GIẤC MƠ MỸ

-Cứ đi đi, đất lành chim đậu
Đất khônh lành đất nhậu luôn chim
-Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dằm tương
Nhớ ai giãi nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao
-Ta về sống với quê nhà
Dù còn gian khổ vẫn là quê hương

---------------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)

Tình yêu quê hương là một tình cảm thiêng liêng đối với mỗi con người. Em hãy viết đoạn văn nghị luận về đề tài này

Cập nhật lúc: 26/03/2014 14:01 pm Danh mục: Ngữ văn lớp 8

Quê hương có một vị trí quan trọng trong lòng mỗi người. Mỗi người dân Việt Nam đều có tình cảm thiêng liêng gắn bó với quê hương xứ sở của mình

Quê hương có một vị trí quan trọng trong lòng mỗi người. Mỗi người dân Việt Nam đều có tình cảm thiêng liêng gắn bó với quê hương xứ sở của mình. Đối với những con người lao động, nhất là người nông dân, họ đã gắn bó mật thiết với quê hương. Từ lúc cất tiếng khóc chào đời, rồi tuổi thơ đẹp đẽ, những công việc lao động, rồi cuộc sống gia đình, cho tới lúc chết họ đã sống gắn liền với làng quê. Tình cảm yêu quê hương đất nước là một truyền thống tốt đẹp và đáng quý của dân tộc Việt Nam. Cho dù có ở nơi xa nhưng mỗi người vẫn luôn nhớ về quê nhà của mình. Quê hương như một người mẹ hiền ôm ta vào lòng và dành cho ta những gì tốt đẹp nhất. Quê mẹ là nơi ấp ủ tình yêu thương, nơi nuôi ta lớn, dạy dỗ, an ủi che chở cho ta. Quê hương - hai tiếng thân thương mỗi lần nghe thấy chúng ta không khỏi xúc động bồi hồi. Tình yêu quê hương đã ăn sâu vào máu thịt, đi sâu vào lòng mỗi con người. Vì vậy nếu ai chưa nhận thức chưa có tình cảm gắn bó với xứ sở của mình thì hẳn họ chưa được coi là trưởng thành. Quê hương đi vào lòng con người một cách rất tự nhiên. Người ta có thể nhớ tới quê hương đất nước của mình chỉ qua một món ăn bình dị hay một địa danh đã gắn liền với những kỷ niệm đẹp...
Trích: Loigiaihay.com
 



