Chuyện: GIANG HỒ SÀI GÒN

(ĐC sưu tầm trên NET)
                                        

Giang hồ Sài Gòn (Kỳ 1): 'Đại chiến' du đãng Sài Gòn Chợ Lớn

26/04/2014 11:06

Hơn 50 năm trước, quãng đầu thập niên 1960, Trương Văn Cam, tức Năm Cam, còn đứng gác cửa và lắc tài xỉu cho Bảy Xi tại một sòng bạc trên đường Lê Văn Linh..

Vũ Quang Hùng làm báo từ rất sớm, năm 1964, lúc mới 19 tuổi ở Sài Gòn. Ông tham gia cách mạng và từng bị chế độ cũ đày đi Côn Đảo từ năm 1973 đến tận ngày đất nước thống nhất. Sự tình cờ của số phận đã đưa ông vào chung nhà giam với các tù hình sự thời chế độ cũ ở khám Chí Hòa rồi nhà tù Côn Đảo. Từ đó ông đã quen khá nhiều giang hồ cộm cán thời chế độ cũ.
Được sự cho phép của tác giả, chúng tôi xin trích đăng “Giang hồ Sài Gòn”, bản tổng kết về cả một thời dọc ngang của dân du đãng Sài Gòn trước năm 1975, tư liệu đáng tin cậy của một nhá báo từng lăn lộn viết về một mảng tối của miền Nam trước 1975: cái gọi là “xã hội đen”, du đãng đâm chém, giựt dọc... bổ sung thêm một góc của bức tranh toàn cảnh xã hội đầy biến động ở miền Nam trước 1975.
1. Hơn 50 năm trước, quãng đầu thập niên 1960, Trương Văn Cam, tức Năm Cam, còn đứng gác cửa và lắc tài xỉu cho Bảy Xi tại một sòng bạc trên đường Lê Văn Linh, quận 4. Bảy Xi là anh vợ Năm Cam và cũng là trùm các sòng bạc thuộc khu vực quận 4 và huyện Nhà Bè.
Nếu tính trùm sòng bạc tại Sài Gòn thời đó, còn có thể kể thêm Đực Bà Tiều (Đực là con một người Triều Châu - hay gọi là người Tiều) cát cứ khu vực chợ Cầu Ông Lãnh, chợ Cầu Muối; và Tám Lâu đứng đầu các casino quanh đường Nguyễn Công Trứ.
Tất cả các “trùm” trên đều phải chia lợi tức cho Đại Cathay, ông vua du đãng nổi tiếng nhất. Nhưng Đại Cathay không chỉ sống nhờ lợi tức từ các sòng bạc. Một nguồn thu khác đều đặn và có phần lớn hơn nhiều của Đại Cathay là tiền bảo kê từ các nhà hàng; khách sạn, vũ trường... Ngoài ra còn có tiền của một số tay tài phiệt hoặc do phải đóng “thuế giang hồ” hoặc do “ngưỡng mộ” Đại Cathay nên tự nguyện chi trả (như trường hợp “vua kẽm gai” Hoàng Kim Qui chẳng hạn).
Toàn bộ số tiền thu được; Đại Cathay đứng trả lương cho bọn đàn em, mua chuộc các quan chức (kể cả cảnh sát, trong số đó có Đại uý Trần Kim Chi, Trưởng ban Bài trừ Du đãng, cánh tay phải của Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan, Giám đốc Tổng nha Cảnh sát Quốc gia khi ấy) và ăn chơi (nhất là nhảy đầm tại các vũ trường lớn, “boa” cho các cô ca - ve. Đại Cathay thường tự hào mình nhảy bê bốp và cha cha cha rất đẹp).
Đám đàn em thân tín nhất của Đại Cathay khi ấy có thể kể: A Chó, Hải Súng, Lâm Khùng, Lương Chột, Hùng Đầu bò, Phong, Chương, Việt Parker...
A Chó làm kinh tài cho Đại với vai trò cố vấn kinh tế. Hải Súng là kẻ trực tiếp nhận lệnh từ Đại rồi truyền xuống cho bọn đàn em thực hiện (vai trò của y tương tự Thảo “ma” trong tổ chức của Năm Cam sau này). Lâm coi như cận vệ của Đại, lúc này chưa mang tên Lâm Chín ngón (tại sao Lâm có biệt danh này sẽ được giải thích sau). Hùng Đầu bò và Lương Chột đóng vai trò “quân sư” cho Đại... Bọn còn lại hầu hết vừa là sát thủ của Đại, vừa “ăn bay”, tức cướp giật bằng xe gắn máy với tốc độ cao. Con mồi của chúng đa phần là những người vừa lãnh tiền ở ngân hàng ra, bị chúng theo dõi, chờ lúc thuận tiện liền ra tay cướp. Nếu bị rượt đuổi, chúng dùng súng bắn trả quyết liệt.
Sự thực Đại Cathay chưa bao giờ ra lệnh cho thuộc hạ sát hại bất cứ một người nào, và có lẽ đây là điểm khác biệt lớn nhất với trùm xã hội đen Năm Cam ba mươi năm sau (Năm Cam sẵn sàng giết người dù kẻ đó là bạn cũ, đối thủ làm ăn, hoặc kể cả nhân viên công lực dám ngáng đường hắn). Khi cần tấn công, bắt các băng nhóm khác qui phục để mở rộng địa bàn làm ăn, Đại và đàn em cũng không bao giờ dùng súng (mặc dù, như trên đã nói; rất nhiều tay em sát thủ của Đại có súng). Một phần vì chúng muốn tránh sự để ý của cảnh sát nhưng nguyên nhân chính vì chỉ dùng sức mạnh với “tay nghề” lão luyện khuất phục được đối thủ mới khiến bọn này thật sự “tâm phục, khẩu phục”.
Nhìn bề ngoài, Đại Cathay dễ chinh phục cảm tình người đối diện: khá đẹp trai (cao 1,64m), lại có vẻ trí thức chớ không hề bặm trợn, ăn nói nhỏ nhẹ, nhã nhặn. (Năm 1966, khi bị giam tại Chí Hòa, Đại Cathay ở phòng 3E4; tôi, khi đó cùng một số anh em sinh viên học sinh bị biệt giam tại lầu 3D và được anh em bầu làm “trưởng phòng”, nhờ vậy có thể đi lại tương đối thong thả trong khu ED vào giờ mở cửa biệt giam nên có dịp qua lại thăm Đại Cathay nhiều lần và trò chuyện khá thân mật).
2. Phần trên mới chỉ viết về các tay trùm vùng Sài Gòn, chưa hề nhắc tới khu Chợ Lớn. Khi đó đối với dân chơi, hai khu vực này tách biệt hẳn và toàn bộ khu Chợ Lớn do các băng nhóm xã hội đen người Hoa điều khiển. (Khi xưa Sài Gòn và Chợ Lớn có ranh giới là đường Cộng Hòa - bây giờ là Nguyễn Văn Cừ - tiếp đó chạy dài theo đường Lý Thái Tổ).
Nổi bật nhất trong đám xã hội đen người Hoa phải kể đến Nàm Chảy tức Tín Mã Nàm. (Sau giải phóng, một phần cuộc đời của Nàm Chảy được dựng thành tuồng cải lương “Tướng cướp Mã Ngưu” do đoàn Trung Hiếu của Công an TP.HCM trình diễn, khá ăn khách). Tín Mã Nàm hùng cứ khu Đại Thế Giới, khi ấy là khu sòng bạc ăn chơi nổi tiếng nhất của cả miền Nam, nay đã bị phá bỏ, xây lại thành Trung tâm Văn hóa quận 5, nằm tại góc đường Trần Hưng Đạo – Trần Phú.
Cầm đầu vùng An Bình là Hải Phòng Kin. Còn “lãnh chúa” khu Lido - Đồng Khánh (Nay thuộc một phần khu vực đường Trần Hưng Đạo) là Quảy Thầu Hao (tức Quỉ Mặt Đen); và còn phải kể thêm Sú Hùng “chuyên trị” các đoàn múa lân.
Nhân đây xin giải thích thêm, nhiều người không rõ lắm về giới giang hồ cho rằng cầm đầu miệt Chợ Lớn là Mã Thầu Dầu. Thực ra Mã Thầu Dầu chỉ là danh từ chung chỉ đám dân chơi (Mã Thầu = mã đầu, tức đầu ngựa; ý nói đám đầu trâu mặt ngựa) mà không hề nhắc đến một cá nhân cụ thể nào.
Tuy nhiên, xã hội đen Chợ Lớn khác Sài Gòn ở chỗ họ không chỉ bao thầu các sòng bài, bảo kê nhà hàng, vũ trường, khách sạn... mà còn ăn tiền cống nạp của nhiều cơ sở sản xuất hàng giả và kinh doanh trốn thuế. Nguồn thu từ hai đầu mối sau cùng này rất nhiều vì vào thời điểm ấy Chợ Lớn nhan nhản hàng giả, hàng nhái, làm lậu (chẳng thế từng có câu “Hồng Kông bên hông Chợ Lớn”).
Bọn họ còn giỏi về mua chuộc, hối lộ. Thiếu tá (sau lên trung tá) Trụ, Trưởng ty Cảnh sát quận 5, bị mua đứt, chẳng bao giờ ra lệnh điều tra các hoạt động mờ ám của đám xã hội đen (nếu có nhúng tay thì chỉ để bênh vực họ).
Một số tay tài phiệt Chợ Lớn, để việc làm ăn được thuận lợi, hàng tháng đã gom tiền “cống nạp” cho họ một cách tự nguyện, cụ thể như Lý Long Thân, Mã Hỉ... nên cuộc sống của dân giang hồ Chợ Lớn tương đối thong thả, ung dung, ít phải “ăn bay” để kiếm thêm tiền tiêu xài và do đó cũng ít “sóng gió” hơn so với mạn Sài Gòn. Ít ra là đến khoảng đầu năm 1964...
3. Vào khoảng thời gian này, thế lực của Đại Cathay có thể nói đã tới hồi cực thịnh dù Đại chưa đến 25 tuổi. Quân tướng dưới trướng Đại từ các nơi qui tụ về đông đúc đến hàng ngàn, riêng số sát thủ cũng kể tới số trăm. “Đông, vui nhưng hao”, càng nhiều binh tướng càng khó phân chia lời nhuận và một ngày đẹp trời nọ, cố vấn kinh tài A Chó hiến kế với Đại Cathay: “Vùng Sài Gòn chúng ta đã khai thác gần hết tiềm năng rồi. Nay muốn khấm khá chỉ còn cách duy nhất là lần qua địa bàn Chợ Lớn. Bên ấy kinh tế phát đạt, dân người Hoa lại dễ bắt nạt. Nếu chúng ta mở rộng được thế lực qua ngả Chợ Lớn thi khỏi lo gì tiền bạc, có thể tính kế làm ăn lâu dài.”
Đại Cathay càng nghĩ càng thấm thía gợi ý của quân sư A Chó. Hơn nữa đây còn là dịp để Đại phô trương thanh thế, “thống nhất giang hồ thành một cõi”, nên dù biết đụng đến đất làm ăn của dân chơi người Hoa không phải dễ xơi, thậm chí máu đổ đầu rơi, cuối cùng Đại Cathay vẫn gật đầu đồng ý.
Và, thế là vụ tranh giành “lãnh thổ” lớn nhất, cuộc chiến hao binh tổn tướng nhất và kéo dài nhất trong lịch sử giới Chợ Lớn từ xưa đến nay bắt đầu... Nhưng trước khi đi vào tình tiết cụ thể, xin vắn tắt nói thêm về bốn tay “đại cao thủ võ lâm” đã thành danh trên chốn giang hồ hơn 30 năm về trước: Đại, Tỳ, Cái, Thế.
Đại Cathay vừa được đề cập khá kỹ và tay trùm du đãng này đã đi vào “Lịch sử dân chơi” với nhiều huyền thoại pha lẫn thực tế, kể cả cái chết bí ẩn của anh ta (có thể coi bài trong các số tiếp theo).
Có điều ít người biết hồi nhỏ Đại Cathay từng bị bắt nhốt vào trường giáo dục thiếu niên. Tại đây, Đại đã nổi tiếng liều lĩnh, trong một lần cướp sòng bạc (chơi ban đêm, dưới ánh đèn dầu ngay trong trại), Đại tung mền úp đèn, quơ tiền, ai dè mền bắt đầu bốc cháy, quấn vào ngang người dưới của Đại khiến anh ta bị phỏng khá nặng nguyên phần từ bụng dưới trở xuống.
Tỳ vốn là võ sư, tên thật Huỳnh Tỳ, trước hùng cứ tại rạp Olympic, đường Hồng Thập Tự (nay là Trung tâm Văn hóa TP.HCM, đường Nguyễn Thị Minh Khai) - nơi đoàn Kim Chung “Tiếng Chuông Vàng” dùng làm rạp hát (sau 1975, Tỳ đã vào chùa thấp nhang thề từ bỏ chốn giang hồ, về nhà làm nghề mua bán và sau đó vẫn giữ được lời thề).
Cái họ Wòng vốn gốc là dân Nùng; còn Thế tên thật Lâm Thế, thường gọi Ba Thế. Khi ấy Cái và Thế cùng nhau coi khu vực từ Lê Lai dọc qua ngã tư Quốc tế đến khu Dân Sinh (Wòng Cái chết trong thùng xe bánh mì sau bệnh viện Sài Gòn vì bị ma túy hành hạ trong đêm Noel 1978. Còn Ba Thế tập hợp số đàn em còn rơi rớt lại tính “cướp cú chót” vào thời gian gần Tết Trung thu năm 1976, nhưng vụ cướp không thành và Ba Thế bị bắt, số phận sau ra sao không rõ).
Vào thời điểm Đại Cathay tính “bành trướng lãnh thổ” sang khu Chợ Lớn, cả ba cao thủ Tỳ, Cái, Thế đều đã qui phục Đại, thêm vào đó là hai tay sừng sỏ khác: Của Gia Định, trùm du đảng khu Gia Định mênh mông với biệt danh “hùm xám Gia Định”; và Minh Casino, vốn cầm đầu rạp Casino và luôn cả khu vực quanh chợ Bến Thành.
4. Xin nhắc lại, nghe theo lời quân sư A Chó, để mở rộng địa bàn, Đại Cathay dùng “tiên lễ hậu binh”. Trước hết, Đại Cathay lần lượt gặp các trùm dân chơi người Hoa, phân tích tình hình và nói chuyện phải quấy, hy vọng qui tụ toàn bộ giới – Chợ Lớn về một mối duy nhất.
Đánh giá sơ bộ các đối thủ, theo phương châm “dễ trước, khó sau”, Đại Cathay lần lượt cử người gặp Hải Phòng Kin, Quảy Thầu Hao, Sú Hùng.
Phần vì đã nghe danh tiếng Đại Cathay, phần thông cảm với “đồng nghiệp”, phần nữa cũng ngại đụng chạm, cả Hải Phòng Kin, Quảy Thầu Hao, Sú Hùng đều đồng ý cho Đại “góp phần hùn” (tượng trưng, thực tế chỉ bằng miệng) vô khu ăn chơi giải trí Chợ Lớn và chia tỉ lệ phần trăm cho dân chơi Sài Gòn.
Bây giờ mới tới “khúc xương khó nhá” nhất: Tín Mã Nàm.
Khu vực Đại Thế Giới của Tín Mã Nàm vốn đã nổi tiếng từ thời Pháp thuộc, đến lúc Bình Xuyên quản lý lại càng mở mang phát triển hơn. Chỉ duy nhất thời Ngô Đình Diệm ra lệnh dẹp “tứ đổ tường” (cờ bạc, trai gái; thuốc sái, rượu chè), Đại Thế Giới thoạt đầu co cụm lại. Nhưng chính phủ Ngô Đình Diệm vừa đổ, Đại Thế Giới không những chỉ trở thành sòng bài lớn nhất miền Nam mà còn vang danh cả khu vực Đông Nam Á. Tiền bạc vô như nước, đương nhiên bọn đứng “mặt rô” phải đông. Dưới trướng Tín Mã Nàm là các “cao thủ” với cánh tay phải là Xú Bá Xứng chuyên coi về tài chánh, cờ bạc; về đâm thuê chém mướn phải kể đến Bắc Kỳ Chảy và Cọp Chảy đứng đầu bảng bảo kê. Nhất là Bắc Kỳ Chảy vốn là dân gốc người Nùng từ Móng Cái di cư vào đầu quân cho Tín Mã Nàm.
Hầu hết băng bảo kê Đại Thế Giới xuất thân từ các võ sĩ ở đội múa lân, ai nấy đều tinh thông quyền cước, dao, kiếm, giáo, côn; cả nội công lẫn ngọai công không phải tầm thường.
Ỷ vào binh hùng tướng mạnh, vả lại quyền lợi quá lớn mà lòng tham vô đáy, Tín Mã Nàm gạt phăng đề nghị của Đại Cathay:
- Ở lây anh em lông lắm, chia phần lâu còn đủ ăn.
Lần đầu tiên bị từ chối thẳng thừng, Đại Cathay lên giọng đe dọa:
- Không chia phần tôi, e sẽ xảy ra chiến tranh và bất lợi cho Nàm Chảy đấy.
Ai dè Tín Mã Nàm không những không lộ vẻ sợ hãi mà còn thách thức:
- Muốn lánh thì lánh. Ngộ lâu có ngán!
Kịch chiến mở màn Cả hai bên đều biết “chiến tranh” là điều xảy ra nội nhật nay mai, nên đều tích cực chuẩn bị cho trận sống mái. Phía Tín Mã Nàm đương nhiên thiên về thế thủ. Tất cả các sạp báo, quán ăn, tiệm cà phê quanh khu vực Đại Thế Giới đều biến thành chỗ cất giấu vũ khí. Không bao giờ đàn em dưới trướng Tín Mã Nàm đi hoặc ngồi quán một mình hoặc đôi ba người, mà luôn từ năm bảy người trở lên, sẵn sàng ứng cứu lẫn nhau.
Còn Đại Cathay lập tức triệu tập binh tướng, lên kế hoạch tập kích. Ba Thế mới về đầu quân cho Đại Cathay chưa bao lâu, chưa lập được chiến công hiển hách nào, hăng hái:
- Để thằng Bắc Kỳ Chảy cho tôi!
Tuy là một trong “tứ đại cao thủ” nhưng Ba Thế trắng trẻo, đẹp trai, từng được hề Ba Hội đoàn Kim Chung đặt biệt danh “bạch diện thư sinh” nên Đại Cathay ngần ngại:
- Thằng Nùng đó ghê lắm. Bọn Nùng toàn đi lính nhảy dù và thiết giáp... Thôi được, thằng Lâm phải theo sát hỗ trợ cho Thế!
5. “Giờ” G” được xác định là khoảng 9h sáng, giờ băng Tín Mã Nàm thường tụ tập ăn điểm tâm tại các tiệm, quán phía trước Đại Thế Giới.
Vậy là một buổi sáng đẹp trời nọ, trên 100 “giang hồ hảo hớn” rần rần rộ rộ kéo đến khu vực Đồng Khánh (nay là Trần Hưng Đạo) – Nguyễn Hoàng (nay là Trần Phú) – Nguyễn Tri Phương. Đạo quân do đích thân Đại Cathay dẫn đầu, có đủ mặt anh hào: Huỳnh Tỳ, Wòng Cái, Lâm Thế, Hải Súng, Lâm, Chương Khùng, Việt Parker, Của Gia Định, Minh Casino... Hai xe hơi du lịch và mấy chục xe gắn máy hiệu Gobel, Push, Brumi, Ishia (hồi ấy chưa có xe gắn máy Nhật, mà chỉ toàn xe máy hiệu Sach của Đức) chở đôi phóng như bay, bất ngờ đồng loạt thắng lại trước khu Đại Thế Giới. Các thanh niên trên xe nhào xuống, ai nấy kẻ rút đao, kiếm; người móc côn, lưỡi lê, ào vô các tiệm quán bên đường, cứ nhè các thanh niên đang ngồi uống cà phê hay ăn hủ tíu mà đâm, chém tới tấp bất kể đó có phải đám lâu la của Tín Mã Nàm hay không.
Sau một thoáng ngỡ ngàng, nhóm thanh niên này lập tức trấn tĩnh lại, hò hét lấy khí thế, chạy vô phía trong quán, cũng lấy đao, kiếm, côn nhị khúc... cất giấu sẵn, múa may đánh trả không chút sợ hãi. Bà con bán quán vốn quen biết đám Đại Thế Giới, lại cũng gốc người Hoa, nên ủng hộ “bồ nhà” vỗ tay và la lối trợ oai vang dội cả mấy con đường. Cuộc chiến chỉ mới bắt đầu coi mòi đã căng thẳng, khó phân thắng bại.
Trong lúc hai bên kịch liệt giáp chiến, Ba Thế đảo mắt tìm Bắc Kỳ Chảy. Kia rồi! Đối thủ của hắn đang cầm một thanh “mã” vung loang loáng, chỉ huy một nhóm năm tên tả xung hữu đột. Ba Thế cầm đao xộc thẳng tới trước mặt Bắc Kỳ Chảy, quát lần:
- Mày ngon đấu tay đôi với tao!
Bắc Kỳ Chảy không thèm trả lời, chỉ “hú” một tiếng, múa thanh mã xông lại đón đường đao của Ba Thế. Qua lại được vài hiệp, đám giang hồ do Lâm dẫn đầu ùa tới khiến Bắc Kỳ Chảy không dám nghênh chiến nữa, bỏ chạy.
Đang hăng, Ba Thế rượt đối thủ bén gót. Hình như đã có chủ ý, Bắc Kỳ Chảy chạy tạt vào rạp hát Hào Huê (nay nằm trên đường Trần Phú, gần góc đường Trần Hưng Đạo). Đời nào để con mồi thoát thân, Ba Thế lao theo. Ai ngờ hắn vừa lọt vô rạp hát thì nghe đánh rầm ở phía sau: Hai tên đàn em Bắc Kỳ Chảy phục sẵn ngay tại phía trong cửa rạp hát đã kéo cửa sắt, khiến cả bọn lâu la của Ba Thế rớt lại phía ngoài cửa.
Thấy đối thủ đã sa bẫy, Bắc Kỳ Chảy vung thanh mã tấu, cười gằn:
- Phen nay nị chết nhen con!
Hai tay đàn em của gã ngườl Nùng cũng kẻ rút côn nhị khúc, đứa cầm kiếm lăm lăm, sấn tới. Ba Thế hốt hoảng lượng định tình thế, áp sát lưng vô tường làm điểm tựa, xuống tấn, cầm ngang dao thủ thế, chân không ngừng di chuyển dần lại phía cửa sắt...
Phía ngoài, Lâm đã đuổi tới rạp Hào Huê, nhưng cánh cửa sắt đã khép lại, hắn chỉ thấy phía trong Ba Thế một chống ba, tính mạng mong manh như ngàn cân treo sợi tóc. Lâm nhanh trí, lấy đầu nhọn con dao phở mà hắn dùng làm vũ khí lách vô dưới khẻ hở chốt cửa, khẽ nâng lên.
“Tách” một tiếng, chốt đã nâng lên, Lâm vừa đưa tay trái kéo cửa sắt mở ra thì nghe sau gáy lạnh buốt: Một nhát kiếm đã chém trúng sau đầu hắn. Lại nghe tiếng quát phía sau, mũi con dao phở vẫn còn dính trong kẹt cửa khiến tay phải Lâm không thể nào quài dao lại đỡ, đành liều mình, buông tay trái đang vịn cửa lên che ót. Lưỡi kiếm bén ngót lần này tiện đứt lìa ngón tay cái của Lâm (và Lâm mang biệt danh Lâm Chín ngón kể từ đó).
Bên trong rạp Hào Huê, Ba Thế không bỏ lỡ cơ hội, nhanh chóng thoát ra ngoài, vừa kịp lúc đám giang hồ Sài Gòn hàng chục người xông tới tiếp cứu khiến nhóm Chợ Lớn phải tháo lui, tẩu tán vào các hang cùng ngõ hẻm và các nhà, quán quen thuộc, trong phút chốc biến mất sạch.
Hậu quả của trận thư hùng mở màn cho giới giang hồ hai phe Sài gòn – Chợ Lớn này là mỗi bên đều có khoảng trên dưới 20 người bị thương nặng nhẹ, tuy nhiên không ai tử thương.
Mời các bạn đón đọc Kỳ 2 trên xahoi.com.vn vào ngày thứ Tư - 30/4/2014.
Nguồn: Vũ Quang Hùng (Xa lộ pháp luật) Minh Phương

Giang hồ Sài Gòn (Kỳ 2): Du đãng Sài Gòn đụng dân chơi Đà Lạt

08/05/2014 18:38

Như đã nói, hồi ấy có một số tay tài phiệt thường “tài trợ” cho dân du đãng, trong số đó đáng kể nhất là Hoàng Kim Qui, thường được gọi “vua kẽm gai”.

