Nguyễn Văn Đáng, hỗn danh là Đáng “đao”, là đầu
lĩnh trong băng người nhái của ông trùm Châu Nhị ở Sài Gòn trước năm
1975. Bây giờ về già, cuộc sống của Đáng “đao” có nhiều xa xót.
Ông Đáng nhớ lại những ngày tháng sống kiếp giang hồ.
Giang hồ lừng lẫy ẩn dật mưu sinh bằng nghề… hát rong
Nói về giang hồ Sài Gòn trước những năm 1975 thì Đại Cathay được mệnh danh là trùm của các ông trùm.
Tuy nhiên, ngay cả thời hưng thịnh nhất, Đại Cathay vẫn phải nhường
nhiều “mảnh đất mầu mỡ” cho băng “người nhái” của ông trùm Châu Nhị.
Tuy chỉ có 30 đầu lĩnh nhưng đều từng là binh lính tinh nhuệ nhất
trong Liên đoàn người nhái của quân lực Việt Nam Cộng hòa, từng được
huấn luyện ở Mỹ nên vô cùng lợi hại.
Thêm nữa, bởi được chống lưng của chính quyền Sài Gòn nên băng người
nhái chẳng xem ông trùm Đại Cathay ra gì, sẵn sàng nổ súng để đánh chiếm
địa bàn.
Ngôi nhà gỗ nhỏ bé, lụp xụp giữa ấp 1, xã Xuân Quế, huyện Cẩm Mỹ (Đồng Nai) là nơi mà chiến tướng của băng người nhái đang sống.
Hiện tại, người đàn ông lừng lẫy giang hồ một thuở mưu sinh bằng nghề hát rong.
Tuổi gần bát thập nhưng Đáng “đao” vẫn nhanh nhẹn, giọng vẫn sang
sảng và đôi mắt sắc lẹm. Tuy nhiên, tài phi đao bách phát bách trúng năm
nào đã mai một nhiều.
Nhấp ngụm nước trà ấm, ông trùm một thời thét ra lửa lần dở những ký
ức đã ngủ vùi trong trí nhớ để kể lại cuộc đời quá lắm thăng trầm của
mình cho chúng tôi nghe.
Xem Video: Tiểu sử trùm giang hồ Thành Sói với mối tình 70 và 20
XEM VIDEO CLIP: Đóng QC, Xem nhanh Youtube nhấn:
Tuổi thơ cơ cực
Đáng gốc là người thành Nam ( Nam Định), lúc ông ra đời thì cụ thân
sinh đưa ra đình vào Đồng Nai làm công nhân cao su cho thực dân Pháp.
Khi Đáng lên 10 thì người cha chết thảm thương giữa rừng cao su ngút
ngàn, phải đến một tuần lễ người ta mới tìm thấy xác người cha xấu số
của ông.
Một thời gian sau thì mẹ ông đi bước nữa với một người dân địa
phương. Người dượng khó tính lại hay rượu, ông ta không ưa gì Đáng. Mỗi
khi buồn bực chuyện gì thì đứa con riêng của vợ biến thành nơi để người
dượng này trút giận.
Phận người phụ nữ đã một lần đò nên mẹ Đáng chẳng biết làm gì hơn,
mỗi lần chồng đánh đập Đáng bà cũng chỉ biết nuốt nghẹn nỗi đau thương
xót vào trong.
Đáng cứ thế lớn lên bằng đòn roi, ghẻ lạnh của người dượng và tình thương của người mẹ nhưng chẳng thể che chở bảo vệ được con.
Không chịu đựng được người dượng bạc ác, một đêm tối ông đã lén bỏ
nhà ra đi tuổi đời mới 13. Đáng làm thuê, làm mướn sống lay lắt qua ngày
ngay tại địa phương.
Mẹ ông đã nhiều lần đi tìm và khuyên con trai về nhà, nhưng Đáng nhất quyết không chịu, ông bảo với mẹ rằng: “Nếu mẹ nhớ, muốn gặp con thì hãy đến đây, ngày nào còn ông ta thì con sẽ không bao giờ về”.
Lớn lên chút nữa thì Đáng “đao” bị bọn tay sai cho Pháp bắt đi làm
công nhân cạo mủ cao su ở nông trường Ông Quế (xã Xuân Quế, huyện Cẩm
Mỹ, Đồng Nai).
Sa chân vào đất cao su, chẳng tù thì cũng như tù chung thân, bọn thực
dân Pháp đã bóc lột thậm tệ, tàn nhẫn sức của những người lao động.
Làm ở đây được chừng 6 năm thì người Pháp thất bại ở trận Điện Biên Phủ và Đáng đã may mắn thoát khỏi địa ngục trần gian ấy.
Quãnh thời gian sống trong “hang quỷ” đã tôi rèn cho Đáng sự gan lì.
Người vợ hiền mà ông Đáng trọn đời thương yêu.
Trong ký ức của Đáng vẫn chưa quên lần gánh mủ cao su làm tràn ra
ngoài, ông đã bị một tên lính Pháp rút súng bắn thẳng vào bắp chân.
Theo Đáng “đao” thì như thế vẫn còn nhẹ, có anh công nhân gánh mủ vị
té ngã, làm đổ cả hai xô mủ, tên thực dân đã đã lạnh lùng bắn chết khi
chưa kịp giải thích
Lúc Đáng 19 tuổi, trong một lần gánh mủ cao su làm tràn ra ngoài, ông
lại bị tên lính Pháp ngày trước tát cho một cú như trời giáng vào mặt.
Mối thù lần trước chưa trả, lại thêm lần này, máu nóng trong người
Đáng sôi sùng sục, chẳng cần nghĩ ngợi, ông vơ lấy đòn gánh vào đánh tên
lính Pháp tơi bời. Được cao thủ võ truyền dạy tuyệt kỹ phi đao
Đó năm 1960, Đáng “đao” kể sau những cuộc thanh trừng ác liệt, Huỳnh
Tỳ, Ngô Văn Cái, Nguyễn Kế Thế đều về dưới trướng của Đại Cathay, phò tá
ông trùm đi cướp đất Chớ Lớn của Tín Mã Nàm.