NƯỚC VỐI quê hương
Ðêm rừng già đi nghe mưa rơi
Một mảnh áo tơi che chẳng kín người
Nước chảy qua môi, hớp từng ngụm nhỏ
Bỗng nhớ mẹ ngồi bên ấm giỏ
Nước vối mặn nồng
                    ngọt ngào chuyện cũ
Ôi nhớ sao,
Mảnh vườn quê hương ta đó
Cây vối già bạc phếch nắng mưa
Mỗi nhánh mốc gầy đều in dấu tuổi thơ
Tháng năm tới cành chỉ còn thấy nụ
Nụ chín vàng mẹ lấy vào dấm ủ
Hạt khô ròn trong nắng nhỏ xôn xao
Rồi những ngày ngâu tràn chum nước gốc cau
Những tháng rét trải rơm làm ổ ngủ
Bắc ấm nước mưa, con ngồi nhóm lửa
Nụ tích mấy mùa mẹ lại sẻ ra pha
Chén nước ấm nồng ngai ngái vị thuốc ta
Mà nhấp khỏi cứ ngọt ngào đầu lưỡi
Con ủ tay dưới nắp bông nóng hổi
Nghe rì rầm câu chuyện cũ năm nao
Có gà chín cựa, ngựa chín hồng mao
Trận thuỷ chiến nước dâng cuồn cuộn
Cô gái láng giềng lén sang nghe trộm
Bỗng hỏi dồn:
                - Sơn Tinh thắng hay không?
Mẹ ơi,
Quê ta đêm nay có nặng hạt mưa giông
ấm vối đặc chắc vẫn nồng trong giỏ
Tháng năm rồi, vối trong vườn kết nụ
Cô láng giềng còn hái giúp mẹ không?
Chúng con đi giữa rừng đêm mưa xối
Lòng vẫn ngọt ngào vị nước vối quê hương
Súng chắc trong tay, gạo cuốn bên sườn
Theo bước chân nhau gạt cây băng tới
Ðất nước mình còn đạn thù cày xới
Giục giã chúng con nhanh bước trong mưa
Mẹ hãy nói giùm con với cô gái tuổi thơ:
- Ta sẽ thắng hơn Sơn Tinh thuở trước!
Con sẽ về với bao nhiêu hẹn ước
Bên ấm vối nồng kể lại mẹ những chiến công
Thoang thoảng đầu nhà nụ vối đưa hương
                                                   Nguyễn Trọng Ðịnh
Nhà thơ, nhà báo Nguyễn Trọng Ðịnh hy sinh năm Mậu Thân, khi mới 26 tuổi, ở mặt trận Quảng Nam, nơi anh có mặt với tư cách là phóng viên Mặt trận của báo Nhân dân. Ðời người và đời văn của anh thật ngắn ngủi, nhưng may mắn anh đã kịp để lại một số tác phẩm, dẫu ít ỏi, nhưng phản ánh đúng con người và tâm hồn anh, mà Nước vối quê hương có lẽ là một trong những bài tiêu biểu.
            Tôi có may mắn là bạn học cùng lớp và còn chơi khá thân với Nguyễn Trọng Ðịnh ở Khoa Văn, Ðại học Tổng hợp, khoá 1961- 1964, và tôi biết Nước vối quê hương được Ðịnh viết từ lúc ấy, nghĩa là trước khi anh đi chiến trường khá lâu. Tuy nhiên dạo ấy không khí chiến tranh đã từ miền Nam tràn ra cả nước và đúng là khí thế "toàn quân toàn dân một ý chí" đã bừng lên, mà mô típ chủ đạo của bài thơ này phản ánh rất rõ. Bài thơ mang đậm thần thái của thế hệ trẻ lúc ấy chuẩn bị bước vào cuộc chiến đấu một mất một còn với đế quốc Mỹ. Chỉ là chuẩn bị hoặc cùng lắm là mới bắt đầu vào cuộc, chứ chưa hẳn đã là tâm trạng của những cựu binh dạn dày chinh chiến. Nó vẫn còn nguyên cái vẻ tươi tắn đến thơ ngây với một niềm tin chủ yếu bắt nguồn từ những nhận thức tiếp thu được từ nhà trường và sách vở. Nhận thức ấy có lẽ còn bắt nguồn từ xa hơn nữa, trong cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của Liên xô (cũ) với câu nói nổi tiếng của Ilya Erenbua vốn đã thành châm ngôn của thế hệ chúng tôi "Tình yêu Tổ quốc bắt đầu từ tình yêu những vật tầm thường nhất..." Nghĩa là mô típ chung của dòng thơ này chủ yếu là cắt nghĩa lý do và lý giải sức mạnh của cuộc chiến đấu của chúng ta. Sức mạnh đó bắt nguồn từ phía sau người lính, tức toàn bộ những tình yêu thương, gắn bó ruột thịt với con người và mảnh đất quê hương... và mặt trái của nó đương nhiên là lòng căm thù quân giặc. Ðó có lẽ là dòng thơ chủ yếu của thời đầu chống Mỹ. Nó bao gồm hầu hết các bài trong tập Hương cây, bếp lửa (Lưu Quang Vũ, Bằng Việt), Hoa dọc chiến hào (Xuân Quỳnh), các bài Hương thầm, Xóm đê của Phan thị Thanh Nhàn và ở nhiều người viết khác... Ngay cả người viết những dòng này cũng góp vào đó những Bên lở bên bồi, Tiếng mía quê ta, Cao điểm... (trong tập Hương đất, màu cờ)