Đó là do Kim Qui làm giàu nhờ chiến tranh Việt Nam: Ông ta trúng thầu cung cấp toàn bộ dây kẽm gai để làm hàng rào ấp chiến lược, hàng rào phòng thủ cho đồn bốt, rào cản ngăn chặn sinh viên học sinh biểu tình tranh đấu... Về sau Kim Qui còn trúng thầu làm lưới sắt bảo vệ B40, nên lại càng giàu thêm.
Hoàng Kim Qui có một quí tử là Hoàng Kim Lân, thuộc loại công tử bột ăn chơi có hạng. Lân thường kết bạn với số con nhà giàu khác và các “dân chơi” nổi tiếng, ngày ngày lui tới các vũ trường, nhà hàng, tiêu tiền như rác, lâu lâu nổi hứng “chơi trội” để “giựt le”.
Có lần, buổi tối Lân vô một nhà hàng lớn nằm trên đường Lê Lợi, tuyên bố sẽ bao toàn bộ khách đang ăn trong nhà hàng, trả tiền cho hết thảy mọi người. Maitre d’hôtel lên thông báo trên micro, ai dè bữa đó có một toán biệt động quân từ chiến trường về Sài Gòn nghỉ phép vô quán nhậu từ xế chiều nay đã ngà ngà say. Bọn này nhao nhao phản đối: “Tụi tao có tiền, vô đây ăn uống. Lân là thằng nào mà dám trả tiền bao tụi tao?”. Lời qua tiếng lại, bọn lính rút lựu đạn ra. Lân đang cầm chiếc hộp quẹt máy châm thuốc lá hút nổi sùng lên, quăng bỏ luôn hộp quẹt máy, te te bỏ ra khỏi nhà hàng. Nhân viên cả nhà hàng vội nháo nhào đi tìm chiếc hộp quẹt vì hộp quẹt của Lân ai cũng biết làm bằng vàng 18.
Lân rất khoái chơi với bọn Đại Cathay. Thường hắn ký sẵn séc tại các nơi Đại Cathay thường lui tới ăn chơi, lâu lâu kiểm tra lại, khi nào thấy Đại và bọn đàn em xài gần hết lại ký tiếp.
Trong băng công tử bột của Lân có hai anh em người Hoa là Dách Bửu và Dì Bửu, là con của chủ nhà hàng Mékong. Khi ấy chủ Mékong không những có hai nhà hàng sang trọng tại Sài Gòn và Chợ Lớn, mà còn mở cả nhà hàng tại thủ đô Bangkok, Thái Lan, và tại thủ đô PhnomPenh, Campuchia. Đang lúc ăn nên làm ra, Mékong lập thêm một nhà hàng nữa ở Đà Lạt. Nhân dịp khai trương nhà hàng này, Dách Bửu và Dì Bửu mời Hoàng Kim Lân lên Đà Lạt dự lễ, nhờ Lân mời luôn Đại Cathay và một số tay em của hắn - mà hai anh em người Hoa này cũng đã biết sơ sơ qua giới thiệu của Lân và đôi lần gặp gỡ trên sàn nhảy.
Gặp hồi đang phấn khởi vui vẻ trước lời hứa giúp đỡ của “ông chủ”, Đại kéo luôn một lô đàn em thân tín lên cao nguyên đổi gió. Đi cùng tay trùm du đãng này có đến hơn chục tên: Lâm Chín ngón, Hải Súng, Cu Quì, Sáng, Phong, Năm Công... chất lên hai xe du lịch Mustang và Traction không hết, phải đi nhờ cả xe của Hoàng Kim Lân.
Dách Bửu, Dì Bửu đón tiếp giới du đãng rất long trọng, không thua gì so với các nhà chính trị sa-lông có máu mặt và khách nước ngoài đến dự lễ khai trương. Chúng được dành nguyên một tầng lầu riêng để tiện việc ăn ở, đi lại. Đúng thời gian ấy có đoàn cải lương từ Sài Gòn lên Đà Lạt lưu diễn tại nhà hát ngay khu chợ Hòa Bình thuộc trung tâm thành phố sương mù. Các kép chính trong đoàn vốn cũng không xa lạ gì với Đại Cathay vì Thành Được, Hữu Phước hay lui tới hút thuốc phiện (hồi đó thường gọi là “đoong thóc”) tại tiệm Khang Thành nằm gần góc đường Đồng Khánh và đã nhiều lần gặp Đại Cathay cùng đám nhà văn Duyên Anh, Hoàng Hải Thủy... cũng thường đến đây đi mây về gió.
Liên tiếp hai đêm, đoàn cải lương không ngớt kêu khổ vì đám du đãng Đà Lạt đến gây rối. Đám du đãng này đâu khoảng trên dưới 20 tên, do Xi Rỗ cầm đầu, câu kết với bọn lính địa phương quân. Băng nhóm Xi Rỗ không chỉ coi khu chợ Hòa Bình mà còn tung hoành khắp thị xã Đà Lạt, từ bến bãi xe đến nhà hàng, khách sạn, vũ trường... hễ ai dám không “nộp thuế” cho bọn chúng là gặp chuyện ngay.
Gặp đoàn cải lương, đêm nào chúng cũng đòi “coi cọp” (không mua vé), không chỉ cho riêng chúng mà còn cho cả bọn lính địa phương và... luôn họ hàng, bạn bè thân thuộc của chúng, với số người “ăn theo” lên đến hàng trăm. Đã thế, chúng lại yêu cầu ngược: Đoàn cải lương phải trả “tiền bảo vệ” cho mỗi suất hát. Bầu cải lương tuy méo mặt vẫn ráng è cổ ra chịu mà trong lòng tức anh ách.
“Tha hương ngộ cố tri”, bất ngờ đất lạ quê người gặp ngay Đại Cathay trùm du đãng - mà anh em văn nghệ sĩ khi ấy hay gọi là Zimbô - Hữu Phước và Thành Được đều vô cùng mừng rỡ (Đại có tên “Zimbô” vì vào khoảng thời gian 1965 ở Sài Gòn có chiếu một bộ phim Tarzan Ấn Độ với nhân vật chính là Zimbô rất ăn khách. Do Đại mang một phần tư máu Ấn - cha lai Ấn, mẹ Việt Nam - nên được mang tên này luôn). Cả hai tài tử cải lương đều xổ bầu tâm sự, than phiền không ngớt về dân chơi Đà Lạt chơi không đẹp và nhờ Đại ra tay giúp đỡ. Nghe qua lời kể, phần vì được nịnh phổng mũi, phần vì nghĩa khí giang hồ “kiến nghĩa bất vi vô dõng dã, lâm nguy bất cứu mạc anh hùng” (thấy việc nghĩa không làm là không phải kẻ dũng khí, gặp nguy chẳng cứu chẳng phải anh hùng), Đại Cathay ưỡn ngực hứa: “Để đấy tôi lo cho!”.
Chưa hết. Nghe tin nhà hàng Mékong khai trương làm lễ rất lớn, Xi Rỗ viết thư gởi đến chủ nhà hàng, yêu cầu nội nhật chiều hôm ấy phải gởi cho hắn một con heo quay, hai chai rượu ngoại và năm két bia (hồi đó chỉ có bia La Rue con cọp) để bọn hắn nhậu, ghi chú rõ ràng ở cuối thư “nếu không, chủ nhà hàng phải hoàn toàn chịu trách nhiệm” (?). Mời bọn Đại Cathay lên Đà Lạt dự lễ khai trương, đụng chuyện này mà nhờ vả đến thì thật là đắc sách, Dách Bửu và Dì Bửu đưa thư của Xi Rỗ cho Đại Cathay coi và “xin ý kiến chỉ đạo”. Vốn đã có sẵn chủ ý, Đại phẩy tay:
- Cứ gởi rượu, bia, heo quay cho chúng. Tôi sẽ nói chuyện phải quấy với thằng Xi Rỗ sau.
Khoảng 8h tối hôm ấy, Đại Cathay kéo nguyên băng ra bến xe gần chợ Hòa Bình tìm Xi Rỗ, thì Xi Rỗ đang ngồi nhậu với bầy lâu la ngay quán nhậu kế bến xe chớ đâu. Ngoài khoảng hơn chục tên du đãng xứ hoa anh đào còn có cả tiểu đội địa phương quân cũng túm tụm uống rượu, bia với mồi là con heo quay béo ngậy. Súng cạc-bin, ga-răng dựa ngay bên bàn nhậu. Riêng Xi Rỗ cởi trần trùng trục mặc dù trời tối Đà Lạt trời lạnh, có lẽ một phần hắn muốn khoe thân hình lực lưỡng cuồn cuộn cơ bắp, một phần do nhờ rượu tỏa năng lượng sưởi ấm cơ thể (?).
Đại Cathay dẫn đầu băng du đãng Sài Gòn, tiến thẳng đến trước tiệc nhậu, lớn tiếng (tuy hắn dễ dàng nhận ngay ra Xi Rỗ với khuôn mặt rỗ đặc trưng):
- Ai là Xi Rỗ đâu?
Thấy có kẻ kêu đích danh mình, lại có vẻ hống hách, Xi Rỗ không thèm đứng dậy, hếch mặt, tay không buông ly rượu đang uống dở:
- Tao đây! Có chuyện gì vậy?
Đại Cathay gằn giọng:
- Tao muốn nói chuyện với mày về vụ nhà hàng Mékong và đoàn cải lương. Mày có biết tao là ai không?
Xi Rỗ hừ một tiếng, dằn mạnh ly rượu xuống bàn:
- Biết chớ! Biết cả chuyện mày lên đây đã mấy ngày rồi mà không lại chào tao. Giờ mày muốn gì?
Đại Cathay cố nén giận:
- Nhà hàng Mékong và đoàn cải lương là chỗ bạn bè của tao, mày vuốt mặt phải nể mũi.
Xi Rỗ vụt đứng dậy:
- Mày là cái thá gì mà tao phải nể? Rừng nào cọp nấy. Sài Gòn của Đại Cathay. Đà Lạt này của Xi Rỗ, không được lôi thôi gì hết!
Nãy giờ đã hầm hầm trong bụng, Sáng người nhái nghe đến đây tức khí móc luôn khẩu Colt 45 giấu bên hông ra, thẳng tay quật bá súng vô sau ót Xi Rỗ.
Nguồn: Vũ Quang Hùng (Xa lộ pháp luật) Minh Phương

Giang hồ Sài Gòn (Kỳ 3): Người đứng đầu trong 'tứ đại giang hồ'

21/05/2014 10:32

Có lẽ không mấy ai không biết tiếng Đại Cathay, trùm du đãng nổi tiếng nhất trước 1975, người đứng đầu trong “tứ đại giang hồ” (Đại, Tỳ, Cái, Thế).

Sự thật Đại Cathay đã chết. Nhưng bao quanh cái chết của anh ta vẫn còn nhiều uẩn khúc và có lẽ mãi mãi bao trùm trong bí mật...
Có thể nói, một cách nào đó, cái chết của Đại Cathay cũng là một “huyền thoại” giống như nhiều huyền thoại xoay quanh cuộc đời của anh ta.
Từ sau khi Đại Cathay được coi là mất tích, đã có khá nhiều câu chuyện đồn đại. Loại trừ các câu chuyện hoàn toàn không có đủ cơ sở để tin cậy như Đại Cathay đã trốn thoát khỏi đảo Phú Quốc sang Thái Lan “gác kiếm giang hồ” sống cuộc đời bình dị... ít nhất cũng có ba câu chuyện khác nhau với “đầy đủ chứng cứ”:
(l) Đại Cathay đã chết tại trường đua Phú Thọ trong dịp Tết Mậu Thân (1968), (2) Đại Cathay bị Trần Tử Thanh, thiếu úy biệt kích ngụy, và tổ biệt kích giết theo lệnh Nguyễn Cao Kỳ, và (3) bị quân du kích của Mặt trận Giải phóng miền Nam bắn chết tại khu vực núi Khu Tượng trên đảo Phú Quốc.
Nhưng, trước khi đi sâu vào các chi tiết “có thể tin được” nhờ các nhân chứng người thật việc thật qua các lời đồn đại trên, xin mời cùng lược qua tiểu sử của Đại Cathay và một số câu chuyện liên quan đến tay trùm du đãng nổi tiếng này.
Tại sao lại là “Đại Cathay”? Điều tưởng như đơn giản nhất là họ tên thật, ngày tháng năm sinh và tên cha mẹ của Đại Cathay cũng đã gặp rắc rối: Lê Văn Đại, tức Nguyễn Văn Đại, tự Đỗ Minh Đức, tự Dũng, tự Đại Cathay. Năm sinh lúc thì 1944, khi thì 1940, lại có lần ghi 1941 hoặc 1945.
Cha Đại Cathay có ba tên: Nguyễn Văn Cự, Lê Văn Cự và Lê Văn Trự. Mẹ cũng có ba tên: Lê Thị Hưng, Lê Thị Hương và Lê Thị Duyên.
Việc này đã được Đại Cathay thú thật trong một lần bị Tổng nha Cảnh sát Sài Gòn thẩm vấn: “Riêng về năm sanh và tên cha mẹ, tôi tự ý khai để đánh lạc hướng trong cuộc xét hỏi của nhân viên công lực, mà hiện tôi không còn nhớ rõ” (trích lời khai trong lần bị bắt vào đêm 8/4/1964).
Dẫu sao, cũng có thể khẳng định Đại Cathay lúc nhỏ ở với cha mẹ tại chân Cầu Mống (quận l), sau chuyển qua đường Đỗ Thành Nhân (Khánh Hội, quận 1), theo học văn hóa đến năm 1954 thì nghỉ học vì cha mất, phải ở nhà phụ giúp mẹ buôn bán và làm... du đãng.
Cũng có người kể, vào khoảng năm 1950, vườn hoa bên cạnh Cầu Mống nối Sài Gòn với Khánh Hội khi đó có một vựa củi lớn đối diện với hội trường Diên Hồng (hiện là Sở Thương mại Thành phố). Bố mẹ của Đại Cathay làm nghề chẻ củi thuê cho vựa củi này. Đại lúc ấy còn “nhóc tì” là một thằng bé hiền lành, ít nói, dẫu có tướng “ngầu”. Suốt ngày, Đại thơ thẩn chơi đùa bên phía hội trường Diên Hồng, vòng ra con đường sau lưng hội trường là đường Nguyễn Công Trứ.
Ngay góc con đường này có một rạp hát và chiếu bóng không lấy gì làm sang trọng lắm có tên rạp Cathay. Tại đây, chú bé Đại kết thân với nhiều trẻ em bụi đời khác làm đủ thứ nghề như đánh giày, bán báo, bán kem... Lũ lối này đánh lộn như cơm bữa, mà thông thường Đại luôn đánh thắng kể cả những đứa lớn tuổi và lớn con hơn nhờ Đại vốn liều lĩnh, lì lợm, thêm có “năng khiếu” đánh lộn. Gần rạp Cathay có khu Dân Sinh và bót cảnh sát quận 1. Bót này nổi tiếng dữ dằn với những ông đội xếp, mà thời ấy kêu là “mã tà” hoặc “phú lít” (police).
Gần như ngày nào đám trẻ con bụi đời cũng bị mã tà túm cổ về các tội đánh lộn, ăn cắp vặt, móc túi... và bị đánh đập ra trò. Đại cũng nhiều lần bị túm, dù không gây án cũng bị đập để cảnh sát bắt khai ra đồng bọn. Lối lấy cung khủng khiếp nhất đối với bọn trẻ là bị bắt quì xuống, hả to họng để “mã tà” bỏ tọt một con gián còn sống nhăn vô. Con gián cuống cuồng tìm đường thoát, chui theo cuống họng xuống, dãy dụa, cào cổ họng, bao tử làm chú nhóc ói đến mật xanh mật vàng. Qua những lần bị xử phạt như vậy Đại vẫn nhất định không khai gì và được thả, lại lang thang ra rạp xi-nê Cathay đánh lộn tiếp. Đám bụi đời nhóc tì ngưỡng mộ và phục Đại tính lì lợm hơn người, đặt biệt danh “Đại Cathay”.
Năm 1955, Ngô Đình Diệm thắng lực lượng Bình Xuyên của Bảy Viễn và các giáo phái chống đối ông ta ở miền Tây. Sài Gòn khi ấy được chỉnh trang lại phần nào để mang bộ mặt mới. Vựa củi bên cạnh Cầu Mống bị dẹp để biến thành công viên. Bố mẹ Đại mất việc làm, dời nhà sang bên kia sông, ngụ tại con hẻm hãng phân Khánh Hội. Con nít, trẻ nhỏ ở bên đó thuộc khu bến tàu cũng chẳng vừa gì, vì ảnh hưởng của đời sống chính cha mẹ chúng và những người lớn ưa nhậu nhẹt thường xuyên gây lộn. Đại Cathay xông vô “trận địa mới” ngay và cũng thường xuyên thắng.
Đã có chút “máu mặt”, Đại Cathay kéo rốc đám anh em bụi đời đó sang khu Cầu Muối, Cầu Ông Lãnh, họp lại làm ăn. Chỉ sau một thời gian ngắn, gây vài vụ án, tiếng tăm Đại Cathay nổi như cồn, làm lu mờ dần những tay anh chị du đãng khét tiếng hồi đó.
dai-cathay-211
Cũng vì du đãng, tính đến khi mất tích, Đại Cathay bị bắt tổng cộng 10 lần (không tính những lần còn là chú nhóc), trong đó có ba lần bị đưa ra tòa xử. Nói chính xác hơn, trừ lần đầu, ngày 30/11/1959, Đại Cathay bị bắt giải Tòa sơ thẩm Sài Gòn xử hai tháng tù ở tội danh “oa trữ giấy cầm đồng hồ đeo tay”, cả 9 lần sau đó Đại Cathay đều bị bắt về các tội danh “du đãng”. Nên có thể nói, Đại Cathay đúng là du đãng, chớ không phải ăn cắp, ăn trộm, ăn cướp như nhiều tội phạm hình sự khác.
Có thêm một lần Đại Cathay bị bắt không hẳn vì tội danh du đãng: Lúc 9h đêm 13/6/1962, nhà hàng Vạn Lộc ở số 32 đường Trần Hưng Đạo bị ném lựu đạn. Cảnh sát Sài Gòn bắt 3 tên Thạch Linh, Thạch Minh và Đỗ Trí Dũng để điều tra. Những tên này khai và Đại Cathay bị bắt ngày 20/6/1962. Nhưng cuộc điều tra “không đem lại kết quả” và gần ba tháng sau, Đại Cathay được thả tự do.
Xin trích lại một phúc trình của nhân viên Ban 4 phòng Hình cảnh gởi lên chủ sự phòng nói về Đại Cathay: “... Chúng tôi đã mật điều tra trong vùng Đô thành và ghi nhận những tin tức về Đại Cathay như sau: tên Đại Cathay đã sống không nghề nghiệp từ lúc 19 tuổi, y đã kết hợp một số thanh niên cùng tình trạng tổ chức những vụ đánh chém lộn khắp vùng Sài Gòn Chợ Lớn, y đã hai lần tổ chức chém người tại khu Dân Sinh (Q2) và tại Chợ Lớn. Ngoài ra y cũng đã bị chém một lần tại đường Lê Lai. Đặc biệt, số người bị đánh chém cũng như đã chém y đều thuộc thành phần lưu manh, du đãng...”.
(Phúc trình ngày 15/1/1966 do Lý Văn Vàng, Võ Minh Nhựt ký tên, bên cạnh có Phó Cảnh sát trưởng Trần Văn Ơn xác nhận).
Ngoài những điểm gan lì, “chịu chơi”, Đại Cathay còn chơi rất đẹp không chỉ với dân chơi mà còn với bạn bè, nên chẳng bao lâu đã nổi lên thành “nhân vật du đãng số một” thời chế độ Sài Gòn.
Và Đại Cathay đã được cảnh sát ngụy đối xử rất đặc biệt. Xin dẫn chứng: Ngày 8/4/1964, lúc 22h15, Ban Bài trừ Du đãng thuộc Tổng nha Cảnh sát bắt Đại Cathay, giải giao đến Tổng nha ngày 10 /4/1964. Đến 11h ngày 25/5, ủy ban An ninh nội bộ Tổng nha Cảnh sát nhóm họp tại văn phòng Trung tá phụ trách khối cảnh sát đặc biệt để “cứu xét những can phạm mới khai thác xong để trình Trung tá Tổng Giám đốc Cảnh sát quốc gia quyết định”. Chỉ riêng việc Đại Cathay được ủy ban An ninh Tổng nha Cảnh sát Quốc gia họp để cứu xét cũng đủ biết anh ta được chính quyền cũ “ưu ái” biết dường nào. Cuối cùng, sau khi nhận thấy không thể “cải tạo” nổi Đại Cathay, Tổng nha Cảnh sát Quốc gia quyết định đưa anh ta ra “an trí” tại đảo Phú Quốc vào ngày 28/11/1966.
(Còn nữa)
Nguồn: Vũ Quang Hùng (Xa lộ pháp luật) Minh Phương

Giang hồ Sài Gòn (Kỳ 4): Viên sĩ quan quân đội Sài Gòn thủ tiêu Đại Cathay?

23/05/2014 15:26

Số can phạm mới chuyển từ đất liền tới trại, buồn tình không biết làm gì, cả ngày dài cổ giải trí bằng bộ bài mạt chược. Đánh bài mãi cũng đâm chán, đến một lúc nào đó...

Khác với đảo Côn Lôn (sau được đổi thành Côn Sơn và hiện nay là Côn Đảo), thời Pháp thuộc, đảo Phú Quốc chưa hề có trại giam. Thời Ngô Đình Diệm cũng vậy. Mãi đến “đệ nhị cộng hòa” của Nguyễn Văn Thiệu, Phú Quốc mới hình thành hai trại giam, một dành cho tù binh (tức là số bộ đội miền Bắc vô chiến đấu và bị bắt tại miền Nam), một dành cho “dân chơi” và số tù chính trị quốc gia (chỉ số chống đối chế độ Sài Gòn khi ấy nhưng không liên quan gì với Mặt trận Giải phóng miền Nam - hầu hết là số người can dự vào cuộc chống đối Thiệu ở miền Trung).
“Dân chơi” được đưa ra Phú Quốc lúc đó chỉ khoảng vài chục người, toàn thuộc loại du đãng, đánh lộn có nhiều “thành tích có vằn có vện” (không phải cướp của giết người, cũng không được đưa ra tòa xét xử) như Hải Phòng Kin, Sú Hùng, Lâm Chín ngón, Bảy Xi, Hải Súng, Quảy Thầu Hao, Hắc Quảy Chảy, Đực Bà Tiểu, Thanh Tưa, Lắm Mổ bụng, Hùng Mỏ chuột, Hòa Áo thun... Và đương nhiên, trong số đó có Đại Cathay.
Trại giam thứ hai này được xây cất vội vàng theo kiểu dã chiến, gần ngay sân bay thuộc thị trấn Dương Đông, và do đó cũng không mấy xa bãi biển (không phải trại giam tù binh do Mỹ xây dựng, nằm trên đường đi từ Dương Đông đến An Thới, cách thị trấn Dương Đông đến hơn 20km). Vội vàng đến nỗi trại giam chưa kịp đặt tên ngoài một danh từ khá hoa mỹ sử dụng trên giấy tờ: “Trại hướng nghiệp Phú Quốc”.
Số can phạm mới chuyển từ đất liền tới trại, buồn tình không biết làm gì, cả ngày dài cổ giải trí bằng bộ bài mạt chược. Đánh bài mãi cũng đâm chán, đến một lúc nào đó, bác sĩ Mẫn cao hứng tuyên bố:
- Tụi nó không đặt tên cho trại này thì chúng ta phải đặt tên mới được!
 Cả bọn nhao nhao đồng ý. Sau một hồi bàn tán, ai nấy nhất trí sẽ xáo bộ bài và để một người làm “đại diện” rút một cây bài. Tên cây bài này sẽ là tên trại. Đại Cathay được hân hạnh đề cử làm người rút cây bài ấy. Và Đại Cathay đã rút trúng con bài cửu sừng.
Trại Cửu Sừng từ đó thay cho tên “Trại hướng nghiệp Phú Quốc” (thật ra trại đâu có dạy cho ai nghề gì - chẳng có người dạy, cũng chẳng có xưởng trại, máy móc... chi ráo lấy gì mà “hướng nghiệp” ?).
Theo lời kể của một trung úy cảnh sát dã chiến có nhiệm vụ canh gác trại Cửu Sừng thì:
“Trong một chuyến thăm nuôi, tôi thấy trong đám thân nhân những người tù có thân nhân của Đại Cathay. Đó là vợ ba của Đại, khá xinh đẹp, nghe đâu thuộc gia đình tử tế và bản thân chị ta là người học thức. Trong những món đồ thăm nuôi hậu hĩnh, có một chiếc áo blouson. Chiếc áo màu đen, sau lưng thêu bản đồ Việt Nam chia đôi. Nửa trên phía Bắc thêu chỉ đỏ, phía miền Nam thêu chỉ vàng và hai chữ Việt Nam thêu to tướng trên vai lưng áo. Loại áo này bán rất nhiều ở đường Lê Thánh Tôn, Sài Gòn khi đó, dành cho lính Mỹ mang về nước làm kỷ niệm. Thật ra chiếc áo này chẳng ấm áp gì, những đường may lại vụng về, xấu xí. Khi khám xét đồ thăm nuôi, tôi nhấc chiếc áo đó lên xem xét. Chiếc áo nặng trịch, ngoài sức tưởng tượng! Lần vào lưng áo, tôi biết có những thỏi gì đó như những thỏi kim loại nhưng mềm. Tôi toan lên tiếng thì một vị sếp của tôi lừ mắt ra hiệu tôi trả lại áo cho Đại Cathay. Tôi không còn cách nào khác là đưa chiếc áo cho Đại Cathay ôm trở về trại”.
Điều bất ngờ nhất là chỉ một ngày sau, vào buổi tối, Đại Cathay đã trốn thoát khỏi trại cùng với một đàn em thân tín. Theo lời kể lại của lính gác thì Đại Cathay khi trốn đi đã mặc quần áo hải quân cùng với một số binh sĩ vừa lính vừa sĩ quan. Họ được hộ tống ra bãi biển dung ca-nô chạy ra một chiếc tàu hải quân đậu sẵn ngoài khơi”.
Phẩn cuối lời kể của viên trung úy cảnh sát dã chiến gần đúng với nội dung công điện hỏa tốc được gởi từ “Trại hướng nghiệp Phú Quốc” về Tổng nha Cảnh sát Quốc gia...
Tuy nhiên, lời kể của viên trung úy cảnh sát dã chiến cũng như nội dung công điện hỏa tốc trên đều chỉ đúng ở phần đầu.
Chúng tôi đã trực tiếp gặp một số đàn em của Đại Cathay liên quan mật thiết đến chuyện vượt ngục này, và qua phối kiểm các nguồn tin thu được, xin dựng lại câu chuyện như sau:
Sau khi nhận được “chiếc áo lạnh dát vàng”, Đại Cathay tỏ ra rất phấn khởi, bàn bạc với số đàn em thân tín, tính chuyện vượt ngục. Đại Cathay cho biết, anh ta đã mua chuộc được một số người trong Ban Quản đốc “Trại hướng nghiệp Phú Quốc” (gồm Đại úy Nghĩa, Trung úy Long, Trung úy Tảo), đồng thời liên hệ được với một tàu hải quân. Tất cả đều sẵn sàng để Đại Cathay vượt ngục cùng với một vài tay đàn em thân tín và giúp họ trốn qua Thái Lan. Gần một chục tay đàn em xin đi theo Đại Cathay gồm Hải Súng, Lâm Chín ngón, Xì kíp, Hùng Mỏ chuột, Lắm Mổ bụng... Nhưng Hải Súng tham mưu:
- Thằng Lâm (Chín ngón) lóc chóc, để nó đi theo là bể chuyện.
Kẹt nỗi Lâm Chín ngón lại là cánh tay đắc lực thân cận của Đại Cathay và rất được Đại Cathay thương yêu. Suy nghĩ mãi đến gần nửa đêm, Đại Cathay bảo Lâm Chín ngón:
- Tao nghe nói mày còn chơi xì ke phải không? Bỏ đi. Chơi thứ đó hại người lắm. Mày phải nghe lời tao!
- Dạ... Nhưng bỏ gay quá.
- Tao cho mày chích lần này là lần chót!
Vừa nói, Đại Cathay vừa kêu đàn em chích vào mạch máu ở cánh tay Lâm Chín ngón một liều ma túy gấp đôi liều bình
 thường. Liều thuốc này do chính Hải Súng pha chế, lại thêm cả một số “chất xúc tác” để tăng ép-phê. Kết quả Lâm Chín ngón “phê”, ngủ say như chết.
Giờ “G” vượt ngục đã đến. Đại Cathay và 5 tên đàn em lặng lẽ chui qua hàng rào trại giam. Đêm hôm ấy trời tạnh ráo, nhưng ánh sáng lập lòe của những vì sao không đủ soi tỏ cảnh vật. Bỗng có tiếng quát lớn:
- Ai đấy?
Tiếp theo là tiếng súng bắn báo động liên hồi và hỏa châu vụt tỏa sáng trên bầu trời. Thì ra do giờ giấc hợp đồng không chặt chẽ, Đại Cathay và bọn đàn em bò ra hàng rào trại giam không đúng ca trực của tốp lính gác đã bị mua chuộc.
Cũng có nguồn tin cho rằng không phải nhiều dân chơi xin vượt ngục theo Đại Cathay, mà thực ra Đại Cathay phân công nhiều người cùng đi theo, để phòng khi gặp chuyện sẽ “tung hỏa mù” giúp Đại Cathay dễ bề trốn thoát. Dù hiểu theo cách nào, đạn vẫn tiếp tục nổ, hỏa châu tiếp tục nối đuôi nhau soi sáng khu trại giam như ban ngày, nhưng không còn cách nào khác vì đã lỡ “phóng lao”, bọn vượt ngục cứ thế liều chết phóng chạy. Xì kíp, Hùng Mỏ chuột... bị bắt. Chỉ còn Đại Cathay và Hải Súng chạy thoát. Tuy nhiên họ không dám chạy về phía bãi biển để ra tàu hải quân như kế hoạch vạch sẵn, mà lao bừa theo hướng ngược lại: chui vô rừng, lần lên phía Bắc đảo...
Đến đây, trước khi viết tiếp về chuyện vượt ngục của Đại Cathay, chúng tôi thấy nên nhắc lại một số “huyền thoại” của nhân vật này để bạn đọc tiện theo dõi...
Đại Cathay đang trong lứa tuổi phải đi quân dịch, nhưng anh ta vẫn “phây phây” khoác đồ xi-vin ngông nghênh trên đường phố giữa Sài Gòn. Một viên tướng, vốn có cảm tình với Đại Cathay - và có lẽ phần nào cũng muốn “chơi trội” - nhắn gặp Đại Cathay, thân mật khuyên:
- Để khỏi phải động viên, anh chịu phiền làm gạc-đờ-co (cận vệ) cho tôi là xong chuyện!
Đại Cathay cười cười đáp lại rất thiệt tình:
- Tôi đi đâu cũng có hàng chục “gạc-đờ-co” nay lại làm “gạc-đờ-co” cho ngài, không lẽ bỏ mấy thằng “gạc-đờ-co” của tôi thất nghiệp?
Nghe kể, có một lần giới “dân chơi” xôn xao vì tin Nguyễn Ngọc Loan thừa lệnh Nguyễn Cao Kỳ chính thức mời Đại Cathay “đàm phán” để giải quyết nhằm triệt tận gốc rễ nạn du đãng tại Sài Gòn - Gia Định.
Để gây ấn tượng cho buổi đàm phán này, Đại Cathay đến điểm họp với tiền hô hậu ủng chưa từng có trong lịch sử giang hồ miền Nam: Bữa ấy Đại Cathay chễm chệ trên chiếc Chevrolet gắn máy lạnh do Tư Gáo cầm lái - nên nhớ xe hơi có gắn máy lạnh khoảng giữa thập niên 1960 của cả Sài Gòn có thể đếm trên đầu ngón tay (xe này Đại Cathay mua lại của bà Bút Trà). Cặp theo Chevrolet là hơn chục chiếc Honda 67 đen bóng, xoáy nòng chở đôi theo bảo vệ cho “đại ca”.
Cuộc đàm phán diễn ra trong vòng bí mật, tuy nhiên sau đó nội dung vẫn bị rò rỉ, đồn đại ra giới giang hồ. Theo đó, Nguyễn Ngọc Loan, có Mã Sâm Nhơn phụ tá, yêu cầu Đại Cathay từ giã cuộc đời du đãng, tuyên bố giải tán các băng, đảng dưới trướng. Tất cả anh em hoàn lương bảo đảm không ai bị làm khó dễ, còn được tạo điều kiện làm ăn. Ngược lại, kẻ nào trái lệnh, tiếp tục gây ân oán, Đại Cathay có nhiệm vụ “triệt”. Bù lại, Đại Cathay được đặc cách làm thư ký cho Nguyễn Ngọc Loan, với cấp bậc tương đương thẩm sát viên.
Cũng theo tin đồn, Đại Cathay ra giá “mặc cả” chỉ đồng ý đề nghị trên với hai điều kiện: Một là, phải để lại Cảng Sài Gòn cho giới giang hồ có đất làm ăn, hai là anh em dân chơi được quyền “bảo kê” các sòng bài. Cuộc “đàm phán” giằng co mãi, nhiều tỉ lệ ăn chia được đặt ra, nhưng không đi đến thống nhất.
Lại có tin Đại Cathay được đề nghị giữ chức Trưởng ty Cảnh sát quận 9 (tức vùng Thủ Thiêm). Đổi lại, Đại Cathay phải lập công bằng cách bắt gọn bọn đàn em. Việc này Đại Cathay từ chối thẳng thừng: “Tôi vốn là thằng du đãng, không thể nào bán đứng bạn bè, cũng là du đãng như tôi!” Dù thế nào, rốt cuộc “đàm phán” cũng không thành. Trung tâm Bài trừ Du đãng được thành lập.
Đại Cathay, vốn đã nổi danh lại càng lừng lẫy sau vụ “đàm phán” được thổi phồng lên rằng anh ta đã cương quyết không bán đứng giới giang hồ để mua chiếc lon thiếu tá cảnh sát, còn dám công khai bảo vệ dân chơi trước mặt viên tướng chỉ huy trưởng Tổng nha Cảnh sát Quốc gia. Nghĩa khí này quả là đáng nể phục, xứng đáng làm đại ca của những đại ca. Tham vọng của Đại Cathay bắt đầu nổi lên. Anh ta tuyên bố với bọn đàn em rằng muốn trở thành một nhân vật như Bảy Viễn thời thực dân Pháp còn tạm chiếm, thành một ông “vua” trong kinh doanh bất cứ thứ gì ngoài vòng pháp luật. Nhưng phàm ở đời, những kẻ không biết tự lượng sức mình, không biết đâu là điểm dừng rất dễ bị diệt vong - hoặc theo nghĩa bóng, hoặc theo nghĩa đen.
Đến đây, chúng tôi xin trở lại lý giải từng câu chuyện đồn thổi về đoạn kết của Đại Cathay.
Khá nhiều nhật báo xuất bản tại Sài Gòn vào thời điểm ấy đã loan tin “giật gân sốt dẻo” trên sau đợt tổng tấn công của Mặt trận Giải phóng miền Nam năm 1968. Tin cho rằng Đại Cathay đã “chỉ huy một cánh quân tấn công vào hướng tây bắc Sài Gòn và bị bắn hạ trước trại nhảy dù Hoàng Hoa Thám, gần Ngã tư Bảy Hiền”. Có báo còn thêm tình tiết để bạn đọc có thể tin được như “người ta tìm thấy trong xác chết một hộp quẹt Zippo có khắc tên Trần Đại ở nắp, một cuốn nhật ký viết về tiểu sử đời một tay du đãng, tự nhận mình là nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết viết về xã hội đen của một tác giả nổi tiếng xuất bản ở Sài Gòn...”.
Nguyễn Thụy Long (tác giả tiểu thuyết Loan mắt nhung, được cho là viết về Đại Cathay) khi đó đang là phóng viên một tờ nhật báo ở Sài Gòn, vừa nghe tin trên vội xách máy ảnh chạy thẳng lên ngã tư Bảy Hiền hỏi thăm bà con tại chỗ, tìm khắp khu vực quanh trại nhảy dù Hoàng Hoa Thám song chẳng tìm thấy bất cứ chi tiết nào xác nhận nguồn tin ban đầu trên. Xác Đại Cathay không có, hộp quẹt Zippo cũng không, quyển nhật ký cũng không nốt.
Thụy Long dò hỏi thêm nhiều nhà báo, phóng viên, nhiếp ảnh... ở Sài Gòn hồi đó, nhưng không một ai ghi nhận thêm tình tiết nào khác, cũng không ai chụp được một pô ảnh nào khả dĩ chứng thực nguồn tin trên.
Nhằm chứng minh cho việc Đại Cathay đi theo Mặt trận Giải phóng miền Nam, có thêm tin đồn một trung tướng trong chính quyền Thiệu, do rất có cảm tình với Đại Cathay, đã đứng ra tổ chức chuyện vượt ngục cho Đại Cathay. Đại Cathay đã trốn thoát khỏi đảo, trở về đất liền. Nhưng khi tàu chở Đại Cathay vừa tới Cà Mau thì gặp quân du kích. Rốt cuộc lính tráng trên tàu lớp tử thương, lớp đầu hàng tình nguyện đi theo quân giải phóng - trong số này có Đại Cathay.
Tin đồn trên là hoàn toàn vô căn cứ, vì như chúng tôi đã tường thuật rõ ở phần trước: Đại Cathay vượt ngục nhưng chưa hề trốn thoát khỏi đảo Phú Quốc.
Vì vậy, nguồn tin Đại Cathay chỉ huy một cánh quân Mặt trận Giải phóng miền Nam tấn công vào hướng Tây Sài Gòn và bị bắn hạ trước trại nhảy dù Hoàng Hoa Thám, chỉ là một tin vịt.
Vậy phải chăng một viên sĩ quan quân đội Sài Gòn tên là Trần Tử Thanh đã giết Đại Cathay?
Nguồn: Vũ Quang Hùng (Xa lộ pháp luật) Minh Phương

