiệm cảm giác này là tốt hơn so với thông thường, và họ vẫn có thể nhớ rất chính xác từng trải nghiệm kể cả khi sự kiện đã trôi qua 20 năm.
Trong phần này, chúng ta nhìn vào giá trị của NDE thông qua những di chứng của chúng trên NDErs .

Nghiên cứu về các di chứng sau đó

Trong suốt buổi nói chuyện tại Hội nghị IANDS, Greyson đã đề cập rằng một số “người theo chủ nghĩa hoài nghi,” mà ông gọi họ là những nhà khoa học không cởi mở với các khám phá về NDE, họ tin rằng hiện tượng cận tử không phải là thứ có thể được nghiên cứu một cách khoa học bởi vì NDE không phải là loại vật chất nào đó, và không thể đo lường.
Greyson lập luận lại rằng, đã có rất nhiều nghiên cứu được thực hiện dựa trên biến đổi của cảm xúc, mặc dù họ không biết về dạng tồn tại vật chất của nó .
“Tình yêu và sợ hãi có phải là vật chất?”, ông hỏi. “Chắc chắn có rất nhiều nghiên cứu khoa học về những vấn đề này. Chúng tôi không thể nhìn thấy chúng, nhưng chúng tôi chắc chắn có thể đo lường hậu quả, và từ các tác động của chúng, chúng tôi tìm hiểu một cách có khoa học rất nhiều điều về chúng.”
Trong nghiên cứu khoa học, có rất nhiều thứ chúng ta đo lường gián tiếp. Ví dụ, nghiên cứu vật lý về vật chất tối thì không thông qua việc quan sát trực tiếp về sự tồn tại của nó, mà thông qua các phương tiện gián tiếp như việc tính toán độ chênh lệch của khối lượng vật chất hữu quan trong vũ trụ được ước tính theo nhiều cách khác nhau.
Tuần trước, NASA thông báo rằng tàu vũ trụ sứ mệnh Kepler của họ khẳng định sự tồn tại của một hành tinh vô hình, Kepler- 19c, bằng cách quan sát chu kỳ quỹ đạo của một hành tinh gần đó, Kepler- 19b, quan sát thấy được hành tinh này bị ảnh hưởng bởi một lực hấp dẫn không rõ.
Nhóm nghiên cứu Kepler cũng xuất bản một bài báo trên tạp chí Khoa học vào ngày 16 tháng 09 về việc phát hiện ra hành tinh Kepler- 16b quay quanh hai mặt trời có khối lượng thấp. Phát hiện này có được nhờ vào hiện tượng nhật thực, hiện tượng này cho thấy mặt trời này bị che khuất so với mặt trời kia.
Việc sử dụng buồng bọt cũng tương tự, Greyson lập luận rằng cận tử có thể được nghiên cứu một cách khoa học. Một buồng bọt là một buồng chứa các hạt hạ nguyên tử đi xuyên qua chất lỏng, và để lại một vệt bong bóng trên đường đi của chúng. Các hạt này quá nhỏ và di chuyển với tốc độ quá nhanh không thể quan sát được, nhưng bằng cách quan sát các bong bóng hình thành xung quanh đường đi của chúng, chúng ta có thể tìm hiểu về chúng. Tương tự như vậy, Greyson cho biết , chúng ta có thể tìm hiểu về NDE từ các vết tích của chúng .
“Đối với các nhà khoa học chân chính, về cơ bản, căn cứ đáng tin cậy là kinh nghiệm chứ không phải lý thuyết,” ông nói.
Một số người nghĩ rằng NDErs phải có niềm tin tôn giáo nào đó làm khởi điểm, và những trải nghiệm này có thể chỉ là từ trí tưởng tượng của họ. Tuy nhiên, có những NDEr thì không hề thuộc về tôn giáo nào trước khi trải qua Kinh nghiệm Cận tử, và Greyson còn phát hiện ra rằng một trong những hệ quả của NDE là niềm tin tôn giáo suy giảm. Điều thú vị là, những người có kinh nghiệm cận tử cũng thường có sự tăng trưởng về mặt tâm linh sau những trải nghiệm này.
Một phát hiện khác nữa của Greyson, trái với hầu hết các dự đoán, là sau khi trải qua cảm giác cận tử, NDErs có chiều hướng tư duy logic hơn so với trước đó.
Ngoài những thay đổi tâm lý, các tác động điện từ cũng là hiện tượng được ghi nhận phổ biến. Khi một số NDErs mang đồng hồ đeo tay, pin hết rất nhanh chóng, hay những chiếc đồng hồ này chạy nhanh hơn hoặc chậm hơn so với bình thường. Một số người kinh nghiệm cận tử làm bóng đèn tắt hẳn, hoặc TV, radio có thể thay đổi kênh khi họ đi qua. Greyson đề cập rằng NDErs không bị phát hiện bởi cửa tự động.
Tiến sĩ Y tế công cộng Jane Katra, người cũng đã phát biểu tại hội nghị, nói rằng cô trở nên nhạy cảm với rung động và các trường điện từ sau NDE, và cô gặp khó khăn trong việc cân bằng cuộc sống của mình khi ở với bố mẹ vì cô có thể nghe nhiều điều khác nhau từ những căn phòng tách biệt.
Những di chứng của NDE khiến người ta khó lòng mà phủ nhận rằng các kinh nghiệm cận tử là trải nghiệm thực, bởi vì nếu chỉ là ảo giác hoặc là cảm giác sắp qua đời sẽ không mang lại những tác động như vậy.
Greyson và Tiến sĩ y khoa Mitchell Liester, đang bắt đầu nghiên cứu về hậu quả điện từ của các NDE. Sau khi thu thập dữ liệu từ một bảng câu hỏi, họ sẽ tiến hành nghiên cứu đo trường điện từ và các tác động trên đồng hồ của NDErs.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32