            Nước vối quê hương nằm trong dòng chảy đó. Cho nên về mặt ý tưởng không có gì phải bàn thêm. Nó đúng và cần trong hoàn cảnh ấy. Mà cũng không thể nào khác được. Vấn đề là ở chỗ: cùng xử lý một nội dung ấy, nhưng mỗi người viết phải tìm một cách riêng, một chất liệu và giọng điệu riêng để có quyền tồn tại trong lòng bạn đọc. Với Lưu Quang Vũ thì hậu phương đó là một khu vườn của tình yêu, một mùi hương lá bưởi, lá chanh; với Xuân Quỳnh là một tiếng gà trưa gợi về tuổi thơ và mẹ; với Phan thị Thanh Nhàn là một kỷ niệm khó quên về cái xóm đê lam lũ mà nặng tình nặng nghĩa, hoặc một thoáng khắc da diết không nói nên lời của thuở ban đầu lưu luyến trong Hương thầm... Còn với tác giả Nước vối quê hương thì xem ra là gồm gần như đủ cả những người, những cảnh. Trên cái nền tình cảm chung với quê hương, với mẹ, với cô gái láng giềng, Nguyễn Trọng Ðịnh đã khéo chọn một sợi chỉ đỏ để liên kết tất cả: ấy là cái mùi vị của thứ nước uống dân dã, đặc thù của những làng quê nghèo Việt Nam- nước vối. Những tình cảm, những ân nghĩa sinh ra trong nghèo khổ, cơ cực bao giờ cũng là những tình cảm thấm thía và lâu bền nhất. Chao ôi, là cái thứ nước vôi dễ thường không mất tiền mua, thứ nước uống có đâu như từ thời các Vua Hùng đến lập nghiệp ở xứ ta, bỗng chốc trở nên thương mến lạ thường khi con người đã trót nặng tình quê kiểng:
Cây vối già bạc phếch nắng mưa
Mỗi nhánh mốc gầy đều in dấu tuổi thơ
            Uống thì cũng như ăn, người xưa thường dạy: tiếng chào cao hơn mâm cỗ, bữa tiệc không quan trọng bằng cách mời. Nước vối ở đây đâu còn chỉ là thứ nhu yếu phẩm vật chất, mà nó đã là một phần của hồn người. Nó được hái từ thân cây vẫn toả bóng xuống vườn nhà, toả hương vào tuổi thơ. Cái ngon ngọt ở đây chính là ở công sức cặm cụi và tấm lòng nâng niu, trân trọng của người mẹ nghèo:
Nụ chín vàng mẹ lấy vào dấm ủ
Hạt khô ròn trong nắng nhỏ xôn xao
Nắng nhỏ là gì? Sao lại xôn xao? Tôi không thể và cũng không muốn cắt nghĩa thật tận tường. Có những vẻ đẹp tự thân nó đã nói lên tất cả. Người tò mò, hiếu kỳ cũng phải đứng xa ra một chút. Tôi chỉ chợt nhớ đến Nguyễn Duy khi anh viết về cái đêm hành quân lỡ độ đường, được người mẹ đồng chiêm lót ổ rơm cho ngủ:
Rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm
Tôi thao thức trong hương mật ong của ruộng
Trong hơi ấm hơn chăn đệm
Của những cọng rơm xơ xác, gầy gò
            Cái hương vị nước vối của Nguyễn Trọng Ðịnh và hơi ấm ổ rơm của Nguyễn Duy gần nhau biết mấy, mặc dù một bên là từ mẹ đẻ, một bên là của người mẹ lớn nhân dân
            Ý THƠ ĐỘC ĐÁO NHẤT VÀ CŨNG LÀ CÁI đinh trong hệ thống hình ảnh của bài thơ nằm ở câu: Chén nước ấm nồng ngai ngái vị thuốc ta. Cái lý thú của câu thơ là ở chi tiết thực của quan sát, tưởng đơn giản nhưng không có một độ nhạy cảm tinh tế khó mà nắm bắt được, và lại chính nhờ cái gốc thực đến cụ thể, chi tiết như thế mới neo giữ cho những suy tư, cảm xúc khác có thể bay bổng rộng dài. Bởi đàng sau nó là quê hương, là mẹ, là em, là những kỷ niệm tuổi thơ- mà một trong những kỷ niệm ấy là những câu chuyện mẹ kể bên bập bùng bếp lửa. Dễ dàng thấy là cả câu chuyện kể và hình ảnh cô gái láng giềng đều là phép bày đặt của người viết. Tạo dựng đấy, nhưng vững tay, hợp nơi hợp lúc, nên thuận lẽ, thấu tình và có sức truyền cảm.
            Ðương nhiên, sau nhiều năm đọc lại, bên sự phơi phới, tươi tắn của ngày nào, ta cũng thấy dấu vết của những hạn chế mà thời gian để lại trên bài thơ. Vẻ lạc quan có phần dễ dãi, nổi nênh; cách bày biện, dẫn dắt, mở đóng bài thơ thể hiện rõ cách thức lập ý, dùng lời của một thời còn khá đơn giản. Tuy nhiên, nói sau bao giờ cũng dễ. Vào thời ấy, viết được một bài thơ như Nước vối quê hương của Nguyễn Trọng Ðịnh đã là một thành công thực sự.
(Anh Ngọc)