Thời ấy, Đáng “đao” chỉ là tên lính quèn, đóng quân ở Long Khánh. Tuy
nhiên, trong thời gian này Đáng đã học được tuyệt kỹ của “phi đao” mà
sau này đã khiến người trong giang hồ phải nể sợ.
Ông Đáng nhớ lại, trong băng người nhái có 30 người, ai cũng giỏi
kung phu, bắn súng thiện xạ, nhất là khi tác chiến ở dưới nước.
Ông tuy không giỏi võ bằng huynh đệ, nhưng được tất cả nể phục bởi
khả năng phi đao tuyệt đỉnh, lấy mạng 3 đến 4 kẻ địch chỉ trong chớp
mắt.
Ông Đáng học được món bí kíp này từ một người lính cùng tiểu đội
trong đơn vị. Ông này vốn là võ sư đất Bình Định, tuổi đã ngoài 40 nhưng
vẫn không thoát khỏi quân dịch.
Ông này rất quý tính của Đáng nên đã nhận làm để tử để truyền dạy võ
thuật. Vị sư phụ mới kịp truyền dạy cho Đáng món phi đao để phòng thân
thì ông ta đã tử trận trong chiến dịch ở Bình Long (Bình Phước).
Sau này, Đáng ngang dọc hành tẩu trong giang hồ cũng nhờ cái vốn liếng đã học được từ ông thầy này.
Nghĩ sư phụ võ thuật tinh thông nhưng cũng không tránh khỏi tên bay
đạn lạc vì vậy mà sau một năm ở lính tránh Đáng đã tìm cơ hội để đảo
ngũ.
Lúc ấy, người dượng cũng đã chết nhưng đảo ngũ rồi Đáng “đao” cũng
chẳng thể về nhà bởi sợ quân cảnh bắt lại. Đáng “đao” tá túc trong một
nhà thờ ở đất Đông Hòa (Long Khánh, Đồng Nai).
Ban ngày, ông đi làm thuê cho người địa phương, tối lại quay lại nhà thờ để ngủ.
Ngôi nhà nhỏ nơi ông Đáng sống đời ẩn dật Chạy trốn “tình duyên” ngay trong ngày cưới
Thời gian ấy, Đáng “đao” 23 tuổi, người vạm vỡ, đẹp trai, biết nhiều
chữ nghĩa và nói được cả tiếng Pháp do đó khiến rất nhiều cô nàng ở đây
mê mẩn.
Trong số những người con gái ấy có Nguyễn Thị Nga, em gái một người bạn rất thân của Đáng đã tương tư anh lính đảo ngũ này.
Thế nhưng trong trái tim của ông trùm khi ấy đã có hình bóng của người con gái khác, đó là bà Trịnh Thị Mọn, vợ ông bây giờ.
Bà Mọn cũng là người cùng quê với ông, bà mồ côi từ bé và lưu lạc vào
đất này nhiều năm trước. Hai người quen nhau khi cùng làm công nhân
trong nông trường cao su Ông Quế.
Lúc đi lính thì bà Mọn cũng rời về Hố Nai (Đồng Nai) sinh sống, vì thế mà ông bà đã mất liên lạc với nhau.
Ông Đáng đảo ngũ về thì không thấy người thương, ông cũng nhiều lần
dò la và đi tìm kiếm nhưng mọi thông tin về bà Mọn vẫn bặt vô âm tín.
Bà Nga là một cô gái có nhan sắc và thông minh, mẹ ông cũng ưng bụng cô gái này và đã nhắm Nga là con dâu của mình từ rất lâu.
Đáng dù ngang tàng đến đâu nhưng ông rất thương mẹ, không muốn làm mẹ buồn bởi thế ban đầu, ông chấp nhận mối tơ duyên này.
Đáng “đao” là lính đảo ngũ nên chuyện mừng cũng không dám tổ chức
rình rang khiến quân cảnh để ý. Bởi, nếu Đáng bị bắt, ông sẽ bị xử nặng.
Hai bên thông gia sau nhiều buổi họp bàn cuối cùng cũng tìm ra được
cách qua mặt chính quyền là hôn lễ được tổ chức ngay tại nhà gái.
Đến ngày, mọi chuyện diễn ra đúng như kế hoạch đã định trước đó, mẹ
của Đáng và người thân họ hàng chuyển đồ và thực phẩm sang nhà cô dâu để
chuẩn bị làm cỗ cưới.
Khi ấy, thấy không thể lừa dối lòng mình, Đáng “đao” lấy lý do xuống
Long Khánh mời thêm mấy người bạn rồi xong sẽ sang sau nhưng kỳ thực là
ông đi trốn.
Ông Đáng kể, người tạo điều kiện cho ông trốn đi chính là cậu bạn
thân, cũng là người anh vợ tương lai của ông. Trước ngày cưới, Đáng đã
tâm sự với người bạn ấy.
“Mẹ tao bắt tao lấy Nga, nhưng mà tao không thương. Nếu lấy nhau mà
không có tình yêu thì cả hai sẽ đau khổ. Mày kiếm cho tao mấy đồng bạc
và bộ quần áo để tao bỏ đi, như thế là tốt nhất”.
Thông cảm cho hoàn cảnh khó xử của Đáng, người bạn này đã kiếm tiền,
quần áo tiếp tay cho Đáng trốn. Khi cỗ bàn đã làm xong, khách khứa, quan
viên hai họ được mời đến dự đã ngồi hết cả vào mân thì người bạn của
Đáng mới nói cho mọi người biết hết sự thật.
Bỏ trốn khỏi lễ cưới, Đáng đã hết đường đi, ông đành quay về đơn vị
cũ tự thú. Cũng từ đây, người trong giang hồ biết đến cái tên Đáng
“đao”.
