Những cống hiến của Al-Khwārizmī' trong các lĩnh vực như toán học, địa lý, thiên văn học, và bản đồ học đã thiết lập nên nền tảng cho các phát minh về đại số và lượng giác.
Phương pháp tiếp cận có hệ thống của ông để giải phương trình tuyến tính và phương trình bậc hai phát triển thành đại số (algebra), một từ có nguồn gốc từ tiêu đề của cuốn sách viết năm 830 của ông về đề tài này, "Cuốn cẩm nang về tính toán bằng hoàn thiện và cân bằng" (Al-Kitab al-fi mukhtasar hisab al-jabr wa'l-muqabala الكتاب المختصر في حساب الجبر والمقابلة).
Cuốn sách Tính toán với Chữ số Hindu ông viết năm 825 là lý do chính cho việc truyền bá hệ thống chữ số của Ấn Độ phổ biến khắp Trung Đông và châu Âu. Nó đã được dịch sang tiếng Latinh là Algoritmi de numero Indorum. Al-Khwarizmi, viết theo tiếng Latin thành Algoritmi, dẫn đến thuật ngữ "algorithm" (thuật toán).
Một số công trình của ông dựa trên thiên văn học Ba Tư và Babylon, số đếm Ấn Độ, và toán học Hy Lạp.
Al-Khwārizmī đã hệ thống hóa và chính xác dữ liệu của Ptolemy cho châu phi và Trung Đông. Một quyển sách quan trọng khác là Kitab surat al-ard ("Hình ảnh của Trái Đất"; được dịch thành Địa lý học), nêu các tọa độ của các nơi dựa trên tọa độ địa lý của Ptolemy nhưng có hiệu chỉnh dữ liệu cho vùng Địa Trung Hải, châu Á và châu Phi.
Ông cũng viết về các thiết bị cơ khí như thiết bị đo tinh tú và đồng hồ mặt trời.
Anh hỗ trợ một dự án để xác định chu vi của Trái Đất và trong việc thành lập một bản đồ thế giới cho al-Ma'mun, giám sát 70 nhà địa lý.
Vào đầu thế kỷ 12, các công trình của ông được phổ biến đến châu Âu qua các bản dịch tiếng Latin,
và nó đã có những tác động sâu sắc đến sự tiến bộ về toán học ở châu
Âu. Ông đã du nhập con số Ả Rập vào tiếng Latin West, dựa trên một hệ
thống vị trí giá trị số thập phân phát triển từ các tài liệu của Ấn Độ.
Đại số
Trái: Bản gốc tiếng Ả Rập cuốn Đại số của
Al-Khwarizmi. Phải: Một trang của cuốn Đại số của Al-Khwarizmi, Fredrick
Rosen dịch ra tiếng Anh.
Al-Kitab al-Fi mukhtaṣar ḥisāb al-jabr wa-l-muqābala (tiếng Ả
Rập: الكتاب المختصر في حساب الجبر والمقابلة, "Cuốn cẩm nang về tính toán
bằng hoàn thiện và cân bằng ') là một cuốn sách toán học được viết
khoảng năm 830. Cuốn sách được viết với sự khuyến khích của Caliph al-Ma'mun
như một tác phẩm nổi tiếng về tính toán và có đầy đủ các ví dụ và các
ứng dụng cho một loạt các bài toán trong thương mại, khảo sát và thừa kế
hợp pháp.
Từ algebra (đại số) có nguồn gốc từ tên của một trong những phép toán
cơ bản với phương trình (al-jabr, có nghĩa là "phục hồi", đề cập đến
việc thêm một số cho cả hai bên của phương trình để xóa bỏ các dấu trừ)
được mô tả trong cuốn sách này. Cuốn sách đã được Robert ở Chester
(Segovia, 1145) và Gerard của Cremona dịch sang tiếng Latin với tên Liber algebrae et almucabala. Do vậy từ "đại số"-algebra đã phát sinh từ chữ al-jabr này. Một bản sao tiếng Ả Rập duy nhất được lưu giữ tại Oxford và đã được F. Rosen dịch vào năm 1831. Một bản dịch tiếng Latin được lưu giữ ở Cambridge.
Al-Khwarizmi
Trong
một số quốc gia, người ta dùng chữ số Hindu-Ả Rập để cân trọng lượng
hoặc tính giá thực phẩm. Tại sao gọi là “chữ số Hindu-Ả Rập”? Cơ sở của
hệ số đếm hiện đại trong đó dùng chữ số từ 0 đến 9 dường như được triển
khai ở Ấn Độ, được các học giả thời trung cổ viết bằng tiếng Ả Rập và du
nhập vào phương Tây. Nổi bật nhất trong số những người này là Muhammad
ibn-Musa al-Khwarizmi. Rất có thể ông sinh khoảng năm 780 công nguyên, ở
nơi hiện nay là Uzbekistan. Al-Khwarizmi được gọi là “nhân tài lỗi lạc
của toán học Ả Rập”. Tại sao ông xứng đáng nhận danh hiệu này?
“NHÂN TÀI LỖI LẠC CỦA TOÁN HỌC Ả RẬP”
Al-Khwarizmi
viết về những ứng dụng thực tế của số thập phân, cũng như giải thích rõ
ràng và phổ biến một phương pháp để giải quyết vài vấn đề về toán học.
Ông giải thích phương pháp này trong cuốn sách “Tính toán bằng hoàn
thiện và cân bằng” (Kitab al-jabr wa’l-muqabala). Từ “al-jabr”
trong tựa sách sau này được dịch ra tiếng Anh là “algebra” (đại số).
Nhà văn chuyên viết về khoa học là Ehsan Masood cho biết đại số được xem
là “một công cụ toán học quan trọng nhất từng được phát minh và củng cố
mọi mặt của khoa học”.
Một
nhà văn nói dí dỏm: “Vô số thế hệ sinh viên mong ước rằng
[al-Khwarizmi] đừng lập ra các phương trình này”. Nhưng dù sao đi nữa,
al-Khwarizmi cho rằng mục đích của ông là giải thích các phương pháp để
dễ tính toán trong thương mại, phân chia tài sản thừa kế và đo đạc địa
hình v.v.
Nhiều
thế kỷ sau, các nhà toán học phương Tây, trong đó có Galileo và
Fibonacci, rất xem trọng al-Khwarizmi vì ông giải thích rõ ràng về việc
ứng dụng các phương trình. Lời giải thích của al-Khwarizmi đã mở đường
cho việc nghiên cứu sâu hơn về đại số, số học và lượng giác. Lượng giác
đã giúp các học giả ở Trung Đông có thể tính được giá trị các góc và
cạnh của tam giác cũng như đẩy mạnh những nghiên cứu trong lĩnh vực
thiên văn học.
Đại số: “Một công cụ toán học quan trọng nhất từng được phát minh”
Dựa
trên công trình nghiên cứu của al-Khwarizmi, nhiều người đã triển khai
những cách mới để dùng các phân số thập phân và đi đầu trong việc tính
diện tích và thể tích. Kiến trúc sư cũng như thợ xây vùng Trung Đông từ
lâu đã quen thuộc với những phương pháp tiên tiến này trước các đồng
nghiệp phương Tây trong thời Thập Tự Chinh. Sau này người phương Tây
mang kiến thức ấy về quê hương và được những phu tù Hồi giáo trí thức và
người nhập cư hướng dẫn.
TOÁN HỌC Ả RẬP LAN TRUYỀN
Với
thời gian, công trình của al-Khwarizmi được dịch sang tiếng La-tinh.
Nhà toán học người Ý Fibonacci (khoảng năm 1170-1250), cũng được biết là
Leonardo của Pisa, nhìn chung được công nhận là người truyền bá hệ
thống chữ số Hindu-Ả Rập ở phương Tây. Ông biết đến các chữ số này trong
chuyến hành trình đến thế giới Địa Trung Hải và sau đó đã viết ra sách
nói về phép tính (Book of Calculation).
Phải
trải qua nhiều thế kỷ, lời giải thích của al-Khwarizmi mới trở nên phổ
biến. Nhưng hiện nay các phương pháp của ông và những phương pháp toán
học liên quan đã trở thành mấu chốt trong khoa học và kỹ thuật, chưa nói
đến thương mại và công nghiệp.
Mục từ "Leibniz" dẫn đến bài này. Xin đọc về các nghĩa khác tại bài Leibniz (định hướng).
Gottfried Wilhelm Leibniz (cũng là Leibnitz hay là von Leibniz (1 tháng 7 (21 tháng 6Old Style) năm 1646 – 14 tháng 11 năm 1716) là một nhà bác học người Đức với các tác phẩm chủ yếu viết bằng tiếng Latin và tiếng Pháp.
Ông được giáo dục về luật và triết học, và phục vụ như là factotum
cho hai gia đình quý tộc lớn người Đức, Leibniz đã đóng một vai trò
quan trọng trong chính trị của châu Âu và các vấn đề ngoại giao trong
thời đại của ông. Ông chiếm vị trí quan trọng ngang nhau trong cả lịch sử triết học và lịch sử toán học. Ông khám phá ra vi tích phân độc lập với Isaac Newton, và kí hiệu của ông được sử dụng rộng rãi từ đó. Ông cũng khám phá ra hệ thống số nhị phân, nền tảng của hầu hết các cấu trúc máy tính hiện đại. Trong triết học, ông được nhớ đến nhiều nhất với chủ nghĩa lạc quan, i.e., kết luận của ông là vũ trụ của chúng ta là, trong một nghĩa giới hạn, là một vũ trụ tốt nhất mà God có thể tạo ra. Ông, cùng với René Descartes và Baruch Spinoza, là một trong ba nhà lý luận (rationalist) nổi tiếng của thế kỉ 17, nhưng triết học của ông cũng nhìn ngược về truyền thống Scholastic và dự đoán trước logic hiện đại và triết học phân tích. Leibniz cũng có nhiều đóng góp lớn vào vật lý và kỹ thuật, và dự đoán những khái niệm sau này nổi lên trong sinh học, y học, địa chất, lý thuyết xác suất, tâm lý học, ngôn ngữ học và công nghệ thông tin. Ông cũng viết về chính trị, luật, đạo đức học, thần học, lịch sử và ngữ văn,
đôi khi làm cả vài câu thơ. Đóng góp của ông trong nhiều lĩnh vực khác
nhau xuất hiện rải rác trong các tạp chí và trong trên mười ngàn lá thư
và những bản thảo chưa xuất bản. Nhiều bản thảo của ông được viết bằng
tốc kí sử dụng sáng chế của riêng ông sử dụng số nhị phân để mã hóa các
chuỗi kí tự. Cho đến nay, không có sưu tập đầy đủ về những tác phẩm và
bản thảo của Leibniz, và do đó thống kê hết những thành tựu ông đạt được
là không thể biết được.
1714–16: Georg Ludwig, khi trở thành George I của Anh, đã cấm Leibniz không cho theo ông tới Luân Đôn. Leibniz trải qua những ngày cuối đời không ai chú ý tới.
Đầu đời
Gottfried Leibniz được sinh ra vào 1 tháng 7 năm 1646 ở Leipzig
cha là Friedrich Leibniz và mẹ là Catherina Schmuck. Sau này, ông
thường kí tên là "von Leibniz", và trong nhiều tái bản của các tác phẩm
của ông sau khi ông qua đời người ta thường in tên ông ở trang bìa là
"Freiherr [Bá tước] G. W. von Leibniz." Nhưng không có tài liệu nào
khẳng định ông được phong danh hiệu quý tộc.
Khi Leibniz lên sáu tuổi, cha của ông, một Giáo sư Triết học Đạo đức tại Đại học Leipzig, qua đời, để lại một thư viện cá nhân mà Leibniz được tự do đi vào đọc từ năm lên bảy tuổi. Đến năm 12 tuổi, ông đã tự học tiếng Latin, mà ông đã sử dụng thoải mái cho đến suốt đời, và bắt đầu học tiếng Hy Lạp.
Ông vào học đại học trường của cha ông vào năm 14 tuổi, và hoàn thành
bằng đại học năm 20 tuổi, chuyên về luật và nắm vững các khóa học đại
học trong các môn cổ điển, logic, triết học. Tuy nhiên, giáo dục của ông
về toán không thỏa mãn tiêu chuẩn của Pháp và của Anh. Vào năm 1666 (20
tuổi), ông xuất bản cuốn sách đầu tiên của ông, cũng là luận án habilitation của ông về triết học, De Arte Combinatoria (Về nghệ thuật tổ hợp). Khi Leipzig
từ chối không bảo đảm một vị trí giảng dạy về luật sau khi ông tốt
nghiệp, Leibniz đã trình luận án mà ông dự tính nộp cho Leipzig sang đại
học khác, Đại học Altdorf,
và có được bằng tiến sĩ luật trong vòng 5 tháng. Sau đó ông từ chối một
ví trí giảng dạy tại Altdorf, và trải quãng đời còn lại phục vụ cho hai
gia đình quý tộc lớn ở Đức.
1666–1674
Vị trí đầu tiên của Leibniz là một giả kim thuật được trả lương ở Nürnberg,
cho dù là ông không biết gì về vấn đề đó cả. Không lâu sau đó ông gặp
Johann Christian von Boineburg (1622–1672), bộ trưởng chính bị thất sủng
của Tuyển hầu (Elector) của xứ Mainz, Johann Philipp von Schönborn.
Von Boineburg thuê Leibniz làm trợ lý, và không lâu sau giảng hòa với
Tuyển hầu và giới thiệu Leibniz cho ông ta. Leibniz liền thảo ra một bài
luận về luật pháp để trình cho Tuyển hầu với hy vọng xin được việc làm.
Chiến thuật đó thành công; vị Elector yêu cầu Leibniz giúp ông soạn
thảo lại bộ luật cho tỉnh của ông. Vào năm 1669, Leibniz được bổ nhiệm
Hội thẩm viên trong Tòa Thượng thẩm. Mặc dù von Boineburg mất cuối năm
1672, Leibniz vẫn được sử dụng bởi vợ của ông cho đến bà cho ông thôi
việc vào năm 1674.
Von Boineburg đã làm nhiều việc để làm tăng danh tiếng của Leibniz,
và những lá thư và các văn bản pháp lý soạn thảo bởi Leibniz đã bắt đầu
thu hút những sự chú ý thuận lợi. Phục vụ của Leibniz đối với Tuyển hầu
về sau đã có vai trò trong ngoại giao. Ông xuất bản một bài viết, dưới bút danh của một nhà quý tộc người Ba Lan
không có thật, biện luận cho (nhưng không thành công) một ứng viên
người Đức cho hoàng gia Ba Lan. Chính trị châu Âu trong thời trưởng
thành của Leibniz là tham vọng của vua Louis XIV của Pháp, được sự trợ giúp của sức mạnh quân sự và kinh tế của Pháp. Trong khi đó, cuộc Chiến tranh ba mươi năm
đã làm những vùng châu Âu nói tiếng Đức kiệt quệ, phân rã, và lạc hậu
về kinh tế. Leibniz đề nghị bảo vệ vùng châu Âu nói tiếng Đức bằng cách
làm phân tán sự chú ý của Louis bằng cách sau. Pháp sẽ được mời đánh
chiếm Ai Cập như là một bước tiến vững chắc để dần đi đến việc chinh phục Đông Ấn của Hà Lan.
Đổi lại, Pháp phải đồng ý không quấy phá Đức và Hà Lan. Kế hoạch này đã
được Tuyển hầu ủng hộ một cách cảnh giác. Vào năm 1672, nhà nước Pháp
đã mời Leibniz đến Paris
để thảo luận, những dự tính đó không thành do các sự kiện sau đó và
việc đó không còn quan trọng nữa. Napoleon đã thất bại trong việc xâm
lược Ai Cập vào năm 1798 có thể xem như là một sự thi hành không thành
công dự tính của Leibniz.
Do đó Leibniz bắt đầu trải qua vài năm ở Paris, trong thời gian đó
ông đã mở rộng hẳn kiến thức về toán và vật lý của ông, và bắt đầu đóng
góp vào cả hai ngành. Ông đã gặp Malebranche và Antoine Arnauld, những triết gia hàng đầu của Pháp vào thời điểm đó, và nghiên cứu những tác phẩm của René Descartes và Blaise Pascal, cả những bản thảo chưa xuất bản cũng như những cuốn đã xuất bản. Ông làm bạn với một nhà toán học người Đức, Ehrenfried Walther von Tschirnhaus; họ liên lạc với nhau cho đến cuối đời. Đặc biệt là Leibniz đã làm quen với nhà vật lý và toán học người Hà Lan là Christiaan Huygens,
lúc đó khả nổi ở Paris. Ngay sau khi đến Paris, Leibniz đã thức tỉnh;
kiến thức của ông về toán và vật lý rất rời rạc. Với Huygens như là
người hướng dẫn, ông bắt đầu một chương trình tự học mà không lâu sau đã
đem lại kết quả là ông bắt đầu có những đóng góp lớn cho cả hai ngành
đó, bao gồm cả việc đưa ra vi phân và tích phân theo ý của ông.
Khi mọi việc rõ ràng rằng Pháp sẽ không thi hành kế hoạch về Ai Cập
như là theo đề nghị của Leibniz, vị Tuyển hầu gửi cháu ông, tháp tùng
bởi Leibniz, trong một nhiệm vụ liên quan tới nhà nước Anh ở London, đầu năm 1673. Nơi đó Leibniz đã làm quen với Henry Oldenburg và John Collins. Sau khi trình bày cho Hiệp hội Hoàng gia (Royal Society)
một loại máy tính mà ông thiết kế và xây dựng từ năm 1670, loại máy đầu
tiên có thể tính được 4 phép toán cơ bản, Hiệp hội đã phong ông làm
thành viên nước ngoài. Chuyến đi đã kết thúc đột ngột khi tin về Tuyển
hầu qua đời đưa tới, và Leibniz phải quay lại Paris ngay sau đó mà không
phải Mainz như đã dự tính trước.
Cái chết đột ngột của hai nhà bảo trợ Leibniz trong cùng một mùa đông
đồng nghĩa với việc Leibniz phải đi tìm một cơ sở mới cho sự nghiệp của
ông. Về việc đó, một lời mời năm 1669 từ Công tước xứ Brunswick
để ghé thăm Hanover đã được xem là bước ngoặt. Leibniz khước từ lời
mời, nhưng bắt đầu liên lạc với vị Công tước năm 1671. Vào năm 1673, Công tước
phong cho ông chức Cố vấn mà Leibniz miễn cưỡng chấp nhận 2 năm sau đó,
chỉ sau khi mọi việc rõ ràng là không có việc làm ở Paris, nơi ông có
những cảm hứng về khoa học, hay là với triều đình Hapsburg sắp tới.