Qua bài thơ Nói với con phân tích tình cảm quê hương dân tộc

0

Bài văn mẫu phân tích tình cảm quê hương dân tộc trong bài thơ Nói với con của nhà thơ Y Phương trong chương trình văn học lớp 9 cho học sinh ôn thi và kiểm tra.

qua-bai-tho-noi-voi-con-phan-tich-tinh-cam-que-huong-dan-toc-hinh-anh
Đề bài: Qua lời trò chuyện với con, người cha trong bài Nói với con của Y Phương đã thể hiện những tình cảm và suy nghĩ gì về quê hương, dân tộc?
Y Phương là nhà thơ dân tộc Tày, quê ở Cao Bằng, một tỉnh vùng cao nơi địa đầu Tổ quốc, mảnh đất có truyền thống đánh giặc kiên cường và truyền thống thơ ca phong phú, da dạng của các dân tộc thiểu số, Qua bài thơ Nói với con, nhà thơ nhắc nhở về cội nguồn sinh dưỡng của mỗi con người, về sức sống mạnh mẽ, bền bỉ của quê hương, dân tộc.
Mạch nguồn cảm hứng trong bài thơ phát triển song song với những điều suy nghĩ tâm huyết của người cha và được thể hiện bằng ngôn ngữ thơ ca hồn nhiên, dung dị, đậm đà hơi thở cuộc sống cần lao, chất phác của đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi. Sợi dây vô hình nối kết tình cha con, tình mẹ con thiêng liêng được tác giả phản ánh qua bốn câu thơ mộc mạc mà đậm đà ý nghĩa:
Chân phải bước tới cha
Chân trái bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói,
Hai bước tới tiếng cười
Khung cảnh một gia đình chan hòa hạnh phúc giữa cuộc sống yên vui đáng yêu biết mấy! Niềm tự hào về dân tộc mình đã bật thốt thành lời từ trái tim chân thành của người cha:
Người đồng mình yêu lắm con ơi
Đan lờ cài nan hoa
Vách nhà ken câu hát
Những tinh hoa truyền thông lâu đời vẫn thể hiện rõ ràng trong cuộc sống lao động hằng ngày của bà con dân tộc Tày nói riêng và mấy chục dân tộc thiểu số khác nói chung. Đời sống tinh thần nên thơ, nên nhạc khiến cho công việc đỡ nhọc nhằn và con người có thêm niềm vui, niềm tin vào cuộc đời. Người cha muốn nói với con rằng chính mảnh đất nơi ta sinh ra và lớn lên là cội nguồn hạnh phúc lớn lao vô tận:
Rừng cho hoa
Con đường cho những tấm lòng
Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới
Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời
Có cha mẹ mới có con cái. Con cái là hoa thơm quả ngọt của hạnh phúc lứa đôi. Bởi vậy, cha muốn con cùng cha mẹ trả ơn nặng nghĩa dày của dân tộc mình, quê hương mình. Cha mẹ muốn con xứng đáng với những gì đẹp đẽ nhất mà dân tộc đã trao cho, quê hương đã trao cho:
Người đồng mình thương lắm con ơi
Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chí lớn
Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn
Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung không chê thung nghèo đổi
Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc
Đó là cách sống hiên ngang, bất khuất, bất chấp mọi khó khăn, gian khổ, vượt lên tất cả để khẳng định khí phách và phẩm chất tốt đẹp của mình. Gian lao, thử thách, lên thác xuống ghềnh chỉ làm cho con người thêm vững lòng, bền chí.
Điều người cha muốn nói với con là tầm vóc tâm hồn cao đẹp của dân tộc mình ẩn giấu trong hình thức quá đỗi bình thường:
Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục
Nếu ai đã một lần đặt chân lên đất Cao Bằng, Hà Giang thì sẽ thấm thía cái hay của hình tượng thơ: Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương. Các dân tộc miền núi nơi đây sinh sống bao đời nay giữa mây ngàn và đá núi. Họ chắt chiu gây dựng từng mầm sống nhỏ nhoi. Quê nghèo nhưng tình người lại giàu có vô cùng! Sức sống kiên cường, bền bỉ của họ trải qua lịch sử lâu dài đã làm nên giá trị cao quý của truyền thống dân tộc, truyền thống quê hương. Cũng chính họ đã tự đục chân dung mình vào đá núi vĩnh hằng.
Với một dân tộc như thế, một quê hương như thế, các thế hệ sau phải sống sao cho xứng đáng? Người cha ân cần khuyên nhủ:
Con ơi tuy thô sơ da thịt
Lên đường
Không bao giờ nhỏ bé được
Nghe con.
Mấy câu thơ trên có giọng điệu nhẹ nhàng, tha thiết nhưng lại ẩn chứa một mệnh lệnh nghiêm khắc: Con hãy giữ vững và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, quê hương. Có như vậy mới xứng đáng là con của mẹ cha, mới xứng đáng với người đồng mình chân thật, mạnh mẽ, dũng cảm, hào hùng.
Bài thơ Nói với con của Y Phương đi vào tâm hồn, vào trái tim bạn đọc bởi sự giản dị đáng yêu của nó. Qua bài thơ, chúng ta hiểu thêm phần nào về đời sống tinh thần phong phú của các dân tộc vùng cao phía Bắc. Bằng sự phấn đấu không mệt mỏi, họ đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp nâng cao tầm vóc của quê hương, đất nước.
qua-bai-tho-noi-voi-con-phan-tich-tinh-cam-que-huong-dan-toc-hinh-anh-2

