Dai Chung la su suy ngam cua toi ve cuoc doi, xa hoi, nhan sinh
ĐỊNH HƯỚNG ĐI ĐÂU? 63
Nhận đường liên kết
Facebook
X
Pinterest
Email
Ứng dụng khác
-
-NÓI NHƯ CON "KÉT", LÀM NHƯ CON "KẸT"! -QUAN "NỔ" = MỴ DÂN -Định hướng như ... cứt mà đòi lên "Thiên Đường". -Rồi đây, lịch sử sẽ chỉ rõ công - tội! -Muốn nước mạnh thì phải giúp dân sung túc,muốn dân sung túc thì phải có lòng yêu thương dân vô bờ bến và tiết kiệm, muốn tiết kiệm thì phải biết dùng người, muốn dùng người được thì phải hiểu sự đời, còn không hiểu sự đời thì "biến" lẹ cho dân nhờ! -Làm
sao chọn được hiền tài ra giúp nước? Câu trả lời ai cũng biết nhưng vì
tham lam vị kỷ lấn át nên "các ngài"cứ giả vờ ngu như không biết, cứ
than: "Nhân tài như lá mùa thu". Đây này: nếu thực lòng tin vào nhân
dân, biết dựa vào nhân dân thì sẽ tìm ra nhân tài giúp nước, vì ở Việt
Nam nhân tài nhiều lắm, vì Việt Nam là sứ sở của "địa linh nhân kiệt"! -Phản động là gì và là ai? Là lề trái? Không phải! Là chúng mày đấy! -Chúng mày định đưa cháu con đến đâu: Thiên Đường hay Địa Ngục? -Lên Thiên Đường làm gì khi "rừng vàng biển bạc" đã bị tàn phá, môi trường sống không còn!?
------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
Đại biểu Nguyễn Thị Quyết Tâm, Chủ tịch HĐND TP.HCM, đã chỉ ra một thứ
lãng phí mới, khiến không chỉ nghị trường mà còn là cả xã hội giật mình,
đó là giảm sút niềm tin của nhân dân.
Đại biểu Nguyễn Thị Quyết Tâm, Chủ tịch HĐND TP.HCM
Xưa
nay, nói đến lãng phí, thường người ta chỉ nghĩ rằng đó là sự lãng phí
tiền của, thời gian, công sức... Nhưng tại kỳ họp cuối cùng của Quốc hội
khóa XIII đang diễn ra, đại biểu Nguyễn Thị Quyết Tâm, Chủ tịch HĐND
TP.HCM, đã chỉ ra một thứ lãng phí mới, khiến không chỉ nghị trường mà
còn là cả xã hội giật mình.
Nguyên văn lời bà
Tâm được các báo trích dẫn như sau: “Trong những cái lãng phí, thì lãng
phí nhất là giảm sút niềm tin của nhân dân. Trước đây, niềm tin của nhân
dân vào Đảng, vào Nhà nước là tự giác, được xây dựng bằng xương máu.
Vậy khi niềm tin bị giảm sút thì biện pháp nào để lấy lại?”.
Thật
là chính xác, thật là chí lý, thật là sâu sắc. Chỉ vài lời ngắn gọn mà
bao quát được tất cả. Thời Đảng còn trong bóng tối “Như đứa trẻ sinh nằm
trên cỏ/ Không áo cơm, sương gió tơi bời" (thơ Tố Hữu), chỉ vì niềm tin
mà nhân dân đã chở che, đã nuôi nấng những cán bộ, đảng viên của Đảng,
giữa vòng vây của thực dân, phong kiến. Không ít người đã bị giặc tù
đầy, sát hại chỉ vì những “tội” trên.
Rồi cũng
nhờ có niềm tin của nhân dân mà chỉ với chưa đầy 5.000 đảng viên, Đảng
ta đã lãnh đạo nhân dân vùng lên giành lấy chính quyền trong cuộc Tổng
khởi nghĩa tháng 8/1945 lịch sử, đưa dân tộc ta thoát khỏi vòng nô lệ.
Rồi
trong suốt các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, chỉ vì có niềm tin
vào Đảng, vào Nhà nước mà toàn dân ta đã thắt lưng buộc bụng để “thóc
không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, đã gửi hàng triệu con
em của mình ra chiến trường, một lòng một dạ theo Đảng.
Thuở
ấy, dưới mắt nhân dân, hình ảnh người đảng viên vô cùng cao quý, đảng
viên là tấm gương, là những người “đi trước” trong mọi nhiệm vụ khó
khăn, gian khổ, để quần chúng “theo sau”. Có thể nói, niềm tin của nhân
dân là một tài sản vô giá của Đảng, mà Đảng đã có được, chỉ vì “Đảng ta
là đạo đức, là văn minh" (lời Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội toàn quốc
lần thứ III của Đảng). Niềm tin ấy khiến cho mỗi chỉ thị, nghị quyết
của Đảng trở thành một mệnh lệnh của Tổ quốc.