Hoàng tộc Hannover 1676–1716
Leibniz trì hoãn chuyến đi đến Hannover
cho tới cuối năm 1676, sau khi làm một chuyến đi ngắn tới London, nơi
mà có lẽ ông đã được xem một số công trình chưa xuất bản của Newton về
vi tích phân. Sự kiện này dường như đã ủng hộ những lời cáo buộc, xảy ra
nhiều thập kỉ sau đó, rằng ông đã ăn cắp vi tích phân từ Newton. Trong
chuyến đi từ London đến Hannover, Leibniz dừng lại ở Den Haag nơi ông đã gặp Leeuwenhoek, người đã khám phá ra vi sinh vật (microorganisms). Ông cũng trải qua vài ngày tranh luận hăng say với Spinoza, người vừa mới hoàn thành tác phẩm chính, Đạo đức.
Leibniz kính trọng kiến thức của Spinoza, nhưng không hài lòng với
những kết luận của ông mâu thuẫn với giáo lý Thiên chúa giáo.
Năm 1677, ông được thăng chức, theo yêu cầu của ông, lên chức Privy
Counselor of Justice, một vị trí ông nắm giữ cho tới cuối đời. Leibniz
đã phục vụ ba đời cai trị liên tiếp của hoàng tộc Brunswick như là sử
gia, cố vấn chính trị, và sau hết, như là quản thư cho thư viện của công
tước. Từ dạo đó ông đã sử dụng ngòi bút của mình trên tất cả các vấn đề
khác nhau liên quan tới chính trị, lịch sử và thần học có liên quan tới Hoàng tộc Brunswick; các tài liệu đó làm thành một phần có giá trị đối với lịch sử trong giai đoạn đó.
Trong một vài người ở miền bắc nước Đức đón tiếp Leibniz nồng nhiệt là Nữ Tuyển hầu tước (Electress) Sophia xứ Hanover (1630–1714), con gái bà là Sophia Charlotte xứ Hanover (1668–1705), Hoàng hậu Phổ và đồ đệ trung thành của bà, và Caroline xứ Ansbach, người tình của cháu nội bà, vua George II
tương lai. Đối với những người phụ nữ này ông vừa là bạn, cố vấn, và
liên lạc viên. Đổi lại, họ nồng nhiệt với ông hơn là chồng của họ và cả
vua trong tương lai George I của Anh. Tỷ như Hoàng hậu Sophia Charlotte nước Phổ, bà thích đàm luận với Leibniz hơn hẳn bất kỳ một yến tiệc linh đình nào trong cung đình xa hoa của Vua Friedrich I khi đó.
Dân số của Hannover chỉ vào khoảng 10.000, đã tầm vóc nhỏ bé của nó
cuối cùng đã làm Leibniz không hài lòng. Tuy vậy, là một đại thần của
Hoàng tộc Brunswick
là một vinh dự, đặc biệt là uy tín của Hoàng tộc đó tăng đáng kể trong
thời gian Leibniz liên hệ với họ. Vào năm 1692, Công tước của Brunswick
trở thành Tuyển hầu theo thừa kế của Thánh chế La Mã. Bộ luật Hòa giải 1701 của Anh đã chỉ định Nữ tuyển hầu Sophia và con cháu của bà như là thành viên hoàng gia của Liên hiệp Anh, khi cả Vua William III và em dâu và cũng là người kế ngôi ông, Hoàng hậu Anne,
qua đời. Leibniz đã đóng một vai trò trong việc đề ra và các thương
lượng dẫn tới bộ luật đó, nhưng không luôn luôn mang lại hiệu quả. Chẳng
hạn, một vài thứ ông xuất bản giấu tên ở Anh, nghĩ rằng sẽ đem lại lợi
ích cho hoàng tộc Brunswick, bị kiểm duyệt chính thức bởi Quốc hội Anh.
Gia tộc Brunswick đã có những ưu đãi đáng kể với những công sức mà
Leibniz dành cho những theo đuổi về khoa học mà không liên quan gì đến
việc triều đình, những việc chẳng hạn như hoàn thiện vi tích phân, viết
về những loại toán khác, logic, vật lý, và triết học, và trao đổi thư từ
với rất nhiều người. Ông bắt đầu nghiên cứu về vi tích phân trong năm
1674; những chứng cứ sớm nhất là những bài toán ông sử dụng nó còn lại
trong những cuốn sổ tay của ông năm 1675. Cho tới năm 1677 ông đã có một
hệ thống hoàn thiện trong tay, nhưng không xuất bản nó cho tới năm
1684. Những bài báo về toán quan trọng nhất của ông được xuất bản trong
giai đoạn 1682 và 1692, thường là trong tạp chí ông và Otto Mencke sáng
lập năm 1682, tạp chí Acta Eruditorum.
Tạp chí này đã đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao uy tín khoa
học và toán học của ông, và hệ quả là nâng cao uy tín của ông trong
ngoại giao, lịch sử, thần học và triết học.
Tuyển hầu Ernst August thuê Leibniz viết về lịch sử của Hoàng tộc Brunswick, truy ngược về thời gian của Charlemagne
hay là xưa hơn nữa, hy vọng là cuốn sách khi hoàn thành sẽ đẩy mạnh
thêm những tham vọng đế vương của ông ta. Từ 1687 đến 1690, Leibniz đi
khắp nơi trong nước Đức, Áo và Ý,
tìm kiếm những tư liệu cho công trình này. Nhiều thập kỉ trôi qua nhưng
cuốn sách lịch sử không hề xuất hiện; vị Tuyển hầu kế tiếp khá bực mình
với sự sao nhãng rõ rệt của Leibniz. Leibniz không bao giờ hoàn thành
công trình này, một phần vì một số lượng lớn những công trình trên các
lãnh vực khác nhau của ông được xuất bản, nhưng cũng một phần vì ông
nhất định muốn viết một cuốn sách uyên bác dựa trên tài liệu được nghiên
cứu kỹ lưỡng, trong khi những người tài trợ ông chỉ cần ông viết một
cuốn sách nhỏ ở tầm mức phổ thông, một cuốn sách có lẽ là giống như gia
phả với những lời bình luận, được hoàn thành trong ba năm hay ngắn hơn.
Họ không biết rằng thật ra ông đã thi hành phần lớn những công việc mà
ông được giao: khi các tư liệu mà Leibniz đã viết ra và sưu tầm về lịch
sử của Hoàng tộc Brunswick cuối cùng cũng được xuất bản vào thế kỉ 19,
nó gồm tới 3 tập.
Năm 1711, John Keill, viết trong tạp chí của Hội Hoàng gia (Royal Society) và với sự ủng hộ của Newton, đã cáo buộc Leibniz ăn cắp vi tích phân từ Newton. Do đó đã bắt đầu cuộc tranh cãi ai khám phá vi tích phân đầu tiên
đã làm tối đi quãng đời còn lại của Leibniz. Một cuộc điều tra chính
thức bởi Hội Hoàng gia (trong đó Newton là một người tham dự nhưng không
công khai), đã diễn ra để đáp lại yêu cầu của Leibniz là Keill phải rút
lại lời cáo buộc đó. Các nhà viết sử toán học từ 1900 trở đi đã thừa
nhận Leibniz vô tội, chỉ ra những khác biệt quan trọng giữa hai phiên
bản vi tích phân của Leibniz và Newton.
Năm 1711, trong khi du hành phía bắc châu Âu, Sa hoàngPeter Đại Đế
(Nga) dừng chân ở Hannover và gặp Leibniz, và Leibniz bắt đầu tìm hiểu
về số vấn đề liên quan tới Nga trong quãng đời còn lại của ông. Năm
1712, Leibniz bắt đầu cư trú tại Viên trong hai năm, nơi ông được bổ nhiệm làm cố vấn triều đình cho hoàng tộc Habsburg. Khi Hoàng hậu Anne qua đời năm 1714, Tuyển hầu Georg Ludwig trở thành Vua George I của Anh, dưới các điều khoản của Act of Settlement
năm 1701. Mặc dù Leibniz đã làm rất nhiều để sự kiện này diễn ra, công
lao to lớn của ông không được công nhận. Mặc cho sự can thiệp của Công
chúa xứ Wales, Caroline của Ansbach,
George I đã cấm Leibniz không được đi theo ông đến London cho đến khi
ông hoàn thành ít nhất là một tập của cuốn sách viết về lịch sử của
hoàng tộc Brunswick mà cha ông đã thuê Leibniz viết gần 30 năm trước đó.
Hơn thế nữa, nếu George I mời cả Leibniz vào triều đình của ông ta ở
London thì đó sẽ là một điều trêu chọc Newton, người được xem như đã
chiến thắng trong cuộc tranh cãi ai phát minh ra vi tích phân trước và
cũng là một người có địa vị cao trong hoàng tộc Anh. Cuối cùng, người
bạn thân và cũng là người bảo vệ ông, Nữ Tuyển hầu tước Sophia, qua đời năm 1714.
Leibniz qua đời ở Hannover năm 1716: vào lúc đó, ông bị thất sủng cho
đến nỗi mà cả George I (người tình cờ ở gần Hannover vào lúc đó) cũng
như các quan trong triều nào đến dự đám tang của ông, chỉ có người thư
kí riêng của ông dự tang. Mặc dù Leibniz là thành viên cả đời của Hiệp
hội Hoàng gia Anh và của Viện hàn lâm khoa học Berlin,
cả hai tổ chức đó đều không đứng ra tổ chức tang lễ cho ông. Mộ của ông
không được đánh dấu trong hơn 50 năm. Leibniz được đọc điếu văn bởi Fontenelle, trước Viện Hàn lâm khoa học Pháp (Academie des Sciences) ở Paris, nơi đã công nhận ông là một thành viên nước ngoài vào năm 1700. Bản điếu văn được viết theo lệnh của nữ công tước của Orlean, cháu gái của Nữ Tuyển hầu Sophia.
Leibniz không bao giờ lập gia đình. Đôi lúc ông phàn nàn về tiền
nong, nhưng khoản tiền không nhỏ mà ông để lại cho người thừa kế duy
nhất của ông, con trai kế của em gái ông, chứng tỏ là hoàng tộc
Brunswick đã trả lương ông khá hậu. Trong những cố gắng về ngoại giao,
đôi khi ông đứng trên vùng ranh của những người không theo nguyên tắc
nào cả, hành vi khá phổ biến của những nhà ngoại giao thời đó. Trong một
vài lần, Leibniz sửa lại ngày tháng và thay đổi những ghi chép cá nhân,
những hành động không thể được tha thứ hay bảo vệ và đã đặt ông vào tư
thế bất lợi trong cuộc tranh cãi về vi tích phân. Mặt khác, ông khá nồng
hậu và cư xử tốt, với nhiều bạn bè và nhiều người kính nể trên toàn
châu Âu.
Được xem là một thiên tài,
Leibniz chủ yếu viết bằng ba thứ tiếng: Latin bác học (hơn 40%), Pháp
(hơn 35%) và Đức (dưới 25%). Xuyên suốt cuộc đời mình, ông đã xuất bản
nhiều cuốn sách nhỏ cũng như các bài viết học thuật, nhưng chỉ có hai
cuốn sách tương đối triết lý là Combinatorial Art(Nghệ thuật kết hợp) vàThéodicée. (Ông xuất bản rất nhiều sách nhỏ, chủ yếu dưới dạng vô danh, trên danh nghĩa Quốc hội của Brunswick-Lüneburg,
đáng chú ý nhất là cuốn "De jure suprematum" (tạm dịch là Tối cao pháp
quyền), một tư tưởng về bản chất của tự trị). Vị Vua đa tài của nước Phổ
là [[Friedrich II của Phổ|Friedrich II Đại Đế (chính là cháu nội của
Hoàng hậu Sophie Charlotte bạn ông) đam mê đọc tác phẩm của ông. 12 - Charles Darwin
Charles Robert Darwin (12 tháng 2, 1809 – 19 tháng 4, 1882) là một nhà nghiên cứu nổi tiếng trong lĩnh vực tự nhiên học người Anh. Ông là người đã phát hiện và chứng minh rằng mọi loài đều tiến hóa theo thời gian từ những tổ tiên chung qua quá trình chọn lọc tự nhiên. Nếu như sự tiến hóa được cộng đồng các nhà khoa học và công chúng chấp nhận ở thời đại Darwin, thì lý thuyết
chọn lọc của ông trong những năm 1930 được xem như lời giải thích chính
yếu cho quá trình này, và ngày nay đã trở thành nền tảng cho lý thuyết
tiến hóa hiện đại. Khám phá của Darwin là lý thuyết thống nhất cho các
ngành khoa học sinh vật vì có thể đưa ra lời giải thích duy lý cho sự đa dạng loài.
Trong thời gian học ở Đại học Edingburgh, Darwin bỏ bê việc học y khoa để tìm hiểu những loài động vật biển có xương sống. Sau đó ông học ở Đại học Cambridge, ở đây người ta khuyến khích đam mê nghiên cứu khoa học
Trong suốt chuyến hành trình năm năm sau đó ông có những quan sát và lý
thuyết ủng hộ cho ý tưởng thống nhất sinh học của Charles Lyell. Ông
cũng trở thành tác giả nổi tiếng sau khi xuất bản nhật ký về chuyến hải hành. Tự vấn về sự phân bố của các loài hoang dã và các hóa thạch theo phân vùng địa lý,
Darwin đã tìm hiểu về sự biến đổi hình thái của các loài và phát triển
lý thuyết chọn lọc tự nhiên vào năm 1838. Ông hoàn thành lý thuyết vào
năm 1858. Khi đó Alfred Russel Wallace gởi đến ông bài luận cũng về ý
tưởng như vậy. Sau đó cả hai cùng hợp tác để xuất bản lý thuyết này.
Cuốn sách Nguồn gốc muôn loài (On the Origin of Species, 1859) của ông nói rằng tiến hóa qua các thế hệ là do biến dị và điều này cung cấp lời giải thích khoa học cho sự đa dạng trong tự nhiên. Ông kiểm định sự tiến hóa của loài người và chọn lọc giới tính
trong các cuốn Dòng dõi của Con người (The Descent of Man), Quá trình
Chọn lọc Liên quan đến Giới tính (Selection in Relation to Sex), sau đó
là Biểu lộ Cảm xúc ở Con người và Loài vật (The Expression of Emotions
in Man and Animals). Những nghiên cứu của ông về thực vật được xuất bản
trong một loạt cuốn sách. Cuốn cuối cùng của ông là về các loài địa côn
trùng và ảnh hưởng của chúng đối với đất.
Để ghi nhận công lao to lớn của Darwin, ông là một trong năm người không thuộc Hoàng gia Anh của thế kỷ 19 được cử hành quốc tang và được chôn ở Westminster Abbey, cạnh mộ của John Herschel và Isaac Newton.
Tuổi thơ và quá trình học tập
Charles Robert Darwin sinh ngày 12 tháng Hai năm 1809 tại Shrewbury, Shropshire, nước Anh.
Darwin là con kế út trong gia đình khá giả có sáu người con.ông nội ông
là một nhà bác học có những nghiên cứu rất sâu về động vật, thực
vật,khoáng chất đồng thời ông là nhà phát minh,nhà triết học,thi sĩ và bác sĩ,
còn ông ngoại là người nổi tiếng với phong cách vẽ màu trên đồ gốm hết
sức nổi tiếng và độc đáo. Cha ông là bác sĩ và là nhà tài chính tên Robert Darwin, mẹ ông là Susannah Darwin.
Ngay từ lúc tám tuổi, Charles đã được biết đến lịch sử tự nhiên và sưu
tập. Tháng bảy năm 1817 mẹ ông qua đời. Từ tháng chín năm 1818 ông cùng
anh trai học ở ngôi trường gần nhà.
Mùa hè năm 1825 Darwin làm bác sĩ tập sự cho cha ông để chữa trị
những bệnh nhân nghèo ở Shropshire. Sau đó vào tháng mười ông cùng anh
trai đến Đại học Edingburgh. Ông không thích những bài giảng và phẫu thuật nên bỏ bê việc học hành. Ông học việc nhồi xác động vật (taxidermy) từ John Edmonstone, một nô lệ da đen được trả tự do mà ông mô tả là "rất dễ chịu và thông minh".
Năm thứ hai ông tham gia Hội Plinian (Plinian Society), một nhóm sinh viên đam mê lịch sử tự nhiên. Ông giúp Robert Edmund Grant tìm hiểu về giải phẫu và vòng đời của các động vật biển có xương sống. Tháng ba năm 1827 ông trình bày trước Hội Plinian phát hiện của ông về bào tử sống trong vỏ sò thực ra là trứng đĩa (skate leech). Darwin không thích những giờ giảng lịch sử tự nhiên trên lớp vì nó đề cập đến địa lí và tranh luận Neptunism và Plutonism. Ông học cách phân loại thực vật, tham gia sưu tập mẫu vật cho Bảo tàng Đại học - một trong những bảo tàng đồ sộ nhất châu Âu thời này.
Việc ông bỏ vê học hành y khoa làm cha ông nổi giận. Ông bị buộc vào trường Christ’s College, Cambridge để học cử nhân thần học, vì cha ông muốn con trai mình trở thành mục sư
Anh giáo và đây là bước đầu để chuẩn bị. Darwin nhập học vào tháng
Giêng năm 1828. Tuy nhiên, ông thích cưỡi ngựa săn bắn hơn học. Người
anh em bà con giới thiệu ông với nhóm sưu tầm bọ.
Ông hăng hái tham gia và có vài phát hiện được đăng trên tập Minh Họa
Côn Trùng Học của Stevens. Ông là bạn thân đồng thời là môn đệ của giáo
sư thực vật John Stevens Henslow.
Ông có cơ hội gặp những nhà tự nhiên học hàng đầu khác. Mặc dù lơ là
việc học nhưng ông cũng tập trung chăm chỉ khi các kỳ thi đến gần. Trong
kỳ thi cuối khóa tháng Giêng năm 1831 ông làm bài tốt và đỗ hạng mười
trong tổng số 178 sinh viên tốt nghiệp.
Darwin ở Cambridge tới tháng sáu năm đó. Ông học thuyết tự nhiên
của Paley - lý thuyết đề cập đến vấn đề thừa kế trong tự nhiên và giải
thích thích nghi là tác động của Chúa thông qua những quy luật tự nhiên.