Tham khảo bài văn mẫu số 2 phân tích tình cảm quê hương dân tộc trong Nói với con

Y Phương là nhà thơ mang một tiếng nói riêng, rất đặc trưng cho dân tộc Tày. Thơ ông là tiếng long chân thật, gần gũi, bình dị nhưng tràn đầy tình yêu thương. Bài thơ “Nói với con” tiêu biểu cho phong cách sang tác ấy của ông. Bài thơ đi vào long người đọc một thứ tình cảm gần gũi nhưng thiêng liêng và cao quý: tình cha con. Đó là tâm sự của một người cha dành cho con, là những điều mà cha muốn thổ lộ cho con nghe, con hiểu.
“Nói với con” là lời tâm sự, thủ thỉ, trò chuyện của người cha dành cho con từ lúc con mới lọt long. Mạch cảm xúc chủ đạo của bài thơ chính là tình yêu thương, chia sẻ, gắn bó và giáo dục cho con những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và những người xung quanh con. Với thể thơ tự do phóng khoáng, cảm xúc chân thành, mộc mạc đã khiến cho tình cảm đó càng trở nên ấm áp và thân thiết. Y Phương đã gieo vào long người đọc chất liệu đời thường rất mực thiêng liêng.
Những câu thơ đầu tiên cất lên như một lời kể chuyện thủ thỉ với con:
Chân phải bước tới cha
Chân trái bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói
Hai bước tới tiếng cười
Đứa con từ lúc lọt long đã được bao bọc, yêu thương trong vòng tay của cha mẹ. Từng ngày, từng giờ con lớn lên là từng ngày từng giờ cha mẹ mong chờ. Từ lúc con chập chững bước những bước đi đầu tiên trong cuộc đời thì cha mẹ luôn là người ở bên cạnh chứng kiến và cổ vũ. Hình ảnh “chân phải”, “chân trái”, “tiếng nói” , “tiếng cười” bình dị, gần gũi biết bao nhiêu. Một không gian ấm áp và hạnh phúc bao trùm lấy từng nhịp thơ. CUộc sống xoay vần, tình yêu thương mà Y Phương dành cho con luôn chân thành và thiết tha như vậy. Ông đã vẽ lên hình ảnh đứa con từ lúc còn bé, gieo vào con nhận thức về những tháng năm đó.
Y Phương tiếp tục gieo vào long người tình làng nghĩa xóm của người dân tộc luôn tha thiết, sâu nặng. Nhắc nhở con phải luôn nhớ về họ:
Người đồng mình thương lắm con ơi
Đan lờ cài nan hoa
Vách nhà ken câu hát
Rừng cho hoa
Con đường cho những tấm lòng
Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới
Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời
Những con người dân tộc mộc mạc, bình dị, chăm chỉ làm ăn, khéo léo trong mọi công việc. CUộc sống của họ hằng ngày lên rừng, làm rẫy, tất bật với rất nhiều cuộc việc. Dù cuộc sống vất vả nhưng họ vẫn gắn bó khăng khít bên nhau. Những từ ngữ “đan”, “cài” không những nói lên sự gắn bó mà còn nói lên nghĩa tình sâu nặng, khó có thể phai nhòa của những con người nơi đây. Tác giả đã gieo vào long người con mình tình cảm, cội nguồn đáng trân trọng và gìn giữ. Quê hương và những người nơi đây là điều con phải nhớ, phải gắng nhớ về họ để biết ơn và để trở thành người có ích hơn.