Thế
nhưng, hiện nay, niềm tin ấy của nhân dân vào Đảng, vào Nhà nước đang
ngày càng giảm sút. Điều đó ai cũng có thể nhận thấy rất rõ.
Niềm
tin càng ngày càng giảm sút, đồng nghĩa với việc Đảng ngày càng trở nên
xa nhân dân. Vì vậy mà những chỉ thị, nghị quyết đưa ra cũng giảm hiệu
lực. Trước đây, người dân chấp hành những chỉ thị, nghị quyết đó bằng
chính trái tim của mình, thì bây giờ, họ bắt buộc phải chấp hành. Người
đảng viên không còn là một hình ảnh cao quý dưới mắt người dân nữa.
Vì sao như vậy?
Không
ít những văn bản, nghị quyết của Đảng đã chỉ ra nguyên nhân căn bản đó.
Đó là “một bộ phận không nhỏ đảng viên tha hóa, biến chất, phai nhạt lý
tưởng...”. Cán bộ, công chức đều là đảng viên. Nhưng một khi không ít
công chức đó đã tha hóa, biến chất, tham ô, nhũng nhiễu, làm trái pháp
luật, vơ vét của công, chiếm đoạt của tư để làm giàu bất chính..., mà
những chuyện đó phơi bày một cách lộ liễu, trắng trợn ra trước mắt người
dân, thì nhân dân không giảm sút lòng tin vào Đảng, vào Nhà nước, mới
là chuyện lạ.
Những công trình nghìn tỷ lãng phí và không hiệu quả
Bảo tàng Hà Nội đầu tư tới 2.300 tỉ đồng nhưng rất ít khách tham quan. (Ảnh: Internet)
Dù Việt Nam còn rất nhiều địa
phương nghèo cần các dự án đầu tư nhằm xóa đói giảm nghèo. Nhưng thực tế
số tiền đầu tư phần nhiều chảy vào các công trình lãng phí lại không có
hiệu quả.
Sau đây là một vài công trình điển hình cho sự lãng phí không có hiệu quả này.
Bảo tàng Hà Nội – 2.300 tỷ đồng
Bảo tàng Hà Nội được khánh thành vào
tháng 10/2010 với chi phí xây dựng 2.300 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước.
Dù chi phí xây dựng là rất cao, nhưng đến nay bảo tàng này rất vắng
khách.
Hiện vật bên trong bảo tàng được đánh giá là trưng bày khá sơ sài. (Ảnh 24h)
Dù không gian rộng rãi, hàng cây được cho là quý hiếm mọc thẳng tắp, nhưng lác đác chỉ vài người qua lại.
Kiến trúc bên trong bảo tàng rất hiện
đại và rộng rãi, nhưng đi mãi mới có thể thấy một khách tham quan. Chị
Bích Thủy ở Từ Liêm, Hà Nội là một khách tham quan cho báo Khám Phá
biết: “Tôi thấy bảo tàng Hà Nội không thể hiện được nhiều, mới chỉ
là nơi lưu giữ hiện vật, nhưng người xem không thể hình dung được các
giai đoạn của Hà Nội. Mà thậm chí các hiện vật cũng khá sơ sài, dù bên
ngoài rất hoành tráng”. Khi được hỏi vì sao tham quan bảo tàng mà
lại đi một mình, chị Thủy cho biết có rủ một vài người thân và bạn bè
nhưng không ai chịu đi cùng.
Bảo tàng Hà Nội với kiến trúc hiện đại. (Ảnh kienviet)Bên trong rộng rãi với cầu thang xoáy ốc đi lên. (Ảnh panoramio)
Dù được khánh thành từ năm 2010 nhưng
đến nay – sau 5 năm, bảo tàng vẫn được xem là “rỗng ruột” do bảo tàng to
lớn đồ sộ nhưng hiện vật lại rất ít.
Một số du khách đến đây vì biết thông
tin đây là bảo tàng quy mô được đầu tư chi phí đến 2.300 tỷ. Nhưng sau
khi tham quan đã thất vọng vì những thông tin thu được quá ít ỏi và nhàm
chán.
Để “chữa cháy” cho việc này, mới đây ông
Nguyễn Quốc Hùng – Phó chủ tịch UBND Hà Nội đã cho ra văn bản
249/TB-VP, trong đó có phần yêu cầu Sở Kế hoạch và đầu tư phối hợp với
Sở Tài chính hàng năm bố trí ghi kế hoạch vốn để Sở Văn hóa Thể thao và
Du lịch Mua sắm, sưu tập bổ sung các hiện vật.