Ông đọc cuốn sách mới xuất bản của John Herchel
nói về mục đích cao cả nhất của triết học tự nhiên là hiểu những quy
luật của nó thông qua lý luận quy nạp dựa trên quan sát. Ông còn đọc
cuốn Personal Narrative của Alexander von Humboldt. Với nhiệt huyết muốn cống hiến cho khoa học, Darwin dự định học xong sẽ đến Tenerife cùng bạn bè để nghiên cứu lịch sử tự nhiên vùng nhiệt đới. Để chuẩn bị cho chuyến đi, ông đã theo học lớp địa lý của Adam Sedgwick, sau đó cùng ông này đi lập bản đồ địa tầng ở Wales trong mùa hè. Ông trở về nhà và nhận được thư giới thiệu của Henslow cho vị trí nhà tự nhiên học trên tàu MHS Beagle đi thám hiểm và vẽ bản đồ bờ biển Nam Mỹ.
Cha của Darwin lúc đầu phản đối kế hoạch vì ông cho rằng chuyến đi chỉ
lãng phí thời gian. Sau đó, em rể ông thuyết phục để Darwin đi và cuối
cùng ông cũng chấp nhận.
Hành trình của tàu Beagle
Chuyến hành trình lập bản đồ bờ biển kéo dài năm năm. Trong suốt thời
gian này Darwin dành thời gian ở trên đất liền để tìm hiểu địa lí và
sưu tập lịch sử tự nhiên. Ông ghi chép cẩn thận những quan sát và những
giả thuyết của mình. Ông thường xuyên gửi những mẩu vật đến Cambridge và
thư viết về nhật ký hành trình cho gia đình. Mặc dù thường xuyên bị say sóng, nhưng đa số ghi chép về động vật học của ông liên quan đến các loài động vật biển có xương sống.
Trong chuyến dừng chân đầu tiên ở St Jago, Darwin phát hiện được nhiều vỏ sò biển trên vách đá núi lửa. Thuyền trưởng FitzRoy đưa ông đọc tập một cuốn Địa Lý Cơ Bản của Charles Lyell.
Quan sát của Darwin kiểm chứng cho giả thuyết của Charles Lyell nói
rằng các vùng đất được nâng lên hoặc hạ xuống qua một khoảng thời gian
dài. Darwin hình thành lý thuyết để viết một cuốn sách về địa lý. Đến Brazil, Darwin bị rừng nhiệt đới cuốn hút. Tuy nhiên, cảnh nô lệ ở đây làm ông thấy thương xót.
Ở Punta Alta, Patagonia, ông khám phá hóa thạch của những loài hữu nhũ khổng lồ bị tuyệt chủng trên vách đá bên cạnh những vỏ sò biển hiện đại. Điều này cho thấy rằng những loài này bị tuyệt chủng mà không gặp phải thảm họa hoặc biến đổi khí hậu. Ông nhận dạng được loài Megatherium nhỏ bé, với lớp giáp bằng sừng mà lúc đầu ông thấy giống như phiên bản thu nhỏ của loài ẩm dillos
địa phương. Phát hiện này làm nhiều người thích thú khi họ quay về Anh.
Trong quá trình đi sâu vào đất liền để khám phá địa lý và thu thập hóa
thạch ông có thêm những hiểu biết về xã hội, chính trị và nhân chủng về người bản địa cũng như thực dân. Đi sâu hơn về phía Nam ông thấy những đồng bằng gồm những lớp đá cuội và vỏ sò nằm liên tiếp nhau. [...]. Ông đọc tiếp tập hai cuốn sách của Lyell. Ông công nhận cách nhìn của Lyell về "trung tâm khởi tạo" của mọi loài. Tuy nhiên, những phát hiện và giả thuyết của ông lại mâu thuẫn với ý tưởng của Lyell về biến đổi dần dần (smooth continuity) và sự tuyệt chủng.
Trong chuyến đi này của tàu Beagle, có ba người Fuegians được đem về Anh trong một năm và sau đó đưa trở lại để làm nhà truyền giáo. Darwin thấy những người này thân thiện, có văn hóa,
trong khi đó những người bản địa là "những thổ dân khốn khổ, thấp kém".
Darwin cho rằng sự khác biệt này cho thấy sự tiến bộ về văn hóa chứ
không phải do chủng tộc. Khác với những nhà khoa học khác, Darwin nghĩ không có ranh giới bất khả giữa con người và động vật.
Sau một năm, nhiệm vụ truyền giáo dừng lại. Một người Fuegian được đặt
tên Jemmy Button sống như người bản địa khác, lấy vợ, và không muốn quay
lại Anh.
Ở Chilê, Darwin gặp một trận động đất. Nhờ vậy ông thấy được vùng đất đã được nhô cao lên và kèm theo nó là các lớp vỏ trai. Trên dãy Andes ông thấy vỏ sò, vài hóa thạch cây cối từng sống trên bãi biển. Ông lập luận rằng khi mặt đất nhô lên thì những biển đảo chìm xuống và các bãi san hô hình thành nên các vòng san hô.
Trên địa vùng Quần đảo Galapagos mới hình thành, Darwin tìm kiếm bằng chứng để chứng minh những loài hoang dã ở đây được bắt nguồn từ tổ tiên "trung tâm sáng tạo". Ông phát hiện vài loài chim nhại giống với loài tìm thấy ở Chile nhưng khác với các loài ở trên các đảo khác. Ông nghe nói những loài rùa có mai khác nhau cho biết chúng từ đảo nào nhưng không sưu tập được. Những con chuột túi và thú mỏ vịt ở Úc có hình dạng khác thường làm Darwin nghĩ rằng có hai Tạo hóa riêng biệt. Ông thấy người Úc bản địa "vui tính và dễ chịu". Ông cũng lưu ý sự định cư của dân châu Âu đã tàn phá cuộc sống họ như thế nào.
Tàu Beagle tìm hiểu cách hình thành các vòng san hô của quần đảo Cocos.
Điều này cũng giúp cũng cố thêm giả thuyết của Darwin. Thuyền trưởng
FitzRoy bắt tay viết nhật ký tàu Beagle. Sau khi đọc nhật ký của Darwin,
FitzRoy đề nghị hai người cộng tác để viết chung một cuốn sách. Nhật ký
của Darwin được biên tập thành một tập riêng biệt về lịch sử tự nhiên.
Đến Mũi Hảo Vọng, Darwin và FitzRoy gặp John Herschel,
người đã ngợi ca lý thuyết thống nhất của Lyell là giả định về "điều bí
ẩn của những bí ẩn, sự thay thế các loài tuyệt chủng bởi các loài khác"
là "một nhân tố tương phản với một tiến trình kỳ diệu". Trên đường quay
về nước Anh, Darwin ghi chú rằng nếu như những nghi ngờ của ông về chim
nhại, rùa và vùng Falkland Island Fox
là đúng, thì "những yếu tố này bác bỏ giả thuyết về Loài". Sau đó ông
cẩn thận thêm "có thể" trước "bác bỏ". Sau này ông viết những yếu tố này
"dường như đem lại ánh sáng cho nguồn gốc các loài".
Khởi đầu cho Lý Thuyết Tiến Hóa
Tháng mười hai năm 1835, một năm trước khi trở về Anh, những bức thư của Darwin được thầy của mình là Henslow giới thiệu cho cộng đồng những nhà tự nhiên học. Ông nhanh chóng nổi tiếng. Darwin về đến Anh ngày 2 tháng mười năm 1836. Ông ghé thăm nhà ở Shrewbury để gặp họ hàng của mình, sau đó nhanh chóng đến Cambridge gặp thầy Henslow. Ông gợi ý Darwin tìm những nhà tự nhiên học để phân loại các mẫu sưu tập, chính ông cũng nhận phân loại những mẫu thực vật. Cha của Darwin tài trợ để ông nghiên cứu như nhà khoa học độc lập. Darwin phấn khích tìm khắp các viện nghiên cứu ở Luân Đôn các chuyên gia để phân loại mẫu vật.
Charles Lyell háo hức đến gặp Darwin lần đầu ngày 29 tháng mười. Ông giới thiệu với Darwin nhà giải phẫu Richard Owen, người đang trên đường đến Luân Đôn. Trường Cao đẳng Giải phẫu Hoàng gia (Royal College of Surgeons) nơi Owen nghiên cứu có trang thiết bị để phân tích những mẫu xương hóa thạch Darwin đã thu thập. Owen bất ngờ khi thấy những con lười (sloth) tuyệt chủng, một bộ xương gần hoàn chỉnh (của loài Scelidotherium, lúc bây giờ chưa biết tới), một hộp sọ giống loài gặm nhấm có kích thước sọ hà mã trông như của một con lợn nước (capybara) khổng lồ (của loài Toxodon). Có nhiều mãnh giáp của loài Glyptodon. Những loài bị tuyệt chủng này có mối liên hệ gần gũi với những loài sống ở Nam châu Mỹ.
Darwin đến ở Cambridge vào giữa tháng mười hai để sắp xếp công việc và biên tập lại nhật ký hành trình. Ông viết báo cáo khoa học đầu tiên nói về những vùng đất rộng lớn ở Nam Mỹ đang dần trồi lên. Lyell nhiệt thành giúp đỡ ông trình bày trước Hội Địa lí ở Luân Đôn ngày 4 tháng một năm 1837. Cũng ngày hôm đó, ông trình bày những mẫu vật động vật hữu nhũ và chim cho Hội Động vật Học. Nhà cầm học (ornithologist) [[John Gould nhận thấy những con chim mà Darwin đã lầm tưởng là những quạ, chim yến hồng, chim mỏ to thực ra là mười hai loài chim sẻ
khác nhau. Ngày 17 tháng hai Darwin được bầu làm thành viên Hội Địa lí,
nơi mà Lyell đang nắm chức chủ tịch. Lyell giới thiệu những phát hiện
của Owen về những hóa thạch Darwin sưu tầm. Ông nhấn mạnh rằng sự thay
đổi dần dần của các loài trải qua các vùng địa lý cũng cố cho ý tưởng
của ông về thống nhất.
Đầu tháng ba, Darwin chuyển đến Luân Đôn để tiện cho công việc. Ông tham gia cộng đồng các nhà khoa học và savants của Lyell. Ông gặp được Charles Babbage,
người mô tả Chúa là người lập trình cho các định luật. Lá thư của John
Herschel về "bí ẩn của những bí ẩn" của các loài mới hình thành được bàn
luận rộng rãi.
Đến giữa tháng bảy năm 1837 Darwin bắt tay viết Sự Biến Đổi của các Loài. Trên trang 36 của cuốn vở tựa là "B" này ông viết "Tôi nghĩ" bên trên cây tiến hóa. Trong lần gặp đầu tiên để trao đổi chi tiết những phát hiện của mình, Gould nói với Darwin những con chim nhại Galápagos trên các hòn đảo là những loài độc lập chứ không chỉ là các biến thể của nhau. Ngoài ra, những con chim hồng tước (wren) thuộc vào họ chim sẽ (finch). Hai con đà điểu cũng thuộc các loài khác nhau. Ngày 14 tháng ba Darwin thông báo rằng sự phân bố của chúng thay đổi đi về phía nam.
Giữa tháng ba Darwin đưa ra giả định là có khả năng "một loài biến
đổi thành loài khác" để giải thích sự phân bố theo địa lý của các loài
đang sống như đà điểu và các loài đã tuyệt chủng như Macrauchenia (trông như con guanaco
khổng lồ). Ông phác họa một nhánh dòng dõi, và sau đó là một nhánh di
truyền của một cây tiến hóa đơn lẻ. Với cây tiến hóa này thì "Thật vô
nghĩa khi nói một loài vật tiến bộ hơn loài khác", và như vậy là bác bỏ
giả thuyết tiến triển tuyến tính độc lập từ dạng này sang dạng khác tiến
bộ hơn của Lamarck.
Làm việc quá mức, bệnh tật, hôn nhân
Khi đang nghiên cứu về Sự Biến đổi, Darwin vướng vào các việc khác nữa. Vừa viết Nhật ký Hải hành, ông vừa biên tập và xuất bản các báo cáo khoa học về những mẫu sưu tầm. Được Henslow giúp sức, ông còn giành được phần thưởng 1000 bảng Anh tài trợ cho cuốn sách nhiều tập Động vật học. Darwin hoàn thành cuốn Nhật ký ngày 20 tháng bảy năm 1837 (ngày Nữ hoàng Victoria lên ngôi), sau đó các bằng chứng trong cuốn sách còn phải được sửa chữa lại.
Darwin gặp phải vấn đề sức khỏe do làm việc dưới áp lực. Ngày 20
tháng mười hai ông bị triệu chứng tim đập nhanh. Bác sĩ khuyên ông ngừng
làm việc để đến vùng quê nghỉ trong vài tuần. Sau khi về thăm
Shrewsbury ông đến họ hàng ở Maer Hall, Staffordshire. Những người ở đây lại quá háo hức muốn ông kể về chuyến đi (trên tàu Beagle)
nên ông không được nghỉ ngơi nhiều. Chú Jos của ông chỉ ông xem một
mảnh đất có bọt đá biến mất dưới đất mùn. Ông chú nghĩ có thể là do côn trùng
đất và điều này gợi ý cho "một lý thuyết mới mẽ và quan trọng" về vai
trò của côn trùng trong việc hình thành đất trồng trọt. Darwin trình bày
kết quả trước Hội Địa lí vào ngày 1 tháng mười một.
William Whewell thúc giục Darwin nhận chức thư ký Hội Địa lí. Tháng
ba năm 1838, sau vài lần từ chối thì cuối cùng Darwin cũng nhận lời. Mặc
dù miệt mài viết và biên tập các báo cáo, Darwin cũng tạo nên những
tiến bộ đáng kể về thuyết Sự Biến Đổi. Ông tận dụng mọi cơ hội có được
để chất vấn các chuyên gia tự nhiên học cũng như những người có kinh
nhiệm thực tế như nông dân, người nuôi chim bồ câu... Càng về sau nghiên
cứu của ông còn lấy thông tin có từ người thân, con cái, người làm việc
nhà, hàng xóm, những người định cư và những người cùng đi trên tàu
Beagle hồi trước. Ông còn đưa con người vào giả thuyết của mình. Ngày 28
tháng ba năm 1838 ông thấy một con đười ươi trong sở thú và ghi chú nó
có hành động giống như trẻ em.
Do làm việc quá sức, tháng sáu năm đó ông bị đau dạ dày, đau đầu và
triệu chứng bệnh tim. Cho đến hết đời, ông liên tục bị hành hạ bởi đau
dạ dày, ói, phỏng nặng, tim đập bất thường, run và các bệnh khác. Nguyên
nhân bệnh tình của ông đến giờ vẫn không rõ, và những cố gắng điều trị
đều không mấy thành công.
Ngày 23 tháng sáu ông đến Scotland
để nghỉ ngơi. Đến tháng bảy ông đã hoàn toàn bình phục và quay trở lại
Shrewsbury. Bình thường ông hay ghi chú những quan sát về sự sinh sản
của động vật nên ông cũng dùng cách này để ghi những ý nghĩ về tiền đồ
sự nghiệp. Ông dùng hai mảnh giấy trên đó ghi hai cột "Lấy vợ" và "Không
lấy vợ". Điểm lợi bao gồm "bạn đồng hành và là bạn đời khi về già... dù
sao cũng hơn vật nuôi", điểm bất lợi là "có ít tiền hơn để mua sách" và
"mất quá nhiều thời gian". Sau khi đã có quyết định cho riêng mình ông
bàn với cha ông. Họ đến thăm Emma vào ngày 29 tháng bảy. Trái với lời
khuyên của cha, ông không ngỏ lời cầu hôn mà chỉ nói với Emma nhứng ý
tưởng của ông về Sự Biến Đổi.
Darwin quay lại London và tiếp tục nghiên cứu. Ông đọc cuốn Thảo luận về Nguyên lý của Dân số.
Tháng mười năm 1838, tức là mười lăm tháng kể từ khi tôi bắt đầu phân
tích có hệ thống, tôi bắt gặp cuốn sách của Malthus bàn về Dân số. Qua
quan sát hành vi của động thực vật suốt thời gian dài, tôi đã được biết
cuộc đấu tranh sinh tồn hiện diện ở mọi nơi. Nó ngay lập tức làm tôi nảy
ra ý nghĩ là trong những hoàn cảnh như vậy những biến dị phù hợp với
môi trường sống sẽ được bảo tồn, còn những biến dị bất lợi sẽ bị tiêu
diệt. Kết quả của quá trình này là một loài mới ra đời. Vậy là cuối cùng
tôi cũng có một lý thuyết để nghiên cứu...
Malthus cho rằng nếu dân số không được kiểm soát thì nó sẽ phát triển
theo cấp số nhân và sớm vượt ngưỡng cung lương thực (được biết với khái
niệm thảm họa Malthusian). Darwin - với nền tảng kiến thức của mình -
đã nhanh chóng nhận ra điều này cũng được áp dụng cho ý tưởng của de
Candolle về "cuộc chiến giữa các loài" cây và đấu tranh sinh tồn giữa
các loài hoang dã. Điều này giải thích được tại sao số lượng cá thể
trong một loài được giử tương đối cân bằng. Các loài luôn sinh sản vượt
quá nguồn cung thức ăn, những biến dị thuận lợi có các cơ quan tốt hơn
để sinh tồn và được truyền lại cho con cháu của chúng, trong khi đó
những biến dị bất lợi sẽ bị mất đi. Hệ quả là một loài mới được hình
thành. Ngày 28 tháng mười hai năm 1838 ông ghi chú lại phát hiện mới mẻ
này, và mô tả đó như là việc "chèn" những cấu trúc thích nghi vào những
khoảng trống của tự nhiên do những cấu trúc yếu hơn bị loại bỏ đã để
lại. Đến giữa tháng mười hai, ông nhận thấy điểm tương đồng giữa việc
những nông dân chọn ra những giống gia súc sinh sản tốt nhất với sự chọn
ngẩu nhiên từ những cá thể trong Thuyết tự nhiên Malthusian (Malthusian
Nature). Mỗi phần của cấu trúc mới đều phù hợp với thực tế và hoàn hảo.
Ông thấy sự so sánh này là "phần đẹp đẽ của lý thuyết".
