AN CHI GIẢI ĐÁP 35
(ĐC sưu tầm trên NET)
7:00 | 23/03/2016
:00 | 13/03/2016
Bạn đọc: Xin ông cho biết nghĩa của cụm từ “lý do lý trấu”? “Lý trấu” là gì? Xin cảm ơn ông.
Bạn đọc:
Trên Facebook (FB) của Cá Vàng, Quang Nguyễn đã viết: “Cụ An Chi bảo
rằng: Đến như cách phiên âm của Huình-Tịnh Paulus Của trong Đại Nam quốc
âm tự vị thì ngay trong câu đang xét: “Sông Tương một dải nông sờ” một
chữ dễ hơn là chữ “dải” cũng đã bị tác giả phiên sai thành “dãy”.
5 | 20/02/2016
Bạn đọc: Từ
ngày 25-1 đến ngày 3-2-2016, Báo Tuổi trẻ đã đăng 10 kỳ tư liệu “Giải mã
gốm Chu Đậu” của Thái Lộc - Trần Mai. Đặc biệt là kỳ 4 (28-1) đã cho
người đọc biết hai luồng ý kiến đối nghịch về 4 chữ “Bùi thị hý bút”
trên chiếc bình gốm Chu Đậu ở Bảo tàng Topkapi Saray (Istanbul, Thổ Nhĩ
Kỳ). Căn cứ vào 4 chữ này (kết hợp với một số chứng cứ khác), ông Tăng
Bá Hoành, nguyên Giám đốc Bảo tàng Hải Dương là người đầu tiên lên tiếng
chứng minh rằng, có một bà cụ tổ nghề gốm Chu Đậu tên là Bùi Thị Hý
nhưng ý kiến đối nghịch thì cho rằng, “Bùi thị hý bút” chẳng qua là “họ
Bùi vẽ chơi”. Còn chính hai tác giả của tư liệu thì kết luận: “Trong
loạt bài viết này, chúng tôi đành phải hẹn với bạn đọc câu trả lời chữ
“Hý” trên chiếc bình là tên riêng hay chơi/đùa trong một dịp khác. Bởi
vì “một nửa sự thật không phải là sự thật” và những tư liệu hiện vật
chúng tôi tiếp cận được còn có điểm đáng ngờ, chưa đủ khẳng định tính
xác thực đến mức nào”. Xin ông An Chi cho biết ý kiến trong khi chờ đợi?
Xin cảm ơn ông. Bùi Thế Nghi (Hải Dương)
0 | 10/02/2016
5:01 | 31/01/2016
Bạn đọc: Xin
ông cho biết xuất xứ của từ “giác” trong “ống giác”, “giác hơi”. Nó có
liên quan gì đến chữ “giác” trong “tê giác” mà ông đã có lần nói đến?
Xin cám ơn ông! Trương Thế Mỹ (TP Vũng Tàu)
GHỀNH hay là GÀNH
Bạn đọc: Cây cầu trăm tuổi dài 223m trên sông Đồng Nai dẫn vào Cù lao Phố đã bị sà lan húc sập. Từ nhiều ngày nay, hầu như tất cả các phương tiện truyền thông đều gọi nó là cầu “Ghềnh”. Nhưng có chuyện rắc rối là từ xửa từ xưa, dân chúng trong vùng chỉ gọi nó là cầu Gành. Xin ông cho biết vậy thì tên chính xác của cây cầu xấu số này là “Ghềnh” hay “Gành”. Và giữa “gành” với “ghềnh” thì có quan hệ “bà con ngữ âm” gì với nhau hay không? Xin cảm ơn ông. Huỳnh Ngọc Bửu(Cù lao Phố, Đồng Nai)
Học giả An Chi:
Trước nhất xin nói về quan hệ “bà con” giữa “ghềnh” và “gành”. Họ
là ruột thịt nhưng cụ Gành là bậc tiền bối còn thằng Ghềnh thì chỉ là
đứa sinh sau đẻ muộn. Chuyện này có thể thấy được qua mối quan hệ
từ nguyên giữa các vần ANH ↔INH ↔ÊNH - mà chúng tôi từng nói đến trong
đó ANH > INH > ÊNH. Xin nêu dẫn chứng đầu tiên là từ bệnh, thường
thấy ở các từ tổ bệnh nhân, bệnh viện, khám bệnh, trị bệnh, v.v... trong
tiếng Việt toàn dân và tiếng Việt văn học hiện đại. Đây hiển nhiên là
một từ Hán Việt, ghi bằng chữ [病] mà âm Hán Việt hiện hành là bệnh
nhưng âm gốc của nó thì lại là bạnhvì nó là một chữ thuộc vận “ánh”
[映].
Âm bạnh của bệnh đã được ghi nhận trong
Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum (Từ điển Việt Bồ La)
của A. de Rhodes: “bạnh, tât (sic) bạnh peste: pestis, is”. Cả peste
của tiếng Bồ lẫn pestis của tiếng La đều có nghĩa là tật bệnh
(không kể những nghĩa khác). Vậy bệnh, vốn đọc bạnh, là một hiện
tượng ngữ âm dứt khoát không thể nào phủ nhận được. Sau đó, bạnh đã
chuyển thành bịnh; rồi âm bịnh đã được lưu dân đem vào Nam mà dùng cho
mãi đến 1954 (khi người Bắc ồ ạt di cư vào Nam sau Hiệp định
Genève) trong khi ở ngoài Bắc thì từ lâu (dĩ nhiên là trước cả 1954),
bịnh đã chuyển thành bệnh, là âm được dùng cho đến hiện nay. Việt Nam tự
điển của Khai trí Tiến đức 1931 (lấy tiếng miền Bắc làm nền tảng)
vẫn còn ghi nhận bịnh như một mục phụ nhưng đánh giá sai rằng “[bịnh]
tức là chữ bệnh đọc sai đi”. Thực ra thì bịnh là tiền thân của bệnh.
Cứ như trên thì bạnh là bậc ông bà,
bịnhlà bậc cha chú còn bệnh thì chỉ là hàng con cháu cho nên mới
còn sống mà hiện diện trên đời trong khi bạnh đã nằm ở một tầng đất khảo
cổ còn bịnh cũng đã nằm trong viện bảo tàng của ngôn ngữ văn học
và ngôn ngữ toàn dân. Cứ như trên thì trong các điệp thức có các vần
diễn tiến theo công thức ANH > INH > ÊNH, từ (hoặc hình vị) có
vần ANH thuộc bậc ông bà, từ có vần INH thuộc hàng cha chú còn tử
có vần ÊNH chỉ là bậc con cháu. Do đó, gànhlà bậc ông bà, ghìnhlà bậc
cha chú còn ghềnh thì chỉ là hàng con cháu mà thôi. Gành là một từ Việt
gốc Hán, bắt nguồn ở một từ ghi bằng chữ [陘], mà âm Hán Việt thông
dụng hiện hành là hình, nhưng vốn đọc là hànhvì nó thuộc vận
thanh[青]. Hành> gành, ở đây là H > G, thì cũng giống như: -hàm[函]
> gồm(trong bao gồm);
-hào[嚎] > gào (trong gào thét);
-hoạch[劃] > gạch (trong gạch ngang, gạch chéo);
-hợp[合] > gộp (trong gộp chung); v.v...
Hành > hình [陘] là chỗ gián
đoạn trong mạch núi; khi chuyển thành gành trong tiếng Việt thì
mang nghĩa là “chỗ lòng sông thu hẹp và nông khiến cho dòng nước bị
dồn lại nên chảy xiết” (Từ điển từ ngữ Nam Bộ của TS Huỳnh Công
Tín). Ngày nay, trong tiếng Việt văn học và tiếng Việt toàn dân
thì nó đã biến thành ghềnh (trong thác ghềnh) nhưng trước đó thì nó là
ghình như còn có thể thấy trong phương ngữ Nam Bộ: Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi.
(Nhiều tác giả đã không ý thức
được về đặc điểm của phương ngữ nên đã tự động đổi ghình thành
“ghềnh” nhưng “ghềnh” thì đâu có vần “ngon lành” với “đinh” ở câu
trên). Trở lên chúng tôi đã nói về diễn tiến “gành > ghình > ghềnh”,
để qua đó mà khẳng định rằng gành là bậc ông bà chứ ghềnh thì
chỉ là hàng con cháu mà thôi. Gành là một cái tên cúng cơm
xưa hàng trăm năm mà dân chúng trong vùng đã đặt cho cây cầu xấu
số đã gãy đổ. Vậy các nhà báo, nhà truyền thông có nên sỗ sàng đổi tên
của nó thành “Ghềnh” hay không? Xin mời các vị đọc đoạn sau đây
trong bài “Cầu Ghềnh dấu tích trăm năm” (Kỳ 1 - Ký ức trong chiếc
bàn thiên trăm tuổi) của Báo Tuổi trẻ online ngày 18-8-2011: “Giám
đốc Bảo tàng tỉnh Đồng Nai Lưu Văn Du cho biết, qua tìm hiểu
người dân ở cù lao Phố vẫn gọi là “Gành” chứ không phải
“Ghềnh”. “Ghềnh” có thể sau này người ta phát âm trại ra chứ dân cù lao
dứt khoát gọi là “Gành”. Theo ông Du, ở dưới vùng hạ lưu của cầu Ghềnh
có những gành đá nên người xưa có thể từ đó mà gọi là “Gành”. Tuy nhiên,
đến nay “Gành” hay “Ghềnh” vẫn chưa tìm thấy một dữ liệu nào để khẳng
định chuẩn xác”.
Ông Giám đốc Bảo tàng còn dè dặt khi nói
“vẫn chưa tìm thấy một dữ liệu nào để khẳng định chuẩn xác” nhưng
dữ liệu ở ngay cửa miệng của người dân chung quanh chứ ở đâu. Xin
hãy đọc, cũng trong bài báo đã nêu:“Khi nghe chúng tôi hỏi gọi cầu
Gành với cầu Ghềnh thì từ nào chuẩn xác, vợ chồng ông Chín
(là người được hỏi han -AC) cười: “Dân cù lao hồi xưa tới
giờ gọi cầu Gành không à. Gành là gành đá nổi lên ở gầncầu
thời đó nên dân mới gọi như vậy. Nói với dân cù lao mà gọi cầu
Ghềnh thì người ta cười chết!”.
Ta nên nhớ rằng, ở đây, Gành không còn
là danh từ chung nữa, mà là danh từ riêng, là địa danh.Đối với địa danh,
nhân danh, ta không thể tự tiện hoặc sỗ sàng thay thế nó bằng
biến thể ngữ âm (của nó). Quận 12, TP HCM, có một địa danh là
Chợ Cầu.Biết rằng (từ) Cầu là điệp thức của (hình vị) Kiều nhưng
chẳng có ai lố bịch mà gọi địa danh đó là “Chợ Kiều”. Đôi vợ chồng
nọ có hai đứa con, một trai, một gái. Họ đặt tên cho đứa con gái là Hoa
còn đứa con trai là Huê. Ai lại không biết rằng, Huê là biến thể
ngữ âm của Hoa ở trong Nam. Nhưng chúng tôi thách các nhà báo đến nhà
này mà gọi Huê để cho con Hoa xuất hiện. Nếu họ làm được thì, noi gương
BS Nguyễn Hy Vọng, chúng tôi sẽ đi lộn đầu xuống đất. Dĩ nhiên là con
Hoa có thể xuất hiện. Nhưng để trả lời: “Dạ thưa nhà báo, bữa nay anh
Huê của con không có ở nhà”.
Gông, cùm, xiềng, xích của ta không có dây mơ rễ má gì với cangue và chaîne của tiếng Tây
Mạng Tìm hiểu từ nguyên (Nguồn gốc từ ngữ/ Từ ngữ và lịch sử) ngày 30-8-2012 có đăng bài “Cùm lim, xích sắt” của Nguyễn Dư (Lyon, 5-2008), trong đó những ý kiến chính đều sai, rất sai.
Học giả An Chi: Đáng nói hơn nữa là tác giả còn dựa vào những cái sai của mình để phủ nhận đôi câu đối tương truyền là của Cao Bá Quát:
Một chiếc cùm lim chân có đế
Ba vòng xích sắt bước thì vương
Nói về nguồn gốc của hai từ “gông”, “cùm”, Nguyễn Dư viết:
“Cangue có liên hệ gì với cái gông, cái cùm?