Nhà máy thép hơn 1.700 tỷ đồng bị bỏ hoang
Dự án nhà máy liên hợp gang thép Hà Tĩnh từng là niềm tự hào của các quan chức địa phương nơi đây.
Dự án vốn tổng số vốn đầu tư 1.764 tỷ đồng, diện tích 26 ha tại Kỳ Thịnh (Kỳ Anh). (Ảnh: Vnexpress)Mục
tiêu đặt ra là đến tháng 8/2010, nhà máy sẽ xuất xưởng tấn phôi thép
thương phẩm đầu tiên. Tuy nhiên đến năm 2010, dự án bị dừng lại vả bỏ
hoang suốt từ đó đến nay. (Ảnh Vnexpress)
Đến thời điểm này đã có 1.000 tỷ đồng
đầu tư vào công trình bỏ hoang này, trong đó 750 tỷ vay từ các ngân
hàng, nhiều nhất là Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 620 tỷ đồng.
Sau 5, 6 năm bị bỏ hoang, để công trình
phải đội mưa gió ngoài trời, sắt thép đã hoen gỉ hư hỏng cả, khiến 1.000
tỷ đồng đầu tư thành bỏ đi. Hiện đã có kế hoạch đập bỏ công trình này.
Công trình Làng Văn hóa các Dân tộc Việt Nam – 3.200 tỷ đồng
Làng Văn hoá Du lịch các Dân tộc Việt
Nam được xây dựng tại Đồng Mô, Hà Nội với số tiền đầu tư đến 3.200 tỷ
đồng, được khai trương vào tháng 10/2010 nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng
Long – Hà Nội.
Thế nhưng sau dịp đại lễ này, ngày
thường chẳng có khách nào ghé thăm vì không có tổ chức dịch vụ gì cả,
một năm chỉ mấy ngày lễ là có khách đến chơi. Công trình suốt ngày phơi
mình giữa mưa nắng nên đã xuống cấp rất mau chóng.
Việc sửa chữa nâng cấp phải được thẩm
định xem mức độ hư hỏng đến đâu, rồi làm dự toán kinh phí, được duyệt
rồi chờ rót kinh phí. Nếu đầu tư phải sửa lớn thì phải đấu thầu theo
luật đấu thầu. Thời gian rất lâu, mà nếu để lâu thì hư hỏng xuống cấp
càng nặng.
Những ngôi nhà bị phủ kín bởi các loại cây dại. (Ảnh: khampha)Ngôi nhà người Xơ Đăng mục nát. (Ảnh: khampha)Sân khấu nổi với lan can hoen gỉ, sân cỏ mọc. (Ảnh: khampha)Làng Văn hoá dường như giống một khu du lịch dành cho người thích mạo hiểm. (Ảnh: khampha)
Ban quản lý cũng đã kêu gọi đầu tư để
hoàn thiện dự án, nhưng không nhà đầu tư nào tham gia vì qua thẩm định
đều thấy không khả thi.
Theo báo cáo mới nhất của Ngân hàng Thế
giới, cuối năm 2014 nợ công của Việt Nam đã là 110 tỷ đô la, nếu chia
cho 90 triệu người dân thì mỗi người đang phải gánh 1.200 đô la.
Để trả nợ cho các khoản vay đến hạn,
chính phủ đã cho phát hành trái phiếu, vì thế mà nợ chồng thêm nợ, năm
sau cao hơn so với năm trước. Hiện nay nợ công đang ở mức rất gần với
ngưỡng đụng trần 65% GDP, nếu vượt ngưỡng này đồng nghĩa khả năng vỡ nợ
là cao, đây cũng là giới hạn mà Quốc hội cho phép.
Dù nợ công đã đến mức đụng trần nhưng
việc sử dụng nguồn vốn rất không hiệu quả gây lãng phí, các cơ quan và
địa phương thì đua nhau xây dựng.
Các quan chức ở địa phương đua nhau xây
trụ sở, trụ sở xây sau nhất định phải to hơn, đẹp hơn, tốn kém hơn trụ
sở xây trước, gây lãng phí mà sử dụng lại không hết.
Bình Dương xây dựng khu trung tâm hành
chính 1.400 tỷ đồng, Đà Nẵng xây xong khu trung tâm hành chính độ sộ
2.200 tỷ đồng, Đồng Nai xây dựng trung tâm hành chính 2.200 tỷ. Nhất
định không thua kém, Khánh Hòa dự định xây dựng khu trung tâm hành chính
7.000 tỷ đồng.
Trung tâm hành chính mới của thành phố Ðà Nẵng 2.200 tỷ đồng. (Ảnh internet)
Tương tự là việc xây dựng tượng đài Hồ
chủ tịch, dự kiến sẽ xây tất cả 192 tượng đài trong cả nước, hiện nay đã
có 134 tượng đài, và đã lên kế hoạch xây tiếp 58 tượng đài còn lại.