Darwin cưới Emma Wedgwood. Ngày 11 tháng mười một, ông quay lại Maer
và ngỏ lời cầu hôn Emma, lần này ông cũng nói những ý tưởng của mình về
Sự Biến Đổi. Cô nhận lời. Những lá thư sau đó cô cho biết mình đánh giá
cao sự cởi mở của Darwin khi chia sẻ những điểm khác biệt giữa họ, đồng
thời bày tỏ niềm tin sâu sắc của cô vào Unitarrian và lưu ý những nghi
ngờ của ông sẽ chia cách họ khi đã qua đời ra sao. Darwin quay lại Luân
Đôn để tìm mua nhà và lại bị những căn bệnh hành hạ. Emma viết cho ông
nói rằng hãy nghỉ ngơi và lưu ý "Đừng bị bệnh nữa à Charley, cho đến khi
em đến sống cùng anh và chăm sóc cho anh". Darwin tìm được căn nhà tên
Macaw Cottage ở phố Gower, sau đó chuyển nguyên "bảo tàng" của ông đến
đây. Ngày 24 tháng một năm 1839 Darwin được bầu làm Thành viên Hội Hoàng
gia.
Darwin cưới Emma Wedgwood ngày 29 tháng hai, ngay sau đó cả hai lên
tàu đến ngôi nhà mới của mình ở Luân Đôn. Ông qua đời ngày 19 tháng 4
năm 1882. Vì những cống hiến vượt thời đại của ông với sinh học nói
riêng và khoa học nói chung, người ta đã mai táng ông ở Westminster
Abbey, cạnh mộ của Isaac Newton.
Thành công
Sau chuyến đi huyền thoại vòng quanh thế giới trong 5 năm trời,
Charles Darwin đã đi đến một lý thuyết làm chấn động nền tảng khoa học
của thế kỉ 19: loài người có họ hàng với loài vượn! Trong cuốn sách "Nguồn gốc muôn loài"
(The Origin of Species) ông đã đưa ra một quan điểm có tính chất cách
mạng nói rằng tất cả các loài sinh vật, từ con kiến cho đến con voi, đều
nằm trong vòng chọn lọc của tự nhiên. Những con vật thích nghi với tự
nhiên sẽ tồn tại; những con không thích nghi sẽ bị diệt vong. Nhà thờ và
công chúng đã bị sốc nặng qua cuốn sách trên. Họ kêu: "Con người do
Chúa trời tạo ra... Con người là loài siêu đẳng, độc nhất vô nhị." Những
cuộc tranh cãi bùng lên xoay quanh một quan điểm cốt tử: sự sống trên
Trái Đất diễn ra như thế nào.
Lý thuyết tiến hóa của Darwin đã được toàn thể cộng đồng khoa học
chấp nhận vào khoảng những năm 1930-1950, thừa nhận chọn lọc tự nhiên là
cơ chế tiến hóa của sự sống.
Trang này được sửa đổi lần cuối lúc 10:01 ngày 3 tháng 3 năm 2016.
Khám phá cuộc đời thú vị của nhà bác học Charles Darwin (Phần I)
Có thể bạn chưa biết ông thích ăn những động vật kỳ lạ và còn là một chuyên gia tâm lý
Charles Robert Darwin ( 12 tháng 2 , 1809 – 19 tháng 4 , 1882 ) là
một nhà nghiên cứu nổi tiếng trong lĩnh vực tự nhiên học người Anh . Ông
là người đã phát hiện và chứng minh rằng mọi loài đều tiến hóa theo
thời gian từ những tổ tiên chung qua quá trình chọn lọc tự nhiên .
Nếu như sự tiến hóa được cộng
đồng các nhà khoa học và công chúng chấp nhận ở thời đại Darwin, thì lý
thuyết chọn lọc của ông trong những năm 1930 được xem như lời giải thích
chính yếu cho quá trình này, và ngày nay đã trở thành nền tảng cho lý
thuyết tiến hóa hiện đại. Tuy nhiên đó chỉ là những điều người ta hay
biết tới nhất về ông. Xung quanh ông còn rất nhiều điều thú vị chưa được
nhiều người biết tới. Trong bài viết này, Genk xin được đề cập tới
những khía cạnh thú vị trong cuộc đời người khai sinh thuyết tiến hóa
nổi tiếng. Darwin đã từng bị phản đối bởi nhiều tôn giáo
Tôn giáo thường có nhiều vấn đề
và quan niệm mà đi khác với con đường của khoa học, nhất là trong thời
kì ngày xưa khi mà mọi vấn đề khúc mắc của thế giới đều được giải thích
qua các truyền thuyết. Các nhà khoa học theo đó đã luôn có một khoảng
thời gian bị các tôn giáo (đặc biệt là các tôn giáo độc thần) ghét bỏ.
Và Charles Darwin cùng những nghiên cứu của ông cũng đã đối mặt với
những phản ứng tiêu cực từ Kitô giáo, đạo Tin Lành, Do Thái giáo và Hồi
Giáo. Hung hăng nhất trong số đó là vài hệ phái bảo thủ của đạo Tin Lành
Trong một cuốn tự truyện của mình, Darwin đã hồi tưởng lại việc mình
đã bị chế giễu bởi các sĩ quan tàu HMS Beagle như thế nào. Những người
này là tín đồ Thiên Chúa Giáo và họ cho rằng những điều viết trong Kinh
Thánh là đúng còn nhà khoa học Darwin chỉ là kẻ điên. Thực ra bản thân
Darwin không phải là một tín đồ của bất kì giáo phái nào nhưng ông cũng
không có tư tưởng bài trừ tôn giáo, theo lời tự sự, tuổi trẻ ông luôn có
một niềm tin vững vàng rằng Chúa có tồn tại và những linh hồn là bất
tử. Tuy nhiên sau này khi tới Brazil và tiếp xúc sâu hơn với thiên
nhiên, khoa học nghiên cứu, ông đã bắt đầu quãng thời gian khó khăn
trong tư tưởng của mình, dần đặt câu hỏi về sự tồn tại của Chúa và những
niềm tin thời trẻ cũng lu mờ đi. Sau này, ông miêu tả rằng niềm tin
thời tuổi trẻ của mình giống như là cảm giác “mù màu”. Thích được thử nhiều mùi vị món ăn
Ngay từ thời học đại học, Darwin
đã tham gia một nhóm gọi là Câu lạc bộ ẩm thực Glutton mà ở đó các thành
viên sẽ tới mỗi tuần để “thử” các món ăn kì lạ, những món ăn thường mà
chẳng ai muốn ăn. Có lẽ đây cũng là một phần trong niềm đam mê với tự
nhiên, hoang dã của ông. Nhóm Glutton không ăn những món tráng miệng hay
đồ uông kì lạ mà thường là ăn những loài chim hoang dã khác nhau. Sau
quãng thời gian đại học, đi nhiều vùng trên thế giới trên tàu HMS
Beagle, ông vẫn tiếp tục sở thích này của mình. Trong chuyến đi tới
nhiều vùng trên thế giới, ông đã thử qua không biết bao nhiêu mùi vị các
con vật. Ông còn miêu tả trong hồi kí của mình về một loài gặm nhấm có
màu socola là loại thịt ngon nhất ông từng nếm thử. Thậm chí loài chim
hoàn toàn mới mang tên ông Rhea Darwinii cũng đã được ông thưởng thức
trên bàn ăn của mình.
Sau này khi tới quần đảo Galapagos thậm chí đã cưỡi rùa cạn và uống
chất lỏng từ bong bóng của chúng. Thứ này được ông miêu tả là khá trong
trẻo và chỉ mang một hương vị đắng rất nhẹ. Khi tới đến khu vực Nam Mỹ,
cuộc du hành vị giác của ông còn phong phú hơn, ông thậm chí đã được ăn
thịt báo. Càng đi sâu vào thế giới tự nhiên, Darwin càng không ngại ngần
thử sức ở những loại thức ăn kì dị hơn. Cho đến bây giờ để kỉ niệm cuộc
đời và cuộc phiêu lưu sành ăn của ông, những người hâm mộ đã tổ chức
những bữa ăn vào khoảng thời gian tháng hai hằng năm. Đó là những bữa
tối làm theo phong cách chế biến từ càng nhiều loài càng tốt từ lớp thú,
giáp xác tới côn trùng đều đủ cả. Nguồn cảm hứng của Karl Marx
Một số người đổ lỗi cho lý thuyết
của Darwin về căn bệnh của chủ nghĩa tư bản. Một vài người đã nắm lấy
lý thuyết chọn lọc tự nhiên và áp dụng nó ngay lập tức cho nền kinh tế
xã hội, từ đó sinh ra học thuyết Darwin xã hội. Tín đồ của học thuyết
này tin rằng kinh tế thành công hay thất bại của một cá thể con người
cũng giống như cuộc đấu tranh của động vật để tồn tại trong rừng. Những
người này không khuyến khích sự hỗ trợ của chính phủ cũng như các hoạt
động từ thiện giúp đỡ người nghèo bởi họ tin rằng loài người sẽ phát
triển hơn nếu như những người nghèo này không tồn tại. Hai người đàn ông
được coi là giàu nhất trong thời kì này Andrew Carnegie và John
Rockefeller là tín đồ của học thuyết. Họ thừa nhận rằng lý thuyết chắc
chắn ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và tham làm của chủ nghĩa tư bản trong
đầu thế kỉ 20. Do vậy, phần lớn những người phản đối chủ nghĩa tư bản
không ủng hộ cho thuyết chọn lọc tự nhiên.
Tuy nhiên, sự thật lại ngược lại, thuyết chọn lọc tự nhiên của Darwin
lại có một sự ảnh hưởng lớn tới mặt bên kia của thế giới. Trong khi học
thuyết Darwin xã hội coi lý thuyết của Darwin như một cách để biện minh
cho sự tham lam và áp bức thì Karl Marx lại xem chúng là một câu chuyện
ngụ ngôn cho đấu tranh giai cấp. Nhà triết học nổi tiếng người Đức đã
thấy rằng Nguồn gốc các loài của Darwin là cơ sở sinh học của chủ nghĩa
xã hôi. Ông nói rằng cuộc đầu tranh và tồn tại của các loài khẳng định
sự tồn tại của đấu tranh tầng lớp mà ông thấy xảy ra trong xã hội. Một
tầng lớp cũng giống như một sinh vật, chiến đấu để tồn tại trong một môi
trường thù địch, áp bức và bóc lột. Rõ ràng là với cả hai phía, học
thuyết Darwin đều có những ảnh hưởng khá quan trọng. Nhà tâm lý học Charles Darwin
Trong chuyến du hành cùng tàu
Beagle, Darwin đã có vinh dự được tiếp xúc với rất nhiều các nền văn hóa
mang nhiều sắc màu khác nhau trên thế giới. Tất nhiên là ở một số nơi
rào cản ngôn ngữ đã ngăn cản ông giao tiếp với người đại phương nhưng
những cảm xúc được bày tỏ như niềm hạnh phúc, sự giận giữ, buồn bã hay
sợ hãi đều được ông ghi nhớ. Ông đã lưu ý rằng những cảm xúc đến từ nền
văn hóa khác nhau được thể hiện rất khác nhau. Và đây chính là nền tảng
cơ sở để ông đi vào nghiên cứu một chút trong vấn dề tâm lý học, phát
triển ra một khái niệm phổ quát về emotions (cảm xúc). Ông đã thực hiện
trao đổi nhiều thư từ với nhiều nhà khoa học để nghiên cứu hiện tượng
này, trong đó có một bác sĩ người Pháp tên là Guillaume-Benjamin-Amand
Duchenne. Duchenme đã nghiên cứu cơ mặt và cho rằng khuôn mặt con người
có thể thể hiện tới 60 loại cảm xúc khác nhau. Trong quá trình trao đổi,
Darwin đã không đồng ý rằng 60 là con số đúng. Ông tin rằng chỉ có một
vài trong số các cảm xúc là phổ biến với tất cả con người. Để kiếm tra
ông đã tiến hành thí nghiệm và hầu như tất cả những người tham gia thể
hiện được các cảm xúc chung như tức giận, hạnh phúc sợ hãi nhưng với
nhưng cảm xúc còn lại mọi người thể hiện khá khó hiểu và không giống
nhau. Điều này đã khẳng định giả thuyết của Darwin rằng chỉ một vài cảm
xúc là mọi người có những thể hiện khá giống nhau cũng như con số 60 cảm
xúc tổng quát cho cơ mặt con người là không đúng.
Ngoài nghiên cứu về cảm xúc, ông còn quan tâm tới khái niệm lòng từ
bi và tin rằng cảm giác của chúng ta về đạo đức và lòng từ bi là xuất
phát từ mong muốn tự nhiên để giảm bớt sự đau khổ cho người khác. Và
thật trùng hợp là quan điểm này giống với lời dạy trong Phật giáo Tây
Tạng. Darwin và sự cân nhắc trong chuyện hôn nhân
Nhà khoa học tài ba này đã có một
cuộc hôn nhân đầy hạnh phúc cùng người bà con Emma Wedgewood. Hôn lễ
của họ đã diễn ra vào ngày 29 tháng 1 năm 1839. Tuy nhiên một chi tiết
không được nhiều người biết tới đó là vài tháng trước khi cầu hôn người
vợ của mình, ông đã rất đắn đo trước khi bước vào cuộc sống hôn nhân.
Ông thậm chí đã lập một bảng danh sách những ưu nhược điểm của việc nếu
kết hôn và không kết hôn. Darwin đã miêu tả rằng "Trẻ con (nếu điều đó
làm hài lòng Chúa) - đối tượng để yêu thương và chơi đùa cùng - bằng
cách nào đó cũng tốt hơn một con chó". Cuộc sống cũng sẽ thi vị hơn với
"một người bạn đời chung thủy", "một người vợ hiền bên bếp lửa với sách
và âm nhạc", "một cuộc sống không lo béo phì và bệnh tật"... dù hơi mất
thời gian.
Darwin luôn là một con người bay bổng, thích tự do và đặt ra cho mình
nhiều kế hoạch du lịch khám phá. Ngoài ra công việc nghiên cứu khoa học
cũng rất quan trọng, nếu kết hôn ông sẽ bị bó buộc với trách nhiệm và
kiếm tiền. Ông đã lo lắng “tự hỏi” : "liệu mình có thể phải sống ở
London như một tù nhân?" và nhiều lần lo sợ một cuộc sống nghèo đói với
con cái nheo nhóc. Tuy nhiên thì cuối cùng ông cũng ra quyết định kết
hôn và thực hiện việc đó khá nhanh chóng. Darwin đã cùng vợ sống hạnh
phúc bên nhau suốt 43 năm cho đến khi ông mất vào năm 1882. Họ đã có với
nhau mười mặt con. Cuộc hôn nhân của ông được ví như lời giải nhiệm mầu
phá vỡ niềm tin cho rằng tình yêu và công việc không thể cùng tồn tại.
Khám phá cuộc đời thú vị của nhà bác học Charles Darwin (Phần II)
Tiếp tục tìm hiểu những điều có thể bạn chưa biết về cuộc đời của nhà bác học Charles Darwin
Charles Robert
Darwin ( 12 tháng 2 , 1809 – 19 tháng 4 , 1882 ) là một nhà nghiên cứu
nổi tiếng trong lĩnh vực tự nhiên học người Anh . Ông là người đã phát
hiện và chứng minh rằng mọi loài đều tiến hóa theo thời gian từ những tổ
tiên chung qua quá trình chọn lọc tự nhiên . Darwin và liệu pháp trị liệu bằng nước
Sức khỏe của Darwin không được
tốt. Theo bệnh sử, ông thường xuyên mắc phải những chứng bệnh đau bụng
dữ dội với hiện tượng nôn mửa sau mỗi bữa ăn trong suốt cuộc đời của
mình. Thậm chí Darwin từng có những thời khắc nóng giận vô cớ. Đây là
một vấn đề dai dẳng đến tận khi chết ông cũng không biết mình bị bệnh gì
cũng như không được chữa khỏi. Thời bấy giờ có một số bác sĩ ở Anh chẩn
đoán rằng ông mắc một số bênh như nhiễm độc chì, thần kinh và gút. Tuy
nhiên do những hạn chế về y học thời bấy giờ mà có vẻ như không bệnh nào
là chính xác. Mãi sau hơn 100 năm ngày ông mất, gần đây người ta mới
nghiên cứu sâu và cho rằng ông bị Charles Darwin bị mắc ba căn bệnh đặc
trưng: hội chứng nôn chu kỳ (CVS), căn bệnh này thường bắt đầu từ thời
kỳ thơ ấu; bệnh Chagas - một bệnh do ký sinh trùng đã hình thành trong
thời gian Darwin đi trên con tàu HMS Beagle; bệnh nhiễm Helicobacter
pylori - loại vi khuẩn mà mãi tới ngày nay người ta mới biết là chúng
gây ra chứng viêm loét dạ dày tá tràng.
Dù vậy, trong cuộc đời mình Darwin đã sử dụng một liệu pháp trị bệnh
bằng nước được cho là hữu dụng nhất trong những phương thuốc ông thử.
Sau khi đọc một cuốn sách của một bác sĩ tên là Gully về điều trị bằng
nước , nhà tự nhiên học trở nên quan tâm và không lâu sau ông cùng gia
đình chuyển tới một căn hộ thuê gần phòng khám của bác sĩ Gully để được
chăm sóc. Tại đây ông đã được chữa theo một chu trình khá kì lạ : làm
nóng cơ thể cho tới khi toát mồ hôi sau đó cọ xát mạnh bằng khăn ngâm
với nước lạnh, sau đó sẽ được đưa vào phòng ngâm chân lạnh, đeo một
miếng gạc ước trên vùng dạ dày cả ngày. Bản thân Darwin thì thấy việc
điều trị này không khoa học những lại khá hiệu quả. Tuy ông vẫn phát
bệnh nhưng sức khỏe ông đã đỡ hơn một phần nào đó sau những giờ trị liệu
bằng nước này. Darwin tìm hiểu về động đất
Có ít nhất 25 trận động đất lớn
đã được ghi nhận xảy ra ở biên giới Chile kể từ năm 1973 và làm chết
hàng ngàn người. Darwin đã trải nghiệm cái nhìn về một trong những trận
độc đất mạnh nhất trong khoảng thời gian đó, trận động đất Concepcion
năm 1835. Đây là một trận động đất rất mạnh với cường độ vào khoảng 8,8
độ richter. Nó chỉ xảy ra trong vòng hai phút và mất 6 giây để phá hủy
toàn bộ thành phố. Ngay trong thời gian đấy, Darwin đang lênh đênh trên
biển cùng tàu Beagle và khi dạt tới bờ biên Concepcion, ông đã ngay lập
tức tiến hành điều tra về bản chất và nguồn gốc của trận động đất này.