Sưu tập Oger (1909) có tấm tranh Đốt quăng tra tiền vẽ cái cangue đeo cổ dành cho đàn bà.
“Chữ Quăng của tên tranh nghĩa là gì?
Quăng (chữ Hán, bộ Nhục) nghĩa là cánh tay. Quăng, tiếng Việt, nghĩa là
ném mạnh và xa. Quăng bị người đàn ông đốt không phải là cánh tay, cũng
không phải là vật gì bị ném ra xa. Quăng bị đốt là cái nia quàng vào cổ
người đàn bà. Quăng chính là cái cangue dành cho đàn bà được Huard và
Durand nói đến trên kia.
“Chữ Quăng của tên tranh không có nghĩa
như chữ Hán, cũng không có nghĩa của tiếng Việt. Chữ Quăng được dùng để
ghi âm từ cangue của tiếng Pháp. Tấm tranh Đốt quăng tra tiền cho phép
suy ra rằng người Pháp đã đưa từ cangue (hoặc đưa cả cái cangue?) vào
Việt Nam.
“Bộ sưu tập Oger còn có tấm Cùm ngạch
(vẽ bàn chân bị trói vào khúc tre của cái ngạch nhà). Hai tấm tranh là
bằng chứng cho thấy vào khoảng đầu thế kỷ XX, từ cangue có lúc vẫn còn
được phát âm là quăng, có lúc được Việt hóa thành cùm.
Còn cái gông?
Từ cangue (căng-gơ) có hai âm tiết, được Việt hóa theo hai ngả: căng trở thành cùm và gơ trở thành gông”.
Tranh Đốt quăng tra tiền
(trong bài của Nguyễn Dư).
Trong quá trình trả lời cho bạn đọc,
chúng tôi cũng đã có đôi ba lần phản bác ý kiến của tác giả Nguyễn Dư
nhưng lần này thì ông Dư mới làm cho chúng tôi kinh ngạc nhất. Tiếng Tây
đâu có vào tiếng ta một cách ba trợn ba trẹo như vậy được. Trước nhất,
chúng tôi không biết ông Nguyễn Dư đã căn cứ vào sách, báo nào của Tây
mà khẳng định rằng “vào khoảng đầu thế kỷ XX, từ cangue có lúc vẫn còn
được phát âm là quăng”, mà lại được phiên âm bằng chữ quốc ngữ Việt Nam.
Đây là biểu hiện của một sự tưởng tượng cực kỳ táo tợn mà chắc chắn
không một người Pháp nào có thể chấp nhận được. Huống chi, cái chữ [肱]
trong hình vẽ mà ông Dư đọc thành “quăng” theo nghĩa của “cangue” trong
tiếng Pháp, thì không hề tồn tại trong tiếng Việt, như sẽ phân tích rõ ở
một đoạn sau. Riêng gông và cùm thì lại là hai từ đã có mặt trong tiếng
Việt trước khi Pháp xâm lược Việt Nam nên tất nhiên không có dây mơ rễ
má gì với cangue của tiếng Pháp cả.
Căng (của cangue) không trở thành cùm vì
cùm đã có mặt trong Dictionarium Annamitico Lusitanum et Latinum của A.
de Rhodes in tại Roma năm 1651, trong dạng chính tả “cồm”, với hai thí
dụ “cầm cồm” và “đóng cồm”. Ở thời điểm này thì cùm còn phát âm thành
“cồm”, cũng như hùm thành “hồm”. Đến thời Dictionarium Anamitico Latinum
của Pierre Pigneaux de Béhaine (1772-73) thì cồm và hồm đã được phát
âm và viết thành cùm, hùm. Còn gông thì cũng đã được ghi nhận trong từ
điển của A. de Rhodes với hai thí dụ “cầm gông”, “đóng gông”, nghĩa là
cũng đã tồn tại trong tiếng Việt ít nhất là 200 năm trước khi Pháp sang
cướp nước ta. Thế mà Nguyễn Dư còn viết:
“Mọi người còn nhớ mấy câu ca dao:
- Gái có chồng như gông đeo cổ
Gái không chồng như phản gỗ long đanh...
- Cờ bạc là bác thằng bần,
Cửa nhà bán hết cho chân vào cùm”.
Với những câu ca dao trên thì cái “e”
(air = dáng vẻ) xa xưa của nó cũng đã buộc nhà nghiên cứu phải thận
trọng đặt vấn đề xem có thật là nó chỉ ra đời sau khi dân ta bị Pháp cai
trị hay không. Đằng này… Đặc biệt Nguyễn Dư rất sai khi đọc cái chữ [肱]
trong tranh vẽ của Sưu tập Oger 1909 thành “quăng” để mặc nhiên ghép nó
vào từ loại danh từ rồi gán cho nó cái nghĩa của từ “cangue” ( = cùm).
Thực ra thì khi chuẩn bị ấn hành bộ Sưu tập 1909 của Henri Oger với tên
đề ở bìa ngoài là Technique du peuple Annamite (Edition 2009/ Chủ biên:
Olivier Tessier & Philippe Le Failler, EFEO [Viện Viễn Đông Bác cổ
Pháp]), người ta đã tra cứu để đọc một cách chính xác - mặc dù không
tuyệt đối - các chữ Hán và chữ Nôm dùng để chú thích cho từng bức tranh.
Chữ [肱] đã được đọc một cách chính xác thành “quanh” và 4 chữ Nôm trong
hình là “đốt quanh tra tiền”, như đã in rõ ràng tại mục 205D, tr.252,
Bảng phân tích của tập 1, cũng như tại dòng chú thích số 4, tờ 205 (là
tờ có in bức tranh) của tập 2.
“Đốt quanh tra tiền” là một bức tranh
giản dị phản ánh một trong hàng ngàn cảnh sinh hoạt thực tế của xã hội
Việt Nam đầu thế kỷ XX, trong đó có cảnh đứa bất lương khảo của bằng
cách khoét lỗ giữa một cái nia rồi tròng vào cổ của nạn nhân mà đốt dần ở
chung quanh để bắt ép người ta xì tiền cho nó. Làm gì có chuyện “căng
trở thành cùm và gơ trở thành gông”. Hai chữ xích và xiềng cũng chung số
phận với gông và cùm nên cũng được Nguyễn Dư ghép vào cái nguyên từ
chaîne của tiếng Pháp. Tác giả này đã dẫn “Truyện Kiều” mà viết:
“Hoạn Thư sai Khuyển Ưng đến Lâm Chuy bắt Kiều, đem về Vô Tích.
Dọn thuyền lựa mặt gia nhân,
Hãy đem dây xích buộc chân nàng về”.
Thực ra “Truyện Kiều” là một tác phẩm
cuối thế kỷ XVIII, đầu XIX còn tiếng Việt thì chỉ có thể mượn tiếng Pháp
từ sau năm 1862 mà thôi. Tác giả đã phỏng đoán rằng “từ xích xuất hiện
vào khoảng cuối thế kỷ XIX”. Thực ra, nó đã được ghi nhận trong từ điển
1651 của A. de Rhodes - nghĩa là trước niên đại mà Nguyễn Dư phỏng đoán
ít nhất cũng là 200 năm - tại mục “xích con chó”, được giảng là “buộc
chó bằng dây tre vặn lại, để chó đừng cắn dây”. Còn “xiềng” thì cũng đã
được ghi nhận trong từ điển 1772-73 của Pigneaux de Béhaine nên tất
nhiên cũng chẳng có dây mơ rễ má gì với chaîne của tiếng Pháp cả.
Cứ như trên thì từ nguyên của 4 từ
“gông”, “cùm”, xiềng”, “xích” mà Nguyễn Dư đưa ra đều sai và việc ông
dựa vào nó để phủ nhận đôi câu đối tương truyền là của Cao Bá Quát là
một việc làm cực kỳ chủ quan và võ đoán.
Về những “chữ Việt gốc Pháp” trên sggdpost.com
Mục “Sài Gòn - Gia Định: Đất & Người” của mạng sggdpost.com có ba bài liên quan đến lĩnh vực từ nguyên do “Sưu Tầm” đưa lên ngày 9-12-2015 là “Chữ Việt gốc Pháp” (Bài 1), “Chữ Việt gốc Pháp TT” (Bài 2) và “Từ ngữ tiếng Việt gốc Pháp trong văn hóa ẩm thực” (Bài 3). Tại Bài 3, tác giả viết:
Trải
qua hơn 400 năm giao lưu tiếp biến văn hóa, người Việt và người Pháp đã
có nhiều điểm tương đồng về văn hóa, đặc biệt là ngôn từ trong văn hóa
ẩm thực”.
Ta không biết tác giả xuất phát từ thời
điểm nào mà khẳng định rằng sự “giao lưu tiếp biến văn hóa” giữa người
Việt và người Pháp đã “trải qua hơn 400 năm”, trong đó có cả “văn hóa ẩm
thực”. Tính từ thời điểm thực dân Pháp chiếm x
Trong 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ vào năm
1862 cho đến ngày 9-3-1945 là thời điểm chúng bị Nhật đảo chính, thời
gian chỉ có 83 năm; dân ta vẫn “làm tròn số” mà nói “80 năm bị Pháp cai
trị”. Ấy thế nhưng tác giả còn bạo gan bạo phổi nhắc lại con số “400”:
“Kết lại, dù được viết dưới dạng nào thì
những món ăn mà người Pháp mang đến Việt Nam từ 400 năm trước ngày càng
thông dụng và phổ biến hơn. Những thứ ấy đã dần ăn sâu vào tiềm thức
của người Việt hiện đại như một thức đồ không thể thiếu trong cuộc sống
hiện đại đầy tiện nghi này.
Rồi tác giả này lại viết ẩu tiếp:
“Cà phê là chữ đọc thuần Việt xuất phát
từ từ Café của tiếng Pháp. Người Sài Gòn xưa chuộng cà phê pha phin, kì
thực phin là từ “filter” nghĩa là lọc”.
Đã “xuất phát từ từ café của tiếng Pháp”
thì còn “thuần Việt” thế nào được? Mà từ “phin” trong “cà phê phin”
cũng đâu có bắt nguồn từ “filter” vì đây là tiếng Ăng Lê còn “filtre”
thì mới là tiếng Pháp. Nhìn tổng quát, trong 3 bài của “Sưu Tầm”, ta
thấy lác đác vẫn có những cái sai, nặng, nhẹ khác nhau:
1. -“ cassé > cát-xê ”.
“Cassé” với nghĩa là bể, vỡ, gãy, v.v...
thì không đi vào tiếng Việt. Còn “cát-xê” với nghĩa là tiền thù lao cho
nghệ sĩ thì lại do “cachet” mà ra.
2. -“douille > đuôi (bộ phận để gắn bóng đèn)”.
Nếu là bộ phận để gắn bóng đèn thì chính tả tiếng Việt phải là “đui”.
3. -“houblon > hốt-bố (loài dây leo có quả để tạo mùi cho rượu bia)”.
Cũng hoàn toàn sai vì “hốt bố” là một từ
Việt gốc Hán, bắt nguồn ở từ ghi bằng hai chữ [忽布], mà âm Hán Việt là…
“hốt bố”, dùng để phiên âm danh từ “hop” của tiếng Anh, trong đó âm tiết
thứ hai (mà tiếng Bắc Kinh phát âm thành “bù” (ghi theo pinyin) dùng để
thể hiện phụ âm cuối P (của “hop”), là một âm bật hơi (explosive). Còn
chính danh từ “hop” ( = hốt bố) của tiếng Anh, mà hình thái trung đại là
“hoppe” thì lại bắt nguồn từ tiếng Pháp cổ “hoppe”, có nghĩa là… hốt
bố.
4. -“mangoustan > măng-cụt (quả)”.
“Măng cụt” của tiếng Việt là một từ mượn
của tiếng Khmer “moongkhut” khi những lưu dân người Việt Nam vào đến
miền Nam của Đàng Trong còn tiếng Pháp thì mượn từ “mangoustan” ở tiếng
Bồ Đào Nha “mangustão”, mà từ Bồ Đào Nha này thì lại mượn ở tiếng Mã Lai
“manggis[tan]”.