Kết quả của “ngày cưới” mà tác giả vẫn luôn nhớ chính là đứa con, là sinh linh bé bỏng cha mẹ luôn bảo vệ và nâng niu. Qua đây Y Phương muốn nhắn nhủ với con rằng yêu thương chính là cội nguồn của tất cả, như việc sống và tồn tại hiện nay của mỗi người.
Những người nơi đây không chỉ chăm chỉ, chịu khó mà còn có chí lớn:
Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chí lớn
Hai câu thơ là sự đối lập giữa cuộc sống nhiều khó khan, trắc trở nhưng đầy long quyết tâm và sự tin tưởng vào bản thân. Không phải tự dung tác giả nhắn nhủ với con điều này, ông muốn đứa con mình sau này cần phải kế thừa và phát huy đức tính tốt đẹp này.
Cuộc sống của con trong tương lai luôn có nhiều khó khan, không được bỏ cuộc, cần phải cố gắng vượt qua để trưởng thành hơn:
Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung không chê thung nghèo đói
Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc
Mỗi người sinh ra và lớn lên đều phải gặp rất nhiều khó khan và thử thách, nhưng quan trọng chúng ta cần phải vượt qua nó như thế nào để chiến thắng chính bản thân mình. Du là “đá gập ghềnh, nghèo đói, lên thác xuống ghềnh” thì cũng không nên từ bỏ, không nên gục ngã. Vượt qua những điều đó chính là vượt qua được bản thân mình và trở thành một người có ích cho xã hội. Điệp từ ‘sông” được đặt đầu dòng ba câu thơ khẳng định chân lý sống không gục ngã mà người cha muốn nhắn nhủ đến con trai. Đó như là một lời khuyên, lời giáo huấn chân thành để con có thể tự mình bước tiếp những chặng đường tiếp theo.
Người cha muốn nhắn nhủ đến con rất nhiều điều, để làm hành trang sau này con tự tin bước vào đời
Người đồng mình thô sơ da thịt
Chằng mấy ai nhỏ bé đâu con
Những con người dân tộc Tày tuy chân chất, mộc mạc, tuy nghèo đói nhưng ý chí trong họ luôn lớn mạnh, luôn hừng hực. Đó là nghị lực phi thường và đáng được trân trọng. Đây là điều mà người con nên trân trọng và tự hào để mai sau trở thành một người như vậy.
Những lời nói, lời nhắn nhủ của người cha chân chất, mộc mạc nhưng lại có ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với đứa con. Gieo vào con tình yêu thương, tình quê hương và tình người tha thiết nhất.
Y Phương thực sự đã gieo vào long người đọc những tình cảm khó quên về tình cha con nghĩa nặng, về những lời dạy thiết tha. Bằng cách viết đơn giản, nhẹ nhàng, lối nói ẩn dụ đầy sâu xa Y Phương thực sự đã chiếm được trái tim người đọc.

ĐI ĐI CON, MÀ TÌM MỘT THIÊN ĐƯỜNG

(Tặng những con dân Việt đang tự ti Dân Tộc và chán nản Tổ Quốc)



 
Sao lại trách mẹ đã sinh ra con
Để con hổ thẹn trong tồi tàn, rách nát
Bầu vú mẹ bèo nhèo chua chát
Chẳng đầy cho con dòng sữa ngọt thơm?

Sao lại hờn cha, ơi con yêu thương
Khi gia đình ta còn nghèo, cơ cực
Chân lấm tay bùn, nhà tranh vách đất
Gom nhặt qua ngày manh áo miếng cơm?

Sao lấy một thời để trách cả Nước Non
Lận đận làm ăn, sụt sùi, thất bát
Nhung nhúc bọ sâu, như rươi trộm cướp
Đời sống hiền lương trôi nổi, chòng chành?