Thế giới du đãng Sài Gòn trước 1975 (kỳ 5): Lâm “chín ngón” nặng ân oán giang hồ với cả Đại Cathay và Năm Cam

LĐĐS - 21 Hoàng Dũng
Lâm “chín ngón” thời trẻ.
Lâm “chín ngón” có “duyên nợ” cả với trùm du đãng trước năm 1975 là Đại Cathay và trùm xã hội đen sau này là Năm Cam. Nếu như Đại Cathay đưa Lâm “chín ngón” lên hàng “chiếu trên” của thế giới giang hồ Sài Gòn thì Năm Cam là người đặt dấu chấm hết cho cuộc đời du đãng của Lâm “chín ngón” với cú tạt axít kinh hoàng.
Hai lần cứu Đại Cathay thoát chết Lâm “chín ngón” tên thật là Lê Ngọc Lâm, sinh năm 1945 tại Hà Tây, sau cùng gia đình di cư vào Nam lúc mới 9 tuổi. Năm 12 tuổi, Lâm thành trẻ bụi đời, được đưa vào làng cô nhi Thủ Đức. Tại đây, Lâm đã lần ra ngoài, nhập vào đám quân bụi đời, bán báo trước làng cô nhi... Năm 1963, Lê Ngọc Lâm bị bắt quân dịch, nhưng đã bỏ trốn về Sài Gòn sống lang thang, được Đại Cathay nhận vào băng du đãng mới nổi lên ở khu Da Heo quận 1. Có chút học thức, đánh đấm giỏi, lại lỳ đòn, Lâm nhanh chóng được Đại Cathay tin dùng. Không bao lâu, Lâm trở thành trợ thủ đắc lực của Đại.
Một lần, Đại Cathay dắt quân tập kích vào khu vực rạp Hào Huê ở quận 5, là lãnh địa của băng du đãng Hắc Đạo người Hoa do Tín Mã Nàm làm thủ lĩnh. Băng Hắc Đạo không đương đầu nổi với băng của Đại Cathay, nên bỏ chạy. Say men chiến thắng, Đại bị băng Hắc Đạo dụ chạy sâu vào trong các con hẻm, sau đó hạ cửa sắt bít đường rút đầu các hẻm lại và phản công. Đại và các “chiến hữu” rơi vào cửa tử, bị đánh, chém tơi tả, chống cự trong vô vọng. Lâm đã liều chết mở đường máu, tả xung hữu đột giúp Đại Cathay tháo chạy thoát thân. Trong trận này, Lâm bị chém rớt ngón cái trên bàn tay phải và chính Đại Cathay đặt cho Lâm biệt danh “chín ngón” từ đó.
Lần khác, vào năm 1966, tại nhà hàng Olympic, Đại Cathay và các “chiến hữu” bất ngờ bị đám vệ sĩ của tướng cảnh sát Nguyễn Ngọc Loan tấn công bằng vũ khí “nóng” (dùng súng). Đại Cathay bị bắn bể đầu gối, nằm quỵ xuống sàn, Lâm “chín ngón” đã lấy thân che đạn cho “chủ tướng”, vừa bắn chặn đối phương vừa dìu Đại Cathay thoát khỏi “chiến địa” nồng nặc mùi khói súng.
Cuối năm 1966, Tổng giám đốc Nha Cảnh sát Đô thành - tướng Nguyễn Ngọc Loan mở chiến dịch bài trừ du đãng. Hàng loạt du đãng cộm cán ở Sài Gòn bị bắt, trong đó có Đại Cathay và Lâm “chín ngón”. Cả bọn bị chở ra đảo Phú Quốc, ở trại Cửu Sừng. Đầu năm 1967, Đại Cathay cùng một nhóm tù du đãng tổ chức vượt ngục với kế hoạch khá mạo hiểm. Biết cuộc vượt ngục này “lành ít dữ nhiều”, Đại Cathay không muốn cho Lâm “chín ngón”, người ơn đã 2 lần cứu Đại thoát chết, tham gia.
Theo ý của Đại, nếu lỡ “có bề nào” thì “sự nghiệp” của Đại cũng còn có người đáng tin cẩn là Lâm “chín ngón” nối nghiệp. Trước khi chia tay không biết là sinh ly hay tử biệt, Đại bắt Lâm thề phải bỏ ma túy, đồng thời tự tay Đại chích 1 liều ma túy cuối cùng cho Lâm “chín ngón”. Liều ma túy nặng gấp đôi bình thường ấy đã làm Lâm ngủ say như chết, đến ngày hôm sau khi tỉnh dậy thì Lâm nhận được hung tin: Đại Cathay và các “chiến hữu” sau khi ra khỏi trại đã bị phát hiện và truy sát, tất cả đều bị bắn chết.
Hai lần giết người trong tù
Cuối năm 1969, Lâm được thả trở về đất liền. Băng du đãng Đại Cathay đã tan rã, không còn chỗ cho Lâm “chín ngón” dựa. “Người kế thừa sự nghiệp Đại Cathay” không đủ sức xưng hùng, xưng bá để thu thuế, lấy xâu như trước nữa. Lâm “chín ngón” trở lại thế giới du đãng với nghề đi cướp đường bằng xe gắn máy. Chẳng bao lâu, đường phố Sài Gòn đã bị ám ảnh bởi một tên cướp chạy xe như bay, thách thức lực lượng cảnh sát. Lâm “chín ngón” thường ra tay cướp của ở trước cửa các ngân hàng, nạn nhân là những người vừa lĩnh tiền từ ngân hàng ra. Cuối năm 1970, Lâm “chín ngón” run rủi va chiếc xe honda 67 vào một chiếc xe xích lô khi hắn đang cố chạy thoát sau 1 vụ cướp, rồi bị bắt vào trại giam Chí Hòa.
“Kinh nghiệm” ở tù ngoài Phú Quốc trước đó đã giúp Lâm “chín ngón” nhanh chóng trở thành “đại bàng” trong trại giam. Cảnh sống trong tù và ngoài đời đối với Lâm “chín ngón” không mấy khác nhau, tức cũng cướp bóc, ăn nhậu, bài bạc, hút sách... Bán thuốc phiện ngoài đời đã siêu lợi nhuận, bán “cái chết trắng” trong tù lại càng lời “khủng”. Mua đứt giám thị trại giam, Lâm “chín ngón” độc quyền bán thuốc phiện ở khu FG, sau đó mon men mở rộng lãnh địa ra toàn trại. Vì vậy mà đụng chạm với Cương “võ sĩ”, một võ sĩ quyền anh nổi danh khắp miền Nam, bị bắt vì tội buôn ma túy. Cương “võ sĩ” là em ruột của Sơn “đảo”, một trùm du đãng ở Sài Gòn thời bấy giờ ở bên ngoài. Ngay trong tù, một trận thư hùng đã xảy ra giữa Lâm “chín ngón” và Cương “võ sĩ”. Kết quả là Cương “võ sĩ” chết ngay lập tức vì nhát dao đâm trúng tim.
Trùm du đãng Sơn “đảo” bên ngoài nhận được tin đứa em ruột bị giết chết trong trại giam Chí Hòa tức lồng lộn và thề: “Tao mà không giết được Lâm “chín ngón” thì sẽ từ bỏ thế giới giang hồ!”. Sơn “đảo” âm thầm lên kế hoạch giết Lâm “chín ngón”. Lúc đó, trong trại Chí Hoà có tên tù Hoàng “đầu lâu”, vì trên bả vai của y có xăm hình chiếc đầu lâu. Hoàng “đầu lâu” võ nghệ cao cường, mang đai đen tứ đẳng Taekwondo. Sơn “đảo” tiếp cận Hoàng “đầu lâu” bằng cách bỏ tiền mua một căn nhà mặt phố đem tặng cho vợ con Hoàng đang sống chui rúc trong nhà trọ nơi hẻm sâu.
Sau đó Sơn “đảo” lại sang một sạp vải ở chợ cho vợ Hoàng đứng bán, làm kế sinh nhai. Hoàng “đầu lâu” ở trong tù chấp nhận thực hiện yêu cầu của Sơn “đảo”. Lúc ấy, Hoàng “đầu lâu” đang mang án tù nhẹ, không chung khu giam giữ với tù trọng án, nên không thể tiếp cận được Lâm “chín ngón”. Sơn “đảo” đã đạo diễn cho Hoàng chém 1 giám thị trại để trở thành tù trọng án. Sau đó, Sơn “đảo” tiếp tục lo lót để cho Hoàng “đầu lâu” chuyển sang ở cùng một buồng giam với Lâm “chín ngón”.
Từ sau khi giết Cương “võ sĩ”, Lâm “chín ngón” biết là Sơn “đảo” sẽ tìm cách trả thù. Vì vậy mà khi nghe câu chuyện Hoàng “đầu lâu” chém giám thị, rồi được đưa về giam chung buồng với mình, Lâm thừa biết Hoàng sắp giết ai. Ngày đầu Hoàng “đầu lâu” vào, Lâm nhờ người mua một chai rượu Remy Martin mời Hoàng nhậu. Không chút nghi ngờ, Hoàng “đầu lâu” nốc rượu thoải mái sau bao ngày nhịn thèm. Say rượu, Hoàng “đầu lâu” nằm lăn ra ngủ. Lâm “chín ngón” lẳng lặng nấu nồi nước “để tắm”. Khi nước vừa sôi, Lâm bê nguyên cả nồi đổ ụp xuống mặt Hoàng “đầu lâu”, xong rút dao tự chế đâm Hoàng tổng cộng 37 nhát, cho đến khi nạn nhân tắt thở.
Nạn nhân của Năm Cam
Ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Lâm “chín ngón” đang ở trong trại giam. Năm 1988, Lâm “chín ngón” được trả tự do sau 18 năm ở tù qua 2 thời kỳ. Trở về đời thường, Lâm tỏ ra chí thú làm lại cuộc đời. Năm 1993, Lâm cưới vợ và sinh con, mở một quán thịt chó bình dân trên đường 3-2. Tưởng như tên trùm du đãng ngày nào giờ đã lo chí thú làm ăn, làm lại cuộc đời, đoạn tuyệt hẳn với giới giang hồ. Nhưng, nghiệp chướng tiếp tục đeo bám, không để cho Lâm an phận với cuộc đời hoàn lương. Cuối năm 1994, có 3 tên “xã hội đen” là chỗ quen biết vào quán thịt chó của Lâm ăn nhậu. Rượu vào, lời ra, bọn chúng kể cho Lâm nghe chuyện bảo kê các cảng cá Vũng Tàu, Long Hải và Phước Tĩnh.
Bọn chúng vừa “đập phá” ở thành phố biển, bị công an tạm giam và tịch thu xe. Bọn chúng nhờ “anh Lâm” xuống Vũng Tàu xin lại xe máy cho chúng. Nể tình, Lâm xuống Vũng Tàu. Dù đã “gác kiếm”, nhưng uy danh Lâm “chín ngón” vẫn chưa phai trong giới xã hội đen ở Vũng Tàu, nhờ vậy mà không khó nhờ “anh em” xin lại được mấy chiếc xe. Để trả ơn, mấy tên “đàn em” mời “anh Lâm” xuống Vũng Tàu hợp tác “làm ăn”. Thấy kiếm tiền quá dễ so với tiền lời quán thịt chó, Lâm “chín ngón” đồng ý. Ở Vũng Tàu, sự có mặt của Lâm “chín ngón” đã khiến các băng nhóm lưu manh khác khiếp vía, dạt ra hết. Lâm “chín ngón” chỉ việc chường mặt ra cảng cá nhưng không phải mó tay vào bất cứ việc gì, mọi chi phí ăn uống chơi bời đều được “bao cấp”, kèm số lương 5 triệu đồng/tháng. Thế nhưng, chỉ được một thời gian là Lâm “chín ngón” bị đánh bật khỏi Vũng Tàu, bởi một thế lực ngầm nào đó.
Lúc ấy ở Sài Gòn, Năm Cam đã trở thành thế lực ngầm số một. Thế nhưng, Lâm “chín ngón” lại không xem Năm Cam ra gì, vì trước năm 1975, Năm Cam là đàn em “tép riu” của Lâm. Bị đánh bật khỏi các cảng cá ở Vũng Tàu, Lâm “chín ngón” nghi là có bàn tay của Năm Cam. Vì vậy mà đi đâu, Lâm cũng rêu rao thoá mạ, công khai chửi bới Năm Cam. Một lần, Lâm chủ động mời Năm Cam đến một nhà hàng trên đường Trần Hưng Đạo ăn nhậu. Khi Năm Cam bước vào, các tên đàn em đều nhất loạt đứng lên chào “anh Năm”. Lâm “chín ngón” gầm lên: “Thằng Năm Cam là cái đếch gì mà tụi bay phải bợ đỡ. Tao coi nó là cái đinh. Đ.M, thằng nào qụy lụy Năm Cam thì đừng coi tao là đàn anh nữa!”. Bị Lâm “chín ngón” chửi bới, hạ nhục, nhưng Năm Cam vẫn tươi cười: “Anh Lâm say rồi! Tôi cũng hơi mệt, thôi anh em ngồi chơi, tôi về trước”.
Tối 14.7.1999, Lâm chở vợ và đứa con trai 6 tuổi đi ăn ở quán Lồi (cư xá Bắc Hải, quận 10). Khi Lâm vừa dựng xe cho vợ con bước xuống, một kẻ lạ bất ngờ tạt thẳng vào mặt Lâm một ca đầy axít. Lâm đau đớn, ôm mặt ngã xuống mặt đường quằn quại. Trận đòn thù đã làm Lâm biến dạng toàn bộ khuôn mặt, hai tai rụng, mũi rụng, cằm chảy ra dính chặt vào ngực, hai mí mắt cũng chảy ra dính vào nhau, gần như mù lòa... Dù vậy, Lâm “chín ngón” không cho gia đình báo công an, dù Lâm thừa biết ai đã hại mình. Thậm chí, Lâm còn cho rằng kẻ hại mình đã chơi đúng luật giang hồ, chỉ xử Lâm chứ không đụng đến vợ con y. Cho đến tháng 12.2001, khi Năm Cam bị bắt, Lâm “chín ngón” lập tức tìm đến cơ quan công an để tố cáo chính Năm Cam là kẻ chủ mưu trong vụ tạt axít ám hại hắn.

Giang hồ Sài Gòn (Kỳ 6): Thời nhiễu nhương 'đại bàng' lập 'chợ'

29/05/2014 16:27

Sài Gòn, những năm cuối thập niên 1960, đầu 1970. Lúc này, trong trại giam Chí Hoà nhốt một dọc những tay giang hồ nổi tiếng vào thời gian ấy.