5. -“revers > rờ-ve (cú đánh ngược
tay trong môn bóng bàn hay quần vợt). Suy cho cùng thì “rờ-ve” (cú đánh
ngược tay) chỉ là một thuật ngữ thể thao, còn trong tiếng Việt văn học
thì cũng từ “revers” của tiếng Pháp mà ra, lại là cái “ve [áo]”.
6. -“roquette > rốc-kết (phi đạn tự
bay đi)”. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, “rốc-kết” chưa xuất hiện trong
tiếng Việt; phải đến thời chống Mỹ nó mới ra đời. Vậy đây là một từ
Việt gốc Anh, bắt nguồn ở từ “rocket”.
7. -“savon > xà-bông, xà-phòng”
“Xà bông” không do tiếng Pháp “savon” mà ra vì từ này được phiên âm từ tiếng Bồ Đào Nha “sabão”.
8. -“treuil > trơi (bánh xe có quấn dây cáp để nâng các vật nặng lên)”.
“Trơi” là một từ thật sự không thông
dụng còn từ thông dụng trong tiếng Việt, phiên âm từ danh từ “treuil”
của tiếng Pháp, lại là “tời”.
Làm từ nguyên không phải là “cáp đôi”
hai từ của hai thứ tiếng khác nhau chỉ vì chúng vừa đồng nghĩa, vừa
giống (hoặc na ná) nhau về mặt ngữ âm. Ta nên lấy câu “Tous les sosies
ne sont pas des parents”của J. Vendryes làm phương châm; câu này có
nghĩa là “Không phải tất cả những người giống nhau [như đúc] đều là bà
con [với nhau]”. Vì chỉ “trông mặt mà bắt hình dung” nên tác giả của bài
này đã cho rằng tiếng Việt “xôm tụ” là do tiếng Pháp “somptueux” mà ra
trong khi bản thân “xôm” và “tụ” đã là những từ độc lập sẵn có của tiếng
Việt (còn trong những từ đa âm tiết phiên âm từ tiếng Pháp thì các âm
tiết [trong mỗi từ] đều vô nghĩa). Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức đã
giảng:
“XÔM Rôm, bảnh, rình-rang: Ăn-mặc coi xôm; nói nghe xôm lắm.
xôm đám Ra vẻ hực-hỡ, đông người trong đám, trong cuộc lễ: Dọn xôm đám, làm xôm đám.
xôm tụ Lớn tụ, tụ bài đặt nhiều tiền: Đặt xôm tụ […] xôm trai X. Bảnh trai”.
Còn bản thân “tụ” thì cũng là một từ độc lập, như có thể thấy trong Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức:
“TỤ dt (bạc): Tiền mỗi tay em đặt ra trước khi tay cái chia bài (bài cào, dà-dách, phé): đôn tụ, xôm tụ.
tụ bài Chỗ và đống tiền đặt ra của một tay bài trong sòng: Tụ bài này hên (sic)
tụ đầu Đống tiền nằm ở trước, dầu bài (bài cào) mấy nút cũng ăn-thua được.
tụ đuôi Đống tiền nằm ở sau, phải tám nút trở lên mới đôn lên (nhập chung với tụ đầu)”.
Cứ như trên thì “xôm” và “tụ” là những
từ độc lập: “xôm tụ” nằm trên trục đối vị với “xôm đám”, “xôm trai” còn
“tụ” thì đứng làm trung tâm của các danh ngữ “tụ bài”, “tụ đầu”, “tụ
đuôi”. Vậy “xôm” là một vị từ tĩnh (tính từ) còn “tụ” là một danh từ nên
“xôm tụ” không có dây mơ rễ má gì với “somptueux” của tiếng Pháp cả.
Giỏi tiếng Pháp mà không hiểu cho thấu chính tiếng Việt thì cũng khó mà
thực sự chính xác khi làm về từ nguyên của từ tiếng Việt. Chính vì vậy
nên tác giả đó mới hoàn toàn sai lầm khi cho rằng “teinte > teng (rỉ
sét)”.
Thực ra “teng (rỉ sét)” là một điệp thức
trong phương ngữ miền Nam của danh từ “tanh” trong phương ngữ miền Bắc.
“Tanh” là một từ mà Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học
(Vietlex) do Hoàng Phê chủ biên không ghi nhận còn “teng” thì được Việt
Nam tự điển của Lê Văn Đức giảng đúng là “chất xanh ở đồng thau rỉ ra”
nhưng lại ghi thiếu G cuối (nên đã viết thành “ten”). “Teinte” của tiếng
Pháp chỉ nói về màu sắc, nước da còn cái “chất xanh ở đồng thau rỉ ra”
thì tiếng Pháp lại gọi là “vert-de-gris”. Cũng vì không hiểu thấu được
tiếng Việt nên tác giả đó mới khẳng định rằng từ “cartable” đã cho ra
“chữ Cạc-táp, về sau biến thái thành cặp-táp rồi chỉ còn chữ Cặp”. Ở
đây, ta có một hiện tượng rất tế nhị mà tác giả kia đã hiểu không thấu.
“Cặp” trong “cặp sách” là một từ đã có sẵn từ xửa từ xưa trong tiếng
Việt. Nguyễn Du không cần biết “cạc-táp” phiên âm từ “cartable” mà vẫn
viết “Túi đàn, cặp sách đề huề dọn sang” (Truyện Kiều, câu 278). Cái
nghĩa này của chữ “cặp” đã được Việt Nam tự điển của Khai trí Tiến đức
giảng là “miếng gỗ vuông đóng hai cái quai gỗ để treo sách lên”. Trong
Từ điển Truyện Kiều (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1974), Đào Duy Anh
giảng đó là “cái khung gồm hai thanh đứng để kẹp chồng sách ở giữa mà
treo lên hay mang đi cho tiện”. Còn Từ điển từ cổ của Vương Lộc (NXB Đà
Nẵng - Trung tâm Từ điển học, 2001) thì giảng là “đồ dùng gồm một đế gỗ
đóng vào hai khung gỗ, để đựng sách”. Gần đây hơn nữa, riêng cái chữ
“cặp” cũng đã được Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học do Hoàng
Phê chủ biên (NXB Đà Nẵng Vietlex, 2007) giảng là “đồ dùng để đựng sách
thời trước, gồm một đế gỗ đóng vào hai khung gỗ”.
Rõ ràng là cái cặp sách đã tồn tại “bằng
xương bằng thịt” hẳn hoi ở nước ta trước khi Pháp xâm lược Việt Nam và
chính cái danh từ dùng để chỉ nó, là CẶP, đã đồng hóa âm tiết “cạc”
trong “cạc-táp” (thành “cặp-táp”) chứ đâu có phải “bỗng dưng muốn khác”
mà “cạc” đã trở thành “cặp”. Còn chuyện cái cặp từ hình thù xưa làm bằng
tre, bằng gỗ, nay trở thành cái vật thường làm bằng da dùng để đựng
sách vở, tài liệu, thì chỉ là chuyện thường tình trong quá trình chuyển
biến ngữ nghĩa theo quỹ đạo của sự phát triển xã hội mà thôi.
Lý do lý trấu
Bạn đọc: Xin ông cho biết nghĩa của cụm từ “lý do lý trấu”? “Lý trấu” là gì? Xin cảm ơn ông.
Nguyễn Sơn (Hà Nội)
Học giả An Chi:
Tiếng Việt có một đặc trưng là để bác bỏ, thấp hơn thì để bày tỏ sự dị
ứng của mình trước một hiện tượng, một vấn đề, một khái niệm nào và thấp
nhất là để đùa tếu một cách dí dỏm, người ta thay thế cái từ diễn đạt
khái niệm, vấn đề, hiện tượng đó bằng một từ đồng âm với nó để tạo ra
một ngữ đoạn mà nội dung không còn liên quan gì đến hiện tượng, vấn đề
hoặc khái niệm ban đầu nữa.
Trường hợp đầu tiên mà chúng tôi muốn
nêu làm thí dụ là ba tiếng "tuyệt cú mèo", xuất hiện trong Nam từ trước
1975, được Từ điển từ ngữ Nam Bộ của TS Huỳnh Công Tín (NXB Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 2009) giảng là "tuyệt vời, rất tuyệt, đạt đến mức coi
như lý tưởng, không còn chê chỗ nào được nữa". Xuất phát điểm của quán
ngữ này là danh ngữ "tuyệt cú" [絕句] của tiếng Hán, đã được nhiều nguồn
thư tịch giảng là [绝句,又稱截句、断句,四句一首(…)] "tuyệt cú, hựu xưng tiệt cú, đoản
cú, tứ cú nhất thủ" (tuyệt cú, cũng gọi [là] tiệt cú, đoản cú, mỗi bài
bốn câu). Vậy "tuyệt cú" vốn là tên một thể thơ mà mỗi bài có bốn câu.
Nhưng từ nguyên dân gian đã khiến nhiều người hiểu sai mà mặc nhiên cho
rằng, nó có nghĩa là "câu [thơ] hay", rồi hiểu rộng ra là "hay", là
"tuyệt". Và khi nó đã được mặc nhiên hiểu như thế này rồi thì người ta
lại tếu táo mà đánh đồng chữ "cú" nghĩa là "câu" của nó với "cú" trong
tên của một loài chim là loài "cú mèo". Thế là ta có ba tiếng "tuyệt cú
mèo", như đã ghi nhận trong từ điển của TS Huỳnh Công Tín, cũng như
trong Từ điển phương ngữ Nam Bộ do Nguyễn Văn Ái chủ biên (NXB Thành phố
Hồ Chí Minh, 1994).
Xin nêu một thí dụ có xuất xứ là miền
Bắc. Đó là thành ngữ "cậu ấm sứt vòi" mà Từ điển tiếng Việt do Văn Tân
chủ biên giảng là "từ dùng để mỉa mai con nhà quan đã sa sút (cũ)". Thực
ra, nói một cách đơn giản thì "cậu ấm" vốn có nghĩa là con trai nhà
quan được hưởng phúc ấm của cha ông; rồi nghĩa rộng là con trai nhà quan
và nghĩa xấu là con trai được cha mẹ nuông chiều một cách quá lố. Trong
"cậu ấm sứt vòi" thì người ta đã biến từ "ấm" của "cậu ấm" thành "ấm"
là bình đựng nước mà gắn cho nó cái vòi đã sứt. Ấm mà đã sứt vòi thì…
hết xài (nên mới ám chỉ con nhà quan đã sa sút). Có ý kiến cho rằng,
"cậu ấm sứt vòi" là "cậu ấm sứt b...".
Hiểu như thế là không biết gì về lối nói
đang bàn. Huống chi cái đó - nếu đúng là… nó - thì dai chứ có cứng và
giòn như xương, như răng đâu mà... "sứt"!
"Phe" là một động từ mà từ điển Vietlex
giảng là "làm việc mua đi bán lại bất cứ hàng hóa gì để kiếm lãi [hàm ý
coi thường]". Đây là một từ Việt gốc Pháp, bắt nguồn ở danh từ
"affaire", mà cái nghĩa hữu quan là công việc buôn bán. Ban đầu, từ này
được các doanh nhân, trí thức, người biết tiếng Pháp, v.v..., phiên âm
thành "áp-phe". Thời còn mồ ma thực dân Pháp, hai tiếng "áp-phe" chỉ có
sắc thái trung hòa và dùng để chỉ những thương vụ ra… thương vụ nhưng về
sau nó đã bị ngắt đầu, chỉ còn lại có tiếng "phe" (sẽ ghi là "phe1") để
chỉ hành động mua bán ít quang minh chính đại, có khi chỉ diễn ra nơi
đầu đường xó chợ hoặc trên những chuyến xe liên tỉnh, v.v... (nên từ
điển Vietlex mới chú là "hàm ý coi thường"). "Phe1" có một từ đồng âm
nay đã trở thành từ cổ (archaism). Từ "phe" cổ xưa này (sẽ ghi là
"phe2") là một từ gần nghĩa với từ "phẩy" còn "phẩy" thì được từ điển
Vietlex giảng là "cầm một vật mỏng, nhẹ đưa qua đưa lại để tạo ra gió
hoặc để làm bay bụi trên bề mặt". Vì gần nghĩa nên "phe2" và "phẩy" mới
được kết hợp với nhau để tạo thành từ tổ đẳng lập "phe2 phẩy", mà từ
điển do Văn Tân chủ biên giảng là "đưa đi đưa lại một cách nhẹ nhàng,
ung dung". Nhưng sau khi động từ "phe1" xuất hiện và hiện tượng "phe1"
xuất hiện trong xã hội "rộ" hơn buổi đầu thì người ta lại "sáng tạo" ra
từ tổ "phe1 phẩy", bằng cách thêm "phẩy", vốn chỉ đi chung với "phe2",
vào sau "phe1" để chỉ hành động buôn bán bị quan niệm là không chính
đáng, không nghiêm túc.