Sao vội tin vào ảo vọng, hư danh
Dại khờ nghe theo phù hoa mua chuộc
Chối bỏ cội nguồn, chê bai Tổ Quốc
Ôm bóng thiên đường, bôi xóa quê hương?

Con đâu từng qua khủng khiếp chiến tranh
Bộ mặt ngoại xâm tham tàn, bạo ngược
Con nào thấy cảnh con dân mất nước
Ê chề, tủi nhục, đau thương!...

Sinh ra làm người, ai không muốn giàu sang?
Nhưng thừa mứa chưa phải là hạnh phúc
Gác tía lầu son chưa đủ nên vinh dự
Lấp liếm lạc loài, trống trải, lưu vong!

Đi đi con!
Cha không cản ngăn khi ý con đã quyết
Con hãy cứ đi đến tận cùng ly biệt
May còn ngày về tình xứ sở thiêng liêng!...

Ừ! Đi đi con
Giao cho may rủi mất còn
Mong tròn hiểu biết
Thấm thía ngọn nguồn sự tích
Đồng bào trăm trứng xuống biển lên non
Quả cảm, thông minh, tần tảo, sắt son
Thuận vợ, thuận chồng, mối tình Âu-Lạc
Từ thuở Văn Lang hiện hồn Đất Việt
Đã là Sơn Tinh chế ngự Thủy Tinh
Là tiếng trống đồng âm vang bình minh
Con rồng cháu tiên quây quần, đoàn tụ
Đấu cật chung lưng đắp thành Tổ Quốc
Dòng giống nối đời gìn giữ gian nan!

Đi đi con!
Trong khinh khi may nhớ nước non
Mà ôn lại cho đừng quên lịch sử
Bốn ngàn năm rồi, Việt Nam bất tử
Dằng dặc đoạn trường chống giặc ngoại xâm
Biết mấy đau thương, biết mấy anh hùng
Ghi tạc địa cầu bao chiến công hiển hách
Ôi! Dân tộc hiền hòa mà khí phách:
"Thà chết làm quỉ nước Nam
Chứ không thèm sống làm vương đất Bắc!"*

Đi đi con!
Hãy cứ đi tìm thần tượng, kỳ quan
Thỏa chút riêng con chọn làm đất hứa
May khắc khoải những khuya hồn chan chứa
Da diết mộng về muôn thuở quê hương
Một dải đất-trời ven Thái Bình Dương
Như cánh diều lả bay xanh biếc
Như uốn lượn rồng thiêng phơi nắng
Hùng vĩ vây rồng là trùng điệp Trường Sơn!
Cảnh tiên bồng nào hơn vịnh Hạ Long
Nơi quần tụ của muôn loài sơn thủy
Nàng tiên cá múa lưng ong mê mải**
Lưu luyến dân gian, nên chuyện Lạc-Hồng?!

Đi đi con!
Cố một bước đàng học lấy được sàng khôn
Để thắm lại tình yêu Tổ Quốc
Để ấm lại niềm tự hào dân Việt
Thuần phác, cần cù, bất khuất, lạc quan
Để cùng buồn vui theo với nước non
Nối chí ông cha, giữ gìn, gánh vác
Khối óc, bàn tay là tương lai đất hứa
Hiển hiện kỳ quan trên xứ sở kỳ quan!

Cứ đi đi, con
Một chuyến rủi may, vinh nhục, mất còn
Trốn tránh nhọc nhằn, bán thân lưu lạc
Khát dục vọng, quăng đời vào canh bạc
Cay cú đỏ đen, cháy túi tình người!
Cứ chơi đi con, đến cạn máu tâm hồn
May sực tỉnh, nhận chân trò gian lận
May thấm thía rằng dẫu cho được cuộc
Chẳng tiền tài nào đủ chuộc Quê Hương!...

Mà kẻ mất Quê Hương
Sẽ chẳng bao giờ tìm thấy nổi thiên đường!


                                          Trần Hạnh Thu

 Chú thích: *Lời của danh tướng Trần Bình Trọng (thời nhà Trần) khi bị giặc
           bắt và dụ hàng, trước tướng giặc Thoát Hoan, trong cuộc chiến
                chống quân Nguyên, bảo vệ Tổ Quốc của dân tộc ta.
                 **Hình thể nước Việt Nam như nàng công chúa múa trên bãi cát ven biển.
                                           
                                                   

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32