(Còn nữa)
Dùng dao thay súng, gã giang hồ liều mạng "lấy số" những ông trùm khét tiếng miền Tây
Lê Nguyễn |
16
Ông trùm giang hồ khét tiếng thuở nào giờ ngồi lê hát rong ở chợ kiếm sống qua ngày.
Ngã rẽ giang hồ với Đáng “đao” từ đời làm lính Ngụy. Từ một tên lính
tép riu, Đáng đã hóa thân thành ông trùm khét tiếng miền sông nước.
LTS: Nguyễn Văn Đáng, hỗn danh là
Đáng "đao", là đầu lĩnh trong băng người nhái của ông trùm Châu Nhị ở Sài Gòn
trước năm 1975. Bây giờ về già, cuộc sống của Đáng "đao" có nhiều xa xót. >Cuộc sống ẩn dật trong nghèo khổ của giang hồ khét tiếng Sài Gòn Sa chân vào chốn giang hồ
Ngày
trong lính Đáng "đao" rất thân Võ Văn Hiếu, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn
37, biệt động quân của Ngụy quyền đóng ở Bình Long – Phước Long (Bình
Phước).
Bởi mối quan hệ này mà khi trốn khỏi hôn lễ, Đáng đã tìm
được đường quay trở lại đơn vị cũ. Ngày ấy, lính Ngụy đảo ngũ tại chiến
trường, nhiều trường hợp khi đưa ra tòa án binh sẽ phải nhận án tử.
Hiếu
giúp đỡ Đáng đã không phải ra tòa án, cũng chính Hiếu là người đầu tiên
đưa Đáng vào đời đao búa, đâm chém tranh giành "thị phần" với những ân
oán giang hồ.
Hiếu người ở cầu Khánh Hội (quận 4), cha của ông
ta cũng là trưởng công an quận này. Vừa là sĩ quan quân đội, Hiếu cũng
là dân anh chị có máu mặt, bảo kê toàn bộ khu vực cầu Khánh Hội.
Ông
Đáng kể, lần đầu tiên trong đời ông biết đến vũ trường, quán bar, sòng
bài chính nhờ người bạn này. Hiếu đã dạy cho ông biết thế nào là người
trong giang hồ.
Đáng lì lợm, nhanh nhẹn, có tài phi đao và khéo
ở khoản biết chiều ý đại ca, do vậy rất được lòng Hiếu. Được sự hậu
thuẫn của Hiếu, ông không bị đẩy ra chiến trường nữa.
Ông Đáng
kể, nhiệm vụ của ông khi đó là thay Hiếu trực tiếp đứng ra đi thu tiền
bảo kê nhà hàng, khách sạn và tổ chức sòng bạc, gái mại dâm, hút chích ở
vùng đất là lãnh địa riêng của gã.
Hằng tháng, Đáng "đao" lại tiếp tế tiền, rượu và gái lên chiến trường cho đại ca.
Ông Đáng bị mất một ngón tay trong một lần lấy số giang hồ
Khu
vực cầu Khánh Hội giao nhau giữa quận 4 và quận 1 vốn là đất dữ nhưng
vô cùng "màu mỡ". Nhiều băng đảng thèm khát, nhưng tất cả đều ngại phải
động đến quý tử của vị trưởng công an quận.
Và rồi, "thế trận" trên đã thay đổi khi Hiếu bắn chết vợ mình. Sau sự kiện ấy, cha của gã đã từ mặt ông trùm, và còn tuyên bố: "Chỉ cần mày bước chân vào nhà, một là mày chết, hai là tao chết".
Không được cha chống lưng như trước, rất nhiều băng nhóm đã lợi dụng cơ hội đó đánh chiếm lãnh địa của ông trùm.
Cũng tại thời điểm đó, quân giải phóng miền Nam Việt Nam tiến đánh Bình Long, Đáng và đại ca phải quay lại chiến trường.
Đám
đàn em như rắn mất đầu, chẳng mấy chốc cũng tan rã, mất quyền bảo kê
cho các băng nhóm khác. Tại trận Bầu Cá Trê (Phú Giáo - Bình Dương),
tiểu đoàn 37 của Hiếu thất thủ. Hiếu bị trúng đạn chết.
Khi Hiếu
chết, Đáng "đao" vướng vào một cuộc điều tra chính trị. Nhờ mối thân
tình với sĩ một sĩ quan tên Nhu, ông mới thoát khỏi hạn vận.
Nhu
cũng là một chỉ huy nổi tiếng ăn chơi, háo sắc. Những thú vui bệnh hoạn
của Nhu đều được Đáng "phi đao" đáp ứng. Đổi lại, gã cho Đáng mặc nhiên
muốn làm gì thì làm, không cần phải tuân theo các kỷ luật trong quân
đội.
Lợi dụng sự che chắn của Nhu, Đáng "đao" đã tụ tập lại
những đàn em cũ của Hiếu về giành lại lãnh địa xưa. Lúc này, khu vực cầu
Khánh Hội lúc này chẳng khác gì một chiếc bánh bị các băng nhóm chia
năm xẻ bẩy.
Dù được sự bảo kê, chi viện của Nhu nhưng Đáng "đao" cũng chẳng thể giành lại được lãnh địa đã mất. Phi đao hạ ông trùm khét tiếng
Sau
đợt ấy, Đáng "đao" được điều động về tiểu đoàn 52 đóng quân ở Long An.
May mắn cho Đáng là đại úy Nhu cũng được điều về đây.
Miền Tây
khi ấy cũng phồn hoa không kém Sài thành. Giang hồ ở đây cũng được cho
là hiền lành hơn du đãng Sài Gòn. Những băng nhóm ở đây chia nhau lãnh
địa sống ôn hòa với nhau.
Đặc biệt, chúng rất sợ quân đội và chính quyền.
Về
Long An, Đáng như cá gặp nước. Lại thêm hậu thuẫn của ông Nhu, chẳng
mấy chốc Đáng đã quy tụ được gần 100 đàn có máu mặt dưới trướng.