Trong "văn nghệ" thì "nghệ" là nghề; vậy
nói nôm na thì "văn nghệ" là "nghề văn". Nhưng, để tếu táo, người ta đã
cố ý hiểu lệch từ "nghệ" là nghề thành "nghệ" là một loại củ có thể
dùng làm gia vị hoặc dược liệu để đưa một loại củ khác là "gừng" vào mà
tạo nên tổ hợp từ "văn nghệ văn gừng". "Gừng" là một loài thực vật chẳng
có dây mơ rễ má gì về ngữ nghĩa với "nghệ" là nghề, có nghĩa là nghề,
nhưng chính vì thế nên mới góp phần gây cười và làm cho hiện tượng được
nói đến mất đi cái vẻ nghiêm túc.
Trong "chính trị" thì "trị" chẳng có dây
mơ rễ má gì với "chị" là một từ chỉ quan hệ thân tộc. Nhưng vì, nói
chung, ở miền Bắc thì "trị" vốn có phụ âm đầu TR thường được phát âm
thành "chị" với phụ âm đầu CH nên nhiều người mới đánh đồng nó với "chị"
trong "anh chị" mà nói "chính trị chính em" để làm cho khái niệm "chính
trị" mất đi vẻ nghiêm túc. Theo cảm nhận riêng của chúng tôi thì lối
nói này ra đời từ những người hay ngại những buổi sinh hoạt hoặc học tập
chính tri.
Cá nhân An Chi có bộ Chuyện Đông chuyện
Tây 6 tập, mà chúng tôi có gửi tặng một bạn đồng môn ở Chasseloup-Laubat
đã sống bên Pháp trên nửa thế kỷ. Có lần từ Pháp về Việt Nam, anh bạn
đã hỏi chúng tôi một cách thân mật: "Ê, chừng nào toa mới cho in tập 7
bộ Chuyện đông chuyện đủ của toa vậy?". Chẳng là, ở đây, anh bạn đã cố ý
đánh đồng từ "Đông" chỉ phương mặt trời mọc với tính từ "đông" có nghĩa
là "gồm nhiều người" nên mới đưa từ "đủ" vào để trêu An Chi. Mà anh bạn
còn nói thêm: "Phải có cả tập 7 mới đủ đó nha".
Với hai câu: "Trong đầm gì đẹp bằng sen/
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng" thì "nhị" hiển nhiên là bộ phận
sinh sản của hoa và dùng để tả hoa sen trong đầm. Nhưng trong trường hợp
sau đây - trường hợp này chỉ xuất hiện ở trong Nam - thì cũng cái từ
"nhị" đó, chính nó, không còn trực tiếp nói về "hoa lá cành" nữa mà lại
có tác dụng phủ định đối với vấn đề đã được nêu ra trước đó.
Sếp nói với nhân viên:
- Cậu phải hoàn thành bản kế hoạch trong vòng hai ngày.
Nhân viên:
- Nhưng hai ngày thì ít quá, thưa sếp…
Sếp:
- Không nhưng không nhị gì cả. Được thì làm; không được thì nghỉ.
"Nhưng" là một "kết từ biểu thị điều sắp
nêu ra ngược lại với ý do điều vừa nói đến có thể gợi ra" (Từ điển
tiếng Việt của Vietlex do Hoàng Phê chủ biên). Vậy "nhị" là bộ phận sinh
sản của hoa thì liên quan gì đến "nhưng"? Thế mà có đấy. Trong Nam thì
"nhưn" được phát âm thành "nhưng"; nói một cách khác, "nhưn" và "nhưng"
là hai từ đồng âm. Ngài sếp kia đã thay kết từ "nhưng" bằng danh từ
"nhưn" mà người trong Nam dùng đề chỉ cái mà người ngoài Bắc gọi là
"nhân" (trong "nhân bánh bao", chẳng hạn). "Nhưn/nhân" và "nhị" đều có
chung một đặc điểm là "vật nằm bên trong của một vật khác lớn hơn". Thế
là ngài sếp kia đã "cáp đôi" "nhưn" với "nhị" mà tạo nên ngữ đoạn "không
nhưn[g] không nhị" để bác bỏ sự viện cớ của nhân viên. Điều quan trọng
cần chú ý là ở đây, hai từ được "cáp đôi" với nhau phải đồng nghĩa hoặc
ít nhất phải có một nét nghĩa chung.
Cũng là với dụng ý bác bỏ mà bốn tiếng
"lý do lý trấu" đã ra đời ở miền Bắc. Điểm đầu tiên chúng tôi muốn nói
đến là, nói chung, ở miền Bắc thì "do" đồng âm với "gio", mà trong ngôn
ngữ toàn dân là "tro", tức cái chất nhuyễn như bột, còn lại từ một vật
đã bị đốt cháy. "Tro/gio", là một khái niệm có thể gợi ý cho ta liên
tưởng đến "trấu", tức là vỏ thóc, có thể dùng để rấm bếp. Cứ như thế thì
"tro/gio" và "trấu" là hai danh từ có một đặc điểm chung là đều liên
quan đến công việc bếp núc. Và hai từ này cũng cùng có mặt trong thành
ngữ "bòn tro đãi trấu". Người ta đã tận dụng những điều kiện đó mà đánh
đồng "do" trong "lý do" với "gio" là "tro" rối "cáp đôi" nó với "trấu"
thành "lý do lý trấu", mà ta thường thấy được dùng để bài bác, thấp nhất
cũng là để tỏ thái độ không đồng tình, với cái lý do bị xem là không
chính đáng, thấp nhất thì cũng là… vu vơ.
Nói cho sướng miệng thì hay ho gì
Bạn đọc:
Trên Facebook (FB) của Cá Vàng, Quang Nguyễn đã viết: “Cụ An Chi bảo
rằng: Đến như cách phiên âm của Huình-Tịnh Paulus Của trong Đại Nam quốc
âm tự vị thì ngay trong câu đang xét: “Sông Tương một dải nông sờ” một
chữ dễ hơn là chữ “dải” cũng đã bị tác giả phiên sai thành “dãy”.
“Theo tôi, cụ An Chi chỉ nói cho sướng miệng mà thôi! Sao cụ lại không
nghĩ đây là lỗi in ấn. Trong tự vị của cụ P.Của, mục từ DẢI (trang 216 )
và mục từ DÃY (trang 217) được cụ P.Của phân biệt rất rõ ràng, có thấy
lầm lẫn chỗ nào đâu? Đề cập đến cổ nhân mà không cẩn thận, dễ gây ra sự
mạo phạm ngoài ý muốn! Xin hỏi ông An Chi có ý kiến gì về ý kiến của
Quang Nguyễn. Xin cảm ơn ông.
Huỳnh Trọng Tín (Bà Chiểu, TP HCM)
Học giả An Chi:
Nói cho sướng miệng thì hay ho gì. Vì thế nên chúng tôi mới trả lời cho
bạn Quang Nguyễn (2-2-2016, trên FB của bạn Cá Vàng) như sau:
“Bạn Quang Nguyễn, người nghiên cứu
nghiêm túc trọng cứ liệu xác thực chứ không nói cho sướng miệng. Nếu đó
đúng là lỗi in ấn thì Huình-Tịnh Paulus Của đã cải chính trong phần
“Đính ngoa” ở đầu Tome II”.
Bạn Quang Nguyễn không chấp nhận cách trả lời của chúng tôi nên đã viết tiếp (vẫn trên FB của bạn Cá Vàng):
“1- Vâng, tôi hoàn toàn đồng ý với cụ An
Chi là: “Người nghiên cứu nghiêm túc trọng cứ liệu xác thực chứ không
nói cho sướng miệng”. Vậy thì xin cụ làm ơn công bố ra cái chữ Nôm mà cụ
P.Của đọc là DÃY trong câu “Sông Tương một dãy nung sừ” trích từ cuốn
tự vị do chính cụ P. Của biên tập.
“2- Một bộ tự vị, tome I, năm 1895, 608
trang + tome II, năm 1896, 596 trang (theo bản in lại của Khai Trí
[Saigon] 1974), do một mình cụ P.Của thực hiện mà bảo là không có sai
sót trong mục đính ngoa thì quả là chuyện lạ!”.
Chúng tôi thì có ý kiến ngược hẳn với
bạn Quang Nguyễn. Ta tuyệt đối không thể biện bạch rằng, vì bộ từ điển
của Huình-Tịnh Paulus Của dày đến 1.204 trang nên nếu không có sai sót
trong mục đính ngoa thì mới là chuyện lạ. Chơi tài tử thì được chứ làm
học thuật nghiêm túc thì không. Chúng tôi chỉ căn cứ vào giấy trắng mực
đen để nhận xét theo lệ thường mà thôi. Quyển Dictionarium Annamiticum,
Lusitanum et Latinum (Từ điển Việt Bồ La) của A. de Rhodes cũng có nhiều
sai sót về chính tả (chữ Việt - so với cách viết của chính tác giả) nên
chính A. de Rhodes cũng đã phải làm một bảng “Đính chính” (Errata
Dictionarij linguæ Annamiticæ corrige) dài hơn hai trang rưỡi dày đặc mà
vẫn chưa nhặt ra hết những chỗ sai. Những chỗ sai sót này, chính A. de
Rhodes phải chịu trách nhiệm chứ không phải là ai khác. Nhưng có vẻ như
để thách thức, bạn Quang Nguyễn còn đề nghị chúng tôi “công bố ra cái
chữ Nôm mà cụ P.Của đọc là DÃY trong câu “Sông Tương một dãy nung sừ”
trích từ cuốn tự vị do chính cụ P.Của biên tập”. Đây cũng là một kiểu
thách thức kỳ lạ. Người phải trưng cái chữ Nôm “dãy” đó phải là Paulus
Của chứ sao lại là An Chi. Để khẳng định cái sai của Paulus Của, An Chi
chỉ căn cứ vào:
- Một là chữ “dải” trong hầu hết các bản
Kiều quen thuộc, kể cả bản đã được khẳng định một cách chắc chắn là đã
ra đời tại Nam Kỳ, do người Nam Kỳ biên tập. Đó là bản Duy Minh Thị
1872; bản này cũng in chữ “dải” hình thanh gồm có “mịch” [糸] và chữ
“đái” [帶].
- Hai là nghĩa của chữ thứ 4 trong câu
Kiều thứ 365 (để xem “dãy” hay là “dải” mới thích hợp). Từ điển tiếng
Việt của Trung tâm Từ điển học (Vietlex) do Hoàng Phê chủ biên giảng
“dải” là “khoảng đất hay nước trong thiên nhiên dài, nhưng hẹp” còn
“dãy” là “tập hợp gồm những vật cùng loại nối tiếp nhau, cái này cạnh
cái kia”.
Cứ như trên thì chữ “dải” mới thích hợp
để nói về con sông Tương chứ nhất định không thể là “dãy”. Đó là chúng
tôi còn chưa nói đến hiện tượng sau đây. Nếu quan niệm rằng “nung sừ” là
một từ tổ chính phụ (“sừ” thêm nghĩa cho “nung”) thì cái nghĩa đang xét
phải được gắn với chữ “nung” nhưng ở đây nó lại được đưa vào mục “nung
sừ”, một mục phụ của mục “sừ”. Còn nếu quan niệm rằng, đó là một từ tổ
đẳng lập thì mục “nung sừ” phải được xếp theo chữ cái N tại mục “nung”.