Có thể kể Cương Võ sĩ, Lâm Chín ngón, Tuấn đả, Y Cà-lết (do dáng đi hơi khập khiễng), Chương khùng, Viet Parker...
Muốn gì có nấy 
Vào thời đó, bộ máy cảnh sát cũng như giám thị nhà tù của chế độ Sài Gòn gần như bó tay trước nạn lộng hành của đám lưu manh du đãng hung hãn, nhất là khi bọn chúng được ma túy hỗ trợ. Tuy bị giam tại Chí Hòa, giữa tòa nhà bát giác, nhưng cuộc sống của những tay giang hồ sừng sỏ nhất cũng chẳng mấy khác cuộc sống hồi còn ở ngoài đời, ngoài chuyện không thể muốn đi đâu tuỳ ý. 
Muốn ăn ngon, chúng cứ việc xin phép giám thị (dễ ợt) đến căng-tin nằm ngay tại hồ nước, giữa sân Chí Hòa - miễn là có tiền. Không ít tên còn chơi ngông, đặt tiền trước cho nhà hàng: Bảo đảm qua hôm sau, nhà hàng mua sẵn mang vào phục vụ cho chúng đầy đủ “sơn hào hải vị” thức ăn ngon nhất, đặc sản của bất cứ nhà hàng, tiệm ăn nào nổi tiếng nhất Sài Gòn - Chợ Lớn, tất cả đều còn nóng hổi. 
Ngay cả muốn ngủ với gái mãi dâm cũng không khó, có điều thường phải chờ đến tối thứ Bảy hoặc Chủ nhật... Trong sân trại giam Chí Hòa (phía trước), kề bên khu thăm nuôi, có một chiếc xe tải hư hỏng bỏ không. Đám tù hình sự che chắn lại, biến xe thành nơi “hành lạc” có đủ nệm, quạt máy... Chỉ việc dúi vào tay cai tù một xấp tiền kèm theo ám hiệu là bọn này liên hệ với các động mãi dâm quen thuộc. “Đến hẹn lại lên”, tối thứ Bảy, Chủ nhật gì đó, vài ba cô gái môi son má phấn sẽ được giám thị dắt vào, phục sẵn trong xe tải chờ tiếp các “đại ca”. 
Những đại ca giang hồ nào không mang án quá nặng còn có thể “đi phép”, miễn là chung chi hơi nặng tay. Cái giá phải trả khi ấy cho giấy phép một ngày là 120 ngàn đồng, cả ngày lẫn đêm gấp đôi: 240 ngàn đồng (vàng vào thời gian ấy chỉ có giá khoảng 20 ngàn đồng/lượng, tức giấy phép giá từ 6-12 lượng vàng). 
Có nhiều cách để số tù nhân này đi phép, mà thông thường nhất là chúng sẽ nhận được giấy mời ra tòa để bổ sung hồ sơ thẩm vấn hoặc làm nhân chứng chẳng hạn. Xe cai tù chở chúng ra khỏi nhà tù đàng hoàng, nhưng không chở đến tòa án (làm gì có chuyện tòa hỏi cung hay xử), mà dừng ở một điểm nào đó theo thỏa thuận, thả chúng xuống; để đến giờ hẹn sẽ lại rước, đưa trở lại về Chí Hòa. Cũng có thể đó là giấy tù nhân mang bệnh nặng, phải đưa ra bệnh viện ngoài Chí Hòa để khám; tất nhiên cũng do xe của nhà tù Chí Hòa đưa đi chở về... 
Có tên còn liên lạc trước với bọn đàn em bên ngoài để bọn này chuẩn bị sẵn xe cộ, phương tiện, sau đó mới mua một giấy phép 12 tiếng. Lọt ra ngoài, chúng lập tức tiến hành một vụ ăn hàng trót lọt. Xong, lại vào tù nghỉ ngơi dưỡng sức, hưởng chiến lợi phẩm. Những vụ án này, bọn cảnh sát điều tra bên ngoài dù có tài thánh như Sherlock Holmes sống lại cũng không cách nào tìm ra thủ phạm - ai mà tưởng tượng ra nổi một tên tù đang bị nhốt trong tù lại có thể gây án bao giờ.
“Chiến tranh” ma túy trong khám Chí Hòa 
Tuy nhiên, việc mua “giấy phép” để đi cướp chỉ là chuyện cho vui nhằm đỡ ngứa nghề, còn kỳ thực nguồn lợi chính của các “đại ca” trong khám Chí Hòa lúc ấy lại là buôn bán ma túy. 
Vào lúc cao điểm, nhà giam Chí Hòa có khoảng 2.000 tù hình sự thì cũng gần như có chừng ấy con nghiện. Vì vậy, bán ma túy, thuốc phiện trong tù đem lại cho các “ông trùm” nguồn lợi cực lớn, có khi lên đến 400 - 500 ngàn đồng/ngày. Nguồn lợi quá khổng lồ khiến chúng không ngần ngại vây bè kết cánh để giữ độc quyền bán ma túy ở các buồng giam và tranh giành lãnh địa, hạ bệ nhau nhằm ngoi lên làm ông “trùm”, tha hồ thu lợi. 
Cũng vì vậy, “chiến tranh” trong khám Chí Hòa vẫn nổ ra thường xuyên. Tuy hành lang các dãy buồng giam luôn mở ra trong giờ hành chính, nhưng những tên “âm binh mắt ma” (chỉ bọn giang hồ chưa có số má gì) ở khu AB có bao giờ dám xuống khu BC nằm ngay kề bên; bọn ở khu ED cũng đừng dại mò qua khu FG coi chừng mang hoạ. 
Ngay cả những đàn anh hạng gộc như Cương Võ sĩ (ở khu ED) hay Lâm chín ngón (ở khu FG) có thể tha hồ đi lại bên trong trại giam hình bát giác này, ung dung tự tại trong khu do chúng cầm đầu; nhưng hễ ra khỏi khu của mình đều luôn phải có ít nhất vài ba đàn em thân tín đi cùng làm vệ sĩ. Nếu không, coi chừng ăn dao lúc nào không biết.
Mỗi khi lâm trận, những tên du đãng có số má này hầu hết đều hai tay nắm chắc 2 con dao. Thêm con dao thứ ba giắt ngang lưng, phòng khi con dao trên tay bị đối phương đoạt mất hoặc đánh rơi. Cũng vì vậy, hỗn danh thời “hai tay ba dao” bắt nguồn từ đó. 
Thêm nữa, rất nhiều tay du đãng ở trong khám Chí Hòa hồi đầu những năm 1970 còn tự trang bị một thứ vũ khí khác: Quyển Kinh Thánh đạo Công giáo. Sách thánh dĩ nhiên không thể dùng để đâm chém, nhưng có thể dùng phòng thân - chẳng phải để cầu Chúa che chở bảo vệ (nếu quả có Chúa, chắc người cũng không dễ gì bảo vệ cho những đại ca xã hội đen), mà do cuốn Kinh Thánh có kích cỡ vừa vặn với túi áo trên, được linh mục ở tiểu giáo đường nằm trong khuôn viên khám Chí Hòa sẵn sàng phát không cho bất cứ ai muốn xin. Sách khá dầy, nhất là bìa sách cứng, có khả năng ngăn chặn mũi dao nhọn đâm ngay tim. Và, có lẽ linh mục không khỏi vui mừng vì có nhiều “con chiên” (nhiều kẻ chưa hề là tín đồ đạo Thiên chúa) nay tự nhiên muốn nghiên cứu sách Thánh. 
Phân chia lãnh địa 
Để tránh những xung đột không cần thiết, dần dần những đại ca trong khám cũng tự phân chia lãnh địa, “rừng nào cọp nấy”: Lâm chín ngón độc quyền bán thuốc phiện ở khu FG, Cương Võ sĩ khu BC, Việt Parker khu ED, Y Cà-lết khu AH, Chương khùng được một minh khai thác “hàng trắng” toàn khám... 
Xin lướt qua những nhân vật chính liên quan bài viết này để bạn đọc biết tại sao bọn họ lại được “ăn trên ngồi trốc” như vậy.
Lâm chín ngón vốn là “sát thủ”, cánh tay phải của Đại Cathay từng ngồi trại Cửu Sừng ở tận Phú Quốc (thành tích không dễ mấy ai đạt); thời gian chuyển qua nhà lao Gia Định dám thay mặt giới giang hồ kẹp cổ, rút cây viết đang giắt trong túi áo “tướng cướp cô độc” Điền Khắc Kim đâm vào trán hắn, sau lại từng cầm đầu đám tù hình sự” vượt ngục (nhưng không thành). Nhờ vậy, không chỉ độc quyền bán thuốc phiện ở khu FG, Lâm còn kiêm độc quyền cung cấp “hàng đen” cho toàn trại giam Chí Hòa. 
Chương khùng là tên giang hồ có số mã đã lâu, nhưng nổi tiếng nhất là khi cầm đầu hàng chục tên thuộc giới xã hội đen đang bị giam trong Chí Hòa xông vào cướp thùng đựng tiền của đám tù nhân gốc người Hoa đang bị giam trong khu AB. Thùng tiền được 4 võ sĩ cao thủ cũng người Hoa, nghe đâu thuê từ tận Hồng Kông qua chia nhau đứng ở 4 góc thùng để bảo vệ. Trong cuộc hỗn chiến này, Chương khùng bị chém trọng thương, tuy vụ cướp không thành những cũng đủ giúp hắn thành danh. 
Cương võ sĩ tên thật Vũ Đình Cương, vốn là một võ sĩ quyền Anh có đẳng cấp, từng nhiều lần thượng đài khắp miền Trung, miền Nam và cả Campuchia. Hơn nữa, Cương lại là em ruột Sơn Đảo, một trong những trùm ma túy của miền Nam lúc ấy. Anh em Sơn, Cương vốn là dân gốc Bắc di cư, nhà ở khu Ngã ba Ông Tạ, chuyên làm giò chả. Cả hai anh em từ hồi nhỏ lúc nào cũng hai tay hai chày giã giò nên cơ bắp săn chắc, cứng rắn như cua gạch. 
Năm 1970, Cương bị bắt vì tội danh buôn bán ma túy. Xộ khám Chí Hòa, nhờ danh tiếng cá nhân và nhất là danh tiếng từ anh ruột, Cương được đám giang hồ tại đây phong làm “đại ca của các đại ca” toàn quyền cắt đất, sai phái lâu la dưới trướng. Khi các băng nhóm trong trại bất hoà, xích mích, chi cần Cương đứng ra dàn xếp, nói vài câu là tất cả đều răm rắp tuân phúc, đố ai dám cãi. 
Thanh toán giang hồ 
Khoảng giữa năm 1972, không hiểu sao đám con nghiện ở trong khám Chí Hòa bỗng đâm ra khoái thuốc phiện hơn thích ma túy. 
Nhờ vậy Lâm chín ngón ngày càng ăn nên làm ra. Cứ “đến hẹn lại lên”, thuốc phiện từ bên ngoài được đàn em đóng thành từng bánh dẹt lớn, nhét vào thùng gỗ hai đáy chứa đồ thăm nuôi, gửi vào cho Lâm. Cai tù thừa biết nhưng làm ngơ để được chia phần (tỉ lệ 30% lợi nhuận). Với tù nhân khác, đồ thăm nuôi gửi vào hộp kem đánh răng cũng phải xé đôi, kẹo bóc từng viên; bánh tét phải cắt làm tư... Riêng với nghi can nghiện ma túy thậm chí phải lột hết quần áo, chổng mông để khám xem có nhét thuốc giấu trong hậu môn hay không. 
Mang thùng đồ thăm nuôi vào, Lâm bửa ngăn đáy lấy thuốc phiện ra, cắt thành miếng nhỏ phân phối cho các buồng giam thu lời. Theo lời Lâm chín ngón kể, vào thời kỳ “hoàng kim”, mỗi tuần riêng cá nhân mình có thể lãi cỡ 25 - 30 lượng vàng như không. Vậy là bỗng dưng hàng trắng “ế độ”. Thu nhập của Chương khùng rớt thảm hại. 
Giờ đây không tiền tự nhiên quân binh rơi rụng dần, đàn em cũng chẳng mấy đứa ngó ngàng tới. Chương khùng tức tối lớn tiếng chửi bới om sòm, doạ “cho biết tay” những đứa nào dám bỏ hắn qua phò Lâm chín ngón. 
Nghe Chương khùng chửi bới, một tay ngang cơ khác là Năm Lượng (trước thuộc đảng cướp “Con Cua Vàng” khét tiếng miền Tây Nam Bộ, sau về làm quân sư cho Đại Cathay) ngứa lỗ tai, đổ thêm dầu vào lửa, thách: “Mày chỉ được cái đánh võ mồm”. Bị khích tướng, Chương khùng nổi cơn... khùng, lấy bộ đồ võ màu đen mặc vô cho oai, uống một hồi 3 viên Renoval để thêm “khí thế”, hầm hầm tuyên bố “Tao đi tìm thằng Lâm nói chuyện phải quấy”, te te qua khu FG... 
Đang đánh bóng chuyền ở sân khu FG, nghe đàn em cấp báo, Lâm chín ngón ngưng ngay ván đang đấu dở, đợi sẵn đối thủ. Vừa thấy mặt Chương khùng, Lâm chặn đầu hỏi trước: “Chương! Nghe nói mày đòi dẹp không cho tao bán thuốc trong khu FG nữa, có đúng vậy không?”. Đang hăng máu, vả lại trưóc mắt nhiều đàn em, Chương khùng ưỡn ngực: “Đúng! Tao bảo dẹp! Mày bảnh thì chơi lại tao coi!”. 
Đang sẵn ly nước cầm trong tay uống mới được phân nửa, Lâm chín ngón không thèm lên tiếng đáp trả mà quăng luôn cả ly lẫn nước vào mặt Chương khùng, đồng thời vung tay nhào tới. Quá bất ngờ trước phản ứng mạnh của Lâm chín ngón, nhưng Chương khùng cũng kịp nghiêng đầu né ly nước. Chiếc ly thuỷ tinh đập vô tường mé sau đánh “chát”, miểng văng tung tóe. Nói ngay tình, nếu đấu tay đôi có lẽ Chương khùng khó đánh lại Lâm chín ngón. Tuy chiều cao tương đương (đều cùng khoảng 1,70m), nhưng Lâm chín ngón nặng cân hơn, thân hình chắc nịch; thêm đàn em Lâm Chín ngón kéo tới khá đông (khu FG là “địa bàn” của Lâm) nên Chương khùng tỉnh người hẳn, nghĩ đến... “tam thập lục vi kế tẩu nhi thượng sách” (36 kế, chạy là tốt nhất). 
Vậy là khí thế tự nhiên biến đâu mất sạch, cả 3 viên Renoval cũng không thấy ép phê, Chương khùng vội vàng bỏ chạy. Tuy nhiên cơn giận vẫn chưa nguôi, hắn tức đến chảy nước mắt. Thoát ra khỏi khu FG, Chương khùng tìm đến đàn anh cầu cứu. 
Lúc này một số đàn anh đang tụ tập trong khu BC tán dóc. Thấy Chương khùng vừa chạy qua vừa khóc, Cương ngăn lại hỏi chuyện. Không lẽ thú thật mình không dám chơi tay đôi với Lâm chín ngón, cũng không dám nói mọi chuyện do mình gây sự trước, Chương khùng miệng mếu máo bịa chuyện: “Thằng Lâm ỷ đông kéo đàn em đòi xử tôi, cấm không cho tôi bán ma túy nữa!”. 
Lâu nay ranh giới đã chia, địa bàn đã rõ, rừng nào cọp nấy mà nay Lâm chín ngón toan “phá lệ” qua mặt mình, Cương nổi máu yêng hùng, không hỏi thêm, dẫn một tốp có đến nửa tá đàn anh chị kéo sang khu FG để “hỏi tội thằng Lâm”. Chương khùng cũng tháp tùng...
Phần Lâm chín ngón, dù đã đuổi được Chương khùng nhưng cơn giận bừng bừng vẫn chưa nguôi. Không đâm được đối thủ, hắn đang nện nắm đấm thình thình vô tường buồng giam 3 F4, dọa “luộc thằng Chương” thì một tên đàn em chạy vào thở hổn hển, cấp báo: “Anh Lâm coi chừng! Anh Cương đang dẫn một toán người qua tìm anh đó. Có cả Chương khùng trong nhóm”. 
Hai ba tên rút dao lá lúa (trong khám Chí Hòa tuyệt đối cấm mang dao vào, nên “dao” thường là mảnh tôn hay thép thùng phuy mài bén ngọt, đầu sắc nhọn) dúi vào tay Lâm: “Anh cầm theo phòng thân!”. Lâm đón lưỡi dao gần nhất của một đàn em là Hùng Be, giắt vào lưng quần, bảo “Một dao đủ rồi” và lập tức chạy ra ngoài phòng nghênh tiếp. 
Khi hai bên đã đứng đối diện, Cương đứng lại, không thèm hỏi đầu đuôi câu chuyện mà lên giọng đại ca, lớn tiếng hạch hỏi: “Lâm, ở đây mày với tao ai là đàn anh?”. Rồi, không kịp chờ Lâm trả lời, Cương đã tung ngay một cú đấm thôi sơn vào mặt đối thủ. 
Nhờ cảnh giác đề phòng trước, Lâm nghiêng đầu kịp né tránh cú đấm thẳng của tay võ sĩ quyền Anh nhà nghề, tuy nhiên nắm tay của Cương phớt qua tóc Lâm chỉ trong đường tơ kẽ tóc. Đòn ra quá mạnh nhưng không trúng đích khiến Cương mất đà, thân hình nhào về phía trước, đầu hơi chúi xuống. 
Trong giới giang hồ hồi ấy có câu “bị một cái tát, coi như không ngoi đầu lên nổi” huống hồ ăn nguyên cú đấm. Máu nóng bốc lên, lại giận Cương không thèm hỏi chuyện mình mà vội hạch sách lên giọng, nhân lúc Cương đang mất đà, Lâm tay trái nắm cổ áo địch thủ nhấc lên, cùng lúc tay phải quay lại rút dao sau lưng, nhằm ngay ngực đối thủ đâm mạnh... 
Tất cả mọi việc diễn biến chỉ trong chớp mắt, không ai kịp can ngăn, cũng không ai kịp nhận ra sự việc. Chỉ nghe Cương “hự” lên một tiếng rồi ôm ngực nằm vật ra sân khi Lâm vừa buông tay trái, trong lúc Lâm vẫn vung cánh tay phải định đâm tiếp. 
Có tiếng ai đó kêu lên: “Anh Lâm đừng đâm nữa!” Lâm chín ngón mới như sực tỉnh, vội buông dao rớt đánh “cạch” xuống nền xi măng. Nhát dao duy nhất đã đâm trúng ngay tim Cương, khiến tay võ sĩ quyền Anh tắt thở tại chỗ. 
Mặt tái mét, Lâm chín ngón cũng bất ngờ trước sự việc xảy ra, nhắn lại cả bọn đàn em đừng ngơ ngác trước khi bị dẫn xuống khu biệt giam Điện Ảnh trong khám Chí Hòa - tên gọi chính thức là khu ĐA (chuyên giam giữ tù nhân trong khám vi phạm kỷ luật, hoặc mới từ các trại giam khác chuyển qua, để dằn mặt và hành hạ, từ chữ ĐA, phạm nhân “chế” thành Điện Ảnh) coi như vừa thanh minh, vừa xin lỗi kẻ quá cố: “Tôi không cố ý, tại anh Cương... Thôi, anh em thắp cho anh mấy nén nhang giúp tôi...”. 
Sơn Đảo báo thù 
Giống em ruột, Vũ Đình Sơn tức Sơn Đảo cũng xuất thân từ một võ sĩ có hạng thuộc võ đường Hổ Bạch An, Tân Bình. 
Lớn lên, Sơn rủ rê mấy đứa em ruột là Cương, Hoàng Bệu, Tiềm… lao vào con đường buôn bán ma túy; nhờ vậy anh em nhà Sơn Đảo đều giàu lên khá nhanh. Có tiền, Sơn bỏ ra bảo trợ cho lò võ mà mình đã theo học, xây dựng nguyên một phòng tập cho đám chiến hữu ngay trong trại lính dù Hoàng Hoa Thám cũng không mấy xa Ngã ba Ông Tạ, địa bàn hoạt động chính của y.
Cử chỉ hào phóng này đã được đám sĩ quan, binh lính thuộc binh chủng nhảy dù, một trong những lực lượng con cưng của chế độ Sài Gòn đáp lại bằng cách sẵn sàng đỡ lưng cho Vũ Đình Sơn trong các vụ làm ăn trong bóng tối. Trong số những kẻ “đỡ lưng” cho Sơn có thể kể đôi tên có máu mặt: Trung tá Lê Quang Lương, Trung tá Be (Ban 2 Dù), Thiếu tá Dương (Lữ đoàn 3 Dù), Trung uý Nguyên (tuy cấp hàm nhỏ nhưng là con đỡ đầu của Tướng Cao Văn Viên)... 
Được hậu thuẫn mạnh, chẳng bao lâu Sơn đã trở thành kẻ cung cấp ma túy cho cả một khu vực rộng lớn dọc hai trục đường chính là Trương Minh Ký, Trương Minh Giảng (nay là Lê Văn Sĩ dọc xuống Trần Quốc Thảo) và Lê Văn Duyệt (nay là Cách mạng Tháng 8). Ngoài ra, trên hai trục đường này còn có hàng chục tiệm hút, sòng bài thuộc quyền quản lý của gia đình Sơn. 
Năm 1965, Sơn bị bắt, lãnh án 5 năm tù, bị đầy ra Côn Đảo. Cũng có một số tù nhân hình sự khác bị đầy ra Côn Đảo, nhưng riêng Sơn có biệt danh Sơn Đảo, có lẽ nhờ nguyên bộ tạ hắn mang từ Côn Đảo về, tặng lại cho khám Chí Hòa để bất cứ tù nhân nào muốn tập thể lực tùy nghi sử dụng. Và cũng nhờ vậy, uy tín và thế lực của Sơn Đảo ngày càng mạnh lên trong giới giang hồ Sài Gòn. 
Nghe tin em ruột bị Lâm chín ngón đâm chết trong khám Chí Hòa, Sơn Đảo lồng lộn tuyên bố: “Sẽ lấy mạng thằng Lâm bằng bất cứ giá nào!”. Đối tượng đầu tiên được Sơn Đảo nhắm đến nhờ “báo thù” là Tuấn Đả, quê xã Hồ Hải, quận Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận. Nổi tiếng trong giới giang hồ Nam Trung phần, khi bị bắt giam tại quân lao Nha Trang, Tuấn Đả từng đâm lòi ruột Sơn trắng, “sếp sòng” quân lao này để tiếm quyền. Thời gian này có thuận lợi là Tuấn Đả còn bị nhốt ở khu Điện Ảnh cũng với Lâm. 
Máu liều Tuấn Đả có thừa, nhưng chơi tay đôi khó nắm phần thắng Lâm chín ngón. Sơn Đảo nghĩ cách tuồn “chó lửa” (súng) từ bên ngoài vào cho Tuấn Đả. Nhưng hai lần súng đã được nguỵ trang rất tinh vi (và cả mua chuộc đám giám thị trại giam) để gửi vào, cả hai lần Tuấn Đả đều trả lại không nhận. 
Lý do, khi từ quân lao Nha Trang chuyển vào Chí Hòa, Tuấn Đả bị đám đàn anh tại đây cô lập, suýt đánh hội đồng bởi e ngại “truyền thống” lật đổ của hắn. Khi đó Lâm chín ngón đã chủ động đứng ra bảo lãnh khiến Tuấn Đả cảm kích (về sau, đến năm 1974 Tuấn Đả cũng bị đưa ra Côn Đảo, biệt giam trong chuồng Cọp 7, khu C, mãi đến sau ngày giải phóng).
(Còn nữa)
Nguồn: Vũ Quang Hùng (Xa lộ pháp luật) Minh Phương

Giang hồ Sài Gòn (Kỳ 7): Sát thủ bị 'con mồi' hạ sát vì ham hố một chai rượu Cognac

02/06/2014 14:15

Mối thù vẫn nung nấu, nhưng phải mất đến gần một năm trời, Sơn Đảo mới tìm được kẻ thay cho Tuấn Đả: Gã tên Nguyễn Văn Hoàng, biệt danh Hoàng Đầu lâu.

“Con bài” Hoàng đầu lâu
Nói về võ nghệ, cả trại giam Chí Hoà để không ai sánh kịp Hoàng Đầu lâu. Với tứ đẳng huyền đai taekwondo, khi còn ở ngoài đời, Hoàng đã từng hạ gục hàng chục cao thủ cả người Việt lẫn người Campuchia trên sân đấu.
Biết vợ con Hoàng đang sống khó khăn từ khi chồng, cha bị bắt, Sơn Đảo bỏ tiền mua một căn nhà mặt phố nhỏ đem tặng, tiếp đó sang một sạp vải ở chợ cho vợ Hoàng đứng bán, làm kế sinh nhai. Đồng tiền đi trước luôn là đồng tiền khôn, Hoàng Đầu lâu nghe vợ nói lại được Sơn Đảo giúp đỡ, Hoàng gật đầu hứa giúp Sơn Đảo trả thù...
Khốn nỗi, trong giới giang hồ, Hoàng Đầu lâu chỉ thuộc hạng chiếu dưới, án tù lại nhẹ nên khó thể ngồi cùng mâm với Lâm chín ngón (vẫn đang ở biệt giam) để có cơ hội tiếp cận và hạ sát đối thủ.
Để tạo cơ hội cho Hoàng, Sơn Đảo tốn công vạch nguyên một kế hoach chi tiết nhằm giúp Hoàng Đầu lâu tăng án, “được” vào biệt giam, đồng thời nâng uy tín trong giới giang hồ chớ không vì thế mà gây xích mích với bất cứ dân chơi nào khác.
Số là, khi ấy trong đám cai ngục Chí Hoà có tay trung sĩ Cách, cháu ruột gọi phó giám thị trại bằng cậu. Ỷ thế có chỗ dựa lưng, trung sĩ Cách luôn tìm cách ăn chặn, phá phách đồ thăm nuôi của tù nhân khiến tất cả tù nhân đều căm ghét, tuy nhiên không ai đám ra tay vì đụng tới nhân viên công lực ắt án sẽ không hề nhẹ chút nào. Mãi tới một hôm, sau khi nghe đám đàn anh ta thán, Hoàng Đầu lâu xung phong: “Để em mần thịt nó!”.
Vậy là trong kỳ thăm nuôi tới, khi Trung sĩ Cách đang săm soi hũ thịt rim, bẻ đôi từng cái bánh để khám xét thì một tên tù trật tự (thường là bọn tù hình sự án nhẹ, giúp việc cho đám giám thị) đến gần, nói nhỏ vào tai hắn: “Thưa Trung sĩ, có người muốn gập riêng Trung sĩ!”. Cách chưa kịp quát như kiểu thường ngày: “Thằng nào muốn gặp tao thì tới đây mà gặp!” tên cò mồi đã dặn thêm: “Nghe nói có chuyện làm ăn lớn; muốn gặp riêng Trung sĩ”.
Tưởng đâu sáp vô được món bở, hối lộ chi đây, Trung sĩ Cách bỏ ngang việc khám xét, rời khu thăm nuôi, theo tên cò mồi đi vào phía trong.
Cánh cửa phòng thăm nuôi vừa khép lại, Hoàng Đầu lâu bước ra ngay. Hôm đó, hắn mặc chiếc áo phông rộng thùng thình che kín thanh mã tấu giắt sau lưng, mặt đằng đằng sát khí. Vừa thấy bản mặt hung dữ của Hoàng; linh tính Trung sĩ Cách mách báo điềm chẳng lành, hoảng quá quay ngoắt người định vội vàng tháo lui nhưng không kịp...
Nhanh như chớp, Hoàng Đầu lâu đứng chặn ngang cửa ra vào, rút thanh mã bén ngọt, chẳng nói chẳng rằng nhắm ngay mặt đối thủ vót ngược lên. Trung sĩ Cách vội lớn tiếng kêu cứu, ngả người hất đầu ra phía sau, thì nguyên lỗ mũi của hắn bị lưỡi dao cắt bay mất, máu tuôn xối xả.
Nghe tiếng kêu cứu, bọn giám thị vội tông cửa chạy vào, một mặt khống chế Hoàng Đầu lâu, một mặt đưa Trung sĩ Cách và chiếc mũi đã bị đứt kia vào bệnh viện cấp cứu, phải mất mười mấy mũi kim khâu dính lỗ mũi trở lại vị trí cũ.
Với “chiến tích” này, Hoàng Đầu lâu nghiễm nhiên một bước trở thành “dân chơi thứ thiệt” được giới giang hồ trong khám Chí Hoà trọng nể. Tội nặng thêm, Hoàng Đầu lâu bị tống xuống khu biệt giam. Ở ngoài, Sơn Đảo lo lót tiền cho bọn giám thị, cai tù.
Kết quả là hai tháng sau, Hoàng Đầu lâu ôm giỏ đồ của mình chuyển sang ở chung một buồng biệt giam với Lâm chín ngón.
giang-ho-sai-gon-21
Khám Chí Hòa nhìn từ xa.
“Sát thủ” bị hạ thủ
Lúc này Lâm đã được chuyển từ khu “Điện ảnh” lên phòng biệt giam ở OG thuộc khu FG. Dãy OG đặc biệt tối hù, do các phòng không quay ra phía sân chung như tất cả những phòng O (tức nằm ở tầng trệt) khác, mà quay ngược lại. Dù bị biệt giam, những các “đại ca” vẫn có quyền hơn bọn “âm binh mắt ma” tầm thường: Lâm chín ngón được phép mang theo một đệ tử để sai vặt, đó là “Lí Lắc” đâu chưa đến tuổi thành niên.
Chuyển qua ở chung phòng với Lâm chín ngón, Hoàng Đầu lâu trước hết đánh đòn “khủng bố tinh thần”: Cởi trần trùng trục phô chiếc đầu lâu nhe nanh, cả ngày hắn hết gồng mình lại xuống tấn đấm bình bịch vào tường, tiếp đó tung cước đá loạn xà ngầu đủ các kiểu, các thế vào cột nhà bằng bê tông. Thế mà tay chân hắn vẫn cứ trơ trơ chẳng hề trầy xước, hề hấn gì! Quả là cao thủ Taekwondo có khác!
Kinh nghiệm sống và những lời thì thào to nhỏ trong giới giang hồ đã giúp Lâm thừa biết Hoàng Đầu lâu định làm gì tiếp. Khốn nỗi cùng nằm chung trong một phòng biệt giam, muốn trốn tránh cũng chẳng có ngóc ngách nào để trốn tránh.
Lâm thở dài, toan tính âm mưu và âm thầm chuẩn bị...
Bắn tin ra ngoài, Lâm nhờ đàn em kiếm một chiếc quai đeo ba lô hình chữ X bằng inox, bẻ ra, nhận vào trái bí đỏ chuyển vào khám Chí Hoà cho Lâm. Chờ lúc Hoàng Đầu lâu ra khỏi phòng, Lâm đập bể trái bí, lấy thanh inox ra, mài xuống sàn xi măng, biến thành một lưỡi dao mỏng dính và nhọn hoắt, bén ngọt không khác gì dao cạo.
Lại có tin Hoàng Đầu lâu mới nhận được một tờ giấy do Sơn Đảo gửi vào, nhắn tin cần tiến hành gấp công việc mà hắn đã nhận lời khiến Lâm chín ngón càng nóng lòng như lửa đốt.
Lâm nhờ một tù nhân có vai vế nhất tại khám Chí Hòa khi ấy là Tướng Lam Sơn, nguyên là giám đốc Trung tâm huấn luyện sĩ quan Thủ Đức, giúp cho một việc. Tướng Lam Sơn phải xộ khám vì tội bắn chết quản gia, tuy ở tù nhưng được đối xử rất đặc biệt: Ở khu AH (khu dành cho số tù nhân mặc quần áo màu trắng, được gọi “công vụ” như trông coi thư viện của khám, làm công tác hướng nghiệp...) nhưng ông ta cả ngày muốn làm gì thì làm, được cả quản đốc, giám thị lẫn số tù hình sự vị nể, muốn mua gì cũng có thể gửi giám thị mua giúp.
Lâm nhờ Tướng Lam Sơn mua cho mình một chai rượu cognac hiệu Remy Martin. Xong, Lâm kêu Lí Lắc chuẩn bị mồi, tối khuya mời Hoàng Đầu lâu đối ẩm. Trong tù, được đàn anh chiếu cố, lại có rượu tây nhâm nhi, cognac đàng hoàng, thì còn gì thú bằng.
Thế là Hoàng Đầu lâu cứ thế nốc rượu tì tì mà không hề nghĩ đến hậu quả, trong khi Lâm chỉ nhấm nháp, đưa hơi chờ đợi...
Đến nửa đêm, chai rượu vừa cạn cũng là lúc Hoàng Đầu lâu say mèm hết biết trời đất, nằm lăn ra ngáy khò khò. Lúc này Lâm mới lôi con dao inox bén ngọt ra, cứ thế nhằm đối thủ mà đâm không biết bao nhiêu nhát cho đến khi Hoàng Đầu lâu tắt thở, máu chảy lênh láng. Lí Lắc thì quá sợ, chỉ biết trố mắt ngó đàn anh hành động, chân tay run bần bật như thằn lằn đứt đuôi.
Thấy đối thủ đã chết hẳn, Lâm chín ngón mới ra đứng ở cửa phòng lớn tiếng gọi giám thị. Đêm khuya vắng lặng, tiếng Lâm như vang to hơn hẳn: “Giám thị, tôi đâm chết Hoàng Đầu lâu rồi”.
Ngay cả giám thị trại giam lúc mới nghe cũng chưa hẳn tin lời Lâm nói là sự thật...
Lâm chín ngón lại bị tống vào khu “Điện ảnh”.
Bên ngoài, Sơn Đảo thêm một phen lồng lộn bực tức. Bao nhiêu công lao nuôi dưỡng Hoàng Đầu lâu, việc gần đến đích bỗng biến thành nước lã đổ ra sông hết sạch. Hắn tiếp tục nghĩ kế quyết trả thù, bằng bất cứ giá nào cũng phải giết bằng được Lâm chín ngón.
Tuy nhiên Sơn Đảo chưa kịp nghĩ ra kế trả thù thì Lâm chín ngón đã bị chuyển ra biệt giam ngoài Côn Đảo vào đầu tháng 4/1975; còn chính hắn bị một đàn em là Y Cà-lết, tên thật Phạm Bá Y, giết chết do tranh giành em út...
Còn nữa
Nguồn: Vũ Quang Hùng (Xa lộ pháp luật) Minh Phương

Giang hồ Sài Gòn (Kỳ 8): Giang hồ 'luyện chưởng' trong 'chuồng cọp'

04/06/2014 08:23

Chuồng cọp trại 7 Côn Đảo thuộc dạng “chuồng cọp kiểu Mỹ”, mới xây sau năm Mậu Thân quãng cuối những năm 1960 bằng bê tông cốt thép, lợp mái tôn...