Thế nhưng, các quan chức địa phương ai
cũng muốn tượng đài địa phương mình phải hơn tượng đài địa phương khác,
khiến các tượng đài càng xây càng hoành tráng. Đến một tỉnh thuộc dạng
nghèo nhất nước như Sơn La cũng quyết xây tượng đài 1.400 tỷ đồng mặc
cho người dân đói khổ lại vừa trải qua 2 đợt lũ lớn, và phải nhận hàng
ngàn tấn gạo để cứu đói.
Và nếu như vẫn tiếp diễn cuộc đua xây
dựng này thì sẽ còn có thêm nhiều công trình hoành tráng hoang phí nằm
cạnh cuộc sống thống khổ của người dân.
Người ta chua xót, lẫn cả đau xót khi lại nhìn thấy
Tượng đài Đinh Tiên Hoàng với nguồn vốn ngân sách tới 1.500 tỉ đồng, bị
lãng quyên và bỏ hoang trên một dải đất đầy lau sậy, lẫn cả
cỏ dại ở tỉnh Ninh Bình.
http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/20151124/tuong-dai-dinh-tien-hoang-hon-1500-ti-dong-bi-bo-hoang/1008403.html
Có người nhận xét rằng, Tượng đài nếu được dựng lên đúng
thời điểm, phù hợp với vị thế đang lên, hùng mạnh của một
quốc gia, đó là niềm vui chung, lòng tự hào của mỗi dân tộc
như được nhân đôi, lại càng tăng thêm phần ý nghĩa của lịch sử
và cả giá trị của Tượng đài.
Thế nhưng, khi nhìn các bậc tiền nhân của chúng ta đứng đó,
mà hương hồn đau xót, bởi lịch sử đã không quyên, dân tộc đã
không quyên những công thần đã từng có công dựng nước và giữ
nước. Nay cô đơn, hiu quạnh đứng đó, dầm mưa dãi nắng, bởi sự
vô cảm, lẫn vô tình, chứ chưa dám nói là vô ơn của con người
thời nay, đối với các bậc tiền nhân của họ.
Dự án làm Tượng đài, các công trình hoành tráng thoạt nghe
thấy cũng rất chính đáng, nhất là khi nó chạm vào điều thiêng liêng của
dân tộc, của mỗi quốc gia. Thế nên ở Việt nam ta, xem ra tư duy
Tượng đài, các công trình hoành tráng đang là mốt thời thượng,
trào lưu không thể thiếu ở các nhà lãnh đạo của các Tỉnh
Thành.
Thế nhưng, tư duy Tượng đài….. lại không hoàn toàn đơn giản như
người ta thường nghĩ. Bởi có một tượng đài thật sự ý nghĩa,
để hậu thế tôn vinh, ngưỡng mộ, để tưởng nhớ tới công lao các
bậc tiền nhân, thì mới cảm nhận được giá trị đích thực của
tượng đài, các công trình hoành tráng là bản sắc văn hóa riêng
của mỗi Quốc gia, và lòng tự hào của mỗi dân tộc, sẽ đạt được
hiệu quả, mang tính giáo dục cao cho thế hệ mai sau khi nhớ về
cuội nguồn dân tộc là các bậc tiền nhân, công thần của đất
nước.
Có người nói, “Trung Quốc bao la rộng lớn có Vạn Lý Trường
Thành, có Tử Cấm Thành. Ai Cập có Kim tự tháp, tượng Nhân sư. Quốc gia
nhỏ bé như Campuchia cũng có Angkor Wat, Angkor Thom………..” Còn ở
Việt nam ta sao chưa thấy có những công trình vĩ đại, quy mô
hoành tráng như nước ngoài?. Có đấy chứ, xa xưa nước Việt ta cũng đã từng có
các công trình kỳ vĩ, như Cửu Trùng Đài ở đời Lê Tương Dực. Khi xây Lăng
cho mình, Ông Vua Tự Đức đặt tên cho công trình là Vạn Niên Cơ. Công
trình đã vắt kiệt sức dân, kèm theo cả máu và nước mắt và nỗi
oán hờn của người dân. Vì vậy người dân đã phẫn uất, được thể
hiện bằng những lời ca ai oán, còn vang vọng mãi đến tận hôm nay: Vạn Niên là vạn niên nào? Thành xây xương lính, hào đào máu dân. Những ai đã từng am hiểu lịch sử Việt đều hiểu rằng
(1341-1369) chính những điện Lạc Thanh, hồ Lạc Thanh cùng các công trình
kỳ vĩ hoành tráng khác dưới thời trị vì của Vua Trần Dụ Tông và cả
thành Tây Giai (thành Nhà Hồ) mà chúng ta thấy ở tỉnh Thanh hóa
ngày nay, chính là công trình đã đổ biết bao công sức, xương máu
của người dân Việt, đã kéo theo hệ lụy là làm nghèo và suy
yếu đất nước, lòng dân oán giận. Vì vậy không gì có làm lạ, khi
một đất nước nghèo, nghèo đến nỗi khi giặc tràn sang, đất nước
nhanh chóng rơi vào tay quân thù đó là nỗi nhục Quốc thể.