Nhưng ở đây thì lại không như thế. Việc làm không bình thường này của
Paulus Của rất dễ gây cho nhà nghiên cứu cái ấn tượng rằng tác giả đã bê
nguyên xi hai chữ “nông sờ” của câu Kiều thứ 365 mà ông đọc thành “nung
sừ” để làm thành một mục từ cho quyển từ điển của mình.
Bạn Quang Nguyễn lại còn thách thức tiếp:
“Và có lẽ vì cũng nghĩ rằng sông Tương
là một con sông lớn nên sau khi phiên hai tiếng đang xét thành “nung sừ”
rồi thì nhà từ điển tất phải luận ra rằng đó là “mịt mù”, “mênh mông”
cho thuận lý chăng?” (An Chi). Có thật cụ P. Của đã “LUẬN” về ý nghĩa
của tiếng ghép NUNG SỪ hay không? Không thấy cụ An Chi đưa ra bằng chứng
qua sách từ vị do cụ P.Của biên tập”.
Chúng tôi chỉ nói “có lẽ” chứ đâu có khẳng định nên cũng không cần phải “đưa ra bằng chứng qua sách từ vị do cụ P.Của biên tập”.
Cuối cùng, bạn Quang Nguyễn còn lập luận
rằng theo Nguyễn Văn Y, “đặc điểm nổi bật của bộ Đại Nam quốc âm tự vị
đối với người Việt ngày nay là nó chứa rất nhiều từ ngữ xưa, có thể rất
thông dụng ở thế kỷ XIX, nhưng hiện nay chúng ta không còn nói, viết
nữa.” Quang Nguyễn đã đưa thông tin như trên nhưng về nguyên tắc thì
điều này tuyệt đối không cho phép bất cứ ai kết luận rằng “nung sừ” là
một đơn vị từ vựng cổ của tiếng Việt cũng như Huình-Tịnh Paulus Của
không bao giờ sai.
'Bùi thị hý bút” nghĩa là gì?
Bạn đọc: Từ
ngày 25-1 đến ngày 3-2-2016, Báo Tuổi trẻ đã đăng 10 kỳ tư liệu “Giải mã
gốm Chu Đậu” của Thái Lộc - Trần Mai. Đặc biệt là kỳ 4 (28-1) đã cho
người đọc biết hai luồng ý kiến đối nghịch về 4 chữ “Bùi thị hý bút”
trên chiếc bình gốm Chu Đậu ở Bảo tàng Topkapi Saray (Istanbul, Thổ Nhĩ
Kỳ). Căn cứ vào 4 chữ này (kết hợp với một số chứng cứ khác), ông Tăng
Bá Hoành, nguyên Giám đốc Bảo tàng Hải Dương là người đầu tiên lên tiếng
chứng minh rằng, có một bà cụ tổ nghề gốm Chu Đậu tên là Bùi Thị Hý
nhưng ý kiến đối nghịch thì cho rằng, “Bùi thị hý bút” chẳng qua là “họ
Bùi vẽ chơi”. Còn chính hai tác giả của tư liệu thì kết luận: “Trong
loạt bài viết này, chúng tôi đành phải hẹn với bạn đọc câu trả lời chữ
“Hý” trên chiếc bình là tên riêng hay chơi/đùa trong một dịp khác. Bởi
vì “một nửa sự thật không phải là sự thật” và những tư liệu hiện vật
chúng tôi tiếp cận được còn có điểm đáng ngờ, chưa đủ khẳng định tính
xác thực đến mức nào”. Xin ông An Chi cho biết ý kiến trong khi chờ đợi?
Xin cảm ơn ông. Bùi Thế Nghi (Hải Dương)
Học giả An Chi:
Trước khi kết luận thì, trong bài của mình, Thái Lộc - Trần Mai cũng đã
ghi lại lời của ông Nguyễn Đình Chiến, nguyên Phó giám đốc Bảo tàng
Lịch sử Việt Nam như sau:
"Những tư liệu (của ông Tăng Bá Hoành và
những người có liên quan - AC) mang tính hư cấu, chúng tôi không tin.
Tự dạng đầy đủ được tra trong từ điển là "họ Bùi vẽ chơi". Không thể ép
lấy cái tượng trong tàu Cù Lao Chàm gán cho bà Bùi Thị Hý được!
| Gốm Chu Đậu |
"Tra kỹ tư liệu thu thập được, chúng tôi
giật mình vì chữ "đại" trên cột trúc đài nét quá khác, mới và sắc so
với nhiều chữ khác.
"Trong khi nhiều chữ viết khác bị phong
hóa, mòn mờ theo thời gian thì nhiều chữ, gồm cả cụm "Bùi Thị Húy Hý" có
nhiều nét khắc dựa trên sự lồi lõm của mặt đá đã bị phong hóa...". Cứ
như trên thì những ý kiến mà ông Tăng Bá Hoành đại diện và là người chủ
xướng thực sự không đáng tin chút nào nên chúng tôi cũng nghiêng về ý
kiến của ông Nguyễn Đình Chiến. Nhưng nói như ông Chiến rằng "tự dạng
đầy đủ được tra trong từ điển là «họ Bùi vẽ chơi»" thì cũng không xác
đáng vì "hý bút" [戲筆] lại không có nghĩa là "vẽ chơi". "Vẽ chơi" thì hàm
ý lạc quan còn "hý bút" có khi lại là để than thân trách phận, chẳng
hạn trong bài thất ngôn của Dương Vạn Lý đời Tống mà tác giả đã dùng
chính hai chữ "Hý bút" làm nhan đề (cho hai bài - đây là bài thứ nhất),
nguyên văn như sau:
戲筆
野菊荒苔各鑄錢,
金黃銅綠兩爭妍。
天公支與窮詩客,
只買清愁不買田。
Phiên âm:
Hý bút
Dã cúc hoang đài các chú tiền
Kim Hoàng đồng lục lưỡng tranh nghiên
Thiên công chi dữ cùng thi khách
Chỉ mãi thanh sầu bất mãi điền
Tạm diễn nghĩa:
Cúc dại rêu hoang khéo đúc tiền
Vàng cúc xanh rêu khoe sắc chen
Ông trời cho khách thơ ngần ấy
Ruộng nào mua được chỉ mua phiền.
Trước cảnh túng quẫn của mình, nhìn
những đóa cúc vàng và những đốm rêu xanh, Dương Vạn Lý liên tưởng đến
hình dạng của những đồng tiền mà nghĩ rằng, ông trời ban cho mình (một
khách thơ cùng túng) thứ tiền này thì chỉ gợi thêm sầu muộn (Người buồn
cảnh có vui đâu bao giờ!) chứ nào giúp cho mình có được cuộc sống vật
chất thoải mái.
Cứ như tâm sự của Dương Vạn Lý thì ta
làm sao có thể giảng "hý bút" là "vẽ chơi" được. Huống chi, trong "vẽ
chơi" thì "chơi" (nghĩa của chữ "hý") là trạng ngữ chỉ mục đích của động
từ "vẽ" còn trong "hý bút" thì "hý" lại là động từ chính, là trung tâm.
Ngữ đoạn vị từ "hý bút" nằm trên một trục đối vị (paradigmatic axis)
với "các bút", "khai bút", "lộng bút", "phóng bút", v.v..., trong đó
"các", "khai", "lộng", "phóng" đều là động từ chính. Vậy, "hý bút" không
phải là "vẽ chơi" mà là "nghịch bút", "nghịch" với nghĩa trong "nghịch
bùn", "nghịch đất", "nghịch lửa", nghịch nước", v.v...
Dĩ nhiên "nghịch bút" chỉ là nghĩa đen
còn cái nghĩa "thuật ngữ" của nó là "dùng bút mà sáng tác thơ văn, tranh
vẽ theo ngẫu hứng". Lại cứ như trên thì trong "Bùi thị hý bút", "Bùi
thị" là đề còn "hý bút" là thuyết mà cũng cứ như thế thì "hý" dứt khoát
không trực tiếp phụ thuộc vào "Bùi thị". "Hý bút" là một ngữ [đoạn] vị
từ (verb phrase), một từ tổ độc lập, như còn có thể thấy trong nhiều ngữ
cảnh khác nữa. Nó cũng thường được dùng làm tên của thi phẩm, họa phẩm,
mà thí dụ đầu tiên là tên bài thơ của Dương Vạn Lý đã nêu ở trên. Cũng
vào đời Tống, Trịnh Thanh Chi [鄭清之] có bài "Thụy khởi hý bút" [睡起戲筆].
Trần Hiến Chương [陳獻章] đời Minh có bài "Tân Sửu nguyên đán hý bút". Thời
nay, Gia Tuấn [家俊] có một bài thất tuyệt nhan đề "Hý bút" [戏笔], sáng
tác vào ngày
12-2-2015 tại tiệm trà Lão Ba [老爸] đường
Dược Tiến [跃进], thành phố Tam Á. Trang "Tân Bạch thư phòng" [辛白书房] có
"Gia phi ẩn hý bút" [咖啡瘾戏笔], nghĩa là "Nghịch bút về chứng nghiện cà
phê". Trở lên là nói về thơ. Còn về hoạ thì gần đây, Từ Hoa Phong [徐华峰]
có Từ Hoa Phong thiên mặc hý bút họa tập [徐华峰天墨戏笔画集] do Trung Quốc xã
hội xuất bản xã ấn hành. Chu Linh [朱龄] có 10 bức "Thủy mặc hý bút"
[水墨戏笔]. Lộng Mặc Đường chủ [弄墨堂主] có 3 bức "Thủy mặc hý bút [tam bức]".
Tôn Minh [孙明] có bức "Hý bút hoa điểu tiểu phẩm" với ghi chú "Tôn Minh
hý bút" [孙明戏笔].
Cấu trúc của "Tôn Minh hý bút" [孙明戏笔]
cũng y chang như của "Bùi thị hý bút". Nếu thuận theo cách phân tích đầy
chất sáng tạo của ông Tăng Bá Hoành thì ở đây ta sẽ có một họa gia tên
là "Tôn Minh Hý". Và chúng tôi xin cung cấp thêm cho ông Hoành là ở Nam
Sách còn có một bà nữa cũng tên "Hý" nhưng họ Trang, là Trang Thị Hý
nữa. Số là, ngoài chiếc bình ở Bảo tàng Topkapi Saray (Thổ Nhĩ Kỳ), ta
được biết là còn có một chiếc bình khác thuộc dòng gốm Chu Đậu cũng nổi
tiếng không kém, được trưng bày tại cuộc triển lãm về nghệ thuật của
Trung Quốc ở London (Anh) năm 1936. Chiếc bình này được nhắc đến tại mục
"5. Việt Nam đào từ" [5. 越南陶瓷], trang 251 trong quyển "Trung ngoại đào
từ bưu phiếu" [中外陶瓷邮票] của Nhâm Mẫn Cương - Ngụy Thanh Mai [任敏剛;魏清梅] do
Thiểm Tây khoa học kỹ thuật xuất bản xã ấn hành năm 2002.
Trên chiếc bình này có 13 chữ liên quan
đến vấn đề đang bàn là "Đại Hòa bát niên tượng nhân Nam Sách châu Trang
thị hý bút" [大和八年匠人南策州装氏戏笔], nghĩa là "người thợ họ Trang châu Nam Sách
nghịch bút - năm Đại Hòa thứ 8". Chiếc bình Topkapi Saray cũng có đúng
13 chữ và đó là "Thái Hòa bát niên tượng nhân Nam Sách châu Bùi thị hý
bút", nghĩa là "người thợ họ Bùi châu Nam Sách nghịch bút - năm Thái Hòa
thứ 8". Khác nhau ở họ của người thợ (Trang ≠ Bùi) và ở chữ đầu tiên
của ngữ đoạn: Đại ≠ Thái. Chữ "đại" [大] trong "Trung ngoại đào từ bưu
phiếu" chắc chắn là kết quả của một sự nhầm lẫn từ chữ "thái" [太] trong
niên hiệu "Thái Hòa" (1443 - 1453) của Lê Nhân Tông. Ta có thể khẳng
định điều này vì chính hai tác giả của nó đã xác định "Đại Hòa bát niên"
(của Việt Nam) là "Cảnh Thái nguyên niên" nhà Minh, đều là năm 1450
dương lịch.