Thời gian ấy, Mỹ xây hai trại giam ở Côn Đảo: trại 6 dành cho tù nhân nữ, và trại 7 dành cho tù nhân nam.
Trại 7 gồm có tám khu, được đặt tên theo các chữ cái A-B, C-D, E-F và G-H. Cứ hai khu nằm kề nhau, có tường bao quanh, cửa qua lại thường xuyên bị khóa. Tất cả các khu tuy nằm chung trong một khuôn viên lớn, thực ra mỗi khu đều biệt lập: Có giám thị riêng, ban trật tự riêng, sân tắm nắng riêng, giếng nước riêng...
Mỗi khu gồm khoảng 40 phòng, mỗi phòng diện tích đều bằng nhau, dài rộng cỡ 2,5 x 2m, bình thường nhốt hai người, nhưng cüng có lúc nhồi nhét 3 - 4, thậm chí năm người.
Trại 7 dùng để nhốt số can phạm chính trị, chống chào cờ, chống kỷ luật. Riêng khu C chủ yếu dùng nhốt tội phạm hình sự từng có nhiều thành tích.
Khu kỷ luật của chuồng cọp
Tại khu này trên 90% là tù thường phạm du đãng nổi tiếng đâm thuê chém mướn từng thành danh trong xã hội đen và khi vô tù lại tiếp tục đánh lộn, gây rối, thậm chí giết người, mà theo “dân chơi” là toán “thứ dữ” và “có vằn có vện”. Thêm vào đó là số ít tù thường phạm được làm an ninh, trật tự... tại đảo nếu vi phạm nội qui, kỷ luật cũng bị nhốt vào khu C, thường chỉ trong một thời gian ngắn, gọi là để trừng trị.
Ngoài ra, còn có nhiều tù chính trị mới từ đất liền ra đảo chống chào cờ bị đưa vào khu C coi như một hình thức “dằn mặt” cho sợ. Ai chịu nổi sẽ được chuyển qua các khu khác, ai chịu không nổi sẽ phân phối về các trại khổ sai - thường anh em tù chính trị bị tạm nhốt tại khu C chỉ trong thời gian trên dưới một tháng sẽ được phân loại để rời khỏi nơi đây.
Riêng tôi và anh bạn cùng bị bắt chung một vụ, anh Lê Văn Châu, được “chiếu cố” nhốt luôn tại khu C từ khi mới bước chân ra Côn Đảo từ giữa năm 1973 cho đến ngày được giải phóng (Có lẽ vì anh Châu khi trước là sĩ quan quân đội Sài Gòn đóng tại Côn Đảo sau lại theo cách mạng, còn tôi do lần ở tù trước bị giam tại đảo, khi được thả về viết nhiều bài đăng trên báo Tin Sáng lên án chuyện nhà tù Côn Đảo; hơn nữa vụ án của chúng tôi cũng khá đặc biệt).
Cần nói thêm, mãi về sau, đâu khoảng đầu năm 1975, có thêm hai người tù chính trị nữa cũng “thường trú” luôn tại khu C. Người thứ nhất là ông Trịnh Văn Cẩn tức Tư Cẩn (sau 30/4/1975 làm Bí thư Tỉnh uỷ tỉnh Cửu Long), khi ở tù lấy bí danh Tám Lô. Khi đó ông làm Bí thư của số tù nhân ngoài Côn Đảo, được anh em lén lắp ráp cho một radio để nắm tình hình, chẳng may bị lộ, bọn giám thị tống ông vô khu C.
Người thứ nhì là anh Võ Văn Giáo. Anh làm y tá chăm sóc tù nhân tại các khu chuồng cọp. Thực ra anh được phân công làm nhiệm vụ này để nắm tình hình, trao đổi liên lạc giữa anh em tù nhân. Nhưng anh bị bọn cai tù phát hiện, và cũng bị đưa luôn vào khu C trại 7.
Đến tận bây giờ tôi vẫn còn nhớ rất rành những tù hình sự vốn nổi tiếng bị nhốt tại khu C cùng với tôi.
Trước hết phải kể đến Biện Thành Huệ tức Huệ Râu, vốn là trung sĩ quân cảnh Sài Gòn, bảo kê cho các bar và vũ trường quanh khu vực sân bay Tân Sơn Nhất, đã bắn chết một lính Mỹ say rượu. Huệ lớn tuổi nhất trong đám, lại nhờ “thành tích” bắn chết Mỹ nên được cả đám nể vì. Rồi Tuấn Đả, tay anh chị nổi đình đám nhất tại các tỉnh Nam Trung Phần (từ Qui Nhơn đến Phan Thiết) dám đâm lòi ruột Sơn trắng ở quân lao Nha Trang để giành chức “đại ca”; Lâm Chín ngón với hai án tù chung thân (do giết hai “đại ca” trong tù là võ sĩ quyền anh Vũ Đình Cường và Hoàng Đầu lâu), Khương Đại, Hải Méo, Hùng Be... Cư ngụ ngắn ngày tại khu C có “tướng cướp cô độc” Điền Khắc Kim, và Nam Lương vốn thuộc đảng cướp “Con Cua Vàng” miền Tây Nam Bộ, sau làm “quân sư” cho Đại Cathay (Điền Khắc Kim trở về đất liền để ra toà xử án, còn Nam Lương hình như được thả).
Có điều lạ là trong khi những tù hình sự “thường thường bậc trung” hay gây sự tù chính trị thì số “đại ca” lại có phần vị nể chúng tôi, giao hảo khá thân mật, đối xử rất phải đạo, tư cách đàng hoàng.
Coi khu đặc biệt này tất nhiên cũng phải là những nhân vật đặc biệt. Ngoài giám thị (thường chỉ loáng thoáng có mặt trong giờ hành chính), người trực tiếp chỉ huy khu C từ việc nhỏ tới việc lớn (như mở cửa đóng cửa các phòng để tù nhân luân phiên ra tắm nắng và đổ thùng cầu, chửi mắng và đánh đập tù nhân, đi tuần trên các song sắt vốn là trần của chuồng cọp...) là một tù hình sự quân phạm (quân đội Sài Gòn phạm tội hình sự) tên Kim Sang. Ai cũng gọi hắn là Sang lai, bởi hắn lai Campuchia, da như đồng hun, cao lớn, vạm vỡ. Đặc biệt Sang lai có đôi mắt vàng ệch, mà hắn thường khoe nhờ ăn nhiều… gan người mắt mới ngả màu như vậy. Sang lai hễ mở miệng là chửi bới văng tục, kể cả với tù hình sự. Riêng đối với các “đại ca” cỡ Huế Râu, Lâm Chín ngón, Tuấn Đả… hắn tuy có đôi chút nể nang nhưng khi nổi nóng lên cũng chửi thề tuốt luốt.
Các phòng trong khu chuồng cọp được bố trí thành hai dãy đối diện nhau, cửa bằng sắt, chỉ có lỗ thông gió nhỏ bỏ vừa chiếc dĩa để đưa cơm và thức ăn ra vào mỗi bữa. Phía sau phòng, trên cao, có một khoảng trống song sắt hết sức kiên cố để phòng bớt ngột ngạt. Trên phòng không xây kín mà là song sắt chạy dài, có lối đi: Khi nào cần đàn áp, giám thị và an ninh trật tự chỉ việc từ phía trên rải vôi bột xuống, đố tù nhân tránh thoát. Cách lớp song sắt phía trên này khoảng 1,5 - 2m là mái tôn.
Tù nhân ở trong phòng bị đóng cửa suốt ngày đêm, chỉ được mở khóa ra sân mỗi ngày khoảng một giờ để “tắm nắng” theo từng nhóm phòng.
Điều cần tranh thủ làm chính trong khoảng thời gian “tắm nắng” này là rửa thùng cầu - mỗi phòng đều có một thùng cầu đóng bằng gỗ, trét nhựa đường; tù nhân đi cầu, đi tiêu trong đó để giờ tắm nắng mang ra đổ, rửa, úp phơi khô - và tắm, giặt. Với các “đại ca”, có khi được bọn trật tự khu cho ưu tiên, tắm nắng khoảng 90 - 120 phút, đi qua đi lại, vung tay vung chân cho dãn gân cốt.
Cũng như những khu khác trong trại 7, mỗi “chuồng cọp” tại đây gồm một bể xi măng chiếm phân nửa diện tích. Mỗi phòng thường nhốt hai người, một nam trên bể, một nằm dưới sàn. Các phòng thường xuyên bị xáo trộn, đổi người qua lại (có lẽ để tránh bàn chuyện vượt ngục), cho nên trong suốt khoảng hai năm nằm tại khu C, tôi gần như ở chung với tất cả số tội phạm hình sự. Cũng nhờ đó, tôi nắm được khá nhiều tư liệu về anh em giang hồ hồi trước 1975 để sau này có nhiều dịp thể hiện trên mặt báo.
chuong-cop-41
Một mô hình được dựng lại ở 'chuồng cọp' Côn Đảo
Phạm nhân “giải trí” như thế nào trong phòng giam?
Với khoảng 40 phòng, khu C thường giam giữ trên dưới 80 tù nhân. Như trên đã nói, trần các phòng, ngay phía dưới mái tôn là hàng song sắt để bọn trật tự coi khu có thể đi lại trên đó. Cũng vì vậy, người ở trong phòng nếu nói lớn tiếng, các phòng chung quanh và đối diện (tổng cộng khoảng 12 - 15 phòng) đều có thể nghe được.
Không rõ tại các chuồng cọp khác, anh em tù học và dạy học những gì, riêng tại khu C, thời gian tôi ở chung với anh Giáo, anh dạy tôi chữ Hán (anh vốn làm nghề thấy thuốc Bắc, viết chữ Hán rất đẹp, biết cả kiểu chữ thảo) và châm cứu. Còn tôi dạy anh tiếng Pháp và toán trung học đệ nhị cấp. Tôi tự học tiếng Anh và tiếng Pháp, thời gian này học từ vựng trong tự điển là chính. Chúng tôi cũng dạy nhau những bài thơ, bài hát về cách mạng hoặc những bài thơ hay mà mới chỉ một trong hai người thuộc.
Còn khi bị nhốt chung phòng với anh em tù thường phạm, anh em dạy tôi... đánh lộn. Đúng là đánh lộn chớ không phải võ, vì hầu hết anh em không phải võ sư hay võ sĩ gì cả, mà chỉ chuyên đánh lộn với các thế võ “sát thủ” theo kiểu học mót, miễn sao thắng được đối thủ. Thôi thì đủ cả: Bẻ tay, bẻ chân, khóa cổ, giật cùi chỏ, lên đầu gối, móc mắt, vặn tóc... Và lại muốn học bài bản củng không thể vì không gian chuồng cọp quá hẹp không thể đi quyền hoặc tung những đòn cước liên hoàn. Thực ra tôi học đánh lộn cho qua thời gian, vận động thân thể là chính.
Phần tôi, tôi củng dạy anh em học văn hóa: tiếng Pháp, tiếng Anh tuỳ người muốn học; nếu không, tôi đọc truyện Kiều, kể chuyện võ hiệp, qua đó phân tích cho anh em nghe cái hay cái đẹp của văn chương; những hành động trọng nghĩa khinh tài, đối xử phải đạo của giới võ lâm. Được cái trí nhớ tôi cũng khá tốt, tôi kể tương đối hấp dẫn nên anh em rất thích nghe. Vả lại trong tù vốn chẳng có gì để giải trí nên kể chuyện dài nhiều tập được coi là một thú tiêu khiển “giết thời gian” mà ai nấy đều thích và gọi là “quay phim”.
Tôi còn nhớ những bộ truyện dài như Tam Quốc Diễn Nghĩa, Thuỷ Hử, nhất là các tập võ hiệp của Kim Dung như Cô gái Đồ Long, Anh hùng xạ điêu, Thần điêu đại hiệp, Tiếu ngạo giang hồ, Lục mạch thần kiếm, Lộc đỉnh ký... tôi đều phải kể trên dưới một tháng mới xong. Mà thời gian kể mỗi ngày hầu như cố định: Sau khi đóng cửa phòng biệt giam buổi tối túc 6h, đến khi giới nghiêm lúc 9h.
Cứ sau khi ăn cơm chiều xong được một lát, các phòng biệt giam bị khóa hết, tôi nằm ngửa, vận “nội công” vào ngực, bắt đầu “quay phim” - nếu không, các phòng gần đó thế nào cüng nhắc nhở, thúc giục cho bằng được.
Thực ra, không cần nhớ nguyên văn 100% câu chuyện, chỉ cần trên 50% là được rồi. Tả tình, tả cảnh, tả người tôi tha hồ thêm thắt, thêm mắm dậm muối, thậm chí... bịa đại. Các thế võ cũng vậy: Đố ai phân biệt được Võ Tòng đã “Ngọc hoàn bộ uyên ương cước”, “liên hoàn tam cước” hay “kim kê độc lập cước” khi nghe kể: “Võ Tòng nhảy vọt lên, vung hai chân liên tục vun vút tung đòn chân nọ chưa kịp thu về, chân kia đã đá ra, chỉ nghe tiếng gió rít lên cũng đủ biết công lực mạnh biết chừng nào, tốc độ đã nhanh biết chừng nào và trước khi Võ Tòng hạ thân mình xuống đất trở lại, đã đá tổng cộng chân phải 7 cước, còn chân trái 6 cước”. Và họa có trời mới kiểm chứng nổi có đúng là Trương Vô Kỵ sử dụng thế võ phi thân đẹp mặt chân truyền của phái Võ Đang “thế vân tung” hay đã biến thành “vân long tam hiện” khi nghe lời kể: “Vô Kỵ lập tức dậm chân, thân hình bay bổng, lộn ba vòng trên không trông không khác nào con rồng bay trong đám mây ẩn ẩn hiện hiện, thân pháp linh ảo khiến ai nấy đều lắc đầu lè lưỡi khâm phục, đến nỗi có người lè lưỡi quá dài, hai ngày sau mới rụt vô lại được”.
Có khi nghe bịa đại vậy rồi tưởng tượng ra còn sướng hơn cả đọc sách, nhất là khi ngồi một mình giữa bốn bức tường trong biệt giam chuồng cọp.
Giữa giờ, tôi tự cho mình được quyền “nghỉ giải lao” tuỳ ý, khi nào cảm thấy mệt, thường là lúc câu chuyện đang hấp dẫn. Thế là anh em tù nhân nào có quà do người nhà gởi thăm nuôi đều nhờ số tù trật tự (không bị giam vô biệt giam mà tự do đi lại phía bên trong trại) mang qua “bồi dưỡng” cho tôi. Số tù trật tự này cũng rất khoái nghe tôi kể chuyện.
Tôi còn nhớ, sau khi kể xong Lộc đỉnh ký, tôi bỏ ra nguyên một buổi tối phân tích nhân vật chính Vi Tiểu Bảo. Vì thính giả hầu hết là dân chơi, tôi nhấn mạnh đến khía cạnh nghĩa khí giang hồ của gã họ Vi: Làm gì thì làm, lừa đảo ai thì lừa đảo, nhưng một khi đã kết nghĩa anh em (chớ chưa nói đến đã nhận làm sư phụ như Trần Cận Nam; Cửu Nạn sư thái hay vua Khang Hy) thì không bao giờ tráo trở; lại hết lòng cứu giúp chẳng hạn đối với Tang Kết (dù chỉ là kết nghĩa bất đắc dĩ) hay Dương Dật Chi; và hễ đã hứa là lấy chữ tín làm đầu, không hề lật lọng bao giờ. Thêm làm gì thì làm, gã họ Vi luôn “chơi đẹp” với bất cứ ai.
Chính nhờ kể chuyện, học và tự học, anh em giang hồ trở nên thân quen, có cảm tình với tôi. Tôi nhớ khi tôi chẳng may bị liệt chân, một tay du đãng tại khu C là Hùng Be chuyên cõng tôi ra tắm nắng.
Cũng chính nhờ vậy, thời gian dường như trôi qua nhanh hơn đối với anh em tù nói chung, với anh em bị nhốt trong chuồng cọp nói riêng.
Do khu C chủ yếu nhốt tù hình sự, nên mọi tin tức về tình hình chính trị bên ngoài, nếu anh em tù chính trị ở các khu khác có nắm được, cũng ít khi thông báo tới đây. Và lại, đường dây liên lạc của anh em tù chính trị cũng rất khó thâm nhập khu C. Vì vậy, đêm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, toàn bộ phạm nhân ở Côn Đảo có một cuộc sống khác, cũng là một đêm đáng nhớ…
Còn nữa
Nguồn: Vũ Quang Hùng (Xa lộ pháp luật) Minh Phương

Giang hồ Sài Gòn (Kỳ 9): Tướng cướp trốn trại, còng tay cảnh sát vô thành giường

06/06/2014 16:05

Tôi ở tù chung với Điền Khắc Kim tại chuồng cọp khu C trại 7, Côn Đảo, một thời gian ngắn khoảng đầu đầu năm 1974.

“May hơn khôn”
Tôi bị giam ở khu C đâu khoảng vài tháng thì Điền Khắc Kim mới từ đất liền ra đảo. Dĩ nhiên Kim lập tức được tống vào khu C.
Tôi nhớ đi chung với Kim khi ấy có một số tay tù thường phạm sừng sỏ khác, mà nổi cộm hơn cả là Biện Thành Huệ và Năm Lương. Huệ được gọi “Huệ Râu” đầu gấu khu Chi Lăng (quanh sân bay Tân Sơn Nhất), nổi đình đám nhờ dám bắn chết quân cảnh Mỹ; còn Năm Lương thường gọi “Lương già” là một trong các quân sư của Đại Cathay. Số này đều được đặc cách, người một phòng, kể cả Điền Khắc Kim. Tình cờ, phòng giam bọn họ gần ngay phòng giam tôi nên mỗi khi tôi, “quay phim” tất cả đều nghe được và tỏ ra thích thú.
Tất nhiên, chỉ giờ tắm nắng tôi mới gặp Kim. Thấy hầu hết tù hình sự thường phạm gọi tôi bằng anh; xưng em; hắn hỏi tuổi tôi, và khi biết tôi lớn hơn hắn đến 4 tuổi, Kim gọi anh xưng em. Tôi còn nhớ Kim dáng người tầm thước, chỉ ngang cỡ tôi (1,63m), ốm nhách, da ngăm đen tai tái, cặp lông mày rậm và hơi xếch.
Kim có óc tưởng tượng khá phong phú. Tới nhớ có một lần, đổ thùng cầu, tắm giặt xong, hắn khoác tay tôi đi qua đi lại cho giãn gân cốt, nói đủ thứ chuyện. Bỗng hắn bảo: “Anh có biết lúc này em ước gì không?”. Tất nhiên tôi không biết, Kim tiếp: “Em ước gì trời tự nhiên thiệt lạnh, biển đóng thành nước đá, anh em mình cứ thế chạy riết một hơi về đất liền”. Có hôm, đang đi  dạo, Kim dừng lại, bảo tôi: “Em chỉ cho anh coi cái này, thằng Thiệu (tổng thống miền Nam khi ấy) cũng chưa được coi bao giờ”,” vừa nói vừa kéo lưng quần chỉ cho tôi xem vết thẹo còn đỏ hỏn ngay phía dưới rún. Kim kể tôi nghe: “Đây là vết thẹo em bị bắn khi bị vây bắt bên Quận 4, trúng đạn bị thương khá nặng mà vẫn trốn thoát, không bị bắt”.
Và theo lời hắn, nào có chỉ là huyền thoại, tài ba gì ghê gớm, chẳng qua nhờ ăn may: “Em núp ngay sau gốc cây, thấy bọn cảnh sát tìm kiếm ở đâu đâu mà tức cười. Chắc chúng tưởng em phải bỏ chạy và đã chạy xa rồi. Đúng ra em cũng phải làm vậy, nhưng ngặt vết thương nặng quá nên không thể bỏ chạy nổi, ai dè thành hên”. Kim còn nói thêm, lúc bị bắt trở lại, hắn khai thiệt núp ngay sau gốc cây, bọn cảnh sát không tin; vả lại, nếu đúng vậy, hóa ra cảnh sát biến thành một lũ ngốc, thế nào cũng bị cấp trên rủa cho te tua, nên buộc hắn phải “phịa” chuyện nhảy xuống kênh chạy trốn. Chứ theo Kim “Anh nghĩ thử xem, vết thương như vầy sao em dám nhảy xuống kênh quận 4, dơ hết cỡ, thế nào chẳng nhiễm trùng; và làm sao lội nước nổi, bơi nổi với mớ ruột lòi cả ra ngoài?”.
Cũng vậy, Kim kể tôi nghe tiếp về vụ hắn trốn thoát khi bị bắt, lúc được đưa qua bệnh viện Sài Gòn để trị bệnh. Biết Kim là tên tù có biệt tài vượt ngục, cảnh sát phái một nhân viên theo canh giữ 24/24, mặc dù Kim đã bị còng một tay vào thành giường. Ấy thế mà ban đêm, Kim không những trốn thoát, mà còn còng tay tên cảnh sát vô thành giường thay cho mình. Chính qua vụ này, báo chí lúc ấy thổi phồng Kim quá đáng, coi như hắn có tài xuất quỉ nhập thần.
Thật ra, chẳng phải quỉ thần gì, bởi theo lời Kim kể: “Bị còng tay vô thành giường, em buồn chán, cả ngày nằm ngủ. Ngủ suốt ngày khiến ban đêm không ngủ nổi nữa, hai mắt cứ thao láo. Ngược lại, gã cảnh sát canh chừng em đương nhiên phải thức cả ngày, nên khoảng nửa khuya hắn gục xuống ngủ say như chết. Thấy thời cơ đã đến, cái thứ còng răng ai đã bị qua rồi thì lạ gì: Chịu khó bóp hết răng còng - em ốm nhách, cỡ tay nhỏ nên ráng chịu đau chút xíu là xong - lấy bất cứ thứ gì, thường là cọng chiếu, cài ngang là kéo ra cái rột. Thoát còng, em đã định chuồn êm, nhưng thấy gã cảnh sát ngủ vùi chợt nảy ý nghĩ vui vui, lấy còng còng tay hắn vô thành giường trước khi chuồn...”.
Có lần, cũng trong giờ tắm nắng, vui miệng tôi hỏi Kim trong những lần “làm án” có kỷ niệm nào “để đời” hay không. Kim không do dự: “Có đấy. Một lần nửa đêm về sáng, em “đột vòm”, lọt vô một căn nhà ở Cư xá Đô thành. Thông thường, việc làm đầu tiên của em khi vô nhà là mở sẵn cửa chính, khép hờ, đề phòng khi bị phát hiện vọt cho lẹ. Nhà có chiếc xe gắn máy mới tinh, thấy bắt thèm. Em lục túi quần áo của tay chủ nhà treo trên móc áo kiếm tiền. Ai dè trong túi ngoài tiền bạc, giấy tuỳ thân của chủ nhà lại còn có đầy đủ giấy tờ xe và luôn cả chìa khóa. Vậy là em chỉ việc mở cửa, dắt xe, ung dung lên xe dông tuốt, chưa khi nào ăn hàng ngon bằng bữa ấy!”.
Tuy vậy, Điền Khắc Kim không được những tay giang hồ cộm cán mấy nể trọng. Những tay giang hồ này chê Kim không dám đâm chém, dưới trướng lại không có đệ tử, nên gọi hắn là “tướng cướp cô độc”.
Trong thời gian ở chung khu C trại 7 với tôi, tôi để ý thấy các đàn anh Huệ Râu, Lương già cũng chỉ đối xử với Kim như đàn em, và Kim đối với những tay này cũng không hé dám tỏ ra “trên cơ”, thậm chí ngang cơ bao giờ.
Cả bọn trật tự coi khu, tuy phần nào nể Kim, nhưng rõ ràng chỉ coi hắn thuộc loại có số má, nhưng chưa phải đại ca gì ghê gớm lắm (như đối xử với cỡ Huệ Râu, và sau này là Lâm Chín ngón, Tuấn Đả, Khương đại). Tiếc rằng thời gian Kim ở Côn Đảo không bao lâu, vì chỉ khoảng trên dưới một tháng sau hắn lại được đưa về đất liền để điều tra về một vụ án khác. Về sau nghe nói ở Côn Đảo về, Kim bị nhốt ở Vị Thanh, và đã vượt ngục tại đây.
giang-ho-sai-gon-61
Tướng cướp Điền Khắc Kim
Đêm 30/4/1975 tại khu C
Những ngày cuối tháng 4/1975, nằm trong khu C, chúng tôi vẫn chưa hay biết một chút nào về tình hình chiến sự bên ngoài.
Chúng tôi chỉ ghi nhận hai điều là: Thứ nhất là cả bọn trật tự khu, kể luôn Sang lai, cũng đều bị cấm ra khỏi khu C (trước giờ chúng thường được đặc cách cho ra khỏi khu, khỏi trại - trừ ban đêm - để dạo phố Côn Đảo, mua đồ ăn thức uống, thăm bạn bè...). Sau này tôi mới đoán chừng có lẽ bọn giám thị sợ số trật tự nắm được tình hình bất lợi cho bọn chúng sẽ nói lại với anh em tù chính trị. Thứ hai, tuy nằm trong trại biệt giam nhưng vẫn nghe tiếng máy bay gầm rú, hình như lên xuống liên tục tại sân bay Côn Đảo. Mãi đến sau ngày giải phóng, tôi mới nghe kể lại, vào ngày 28 hoặc 29/4 gì đó, trong số máy bay lên xuống có một trực thăng từ đất liền bay ra, thả xuống ngay giữa thị trấn Côn Đảo mảnh vải lớn có hàng chữ ghi nội dung vắn tắt Sài Gòn đã thất thủ, mạnh ai nên tự tìm đường nấy trốn.
Khoảng tám giờ tối 30/4/1975, chúng tôi nghe văng vẳng hình như bên phía mấy khu khác của trại 7 có tiếng thông báo, nhưng tiếng được tiếng mất. Lúc ấy chân phải tôi bị liệt, đi lại rất khó khăn, nên người bạn bàn với tôi, tôi ráng đứng trụ để anh leo lên vai tôi, hóng tai ra ngoài nghe thử (như đã mô tả, phía sau mỗi chuồng cọp đều có khoảng trống nhỏ thông hơi với nhiều song sắt. Tù nhân thường đòng đòng nhau cố đưa miệng qua khoảng trống này để thông báo tình hình cho nhau). Tuy nhiên anh bạn dù dỏng tai cố nghe, vẫn tiếng được tiếng mất không rõ anh em nói những gì.
Bọn tù thường phạm bị những tiếng nói vang vang kia quấy phá, cộng thêm nỗi bực tức vì bị nhốt cả tuần nay khiến chúng lớn tiếng chửi thề và hăm dọa. Tôi không tiện ghi hết những lời thô tục của bọn chúng, chỉ xin nói đại khái: “Câm họng cho ông ngủ”, “Ngày mai ông sẽ cho biết tay”, “Bộ chúng mày hết muốn sống rồi hay sao”... Những tiếng chửi thề và lời lẽ hung hăng của chúng chứng tỏ quả thật chúng không hay biết gì về những diễn biến của thời cuộc bên ngoài. Tất cả những sự ồn ào, nhộn nhạo này khiến chúng tôi không thể nào nhắm mắt nổi. Anh bạn và tôi suy đoán đủ thứ, nhưng không hề nghĩ rằng miền Nam đã hoàn toàn được giải phóng vào lúc ấy.
Đến khoảng quá nửa đêm, những tiếng ồn ào ngày càng vang lên từ xa xa, mơ hồ hình như có tiếng la “Giải phóng rồi! Giải phóng rồi!”. Anh bạn và tôi còn đang bán tín bán nghi thì tiếng ồn ào càng lúc càng lại gần, càng rõ hơn. Rồi, chúng tôi không dám tin ở tai mình, và ngay cả mắt mình nữa: Tiếng loảng xoảng mở cửa khu C, rất nhiều người ùa vào. Có tiếng ai đó hỏi: “Anh em tù chính trị ở phòng nào?”. Chúng tôi vừa lên tiếng đã thấy khóa phòng mở toang...
Từ đó cho đến tận mấy ngày sau, tôi như sống trong giấc mơ. Mọi diễn biến quá nhanh khiến tôi không kịp suy nghĩ, trí óc cứ bồng bềnh, phiêu lãng tận đâu đâu. Tôi chỉ còn nhớ lập tức tôi được dìu ra bệnh xá, thuốc men, ăn uống chăm sóc tối đa. Trong khi những anh em tù chính trị mới được thả ra tung tăng đi lại khắp Côn Đảo, dự mít tinh, giữ trật tự, bắt bọn giám thị tống vô trại giam... thì tôi nằm bẹp một chỗ, những anh em quen biết tới thăm hỏi, quà cáp liên tục.
Tôi còn nhớ rõ, vừa khi ấy Côn Đảo hình như bắt được một tàu đánh cá hay sao đó, đem lên không biết bao nhiêu cá ngừ và cá thu mang nướng, rồi bắt được vích (rùa biển) nấu cà-ri, giết heo, mổ bò, thức ăn dồi dào không cách nào ăn hết, ăn cho bõ những ngày chỉ toàn cá khô mục đắng nghét hoặc mắm kho lõng bõng nước. Đã thế, số anh em nằm bệnh xá còn được chăm sóc đặc biệt bằng cách làm thịt một chú cẩu gọi là để “bồi dưỡng”.
Nằm chữa và dưỡng bệnh, tôi nghe kể vô số chuyện thú vị về Côn Đảo những ngày đầu giải phóng. Nào giám thị trưởng Nguyễn Văn Thà tức Ba Thà bắn súng vào đầu tự sát ngay tại nhà riêng. Nào Chín Khương, trưởng ban chuyên môn tại Côn Đảo (ban giám thị chuyên theo dõi, đàn áp và đánh đập tù chính trị), dùng thuyền nhỏ chạy tuốt ra hòn Bãi Cạnh nhưng bị anh em đuổi theo bắt được, nhốt vô chuồng cọp (đúng là ác giả ác báo)... Rồi chuyện bọn địch có chỉ thị ném vô mỗi chuồng cọp một trái lựu đạn để tiêu diệt hết anh em, nhưng nhờcha xứ nhà thờ Côn Đảo, một đại úy địa phương quân quân đội Sài Gòn, và một giám thị tốt bụng nên âm mưu độc ác này đã không thể thực hiện...
Riêng số tù hình sự ở chung khu C trại 7 với tôi, tôi bẵng đi quên không hỏi đến và cũng không nghe ai nói đến. Thực ra, vào thời điểm lịch sử như vậy, nào ai để ý tới chuyện lặt vặt của mấy anh chàng du đãng đang bị nhốt?
Bản thân tôi, như đã nói, như sống trong giấc mơ cho đến ngày có hai chiếc tàu của hải quân cập bến Côn Đảo để chở tù chính trị về đất liền. Sức chứa mỗi tàu chỉ khoảng 150 người, mà tù chính trị tại Côn Đảo lên tới hơn 5.000 người thì làm sao chở hết. Cho nên, trên hai chuyến tàu đầu tiên rời đảo chỉ ưu tiên cho những anh chị em bệnh tật, già yếu, trong đó có tôi.
Tàu thả neo tại Vũng Tàu, ngay bên cảng Rạch Dừa, xe hơi đón anh chị em về Sài Gòn. Nhưng khi mới giải phóng, cầu Cỏ May bị đánh sập chưa sửa kịp nên phải “tăng bo” qua khúc sông này. Vì vậy, số ít anh chị em do bệnh quá nặng hoặc đi lại khó khăn được đưa vô bệnh viện Vũng Tàu điều trị, chờ thuyên giảm mới về Sài Gòn sau. Số này chỉ đâu khoảng hơn 20 người, và do đó tôi tiếp tục vô nằm bệnh viện Vũng Tàu.
Số phận của tù nhân du đãng trong chuồng cọp
Mãi sau này, gặp lại Huế Râu, Hùng Be tại TP.HCM, tôi mới nghe kể lại tình hình của khu C ngay sau ngày giải phóng.
Tù chính trị trong khu C được thả ra, còn số tù hình sự đươngnhiên vẫn bị nhốt trong chuồng cọp. Mọi sinh hoạt của số tù nhân này vẫn diễn ra bình thường, có điều ngay qua ngày hôm sau, anh em tù hình sự mà cầm đầu là các “đại ca” bắt Sang lai trả món nợ máu. Họ hoà một chén gồm phân và nước tiểu, bắt Sang lai quì xuống, ra điều kiện: Hoặc hắn phải uống hết chén nước rất mất vệ sinh đó, hoặc chịu bề hội đồng (nghĩa là xúm nhau đánh cho thừa sống thiếu chết). Sang lai hết khóc lóc lại lạy như tế sao van xin tha tội, nhưng cuối cùng không còn cách nào khác đánh ục một hơi hỗn hợp trong chén.
Rồi có lẽ do anh em tù chính trị quá lo “đại sự”, chỉ đối phó với bọn giám thị trại giam và vô số công việc hành chánh khác mà quên phắt số tù hình sự này và mặc kệ bọn họ muốn làm gì thì làm. Vậy là bọn họ chia thành hai “trường phái”: Một cứ mặc kệ, sống tà tà chờ mọi chuyện tới đâu thì tới. Huế Râu, Lâm Chín ngón thuộc nhóm này. Một nhân cơ hội tranh tối tranh sáng rủ nhau phá kho tang vật, cướp bóc đồ đạc, lên núi tìm cách kết bè trốn về đất liền. Tuấn Đả, Khương Đại, Hải Méo cầm đầu nhóm này.
Kết quả nhóm thứ hai phá được kho tang vật, lấy đi khá nhiều tiền bạc, đồng hồ, nữ trang... mà tù nhân buộc phải ký gởi tại kho một khi vừa bước chân lên Côn Đảo. Cướp được đồ, bọn chúng hí hửng trốn vào rừng núi Côn Đảo. Nhưng Côn Đảo vốn hẹp, chỗ đâu mà trốn? Lại nữa vô núi đào đâu ra thực phẩm, nước uống? Đóng thuyền kết bè nào phải ngày một ngày hai? Chẳng mấy lúc, bọn chúng lần lượt bị bắt sạch không còn một mống. Và theo chế độ quân quản khi ấy, tất cả bọn chúng đều bị mang ra xử bắn. Nhóm thứ nhất gần như sau đó đều được xét thả tự do.
Mãi tới bây giờ, thỉnh thoảng trong những giấc mơ tôi vẫn thấy mình bồng bềnh nằm trong chuồng cọp khu C trại 7 Côn Đảo cùng sống chung với số tù hình sự, có lẽ do những hình ảnh này đã ăn sâu vào tiềm thức, chiếm một vị trí nhất định nào đó trong bộ nhớ của tôi, không có cách nào xóa sạch.
Còn nữa
Nguồn: Vũ Quang Hùng (Xa lộ pháp luật) Minh Phương