Đệ tử của Đáng "đao" khi ấy đều là lính thiết giáp, biệt kích và biệt động quân
Khi mà vùng đất này đã vào khuôn khổ, trong cảnh sinh sau đẻ muộn, Đáng đã dẫn đàn em đi tranh phần.
Ông trùm nhớ lại quãng thời gian mình ở trong quân ngũ.
Qua
tin báo Đáng được biết, ở miền tây, có một băng nhóm giang hồ vốn xuất
thân từ lính biệt kích có địa bàn bàn rộng nhất và cũng thuộc dạng lì
lợm dữ dằn nhất ở đây.
Ông trùm quyết định đánh thẳng vào băng nhóm này để thị uy các băng nhóm khác.
Một
ngày đầu năm 1964, Đáng "đao" được đàn em báo tin những đầu lĩnh của
băng biệt kích đang nhậu nhẹt ở nhà hàng bên sông Bảo Định (gần chợ lớn
Tân An).
Ông đã chỉ huy đàn em tả xung hữu đột lăn xả vào chém
đối phương. Tám "điên", thủ lĩnh của băng lính biệt kích phản ứng rất
nhanh, gã rút súng ngắn bắn thẳng về phía Đáng.
Tuy nhiên, như
một con sóc, Đáng "đao" đổ thân mình sang bên trái để tránh đạn. Vừa
tránh, Đáng cũng phóng liền hai đao đáp trả. Một đao trúng cánh tay, một
đao trúng đùi, Tám "điên" rớt súng và đổ ngục xuống nền nhà.
Đàn em của Đáng thừa thế xông lên, đám để tử của Tám "điên" hoảng hốt nhảy cả xuống sông bỏ chạy.
Sau đợt thư hùng ấy, tên tuổi Đáng "đao" nổi như cồn. Chỉ trong một thời gian ngắn, tất cả các băng nhóm khác đều quy phục.
Mới
đầu Đáng chỉ thu thuế, sau đó còn đứng ra tổ chức sòng bài, ổ đề, tiệm
hút. Đáng còn vươn tay bảo kể tất cả các ngành nghề kinh doanh lậu. Tiền
thu được ông trùm đều chia đều cho đàn em và hối lộ cảnh sát. Ông trùm độc chiếm giang hồ miền Tây
Sau
khi ổn định ở Long An, ông đã mở rộng địa bàn của mình xuống tỉnh miền
Tây, những mảnh đất mà Đáng để ý tới là Tiền Giang và Bến Tre.
So
với Long An thì Tiền Giang phát triển hơn, riêng thành phố Mỹ Tho đã có
gần 30 quán bar, 50 nhà hàng, hơn 10 khách sạn, đều dưới quyền bảo kê
của Bẩy "búa".
Tuy nhiên, "bình định" đất này, Đáng "đao" chỉ
cần mang 20 đàn em xuống thì Bẩy "búa" đã sợ hãi xin thương thuyết. Thừa
thế thắng, Đáng đao kéo đàn em sang đất Bến Tre thì băng của ông bị gần
40 tên đàn em của Tám "lửa" vây đánh.
Với sự liều lĩnh và bề
dày về kinh nghiệp chiến đấu, chẳng mấy chốc Đáng "đao" cùng đàn em đánh
cho quân Tám "lửa" chạy tơi bời.
Thực tế, Tám "lửa" là trùm đất Bến Tre là nhờ dựa với hơi của chú ruột là có vai vế trong chính quyền Ngụy sở tại.
Sau
trận thua ấy, Tám "lửa" cùng học theo cách của Bẩy "búa" đóng lợi tức
cho Đáng "đao". Vậy là chỉ trong một thời gian ngắn, Đáng "đao" thống
lĩnh được ba tỉnh miền Tây.
Đáng "đao" và vợ khi còn trẻ.
Trong khi đó, tại Sài Gòn sau năm 1963, Huỳnh Tỳ, Ngô Văn Cái và Nguyễn Kế Thế đều về dưới trướng của Đại Cathay.
Được
sự phò giúp của 3 chiến tướng, Sài Gòn đã nhanh chóng trở về tay Đại.
Danh xưng giang hồ là "Tứ Đại Thiên Vương" cũng bắt đầu từ đấy.
Trong
khi đó, Chợ Lớn vẫn là thế giới riêng của người Hoa. Đứng đầu băng đảng
Chợ Lớn là Tín Mã Nàm, người thống lãnh chi nhánh Sài Gòn – Chợ Lớn của
Hội Tam Hoàng ở Việt Nam.
Trong khi hắc đạo người Hoa và Đại
Cathay phân chia lãnh địa, thì băng người nhái của ông trùm Châu Nhị mới
bắt đầu gây dựng tên tuổi trong chiếu giang hồ.
Địa bàn, của băng người nhái ngày đầu là khoảng hơn 30 quán bar ở đường Tự Do (Đồng Khởi bây giờ) và dọc mé sông Sài Gòn.
Những
thành viên trong băng người nhái đều là lính chủ lực của liên đoàn
người nhái, một đơn vị lính đánh thuê của hải quân. Hàng loạt tên tuổi
dưới trướng của Châu Nhị đều là tay dữ dội: Tầm nhái, Tòng bác sĩ, Trọng
Tấn, Tài "béo", Danh "khánh hội"…
Châu Nhị sau này là vệ sĩ của thủ tướng Ngụy là Nguyễn Cao Kỳ. Được ông Kỳ chống lưng, băng đảng này đã phát triển cực thịnh.
Thế
nhưng, lúc Châu Nhị lập băng người nhái, Nguyễn Cao Kỳ vẫn chỉ là sỹ
quan chỉ không quân Ngụy quyền. Bởi vậy mà băng này đã không dám vuốt
râu hùm các băng đảng lớn mạnh khác.
Trong lúc Đại Cathay ròng
rã đánh chiếm Chợ Lớn thì ông trùm Châu Nhị kêu phó tướng Nguyễn Văn
Phương (tức Phương "nhái") đưa 30 huynh đệ xuôi xuống miền Tây.
Đáng "đao" biết tin, giang hồ Sài Gòn xuống chiếm lãnh địa của mình, ông đã chuẩn bị lực lượng đón tiếp.
Những
ngày Đáng xưng hùng xưng bá ở miền Tây thì bà Mọn, người mà sau này
Đáng "đao" lấy làm vợ trở lại Hố Nai (Đồng Nai) làm kế toán cho một
xưởng gỗ của người thân.
Bà vẫn vương vấn hình bóng và lời hẹn
ước trăm năm với Đáng "đao" ngày nào. Đôi lần bà tìm lại những kỷ niệm
xưa, nghe tin Đáng lấy vợ, và trốn hôn lễ, bà vừa giận vừa thương.
Bà
chỉ biết hi vọng cầu mong cho gã được bình an. Trong khi đó, khi lúc ở
miền Tây, có tiền có quyền, Đáng "đao" cũng cho đàn em đi tìm kiếm người
thương, nhưng tất cả cứ rơi vào vô vọng.
(Còn nữa)
Em rể suýt lấy mạng anh vợ và sự suy tàn của ông trùm miền Tây
Lê Nguyễn |
10
Trải qua nhiều thăng trầm, ông Đáng giờ sống an lành bên người vợ thủy chung.
Sau khi thống lĩnh giang hồ miền Tây, Đáng “đao” đã thu bộn tiền nhờ
các hoạt động phi pháp. Tuy nhiên, để giữ lãnh địa, ông trùm này cũng
gặp nhiều phen nguy khốn...
LTS: Nguyễn Văn Đáng, hỗn danh là Đáng "đao", là đầu lĩnh trong băng người nhái của ông trùm Châu Nhị ở Sài Gòn trước năm 1975. Bây giờ về già, cuộc sống của Đáng "đao" có nhiều xa xót. Giang hồ loạn thế
Khi
Đáng "đao" cát cứ ở miền Tây, thế giới ngầm ở Sài Gòn thuộc sự cai quản
của Đại Cathay . Những băng nhóm yếu thế một phần quy thuận Đại, còn
một số thì đi tìm cho mình một vùng đất mới, trong đó có đất miền Tây.
Băng của Đáng "đao" án ngữ ngay ở mạn Bắc với uy thế hùng hậu đã khiến nhiều băng đảng phải từ bỏ kể hoạch.
Trò
chuyện với chúng tôi, ông Đáng kể, trong những năm ngang dọc chốn giang
hồ thì ông với băng thủy quân lục chiến là có nhiều duyên nợ nhất.
Chính băng nhóm này đã cướp cầu Khánh Hội của Đáng và ông trùm sĩ quan
Hiếu trước đây.
Chúng cũng từng nhiều lần đụng độ nên khi biết
ông là đại ca miền Tây, tên tuổi nổi như cồn thì thủy quân lục chiến
cũng chẳng ngại ngần gì.
Mã "Khánh Hội", đại ca của băng này kéo
mấy chục đàn em xuống yêu cầu Đáng nhường mảnh đất này cho chúng. Tuy
nhiên, với binh hùng tướng mạnh hiện có, Đáng "đao" đã không nhượng bộ.
Ông Đáng kể lại chuyện mình chạm trán với ông trùm Mã "Khánh Hội".
Gần
hai tháng trời cuối năm 1964, hơn 10 lần băng của Mã "Khánh Hội" đánh
chiếm, đòi ông phải chia một phần lợi tức bảo kê thu được ở Long An,
Tiền Giang và Bến Tre.
Chỉ đến khi số phận cuộc chiến được định
đoạt ở 1 quán nhậu ở bên cạnh sông Vàm Cỏ Tây (cạnh cầu Tân An, Long An
bây giờ) thì mọi chuyện mới kết thúc.
Hôm ấy, Đáng nhận được tin
mật báo cho biết, băng của thủy quân lục chiến lại xuống Tân An, ông đã
cố tình cho đàn em tung tin mình đang ngồi nhậu với em út ở địa điểm
trên. Mặt khác ông ngầm bố trí cho đàn em bao vây toàn bộ khu vực này.
Khi thủy quân lục chiến ập vào quán nhậu mà Đáng đang ngồi thì đàn em của ông bao vây tứ phía ùa vào đâm chém.
Bị
mất thế, Mã kêu đàn em mở đường máu để rút. Tuy nhiên, với biệt tài phi
đao, Đáng đã nhanh tay lấy đi của Mã "Khánh Hội" một bên mắt trái. Cũng
từ đó băng thủy quân lục chiến mới từ bỏ ý định thôn tính giang hồ miền
Tây. Dàn quân tử chiến với… em rể
Sau những trận
đại chiến với lính thủy quân lục chiến, Đáng "đao" thêm phần số má. Do
vậy, không cần ông đánh những băng nhóm lẻ tẻ ở Cần Thơ cũng tự xin đầu
quân.
Tuy nhiên, những ông trùm thực thụ như Tiến
"than", Hùng "7 ngón" của đất Tây Đô vẫn ương bướng, chống đối băng của
Đáng "đao", dù trước đó nhiều lần đàn em của ông đã kéo xuống uy hiếp
chúng.
Ông Đáng nhớ lại, sau khi đánh cho băng thủy quân lục
chiến tơi bời thì băng nhóm của Đáng lại đối diện với những nguy cơ đe
dọa khác. Đó là băng người nhái, của ông trùm Châu Nhị.
Trong
chiếu giang hồ khi ấy, băng người nhái chưa có nhiều dấu ấn, nhưng nó
vẫn khiến cho Đáng bận tâm. Băng người nhái là lính thủy và chúng đều
được đi tu luyện tại nước Mỹ.
Ông trùm kể lại, nếu như thủy
quân lục chiến hay những băng nhóm giang hồ Sài thành khi xuống Long An
lúc nào cũng khoảng từ 30 đến 40 người mang theo mã tấu, lưỡi lê, phô
trương thanh thế rất hùng hậu thì băng người nhái lại hoàn toàn ngược
lại. Chúng chỉ có vỏn vẹn có 15 người.
Đáng đánh giá những kẻ du
đãng ấy hoàn toàn không hề đơn giản như những băng nhóm khác, nếu không
nói là những tên lính tinh nhuệ bậc nhất. Và rồi, điều Đáng lo lắng
cũng thành sự thực.
Từng sống xa hoa, có cả đống tiền nhưng giờ ông Đáng sống trong căn nhà nhỏ bé, tồi tàn.
Băng người nhái ngang nhiên tuyên chiến, hẹn một chiều quyết đấu ở trên bến sông Bảo Định (TP. Tân An bây giờ).
Đáng
kể, đó là đầu tháng chạp năm 1964, nhận được thư thách đấu của băng
người nhái, ông trùm đã lựa chọn những tên đàn em có máu liều lĩnh, võ
thuật cao cường và đặc biệt có tài bắn súng để nghênh tiếp.
Đến ngày hẹn, Đáng "đao" cùng đàn em đến địa điểm trên sông Bảo Định dàn trận để tiếp đón những vị khách không mong đợi.
Đúng
giờ, băng người nhái đến, 15 tên đi trên 3 xe jeep. Tên nào cũng to
lớn, mặt đằng đằng sát khí, không chỉ kè kè bên hông khẩu súng ngắn,
chúng còn vác theo cả súng M79 và M16.
Chỉ cần nhìn vào lực lượng của người nhái khi ấy thì những dân anh chị vốn thành danh từ mã tấu dao lê cũng phải dè chừng.
Khác
với những trận chiến trước, đây là cuộc đấu sẽ được giải quyết hoàn
toàn bằng súng, giống như những cao bồi miền Tây nước Mỹ, báo trước được
số thương vong rất lớn.
Băng người nhái dàn trận, những người dân buôn bán quanh khu vực đó sợ hãi chạy toán loạn. "Thằng nào là Đáng "đao" thì ra đây", một kẻ xem chừng là chỉ huy của nhóm người nhái hét.
Lúc này, đang ngồi trong quán nước, nghe thấy vậy, Đáng đứng lên đáp trả "tao đây" rồi tiến lại.
Thấy
Đáng "đao" xuất hiện, đầu lĩnh băng người nhái bỗng nhìn đối thủ bằng
ánh mắt ngờ ngợ. Và rồi, quẳng khẩu M16 đang cầm cho tên đàn em, gã đi
lại về phía ông với vẻ mặt đầy ngạc nhiên. "Anh hai đó phải không? Trời ơi! Em Phương đây, em cứ tưởng Đáng "đao" là ai, ai ngờ lại là anh mà em không biết", kẻ chỉ huy ấy mừng rỡ.
Lúc
này, Đáng "đao" cũng té ngửa. Thì ra người thách chiến với ông lại
chính là Nguyễn Văn Phương, tức Phương "nhái", em rể của ông. Phương là
cánh tay phải của Châu Nhị, đại ca của băng người nhái.
Ngày
Phương "nhái" và em gái thành duyên, Đáng đã không về chung vui được.
Sau này, tại chiến trường Bình Long (Bình Phước) hai anh em có hội ngộ
một lần cho tới lần đụng độ tại đây.
Tưởng chừng sẽ tắm đối phương trong biển máu nhưng khi biết đó là lãnh địa của anh vợ, Phương đã nhượng bộ. "Em nghe dưới này làm anh em làm ăn dữ lắm, em xuống chỉ định kiếm cái tết thôi, Phương nói.
Nghe
em rể nói thế, chẳng cần suy tính, Đáng kêu đàn em mang đến 5 va ly
đựng đầy tiền và vàng đưa cho cậu em rể. Cũng lần đó, ông trùm Đáng
"đao" đã thiết đãi băng người nhái một trận xõa tưng bừng. Ngày tàn của "đế chế" miền Tây
Năm
1965, khi ông Nguyễn Cao Kỳ được đưa lên làm thủ tướng của chính quyền
Việt Nam cộng hòa thì Châu Nhị, đại ca của băng người nhái, vốn là cận
vệ riêng của thủ tướng đã thừa cơ tiếm quyền, muốn bá chủ giang hồ.
Châu Nhị muốn thế chân Đại Cathay trong chiếu giang hồ Sài Gòn.
Bởi
cuộc đụng độ giữa ông trùm Châu Nhị và Đại Cathay diễn ra liên tiếp nên
dải đất miền Tây của Đáng "đao" vì thế mà được yên bình.
Tuy
nhiên, thời gian đó, bởi Đáng "đao" vẫn là một tên lính quèn của chế độ
cũ, đám đàn em của ông cũng đều là lính, không tránh khỏi chuyện bị đẩy
ra chiến trường bất cứ lúc nào.
Ngày trước xưng bá giang hồ bằng dao kiếm, bây giờ, ông Đáng mưu sinh nhờ cây đàn.
Ông
Đáng kể, sau thua trận ấp Bắc (Tiền Giang), chiến lược Việt Nam hóa
chiến tranh của Mỹ tại chiến trường Việt Nam đứng trước nguy cơ thất bại
và quân đội Việt Nam Cộng hòa trở nên yếu thế buộc phải lui về thế thủ
gần các thành phố lớn.
Ra trận, đám đàn em của Đáng đã thương vong rất nhiều, điều đó đã khiến cho băng đảng của Đáng "đao" suy yếu.
Trong
một trận đánh địa đạo Củ Chi, tiểu đội của Đáng "đao" có 9 người thì
chết 8, Đáng bị thương ở chân. Ngay trong đêm ấy, dù chân bị thương Đáng
cũng cố lê lết từng bước để trốn khỏi chiến trường.
Lần thứ hai
đào ngũ này Đáng đã không còn ai nâng đỡ bởi đại úy Hoàng Thọ Nhu đã
được điều động ra chiến trường Bình Gĩa tại Bà Rịa – Vũng Tàu.
Yếu thế, Đáng biết miền Tây không thể sống được nữa nên thu đám đàn em thân cận trốn về Sài thành.
Mã
"Khánh Hội", thủ lĩnh băng thủy quân lục chiến vẫn ôm mối hận bị phi
đao mù mắt nên khi biết tin Đáng trốn về đây đã tìm cách trả thù. Và
rồi, không hiểu bằng cách nào, Mã "Khánh Hội" đã đẩy Đáng vào tù.
Ông
Đáng kể, bị bắt, ông bị giam ở khám Chí Hòa, cùng khu giam giữ với Đại
Cathay . Và cũng từ đây, ông bước vào cuộc chiến dai dẳng với tứ đại
thiên vương của giang hồ Sài Gòn.
>Em rể suýt lấy mạng anh vợ và sự suy tàn của ông trùm miền Tây >Từ ân nhân thành cừu thù và cái chết bí ẩn của trùm giang hồ Đại Cathay >Kết cục thảm hại của những sát thủ mang phận tốt thí Chui lủi trốn truy sát
Châu Nhị bị chết, Phương "nhái" đã dự đoán được những điều chẳng
lành sẽ đến nên nhắn cho Đáng "đao" đưa thân nhân của mình đi trốn.
Đúng như những lo lắng của Phương, Đáng và mọi người vừa đi khỏi
thì toàn bộ anh em trong băng đảng, kể cả Phương "nhái" đều bị thủ tiêu.
Biết mình cũng sẽ bị truy lùng, phần vì ân oái giang hồ, phần vì những mưu đồ chính trị, Đáng "đao" phải sống chui lủi.
Ông Đáng kể, thời gian đó có cả trăm tên do thám của băng lính dù
tìm về quê ông (Cẩm Mỹ, Đồng Nai) để dò la tin tức về phó tướng của băng
người nhái. Lo sợ người thân sẽ bị liên lụy nên Đáng "đao" đã sơ tán cả
gia đình đi nơi khác, còn ông trốn về Biên Hòa.
Bị truy tìm gắt gao nên cuộc sống của Đáng "đao" rơi vào cảnh
đường cùng. Sau nhiều đêm suy tính, Đáng "đao" đành mua một tờ giấy khai
sinh giả rồi đâu quân luôn vào lính dù.
Khi ấy, ông nghĩ, nơi nguy hiểm nhất lại là nơi an toàn nhất.
Sau sự kiện tết Mậu Thân, Đáng "đao" bị điều động ra mặt trận Quãng Ngãi. "Bị bọn băng đảng nhảy dù truy sát nên tôi mới làm giấy khai
sinh giả xin vào lính dù để lánh nạn, đợi đến khi tình hình lắng xuống
thì trốn ra ngoài. Vì vậy, trước ngày ra chiến trường, tôi đã cố tình xin nghỉ
phép 3 ngày để tìm cơ hội đào ngũ. Tôi đi lính 3 lần thì cũng 3 đảo ngũ
cả", vị "đầu lĩnh" khét tiếng của băng người nhái nhớ lại.
Trong những ngày sống chui lủi, ông Đáng đã gặp lại người mà mình thương yêu.
Khi ấy, dù Đáng "đao" không còn bị những phần tử trong băng nhảy
dù truy lùng thì ông vẫn phải sống chui lủi với tội danh mới là "lính
đào ngũ".
Nhưng lần này số phận đã đưa đẩy ông tìm lại được bà Mọn, sau gần 10 năm xa cách và nhung nhớ. Gặp lại cố nhân
Đào ngũ, Đáng "đao" đã ngược lên Hố Nai (Biên Hòa) nương nhờ trong
nhà người bà con cũ. Một thời gian sau đó, ông vào làm thợ máy tại một
xưởng cưa của một viên chức giàu có. Người này cũng hay chứa chấp những
người lính đào ngũ.
Vào đây làm việc, Đáng "đao" mới té ngửa khi biết ông chủ của mình
chính là chú ruột của bà Mọn, người con gái mà ông hằng thương nhớ. Và
ngay ngày đầu tiên làm việc tại đây, Đáng "đao" đã gặp lại cố nhân.
Khi ấy, bà Mọn đang là quản lý của xưởng cưa. Bao nhiêu thương nhớ
tưởng chừng như đã ngủ vùi theo thời gian ùa về, Đáng nghẹn ngào lao
tới ôm chầm cô quản lý bé nhỏ.
Bà Mọn cũng rưng rưng, xiết chặt vòng tay ôm lấy người mình thương yêu một thời xa cách.
Bà Mọn trách giận vì ông đã không giữa lời hẹn ước trước đây. "Năm 1960, tôi đi lính thì bà ấy chuyển về làm ở xưởng cưa, hai
đứa mất liên lạc với nhau từ đó tới giờ. Ngày còn ở Long An và đến khi
nhập băng người nhái tôi đều cho đám đàn em đi khắp nơi tìm kiếm bà ấy. Tôi cứ tưởng người yêu đã chết hoặc là đã đổi dạ thay lòng. Nào
ngờ bà ấy vẫn chờ đợi, vẫn theo dõi mọi bước đi của tôi trên đường
đời", ông Đáng xúc động nhớ lại.
Gặp lại cố nhân, Đáng "đao" và bà Mọn đã thành vợ, thành chồng.
Ông Đáng kể, ngày ấy thương nhau thì về ở với nhau, chứ hoàn cảnh khi
ấy, Đáng "đao" đã không thể tổ chức một lễ cưới rình rang.
Đưa mắt về phía vợ, ông Đáng bảo, bà Mọn vợ ông hệt như một dòng
suối tinh khiết, tắm mát cuộc đời của một kẻ du đãng như ông. Tình yêu
của bà như sợi dây ghìm ông lại, khiến ông thuần, bớt đi cái "máu giang
hồ".