Thế là chỉ trong năm 1450, ta đã có hai
chiếc bình gốm Chu Đậu đặc biệt: chiếc Topkapi Saray do "Bùi thị hý bút"
và chiếc Luân Đôn do "Trang thị hý bút". Nếu theo cách hiểu của ông
Tăng Bá Hoành thì ta còn phải tìm thêm bà Hý thứ hai là "Trang Thị Hý".
Và chúng tôi mạo muội nghĩ rằng gốm Chu Đậu còn có rất nhiều nữ nghệ
nhân tên "Hý" khác vì trong hàng trăm ngàn hiện vật Chu Đậu, chắc còn có
những chiếc khác cũng mang trên mình nó cái công thức "[…] X thị hý
bút" chứ lẽ nào lại tuyệt đối không có? Vậy xin kính đề nghị các vị
chuyên gia cứ thử đảo tới đảo lui, đảo xuôi đảo ngược nhiều hiện vật Chu
Đậu đặc biệt khác xem còn có những "bà Hý" nào nữa hay không.
Chuyện tên của loài khỉ
Ngoài danh từ "khỉ", phương ngữ Nam Bộ còn có hai danh từ khác nữa dùng để chỉ loài động vật này là "khọn" và "mai".
Ngoài danh từ "khỉ", phương ngữ Nam Bộ còn có hai danh từ khác nữa dùng để chỉ loài động vật này là "khọn" và "mai".
Từ thuở nhỏ, nghĩa là cách đây chừng 70
năm, tại đất Gia Định, cá nhân An Chi đã có nghe dùng từ "mai" để chỉ
loài khỉ. Nhưng để cho thuyết phục hơn, xin trích - mà xin phép ông để
trích hơi… dài - lời của nhà phê bình văn học Đặng Tiến:
"Miệt Bạc Liêu, Cà Mau có câu hát, về sau phổ biến khắp miền Nam, rồi lan truyền khắp nước:
"Tháng ba cơm gói ra Hòn,
Muốn ăn trứng nhạn phải lòn Hang Mai"
Nhiều người không hiểu chính xác, cho
rằng Hang Mai có nhiều hoa mai thơ mộng, hay nhiều rắn hổ mang tàn độc.
Thật ra, "mai" tiếng địa phương có nghĩa là "khỉ". Hang Mai tức là "hang
của loài khỉ". Phi Vân đã giải thích như vậy, ngay trang mở đầu cuốn
phóng sự "Đồng Quê", giải thưởng Hội Khuyến học Cần Thơ năm 1943. Và ông
ấy miêu tả căn cơ:
"Kinh Hang Mai ở làng Khánh Lâm, Cà Mau
bắt đầu từ kinh Biện Nhi trổ ra Tiểu Dừa ( ... ). Ở hai bên bờ người ta
có thể gặp những con trúc, rái, kỳ đà, chồn, ong mật và vô số cá". Dĩ
nhiên là nhiều khỉ. Từ điển phương ngữ Nam Bộ của Nguyễn Văn Ái, 1994,
cũng có ghi chữ mai nghĩa là khỉ" (Chim Việt Cành Nam, "Chuyện Khỉ năm
Thân", Orléans, Xuân Giáp Thân 2004).
Nhà thiền học Lý Việt Dũng, người gốc
Bạc Liêu, cũng đã khẳng định với chúng tôi rằng, tại quê ông, hầu như
người ta không dùng từ "khỉ", mà chỉ nói "mai" để gọi loài động vật này.
Một cái tên khác nữa dùng để gọi loài
khỉ tại Nam Bộ là "khọn", như có thể thấy trong Đại Nam quấc âm tự vị
của Huình-Tịnh Paulus Của:
"Khọn. n. Khỉ.
Con khọn. id.
Làm tuồng mặt con khọn. Làm mặt khỉ, tiếng mắng đứa hay làm mặt vúc vắc, nhăn nhíu khó coi.
Làm con khọn. id. Làm chẳng nên sự gì (tiếng mắng)".
Dictionnaire annamite-français của J.F.M. Génibrel cũng ghi:
"KHỌN. Con khọn, Singe, m. Làm như khọn, Imiter les gestes. Singer, a."
Đáng tiếc là trong phương ngữ Nam Bộ
hiện nay, "khọn" đã trở thành một từ cổ. Có lẽ cũng vì thế nên nó không
được ghi nhận trong Từ điển phương ngữ Nam Bộ (1994) do Nguyễn Văn Ái
chủ biên và Từ điển từ ngữ Nam Bộ (2009) của TS Huỳnh Công Tín. Nó chỉ
được ghi nhận một cách "vớt vát" trong Việt Nam tự điển (1970) của Lê
Văn Đức, cũng có thể xem là một quyển từ điển lấy phương ngữ Nam Bộ làm
nền tảng. Nhưng "khọn" sẽ không "chết mất xác" vì nó đã gắn chặt với
"khỉ" trong từ tổ đẳng lập "khỉ khọn" dùng để chỉ tính nghịch ngợm của
thiếu nhi, thiếu niên, mà cả từ điển Nguyễn Văn Ái lẫn từ điển Huỳnh
Công Tín đều có ghi nhận.
Thế là tiếng Nam Bộ có hai từ riêng là
"khọn" và "mai", dùng để chỉ khỉ mà nói chung người miền Bắc không biết
đến. Rồi miền Bắc cũng có hai từ riêng dùng để chỉ loài động vật này là
"tườu" và "bú dù", thường là tiếng dùng để chửi mắng, mà nói chung,
nhiều người miền Nam cũng ít có cơ hội được biết đến.
Nhưng cũng là từ "khỉ" chung cho tiếng
Việt toàn dân mà người miền Nam lại khai thác cái khía cạnh hay làm trò
của khỉ mà lấy tên của nó làm ẩn dụ để chỉ trẻ con nghịch ngợm; chẳng
những xài "đơn" với "khỉ" mà còn xài "kép" với từ tổ "khỉ khọn", như đã
nói ở trên. Cái nhìn này của người Miền Nam lại giống với nhãn quan của
người Quảng Đông khi họ dùng ba tiếng "mạ lấu chính" [馬驑精], đọc theo âm
Hán Việt là "mã lưu tinh", để chỉ những đứa trẻ tinh nghịch. Trong tiếng
Quảng Đông thì "mạ lấu" [馬驑] (mã lưu) là khỉ; người Quảng Đông không
dùng hai tiếng "hầu tử" [猴子] như trong tiếng Bắc Kinh (mà nếu ghi âm
theo kiểu pinyin thì sẽ là "hóu.zi"). Còn điểm chung của cả hai miền
Nam, Bắc nước ta là dùng từ "khỉ" để diễn tả cái ý "không ra gì" (nhưng
miền Nam thì có nhiều cách ghép đôi hơn như "khỉ cùi", "khỉ khô", "khỉ
mốc"). Bình dân và thông dụng nhất cho cả hai miền có lẽ là quán ngữ
"cái con khỉ" đi liền theo sau từ/ngữ chỉ khái niệm mà người nói muốn
phủ nhận hoặc phản đối, chẳng hạn "Cười, cười cái con khỉ!", "Đẹp, đẹp
cái con khỉ!", v.v…
Liên quan đến tên gọi của loài linh
trưởng này, chúng tôi đã lần theo chữ nghĩa để đi tìm nguồn gốc của
chính từ "khỉ" thì thấy đây quả là một vấn đề hóc búa. Đặng Tiến (Bđd)
đã dè dặt khi viết:
"Không biết vì lý do gì và từ thời nào,
trong tiếng Hán Việt, người ta phát âm chệch từ khỉ thành khởi (cũng như
quý thành quới): ngày nay ta nói khởi nghĩa, khởi hành, nhưng các từ
điển xưa ghi là khỉ hành, khỉ nghĩa. Trong khi đó, trong tiếng thuần
Việt, thành ngữ dân gian vẫn nói: "Khỉ khô khỉ mốc, khỉ ho cò gáy, rung
cây nhát khỉ [……..] Không rõ từ khỉ phát âm chệch thành khởi có liên
quan gì đến tên loài động vật không".
Đặng Tiến là nhà phê bình văn học. Ông
không làm từ nguyên nhưng khi nói về chuyện có liên quan đến từ nguyên
thì ông rất dè dặt. Ngược lại, trong bài "Năm Thân nói chuyện khỉ" của
Nguyễn-Phú-Thứ (Lyon - France) trên mạng ERCT, tác giả đã khẳng định:
"Năm Thân tức Khỉ cũng là Khởi, cho nên
trong bàn dân thiên hạ cũng thường nhắc nhở luôn trong sinh hoạt xả hội
hằng ngày […..]".
Nguyễn Phú Thứ đã khẳng định như trên
nhưng ở đây thì "khỉ" dứt khoát không thể là "khởi" được. "Khỉ", tên của
một loài động vật, là một yếu tố phi Hán Việt còn "khỉ" trong "khỉ
hành", "khỉ nghĩa" - mà Đặng Tiến đã nêu - là một yếu tố Hán Việt. Chỉ
có trong phạm vi Hán Viêt ta mới thấy có một số yếu tố vốn thuộc vần -I
đã chuyển sang vần -ƠI, như:
–"hy" [稀] là hiếm, vốn thuộc vận (vtv)
"vi" [微], mới chuyển thành (mct) "hơi", dùng để chỉ mức độ không cao của
một trạng thái, một tính chất, v.v… (hơi mệt, hơi dày, hơi ngọt, v.v…);
–"ly" [離] là rời, lìa, v.v…, vtv "chi" [支], mct "lơi" trong "buông lơi", "lơi tay", "mời lơi", v.v...;
–"nghị" [議] là bàn luận, vtv 'chí" [寘], mct "ngợi" trong "ca ngợi", "ngợi khen", "nghĩ ngợi", v.v...;
–"phi" [披] là mở ra, banh ra, vtv "chi" [支], mct "phơi" trong "phơi phóng", "phơi thóc", v.v...
"Quý" > "quới", "khỉ" > "khởi"
cũng là cùng cái lý đó. Và đó chính là cơ sở ngữ âm mà người ta đã căn
cứ vào để chuyển hai chữ húy kiêng âm sau đây từ vần -I sang vần -ƠI:
–"Lỵ" [利] húy của Lê Thái Tổ đã đọc thành (đđt) "Lợi";
–"Thì" [時] húy của Tự Đức đđt "Thời".
Nhưng trên đây chỉ là chuyện "nội bộ"
của phạm vi Hán Việt chứ ngoài phạm vi này thì không có chuyện chuyển -I
thành -ƠI. Mà trong thực tế thì trên cả nước Việt Nam, "[con] khỉ" cũng
chẳng bao giờ bị người Việt gọi là "[con] khởi" cả. Chính vì vậy nên
nói rằng "Khỉ cũng là Khởi" trong trường hợp này là đã khẳng định một
điều hoàn toàn vô căn cứ. Trong quá trình đi tìm từ nguyên của các từ
Việt gốc Hán, chúng tôi có ghi nhận một ứng viên cho nguyên từ (etymon)
của "khỉ". Đó là chữ/từ "quỷ" [蛫] trong tiếng Hán mà Hán ngữ đại tự điển
(Thành Đô, 1993) đã cho nghĩa là "viên loại" [猿类], nghĩa là "loài
vượn". Đây là một hình thanh tự mà nghĩa phù là "khuyển" [犭] còn thanh
phù là "nguy" [危]. Về phụ âm đầu thì Q[w] của "quỷ", NG[w] của "nguy" và
KH của "khỉ" đều là những âm cuối lưỡi cho nên mối tương quan về từ
nguyên của chúng - nếu có - thì cũng là chuyện bình thường. Chúng tôi
chỉ dè dặt có một điều là Q của "quỷ" và NG của "nguy" thì có [w], nghĩa
là có yếu tố "tròn môi" còn KH của "khỉ" thì không. Vì sự dè dặt này mà
chúng tôi chưa "duyệt" chữ/từ "quỷ" [蛫] làm nguyên từ của "khỉ" trong
những trang ghi chép của mình. Làm từ nguyên thì không thể tào lao theo
kiểu "thổ mộ là độc mã".
Nói lái trong tiếng Pháp
Bạn đọc: Nếu tôi nhớ không nhầm thì trong hơn 20 năm nay, trả lời cho độc giả, ông đã vài lần giải thích về hiện tượng “nói lái”, kể cả trong tiếng Anh (spoonerism) nhưng trong tiếng Pháp thì hình như chưa, hoặc có nhưng chỉ phớt qua. Xin ông vui lòng nói rõ thêm? Cảm ơn ông. Lê Thành Khẩn (Ba Đình, Hà Nội
Học giả An Chi:
"Nói lái", tiếng Pháp là "contrepèterie". Danh từ này đã được Le
dictionnaire de linguistique et des sciences du langage trong Tủ sách
Larousse định nghĩa là:
"La contrepèterie est une sorte de jeu
ou un lapsus consistant à permuter certains éléments phoniques (syllabes
ou phonèmes) de telle manière qu'on obtient un nouveau énoncé qui
apparaisse comme une déformation burlesque du premier énoncé: Mon oncle
perd courage devant les amas de patentes devient Mon oncle perd courage
devant les appas de ma tante. Le terme de contrepèterie désigne aussi
l'énoncé lui-même issu de cette déformation".
(Nói lái là một cách chơi [chữ] hoặc một
sự nhịu [lưỡi] nhầm hoán vị một số yếu tố âm thanh (âm tiết hoặc âm vị)
sao cho người ta có được một phát ngôn mới có vẻ như là một kiểu biến
dạng tếu táo của phát ngôn gốc: Bác/chú/cậu tôi nản lòng trước những mớ
môn bài trở thành Bác/chú/cậu tôi nản lòng trước những nét khêu gợi của
bác[gái]/thím/mợ tôi. Thuật ngữ "contrepèterie" cũng chỉ chính phát ngôn
xuất phát từ sự biến dạng đó).
Cũng như trong tiếng Việt và cả trong
tiếng Anh, hiện tượng nói lái có khi chỉ là hậu quả của một sự nhịu
lưỡi, nhưng nhiều khi lại là kết quả của một hành động ngôn ngữ nhằm mục
đích chơi chữ. Chính vì mục đích chơi chữ nên Rabelais, tại chương XVI
(Des moeurs & conditions de Panurge) của tác phẩm Pantagruel mới lái
"femme folle de la messe" thành "femme molle de la fesse" mà viết về
Panurge: "Il disait qu'il n'y avait qu'une antistrophe entre femme folle
à la messe et femme molle à la fesse". "Femme folle de la messe" là
"phụ nữ sùng lễ [nhà thờ]" còn "femme molle à la fesse" là "phụ nữ thờ ơ
với chuyện chăn gối" ("mou/molle" là yếu đuối, nhu nhược; "fesse" là
mông [đít]). Vậy ý của Panurge là "chỉ cần một sự nói lái ("antistrophe"
là từ cũ để chỉ "contrepèterie") thì người phụ nữ sùng đạo sẽ trở thành
người phụ nữ lãnh cảm". Thí dụ này được xem như là điển hình về hiện
tượng nói lái trong tiếng Pháp.
Ở thời hiện đại, Jacques Prévert cũng
được xem là nhà văn thích chơi chữ bằng thao tác nói lái. Tờ Le Canard
enchaîné (Con vịt [bị] trói) cũng nổi tiếng về chuyện nói lái với chuyên
mục "Sur l'album de la Comtesse" (Về album của bà Bá tước). Còn tại
Việt Nam thì nhiều người biết tiếng Pháp sống vào thời Cách mạng Tháng
Tám và cuộc Kháng chiến chống Pháp có thể biết chuyện tên của viên Cao
ủy Thierry d'Argenlieu đã được lái thành "Tient lieu d'argenterie" (Thay
cho đồ bạc). Chả là "đồ bạc" được dùng theo nghĩa bóng để chỉ số mề đai
của y vì d'Argenlieu thuộc loại được nhiều mề đai nhất của hải quân
Pháp.
Và chẳng cứ Việt Nam ta mới có "văn nghệ
bình dân"; Tây cũng chẳng thua gì. Nhẹ nhàng nhất là những chuyện như: -
"Femme déçue" (phụ nữ [bị] thất vọng) lái thành "dame fessue" (bà đít
bự);
- "Ni fin ni cesse" (không ngừng không
nghỉ) lái thành "ni sein ni fesse" (ngực lép mông xẹp [không vú không
mông]); - "J'ai glissé dans la piscine" (tôi đã trượt trong bể bơi) lái
thành "j'ai pissé dans la Glycine" (tôi đã tè trong [tòa nhà] Glycine
[thuộc Hàng hải quốc gia của Pháp]);
- "Méfiez-vous des dons coûteux" (hãy dè
chừng với những món quà đắt tiền) lái thành "méfiez-vous des cons
douteux" (hãy dè chừng với những thằng ngốc đáng ngờ);
- "Adjudant, faites bisser l'appel!"
(thượng sĩ, cho điểm danh lại đi) lái thành "adjudant, faites pisser la
belle!" (thượng sĩ, cho người đẹp đi tè đi);
- "Ce sont toujours les bons qui nous
quittent..." (thường là những người tốt bỏ ta mà đi) lái thành "ce sont
toujours les cons qui nous bitent..." (thường là những thằng ngốc [lại]
hiểu ta); - "En lisant Racine ou Molière, je tricotais des épaulières"
(tôi đan những miếng che vai lúc đọc Racine hay Molìere) lái thành "en
lisant Racine ou Molière, je tripotais des écolières" (tôi sờ soạng mấy
cô nữ sinh lúc đọc Racine hay Molière); v.v... và v.v...
Xin chú ý là trong khi tiếng Việt thiên về lái vần thì tiếng Pháp lại thiên về lái phụ âm đầu (của âm tiết).
Ngựa Hồ - Chim Việt
Bạn đọc: Có lẽ nhiều người vẫn biết hai câu “Ngựa Hồ hí gió Bắc - Chim Việt đậu cành Nam” xuất xứ từ đôi câu đối tiếng Hán “Hồ mã tê Bắc phong - Việt điểu sào Nam chi” của tiếng Hán. Nhưng trong tiếng Hán thì hai câu này xuất xứ từ đâu? Xin ông vui lòng cho biết. Cảm ơn ông. Trần Đông Ngạc (Cầu Giấy, Hà Nội)
Học giả An Chi: Sài Môn thi đàn có bài "Ngựa Hồ Chim Việt" của Võ Doãn Nhẫn, mở đầu như sau:
"Ngựa Hồ, chim Việt "do chữ Hồ mã, Việt
điểu. Trong Ðường thi có câu "Hồ mã tế (sic [gõ nhầm chăng?]) bắc phong,
Việt điểu sào nam chi", nghĩa là "ngựa Hồ hí gió bấc, chim Việt đậu
cành nam", do điển rợ Hồ ở phía bắc Trung Hoa đem dâng Hán Vũ Ðế một con
ngựa hay; nhưng từ khi sang Trung Hoa được nuôi ở vườn Thượng lâm thì
bỏ ăn trông rất buồn và mỗi khi có gió bấc thổi thì hí lên. Lại tích
chim Việt thì đời Hùng Vương có đem dâng cho vua Châu Thành Vương một
con chim bạch trĩ, chim này chỉ chọn cành nào hướng về phương Nam thì
đậu".
Võ Doãn Nhẫn khẳng định như trên, nhưng
tiếc rằng thơ Đường thì lại không bài nào có hai câu "Hồ mã tê (không
phải "tế") bắc phong, Việt điểu sào nam chi". Thực ra thì hai câu này đã
có từ đời nhà Hán ở bên Tàu. Đây là hai câu nằm trong bài đầu tiên của
Cổ thi thập cửu thủ (Mười chín bài thơ cổ) mà tác giả không được biết
tên (Vô danh thị). Mười chín bài này được sưu tập sớm nhất là trong
"Chiêu Minh văn tuyển" của Chiêu Minh Thái tử Tiêu Thống
[蕭統], con trai trưởng của Lương Vũ Đế.
Những bài thơ này không có tên nên được lấy câu đầu làm nhan đề. Hai câu
đang xét nằm trong bài đầu tiên là "Hành hành trùng hành hành" [行行重行行],
gồm 16 câu thơ ngũ ngôn, nguyên văn chữ Hán như sau:
行行重行行, 與君生別離。
相去萬餘里, 各在天一涯;
道路阻且長, 會面安可知?
胡馬依北風, 越鳥巢南枝。
相去日已遠, 衣帶日已緩;
浮云蔽白日, 游子不顧返。
思君令人老, 歲月忽已晚。
棄捐勿復道, 努力加餐飯。
Phiên âm:
Hành hành trùng hành hành - Dữ quân sinh biệt ly
Tương khứ vạn dư lý - Các tại thiên nhất nhai
Đạo lộ trở thả trường - Hội diện an hà tri
Hồ mã y Bắc phong - Việt điểu sào Nam chi
Tương khứ nhật dĩ viễn - Y đái nhật dĩ hoãn
Phù vân tế bạch nhật - Du tử bất cố phản
Tư quân lệnh nhân lão - Tuế nguyệt hốt dĩ vãn
Khí quyên vật phục đạo - Nỗ lực gia xán phạn.
Dịch ý:
Chàng cứ đi, đi mãi - Thiếp với chàng sinh ly
Xa nhau hơn muôn dặm - Mỗi người một phương trời
Đường gian truân xa thẳm - Tái ngộ biết chừng nao
Ngựa Hồ trông gió Bắc - Chim Việt đậu cành Nam
Xa nhau ngày càng dài - Áo mặc ngày một rộng
Mây trôi che khuất nắng - Chàng nào nhớ ngày về
Tiều tụy vì nhớ chàng - Năm tháng càng trôi nhanh
Tâm tư không nói hết - Chỉ mong chàng yên thân.
Cứ như trên thì hai câu "Ngựa Hồ hí gió
Bắc - Chim Việt đậu cành Nam" không xuất xứ từ thơ Đường, mà từ một bài
thơ trong "Cổ thi thập cửu thủ", được giới nghiên cứu cho là đã ra đời
vào khoảng từ 140 đến 190, tức khoảng cuối đời Thuận Đế đến trước đời
Hiến Đế nhà Đông Hán. Bài thơ đã phản ánh một cách sinh động tâm tư của
người thiếu phụ xa chồng trong cảnh xã hội loạn ly, làm cho người đọc
không kìm được sự xúc động, được Thi phả của Trần Dịch [陳繹] ghi nhận là
"tình chân, cảnh chân, sự chân, ý chân" (tình thật, cảnh thật, chuyện
thật, ý thật). Ý kiến vô căn cứ của Võ Doãn Nhẫn đã làm giảm tuổi thọ
của bài thơ từ 400 năm trở lên.
Ngay trước đời Đường thì khai quốc công
thần nhà Tùy là Dương Tố cũng đã dụng điển mà viết trong bài "Xuất tái"
(Ra biên ải) thứ nhất (vì có hai bài) hai câu "Bắc phong tê sóc mã - Hồ
sương thiết tái hồng" [北風嘶朔馬,胡霜切塞鸿]. "Sóc" chỉ hướng Bắc, "sóc mã" chẳng
qua là "Hồ mã" và "Bắc phong tê sóc mã" chẳng qua là "Hồ mã tê Bắc
phong", có tu từ bằng hình thức đảo ngữ mà thôi.
Đến đời Đường, Lưu Trường Khanh cũng
dụng điển mà viết trong bài "Tòng quân" thứ sáu (vì có sáu bài) hai câu
"Hồ mã tê nhất thanh - Hán binh lệ song lạc" (Ngựa Hồ hí một tiếng -
Lính Hán lệ [chảy] hai hàng).
Đến đời Tống, nhiều nhà thơ đã dụng điển
"Hồ mã". Dương Ức có bài thơ ngũ ngôn 12 câu nhan đề "Hồ mã tê Bắc
phong" nhưng chỉ dụng điển làm nhan đề cho bài thơ mang tính phúng dụ
chứ trong 60 chữ của ông không có một chữ "mã" nào cả. Còn trong bài
"Đại Trần Vô Kỷ thuật hoài", Ngô Cảnh (có thể đọc Kỉnh) [吳儆] đã mượn gần
như "nguyên xi" hai câu cổ thi mà viết "Hồ mã tê Bắc phong - Việt điểu y
Nam chi" [胡馬嘶北風 - 越鳥依南枝] làm hai câu đầu cho bài thơ ngũ ngôn 12 câu
của mình. Trong bài "Phát Lăng Châu", Văn Thiên Tường viết "Kiện mã tê
Bắc phong - Tiềm ngư lạc thâm uyên" [健馬嘶北風 - 潜魚樂深淵]. Lưu Xưởng viết
trong bài "Phụ huyên" thứ tư (vì có bốn bài) hai câu "Hồ sô đề triêu
sương - Biên mã tê sóc phong" [胡雛啼朝霜 - 邊馬嘶朔風]. Trong bài "Đông mộ"
(Chiều đông), Triều Công Tố viết: "Biên mã tê Bắc phong - Tái hoàn thảo
diệc suy" [邊馬嘶北風 - 塞垣草亦衰]. Tào Huân viết trong bài "Thu tứ": "Hải thảo
vị điêu lục - Hồ mã tê Hàm Tần" [海草未凋綠 - 胡馬嘶咸秦]. V.v... và v.v...
Xin chú ý là vì lý do dị bản nên có một
vài nguồn ghi chữ "y" [依] thay cho chữ "tê" (trong câu trước) hoặc chữ
"sào" (trong câu sau), khi chép lại bài "Hành hành trùng hành hành".
Cuối cùng, xin nói rằng "Hồ mã y Bắc phong - Việt điểu sào Nam chi" cũng
chỉ là hai câu thơ đối ý chứ không phải là hai câu đối chính danh vì,
chiếu theo luật đối, thì nó đã hỏng ngay từ đầu vì chữ cuối của hai câu
đều thuộc vần bằng (nên sai hẳn luật).
Điệp thức của chữ GIÁC [角]
Bạn đọc: Xin
ông cho biết xuất xứ của từ “giác” trong “ống giác”, “giác hơi”. Nó có
liên quan gì đến chữ “giác” trong “tê giác” mà ông đã có lần nói đến?
Xin cám ơn ông! Trương Thế Mỹ (TP Vũng Tàu)
Học giả An Chi:
Liên quan đến ý bạn hỏi, Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học
(Vietlex) do Hoàng Phê chủ biên giảng: "giác" là một động từ có nghĩa là
"làm cho máu tụ lại một chỗ cho đỡ đau, bằng cách úp sát vào đó một
dụng cụ hình chén thắt miệng [bầu giác] hoặc hình ống [ống giác] đã được
đốt lửa hoặc nén hơi bên trong [một phương pháp chữa bệnh dân gian]".
Cái mà từ điển Vietlex gọi là "phương pháp chữa bệnh dân gian" này,
tiếng Anh gọi là "cupping therapy" (hoặc "cupping glass treatment"),
tiếng Pháp là "traitement par ventouses", còn tiếng Tàu hiện đại là
"[bạt] hỏa quán liệu pháp" [(拔)火罐療法].
Trong tiếng Việt, từ, ngữ của phương
pháp chữa bệnh dân gian nói trên đã là cơ sở cho việc tạo ra thuật ngữ
thực vật học "giác mút", dùng để chỉ dạng rễ của cây ký sinh đâm sâu vào
cây chủ để hút chất dinh dưỡng từ cây này. Giác mút, tiếng Anh và tiếng
Pháp là "haustorium" (tiếng Pháp cũng dùng "haustorie"), còn Tàu thì
gọi là "hấp khí" [吸器]. Danh ngữ "giác mút" đã được dùng để đối dịch
"haustorium/haustorie" trong Từ điển thực vật học Pháp Việt do Lê Khả Kế
chủ biên (Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1978) hoặc Dictionnaire
français-vietnamien, cũng do Lê Khả Kế chủ biên (Agence de Coopération
Culturelle et Technique, 1981).
Nếu chỉ bằng vào những cứ liệu trên đây
thì ta sẽ không thấy "giác" trong "ống giác", "giác hơi" có liên quan gì
đến chữ "giác", có nghĩa là sừng, trong "tê giác" cả. Nhưng nếu tìm cho
kỹ thì ta sẽ thấy là có đấy. Trong báo cáo khoa học "De l'utilisation
des ventouses [Về việc sử dụng ống giác]" (Formation TUINA
EMTC-2006-2008, déposé le 30-05-08), Dominique Schueller cho biết:
"Ống giác đã được dùng từ thời xa xăm,
hầu như khắp nơi trên thế giới. Những chiếc (ống giác) đầu tiên có vẻ
như đã được chế tác từ sừng của thú vật được khoét rỗng, bên trong người
ta đốt lửa để có thể tạo ra chân không và từ đó gây ra một sức hút".
(tr.7).
Bà cho biết phương pháp trị liệu đó
không những đã được thực hiện ở những nền văn minh cổ đại như Ai Cập, Hy
Lạp, Tàu, Ấn Độ, mà còn tại nhiều nơi khác ở châu Á, châu Âu và châu Mỹ
Latinh từ thời xa xưa. Cá nhân chúng tôi đã từng thấy người Trại, tức
người Sán Dìu, ở Tam Đảo (Vĩnh Phúc), dùng sừng trâu, nói cho thật chính
xác là dùng cái chót sừng, khoét rỗng để làm ống giác. Tới đây thì ta
đã thấy sự có mặt của cái vật gọi là sừng trong thao tác "giác". Sừng,
tiếng Hán (đọc theo âm Hán Việt) là "giác", mà mặt chữ là [角]. "Bắt rễ"
từ đây, ta sẽ gặp danh ngữ "hấp giác" [吸角], có nghĩa là "ống giác", là
một lối nói trong y học cổ truyền của Tàu như đã được khẳng định tại
http://bulo.hujiang.com/question/380483/: "Trung y lý đích bạt hỏa quán"
[中医里的拔火罐], nghĩa là "ống giác trong [lối nói của] Trung y".
Ngày nay, Tàu chỉ chơi lối nói mô-đẹc
(nói trên) nên đã xếp xó hai chữ/tiếng "hấp giác" [吸角], chứ Nhật thì vẫn
còn giữ và đọc theo Kan-on là "kyukaku", mà chỉ cần gõ vào thanh tìm
kiếm trên mạng thì ta đã có thể thấy ngay ở trang
http://www.shutterstock.com/s/kyukaku/search.html hơn 50 bức ảnh về thao
tác giác hơi. Thế là Tàu thì đã xếp xó cái chữ [角] mà âm Bắc Kinh là
"jiǎo" (theo pinyin) với cái nghĩa là một thứ y cụ chứ ta và Nhật thì
vẫn còn xài: Nhật với âm "kaku" (trong "kyukaku") còn ta thì với âm
"giác". Có điều là ta đã chuyển từ loại của "giác" từ danh từ thành động
từ (như từ điển Vietlex đã giảng), rồi lại dùng động từ này làm định
ngữ hạn định cho "bầu" và "ống" trong hai danh ngữ "bầu giác" và "ống
giác". Nhưng dù có chuyển từ loại hay không thì "giác" trong "ống giác",
"giác hơi" cũng cứ là một từ Việt gốc Hán, bắt nguồn ở một từ ghi bằng
chữ [角], mà âm Hán Việt hiện hành chính là … "giác" trong "hấp giác"
[吸角].
Thế là cái sừng, nói cho chính xác là
cái chót sừng, của một số loài động vật, đã từng được dùng làm ống giác.
Nhưng nó còn có một công dụng thú vị khác nữa là làm vật đựng thức
uống, dĩ nhiên là cũng từ thời xa xưa. Chẳng thế mà tiếng Việt lai có từ
"cốc", được từ điển Vietlex giảng là "đồ dùng để uống nước, uống rượu,
v.v... thường làm bằng thủy tinh hoặc nhựa, có thành cao, lòng sâu và
không có quai". "Cốc" là một từ Việt gốc Hán, bắt nguồn ở một từ ghi
bằng chữ [角], mà âm Hán Việt hiện hành là "giác". Với âm Bắc Kinh "jué"
(theo pinyin), nghĩa thứ 7 của chữ "giác" [角] trong Hán ngữ đại tự điển
(Thành Đô, 1993) là "cổ đại tửu khí […]", tức "đồ đựng rượu thời xưa
[…]". Tại nghĩa này, quyển từ điển đã dẫn "Bộ [角]" trong Thuyết văn
thông huấn định thanh của Chu Tuấn Thanh đời Thanh như sau: "Nghi cổ tửu
khí chi thủy, dĩ giác vi chi, cố [觚], [觶], [觴], [觥], đẳng tự đa tùng
[角]", nghĩa là "ngờ [rằng] đồ đựng rượu sơ khai thời xưa làm bằng sừng,
do đó [mà] các chữ "cô", "chi", "thương", "quanh", v.v., thường thuộc bộ
"giác" [角]". Chí lý! Ở đây cần phải nói rõ rằng với nghĩa đang bàn thì
âm Bắc Kinh của chữ [角] là "jué" còn với nghĩa "sừng" thì âm Bắc Kinh
của nó lại là "jiǎo" nhưng âm Hán Việt của nó thì lại không phân hóa
thành hai. Đó vẫn chỉ là "cổ nhạc thiết" [古岳切], tức là "các" (rồi về sau
mới bị đọc thành "giác"). Vậy "các" thì liên quan gì về ngữ âm với
"cốc" trong '"cốc nước", "cốc bia", v.v...? Xin thưa là có vì hai vận AC
và ÔC có một mối quan hệ lịch sử lâu đời: các chữ "ác"
[握], [渥], chẳng hạn, cũng có âm "ốc" và
hài thanh bằng chữ "ốc" [屋]; đặc biệt, chữ "giốc" trong danh ngữ "thế ỷ
giốc" chính là chữ "giác" [角] mà ta đang nói đến. Vậy thì chẳng có gì lạ
nếu việc dùng sừng (giác < các) làm đồ đựng thức uống đã gián tiếp
sản sinh ra từ "cốc" trong tiếng Việt.
Rồi việc trâu, bò dùng sừng để húc đã
đem đến cho chữ "giác" [角] cái nghĩa "húc", rồi nghĩa rộng là đánh nhau,
tranh nhau. Nghĩa này đã đưa đến cho tiếng Việt động từ "cốc" mà từ
điển Vietlex giảng là "gõ vào đầu bằng một đầu ngón tay gập lại".
Cái nghĩa "sừng" của chữ 'giác"
[角] còn đem đến cho tiếng Việt một danh
từ là "gạc" mà từ điển của Vietlex giảng là "sừng già phân nhánh của
hươu, nai". Mối quan hệ ngữ âm "GI ↔ G[H]" giữa "giác" và "gạc" thì
không còn là chuyện lạ trong lĩnh vực từ nguyên học về các từ Việt gốc
Hán: - "giá" [嫁] là gả chồng ↔ "gả" trong "cưới gả";
- cũng chữ"giá" [嫁] này nhưng với nghĩa "trút, trao cho người khác" ↔ "gá" trong "gá nợ", "gá nghĩa";
- "giải" [蟹] là cua ↔ "ghẹ" là một giống cua;
- "giam" [監] là nhốt kẻ có tội ↔ "găm" là "giữ lại không chịu đưa ra vì một mục đích nhất định (như trong "găm giữ");
- "giám" [監] là trông coi, xem xét ↔
"gắm" trong "gửi gắm", mà về từ nguyên, cũng là điệp thức của "ký giám"
[寄監], có nghĩa gốc là "
[bắt rồi] giao cho nhà ngục tạm giam";
- "giáp" [夾] là kép, trái với "đơn" ↔ "ghép" trong "gán ghép";
- "giới" [疥] là ghẻ ↔ "ghẻ" trong "ghẻ chốc"; v.v...
Còn với nghĩa hình học của nó trong "đa
giác", "tam giác", "tứ giác", v.v... thì "giác" [角] có một điệp thức là
"góc" trong "góc cạnh". Rồi với cái nghĩa là một phần mười của một đồng,
tức một hào, thì chữ "giác" còn đem đến cho tiếng Việt danh từ "cắc",
một thời rất thông dụng trong Nam. "Nam cắc, Bắc hào". Biết rằng "giác"
vốn là "các", ta sẽ dễ dàng thấy rằng từ "các" đến "cắc", chỉ có một
bước nhỏ từ "a dài" sang "a ngắn" mà thôi.
Nhận xét
Đăng nhận xét