Dân tộc Việt nam ta trải qua 4000 năm Lịch sử dựng nước và
giữ nước, đã biết bao mồ hôi, nước mắt và cả xương máu của
các thế hệ đi trước, là các bậc tiền nhân, các Anh hùng Liệt
sỹ đã ngã xuống để bảo vệ nền độc lập của đất nước này. Thế nên
từ xa xưa, nhiều triều đại các nhà Vua đã thấu hiểu chân lý đơn
giản rằng, sức mạnh vĩ đại nhất của dân tộc VN đâu phải là ở các
Tượng đài, các công trình có quy mô hoành tráng.
Mà cái chính thuộc về cội nguồn dân tộc, đó là lòng dân,
lòng yêu nước và tinh thần dân tộc, đã trở thành nguyên khí
quốc gia, đã biến thành sức mạnh trường tồn của một đất nước,
nó cứ như một thứ gien chiến thắng, Chiến thắng bất cứ kẻ
thù xâm lược nào, đã được lưu truyền từ thế hệ này, sang thế
hệ khác, của một đất nước anh hùng, một dân tộc Việt nam anh
hùng, chứ không phải cái gì đó cao siêu, như Thành cao, Hào sâu,
không ở những công trình Tượng Đài hoành tráng?.
Có người nói, Năm 2015, thế giới đã chứng kiến cảnh người dân
Sin ga pore tiễn đưa vị Lãnh tụ kính yêu của họ về cõi vĩnh hằng. Ông
Lý Quang Diệu không chỉ là người lập quốc mà còn là nhà lãnh đạo tài ba
ở xứ Sư tử, đưa Sin ga pore nhỏ bé thành một Quốc gia thịnh
vượng, được cả thế giới thán phục và ngưỡng mộ. Trong bài điếu
văn tiễn biệt, Thủ tướng Lý Hiển Long (cũng là con của Ông Lý Quang
Diệu) đã nói: “Những ai đến Sin ga pore hỏi tượng đài Lý Quang Diệu ở
đâu, người dân Sin ga pore có thể tự hào đáp lại rằng: Hãy nhìn xung
quanh bạn”.
Thế đấy, nhìn người mà ngẫm đến ta, xứ An nam đã nghèo
nhưng lại thích chơi trội, cái gì cũng muốn, cái gì cũng
khuếch trương, thích hoành tráng. Quy luật của mọi vật là “sự
thành, trụ, hoại, diệt”. Chỉ có sự kính trọng và lòng biết ơn được lưu
giữ trong lòng dân mới là vĩnh cửu, trường tồn mãi mãi với thời
gian.
Thế nên, nếu đem so sánh với những Tượng đài ngàn tỉ bỏ hoang, đang
dãi gió dầm mưa kia ở tỉnh Ninh Bình và nhà Bảo tàng với quy mô hàng
ngàn tỉ ở Hà Nội nay bỗng vắng hoe, không có người thăm viếng.
Hay ởFestival đờn ca tài tử Quốc gia lần thứ nhất (gọi tắt Festival) do
Bạc Liêu đăng cai từ(từ ngày 25 đến 29/4/ 2014). http://dantri.com.vn/xa-hoi/hon-2000-ti-dong-cho-festival-don-ca-tai-tu-dong-bao-co-chap-nhan-khong-1399866530.htm
Một dự án Festival mang tên Đờn ca tài tử Quốc gia lần thứ nhất,
có đến trên 20 công trình hoành tráng được xây dựng, với giá trị đầu
tư lên tới 2.000 tỉ đồng, chưa kể chi phí tổ chức lễ hội. Có người
nói “Làm chỉ để ngắm nhìn một đêm và 04 ngày lễ hội, mà phải tiêu
tốn tới hàng ngàn tỉ đồng, liệu có đáng, có quá đáng lắm hay
không?.
Thật đau xót, chua xót tiếc công, tiếc của biết nhường nào.
Thế nên, từ nay khi quyết xây tượng đài và các công trình hoành
tráng cho kỳ được, thì người dân cúi đầu xin ai đó……. hãy nhớ lời
Nguyễn Trãi xưa đã viết trong Bình Ngô đại cáo rằng: “Việc nhân nghĩa
cốt ở yên dân”.