Trong các ghi chép của mình, ông đã miêu tả rằng sự tàn phá ở đây là
những cảnh tượng khủng khiếp nhất mà tôi từng trông thấy. Ông đã quan
sát hậu quả của trận động đất và nhận tất bờ biển của Chile đã bị đẩy
cao lên, đặt biệt là khu vực đảo Santa Maria cao lên tận 3 mét so với độ
cao ban đầu. Darwin tiến hành tập hợp các tài liệu từ việc quan sát của
mình và một số lời khai của người dân để xây dựng lại một số vấn đề
trước và trong trận động đất. Sau nhiều tuần điều tra, ông đã phát hiện
ra rằng có thể các trận động đất được gây ra bởi một chuỗi các núi lửa
dọc theo bờ biển Chile. Những núi lửa này đã phun trào ngay trước khi
trận động đất xảy ra. Sự cải hối trên giường bệnh của Darwin
Trong khoảng nửa sau của thế kỉ
19, cái tên Darwin đã rất nổi tiếng trong giới khoa học. Và ở lĩnh vực
truyền giáo, cái tên nổi tiếng là một phụ nữ lên là Elizabeth Hope.
Khoảng đầu năm 1880, khi Darwin lâm bệnh nặng, Elizabeth chỉ mới trở nên
nổi tiếng trong giới truyền đại. Họ là hai con người thuộc hai thế giới
hoàn toàn riêng biệt. Và việc hai người có thể đứng chung trong một căn
phòng có vẻ rất khó xảy ra. Tuy nhiên trong một bài báo xuất bản năm
1915 của tờ Baptist Boston Watchman Examiner, người ta đã tuyên bố rằng
chính xác điều đó đã xảy ra. Và bài báo này đã viết rất chi tiết việc
Darwin mời Elizabeth vào phòng và thể hiện sự hối tiếc của ông khi phát
triển thuyết tiến hóa. Ông đã yêu cầu nhà truyền giáo chia sẻ điều này
với mọi người và mong được chúa Jesu cứu rỗi.
Câu chuyện này đã là đề tài hấp dẫn trong cả một thời gian dài. Rất
nhiều người thích thú khi biết nhà khoa học lại đính chính và hối hận về
chính ý tưởng của mình cũng như chuyển sang hâm mộ đạo Kito bất ngờ.
Những người không ủng hộ Darwin đã dựa vào câu chuyện này để đối phó với
thuyết tiến hóa cũng như tái khẳng định vào những câu chuyện trong Kinh
Thánh. Tuy nhiên, không may là câu chuyện này đã nhanh chóng bị vạch
trần. Trong cuốn tự truyện của mình, Darwin đã nhiều lần đề cập tới sự
“không hợp” giữa ông và thiên chúa giáo. Con trai ông, Francis Darwin đã
tuyên bố rằng cha mình luôn duy trì tư tưởng này cho tới cuối đời. Darwin bị rối loạn thần kinh
Trong cuộc đời mình Darwin đã mắc
rất nhiều căn bệnh liên quan tới thể chất. Ông không khỏe có lẽ do
trong quá trình bôn ba đã trải qua đủ các căn bệnh, môi trường cũng như
gặp phải nhiều gian nan. Tuy nhiên trong một số nghiên cứu, các nhà khoa
học thấy rằng ông không chỉ có vấn đề thể chất mà tinh thần cũng có
bệnh. Ông thường xuyên thư từ cho bạn bè và tâm sự rằng mình bị ám ảnh
bởi một số cảnh tượng kinh khủng và điều này thường diễn ra vào ban đêm.
Ông thường thấy mình gặp phải tai nạn lớn. Trong một bức thư gửi tới
người bạn thân là tiến sĩ Hooker, Darwin đã viết : “ Tôi không thể ngủ
được và bất kì điều gì tôi làm ban ngày lại quay trở lại ám ảnh tôi vào
ban đêm, chúng lặp lại sống động vô cùng.” Ông còn luôn bị hoang tưởng
rằng mình sẽ vượt qua bệnh tật, không ngừng quan trọng hóa ngoại hình và
luôn cho mình là quá xấu xí. Ông luôn cần những câu nói an ủi, sự đảm
bảo từ những người xung quanh để giảm bớt căng thẳng. Theo người viết
tiểu sử về Darwin, ông bị chứng loạn thần kinh do hồi bé đã không thể
bộc lộ được sự đau buồn khi mẹ mất dẫn tới ức chế thần kinh. Đảo Ascension
Cách đây 200 năm ở phía nam Đại
Tây Dương, có một hòn đảo núi lửa nhỏ, bị cô lập cách khoảng 1600 km
ngoài khơi bờ biển châu Phi. Đó chính là đảo Ascension. Từ khi được phát
hiện ra vào năm 1501, đây hoàn toàn là một đảo không người ở, hoàn toàn
khô cằn và thiếu sức sống. Tới năm 1815, Hải Quân Hoàng Gia Anh sử dụng
nó như một trạm quân sự để canh chừng Napoleong bị giam hãm trên người
làng giềng St Helena. Cho đến bây giờ, đảo Ascension không còn ảm đạm và
hoang vắng như trước. Dân số nơi đây đã lên tới khoảng 1100 người và
cảnh quan nơi đây cũng đã đẹp hơn trước rất nhiều. Tất cả đều nhờ công
của Charles Darwin. Sau năm năm trên tàu Beagle, chuyến hành trình của
Darwin sửa kết thúc, ông đã nghe nói rằng khám phá của mình gây ra phấn
khích lớn tại London. Trên đường về, Beagle đi ngang qua Ascension,
Darwin đã gợi được cảm hứng và sự tò mò từ Darwin. Ngay sau khi trở về
nước Anh, ông và người bạn thân John Hooker đã lên kế hoạch để biến hòn
đảo khô cằn thiếu sức sống trở thành một “nước Anh thu nhỏ”. Dưới sự
giúp đỡ của Hải Quân Hoàng Gia Anh, cả hải đã bố trí cho rất nhiều các
loài thực vật khác nhau từ khắp thế giới được trồng trên đảo.Việc này
bắt đầu từ nă m1850 và tiếp tục mỗi năm sau đó.
Tới những nă m1870, hòn đảo đã trở nên xanh hơn đáng kể. Các loài
thực vật thường không được thấy ở cạnh nhau cũng đã lần đầu tiên mọc
cạnh nhau trên đảo Ascension. Và các cây này cuối cùng sẽ lấy được nước
ngọt từ không khí, giải quyết vấn đề nguồn cung cấp nước của đảo. Trong
khi các hệ sinh thái thường cần hàng triệu năm để phát triển thị hệ sinh
thái nhân tạo trên đảo này chỉ cần vài thập kỉ nhờ dự án của Darwin và
bạn ông. Nhà sinh thái học người Anh David Wilkinson nói rằng NASA có
thể học hỏi từ phương pháp của Darwin nếu họ muốn cải tạo sao Hỏa.
Kỷ niệm 200 năm ngày sinh
CharlesRobert
Darwin (12/02/1809 — 19/04/
1882) và 150 năm Tác Phẩm On the Origin of
Species (Nguồn Gốc của các Chủng Loại)
1809 là
năm chào đời của các danh nhân trên thế giới
như Abraham Lincoln, vĩ nhân giải phóng nô
lệ, Charles Darwin, nhà sinh vật học lừng
danh, William Gladstone, Thủ Tướng của nước
Anh, Felix Mendelssohn, nhạc sĩ tài hoa, các
thi nhân như Edgar Allen Poe, Elizabeth
Bannett Browning, Alfred Tennyson.
Trong
số các danh nhân kể trên và trong số hàng
triệu người ra đời trong thể kỷ 19, ngoại
trừ Karl Marx, Charles Darwin đã làm thay
đổi các khuynh hướng tư tưởng của Nhân Loại,
tạo nên một hướng nhìn mới. Cuốn sách “Về Nguồn Gốc của các Chủng Loại
do Cách Chọn Lựa Tự Nhiên” (On the Origin of
Species by Means of Natural Selection) của
Charles Darwin đã là một khúc quanh của nền
Khoa Học mới, tạo nên một lý thuyết gây
chấn
động cho tới thời gian gần đây, ảnh hưởng
sâu đậm không chỉ vào phạm vi suy nghĩ khoa
học mà còn tới các địa hạt Triết Học, Tôn
Giáo và các ngành tư tưởng khác. Ngày nay, các nguyên tắc căn bản của lý
thuyết Darwin hầu như được toàn thế giới
khoa học chấp nhận nhưng khởi đầu, lý thuyết
này đã gây nên sóng gió trong gần một thế
kỷ. Khởi đầu vào năm 1860 là vụ tranh luận
tại thành phố Oxford, với rất nhiều cuộc
tranh cãi khác rồi tới năm 1925 là “vụ kiện
con khỉ” (Monkey trial) tại tiểu bang
Tennessee, Hoa Kỳ, và các tranh luận chỉ
nguôi dần qua thời gian.
1/ Vụ kiện “Con
Khỉ”.
Vào năm 1925, tiểu bang Tennessee của Hoa Kỳ
thông qua Đạo Luật Butler (the Butler Act)
cấm đoán việc giảng dạy Thuyết Tiến Hóa tại
các trường học trong tiểu bang. Các chống
đối đã diễn ra và một vụ kiện được đưa ra
trước Công Lý. Bị lôi ra trước Tòa là ông
John T. Scopes, 24 tuổi, giáo sư Khoa Học và
ông bầu của đội banh bầu dục. Ông Scopes thú
nhận rằng mình đã vi phạm luật do giảng dạy
lý thuyết của Charles Darwin. Vì vậy vào
tháng 7 năm đó đã xẩy ra “vụ kiện Scopes con
khỉ” (Scopes Monkey Trial) mà các nhà sử học
về Luật Pháp coi đây là vụ án của thế kỷ.
Vụ án này là tiêu đề lớn nhất trên toàn quốc
Hoa Kỳ, đã chế ngự mọi loại thông tin, các
báo chí, các hệ thống truyền thanh, đã làm
sáng tỏ các lý lẽ liên quan tới Hiến Pháp
Hoa Kỳ, tương tự như vấn đề ngăn cách Nhà
Thờ và Quốc Gia (separation of church and
state), như nền tự do học vấn (academic
freedom) cũng như việc diễn đạt Tu Chính Án
Thứ Nhất (the First Amendment). Nhưng chính
các nhân vật trong vụ tranh cãi đã khiến cho
vụ án trở nên một màn kịch.
Luật sư bên bị là ông Clarence Darrow, đã
đối đầu với một nhân vật đã từng ba lần làm
ứng viên Tổng Thống và cũng là một tín đồ
Thiên Chúa Giáo thuần thành, đây cũng là nhà
hùng biện danh tiếng William Jennings Bryan.
Sau khi quan tòa ngăn cản việc đưa ra nhân
chứng là các chuyên gia khoa học, luật sư
Darrow đã kêu gọi công tố viên Bryan đứng
làm chuyên gia về Thánh Kinh. Trong sức nóng
bức của tháng 7, ông Darrow không ngừng đặt
các câu hỏi về Thánh Kinh khiến cho cuối
cùng ông Bryan phải thú nhận rằng “sự sáng
tạo ra con người có thể cần tới hàng triệu
năm” mà không phải chỉ trong 6 ngày, theo
như Sách Sáng Thế (Genesis). Như vậy nhiều
người đã tin rằng luật sư bên bị đã thắng vẻ
vang về lý thuyết Tiến Hóa. Chiến thuật của
bên bị là đặt vấn đề bất hợp hiến của Đạo
Luật Butler, còn bên nguyên truy tố ông
Scopes đã vi phạm luật. Cuối cùng bồi thẩm
đoàn kết luận rằng ông Scopes “phạm tội”
(guilty), đây chính là điều bên bị mong
muốn! Bản án “phạm tội” này được chống án
lên Tòa trên, là nơi sẽ tiêu hủy Đạo Luật
Butler chống Thuyết Tiến Hóa. Tuy nhiên việc
chống án chỉ được xét xử vào năm 1967 trong
khi các hội đồng giáo dục của vài tiểu bang
Hoa Kỳ đã bỏ thăm không đề cập tới Thuyết
Tiến Hóa trong các câu hỏi thi trắc nghiệm
khi mà việc giảng dạy lý thuyết này còn
trong vòng tranh cãi.
2/ Thời kỳ đi học
và đi khảo sát của Charles Darwin.
Charles Darwin 7 tuổi, một năm trước ngày mẹ
mất
Charles Robert Darwin là cháu của hai người
ông danh tiếng và giàu có sống trong thời
đại Victoria của nước Anh. Ông nội Eramus
Darwin là một vị thầy thuốc và nhà tư tưởng
phóng khoáng, còn ông ngoại Josiah Wedgwood
là nhà sáng lập lò gốm Wedgwood và cũng là
một nhân vật hàng đầu trong cuộc Cách Mạng
Kỹ Nghệ tại nước Anh. Cha của Charles Darwin
là ông Robert Darwin, một bác sĩ tài giỏi
còn mẹ là bà Susannah Wedgwood. Charles
Darwin chào đời vào ngày 12 tháng 2 năm 1809
trong gia đình có người anh Eramus lớn hơn 4
tuổi. Gia đình này sống trong một tòa nhà
lớn bên ngoài thị xã Shrewsbury.
Khi còn nhỏ tuổi, Darwin không tỏ lộ một hứa
hẹn nào rằng sau này sẽ trở nên một nhà khoa
học lừng danh trên thế giới. Tuy xuất thân
từ một gia đình gồm các học giả và nhà
chuyên môn nhưng Darwin không phải là một
học sinh xuất sắc. Tại trường tiểu học, cậu
Charles chán nản trước tiếng La Tinh và
chương trình giáo dục cổ điển kém uyển
chuyển. Cậu bị vị hiệu trưởng trách mắng vì
đã phí thời giờ vào các thí nghiệm hóa học
hay vào công việc thu thập các côn trùng,
các mẫu đá. Theo bước chân của cha, Charles
được gửi tới trường Đại Học Edinburg vào
tuổi 16 để theo học Y Khoa. Sau hai năm học
tại trường này, cậu nhất định rằng ngành Y
không thích hợp nên được chuyển sang Đại Học
Cambridge để sau này phục vụ cho Nhà Thờ Anh
Cát Giáo.
Charles Darwin đã coi ba năm dài tại trường
đại học sau này là phí phạm thời gian nhưng
dù thế, Darwin đã hưởng lợi to lớn nhờ quen
biết hai vị thầy nhiều ảnh hưởng, đó là ông
John Stevens Henslow, giáo sư môn Thực Vật,
và ông Adam Sedgwick, giáo sư môn Địa Chất.
Nhờ hai vị thầy này chỉ dẫn, Darwin đã trải
qua nhiều thời giờ trong các cuộc du khảo,
thu lượm các loại côn trùng và thực tập cách
quan sát thiên nhiên.
Tầu H.M.S. Beagle
Nhờ sự giới thiệu của Giáo Sư Sedgwick,
Darwin được đề nghị đảm nhận chức vụ nhà tự
nhiên học (naturalist) trên con tầu hải quân
Beagle đi thực hiện một chuyến khảo sát kỹ
càng miền nam bán cầu. Tầu H.M.S. Beagle là
một con tầu nhỏ, dài 90 ft, rộng 24 ft nên
căn phòng dành cho Darwin rất chật hẹp.
Nhiều năm về sau khi nhìn lại cuộc hành
trình này, Darwin đã coi đây là “một biến cố
quan trọng nhất trong đời của tôi”. Trong 5
năm trường từ 1831 tới 1836, con tầu biển
Beagle đã ghé vào hầu như tất cả các lục địa
và các hòn đảo chính khi nó chạy vòng quanh
trái đất. Darwin đã phục vụ bằng các công
việc của nhà địa chất, nhà thực vật, nhà
động vật và một nhà khoa học tổng quát, đây
là một chuẩn bị đầy đủ dành cho cuộc đời
khảo cứu và viết sách của ông sau này. Tại
mỗi nơi đi qua, Darwin đều thu lượm thật
nhiều cây cỏ và thú vật, các vật hóa thạch
và các sinh vật, các hình thức sống trên mặt
đất hay dưới biển. Ông đã nghiên cứu bằng
con mắt của một nhà tự nhiên học các hệ thực
vật và hệ động vật (the flora and fauna) của
nhiều miền đất và miền biển, tìm kiếm thật
nhiều mẫu vật trên các cánh đồng hoang của
xứ Argentina, trên sườn núi khô cằn của rặng
núi Andes, nơi các hồ muối hay các sa mạc
của xứ Chile và Australia, trong rừng rậm
của xứ Brazil, Tierra del Fuego và Tahiti,
trên hòn đảo Cape Verde trơ trụi. Các nơi
khảo sát của Darwin còn là các cấu tạo địa
chất của bờ biển và miền núi Nam Mỹ, các
ngọn núi lửa đang hoạt động hay đã tắt trên
các hòn đảo hay đất liền, các đảo san hô,
các hóa thạch của động vật có vú nơi miền
Patagonia, các dấu vết suy tàn của con người
tại Peru và cả các thổ dân của miền Tierra
del Fuego và Patagonia.
Nhưng qua tất cả các miền đã từng thăm viếng
và khảo cứu, không nơi nào gây ấn tượng mạnh
tới Darwin hơn quần đảo Galapagos, nằm cách
bờ biển Nam Mỹ 500 dặm về phía tây. Trên hòn
đảo cô liêu, không người cư ngụ này, chỉ gồm
các ngọn núi lửa trơ trụi, Charles Darwin đã
nhìn thấy các con rùa khổng lồ, các con thằn
lằn thực to lớn chưa từng thấy trên thế
giới, các con cua và sư tử biển quá cỡ. Ông
cũng đặc biệt nhận thấy rằng các con chim
tại nơi đây tương tự như thứ chim trên các
hòn đảo bên cạnh nhưng không giống hệt.
Ngoài ra đã có sự thay đổi trong các loại
chim khác nhau từ hòn đảo này sang hòn đảo
khác.