Vợ chồng ông Đáng chăm sóc nhau những ngày cuối đời.
Giã từ kiếp sống "ngựa hoang"
Ông Đáng kể, lấy nhau, ban ngày hai vợ chồng đi làm trong xưởng. Ở
xưởng do được người chú đỡ đầu nên Đáng "đao" không lo quân cảnh đến
bắt.
Ở nhà, túp lều tranh nhỏ bé, bà Mọn đào một cái hầm ở dưới góc
bếp. Mỗi lần quân cảnh tìm đến thì Đáng "đao" lại chui xuống hầm tránh.
"Có đêm bọn quân cảnh ập vào nhà tôi 2 đến 3 lần", ông Đáng nhớ lại.
Thấy cứ lẩn trốn mãi không ổn, vợ chồng ông vay mượn được 3 cây
vàng rồi nhờ người làm căn cước giả, đồng thời khai man tuổi để… ẩn tích
lâu dài.
Tuy có căn cước giả nhưng Đáng "đao" vẫn gặp nạn. Đó là vào năm
1972, trên đường đi làm, ông đã bị cảnh sát Việt Nam cộng hòa kiểm tra
giấy tờ.
Phát hiện ra ông sử dụng thẻ căn cước giả, chúng rút súng dọa bắn.
Với bản lĩnh của mình, chỉ trong chớp mắt Đáng "đao" đã hạ ngục cả ba
tên cảnh sát.
Đang chực tìm đường chạy trốn thì không biết từ đâu, gần 20 tên
lính bỗng dưng ập tới. Trước họng súng của đối phương, ông trùm một thời
chọc trời khuấy nước đành phải đầu hàng.
Với tội danh tấn công người thi hành công vụ, làm căn cước giả và
đảo ngũ, Đáng "đao" bị tòa án chế độ cũ xử 10 năm tù và tương lai sẽ bị
đày đi Côn Đảo.
Tuy nhiên, bị giam khám Chí Hòa được 3 năm, chưa kịp bị đày ông ra
"địa ngục trần gian" thì đất nước thống nhất và Đáng "đao" được phóng
thích.
Ông Đáng kể, khi còn trẻ, khi còn tung hoành trên chiếu giang hồ,
đã có nhiều người phụ nữ đi ngang qua đời ông. Tuy nhiên, trọn đời, tình
cảm sâu nặng nhất của ông chỉ dành cho bà Mọn.
Bởi thế, sau ngày ngày đất nước được giải phóng, Đáng "đao" đã
nhất quyết "rửa tay gác kiếm", chọn một cuộc đời yên bình bên người vợ
hiền của mình.
Ông Đáng kể, sau khi đoạn tuyệt với con đường giang hồ, ông lại
quay về xin công nhân ở nông trường cao su Ông Quế. Cũng thời gian này,
ông với bà Mọn có với nhau lần lượt ba mặt con.
Trải qua những phong ba bão táp, những ân oán vay trả trong giới
giang hồ, tưởng chừng ông trùm sẽ được có những phút an nhàn cuối đời
nhưng cuộc sống không như là mơ ước.
Năm 1986, gần đến ngày ông được nghỉ hưu thì con trai út của ông bị bắt đi tù hơn 1 năm vì tội đánh người gây thương tích.
Một lần vào trại thăm con, thấy con trai bị đánh đập, thương con
ông quyết định xin lãnh tất cả lương hưu một lần để lo lót. Cũng trong
thời gian đó, bởi một chứng bệnh lạ lùng mà mắt bà Mọn đã không còn
trông thấy gì nữa.
Tai ương liên tiếp, cuộc sống gia đình vốn đã nghèo khó lại càng
thêm túng quẫn. Ông Đáng bảo, thời gian đó, ông đã cố sức gắng gượng làm
thuê làm mướn để nuôi con khôn lớn.
"Cũng đành xin làm người hát rong"…
Khi những người con của ông trưởng thành, rồi lần có gia đình
riêng thì vợ chồng ông cũng đã sức tàn lực kiệt. Con cái ông bởi mưu
sinh nên mỗi người phiêu dạt một phương, có khi phải mấy năm mới về thăm
cha mẹ một lần. "Chúng nó cũng thương cha mẹ, nhưng vì cuộc sống khó khăn thiếu thốn nên cũng chẳng đỡ đần được gì", ông Đáng bảo.
Để có bữa cơm qua ngày, để có viên thuốc chăm người vợ bệnh tật,
ông Đáng đã hạ mình làm một việc khó ngờ, ấy là hát rong xin tiền.
Mượn cây đàn, ông Đáng mưu sinh ở chợ.
Cứ sáng sớm, với cây đàn sờn cũ, Đáng đao lê la khắp những khu chợ
gần nhà để mưu sinh. Mỗi khi tiếng hát khàn đặc của ông cất lên, ai
cũng rơm rớm nước mắt thương xót. "Mong ước của ông đó là bà Mọn là khi chết có một cái áo quan
tốt tốt một chút. Tôi đã hứa với bà ấy, nếu bà chết trước thì bằng giá
nào tôi cũng thực hiện nguyện vọng này cho bà. Còn nếu tôi phải đi trước, thì chỉ cần chôn tôi cùng với cây đàn ghi ta là tôi đã mãn nguyện lắm rồi", trò chuyện với tôi, ông Đáng nói.
Theo ông Đáng, cả đời ông ân hận nhất là quãng thời gian làm giang
hồ đã gây nhiều tội ác. Và, việc cuối đời ông phải sống cực khổ, cơ hàn
cũng là quả báo từ những lỗi lầm xưa. "Nếu tôi biết tu chí thì giờ đây có lẽ cuộc đời tôi đã rẽ sang
một hướng khác tốt đẹp hơn. Gieo nhân nào thì phải gặp quả đấy vậy!", ông Đáng tự chiêm nghiệm.
Nhận xét
Đăng nhận xét