Đừng để Nhân dân ca thán, bất bình, khi nhiều nơi người dân ăn
vẫn chưa đủ no, áo vẫn chưa đủ ấm……đất nước vẫn còn
nghèo…..mà lại phải đau xót nhìn thấy các công trình hoành
tráng, tiêu tốn hàng nghìn tỷ đồng, dấu ấn đầy ý nghĩa, nhưng
lại bị “bỏ hoang”, nay trở thành vô nghĩa, phản tác dụng trong
ánh mắt thất vọng người dân.
TTO - Hàng loạt dự án ngàn tỉ
của doanh nghiệp nhà nước “trùm mền” là đáng báo động. Nó khiến hàng
ngàn tỉ vốn nguồn gốc ngân sách trở nên kém hiệu quả.
Nhà máy đạm Ninh Bình được đầu tư tại Khu công nghiệp Ninh Phúc
(tỉnh Ninh Bình) với tổng vốn đầu tư tới 667 triệu USD (thời giá lúc đó
khoảng 10.673 tỉ đồng), đi vào hoạt động từ năm 2002 đến nay và lỗ liên
tục tổng cộng khoảng 2.000 tỉ đồng
Hơn thế, nó còn khiến xã hội mất một chi phí cơ hội vô cùng lớn.
Hàng ngàn tỉ đó đáng ra có thể giúp thay đổi cả một vùng, thậm chí
cho cả nền kinh tế, nếu được đầu tư vào một chỗ khác cần và hiệu quả
hơn, tạo sức lan tỏa phát triển mạnh hơn.
Sự lãng phí như vậy từ lâu đã không còn mang tính ngẫu nhiên. Nó là
sản phẩm của cơ chế. Vì vậy cần cách làm khác, cần một cơ chế mới để hạn
chế việc đem ngàn tỉ phơi mưa nắng.
Nhà máy đạm Ninh Bình
gần 11.000 tỉ, Nhà máy sợi Đình Vũ 7.000 tỉ, dự án mở rộng Nhà máy gang
thép Thái Nguyên hơn 8.000 tỉ... gặp khó khăn, phải dừng hoạt động.
Thậm chí có dự án chưa hoàn thiện đã tiêu hết trên 4.500 tỉ chỉ là
một ví dụ trong không ít dự án đầu tư của doanh nghiệp nhà nước gặp khó
khăn.
Những dự án kém hiệu quả thường có những điểm chung: mục tiêu và hiệu
quả ban đầu vô cùng đẹp đẽ, những tính toán khi xin chủ trương đầu tư
đều tốt, nhận được không ít ưu đãi từ cơ chế chính sách và do doanh
nghiệp nhà nước làm chủ đầu tư...
Nhưng sau khi bắt đầu dự án thì hàng loạt khó khăn phát sinh, chủ đầu
tư không giải quyết nổi, lại trông chờ Nhà nước hoặc bất lực nhìn tài
sản nhà nước phơi mưa nắng.
Theo cơ chế mà đa số dự án đầu tư “trùm mền” tiến hành, khi lãnh đạo
doanh nghiệp nhà nước thấy cần thiết đầu tư một dự án ngàn tỉ, họ sẽ làm
đề xuất gửi các bộ ngành, Chính phủ.
Chính phủ giao các bộ ngành thẩm định, báo cáo. Thủ tướng sẽ quyết
định chủ trương đầu tư. Quy trình là chặt chẽ. Nhưng sẽ không chặt nếu
có yếu tố không minh bạch, lợi ích nhóm xen vào.
Các bộ có thể có nhiều chuyên gia giỏi, nhưng cũng không thể có đủ
thông tin nhanh, nhạy về thị trường để đánh giá chính xác, kịp thời tính
cần thiết, hiệu quả của dự án. Đó là chưa nói đến khả năng “chạy dự
án”, “chạy vốn đầu tư” mà ngay trên diễn đàn Quốc hội cũng đã được đề
cập nhiều.
Sau khi được các bộ ngành thẩm định, Thủ tướng chấp nhận chủ trương
đầu tư thì doanh nghiệp coi như cầm được “thượng phương bảo kiếm”.
Với cơ chế cấp vốn theo kiểu xin - cho từng năm một, trước những tính
toán chi phí nguyên vật liệu không chuẩn, vốn đầu tư bị đội lên gấp
nhiều lần... doanh nghiệp lại làm báo cáo, xin tháo gỡ, xin thêm ưu
đãi...
Nhà nước lúc này bị lâm vào thế “con tin”: nếu không cấp thêm ưu đãi
thì dự án sẽ chết hoặc ngắc ngoải nằm đó, doanh nghiệp thì kêu hàng ngàn
công nhân có nguy cơ mất việc, thu ngân sách của tỉnh sẽ khó khăn.
Nhưng nếu tiếp tục ưu đãi thì chắc chắn mất thêm nguồn lực, trong khi dự án không chắc hiệu quả hơn.