Hiện tượng lạ lùng của các sinh vật trên
quần đảo Galapagos cộng với các sự kiện chắc
chắn đã được ghi nhận trước kia tại miền Nam
Mỹ đã tăng cường các ý tưởng về tiến hóa bắt
đầu hình thành trong đầu óc của Darwin. Ông
Darwin đã ghi trong sổ tay như sau: “tôi đặc
biệt ngạc nhiên thứ nhất vì các hóa thạch
của động vật có vẩy như loại armadillo hiện
có, thứ hai vì cách thức các động vật liên
hệ gần đã thay thế nhau trên lục địa khi đi
dần về phía nam và thứ ba, các sinh vật đổi
thay khác nhau đôi chút trên các hòn đảo
Galapagos dù cho các đảo này không rất cổ
theo ý nghĩa địa chất”. Charles Darwin đã
không hiểu ngay ý nghĩa của sự thay đổi hình
thức bên ngoài của các sinh vật, ông đã ghi
chép tất cả nhận xét để sau này nghiên cứu
khi trở về nước Anh. Ông không chấp nhận các
giáo điều trong Sách Sáng Thế (Genesis) theo
đó mọi chủng loại đã được tạo nêncùng một
lúc và không thay đổi qua thời gian.
Sau khi trở về nước Anh, Charles Darwin cho
xuất bản vào năm 1839 cuốn “Tạp Chí Khảo Cứu
Địa Chất và Khoa Học Tự Nhiên của các Quốc
Gia khác nhau do chuyến đi trên con tầu
Beagle” (Journal of Researches into the
Geology and Natural History of the Various
Countries Visited by H.M.S. Beagle) và ông
bắt đầu suy nghĩ về lý thuyết của sự tiến
hóa hữu cơ (organic evolution) theo đó các
chủng loại thay đổi không chỉ từ nơi này
sang nơi khác mà còn qua các thời đại địa
chất, ông muốn khám phá ra lý do của các
thay đổi và đồng thời, Darwin viết cuốn sách
“Nguồn Gốc của các Chủng Loại” (The Origin
of Species). Bản phác thảo đầu tiên gồm 35
trang viết vào năm 1842, qua năm 1844 đã
được nới rộng thành 230 trang. Từ đầu, bài
toán bí ẩn là làm sao cắt nghĩa đời sống hữu
cơ (organic life) đã bắt đầu phát triển kể
từ thời khởi đầu của trái đất, cắt nghĩa sự
xuất hiện và biến đi của các loài vật. Tại
sao các loài vật đã sinh ra, bị thay đổi qua
thời gian, phân chia thành các ngành khác
nhau và thường khi biến mất hoàn toàn?
3/ Lập gia đình và
nghiên cứu Khoa Học.
Vào ngày 19/1/1839, Charles Darwin kết hôn
với cô em họ gần tên là Emma Wedgwood. Cặp
vợ chồng này cư ngụ tại Bloomsbury trong một
căn nhà chứa nhiều mẫu vật giống như một
viện bảo tàng rồi 3 năm sau, họ dọn qua làng
Downe thuộc hạt Kent, một miền quê hẻo lánh.
Ông bà Darwin đã có 10 người con, 2 đứa trẻ
đã bị chết yểu, một người con gái tên là
Annie được yêu thương nhất đã qua đời năm
lên 10 tuổi, còn lại 7 người con khác đều có
cơ thể yếu đuối.
Trong 20 năm trường, Charles Darwin đã biên
soạn cuốn sách “Nguồn Gốc” kể trên, cụ thể
hóa các lý thuyết của mình. Ông đã đọc vô số
tài liệu: tạp chí, sách du lịch, sách thể
thao, sách dạy trồng hoa, sách dạy nuôi súc
vật và sách lịch sử tự nhiên. Ông đã nói
chuyện với nhiều nhà gây giống cây và thú
vật, đã gửi câu hỏi tới nhiều người hiểu
biết. Ông sưu tầm các bộ xương của các con
vật đã được thuần hóa, so sánh chúng với
xương của các con vật hoang dã. Ông đã khảo
cứu các trái cây và hạt giống nổi và di
chuyển trên mặt nước biển. Ông đã dùng các
dữ kiện thu lượm được trong cuộc hành trình
trên con tầu biển Beagle để giải đáp nhiều
bài toán liên quan tới thực vật học, động
vật học, địa chất học, cổ sinh vật học...
Charles Darwin đã dùng cách chọn lựa nhân
tạo (artificial selection) của các con vật
và cây cối thuần hóa: chó, mèo, ngựa, lúa
mì, lúa mạch, các loại hoa vườn... mà con
người đã lai tạo để có được thứ giống vật có
lợi cho nhu cầu. Như vậy nhiều chủng loại
mới đã được phát triển do chọn lựa. Ông đã
lý luận rằng nếu sự tiến hóa được thực hiện
do cách chọn lựa nhân tạo thì thiên nhiên
cũng có thể hoạt động theo cùng một phương
thức do cách chọn lựa tự nhiên (natural
selection)? Tuy nhiên, trong hoàn cảnh thiên
nhiên, đã xẩy ra cuộc tranh đấu để sống còn.
Ông đã quan sát thấy một số lớn chủng loại
đã bị chết đi, chỉ một phần nhỏ sống sót.
Vài loại động vật là thức ăn của các loại
động vật khác. Sự tranh đấu tiếp tục không
ngừng và cuộc cạnh tranh dữ dội đã diệt đi
chủng loại nào không thích hợp với sự sống
còn. Các thay đổi về chủng loại đã xẩy ra để
đáp ứng các điều kiện cần thiết vì sự sống
còn (survival).
4/ Lý thuyết Tiến
Hóa ra đời.
Chìa khóa của lời bí ẩn đối với Darwin do
đọc cuốn sách “Khảo Luận về Dân Số” (Essay
on Population) của Thomas Robert Malthus.
Malthus đã cho biết sự việc cung cấp thực
phẩm đã kiểm soát mức độ gia tăng dân số và
số tăng thêm của con người trên trái đất bị
chặn lại vì các hạn chế tích cực như tai
nạn, bệnh tật, chiến tranh và nạn đói kém.
Như vậy các yếu tố tương tự có thể áp dụng
vào các sinh vật và thực vật. Darwin đã
viết: “Từ sự quan sát lâu dài các thói quen
của sinh vật và thực vật, tôi nhận ra rằng
trong các hoàn cảnh sống, các chủng loại
thích nghi thường được duy trì và các chủng
loại không biết thích nghi sẽ bị tiêu diệt.
Kết quả của sự kiện này là các chủng loại
mới được sinh ra”.
Như vậy đã ra đời Chủ Thuyết Darwin danh
tiếng về “chọn lựa tự nhiên” (natural
selection), “tranh đấu để sống còn”
(struggle for existence) hay “sự sống còn
của kẻ thích hợp nhất” (survival of the
fittest), và đây là nền móng của cuốn sách
“Nguồn Gốc của các Chủng Loại”. Charles
Darwin đã cố gắng thiết lập các chứng cớ rất
đồ sộ khiến cho ông không vội phổ biến công
trình nghiên cứu cho tới thập niên 1850 bởi
vì bà vợ Emma của ông là một người rất sùng
đạo Thiên Chúa, bà đã khiến chồng thường
xuyên phải đóng góp cho nhà thờ, giúp đỡ các
kẻ nghèo khó và biểu lộ tấm lòng mộ đạo.
Nhưng rồi do sự thúc giục của các bạn thân,
Darwin chuẩn bị một tác phẩm nhiều tập. Công
trình được nửa chừng thì một tiếng sấm lớn
vọng tới. Charles Darwin nhận được một bức
thư từ Alfred Russel Wallace, một nhà khoa
học thâm niên, hiện đang thám hiểm về sinh
học tại quần đảo Mã Lai. Wallace cho biết
rằng ông ta đang suy nghĩ về nguồn gốc của
các loài vật và giống như Darwin, cũng bị
ảnh hưởng khi đọc tác phẩm của Malthus. Bức
thư của ông Wallace có đi kèm với một khảo
sát có tên là “Khảo luận về chiều hướng biến
đổi vĩnh viễn xuất phát từ loài gốc” (Essay
on the Tendency of Varieties to Depart
Indefinitely from the Original Type). Đây
cũng chính là lời minh xác của Darwin.
Charles Darwin hiện đang ở trong tình trạng
khó xử. Rõ ràng là cả hai nhân vật này do
nghiên cứu độc lập với nhau, đã đi tới cùng
các câu kết luận giống nhau, trong khi
Darwin đã bỏ ra nhiều năm suy nghĩ và tìm
kiếm, còn ý tưởng của Wallace được dẫn tới
do trực giác. Nhiều nhà khoa học có cảm tình
với Darwin muốn ông được ghi công do các
nghiên cứu lâu dài đã qua, nên đã xếp đặt
một buổi công bố các công trình của hai nhà
khoa học tự nhiên. Darwin và Wallace được
mời trình bày các tìm kiếm của mình trước
Hội Khoa Học Linnaean (the Linnaean Society)
và văn bản đầu tiên về Lý Thuyết Tiến Hóa
(the theory of evolution) được phổ biến vào
buổi chiều ngày 01 tháng 7 năm 1858. Sau đó
cả hai bài khảo sát được đăng trên Tạp Chí
của Hội Khoa Học Linnaean.
Do sự việc tìm kiếm của ông Wallace, Charles
Darwin ngưng việc soạn thảo một tác phẩm
thật lớn mà viết một khảo cứu tóm lược. Vào
cuối năm 1859, tác phẩm của Charles Darwin
đã trở nên một cái mốc của Lịch Sử Khoa Học
và được ông John Murray xuất bản tại thành
phố London. Ấn bản đầu tiên gồm 1,200 cuốn
đã bán hết trong vài ngày đầu. Các ấn bản
khác chỉ bán tại nước Anh đã lên tới 24,000
cuốn và đã được dịch sang hầu hết các ngôn
ngữ chính. Bản gốc của tác phẩm của Charles
Darwin có tên là: “Về Nguồn Gốc của các
Chủng Loại do Cách Chọn Lựa Tự Nhiên” (On
the Origin of Species by Means of Natural
Selection), hay “Sự Duy Trì các Dòng Giống
thích ứng trong cuộc Tranh Đấu vì Lẽ Sống”
(The Preservation of Favoured Races in the
Struggle for Life). Nhan đề dài của cuốn
sách đã được rút gọn thành: “Nguồn Gốc của
các Chủng Loại” (Origin of Species).
Các căn bản của lý thuyết của Darwin đã được
thảo luận trong 4 chương đầu của tác phẩm
“Nguồn Gốc”. Các chương sau đề cập tới ngành
địa chất học, việc phân phối thực vật và
sinh vật, các sự kiện thích hợp với sự phân
loại, hình thái học và phôi thai học, và
cuối cùng dẫn tới phần kết luận.
Tác phẩm “Nguồn Gốc của các Chủng Loại” từ
phần đầu đã mô tả các thay đổi nơi thú vật
và cây cỏ do con người kiểm soát, các biến
đổi do “chọn lựa nhân tạo” so với các thay
đổi trong thiên nhiên hay “chọn lựa tự
nhiên” và chủ thuyết Darwin đã kết luận rằng
mỗi khi có đời sống, đều có đổi thay và
không có hai cá nhân nào hoàn toàn giống
nhau. Trong sự biến đổi, còn có sự tranh đấu
để sinh tồn và tốc độ gia tăng theo cấp số
nhân. Tác phẩm “Nguồn Gốc” còn cho thấy
nguyên tắc “chọn lựa tự nhiên” đã hoạt động
để kiểm soát độ gia tăng của số lượng sinh
vật. Một số cá nhân trong một chủng loại sẽ
có sức mạnh hơn, chạy nhanh hơn, thông minh
hơn, ít bị bệnh tật hơn, có khả năng chịu
đựng các khắc nghiệt về thời tiết. Các cá
nhân này sẽ sống còn và các sinh vật yếu
đuối hơn sẽ suy tàn. Loại thỏ trắng trường
tồn trên miền bắc cực còn loại thỏ nâu sẽ bị
loại chồn, sói ăn thịt. Các con hươu cao cổ
nhờ cổ dài, sẽ sống còn do ăn các lá trên
ngọn cây trong khi loại hươu cổ ngắn bị chết
đói. Như vậy các hoàn cảnh thay đổi đã chi
phối sự sống còn của các sinh vật có khả
năng nhất. Charles Darwin cũng đề cập tới sự
chọn lựa truyền giống (sexual selection) với
các con đực thích nghi được nhiều nhất trong
môi trường sống, sẽ để lại nhiều hậu duệ
nhất.
Khí hậu cũng là một yếu tố quan trọng. Các
sinh vật chịu đựng nổi sức nóng và độ lạnh,
lại có khả năng kiếm ăn, sẽ trường tồn. Tất
cả các hình thức phức tạp của cuộc sống phải
theo đúng với các định luật tự nhiên và tác
phẩm “Nguồn Gốc” đã trình bày cuộc tiến hóa
không ngừng.
5/ Tranh cãi về
Thuyết Tiến Hóa.
Trái ngược với điều mà mọi người hằng tin
tưởng, Charles Darwin không phải là nhân vật
đầu tiên tìm ra lý thuyết Tiến Hóa. Các nhà
khoa học xuất sắc như Buffon, Goethe, Eramus
Darwin (ông nội của Charles Darwin), Lamarck
và Herbert Spencer đã ủng hộ lý thuyết này.
Nhưng công trình đóng góp của Charles Darwin
là ông đã thu lượm đầy đủ các dữ kiện để
chứng minh sự tiến hóa và ông cũng đi xa hơn
trong lý thuyết chọn lựa tự nhiên do cách
cắt nghĩa phương pháp tiến hóa.
Tác phẩm “Nguồn Gốc các Chủng Loại” đã xuất
hiện như một tia chớp đánh vào vựa rơm. Nếu
lý thuyết mới và mang tính cách mạng này có
giá trị, thì câu chuyện trong Thánh Kinh về
Chúa tạo ra con người sẽ không còn được chấp
nhận. Giáo Hội Thiên Chúa vì thế đã coi luận
đề của Charles Darwin là nguy hiểm cho tôn
giáo, nên đã gây ra một trận bão tố phản
đối. Dù cho Charles Darwin đã cẩn thận tránh
né việc áp dụng lý thuyết của ông vào nhân
loại nhưng lời buộc tội đã coi tác giả cho
rằng con người bắt nguồn từ con khỉ. Nhiều
lời diễu cợt đã được dùng làm cách bác bỏ lý
thuyết của Charles Darwin. Tạp chí Quarterly
Review đã gọi Darwin là một con người nông
nổi, làm ô danh Khoa Học. Ông Darwin còn bị
tố cáo là đã thu thập nhiều dự kiện để cụ
thể hóa một “nguyên tắc sai”. Tại ngôi
trường cũ, Đại Học Trinity ở Cambridge, ông
William Whewell đã không cho phép một ấn bản
nào của tác phẩm “Nguồn Gốc” được đặt trong
thư viện của nhà trường.
Trong số các nhân vật bảo thủ chống đối, có
ông Robert Owen, nhà xã hội và kỹ nghệ tại
nước Anh và ông Louis Agassiz, nhà động vật
học và địa chất học người Hoa Kỳ, cả hai đều
cho rằng lý thuyết của Charles Darwin là một
tà thuyết khoa học, chẳng bao lâu sẽ bị quên
lãng. Nhà thiên văn lừng danh người Anh Sir
John Herschel đã mô tả lý thuyết này là “một
định luật bừa bãi”. Vị giáo sư địa chất cũ
của Darwin là ông Sedgwick, đã coi chủ
thuyết Darwin là sai nhầm nặng nề.
Tuy nhiên Charles Darwin đã không thiếu
người bênh vực đầy can đảm. Đứng hàng đầu
trong số nhân vật này là Sir Charles Lyell,
nhà địa chất, Thomas Huxley, nhà sinh học,
Sir JosephHooker,
nhà thực vật học và Asa Gray, nhà thực vật
học danh tiếng của Hoa Kỳ. Trong số các vị
uy tín này, Darwin nhờ tới ông Huxley nhiều
nhất. Darwin đã không xuất hiện trước công
chúng để bênh vực lý thuyết của mình. Phần
lớn sự bảo vệ là do khả năng của ông Huxley
và đấu trường là buổi họp của Hội Anh Quốc
(the British Association) tại thành phố
Oxford vào năm 1860 với chủ đề là Chủ Thuyết
Darwin (Darwinism). Đứng đầu phe đả phá là
Tổng Giám Mục Wilberforce của miền Oxford.
Trong bài diễn văn kết luận, vị Tổng Giám
Mục này tin rằng có thể đè bẹp lý thuyết
Darwin nên đã hướng về ông Huxley và hỏi một
cách châm biếm: “Tôi hỏi Giáo Sư Huxley,
liệu có phải phía ông nội hay bà nội của
ngài có nguồn gốc từ loài khỉ phải không?”.
Ông Huxley quay sang một người bạn và nói
nhỏ: “Chúa đã giao ông ta vào tay tôi rồi!”.
Ông Huxley bèn đứng lên và phát biểu: “Một
người không có lý do gì phải xấu hổ khi có
một con khỉ là ông nội. Nếu tôi xấu hổ chỉ
vì có một ông tổ trí thức gặp một câu hỏi
không biết rõ, làm mờ tối câu hỏi này vì lời
hùng biện không chủ đích, làm lãng trí các
người nghe bằng các lời lẽ lạc đề lại khéo
léo dùng tới thành kiến tôn giáo”.
Trên đây chỉ là một vụ trong các đụng độ
diễn ra trong nhiều thập niên giữa Nhà Thờ
và Khoa Học về chủ thuyết Darwin. Qua tác
phẩm “Nguồn Gốc”, Charles Darwin đã đề cập
một cách nhẹ nhàng về nguồn gốc của con
người nhưng về sau, qua cuốn sách “Dòng dõi
của Con Người” (The Descent of Man), một
khối lượng lớn dữ kiện của Darwin đã chứng
minh rằng con người cũng là sản phẩm của
định luật Tiến Hóa, từ các hình thức thấp
kém hơn.