Giang hồ sài gòn (Kỳ 10): Mối thù giữa Năm Cam và Lâm Chín ngón

10/06/2014 09:05

Báo chí đã đăng nhiều bài nói về mối thù giữa hai tay giang hồ cộm cán này. Theo đó, Lâm Chín ngón luôn tỏ vẻ “khi dễ” Năm Cam...

Báo chí đã đăng nhiều bài nói về mối thù giữa hai tay giang hồ cộm cán này. Theo đó, Lâm Chín ngón luôn tỏ vẻ “khi dễ” Năm Cam vì tên này khi xưa là đàn em “dưới cơ” Lâm xa lắc, nay chẳng qua gặp thời thế phất lên mà lại được lắm kẻ a dua theo bợ đỡ; còn Năm Cam bực bởi Lâm dám cả gan không chịu phục tùng mình như bao dân chơi khác, lại ngông nghênh có những lời nói xúc phạm đến “ông trùm” xã hội đen; đã vậy đến cả vợ của Lâm cũng coi Năm Cam không ra gì thì thật là quá quắt.
Rốt cuộc Năm Cam sai đệ tử trừng phạt Lâm Chín ngón bằng cách tạt a-xit vào ngay mắt đối thủ khiến Lâm gần như bị mù. Tất cả những thông tin trên đều không sai, tuy nhiên có một điều vẫn chưa được làm rõ: Mối thù này đã bắt đầu từ thời gian nào?
Tôi quen Năm Cam
Đúng hơn là Năm Cam làm quen với tôi, qua sự quen biết giữa con út của Năm Cam - Trương Hiền Vũ - và con trai tôi, cũng tên Vũ, Lê Vũ. Số là cả hai Vũ (để phân biệt, võ đường kêu con Năm Cam là Vũ lớn và con tôi là Vũ nhỏ do nhỏ tuổi hơn nhiều) đều cũng theo học một lớp tại võ đường Taekwondo quận 3 vào cuối những năm 1980, khi ấy do anh Trương Văn Hai (thường gọi thân mật là Hai Lùn), ngũ đẳng huyền đai dạy. Anh Hai Lùn từng làm đội trưởng đội bảo vệ cho tổng thống Thiệu.
nam-cam-giang-ho-sai-gon
Năm Cam
Nhân một lần kỷ niệm sinh nhật con trai tôi, vào cuối những năm 1980, tôi cho phép cháu mời một số bạn quen lại nhà dự một bữa ăn thân mật nho nhỏ. Bạn bè cháu mời không tới 20 người, gồm hai lứa bạn: Học chung lớp văn hoá và học chung lớp Taekwondo. Do bữa ăn chỉ nhắm mời bạn của cháu, nên hễ cháu nào được người lớn chở tới nhà, tôi chỉ mời người nhà uống nước và hẹn hai giờ sau lại rước cháu; hơn nữa, nhà tôi khi ấy ở tại một căn hộ thuộc chung cư Nguyễn Kim vốn chật chội nên cũng không thể đủ chỗ đón khách.
Chiều hôm ấy đích thân Năm Cam chở con tới nhà tôi, mang theo quà mừng sinh nhật (mà lâu quá tôi không còn nhớ). Tôi cũng lịch sự mời Năm Cam ngồi uống ly nước và Năm Cam ngồi chơi không lâu, nhưng từ đó có sự quen biết. Hỏi qua tuổi tác, thấy thua tôi ít tuổi, lại nữa qua câu chuyện, biết tôi từng ở tù Chí Hoà, Côn Đảo chung với nhiều dân chơi du đãng lừng danh hồi trước như Đại Cathay, Huệ Râu, Điền Khắc Kim, Tuấn Đả, Nam Lương, Lâm Chín ngón… Năm Cam gọi tôi bằng anh.
Một thời gian ngắn sau, gặp nhau lại tại võ đường Taekwondo Hồ Xuân Hương, trong khi chờ đón con, Năm Cam nói với tôi có vẻ rất thân tình:
- Em thấy anh ngày nào cũng chở cháu đi đi về về, vừa mất thời gian vừa cực. Em có mấy đứa đệ tử đưa rước thằng Vũ lớn con em, đằng nào cũng tốn công, hay để em nói tụi nó chở cháu Vũ con anh luôn cho tiện.
Đúng là tôi chở con đi học võ cực thiệt, nhất là gặp khi mưa gió hoặc bận việc này nọ, nhưng cực vì con cũng có cái vui của nó, và lại nhờ ai chớ nhờ Năm Cam thì tôi chả dại, nên tôi cám ơn Năm Cam và dứt khoát không nhận lời.
Mãi nhiều năm sau này, khi con tôi thi xong đai đen, Năm Cam không dưới một lần bảo tôi: “Cháu có việc gì làm chưa, nếu không, anh cứ để em kiếm việc cho cháu, cháu có thể vừa đi học vừa đi làm thêm, bảo đảm đủ sống”.
Tuy lúc ấy không biết rành về các việc làm của Năm Cam, nhưng tôi cũng nghe loáng thoáng, nên lần nào Năm Cam ngỏ lời tôi cũng đều từ chối. Có lẽ thấy tôi tuy vẫn tiếp chuyện lịch sự nhưng không mặn mà gì với bất kỳ đề nghị giúp đỡ nào, nên Năm Cam đối với tôi không thân thêm, mà cũng không xa lánh thêm, cho mãi đến khi xảy ra một việc…
Lâm Chín ngón “phá ngang” Năm Cam
Một hôm, Lâm Chín ngón hỏi tôi:
- Anh hay viết bài điều tra phải không?
Thì đúng thể loại báo chí tôi ưa thích, nên tôi đáp:
- Cũng thỉnh thoảng. Có gì không Lâm?
- Có. Chuyện hay lắm.
Đụng đến “máu nghề nghiệp”, tôi không nén nổi tò mò:
- Chuyện gì mà ghê vậy, Lâm cứ nói.
moi-thu-nam-cam-lam-chin-ngon-4
Lâm “chín ngón” thời trẻ.
Quả thực, hiếm khi một người “ruột để ngoài da”, có gì cứ huỵch toẹt mà lại cứ kể úp úp mở mở như lần ấy. Lâm Chín ngón rào đón:
- Chuyện lớn lắm, về một sòng bạc, nói ra rất dễ đụng chạm, nhưng nếu anh không thể trực tiếp thì thôi, không thể giao cho bất cứ người nào khác.
Tôi thật tình bảo:
- Cũng tuỳ chuyện. Toà soạn đông anh chị em phóng viên viết điều tra lắm. Nếu bận việc, tôi để anh em khác đi điều tra là chuyện thường tình. Nhiều anh chị em giỏi hơn tôi nhiều.
Lâm Chín ngón lắc đầu, kiên quyết:
- Việc nào em không biết. Nhưng việc này dứt khoát chỉ hoặc là anh, hoặc bỏ qua. Chuyện em kể là hoàn toàn đúng sự thật một trăm phần trăm. Nhưng em biết anh cái gì cũng đòi mắt thấy tai nghe mới viết, nên nếu anh đồng ý, em sẽ dẫn anh đi vô tận sòng bạc, anh ngồi chơi ít ván cho biết và nắm tư liệu cụ thể.
Tôi gật đầu, lựa:
- Biết rồi, dù chưa biết là chuyện gì, tôi vẫn tin Lâm như từ hồi nào đến giờ. Nếu việc Lâm kể, vì bất cứ lý do gì khiến tôi không thể trực tiếp điều tra, thì coi như… huề. Rồi, giờ kể được chưa?
Đến nước này mà Lâm Chín ngón còn đưa tay ra ngoéo tay tôi để làm bằng trước khi “vô đề”:
Sòng bạc này nằm ở quận 4. Sòng bạc lớn lắm. Em bảo đảm với anh lớn nhất TP.HCM nếu không nói là lớn nhất Việt Nam. Quy mô hơn cả những sòng bạc em biết hồi trào trước giải phóng. Ăn thua mỗi ván lên đến bạc triệu. Đủ thứ bài bạc; xóc đĩa, xí ngầu. Đổi tiền; cầm đồ tại chỗ. Bảo vệ từ vòng ngoài đến vòng trong. Dân bảo vệ toàn thứ dữ. Khách vô chơi bắt buộc phải là dân quen và đã được tuyển nếu không có người quen giới thiệu. Có rất nhiều lối thoát hiểm an toàn khi bị báo động; nhưng việc này chưa bảo giờ xảy ra. Chắc chắn đây là một tư liệu hết sức độc đáo để anh viết báo.
Tôi hỏi:
- Như vậy làm sao tôi vô sòng bạc ấy được? Tiền đâu mà chơi bài?
Lâm gật gù:
- Vì vậy em mới dẫn anh đi. Anh không có tiền thì em đưa cho anh. Có em là khách quen sẽ không ai dám khó dễ gì anh cả; đồng thời em cũng bảo vệ cho anh luôn. Em cũng tính rồi, nếu anh đồng ý, em bố trí thêm vài thằng đệ tử thân tín nữa ngầm bảo vệ, ở sẵn trong sòng bài. Nếu rủi có chuyện gì anh cứ yên tâm…
Ông tướng thứ 13
Trước khi kể tiếp về sòng bạc ở quận 4, tôi xin quay ngược dòng thời gian chút đỉnh để nói qua mối quen biết giữa tôi với Lâm Chín ngón.
Do tại Côn Đảo tôi bị nhốt chung với anh em dân giang hồ thứ dữ tại chuồng cọp khu C trại 7 suốt hai năm (từ khoảng giữa 1973 - 30/4/1975) nên quen biết, và hơn nữa, chơi khá thân với tất cả những anh em này.
Lâm Chín ngón bị đày ra Côn Đảo khoảng đầu tháng 4/1975, tất nhiên được đưa ngay vào khu C trại 1, nhốt một mình một phòng. Thời gian này tôi mới ở bệnh xá về, chân phải vẫn còn bị liệt nên ngay cả giờ tắm nắng cũng ít đi lại, phải nói thực mới loáng thoáng biết có Lâm, chớ chưa thể gọi là quen Lâm.
Tiếp đó là giải phóng 30/4, tôi khi đó đang bị liệt một chân nên được lên chuyển tàu đầu tiên về đất liền. Lâm Chín ngón do án quá nặng (hai án chung thân về tội giết Vũ Định Cường, em Sơn Đảo; và Hoàng Đầu lâu) nên không được tha về hoặc lưu lại Côn Đảo như tất cả các tù thường phạm khác, mà tiếp tục chuyển về trại giam tại đất liền, mãi đến năm 1988 mới được tha về. Tha về chưa được bao lâu Lâm Chín ngón đã hỏi thăm, tìm tới thăm tôi, kể cho tôi nghe suốt hơn mười năm qua anh ta đã sống ra sao.
Nhắc lại thời gian ở chuồng cọp Côn Đảo, Lâm bùi ngùi kể số phận không may của những “dân chơi” cũ.
Biết tôi quen Đại Cathay hồi ở tù năm 1966 tại khu ED, Chí Hoà; hỏi tuổi, Lâm thua tôi một tuổi nên gọi tôi là anh, xưng em - và kể từ đó, Lâm luôn giới thiệu với mọi người (từ dân chơi đến gia đình, người quen) tôi là “anh kết nghĩa” của Lâm.
Trong câu chuyện kể, tôi nhớ nhất chi tiết Lâm Chín ngón bị đưa vô trại học tập cải tạo với 13 ông tướng chế độ Sài Gòn bị nhốt trong trại, đó là 12 người đeo quân hàm tướng thật sự, và ông tướng thứ 13 là tướng cướp, tức Lâm Chín ngón.
Tôi cũng chỉ biết an ủi Lâm, khuyên anh ta nên cố sống đàng hoàng.
Sòng bạc quận 4
Giờ xin trở lại với sòng bạc tại quận 4. Nghe qua lời Lâm giới thiệu về sòng bạc, tôi bán tín bán nghi. Không lẽ một sòng bạc lớn tới cỡ đó mà không cơ quan chức năng nào hay biết, nhất là chính quyền cơ sở và công an phường, cảnh sát khu vực. Nhưng quả thực Lâm Chín ngón nói dóc với ai thì tôi không rõ, chứ chưa khi nào anh ta nói dóc với tôi. Tôi nói thật ý nghĩ vừa thoáng qua của mình:
- Vậy chớ UBND và Công an phường, rồi Công an quận, chẳng lẽ không ai hay biết gì sao?
Lâm lắc đầu:
- Em không rõ, nhưng chắc là họ biết và có thể họ làm ngơ.
Tôi suy nghĩ rất nhanh, đánh giá nguồn tin, cân nhắc qua mọi tình huống, đáp:
- Ý tôi rất muốn đi cũng với Lâm. Nhưng chuyện này qua lớn, có thể vượt ngoài khả năng của tôi, nên Lâm cho tôi suy nghĩ dăm ba ngày, sẽ trả lời Lâm sau.
Lâm Chín ngón gật đầu:
- Em cũng nghĩ anh khó quyết đoán ngay được. Nhưng dù vì bất cứ lý do gì, anh cũng đừng nói với ai rằng em đã báo nguồn tin này. Ít hôm nữa em sẽ tới gặp lại anh.
Từ thâm tâm tôi qua thực rất muốn cùng Lâm Chín ngón mạo hiểm một chuyến, thâm nhập sòng bài để lấy tư liệu thực tế viết bài điều tra mà tôi tin rằng sẽ khá độc đáo. Nhưng tôi không thể tự mình mạo hiểm. Giả sử tôi có mặt tại sòng bài đúng lúc công an ập vô bắt quả tang, lại đúng khi tôi đang đặt tiền thì làm sao giải thích? Chưa kể tình huống xấu nhất, tôi bị những tay bảo vệ sòng bài phát hiện, tấn công; mà Lâm Chín ngón cũng như đám tay chân của anh ta không đủ sức chống cự giải vây cho tôi, thì liệu thân tôi sẽ ra sao?
Chỉ có cách tốt nhất là báo cáo lên lãnh đạo xin ý kiến, tuỳ trên quyết định, và tôi sẽ nghiêm chỉnh chấp hành quyết định ấy.
Tôi thủ trưởng trực tiếp, nghe tôi kể qua câu chuyện sòng bạc quận 4, hỏi:
- Nguy hiểm quá, nguy hiểm quá, mà ông tính xông vô đó thiệt hay sao?
Tôi cười:
- Có gì mà không thiệt. Sợ quái gì. Hồi trước bao nhiêu hiểm nguy còn chưa sợ, nay sợ gì một sòng bạc.
Cấp trên “khất”:
- Nhưng tình hình bây giờ khác. Tôi không dám can, mà cũng không muốn khuyến khích ông. Bây giờ như vậy, nói thiệt ông nghe tôi cũng không dám quyết chuyện này đâu. Ông ráng chờ ít hôm để tôi phải xin ý kiến cấp trên mới được. Anh em mình quyết với nhau, rủi ông có chuyện gì bắt trắc, làm sao tôi trả lời?
Trong khi ấy Lâm Chín ngón tỏ ra rất nôn nóng. Mới hai ngày sau anh ta đã tới gặp tôi, thúc giục:
- Sao, anh đã xin ý kiến xong chưa?
Tôi nói thật với Lâm là tôi đã báo cáo cấp trên, và còn phải báo cáo lên cấp cao hơn nữa. Việc chờ dợi do đó có thể không phải ba ngày, mà phải lâu hơn.
Bất ngờ từ Năm Cam
Mấy ngày sau, cấp trên gọi tôi cho biết sòng bài đang được theo dõi, không nên viết bài đánh động.
Khi nghe tôi báo tin tôi không thể theo anh ta đến sòng bạc quận 4 để viết bài, Lâm thở ra, bảo:
- Em cũng đã đoán trước có thể anh mắc kẹt, nhưng vẫn có hy vọng. Ai dè Năm Cam quen biết lớn thật…
Tôi cố giải thích:
- Không hẳn vậy đâu, nhưng ở đời luôn có nhưng việc dù mình muốn mà không thể thực hiện, luôn có những việc mà mình không thể hiểu biết thấu đáo. Thôi Lâm ạ, cứ yên vui với cuộc sống của mình là được rồi, hơi đâu lo cho kẻ khác.
Những Lâm vẫn tỏ vẻ bực dọc:
- Anh nói vậy em nghe vậy. Những Năm Cam đâu có ra gì. Hồi nào nó tà lọt cho anh Đại, dưới cỡ em xa lắc, giờ chỉ nhờ khéo luồn lọt mà ngoi lên, bao nhiêu thằng theo nịnh. Phải chi nó có tài đã đành.
Thì ra Lâm Chín ngón ganh ghét Năm Cam nên muốn qua báo chí “chơi” Năm Cam - tôi chợt hiểu ra cốt lõi của vấn đề. Đó là vào quãng giữa năm 1992. Như vậy mối thù giữa Năm Cam và Lâm Chín ngón hẳn phải có từ trước đó nữa, đã lâu lắm rồi.
Tôi bất giác lạnh xương sống khi nghĩ nếu ngày ấy tôi cao hứng lên, theo Lâm Chín ngón vô sòng bạc tại quận 4 của Năm Cam, về viết bài, đang lên báo, thì nào ai mà biết được hậu quả sẽ ra sao!
Và, ai mà biết được, chuyện Lâm Chín ngón tâm sự với tôi về sòng bạc đã bằng cách nào đó lọt đến tại Năm Cam, chính vì vậy sau này Năm Cam tỏ ra lơ là với tôi và thêm lý do để hắn rắp tâm tạt axít Lâm nhằm trả thù, mối thù mà Năm Cam đã ấp ủ suốt hàng chục năm…
Còn nữa
Nguồn: Vũ Quang Hùng (Xa lộ pháp luật) Minh Phương

Giang hồ sài gòn (Kỳ 11): Bữa nhậu hy hữu

12/06/2014 15:24

Vừa nói Lâm vừa chìa tay đưa lại khẩu súng cho đối thủ, thêm: - “Chó lửa” của các anh đây. Thử sức cho vui vậy thôi, chớ tôi biết các anh nói giỡn...

Tôi quen Lâm Chín ngón đã lâu, viết về nhân vật này đã khá nhiều, nhưng chưa bao giờ viết về những ngày cuối đời của Lâm, cũng như cái chết của anh ta. Nay, trước hương hồn người đã mất, xin viết lại chuyện chưa bao giờ viết này. Và để bạn đọc nắm được toàn bộ nội dung, xin lược qua lại những gì tôi biết về tay giang hồ cộm cán nổi tiếng từ thập niên 1960 này.
Tôi quen biết Lâm Chín ngón
Tôi biết Lâm Chín ngón khi ở tù tại khu C, trại 7, Côn Đảo - thường gọi Chuồng cọp. Thời gian ở tù ngoài Côn Đảo (tôi bị án tù chung thân năm 1972, ra đảo đầu năm 1973), tuy tôi là tù chính trị nhưng lại bị nhốt chung một khu với tù hình sự.
Riêng Lâm ra đảo khoảng đầu tháng 4/1975, được đưa ngay vào khu C, một mình một phòng. Thời gian này tôi mới ở bệnh xá về, thêm bị liệt chân phải đi lại khó khăn nên chỉ loáng thoáng biết có Lâm, tiếp đó là giải phóng 30/4, nên chưa thể nói quen Lâm.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, nhiều tù thường phạm bị nhốt trong khu C lợi dụng những ngày đầu giải phóng, công tác canh gác tù nhân còn sơ hở, trốn ra khỏi trại, phá kho tang vật, lấy cắp nhiều món đồ có giá trị trong kho như đồng hồ, nữ trang, tiền mặt… và bị trừng trị hết sức nghiêm khắc. Lâm Chín ngón không nằm trong số này, nhưng do án quá nặng (hai án chung thân về tội giết Vũ Định Cường, em Sơn Đảo; và Hoàng Đầu lâu) nên không được tha về hoặc lưu lại Côn Đảo như tất cả các tù thường phạm khác, mà tiếp tục chuyển về trại giam tại đất liền, mãi đến năm 1988 mới được tha.
Tha về chưa được bảo lâu, qua số tù hình sự ở khu C trại 7 Côn Đảo trước đây, Lâm Chín ngón hỏi thăm, tìm tới tôi, kể cho tôi nghe suốt thời gian từ sau 30/4/1975 đến giờ anh ta đã sống ra sao. Nhắc lại thời gian ở chuồng cọp Côn Đảo, Lâm bùi ngùi kể số phận không may của những “dân chơi” cũ.
Nói ngay, người em kết nghĩa này chưa khi nào nói dối, qua mắt tôi, luôn trước sau như một xưng hô cung kính anh em. Ngay cả đối với bà xã tôi, Lâm cũng luôn hễ gặp là vòng tay chào hỏi, nói chuyện thường chắp hai tay, gọi chị xưng em hết sức đàng hoàng. Nghe Lâm kể quãng thời gian ngồi tù, tôi chỉ biết an ủi Lâm, khuyên anh ta từ nay nên cố sống lương thiện.
Còn có một câu chuyện bây giờ tôi mới kể khi Lâm ở trong trại đã lừa đánh cán bộ cải huấn…
Theo lời Lâm, có một cán bộ trong trại cải tạo không hiểu sao luôn tìm đủ mọi cách gây khó dễ cho Lâm khiến Lâm rắp tâm trả thù, nhưng phải đợi thời cơ.
Thời cơ đến khi một sáng sớm nọ, trước giờ vác cuốc lên đường trồng cây, cán bộ từ phía sau Lâm bước đến, mà ánh mặt trời in rõ bóng ông ta chiếu dài theo bước chân. Lâm đang vác cuốc thấy vậy liền sửa lại thế, hơi kéo cán cuốc đang vác trên vai về phía trước, theo dõi bóng đối thủ. Đợi “nạn nhân” đến đúng tầm, Lâm bất ngờ làm như sửa lại thế vác, xô mạnh nguyên lưỡi cuốc ra phía sau, đúng vào mặt người vừa bước đến, khiến ông ta ngã khuỵu, gãy một hơi mấy chiếc răng cửa.
Tất nhiên Lâm chịu kỷ luật, nhưng đó Lâm khai “tôi đâu ngoảnh đầu lại mà biết cán bộ đang đi tới, chỉ vô tình sửa lại thế vác cuốc” và tại hiện trường quả đúng như vậy, nên kỷ luật tương đối nhẹ.
Rồi Lâm Chín ngón kể tiếp từ ngày được tha, anh ta buôn bán thuốc tây ở khu đường 3 tháng 2, quận 10; cuộc sống chỉ tạm đủ vá víu qua ngày. Sau Lâm hùn với một tay đàn em cũ là Mười đen ra chợ Huỳnh Thúc Kháng buôn bán hàng điện tử (nghe đâu do Năm Cam giúp đỡ). Thấy Mười đen phò Năm Cam, và không muốn mang tiếng nhờ vả núp bóng đàn em, Lâm tách ra toan trở lại nghề bảo kê cho một số quầy bar quanh khu vực Tân Sơn Nhất. Có lẽ đây là quãng thời gian tuy ngắn ngủi nhưng lại có nhiều kỷ niệm đối với Lâm Chín ngón cũng như một số dân chơi khác. Nào mấy ai ngờ một “ông tướng” nay lại lại phải kiếm sống qua ngày. Nhưng thôi, cuộc đời ai chẳng có lúc lên voi xuống chó.
Và Lâm kể cho tôi nghe một kỷ niệm “nhớ đời” của anh ta trong quãng thời gian ngắn ngủi này…
giang-ho-sai-gon-lam-chin-ngon-1
Đại ca thứ thiệt
Một tối nọ, có bọn thanh niên lực lưỡng, mặt mày bặm trợn, chỉ cần liếc qua tướng tá, quần áo, cử chỉ cũng biết ngay là dân giang hồ không phải loại tầm thường vô quán đòi ngồi ở phòng riêng, kêu bọn em gái bia ôm hầu bàn. Ăn đã đời từ hơn 7h tối gần 11h đêm, uống hết hơn một thùng bia, bọn họ mới gọi tính tiền. Nhưng khi giấy tính tiền đưa tới bàn, họ thậm chí không thèm liếc nhìn qua tờ giấy, mà một vị khách thọc tay vô bụng rút luôn ra… khẩu súng ngắn, dằn mạnh lên mặt bàn, buông thõng một câu xanh rờn:
- Không có tiền, trả bằng thứ này được không?
Các “em gái” hoảng hồn la oai oái, tranh nhau chạy ra khỏi phòng. Chủ quán nghe mấy em cấp báo, lính quýnh vừa run vừa kêu Lâm Chín ngón đến giải quyết. Lâm mở cửa bước vô phòng, việc đầu tiên là nhào đến chụp ngay khẩu súng, tất nhiên khôn ngoan cầm phía bá súng. Gã thanh niên hớt tóc ngắn to con nhất trong bọn, có vẻ là tay cầm đầu, cũng nhanh như chớp vung tay chộp súng, kéo lại, miệng quát:
- Ê, mày làm gì vậy?
Lâm bình tĩnh:
- Các anh nói trả thứ này thay cho tiền nên tôi lấy!
Nghe đối thủ trả lời cứng cựa, gã không thèm đáp mà ra sức giành lại vũ khí. Hai bên cùng nín thở thi triển 10 thành công lực, gồng hết cơ bắp, thử sức một phen cho rõ tài cao thấp. Kéo qua kéo lại, một lát sau Lâm Chín ngón dần dần thắng thế thấy rõ, có thể một phần do anh ta nắm ngay bá súng nên chiếm lợi thế nhờ có điểm tựa chắc chắn hơn. Dù sao, với dân chơi thứ thiệt, hễ thua thì nhận thua. Gã tóc ngắn đành buông súng ra, kêu:
- Khá lắm, khá lắm. Mày làm gì ở đây mà dám can thiệp vào chuyện của bọn tao?
- Đây là quán của người quen tôi, nhờ tôi coi giúp. Nuôi quân ba năm nhờ đến một giờ. Đây là nồi cơm của tôi nên tôi phải giựt. Nếu tôi tới quán mấy anh quấy, chắc chắn mấy anh cũng phải làm như tôi thôi.
Vừa nói Lâm vừa chìa tay đưa lại khẩu súng cho đối thủ, thêm: - “Chó lửa” của các anh đây. Thử sức cho vui vậy thôi, chớ tôi biết các anh nói giỡn, vì đây là đồ làm ăn, vật bất ly thân của các anh đời nào các anh trả cho quán; và lại nếu tính trị giá, nó hơn hẳn tiền ăn nhậu từ tối đến giờ.
Tên tóc ngắn dịu giọng:
- Nói nghe có lý lắm. Nếu vậy cũng là anh em trong nhà cả, không lẽ chơi quỵt nhau. Được rồi. Không nhận súng thì lấy thứ này vậy!
Nhanh hơn cả làm trò ảo thuật, hắn rút trong túi ra một trái lựu đạn đặt cái “cộp” lên mặt bàn.
Nhiều tiếng la oai oái nổi lên phía ngoài cửa phòng và tiếng chân chạy rầm rập. Thì ra nãy giờ chủ quán và mấy “em gái” thập thò ngoài cửa theo dõi diễn biến tình hình, nay hoảng quá tranh nhau co giò manh ai nấy chuồn cho lẹ.
Lâm vội quay người một vòng, đưa chân đá cánh cửa. “Sầm” một tiếng, cánh cửa khoá tự động đã đóng lại. Lâm Chín ngón cố giở giọng thản nhiên:
- Lỡ chơi thì chơi luôn! Một đổi bốn còn lời chán! Và lại đời tôi sống cũng đủ lắm rồi. Cứ cho nổ!
Tính dằn mặt đối thủ, ai dè gặp thứ thiệt, đám thực khách không còn cách nào khác hơn là chấp nhận xuống nước. “Trời không chịu đất thì đất đành phải chịu trời”. Tên có hàm râu quai nón trong bọn lên tiếng, đổi giọng:
- Thấy anh nãy giờ tôi nghĩ không phải thứ mới vào nghề chưa có số má gì. Anh nói thật cho tụi tôi biết anh là ai?
Lâm thở dài:
- Từ lâu lắm tôi đã cố quên tên của mình. Nay các bạn hỏi tôi cũng xin nói thiệt. Cách nay hơn mười năm tôi cũng tạm gọi là có chút danh vọng. Anh em trong giới giang hồ khi ấy quen gọi tôi là Lâm Chín ngón.
Cả bốn tên đều bất giác đứng bật dậy, gã tóc ngắn hỏi:
- Anh là Lâm Chín ngón? Đâu, anh cho xem bàn tay trái thử coi.
Lâm Chín ngón vốn là biệt danh của Lâm sau một trận đụng độ ác liệt giữa hai nhóm dân chơi của Đại Cathay và Tín Mã Nàm tại ngay trước khu Đại Thế Giới. Trong trận kịch chiến này, khi cố giải cứu Ba Thế, một trong “tứ đại ca” (Đại, Tỳ, Cái, Thế), Lâm bị một thanh mã tấu xớt mất ngón tay cái của bàn tay trái. Nãy giờ, khi thử sức Lâm dùng tay phải nên chưa ai thấy bàn tay trái của anh ta.
Khi Lâm vừa xoè bàn tay trái với bốn ngón ra thì cả bọn đưa đưa cả hai tay ôm vai anh ta, đứa cấm tay lắc lấy lắc để, đứa chắp hai tay xá lia lịa:
- Xin lỗi đại ca, xin lỗi. Nãy giờ tụi em không biết lỡ xúc phạm đến đại ca. Anh em trong nhà cả, đại ca không nói sớm. Đâu, chủ quán đâu?
Thì nãy giờ chủ quán nấp ngay sau cánh cửa chớ đâu. Vừa nghe gọi lập tức chủ quán bước vô phòng…
Tên hớt tóc ngắn bảo:
- Đưa hoá đơn tính tiền coi!
Chủ quán đã lấy lại bình tĩnh:
- Đã đưa khi nãy đưa rồi mà.
Tên râu quai nón cúi xuống gầm bàn lượm tờ giấy lên, đọc:
- Một triệu bốn trăm năm mươi ngàn. Tưởng nhiều, nhiêu đó nhằm gì!
Gã móc túi lấy ra chiếc khăn, mở ra, bỗng gói vội lại, kêu “Lộn rồi!”. Nhưng Lâm đã kịp nhìn thấy một đống nhẫn, dây chuyền, đồng hồ… trong khăn, đoán chừng bọn này vừa “ăn hàng” về, vô quán ăn mừng. Gã móc túi bên kia, phen này thì đúng là một bọc tiền. Tên hớt tóc ngắn giọng xởi lởi:
- Trả luôn một triệu năm trăm ngàn cho chẵn. Ủa, còn mấy em gái khi nãy đâu?
Thấy tình hình đã lắng dịu, “phe mình” thắng thế, mấy em gái bia ôm thập thò ngoài cửa phòng, chỉ chờ cơ hội là ăn theo, nhanh nhen bước vô. Một tên khác bảo:
- Bo mỗi em một trăm ngàn chịu không?
Thì mấy em chịu quá đi chớ! Tiền bạc xong xuôi, tên hớt tóc ngắn thân mật bắt tay Lâm Chín ngón:
- Tụi em khi nãy không biết, lỡ đắc tội, đại ca bỏ quá cho. Khi nào có dịp ra Hải Phòng, đến bến Sau Kho, đại ca cứ hỏi Thanh bếp là ai cũng biết, tụi em xin tiếp đón trọng thế.
Kể xong câu chuyện, Lâm Chín ngón thở dài tâm sự: “Anh ạ, từ sau tối hôm ấy em nghĩ cái mạng mình sống chết bất cứ lúc nào nếu còn theo cái nghề bảo kê ấy mà chết lãng xẹt. Nên em quyết bỏ bằng được”.
(Còn nữa)
Nguồn: Vũ Quang Hùng (Xa lộ pháp luật) Minh Phương


Giang hồ sài gòn (Kỳ 12): Lời cầu nguyện cho Lâm Chín Ngón

Thứ năm, 2014-06-19 - Nguồn: XaHoi.com.vn Yêu cầu xóa tin
Sau vụ bảo kê quán nhậu ở Tân Sơn Nhất, đụng độ với băng giang hồ Hải Phòng, Lâm lo tu tỉnh làm ăn ...

Lâm Chín Ngón - ngày tàn của đại caLâm Chín Ngón - ngày tàn của đại ca

“Dẹp loạn” giang hồ Campuchia?
Khoảng đầu năm 1994, khi ấy tôi đang làm Tổng Biên tập một tạp chí, sáng một bữa nọ Lâm tìm đến tôi ở toà soạn. Lâm bắt tay tôi, giọng hơi bất bình thường:
- Anh ạ, bữa nay em tới tạm biệt anh, mà cũng có thể là vĩnh biệt!
Tôi ngạc nhiên:
- Sao Lâm nói kỳ vậy?
- Nếu hơn một tháng nữa mà anh không gặp em, không nghe tin tức gì về em tức là em đã chết, bỏ xác ở Campuchia.
Tôi còn tưởng mình nghe lộn:
- Lâm làm gì mà qua tận Campuchia?
- Em nói thiệt. Ở đây làm ăn thất bại quá. Bên Campuchia hồi này người Việt qua làm ăn đông lắm, giang hồ cũng kéo qua đó, chia băng chia phái kèn cựa nhau. Chúng nhờ em qua…
- Sao Lâm hứa với tôi rút khỏi dân chơi rồi mà?
- Không. Chúng nhờ em qua hoà giải, vậy thôi. Em chỉ tin có anh, nên anh là người duy nhất em nói về việc đi Campuchia và chào tạm biệt. Ở bên này mãi, tiền bạc không có…
- Như vậy Lâm qua đó, lạ nước lạ cái, làm sao đi lại, làm sao sống?
- Có người bảo đảm chi cho em ăn, ở, luôn cả lộ phí. Miễn sao em thu xếp cho anh em giang hồ người Việt bên đó đỡ kình chống nhau. Nhưng bọn xã hội đen bây giờ cũng tráo trở lắm, em qua cũng có thể bỏ xác quê người…
Tôi nghe Lâm nói tự nhiên thấy bùi ngùi, móc ví sau túi quần, thấy trong ví còn hơn 300 ngàn đồng, liền đưa Lâm hết số tiền chẵn:
- Lâm cầm đỡ ít tiền qua đó sinh sống.
Lần đầu tiên tôi thấy Lâm rơm rớm nước mắt khi đưa tay nhận tiền:
- Nếu còn sống, thế nào em cũng về gặp anh. Còn một điều nữa… Em có đứa con gái mới sinh…
(Tôi không tiện viết thêm về cô con gái này cũng như người phụ nữ đã sinh con với Lâm, người này sau đã yên bề gia thất, không muốn ai biết nhiều về quan hệ trước đây của mình; và cô con gái riêng của Lâm, nếu nay còn sống, cũng đã gần 20 tuổi, hẳn cũng muốn sống cuộc đời êm thấm)
Khoảng hơn một tháng sau, bữa nọ Lâm lại đến gặp tôi cũng tại toà soạn, gương mặt vui tươi:
- Em vừa về tới, vội đến gặp anh ngay.
Tôi tò mò:
- Chuyện ra sao rồi?
- Coi như xong. Tốt đẹp cả, vì bọn chúng đôi chút cũng nể mặt em. Nhưng ở bên ấy dễ bỏ mạng lắm, em chẳng thà về lại Việt Nam.
Sự thật chuyện “tay không hạ gục hàng chục côn đồ Vũng Tàu”
Bẵng đi một thời gian, Lâm từ biệt tôi, nói ra Vũng Tàu để làm ăn. Đang lúc bận rộn công việc, tôi không mấy để ý, cũng chẳng tò mò hỏi Lâm ra đó làm ăn cụ thể ra sao.
Thời gian mới ra Vũng Tàu và sau đó khoảng nửa năm, Lâm làm ăn có vẻ khấm khá, mỗi lần về lại TP. HCM gặp tôi thường gởi tiền, quà cho con gái. Mãi sau này nhân một lần vui miệng, Lâm mới kể tôi nghe anh ta ra Vũng Tàu nổi đình đám ra sao. Theo lời Lâm thì “em ra Vũng Tàu; cầm đầu bảo vệ cho một nhà máy thu mua cá, mực, tôm; ốc… nói chúng là hải sản, vựa rất lớn. Nhà máy ngày càng ăn nên làm ra khiến một nơi cạnh tranh bực mình, muốn giành mối. Chiều nọ, một tốp có đến cả chục tên đầu trâu mặt ngựa, đứa nào cũng mang theo vũ khí; đứa dao, đứa kiếm, đứa thanh sắt, đứa côn nhị khúc… xông vào cổng nhà máy của em.
Em bước ra, chặn chúng lại, hỏi:
- Các anh muốn gì?
Một tên mặt mày bặm trợn, ra vẻ đầu sỏ, quát:
- Đây là địa bàn làm ăn của bọn tôi; anh muốn sống thì cút đi chỗ khác!
- Nói vậy đâu được, chúng tôi ở nhà máy bên này, đâu đụng chạm gì tới mấy anh?
- Vậy là thằng này muốn chết!
Và bọn chúng hò hét, vung vẩy dao, kiếm như muốn ăn tươi nuốt sống em.
Em ngó lui: Mấy đứa bảo vệ chung với em nháo nhác lo chuồn ngay khi em bước ra nói chuyện với bọn này.
Với anh là người đầu tiên em mới nói thật, lúc này em muốn chuồn thì cũng đã quá muộn vì mười mấy đứa hình như có bàn tính trước, đã vây quanh em. Em tính quơ đại thứ gì làm vũ khí cũng không thể kịp; vả lại, dù có vũ khí cũng không cách nào một mình chống đỡ nổi số địch thủ đông như vậy. Karate không bằng karabu, tức bu lại mà đánh. Vô kế khả thi, đằng nào cũng chết, em xuống tấn thủ thế, đánh nước liều:
- Chưa chắc thằng nào chết!
Vừa lúc em tính mình từ chết đến bị thương thì bỗng phía bên trong có nhiều tiếng la hét, hàng mấy chục công nhân tay cầm cây khiêng cần xé thủy sản, hoặc dao làm cá bén ngọt xông ra. Thì ra mấy đứa bảo vệ chung với em chạy vô báo lại tình hình, công nhân thấy động đến miếng cơm manh áo thiệt thân với họ, họ hè nhau nhất tề ra đánh đuổi bọn du đãng. Lúc này tình thế đã đảo ngược, nhân số phe ta đông hơn hẳn, áp đảo phe địch, hơn nữa ai cũng có vũ khí. Bọn đầu trâu mặt ngựa vội bỏ chạy có cờ…
Mới biết hay không bằng hên. Mọi người đâu ai biết em nhát gan chỉ được nước liều mạng, khen em hết cỡ, nào là “một mình dám chống lại cả hơn chục đứa”, nào là “tay không đánh với kiếm, dao, tuýp sắt,” nào là “đứng giữa đám đông côn đồ vây quanh vẫn tỉnh bơ,”… Rồi họ còn thêm mắm dặm muối”. Dù sao, sau vụ đó em trở nên có “uy” nhưng cũng bị không ít kẻ ganh ghét”.
Sau một thời gian, Lâm lại dạt về Sài Gòn. Năm 1994, Lâm gá nghĩa với một phụ nữ chí thú làm ăn, đã qua một đời chồng - chị Liên, người mà Lâm gắn bó đến tận cuối đời, người chăm sóc, lo lắng cho Lâm những khi Lâm gặp hoàn cảnh khó khăn nhất. Mà lạ, ngay cả những người con riêng của chị Liên cũng thương yêu Lâm, chăm chút ông dượng.
Những ngày Lâm ra toà (với tư cách nhân chứng và người bị hại) trong vụ xử án Năm Cam và đồng bọn, chị Liên luôn dìu dắt Lâm, đứng cạnh Lâm. Khi ấy, thần kinh Lâm đã bị khủng hoảng (từ sau vụ bị tạt axit), thậm chí chị còn hỏi trước Lâm sẽ khai những gì để khuyên nhủ Lâm khai sao cho có lợi.
Đến tận bây giờ, mỗi khi gặp chị Liên, nhắc lại những kỷ niệm về Lâm, chị vẫn bùi ngùi. Ngay khi viết bài báo này, thoạt đầu chị cũng ngại ngần muốn mọi việc chìm vào dĩ vãng, chuyện đã qua cho qua. Tôi thuyết phục mãi, cuối cùng chị đồng ý, lại còn cung cấp hình ảnh và một số tư liệu về Lâm.
Giang hồ giúp cảnh sát phá án
Có lần Lâm giúp tôi. Đúng ra không phải giúp tôi, mà là giúp một người bạn của tôi, bác sĩ Bê công tác tại bệnh viện Nguyễn Trãi, có nhà riêng ở huyện Bình Chánh.
Chuyện liên quan đến giới giang hồ nên phải nhờ Lâm giúp.
Số là, bác sĩ Bê mở quán ăn tại nhà riêng, thường bị bọn côn đồ địa phương đến quấy phá, như đòi tiền bảo kê, ăn uống thiếu nợ, đòi thu “thuế”. Bác sĩ Bê biết tôi quen một số tay “anh chị”, nhờ xem có cách nào giúp. Tôi tìm Lâm, kể lại mọi việc, giới thiệu Lâm với bác sĩ Bê. Lâm nói “bạn của anh cũng như anh của em,” và bắt tay vào việc.
Hơn một tuần sau, bác sĩ Bê vui ra mặt, nói với tôi mọi việc đã ổn thoả đâu vào đấy, nhờ tôi gởi lời cảm ơn Lâm, nhưng tình tiết cụ thể Lâm làm cách nào thì anh ta không rõ.
Gặp lại Lâm, tôi nhắn lời cám ơn của bác sĩ Bê, vui miệng hỏi Lâm giải quyết cách nào mà ổn thoả nhanh và hiệu quả vậy. Lâm cười cười:
- Đối với em việc dễ như trở bàn tay.
Và theo lời Lâm, anh ta xuống ngay địa bàn nơi bác sĩ Bê có quán ăn, hỏi thăm những kẻ có “số má” cầm đầu tại đây. Xong, Lâm trực tiếp gặp những tên sừng sỏ, côn đồ miệt vườn này. Vừa nghe tên tuổi Lâm chín ngón, bọn chúng đều muốn diện kiến đại ca. Lâm nhắn nhủ với cả bọn: “Đây là bạn đại ca của tao, tụi mày vuốt mặt phải nể mũi, không được léng phéng ở quán của bác sĩ Bê, nghe chưa?”. Đơn giản vậy thôi.
Cũng nhân vụ giải quyết “tép riu” này, Lâm kể tôi nghe một việc Lâm giúp mấy anh công an giải quyết một vụ việc lớn hơn, phức tạp hơn nhiều, xảy ra vào khoảng giữa thập niên 1990, vụ một nhân vật quan trong bị giật chiếc ca táp có đựng tài liệu quan trọng ngay trước cổng trụ sở cơ quan công an tại TP.HCM.
Chuyện đại loại như sau, chiếc xe hơi sang trọng đỗ trước văn phòng cơ quan công an tại đường Nguyễn Trãi). Người đàn ông xách cặp táp ngồi trên băng sau vừa mở cửa xe bước xuống; bỗng một xe gắn máy chạy ngang, tên ngồi phía sau giật phăng cặp táp, ngọt sớt, và xe gắn máy tăng tốc mất hút. Gay go là trong cặp có nhiều tài liệu mật. Chuyên án lập tức được mở. Các trinh sát giỏi nhất được tung vào cuộc. Một ngày… hai ngày… rồi một tuần vẫn chưa lần được manh mối nào. Lâm Chín ngón được mời tới giúp. Sau đây là lời Lâm kể với tôi: “Em kêu ngay bọn ba binh ba tướng thường giật dọc quanh khu vực Cộng Hoà, Đồng Tiến, Mả Lạng, nhắn: “Tụi bay muốn sống phải đưa ngay chiếc cặp giật được lúc… ngày… Tụi bay đụng vào hang cọp rồi đó”. Thì ra bọn chúng ngỡ trong cặp có tiền, đô-la, về giở ra coi mới hay toàn thứ tụi chúng không biết dùng vô làm việc gì, chỉ có nước bán… giấy vụn. Nay bọn chúng muốn trả lại cũng chẳng biết đường đâu mà trả, thêm nỗi sợ tù tội. Nghe em nói tụi chúng đưa ra chiếc cặp táp còn nguyên vẹn. Sau đó anh em công an mở bữa tiệc nho nhỏ ăn mừng, kêu cả em tới”. Không biết lời Lâm kể có thể tin được bao nhiêu phần trăm, nhưng chắc chắn Lâm không thể dựng đứng hoàn toàn câu chuyện.
lam-chin-ngon-thoi-trai-tre
Ngày tàn của một “đại ca”
Không ít lần Lâm tâm sự với tôi: “Anh biết không, thằng Năm Cam thời anh Đại (Đại Cathay) chỉ là tà lọt ngồi gác sòng bài bên quận 4, học hành chẳng ra sao, không có số má gì, thế mà bây giờ chỉ nhờ khéo nịnh, giỏi hối lộ mà thành trùm”. (Lâm từng theo học chương trình Pháp tại trường Trung học Taberd, Sài Gòn cũ - góc Hai Bà Trưng - Ly Tự Trọng, nay một phần thành trường Trần Đại Nghĩa). Lần nào tôi cũng đáp: “Thôi thì gặp thời thế mà. Chuyện người khác mặc họ, miễn là mình đàng hoàng…”.
Nói vậy chứ tôi biết Lâm không những nói xấu Năm Cam với tôi mà còn tỏ vẻ khinh bỉ, ghét Năm Cam ra mặt với khá nhiều dân chơi cũ cũng như mới. Và thế nào tin này chẳng đến tai Năm Cam.
Cũng có lẽ vì vậy Năm Cam sai đàn em “khử” Lâm chín ngón. Nhưng bọn chúng biết, nếu chơi theo kiểu đấu tay đôi với Lâm khó đứa nào chơi lại (Lâm cao 1,7m, chắc nịch nhờ thường xuyên tập tạ, nổi tiếng sát thủ với các ngón võ giang hồ). Và thế là chúng nghĩ ra chiêu độc: Tạt axit.
Tôi nghĩ không gì trung thực bằng lời kể của chị Liên, nên xin ghi lại nguyên văn: “Tối hôm 14/1/1999, lúc 7g30’, vừa mới bán hết hàng, cu Bi con trai em đòi ăn phở nên anh Lâm chở hai mẹ con đi ăn tại tiệm phở Lợi ở cư xá Bắc Hải. Đến nơi, hai mẹ con xuống trước, em dắt con em đi vào quán còn anh Lâm dựng xe trước cửa quán. Lúc sau em nghe tiếng anh Lâm hét lên; quay lại em thấy đồ anh mặc lủng nhiều chỗ, mặt mũi bị cháy xém, em kêu lên anh bị tạt axit rồi anh ơi. Lúc đó trong quán rất đông người nhưng hỗn loạn em không thể biết ai đã tạt axít vào anh. Lúc đó anh còn hỏi: “Em và con có bị sao không?”. Em nhìn anh lòng đau đớn sợ hãi, em vội kêu taxi chở anh đến bệnh viện”.
May Lâm đeo kính nên hai mắt không bị hỏng hoàn toàn, nhưng thị lực giảm có đến hơn 90%. Lâm phải nằm nhiều bệnh viện để điều trị, mà thời gian lâu nhất là ở Bệnh viện chấn thương chỉnh hình, qua nhiều lần phẫu thuật, tốn cả mấy trăm triệu.
Thời gian này Lâm sinh ra chán đời, không muốn gặp bất cứ ai. Vợ Lâm, chị Liên, mua cho Lâm căn hộ chung cư ở Tân Bình, giấu tất cả bạn bè thân thuộc, để Lâm tĩnh dưỡng.
Tâm trạng Lâm trong thời gian ấy khá hoảng loạn, thậm chí hoang tưởng, lúc nào cũng nghĩ có ai đó muốn hại mình, nên đôi khi nghi ngờ cả tôi cũng muốn hại anh ta (sau nay chị Liên mới kể tôi nghe, đến cả chị cũng không ít phen bị Lâm nghi).
Tuy nhiên, lâu lâu, không gặp tôi, Lâm lại nhờ chị Liên nhắn tôi lên gặp gỡ, tâm sự. Thoạt đầu, Lâm không chút nghi ngờ kẻ hại mình lại là Năm Cam, mà nhất định đổ riệt cho băng giang hồ ngoài Vũng Tàu, hận Lâm vì phá đất làm ăn của chúng nên rắp tâm trả thù (trước cảnh sát điều tra, mới đầu Lâm cũng khai như vậy. Khi họ cho Lâm biết thủ phạm là đàn em Năm Cam và kẻ chủ mưu chính là Năm Cam, Lâm vẫn kể với tôi cũng chưa chắc đã đúng; tôi phải nói “chớ Lâm không tin nhân viên điều tra, không tin lời khai của Năm Cam hay sao? Ngu gì Năm Cam tự vơ thêm tội vào mình?” Lâm mới chịu từ bỏ ý nghĩ ban đầu đã trở thành định kiến).
Từ khi trở thành người không còn lành lặn như xưa, Lâm đổi tính, không còn vui vẻ, cởi mở với mọi người; mà trở nên lầm lì, ít nói.
(Tôi cũng xin mở ngoặc thêm chuyện đi tu của Lâm: Lúc này Lâm và chị Liên đã có một bé trai kháu khỉnh, cu Bi, đang học tiểu học).
Để phần nào giúp Lâm vừa tránh gặp mặt mọi người, vừa có việc làm nhẹ nhàng giết thời gian hầu lãng quên quãng đời lắm gian truân trước đây, chị Liên mua một mảnh đất tuốt bên huyện Nhà Bè, sát mé sông. Tại đây, chị xây nhà, làm chuồng heo, đào ao nuôi cá, cất rượu lấy hèm cho heo ăn, đưa Lâm về bên đó sống biệt lập, xa lánh tất cả…
Ba lần tự vẫn mới “giải thoát” được cuộc đời
Những vết sẹo trên mặt do bị tạt axít tuy đã lành vẫn thỉnh thoảng khiến Lâm vô cùng đau đớn, cả theo nghĩa bóng lẫn nghĩa đen, nhất là những khi trái gió trở trời. Không ít lần Lâm nói với tôi “Em nghĩ thà chết cho bớt đau”.
Và quả Lâm nói sao làm vậy.
Phải nói ngay, không mấy người có cái gan như Lâm Chín ngón, kể cả gan tìm đến với cái chết.
Lần đầu Lâm tự tử bằng cách uống thuốc ngủ, dễ có tới hàng trăm viên. Chị Liên vội chở Lâm vào bệnh viện kịp thời súc ruột cứu sống Lâm. Theo chị Liên, một phần nhờ thời gian gần đây Lâm thường xuyên mất ngủ nên hầu như tối nào cũng phải dùng loại thuốc này do đó lờn thuốc.
Trước khi uống thuốc ngủ, Lâm để lại lá thư tuyệt mạng cho vợ:
“Liên yêu quý,
Anh rất mãn nguyện vì yêu em.
Anh vĩnh biệt em vì muốn bảo vệ danh dự gia đình em và xã hội.
Con anh sẽ không buồn tủi vì có một người cha có quá khứ xấu xa.
Em yêu thương con như đã yêu anh…”
Lần thứ hai, Lâm nhảy từ trên nóc nhà bên Nhà Bè xuống đất. Lần này Lâm bị chấn thương cột sống khá nặng, phải nằm điều trị gần 3 tháng ở Trung tâm chấn thương chỉnh hình, nhưng rốt cuộc cũng thoát chết.
Lần cuối cùng. Lâm nhảy vào thùng kháp rượu đang sôi sùng sục, và lần này, Lâm ra đi vĩnh viễn. Chuyện xảy ra vào quãng 12h trưa ngày 30/8/2006.
Đâu khoảng 1h trưa hôm ấy, chị Liên hốt hoảng gọi điện thoại cho tôi, báo tin. Chị cũng kêu tôi sang ngay Nhà Bè để nhờ lo liệu mối thủ tục.
Tôi còn nhớ như in, khi tôi tới nơi, hiện trường còn nguyên vẹn, nhưng tôi không thể nào diễn đạt. Đến tận bây giờ, những hình ảnh phút cuối đời của Lâm Chín ngón vẫn còn như in trong óc tôi, nhất là mỗi lần nghĩ đến người em kết nghĩa năm nào.
Tôi chỉ biết cầu nguyện cho người quá cố được sống an lành bên kia bờ thế giới. Nếu có sống lại kiếp sau, xin đừng trở lại cuộc đời giang hồ đầy bất trắc.
Lâm đã không ít lần tâm sự với tôi muốn trở lại cuộc đời lương thiện, làm ăn đàng hoàng, tử tế. Và, từ trong thâm tâm, tôi biết Lâm cũng rất muốn vậy. Nhưng nhiều khi cây muốn lặng mà gió chẳng muốn dừng, có thể một phần lỗi do Lâm tư tưởng không mấy vững vàng, thêm tác động của bè bạn, xã hội đưa đẩy.
Khi đến một tờ báo đưa tin buồn về Lâm, tôi cũng nhớ lời chị Liên dặn, yêu cầu đừng nói gì thêm, thậm chí không viết rõ Lê Ngọc Lâm là tên thật của Lâm chín ngón.
Mới đó thấm thoắt đã gần 8 năm kể từ ngày Lâm mất…
Còn nữa


Kỳ 13: Năm Cam thành lập liên minh cờ bạc thu lợi siêu khủng

Chủ Nhật, 10/5/2015 08:12 GMT+7

(PLO) - Năm Cam từng được trùm sòng bạc nổi tiếng Sài Gòn-Chợ Lớn nhận làm đệ tử chân truyền nghề cờ bạc, nhờ đó mà gã có đà để bước lên một vũ đài mới, tổ chức sòng cờ bạc kín kẽ và tinh vi hơn bất kỳ ông trùm nào trước kia. Không chỉ vậy, Năm Cam còn vươn vòi bạch tuộc bắt tay với những ông trùm khác tạo thành liên minh cờ bạc thu lợi nhuận siêu khủng. 
Kỳ 13: Năm Cam thành lập liên minh cờ bạc thu lợi siêu khủng
Năm Cam nổi tiếng với xóc đĩa bịp với quân bài điện tử
Tay cờ bạc chân truyền
Sài Gòn trước năm giải phóng, thời “Tam đầu chế” Thiệu - Kỳ - Khiêm, sòng bạc của Tám Phánh - ông chủ khách sạn Kim Thành - lớn nhất khu Sài Gòn-Chợ Lớn nổi lên như một hiện tượng. Tất cả Sài Gòn-Chợ Lớn có hơn 30 sòng bạc, sòng nào cũng có phần hùn của Tám Phánh. Những sòng bạc có đầy đủ những trò vui chơi giải trí từ A đến Z, sự hấp dẫn đủ để cho những con bạc thỏa sức “khám phá”, thậm chí lục nhẵn túi vẫn chưa hết thòm thèm. 
Sông có lúc đầy, lúc cạn, thời thế đổi thay, sau năm 1975, “nhát chổi” cực mạnh của Uỷ ban Quân quản thành phố truy quét tàn dư chế độ cũ, những kẻ tạo dựng cơ đồ bằng cách dựa vào thế lực của chế độ cũ làm ăn phi pháp đều trở nên trắng tay. Tám Phánh cũng không ngoại lệ, ông ta chỉ còn lại căn nhà nho nhỏ do cô vợ bé bằng tuổi cháu ngoại đứng tên. Thói thường khi gắn bó với nhau bằng tiền tài thì khi của cải đội nón ra đi, tình nghĩa cũng khó mà tồn tại được bền lâu. Cô vợ ngang nhiên đem nhân tình trẻ, khoẻ, đẹp trai vào nhà để trêu ngươi ông già thất thế. Buồn tình, Tám Phánh bỏ đi với thói quen hút thuốc phiện, rồi gặp Năm Cam một cách tình cờ. 
Sự nể trọng của Năm Cam với ông già sa cơ lỡ vận làm Tám Phánh hết sức cảm động. Từ đó, mặc nhiên Tám xem Năm Cam như một truyền nhân duy nhất để hướng dẫn Năm Cam mọi ngóc ngách của nghề tổ chức sòng bài. Tám Phánh phân tích tường tận mọi thứ, từ tâm lý của các tay chơi đến thủ thuật vét sạch đến đồng bạc cuối cùng trong túi những kẻ máu mê bằng đường lối dịu ngọt. Tám Phánh bảo với Năm Cam: “Tất cả những điều anh nói với em, rất tiếc đã không còn hợp thời. Anh em mình gặp nhau quá muộn, lúc anh ở đỉnh cao, em có hưởng được gì đâu mà bây giờ lại thành gánh nặng suốt đời em”. Tám Phánh nói với giọng xúc động thật sự, Năm Cam mủi lòng.
Có “quân sư” Tám Phánh, Năm Cam thay đổi cách làm ăn. Y bắt đầu quan hệ rộng hơn để bằng mọi cách lôi kéo các con bạc về chơi sòng của mình. Để có thể tồn tại trước chính quyền và tai mắt của nhân dân, theo tham mưu của Tám Phánh, Năm Cam tổ chức sòng bạc theo kiểu cò con, luôn thay đổi địa điểm theo quy luật. Chỉ trong một thời gian ngắn, Năm Cam ăn nên làm ra và đã mua thêm cả mẫu đất vườn ở cầu Ông Vẽ - Cái Bè chỉ để trồng cam.
Một bữa nọ, Năm Cam bị bắt với đầy đủ bộ sậu gòm cả Sáu Nhà, Tám Phánh bởi một nguyên cớ hết sức vô duyên. Chuyện là Nhà sách Khai Trí sau khi chủ đã rời bỏ quê hương để đi Mỹ vào những ngày nhộn nhạo đã được chính quyền mới giao cho một gia đình cán bộ quản lý. Bằng lời lẽ ngọt ngào, Năm Cam thuyết phục người chủ mới chấp nhận cho y mở sòng xóc đĩa trên căn lầu lửng của nhà sách. Sự ra vào nhộn nhịp của những con bạc được che đậy bằng hoạt động công khai của một nhà sách nên sòng tồn tại một cách ngon lành trước mũi bàn dân thiên hạ và cơ quan công an. Ông chủ nhà lúc đầu chỉ ngồi không hưởng lợi, nhưng về sau sinh tật, thỉnh thoảng dốc túi vào sới với hy vọng làm giàu ngang xương. Quy luật cờ bạc đâu cho phép “cò gỗ mổ cò thật”, ông chủ nhà thua liểng xiểng. Không nhìn ra nguy cơ, Năm Cam cứ để cho ông ta lao vào sới để ăn thua. Ngoài chuyện thua sạch số tiền do chứa sòng mà có, ông ta bắt đầu sử dụng đến món tiền riêng của vợ chồng tích góp bấy lâu. Khuyên răn, vật nài thậm chí khóc lóc đe doạ ông chồng mãi không được, bà vợ tiếc của quyết định tố cáo.
Sòng xóc đĩa của Năm Cam, Sáu Nhà, Tám Phánh bị công an thộp cổ đầy đủ tang vật tại trận. Cả bọn bị giải về Trại tạm giam Công an quận 1, ở đường Mạc Đĩnh Chi. Lần ở tù ấy tuy ngắn ngủi nhưng Năm Cam hiểu rằng, hoạt động sòng bạc sớm muộn gì cũng có lúc sảy chân, mà nếu không có sự giao du hào phóng với giang hồ lưu manh các kiểu, khi rơi vào trại giam sẽ dễ bị biến thành “âm binh mắc ma” và trở nên thân tàn ma dại. Chính vì vậy, sau đó Năm Cam dành một phần không nhỏ lợi tức của mình để thăm nuôi bọn “đầu trâu mặt ngựa” vì ắt sau này có lúc phải dụng binh.
Sau khi trở về, Tám Phánh vượt biên. Ông ta rủ và Năm Cam đi cùng sẵn sàng chi luôn lộ phí. Nhưng Năm Cam làm sao có thể một mình ra đi khi quanh y còn 3 bà vợ và cả chục đứa con. Không còn Tám Phánh bên cạnh, Năm Cam mất đi người “quân sư” quan trọng nhất trong cuộc đời tổ chức sòng bạc của mình. Nhưng từ những bài học được truyền lại, Năm Cam đã phát huy vượt trội hơn cả những gì Tám Phánh đã dạy cho hắn.
Tổ chức sòng bạc tinh vi
Trong lớp vỏ bọc doanh nhân, Năm Cam quay sang nhóm doanh nhân máu mê cờ bạc gồm Trần Đàm, Nguyễn Ngọc Châu, Phạm Huy Phước, Lê Minh Hải... Họ lần lượt rơi vào vòng vây phối hợp tung hứng của Năm Cam với nhóm nhà báo Hoàng Linh, Quang Thắng. Đại gia Trần Khải - chủ cửa hàng vàng bạc đá quý tại thành phố, trở thành con nai béo bị xẻ thịt không thương tiếc. Giám đốc Công ty bánh ngọt Kinh Đô Trần Lệ Nguyên cũng là nạn nhân gánh số nợ khổng lồ do thua bạc. Và trong chắc chắn vẫn còn không ít nạn nhân khác đành ngậm bồ hòn làm ngọt, vì mở miệng thì mắc quai, lại vừa xấu hổ vì bị một tên vô học cho vào tròng.  
Năm 1990, Năm Cam đã hội đủ cả thế lẫn lực. Sòng bạc 148 Tôn Đản phát triển thành “Casino Đại Ban”. Nguồn tiền từ xóc đĩa đem về cho Năm Cam lợi nhuận từ 70 đến 100 triệu mỗi ngày. Bọn quái phương Bắc hội tụ về đầu quân dưới trướng Năm Cam ngày càng đông đúc. Đám đầu gấu, xã hội đen cát cứ tại các quận nội thành đã dần chịu khuất phục. 
Về cách tổ chức sòng của Năm Cam, nếu vua cờ bạc Sáu Ngọ thời Pháp thuộc, hay tướng cướp Bảy Viễn có đội mồ sống dậy cùng với Tín Mã Nàm ở Đại Thế Giới trước đây cũng phải bái phục. Cung cách ăn chia cơ bản của một sòng bạc do Năm Cam tổ chức có quy trình quản lý hẳn hoi. Tiền lời phần hùn làm cái ở mỗi sòng bạc chia đều cho các cổ đông. Với quy trình đỏ đen như vậy, Năm Cam chiêu dụ được các con bạc hùn vốn làm cái để thực hiện được hai mục đích. Đầu tiên, con bạc có vốn và có quyền lợi gắn bó trong sòng thường xuyên đến đánh bạc, chủ sòng thu được nhiều tiền xâu. Thứ hai, chủ sòng lợi dụng được vốn của con bạc, không phải bỏ tiền mặt vào sòng bạc nhưng sòng vẫn hoạt động thường xuyên, vẫn được chia nhiều tiền lời cổ phần hùn vốn khống làm cái. Với chiêu thức này, trong suốt thời gian tổ chức sòng bạc Năm Cam không bỏ một đồng xu nào để đầu tư mà tiền vẫn vô như nước vỡ bờ.
Hốt me là món cờ bạc được ưu chuộng ở Đại Thế Giới thời Pháp thuộc, xóc đĩa là món cờ bạc được các con bạc hậu thế thời Năm Cam ưa thích. Vào xới, các con bạc mua phỉnh có 3 loại, theo quy ước của dân cờ bạc, loại màu vàng tượng trưng 500 ngàn đồng mỗi phỉnh, màu trắng xám 1 triệu đồng, màu xanh dương 5 triệu đồng. Cứ theo quy ước này mà hoán đổi tiền thành phỉnh và ngược lại.
Hệ thống sòng bạc xóc đĩa hiện diện như những cái vòi của con bạch tuộc khắp địa bàn TP.Hồ Chí Minh. Là một tay tổ chức cờ bạc chuyên nghiệp, sòng bạc nào do Năm Cam gây dựng cũng đều có phục vụ ăn uống và mạng lưới cảnh giới bảo vệ rất chặt chẽ. Hàng ngày, các sòng bạc do Năm Cam tổ chức mở cửa từ 14h chiều đến 22h đêm. Ngoài xóc đĩa, Năm Cam còn có hệ thống các sòng bạc xập xám, có phụ nữ chia bài, có trọng tài hẳn hoi, có người ghi chép sổ sách theo dõi ăn thua, cho con bạc vay tiền lúc thua để chơi tiếp. Và tất nhiên cũng có phục vụ ăn uống, thu tiền xâu...
Đến các sòng bạc của Năm Cam, nhiều khi chỉ được thua vài canh, nhưng con bạc nợ tiền “xáo” lên đến hàng chục, thậm chí hàng trăm triệu đồng bởi sự khát bạc, đôi khi đánh thua hết cả tiền thì tìm cách vay để đánh tiếp. Thị Điệu - vợ Thọ “đại úy” (cháu gọi Năm Cam bằng cậu ruột) được xem là một tay xáo bạc có máu mặt, được các con bạc nể nang vì thị là cháu dâu của Năm Cam. Mỗi “xáo” dắt lưng vài chục, vài trăm triệu vốn rồi cho sới vay. Chỉ cần trong xới có một con bạc hô lên “xáo đâu” thì lập tức tiền triệu, chục triệu được Thị Điệu ném xuống ầm ầm. Con bạc đỏ thì trả lãi lẫn vốn cho “xáo” vẫn còn dư dả, nhưng xui thì bán nhà bán đất trả vẫn chưa hết nợ. 
Hệ thống các sòng bạc trong “liên minh đỏ đen” của Năm Cam hoạt động ngày càng kín đáo, tinh vi. Mỗi sới hoạt động có đàn em canh gác từ xa, dùng điện thoại di động, họăc đứng trên lầu cao cảnh báo. Những tay bảo kê chủ yếu là các thanh niên hư hỏng, không có công ăn việc làm. Đây chính là những tay anh chị chuyên đi dằn mặt những ai có ý định đi tố giác. 
Còn nữa...
Lê Vũ - Thủy Sinh - Phạm Trường


Kỳ 14: Năm Cam tổ chức liên minh cờ bạc bịp “hút máu” cả thân tình

Chủ Nhật, 10/5/2015 14:03 GMT+7

(PLO) - “Chó sói không ăn thịt nhau”, câu ngạn ngữ phương Tây đã hoàn toàn sai bét trong thế giới “đen” kỳ bẻo (tiếng lóng chỉ cờ bạc bịp) Sài Gòn cuối thế kỷ 20. 

Cờ bạc bịp “hút máu” cả thân tình
Kịch bản đánh bịp và kỹ thuật điện tử được thực hiện âm thầm trong môn chơi xóc đĩa. Bằng đòn độc thượng thừa tuyệt độc này, Năm Cam lột róc xương máu của cả những chiến hữu từng vào sinh ra tử, kết nghĩa mã ngưu gồm Thành “đô la”, Út “xi”, Út “em”, Sáu “hoa”, vợ chồng Lợi Sinh và cả những người anh em phương Bắc từng cắt máu ăn thề như Lý “đôi”, Quốc “lũi”, Thành Chân, Cu Lý. 
Tất cả đều ngậm ngùi cháy túi trong những canh bạc hết sức bí hiểm ngoài sự tưởng tượng.
“Chó sói không ăn thịt nhau”, câu ngạn ngữ phương Tây đã hoàn toàn sai bét trong thế giới “đen” kỳ bẻo (tiếng lóng chỉ cờ bạc bịp) Sài Gòn cuối thế kỷ 20. Gia đình Năm Cam “béo phì” qua chiêu trò “cạn tàu ráo máng” này. Năm Cam trút cái hầu bao óc ách tiền vàng nặng trĩu này sang con đường địa ốc. 
Hai căn nhà mặt tiền đường Hùng Vương quận 5 vừa xây dựng xong, rao bán trên báo chưa ráo mực thì Trúc “mẫu hậu” đã chơi trội bằng màn tung tiền áp đảo, mua qua mặt một quan chức tầm cỡ thủ trưởng cấp quận. 
Màn bịp xóc đĩa là gài chíp điện tử vào một “đồng vị” của bốn quân bài. Nhà xóc vô tư “tác nghiệp”, tay “chim lợn” bên ngoài kiểm soát chiếu bạc xem mặt nào đặt nhiều tiền hơn sẽ xướng lên cho Thị Điệu, nằm vắt vẻo trên võng ngoài vách sòng, điều khiển qua chiếc máy chơi game hoặc điện thoại di động nằm trên tay. Bấm nút điều khiển “đồng vị” lật sấp họăc ngửa đạt kết quả chẵn lẻ, ăn thua trước khi dỡ chén. 
Chỉ đơn giản bằng động tác bấm ngón tay trên phím, số tiền thu vào có chén bạc lên đến vài trăm triệu đồng. Vì nguồn lợi béo bở của “máy in tiền” xóc đĩa khiến Năm Cam phải cố gắng duy trì “bộ máy” bằng bất cứ giá nào, chăm chút hoạt động với đám cật ruột sống chết và hết sức bảo mật cái tẩy của trò bịp hái ra tiền này.

 Năm Cam tổ chức liên minh cờ bạc bịp “hút máu” cả thân tình

Gian manh, xảo quyệt và thủ đoạn thuộc loại đại cáo hoá tinh thành quỷ. Năm Cam chỉ tung chiêu “bịp” này trong những chén bạc “cụp” khi có khách đại gia tỷ phú đến viếng sòng. Ngoài Thảo “ma”, Sáu “nhà”, vợ chồng Thọ “đại úy”, chỉ có một mình Lý “đôi” được biết chiêu đòn bí kíp này. Bọn võ biền Cường “râu”, Quốc “lũi”, Hải “bánh”, Chín “đàn cò” hoàn toàn mù tịt, từng là “con nai” bị phanh thây trong những canh bạc mờ ảo bí hiểm trong tay Sáu Nhà ngồi xóc cái.
Liên minh “ma quỷ” cờ bạc thu lợi siêu khủng
Mùa xuân năm 1990, được coi là mốc Năm Cam chính thức “đăng quang” ngôi vị trùm của các đại bàng, thống lĩnh giang hồ xã hội đen và thế giới ngầm Sài Gòn. Các Việt kiều Mỹ gốc giang hồ ăn nên làm ra ở nước ngoài kéo nhau về Việt Nam, rủ nhau sang sòng Năm Cam thử vận may đầu năm. 
Trong đám Việt Kiều nhốn nháo “tả me” chiều mùng 3 tết 1990, xuất hiện Chảy “còm”, lão quái huyền thoại của môn roulette ngày xưa ở Sài Gòn.
Qua sự giới thiệu nồng nhiệt của đại gia đua ngựa, cá cược Ba Mạnh, Chảy “còm” được Năm Cam mời lên phòng “tổng hành dinh” mở tiệc chiêu đãi. “Ma phương Tây” gặp “quỷ phương Đông”, liên minh “ma quỷ” ra đời gồm Năm Cam, Ba Mạnh và lão quái Chảy “còm”.
Điểm qua chân dung từng đại gia trong liên minh ma quỷ, nhân vật Ba Mạnh, tức Lê Văn Tốt không thua gì Năm Cam. Dưới tay Ba Mạnh là hệ thống sòng tài xỉu ăn thua lớn của những người Hoa máu mê cờ bạc. Ba Mạnh giao Tư “râu” tức Cô Đệ, một đại bàng xã hội đen gốc Hoa, Tâm Tư thừa lãnh phần điều hành từ A đến Z guồng máy đỏ đen để bao dàn cá cuợc bóng đá, đua ngựa khắp các phường thuộc quận 8. 
Chuồng ngựa của Ba Mạnh có 10 chiến mã giống Ả Rập dành phục vụ những độ đua nước rút do y dàn xếp trước tại trường đua Phú Thọ vào những ngày cuối tuần. Thời gian Năm Cam nổi đình đám ở khu Sài Gòn thì ở Chợ Lớn, Ba Mạnh cũng sáng rực ngôi sao gặp thời, mặc nhiên trở thành xếp sòng vùng Xóm Củi quận 8. 
Từng là con thoi ngoại giao của chế độ Sài Gòn trong hệ thống của các chủ sòng người Hoa Chợ Lớn. Ba Mạnh khá sành sỏi nghệ thuật “bắt cả hồn lẫn xác” các vị chức sắc bộ máy chính quyền địa phương. Bài học lịch sử muôn đời vẫn là công thức gái đẹp và tiền bạc được Ba Mạnh tung chiêu nhuần nhuyễn. 
Vì vậy khi Ba Mạnh và Năm Cam gặp nhau lần đầu trên con đường đen, hai đại ca hắc đạo này rất tâm đầu ý hợp, nhanh chóng trở thành cặp bài trùng của thế giới ngầm Sài Gòn.
Liên minh ma quỷ do Năm Cam đứng đầu ra đời sòng roulette “bê”, đại bản doanh tại hẻm 20 Chánh Hưng, quận 8. Chiếc mâm roulette và trái banh gắn chíp điện tử được chuyển từ Mỹ vào Việt Nam qua đường hàng không. Số chuyên viên “phá hoả”, “hối thén” gồm hơn 20 người đẹp đến từ Hong Kong, Macau bằng đường du lịch. 
Căn phố nằm trong khu người Hoa ở hẻm 20 Chánh Hưng biến thành phòng chơi roulette đúng tiêu chuẩn quốc tế, sàn trải thảm đỏ, la phông cách âm, đèn chùm đắt tiền, máy lạnh tối tân của Mỹ. Đầu bếp Hồng Kong chánh hiệu phục vụ các món đặc sản Âu, Á. 
Đặc biệt dãy phòng máy lạnh lầu sáu sẵn sàng cung ứng mục “xả xui” cho quý ông máu mê đen bạc cháy túi. Sau hơn 6 tháng hoạt động hết công suất, con số doanh thu hơn 300 tỷ đã biến đàn quỷ dữ trong liên minh Năm Cam, Ba Mạnh, cùng một số yêu ma ăn theo Tài Nhạn, Tư Chánh, Sáu Nhà, Thảo “ma”, Thọ “đại uý” trở thành tỷ phú “đen” trong thế giới ngầm Sài Gòn. Còn nạn nhân gồm những thương gia, doanh nghiệp Đài Loan, Trung Quốc đang đầu tư làm ăn ở Việt Nam lần lượt tan xác, phá sản. 
Tiếp theo là những đại gia tỷ phú, giám đốc các doanh nghiệp tại thành phố và các tỉnh lân cận cũng không thoát khỏi chiếc bẫy của chúng. Hai tay giám đốc ngành xây dựng và xuất khẩu hải sản thành phố lâm vào cảnh thâm thủng công quỹ, bị dồn đến đường cùng phải tự tử.
Sự hưng thịnh của sòng roulette “bê”, những trận mưa tiền hậu hỉ tuôn chảy thành dòng nước tưới tắm “dàn cây cổ thụ”, tạo nên bóng rợp râm mát khiến uy thế của Năm Cam bừng bừng và tổ chức cờ bạc tại đại bản 148 Tôn Đản ngày càng phát triển rầm rộ hơn.
Kỳ sau: Sòng bạc của Năm Cam bị tố giác và y phải đi cải tạo. Năm Cam cầu cứu những ông trùm đất Bắc như Thắng “tài dậu” và Thuyết “buôn vua” chạy án và mua chuộc dưa luận, y thoát án cải tạo sau khi vung cả “núi tiền”.
Lê Vũ - Thủy Sinh - Phạm Trường


Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32