Đã đến lúc không thể dễ dãi với kiểu đầu tư như vậy nữa. Thủ tướng
Nguyễn Xuân Phúc đã chỉ đạo rõ: kiên quyết loại bỏ dự án không hiệu
quả...
Vì vậy cần áp đặt một lối chơi mới: áp tiêu chí ngay từ đầu, các mục
tiêu việc làm, hiệu quả xã hội phải được cam kết với những chế tài
nghiêm khắc, kiên quyết không cấp thêm vốn đã cam kết...
Các bộ ngành khi góp ý dự án để Thủ tướng quyết, với những dự án ngàn
tỉ, cần đứng ra thuê tư vấn độc lập. Nếu cứ để chủ đầu tư tự thuê tư
vấn như hiện nay, bản thân tư vấn cũng rất “lo” bởi nếu dự án không được
thông qua, có thể họ sẽ không được làm tiếp, mất doanh thu.
Cũng không thể để doanh nghiệp tự tính, sau này khi giá nguyên liệu
tăng, giá bán giảm, đổ cho giá thế giới biến động bất thường là xong.
Đồng thời cần làm rõ và xử lý trách nhiệm người đứng đầu.
Vài ngàn tỉ với các doanh nghiệp nhà nước có thể không quá lớn, họ
vẫn hoạt động bình thường. Nhưng nhiều tỉnh thành cả năm thu ngân sách
còn chưa được 1.000 tỉ.
Nên để dù chỉ một nhà máy ngàn tỉ “trùm mền” cũng tương đương công sức hàng năm của hàng triệu người dân đổ sông đổ bể.
TS TRẦN ĐÌNH THIÊN (viện trưởng Viện Kinh tế VN) - C.V.KÌNH ghi
Máy móc nhập khẩu hàng trăm tỷ đồng “đắp chiếu”
TP -
Đã 8 năm trôi qua, hàng nghìn tấn máy móc, thiết bị đóng tàu nhập khẩu
bị các đơn vị thành viên của Vinashin (nay là SBIC), Vinalines “bỏ quên”
tại các cảng biển. Các lô hàng máy móc trị giá hàng trăm tỷ đồng được
nhập từ châu Âu, Nhật Bản…
Đống máy móc, thiết bị của các đơn vị thành viên
Vinashin (nay là SBIC) vứt chồng chất, hư hỏng tại góc cảng Hải Phòng.
Ảnh: Phạm Thanh
Bài 1: Nhập về để đó Những năm
2008-2009, ngành đóng tàu và vận tải biển Việt Nam bước vào giai đoạn
phát triển cực thịnh, hàng loạt dự án đóng tàu được ký kết, máy móc,
thiết bị được ồ ạt nhập về với giá trị lớn. Nhưng rồi, Tập đoàn Công
nghiệp tàu thủy Việt Nam - Vinashin (nay là Tổng Cty Công nghiệp tàu
thủy Việt Nam - SBIC) đổ vỡ, tiếp đến là Tổng Cty Hàng hải Việt Nam
(Vinalines) cũng lao đao. Hàng ngàn tấn máy móc, thiết bị đóng tàu nhập
khẩu bị bỏ lại các cảng từ đó tới nay.
Tiền tỷ thành nơi chuột bọ trú ngụ
Theo tìm hiểu của PV Tiền Phong, riêng tại Hải Phòng, máy
móc thiết bị của các đơn vị thành viên Vinashin hiện còn tồn tại 3 cảng
chính, gồm Green Port, Hải Phòng và Đình Vũ (số lượng khoảng 90
container).
Tại cảng Hải Phòng, dẫn chúng tôi tìm hàng hóa của Vinashin, một bảo
vệ cảng nói, ra góc bãi hàng chỗ nào thấy sắt thép hoen gỉ, thùng gỗ mục
nát thì tới 90% là hàng của Vinashin. Nhân viên kho 4 (Cảng Hải Phòng)
nói: Nhìn xót xa lắm. Dù là của Vinashin nhưng đều là tiền nhà nước cả,
tiền thuế của dân để phơi mưa nắng, hư hỏng, lãng phí. “Tiền của mình
tiêu phải cân nhắc từng đồng, nhưng đấy là tiền nhà nước, chả ai quan
tâm. Nếu tiền đó đem giúp được khối người, giờ thành đống sắt vụn cũng
chưa biết bao giờ chủ hàng mới lấy”, bà Minh, Trưởng kho 4 nói.
Phần lớn đống thiết bị của Vinashin nằm chồng chất ở một góc bãi
cảng, sát tường rào, một số thiết bị nhỏ và đắt tiền hơn được xếp vào
góc nhà kho. Phần thùng gỗ bọc ngoài phần lớn đã mục nát, rơi rớt xung
quanh được nhân viên cảng quét dồn thành đống, những miếng bạt che tạm
đã tả tơi, cây dại móc giữa đống máy móc cũng đã cao quá đầu người, thân
to như cổ tay người lớn, tỏa bóng xanh mát.
Những khung kết cấu thép của các bộ phận tàu được nhập khẩu nguyên
khối, giờ đã hoen gỉ. Ở một góc khác cách đó không xa, đủ thứ bộ phận
tàu, từ thiết bị khung, tới các loại mô tơ, ụ máy, có cả những khối máy
tàu cỡ lớn được nhập nguyên chiếc cũng bị bỏ lại. Chúng nằm ngổn ngang,
chồng chất lên nhau. Không được che chắn, một số kết cấu, bộ phận đã
hoen gỉ, nhãn mác bong tróc không còn nhận ra thiết bị gì; một số phần
nhãn mác còn sót lại đề dòng chữ “Made in Japan” (sản xuất tại Nhật
Bản).
Lúc mới nhập về, một số thiết bị máy quan trọng, đắt tiền cũng được
để trong kho, bảo quản cẩn thận, số hàng ngoài trời được cắt cử bảo vệ
trông coi. Nhưng năm này qua năm khác, Vinashin và các đơn vị thành viên
quên tới lấy, chi phí bảo quản không được chi trả nên đơn vị quản lý
cảng di từ kho ra bãi, từ bãi ra góc để nhường chỗ cho các hàng hóa
khác. Đống máy móc đắt tiền thành nơi trú ẩn cho chuột bọ.
Tương tự, tại cảng Đình Vũ, hiện có 21 container chứa thiết bị, máy
móc bị các đơn vị thành viên của Vinashin “quên” từ năm 2009 tới nay.
Trong số 21 container này, có 8 trụ thép cỡ lớn, 2 xuồng cứu sinh (sức
chứa 25 người mỗi xuồng) được nhập mới nguyên chiếc. Theo tìm hiểu, giá
mua mới mỗi chiếc xuồng này không dưới 1 tỷ đồng. Do bị bỏ lâu ngày ở
cảng, một số đã hoen gỉ, dây chằng đứt …
Tại cảng Green Port, số hàng hóa của Vinashin cũng còn vài chục
container nhập về từ những năm 2008 tới nay chưa giải phóng được. Miễn chi phí cũng không quay lại lấy
Trao đổi với PV Tiền Phong, Phó GĐ Cty CP Đầu tư và Phát
triển cảng Đình Vũ - Lê Thành Đỏ cho biết, trong số 21 container của
Vinashin, có 17 container nhập về từ 2008, 4 container nhập về năm 2009.
Đây đều là những thiết bị đóng tàu đắt tiền, nhập khẩu từ Nhật Bản,
Đức. Cảng đã thông báo, làm công văn đề nghị nhiều lần với chủ tàu,
Vinashin và Bộ GTVT nhưng vẫn không ai tới lấy hàng.
“Báo chí có cách nào bảo họ (Vinashin - PV) lấy đi để giải
phóng cho cảng. Chúng tôi đã kiến nghị nhiều lắm rồi. Giờ cảng miễn hết
mọi chi phí, miễn sao giải phóng được hàng, trả lại kho bãi để chúng tôi
còn chứa hàng khác”, ông Đỏ nói. Theo ông Đỏ, mỗi mùa mưa bão, cảng lại
phải bỏ tiền chằng chống, chỉ sợ những thiết bị đó gió bão quăng quật
gây nguy hiểm cho con người và tài sản khác của cảng.
Ông Đỏ cho rằng, hàng tồn của Vinashin không chỉ gây thiệt hại cho
cảng còn lãng phí của cải xã hội, đặc biệt đây đều là những công ty nhà
nước, vốn đầu tư cũng là tiền thuế của dân. Lãnh đạo cảng Đình Vũ nhẩm
tính, tới nay phí lưu bãi của 21 container này (từ 2008) vào khoảng 2,3
tỷ đồng; phí lưu container (trả cho các hãng tàu) không dưới 15 tỷ đồng
(chưa tính lũy kế tăng theo thời gian). Chưa kể, vỏ container hiện đã hư
hỏng, không loại trừ khả năng các hãng tàu yêu cầu đền bù thiệt
hại.
_________ (Còn nữa)
Bà Bùi Thị Hồng Thu, Phó Trưởng phòng Kinh doanh (Cảng Hải Phòng) cho
biết, cảng còn vài nghìn tấn sắt thép, máy móc, thiết bị của Vinashin
nhập về nhưng chưa lấy. Cảng chưa tính chi phí, nhưng số tiền chắc cũng
lên tới hàng tỷ đồng. “Nhiều thiết bị đã hư hỏng, hoen gỉ giờ chỉ bán
sắt vụn”, bà Thu nói.
Nhận xét
Đăng nhận xét