Định luật Tiến Hóa của Charles Darwin dần
dần được coi là chính xác, đã ảnh hưởng tới
rất nhiều phạm vi học thuật chính. Chủ
thuyết Tiến Hóa Hữu Cơ (the organic
evolution) đã được chấp nhận bởi các nhà
sinh học, địa chất, hóa học, vật lý, nhân
chủng, tâm lý, giáo dục, triết học, xã hội
học và ngay cả các nhà sử học, khoa học
chính trị, ngữ văn (philologists). Charles
Darwin đã làm cách mạng không chỉ đối với bộ
môn Sinh Học, mà còn ảnh hưởng sâu rộng tới
các phạm vi Khoa Học khác, từ Thiên Văn tới
Lịch Sử, từ môn Cổ Sinh Vật tới Tâm Lý Học,
từ ngành Phôi Thai Học tới Tôn Giáo. Vì vậy
ông Charles Ellwood đã tuyên bố rằng Charles
Darwin xứng đáng với hàng danh dự cao nhất
dành cho Nhà Tư Tưởng đã mang lại các kết
quả sâu rộng nhất trong Thế Kỷ 19.
Qua thế kỷ 20, Chủ Thuyết Darwin với ý tưởng
chọn lựa tự nhiên, đã bị chế độ Đức Quốc Xã
dùng vào việc tuyên truyền và tiêu diệt một
số dân tộc thiểu số. Các cuộc chiến tranh
giữa các quốc gia đã được biện hộ một cách
sai lạc rằng đây là một phương tiện để diệt
trừ các kẻ yếu, và về sau khi tranh giành
quyền lực, các người Cộng Sản Mác Xít cũng
áp dụng lý thuyết tranh đấu để sống còn vào
chủ trương “đấu tranh giai cấp” của họ.
Charles Darwin qua đời vào ngày 19/4/1882 vì
bệnh tim. Tin buồn này được nhiều tờ báo
đăng tải bởi vì vào thời kỳ này, lý thuyết
của ông đã được nhiều người công nhận. Nhật
báo London Standard đã viết rằng: “Các tín
đồ Thiên Chúa Giáo chân chính có thể chấp
nhận các sự kiện của Luật Tiến Hóa giống như
họ đã làm đối với ngành Thiên Văn và ngành
Địa Chất, không vì các thành kiến do các
niềm tin lâu đời và được ưa thích”.
Charles Darwin mong muốn được an táng trong
ngôi làng Downe, hạt Kent, nhưng giới Khoa
Học của nước Anh đã đặt di cốt của ông tại
Tu Viện Westminster danh tiếng, bên cạnh
ngôi mộ của một nhà khoa học khác lừng danh
trên Thế Giới, là Sir
Tại
buổi họp báo y tế thường niên được tổ chức tại Maryland (Mỹ), các nhà
khoa học đã suy đoán rằng nhà bác học người Anh Charles Darwin đã mắc
bệnh Chagas khi đi vòng quanh thế giới và căn bệnh này đã hành hạ ông
trong suốt một thập kỷ cho tới khi qua đời.
Charles Robert Darwin
(1809-1882) đã bắt đầu chuyến du lịch vòng quanh thế giới kéo dài 5 năm
từ khi ông 20 tuổi để quan sát và ghi chép lại về các loại động thực vật
hoang dã, sau đó ông đã cho ra đời cuốn sách "Nguồn gốc muôn loài".
Trong suốt cuộc đời nghiên cứu của mình, Darwin đã gặp phải nhiều vấn
đề về sức khoẻ như ăn xong nôn ra nước có tính axít, đánh trống ngực và
đau đầu trầm trọng. Ông từng bị chẩn đoán là bị tâm thần phân liệt, trầm
cảm và viêm ruột thừa.
Vì vậy, những căn bệnh của Dawin trở
thành chủ đề chính cuộc họp thường niên lần này. Những cuộc họp y tế
thường niên như vậy nhằm dùng khoa học hiện đại để chẩn đoán nguyên nhân
cái chết cũng như bệnh tật của các danh nhân thế giới. Trước đó, đã
từng có cuộc họp chẩn đoán bệnh của Alexander Đại đế, nhà soạn nhạc
Mozart và nhà sư phạm người Mỹ gốc Phi Booker T. Washington.
Charles Robert Darwin (1809-1882) (Ảnh: guardian.co.uk).
Mặc dù lúc Dawin còn sống và sau khi ông
mất, các bác sỹ đã tiến hành rất nhiều chẩn đoán nhưng giáo sư Sidney
Cohen (Đại học Thomas Jefferson) chỉ ra rằng trong đó có cả những chẩn
đoán không chính xác. Trong cuộc họp thường niên năm nay, ông đã xác
định 3 căn bệnh mà Dawin mắc phải đó là: hội chứng nôn mửa theo
chu kỳ, bệnh Chagas (một bệnh ký sinh trùng nhiệt đới) và nhiễm khuẩn
Helicobacter pylori (một loại xoắn khuẩn gram âm gây viêm, loét dạ dày, tá tràng).
Giáo sư Sidney Cohen kết luận Darwin đã
mắc hội chứng nôn mửa theo chu kỳ từ lâu nhưng ông vẫn duy trì dinh
dưỡng và trọng lượng cơ thể bình thường vì ông ít khi nôn ra thức ăn mà
chỉ nôn ra nước có tính axít và các chất gây tiết khác.
Tuy nhiên, chính chuyến du lịch với mong
muốn tạo ra lý thuyết tiến hoá và sinh vật học hiện đại đã khiến Darwin
mắc phải một căn bệnh chết người, bệnh Chagas. Trong những bài thơ của
mình, Darwin cũng từng để cập tới việc ông bị côn trùng T. cruzi cắn khi tới Argentina và loại côn trùng này có thể mang mầm bệnh. Sau khi bị côn trùng T.cruzi đốt,
Darwin đã bị lên cơn sốt và xuất hiện các triệu trứng của bệnh Chagas.
Giáo sư Sidney Cohen tin rằng bệnh Chagas mà Darwin mắc phải thường đi
kèm với bệnh nhiễm khuẩn Helicobacter pylori, dẫn đến loét dạ dày. Bệnh Chagas, bệnh tiêu hoá và bệnh tim đã hành hạ Darwin trong suốt những năm cuối đời.
Cập nhật: 16/05/2011Theo Vietnamnet
Sự thật về Thuyết tiến hóa: Giới khoa học đang từ bỏ học thuyết Darwin
Tiến sỹ Ernst Chain đạt giải Nobel Y học và Sinh học cho công trình nghiên cứu về kháng sinh penicillin. (Ảnh: Wiki)
Bắt đầu từ vài thập kỷ gần đây,
các bằng chứng mới từ nhiều ngành khoa học khác nhau như Vũ trụ học, Vật
lý học, Sinh vật học, Hóa học… đã khiến rất nhiều nhà khoa học buộc
phải đặt câu hỏi nghi ngờ đối với thuyết tiến hóa, một sản phẩm của thế
kỷ 19 thời khoa học còn kém phát triển.
Tuy vậy, đó đây trên thế giới, nhiều
phương tiện truyền thông và sách giáo khoa vẫn không ngừng nói về thuyết
tiến hóa như thể đó là chân lý vĩnh hằng, là triết lý duy nhất có thể
giải thích được nguồn gốc của muôn loài. Một số người theo phái tiến hóa
thậm chí còn có những phát ngôn gây sốc như thế này trước đông đảo công
chúng:
“Thuyết tiến hóa là một thực tế mà không một nhà khoa học có giáo dục nào nghi ngờ”.
(Gary Huxley)
“Bạn không thể nào vừa có lý trí và được giáo dục tốt mà lại vừa không tin thuyết tiến hóa. Bằng chứng thuyết phục đến nỗi bất cứ ai không bị tâm thần và có giáo dục thì đều phải tin thuyết tiến hóa”.
(Richard Dawkins)
Nói cách
khác, trong mắt những người theo phái tiến hóa, ai không tin lý thuyết
của họ thì đều vô giáo dục hoặc bị tâm thần (!) Không hiểu họ dựa trên
cơ sở nào, có ẩn ý gì, đã suy nghĩ hay chưa mà lại tuyên bố như vậy. Bởi
vì trên thực tế, gần như tất cả các nhà khoa học tiên phong cha đẻ của
các ngành khoa học từ cổ chí kim, thì hoặc là không cần biết đến thuyết
tiến hóa hoặc là hoàn toàn không tin thuyết tiến hóa.
Trên thế
giới đương đại, số người không tin thuyết tiến hóa thậm chí còn nhiều
hơn số người tin (Ví dụ: Theo kết quả khảo sát vào năm 2014 tại Mỹ, có
42% dân số tin rằng sự sống là do đấng Tạo Hóa mà ra, chỉ có 19% tin
thuyết tiến hóa). Trong số những người phản đối thuyết tiến hóa có rất
nhiều nhà khoa học tiếng tăm lẫy lừng, nhiều người là chủ nhân của các
giải Nobel khoa học và nhiều giải thưởng khoa học cao quý khác.
Câu hỏi
đặt ra là tại sao những người phái tiến hóa lại phát ngôn thiếu suy nghĩ
như vậy? Họ bất chấp thực tế, bất chấp lịch sử khoa học, bất chấp sự
đánh giá của dư luận để tuyên truyền một điều sai sự thật như vậy để làm
gì, nếu không phải là vì lo sợ học thuyết con cưng của mình sắp sửa
không còn chỗ đứng trong thế giới khoa học? Phải chăng thuyết tiến hóa
yêu dấu của họ đang lâm vào bước đường cùng?
Thuyết
tiến hóa chỉ là một trong số nhiều thuyết cố gắng đưa ra một lời giải
thích nghe có lý về nguồn gốc của sự sống, nó không phải là triết lý duy
nhất hoặc là chân lý vĩnh hằng như những người phái tiến hóa tự xưng.
Hiện nay ngoài thuyết tiến hóa còn có nhiều thuyết khác về nguồn gốc sự
sống, nổi bật nhất trong số đó phải kể đến thuyết Thiết kế thông minh.
Trước
kia khi các nhà tiến hóa chưa làm ra các tuyên bố mang đậm tính chủ quan
thậm chí ngông cuồng nêu trên, các nhà khoa học có lập trường phản đối
thuyết tiến hóa chưa quan tâm đúng mức đến việc bài trừ nó. Nhưng khi
những người phái tiến hóa ngày càng trở nên quá quắt, các nhà khoa học
chân chính buộc phải có phản ứng thích đáng. Công chúng có quyền được
biết sự thật.
Bản danh sách của Viện Discovery
Đứng trước bối cảnh như vậy, Viện Discovery đã cho xuất bản danh sách Bất đồng quan điểm khoa học đối với thuyết tiến hóa của Darwin.
Tính đến tháng 11/2015, danh sách này đã có khoảng 1.000 chữ ký của các
nhà khoa học đương thời, là thành viên thuộc các Viện Hàn lâm Khoa học
Quốc gia danh tiếng, chủ yếu từ Mỹ và Nga.
Những
người ký tên đều có trình độ tiến sỹ trở lên trong các ngành khoa học
như sinh học, vật lý, hóa học, toán học, y học, khoa học máy tính, và
các lĩnh vực liên quan khác. Rất nhiều người là giáo sư hay nghiên cứu
sinh tại các trường đại học và các tổ chức nghiên cứu danh tiếng như Học
viện Công nghệ Massachusetts (MIT), Viện Smithsonian, Đại học
Cambridge, Đại học California ở Los Angeles, Đại học California ở
Berkeley, Đại học Princeton, Đại học Pennsylvania, Đại học Ohio State,
Đại học Georgia, Đại học Washington, Đại học Harvard, Đại học Oxford…
Trang web dissentfromdarwin.org
của Viện Discovery, được thành lập bởi 2 cựu thành viên trường đại học
Havard là George Gilder và Bruce Chapman. (Ảnh chụp màn
hình/dissentfromdarwin.org)
Trong số
những người ký tên có rất nhiều người lừng danh trong giới khoa học, ví
dụ tiến sỹ Philip Skell – thành viên Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa
Kỳ; Lyle Jensen – thành viên Hiệp hội Xúc tiến Khoa học Hoa Kỳ; Stanley
Salthe – nhà sinh học tiến hóa và là người viết sách giáo khoa; Richard
von Sternberg – nhà sinh học tiến hóa thuộc Viện Smithsonian và là nhà
nghiên cứu tại Trung tâm Thông tin Công nghệ Sinh học Quốc gia thuộc
Viện Sức khỏe Quốc gia Hoa Kỳ; Giuseppe Sermonti – Biên tập viên của
Rivista di Biologia/ Diễn đàn Sinh học – Tạp chí sinh học cổ nhất hiện
vẫn đang được xuất bản trên thế giới; Lev Beloussov – nhà phôi học thuộc
Viện Hàn lâm Khoa học tự nhiên Nga…
Tiến sỹ
John G. West thuộc Viện Discovery cho biết do số lượng các nhà khoa học
bất đồng ý kiến đang ngày một gia tăng, Viện Discovery đã quyết định mở
trang webdissentfromdarwin.org
để lưu trữ danh sách các nhà khoa học đã ký tên. Nếu bạn có bằng tiến
sỹ trong các lĩnh vực kỹ sư, toán học, khoa học máy tính, sinh học, hóa
học, hay một trong số các ngành khoa học tự nhiên khác, và bạn không tin
thuyết tiến hóa, thì bạn có thể liên hệ với Viện Discovery Institute
qua email cscinfo@discovery.org.
Độc giả có thể tải về Bản danh sách các tiến sỹ khoa học công khai tuyên bố phản đối thuyết tiến hóa của Viện Discovery ở đây.
Một bản danh sách khác của tiến sỹ Jerry Bergman
Tiến sỹ Jerry Bergman. (Ảnh: members.shaw.ca)
Tiến sỹ Jerry Bergman giảng dạy sinh
học, di truyền học, hóa học, hóa sinh học, nhân chủng học, địa chất học
và vi sinh học tại trường Đại học Northwest State College, Mỹ trong 25
năm, và cũng từng giảng dạy tại nhiều trường đại học khác. Ông có 7 bằng
cấp khoa học khác nhau từ cấp thạc sỹ trở lên, trong số đó có 2 bằng
tiến sỹ khoa học. Ông có hơn 800 tài liệu khoa học đã được xuất bản bằng
12 ngôn ngữ khác nhau, tác giả của 20 cuốn sách về khoa học và chuyên
khảo.
Tiến sỹ
Jerry Bergman đã tổng hợp được danh sách bao gồm hơn 3.000 nhà khoa học
bày tỏ sư hoài nghi với thuyết tiến hóa của Darwin, trong đó có 12 người
từng đoạt giải Nobel khoa học.
TS
Bergman cũng có một danh sách riêng tư khác, bao gồm khoảng 1.000 người
yêu cầu được giấu tên “vì lo sợ có thể bị trả đũa hoặc gây ảnh hưởng đến
sự nghiệp của mình”.
TS Bergman nói: “Theo ước tính của tôi, nếu tôi có thời gian và nguồn lực, tôi có thể dễ dàng hoàn thiện một danh sách với hơn 10.000 cái tên” (Xem “Những
người nghi ngờ Darwin: Danh sách tuyển chọn các nhà khoa học, các viện
sỹ hàn lâm, và các học giả nghi ngờ học thuyết Darwin”, ngày 24/8/2014)
Danh sách các khoa học gia phản đối thuyết tiến hóa (phần công khai) của tiến sỹ Jerry Bergman có thể được tải về tại đây.
Hiệp hội Nghiên cứu Sáng tạo Hàn Quốc
Tiến sỹ Kim Young Gil. (Ảnh: Đại học Calvin)
Hiệp hội Nghiên cứu Sáng tạo Hàn Quốc
có hơn 1000 thành viên, trong đó có hơn 600 người là tiến sỹ khoa học.
Tất cả họ đều phản đối thuyết tiến hóa. Chủ tịch Hiệp hội là tiến sỹ Kim
Young Gil, từng là giáo sư của Viện khoa học và công nghệ cao cấp Hàn
Quốc (Korea Advanced Institute of Science and Technology) trong 15 năm.
Ông từng làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu NASA-Lewis (Trung tâm Nghiên
cứu Glenn) ở Cleveland, Ohio, Mỹ. Năm 1995 ông đã thành lập Đại học Toàn
cầu Handong (Handong Global University), nhận được các giải thưởng xuất
sắc cho cải cách giáo dục từ Bộ Giáo dục Hàn Quốc trong giai đoạn ba
năm liên tiếp 1996-1998 như một trường đại học kiểu mẫu của thế kỷ 21…
Tất
nhiên, không chỉ có chừng đó các nhà khoa học đương thời phủ nhận thuyết
tiến hóa. Có rất nhiều các nhà khoa học trên thế giới chưa biết đến các
bản danh sách phản đối thuyết tiến hóa và phong trào bất đồng ý kiến
này. Chưa kể nhiều nhà khoa học khác dù phản đối thuyết tiến hóa kịch
liệt nhưng không hứng thú với việc ký tên vào các bản danh sách phản
đối.
Bản thân
tác giả bài viết này đã từng nói chuyện với 2 người bạn là tiến sỹ khoa
học về bản danh sách phản đối thuyết tiến hóa của Viện Discovery, và
tuy cả 2 đều phản đối thuyết tiến hóa nhưng họ cũng không có ý định ký
tên vì nhiều lý do khác nhau.
Ngoài ra theo thống kê chưa đầy đủ có hơn 50 nhà khoa học từng đạt
giải Nobel khác cũng phủ định thuyết tiến hóa, trực tiếp hoặc gián tiếp.
Tiến sỹ Ernst Chain. (Ảnh: wikipedia)Tiến sỹ Ernst Chain đạt giải Nobel Y học và Sinh học cho công trình nghiên cứu về kháng sinh penicillin. Ông từng nói: “Tôi thà tin vào chuyện cổ tích còn hơn tin vào những phỏng đoán vô căn cứ như vậy [của thuyết tiến hóa]…
Nhiều năm nay tôi đã nói rằng những phỏng đoán về nguồn gốc của sự sống
không thể dẫn đến một kết quả hữu ích nào, bởi ngay cả một hệ thống
sinh vật đơn giản nhất cũng đã quá phức tạp để có thể hiểu được bằng
trình độ hóa học vô cùng sơ đẳng mà các nhà khoa học đã dùng khi cố lý
giải điều không thể lý giải xảy ra cách đây hàng tỷ năm…”.
(“Cuộc đời của Ernst Chain: Penicillin và hơn thế nữa”, tác giả
Ronald W. Clark, London, Weidenfeld & Nicolson, 1985, trang
147-148).
Tiến sỹ Antony Hewish. (Ảnh: mediahex.com)Tiến sỹ Antony Hewish đoạt giải Nobel Vật lý cho công trình khám phá ra các ẩn tinh. Ông từng nói: “Đối với tôi thật vô lý khi cho rằng: Vũ trụ và sự hiện hữu của
chúng ta chỉ là một sự ngẫu nhiên lớn, và sự sống tự nảy sinh do các quá
trình vật lý ngẫu nhiên trong một môi trường chỉ ngẫu nhiên có các
thuộc tính phù hợp…” (Hewish 2002a).
Tiến sỹ Arthur Holly Compton. (Ảnh: Wikipedia)Tiến sỹ Arthur Holly Compton (1892–1962) đoạt giải Nobel Vật
lý năm 1927 cho công trình khám phá ra hiệu ứng Compton, nghĩa là sự
thay đổi bước sóng của tia X khi chúng va chạm với electron. Việc khám
phá ra hiệu ứng này vào năm 1922 đã xác nhận lưỡng tính sóng-hạt của bức
xạ điện từ. Ông từng nói: “…Lập luận cho rằng [sự sống] là do được Thiết Kế ra,
mặc dù đã cũ xưa, nhưng chưa bao giờ bị bác bỏ một cách thỏa đáng cả.
Trái lại, khi chúng ta học được nhiều hơn về thế giới chúng ta, xác suất
việc nó ngẫu nhiên tự nảy sinh trở nên càng lúc càng xa vời, cho nên có
rất ít nhà khoa học thực thụ đương thời nào muốn bảo vệ một quan điểm
vô thần”. (Compton 1935, 73).
Tiến sĩ Robert A. Milikan. (Ảnh: myfirstbrain.com)Tiến sĩ Robert A. Milikan, nhà vật lý đoạt giải Nobel năm 1923 cho công trình đo điện tích electron, từng nói: “Điều đáng thương là rất nhiều nhà khoa học đang cố gắng chứng
minh thuyết tiến hóa, điều không ngành khoa học nào có thể làm được”.
(Tiến sĩ Robert A. Milikan, nhà vật lý đoạt giải Nobel, diễn thuyết trước Hội Hóa học Hoa Kỳ)
Chúng ta sẽ trở lại với các nhà khoa học đạt giải Nobel ở các kỳ sau
của loạt bài này để có một cái nhìn rõ hơn về niềm tin tiến hóa.
Những người khổng lồ trong khoa học đều có tín ngưỡng và đời sống tâm linh sâu sắc
Những
người phái tiến hóa khi bị chất vấn và đuối lý vì không thể trả lời câu
hỏi: “Nếu thuyết tiến hóa đúng tại sao các ông phải ngụy tạo nhiều bằng chứng như vậy?“,
thì họ luôn luôn sử dụng thủ đoạn ngụy biện bù nhìn rơm để hạ uy tín
của các nhà khoa học không thuộc phái này. Thay vì chứng minh thuyết
tiến hóa đúng hoặc chứng minh thuyết thiết kế thông minh sai thì họ quay
sang cáo buộc rằng nhà khoa học nào có tín ngưỡng, có Đạo thì đều thấp
kém và do đó không đáng tin. Rất nhiều công chúng tin vào lời ngụy biện
đó của họ, mà không hề biết đến một thực tế hoàn toàn tương phản:
Đại đa
số các phát minh quan trọng bậc nhất trong lịch sử nhân loại đều có tác
giả là các nhà khoa học hữu thần, có tín ngưỡng, tin vào thế giới tâm
linh (không giới hạn trong Thiên Chúa giáo).
Các phát
minh quan trọng nhất thế giới từ nửa cuối thế kỷ 19 (cùng hoặc sau thời
Darwin) đến nay cũng hầu hết thuộc về họ. Ví dụ:
Bóng đèn điện (Edison – tin vào đấng Tạo Hóa),
Điện thoại (Alexander Graham Bell – tin đấng Tạo Hóa),
Vắc xin (Louis Pasteur – Thiên Chúa giáo),
Phẫu thuật tiệt trùng (Joseph Lister – Thiên Chúa giáo),
Thuốc kháng sinh penicillin (Ernst Chain – Thiên Chúa giáo),
Ô tô (Karl Benz – đạo Mormon),
Động cơ diesel (Rudolf Christian Karl Diesel – Thiên Chúa giáo),
Máy bay (anh em nhà Wright – Thiên Chúa giáo),
Dây chuyền công nghiệp (Henry Ford – nhà thờ Tân giáo, và tin vào luật luân hồi tái sinh)…
Trong
các danh sách những phát minh vĩ đại nhất thế kỷ 20, sau khi tìm hiểu
lai lịch chủ nhân của các phát minh ấy người ta đều nhận ra rằng phần
lớn trong số họ đều là các nhà khoa học hữu thần.
Hơn thế
nữa, các nhà phát minh vĩ đại nhất mọi thời đều là khoa học gia hữu
thần. Ví dụ: Archimedes, Leonardo De Vinci, Thomas Edison…
Sinh học: Ray, Linnaeus, Mendel, Pasteur, Virchow, Agassiz
Địa chất học: Steno, Woodward, Brewster, Buckland, Cuvier
Thiên văn học: Copernicus, Galileo, Kepler, Herschel, Maunder
Vật lý hiện đại: Max Planck
Khoa học laser: Arthur Schawlow và Charles Townes
Hàng không vũ trụ: Wernher Von Braun
Truyền thông vô tuyến tầm xa: Guglielmo Marconi
Phẫu thuật có khử trùng: Joseph Lister
Điện tử học: Ambrose Fleming
Năng lượng học: William Thompson (biệt danh: Lord Kelvin)
Thuyết nguyên tử: John Dalton
Vi trùng học: Louis Pasteur
Số học: Isaac Newton
Cơ học thiên thể: Johann Kepler
Hóa học: Robert Boyle và Antoine Lavoisier
Lâm sàng học: Herman Boerhaave
Giải phẫu so sánh: Georges Cuvier
Tin học: Charles Babbage
Phân tích thứ nguyên: Lord Rayleigh
Động lực học: Isaac Newton
Điện động học: James Clerk Maxwell
Điện từ học: Michael Faraday và Andre Marie Ampere
Côn trùng học: Henri Fabre
Lý thuyết trường: Michael Faraday
Cơ học chất lỏng: George Stokes
Thiên văn ngân hà: William Hershel
Khí động học: Robert Boyle
Di truyền học: Gregor Mendel
Địa chất băng hà: Louis Agassiz
Y học Phụ khoa: James Simpson
Thủy lực học: Leonardo da Vinci
Thủy văn học: Matthew Maury
Thủy tĩnh học: Blaise Pascal
Ngư học: Louis Agassiz
Đồng vị hóa học: William Ramsay
Phân tích mô hình: Lord Raleigh
Lịch sử tự nhiên: John Ray
Bệnh học thần kinh: John Abercrombie
Hình học phi Ơclit: Bernard Riemann
Hải dương học: Matthew Maury
Khoáng vật quang học: David Brewster
Cổ sinh vật học: John Woodard
Bệnh lý học: Rudolph Virchow
Vật lý thiên văn: Johann Kepler
Sinh lý học: Albrecht von Haller
Vật lý học Plasma: Michael Faraday
Cơ học lượng tử: Max Planck
Nhiệt động học Thuận nghịch: James Joule
Nhiệt động học thống kê: James Clerk Maxwell
Địa tầng học: Nicholas Steno
Phân loại học: Carolus Linnaeus
Nhiệt động học: Lord Kelvin
Động học nhiệt (Thermokinetics): Humphry Davy
Hóa thạch học động vật có xương sống: Georges Cuvier
Albert Einstein
cũng là nhà khoa học hữu thần, ông tin phải có một đấng Tạo Hóa hiện
hữu và đứng đằng sau mọi quy luật vật lý, nếu không vũ trụ sẽ hỗn loạn
và không thể tồn tại được. Vợ chồng nhà Curie thì đều tin vào thế giới
tâm linh, thậm chí còn nhiều lần tham gia vào các hoạt động tâm linh
huyền bí…
Có thể thấy rất rõ, những nhân vật phản đối thuyết tiến hóa hoặc đặt niềm tin vào đấng Tạo Hóa,
từ xưa tới nay không hề ít mà cũng không tầm thường chút nào. Trái lại
họ đều là những người khổng lồ của giới khoa học. Ấy vậy mà nhiều “nhà
tiến hóa” có thể phát ngôn rằng ai không đi theo niềm tin của họ đều là
đồ vô giáo dục hoặc là bị tâm thần! Rất ngược đời.
Chính Darwin cuối đời đã ân hận về thuyết tiến hóa, và tự xem mình là một người hữu thần
Một sự
thật hết sức bất ngờ khác mà có lẽ không một nhà tiến hóa nào muốn chấp
nhận, ấy là vào những năm cuối đời Darwin rất buồn rầu và ân hận. Darwin
nói ông không có ý định viết thuyết tiến hóa một cách vô thần, thừa
nhận rằng sự sống phải được tạo ra chứ không thể tự nảy sinh, và do đó
ông là một người hữu thần. Thậm chí ông còn đề xuất một số ý tưởng khá
tương đồng với các nhà khoa học theo phái thiết kế thông minh ngày nay.
(Ảnh: Pixshark.com)
“Tôi thường rùng mình ớn lạnh, tự hỏi rằng có lẽ nào mình đã hiến dâng bản thân cho một ảo tưởng [tiến hóa] chăng”.
(Charles Darwin, Cuộc sống và những lá thư, 1887, Quyển 2, trang 229)
“Một nguyên do khác
để có thể tin vào sự tồn tại của Thượng Đế, liên quan đến lý trí chứ
không phải cảm giác, gây ấn tượng đối với tôi hơn nhiều. Đó là vì vô
cùng khó khăn đến mức gần như không thể nào hiểu nổi, sao vũ trụ vĩ đại
và phi thường này, gồm cả nhân loại với khả năng nhìn sâu vào quá khứ
cũng như tương lai, mà lại có thể là kết quả của sự ngẫu nhiên hoặc sự
cần thiết mù quáng. Vì vậy khi ngẫm lại, tôi buộc phải
thấy rằng Khởi Nguyên Đầu Tiên phải là một trí tuệ thông minh, ở chừng
mực nào đó giống với trí tuệ nhân loại; và tôi xứng đáng được gọi là một
người hữu thần”.
(“Charles Darwin và T.H Huxley, các hồi ký”, do Gavin de Beer biên tập, London, Oxford University Press, 1974, trang 50 đến 54)
“Việc xem xét vấn đề này theo quan điểm thần học là một vấn đề luôn luôn làm tôi đau khổ. Tôi rất hoang mang. Tôi đã không có ý định viết [thuyết tiến hóa] một cách vô thần. Tôi
không thể nào hài lòng khi xem xét vũ trụ kỳ diệu này, đặc biệt là bản
chất của loài người, mà lại kết luận rằng tất cả mọi thứ là kết quả của
vũ lực tàn bạo.Tôi có ý xem tất cả mọi thứ là kết quả của các quy luật được Thiết Kế, với các tiểu tiết, dù là tốt hay xấu, là kết quả của cái mà chúng ta gọi là sự ngẫu nhiên”.
(Thư Darwin gửi cho Asa Gray, 22/5/1860)
Năm 1873 Darwin phát biểu: “Việc
không thể nào hiểu được chuyện vũ trụ vĩ đại kỳ diệu này và bản ngã có ý
thức của chúng ta đã nảy sinh một cách ngẫu nhiên, đối với tôi có lẽ là
lý lẽ chính cho thấy sự tồn tại của Thượng Đế”.
(Thư Darwin gửi cho N.D. Doedes, 2/4/1873)
Vào năm 1879, 3 năm trước khi qua đời, Darwin viết ông “chưa bao giờ là một người vô thần và phủ nhận sự tồn tại của Thượng Đế”.
(Thư Darwin gửi cho John Fordyce, 7/5/1879)
Thế đấy,
rốt cuộc thì chính cha đẻ thuyết tiến hóa còn nghi ngờ đứa con của
mình, thậm chí còn tự nhận ông cũng là người hữu thần. Darwin cuối cùng
thừa nhận đấng Tạo Hóa đã tạo ra muôn loài, và thuyết của ông chỉ là một
cách giải thích nghe có lý về việc Thượng Đế đã tạo ra sự sống như thế
nào. Ông thừa nhận trí tuệ nhân loại không đủ khả năng trả lời rốt ráo
câu hỏi về nguồn gốc sự sống. Vậy mà hàng trăm năm sau, các đệ tử của
ông tuyên bố ai không tin thuyết tiến hóa đều vô giáo dục hoặc bị tâm
thần. Thật là khôi hài.
Di sản buồn của Darwin
Những
người theo phái tiến hóa rốt cuộc đã đặt niềm tin và công sức của mình
nhầm chỗ, thế nhưng họ quyết không chịu buông nó ra, mà còn cố bồi đắp
lên nó hàng đống các giả thuyết, giả định, khái niệm, tưởng tượng và
niềm tin mới. Để rồi ngày hôm nay:
“…
[Thuyết tiến hóa] đã được chấp nhận mặc dù nó được xây dựng bằng cách
chồng các giả định đặc biệt lên trên các giả định đặc biệt, chồng các
giả thuyết đặc biệt lên trên các giả thuyết đặc biệt, và xé bỏ kết cấu
của khoa học bất cứ khi nào thuận tiện. Kết quả là một thứ hổ lốn chẳng
phải lịch sử mà cũng chẳng phải khoa học”.
(Tiến sĩ James Conant, nhà hóa học, cựu chủ tịch trường Đại học Harvard, được trích dẫn trong Origins Research, tập 5, Số 2, năm 1982, trang 2)
“Thuyết
tiến hóa là một câu chuyện cổ tích của những người trưởng thành. Lý
thuyết này không giúp gì cho sự tiến bộ của khoa học. Nó vô dụng”
(Giáo sư Tiến sĩ Louis Bounoure, Giám đốc Nghiên cứu, Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Mỹ)
“Khi
những nhà nghiên cứu thuộc các ngành khoa học khác hỏi chúng ta hiện
nay đang tin tưởng cái gì về nguồn gốc các loài, chúng ta không có câu
trả lời rõ ràng. Niềm tin đã nhường chỗ cho sự hoài nghi. Cùng lúc đó,
cho dù nếu niềm tin của chúng ta về tiến hóa không lay chuyển thì chúng
ta cũng không có lời giải thích nào về nguồn gốc các loài mà có thể chấp
nhận được”.
(Tiến sĩ William Bateson, nhà di truyền học vĩ đại của trường Đại học Cambridge)
“Thuyết tiến hóa chỉ đơn thuần là một sản phẩm của trí tưởng tượng”.
(Tiến sĩ Ambrose Flemming, Chủ tịch Hội triết học Anh)
“Hiện
nay chúng ta đang gặp một cảnh tượng đáng kinh ngạc, đó là trong khi
rất nhiều nhà khoa học đã đồng tình rằng không có phần nào trong hệ
thống thuyết Darwin có ảnh hưởng lớn bất kỳ, và trên tổng thể, lý thuyết
này không chỉ không được chứng minh mà còn không thể xảy ra, thì những
kẻ ngu dốt và học thức nửa vời lại tin rằng nó được chấp nhận như một
thực tế căn bản”.
(Tiến sĩ Thomas Dwight, giáo sư nổi tiếng tại trường Đại học Harvard)
“Tôi
tin rằng một ngày nào đó câu chuyện thần thoại của Darwin sẽ được xếp
hạng là vụ lừa đảo vĩ đại nhất trong lịch sử khoa học. Khi điều này xảy
ra, rất nhiều người sẽ đặt ra câu hỏi, “Làm sao chuyện này lại có thể
xảy ra được nhỉ?” “
(Tiến sĩ Sorren Luthrip, nhà phôi học người Thụy Điển)
Trong
thực tế, rất nhiều các nhà bác học và các nhà khoa học ưu tú đã vứt bỏ
thuyết tiến hóa từ lâu. Đối với họ, thuyết tiến hóa là ngụy khoa học, là
một thứ ký sinh gây hại cho khoa học, một câu chuyện hoang đường trái
ngược với các bằng chứng thực tế, đầy rẫy bê bối và những điều dối trá,
làm băng hoại đạo đức xã hội, là gốc rễ của nạn phân biệt chủng tộc và
thuyết ưu sinh, là thứ đã tạo ra những tên độc tài khát máu nhất lịch
sử, là nguyên nhân của hai lần chiến tranh thế giới và những cuộc diệt
chủng quy mô lớn nhất lịch sử nhân loại.
Đối với
họ, thuyết tiến hóa dựa trên tuyên truyền lừa dối chứ không dựa trên
khoa học chân chính, và là một ví dụ điển hình cho việc áp dụng triết lý
kiểu Hitler: “Lời nói dối
phải tầm cỡ, làm cho nó trông thật đơn giản, lặp đi lặp lại nó thật
nhiều lần, rồi mọi người sẽ tin nó… Hãy để tôi kiểm soát sách giáo khoa,
tôi sẽ kiểm soát được đất nước [Đức]…”.Thế là suốt 150 năm lừa dối, đến tận bây giờ rất nhiều người vẫn tin vào những hình phôi thai giả và cái gọi là “định luật phát sinh sinh vật” của Haeckel,
trong đó không ít người có học hàm học vị, thậm chí có những người đang
là giáo sư, tiến sĩ ngành sinh học, ở khắp nơi trên thế giới.
Thuyết
tiến hóa vẫn còn nhiều vụ lừa đảo khác không kém phần kỳ dị. Thậm chí
cho đến tận ngày nay hầu như vẫn không mấy ai hay biết về những điều dối
trá ấy, và thế là chúng được thể ngang nhiên tồn tại, không ở nơi nào
xa lạ mà chễm chệ ngay trong sách giáo khoa nhiều cấp học của nhiều quốc
gia trên toàn cầu…
Bạch Vân tổng hợp
(Còn tiếp – Sự thật về thuyết tiến hóa: Những bằng chứng giả và thí nghiệm thất bại trong sách giáo khoa)
Chú ý: Hệ thống phân loại
sinh vật (sự sống, vực, giới, ngành, lớp, bộ, họ, chi, loài, phân loài)
hiện nay đang bị xây dựng thể theo “cây sự sống” của thuyết tiến hóa.
Bản thân thuyết tiến hóa đang cần được làm rõ, vì vậy trong loạt bài
không sử dụng nó mà sử dụng hệ thống quy ước khác. Theo hệ quy chiếu
này, tiến hóa nhỏ không phải là tiến hóa, và do đó khi nói “thuyết tiến
hóa” thì chỉ có nghĩa là “thuyết tiến hóa lớn”.
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét