AN CHI GIẢI ĐÁP 35

 (ĐC sưu tầm trên NET)

GHỀNH hay là GÀNH

Bạn đọc: Cây cầu trăm tuổi dài 223m trên sông Đồng Nai dẫn vào Cù lao Phố đã bị sà lan húc sập. Từ nhiều ngày nay, hầu như tất cả các phương tiện truyền thông đều gọi nó là cầu “Ghềnh”. Nhưng có chuyện rắc rối là từ xửa từ xưa, dân chúng trong vùng chỉ gọi nó là cầu Gành. Xin ông cho biết vậy thì tên chính xác của cây cầu xấu số này là “Ghềnh” hay “Gành”. Và giữa “gành” với “ghềnh” thì có quan hệ “bà con ngữ âm” gì với nhau hay không? Xin cảm ơn ông. Huỳnh Ngọc Bửu(Cù lao Phố, Đồng Nai)

Học giả An Chi: Trước nhất xin nói về quan hệ “bà con” giữa “ghềnh”  và  “gành”.  Họ  là  ruột thịt nhưng cụ Gành là bậc tiền bối còn thằng Ghềnh thì chỉ là đứa sinh  sau  đẻ  muộn.  Chuyện  này có thể thấy được qua mối quan hệ từ nguyên giữa các vần ANH ↔INH ↔ÊNH - mà chúng tôi từng nói đến trong đó ANH > INH > ÊNH. Xin nêu dẫn chứng đầu tiên là từ bệnh, thường thấy ở các từ tổ bệnh nhân, bệnh viện, khám bệnh, trị bệnh, v.v... trong tiếng Việt toàn dân và tiếng Việt văn học hiện đại. Đây hiển nhiên là một từ Hán Việt, ghi bằng chữ [病] mà âm Hán Việt hiện hành là bệnh nhưng  âm  gốc  của  nó thì lại là bạnhvì nó là một chữ thuộc vận “ánh” [映].
Âm bạnh của bệnh đã được ghi nhận trong Dictionarium  Annamiticum Lusitanum  et  Latinum (Từ  điển Việt Bồ La) của A. de Rhodes: “bạnh,  tât (sic) bạnh peste: pestis,  is”.  Cả peste của  tiếng Bồ  lẫn pestis của  tiếng  La  đều có  nghĩa  là  tật  bệnh  (không  kể những  nghĩa  khác).  Vậy bệnh, vốn đọc bạnh, là một hiện tượng ngữ âm dứt khoát không thể nào phủ nhận được. Sau đó, bạnh đã chuyển thành bịnh; rồi âm bịnh  đã được lưu dân đem vào Nam mà dùng cho mãi đến 1954 (khi người  Bắc  ồ  ạt  di  cư  vào  Nam sau Hiệp định Genève) trong khi ở ngoài Bắc thì từ lâu (dĩ nhiên là trước cả 1954), bịnh đã chuyển thành bệnh, là âm được dùng cho đến hiện nay. Việt Nam tự điển của Khai trí Tiến đức 1931 (lấy tiếng  miền  Bắc  làm  nền  tảng) vẫn còn ghi nhận bịnh như một mục phụ nhưng đánh giá sai rằng “[bịnh]  tức  là  chữ bệnh đọc  sai đi”. Thực ra thì bịnh là tiền thân của bệnh.
Cứ như trên thì bạnh là bậc ông bà, bịnhlà bậc cha chú còn bệnh thì  chỉ  là  hàng  con  cháu cho nên mới còn sống mà hiện diện trên đời trong khi bạnh đã nằm ở một tầng đất khảo cổ còn bịnh cũng đã nằm trong viện bảo tàng  của  ngôn  ngữ  văn  học  và ngôn ngữ toàn dân. Cứ như trên thì trong các điệp thức có các vần diễn tiến theo công thức ANH > INH > ÊNH, từ (hoặc hình vị) có vần  ANH  thuộc  bậc  ông  bà,  từ có vần INH thuộc hàng cha chú còn tử có vần ÊNH chỉ là bậc con cháu. Do đó, gànhlà bậc ông bà, ghìnhlà bậc cha chú còn ghềnh thì chỉ là hàng con cháu mà thôi. Gành là một từ Việt gốc Hán, bắt nguồn ở một từ ghi bằng chữ [陘],  mà  âm  Hán  Việt  thông dụng  hiện  hành  là hình,  nhưng vốn đọc là hànhvì nó thuộc vận thanh[青]. Hành> gành, ở đây là H > G, thì cũng giống như: -hàm[函] > gồm(trong bao gồm);
-hào[嚎]  > gào (trong  gào thét);
 -hoạch[劃]  > gạch (trong gạch ngang, gạch chéo);
-hợp[合]  > gộp (trong  gộp chung); v.v...
Hành  >  hình  [陘]  là  chỗ gián  đoạn  trong  mạch  núi;  khi chuyển  thành gành trong  tiếng Việt thì mang nghĩa là “chỗ lòng sông thu hẹp và nông khiến cho dòng  nước  bị  dồn  lại  nên  chảy xiết”  (Từ điển  từ ngữ  Nam  Bộ của TS Huỳnh Công Tín). Ngày nay,  trong  tiếng  Việt  văn  học và tiếng Việt toàn dân thì nó đã biến  thành ghềnh (trong  thác ghềnh) nhưng trước đó thì nó là ghình như còn có thể thấy trong phương ngữ Nam Bộ: Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi.
(Nhiều  tác  giả  đã  không ý  thức  được  về  đặc  điểm  của phương ngữ nên đã tự động đổi ghình thành  “ghềnh”  nhưng “ghềnh”  thì  đâu  có  vần  “ngon lành” với “đinh” ở câu trên). Trở  lên  chúng  tôi  đã  nói về  diễn  tiến  “gành > ghình > ghềnh”,  để  qua  đó  mà  khẳng định  rằng gành là  bậc  ông  bà chứ ghềnh thì  chỉ  là  hàng  con cháu  mà  thôi. Gành là  một  cái tên  cúng  cơm  xưa  hàng  trăm năm  mà  dân  chúng  trong  vùng đã đặt cho cây cầu xấu số đã gãy đổ. Vậy các nhà báo, nhà truyền thông có nên sỗ sàng đổi tên của nó  thành  “Ghềnh”  hay  không? Xin mời các vị đọc đoạn sau đây trong  bài  “Cầu  Ghềnh  dấu  tích trăm năm” (Kỳ 1 - Ký ức trong chiếc  bàn  thiên  trăm  tuổi)  của Báo Tuổi trẻ online ngày 18-8-2011: “Giám  đốc  Bảo  tàng  tỉnh Đồng Nai Lưu Văn Du cho biết, qua  tìm  hiểu  người  dân  ở  cù lao  Phố  vẫn  gọi  là  “Gành”  chứ không  phải  “Ghềnh”.  “Ghềnh” có thể sau này người ta phát âm trại ra chứ dân cù lao dứt khoát gọi là “Gành”. Theo ông Du, ở dưới vùng hạ lưu của cầu Ghềnh có những gành đá nên người xưa có thể từ đó mà gọi là “Gành”. Tuy nhiên, đến nay “Gành” hay “Ghềnh” vẫn chưa tìm thấy một dữ liệu nào để khẳng định chuẩn xác”.
Ông Giám đốc Bảo tàng còn dè dặt khi nói “vẫn chưa tìm thấy một  dữ  liệu  nào  để  khẳng  định chuẩn xác” nhưng dữ liệu ở ngay cửa miệng của người dân chung quanh  chứ  ở  đâu.  Xin  hãy  đọc, cũng trong bài báo đã nêu:“Khi nghe chúng tôi hỏi gọi cầu  Gành  với  cầu  Ghềnh  thì  từ nào  chuẩn  xác,  vợ  chồng  ông Chín  (là  người  được  hỏi  han  -AC)  cười:  “Dân  cù  lao  hồi  xưa tới  giờ  gọi  cầu  Gành  không  à. Gành  là  gành  đá  nổi  lên  ở  gầncầu  thời  đó  nên  dân  mới  gọi như vậy. Nói với dân cù lao mà  gọi cầu Ghềnh thì người ta cười chết!”.
Ta nên nhớ rằng, ở đây, Gành không còn là danh từ chung nữa, mà là danh từ riêng, là địa danh.Đối với địa danh, nhân danh, ta không  thể  tự  tiện  hoặc  sỗ  sàng thay  thế  nó  bằng  biến  thể  ngữ âm (của nó). Quận 12, TP HCM, có  một  địa  danh  là  Chợ  Cầu.Biết  rằng  (từ)  Cầu  là  điệp  thức của (hình vị) Kiều nhưng chẳng có ai lố bịch mà gọi địa danh đó là  “Chợ  Kiều”.  Đôi  vợ  chồng nọ có hai đứa con, một trai, một gái. Họ đặt tên cho đứa con gái là Hoa còn đứa con trai là Huê. Ai  lại  không  biết  rằng,  Huê  là biến thể ngữ âm của Hoa ở trong Nam. Nhưng chúng tôi thách các nhà báo đến nhà này mà gọi Huê để cho con Hoa xuất hiện. Nếu họ làm được thì, noi gương BS Nguyễn Hy Vọng, chúng tôi sẽ đi lộn đầu xuống đất. Dĩ nhiên là con Hoa có thể xuất hiện. Nhưng để trả lời: “Dạ thưa nhà báo, bữa nay anh Huê của con không có ở nhà”.  
Nguồn:
7:00 | 23/03/2016

Gông, cùm, xiềng, xích của ta không có dây mơ rễ má gì với cangue và chaîne của tiếng Tây

Mạng Tìm hiểu từ nguyên (Nguồn gốc từ ngữ/ Từ ngữ và lịch sử) ngày 30-8-2012 có đăng bài “Cùm lim, xích sắt” của Nguyễn Dư (Lyon, 5-2008), trong đó những ý kiến chính đều sai, rất sai.

Học giả An Chi: Đáng nói hơn nữa là tác giả còn dựa vào những cái sai của mình để phủ nhận đôi câu đối tương truyền là của Cao Bá Quát:
Một chiếc cùm lim chân có đế
Ba vòng xích sắt bước thì vương
Nói về nguồn gốc của hai từ “gông”, “cùm”, Nguyễn Dư viết:
“Cangue có liên hệ gì với cái gông, cái cùm?
Sưu tập Oger (1909) có tấm tranh  Đốt quăng tra tiền vẽ cái cangue đeo cổ dành cho đàn bà.
“Chữ Quăng của tên tranh nghĩa là gì? Quăng (chữ Hán, bộ Nhục) nghĩa là cánh tay. Quăng, tiếng Việt, nghĩa là ném mạnh và xa. Quăng bị người đàn ông đốt không phải là cánh tay, cũng không phải là vật gì bị ném ra xa. Quăng bị đốt là cái nia quàng vào cổ người đàn bà. Quăng chính là cái cangue dành cho đàn bà được Huard và Durand nói đến trên kia.
“Chữ Quăng của tên tranh không có nghĩa như chữ Hán, cũng không có nghĩa của tiếng Việt. Chữ Quăng được dùng để ghi âm từ cangue của tiếng Pháp. Tấm tranh Đốt quăng  tra tiền cho phép suy ra rằng người Pháp đã đưa từ cangue (hoặc đưa cả cái cangue?) vào Việt Nam.
“Bộ sưu tập Oger còn có tấm Cùm ngạch (vẽ bàn chân bị trói vào khúc tre của cái ngạch nhà). Hai tấm tranh là bằng chứng cho thấy vào khoảng đầu thế kỷ XX, từ cangue có lúc vẫn còn được phát âm là quăng, có lúc được Việt hóa thành cùm.
Còn cái gông?
Từ cangue (căng-gơ) có hai âm tiết, được Việt hóa theo hai ngả: căng trở thành cùm và gơ trở thành gông”.
Tranh  Đốt quăng  tra tiền
(trong bài của Nguyễn Dư).  
Trong quá trình trả lời cho bạn đọc, chúng tôi cũng đã có đôi ba lần phản bác ý kiến của tác giả Nguyễn Dư nhưng lần này thì ông Dư mới làm cho chúng tôi kinh ngạc nhất. Tiếng Tây đâu có vào tiếng ta một cách ba trợn ba trẹo như vậy được. Trước nhất, chúng tôi không biết ông Nguyễn Dư đã căn cứ vào sách, báo nào của Tây mà khẳng định rằng “vào khoảng đầu thế kỷ XX, từ cangue có lúc vẫn còn được phát âm là quăng”, mà lại được phiên âm bằng chữ quốc ngữ Việt Nam. Đây là biểu hiện của một sự tưởng tượng cực kỳ táo tợn mà chắc chắn không một người Pháp nào có thể chấp nhận được. Huống chi, cái chữ [肱] trong hình vẽ mà ông Dư đọc thành “quăng” theo nghĩa của “cangue” trong tiếng Pháp, thì không hề tồn tại trong tiếng Việt, như sẽ phân tích rõ ở một đoạn sau. Riêng gông và cùm thì lại là hai từ đã có mặt trong tiếng Việt trước khi Pháp xâm lược Việt Nam nên tất nhiên không có dây mơ rễ má gì với cangue của tiếng Pháp cả.
Căng (của cangue) không trở thành cùm vì cùm đã có mặt trong Dictionarium Annamitico Lusitanum et Latinum của A. de Rhodes in tại Roma năm 1651, trong dạng chính tả “cồm”, với hai thí dụ “cầm cồm” và “đóng cồm”. Ở thời điểm này thì cùm còn phát âm thành “cồm”, cũng như hùm thành “hồm”. Đến thời Dictionarium Anamitico Latinum của Pierre Pigneaux de Béhaine (1772-73) thì  cồm và hồm đã được phát âm và viết thành cùm, hùm. Còn gông thì cũng đã được ghi nhận trong từ điển của A. de Rhodes với hai thí dụ “cầm gông”, “đóng gông”, nghĩa là cũng đã tồn tại trong tiếng Việt ít nhất là 200 năm trước khi Pháp sang cướp nước ta. Thế mà Nguyễn Dư còn viết:
“Mọi người còn nhớ mấy câu ca dao:
- Gái có chồng như gông đeo cổ
Gái không chồng như phản gỗ long đanh...
- Cờ bạc là bác thằng bần,
Cửa nhà bán hết cho chân vào cùm”.
Với những câu ca dao trên thì cái “e” (air = dáng vẻ) xa xưa của nó cũng đã buộc nhà nghiên cứu phải thận trọng đặt vấn đề xem có thật là nó chỉ ra đời sau khi dân ta bị Pháp cai trị hay không. Đằng này… Đặc biệt Nguyễn Dư rất sai khi đọc cái chữ [肱] trong tranh vẽ của Sưu tập Oger 1909 thành “quăng” để mặc nhiên ghép nó vào từ loại danh từ rồi gán cho nó cái nghĩa của từ “cangue” ( = cùm). Thực ra thì khi chuẩn bị ấn hành bộ Sưu tập 1909 của Henri Oger  với tên đề ở bìa ngoài là Technique du peuple Annamite (Edition 2009/ Chủ biên: Olivier Tessier & Philippe Le Failler, EFEO [Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp]), người ta đã tra cứu để đọc một cách chính xác - mặc dù không tuyệt đối - các chữ Hán và chữ Nôm dùng để chú thích cho từng bức tranh. Chữ [肱] đã được đọc một cách chính xác thành “quanh” và 4 chữ Nôm trong hình là “đốt quanh tra tiền”, như đã in rõ ràng tại mục 205D, tr.252, Bảng phân tích của tập 1, cũng như tại dòng chú thích số 4, tờ 205 (là tờ có in bức tranh) của tập 2.
“Đốt quanh tra tiền” là một bức tranh giản dị phản ánh một trong hàng ngàn cảnh sinh hoạt thực tế của xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX, trong đó có cảnh đứa bất lương khảo của bằng cách khoét lỗ giữa một cái nia rồi tròng vào cổ của nạn nhân mà đốt dần ở chung quanh để bắt ép người ta xì tiền cho nó. Làm gì có chuyện “căng trở thành cùm và gơ trở thành gông”. Hai chữ xích và xiềng cũng chung số phận với gông và cùm nên cũng được Nguyễn Dư ghép vào cái nguyên từ chaîne của tiếng Pháp. Tác giả này đã dẫn “Truyện Kiều” mà viết:
“Hoạn Thư sai Khuyển Ưng đến Lâm Chuy bắt Kiều, đem về Vô Tích.
Dọn thuyền lựa mặt gia nhân,
Hãy đem dây xích buộc chân nàng về”.
Thực ra “Truyện Kiều” là một tác phẩm cuối thế kỷ XVIII, đầu XIX còn tiếng Việt thì chỉ có thể mượn tiếng Pháp từ sau năm 1862 mà thôi. Tác giả đã phỏng đoán rằng “từ xích xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ XIX”. Thực ra, nó đã được ghi nhận trong từ điển 1651 của A. de Rhodes - nghĩa là trước niên đại mà Nguyễn Dư phỏng đoán ít nhất cũng là 200 năm - tại mục “xích con chó”, được giảng là “buộc chó bằng dây tre vặn lại, để chó đừng cắn dây”. Còn “xiềng” thì cũng đã được ghi nhận trong từ điển 1772-73 của Pigneaux de Béhaine nên tất nhiên cũng chẳng có dây mơ rễ má gì với chaîne của tiếng Pháp cả.
Cứ như trên thì từ nguyên của 4 từ “gông”, “cùm”, xiềng”, “xích” mà Nguyễn Dư đưa ra đều sai và việc ông dựa vào nó để phủ nhận đôi câu đối  tương truyền là của Cao Bá Quát là một việc làm cực kỳ chủ quan và võ đoán.
Nguồn:
:00 | 13/03/2016

Về những “chữ Việt gốc Pháp” trên sggdpost.com

Mục “Sài Gòn - Gia Định: Đất & Người” của mạng sggdpost.com có ba bài liên quan đến lĩnh vực từ nguyên do “Sưu Tầm” đưa lên ngày 9-12-2015 là “Chữ Việt gốc Pháp” (Bài 1), “Chữ Việt gốc Pháp TT” (Bài 2) và “Từ ngữ tiếng Việt gốc Pháp trong văn hóa ẩm thực” (Bài 3). Tại Bài 3, tác giả viết:

Trải qua hơn 400 năm giao lưu tiếp biến văn hóa, người Việt và người Pháp đã có nhiều điểm tương đồng về văn hóa, đặc biệt là ngôn từ trong văn hóa ẩm thực”.    
Ta không biết tác giả xuất phát từ thời điểm nào mà khẳng định rằng sự “giao lưu tiếp biến văn hóa” giữa người Việt và người Pháp đã “trải qua hơn 400 năm”, trong đó có cả “văn hóa ẩm thực”. Tính từ thời điểm thực dân Pháp chiếm x
Trong 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ vào năm 1862 cho đến ngày 9-3-1945 là thời điểm chúng bị Nhật đảo chính, thời gian chỉ có 83 năm; dân ta vẫn “làm tròn số” mà nói “80 năm bị Pháp cai trị”. Ấy thế nhưng tác giả còn bạo gan bạo phổi nhắc lại con số “400”:
“Kết lại, dù được viết dưới dạng nào thì những món ăn mà người Pháp mang đến Việt Nam từ 400 năm trước ngày càng thông dụng và phổ biến hơn. Những thứ ấy đã dần ăn sâu vào tiềm thức của người Việt hiện đại như một thức đồ không thể thiếu trong cuộc sống hiện đại đầy tiện nghi này.
Rồi tác giả này lại viết ẩu tiếp:
“Cà phê là chữ đọc thuần Việt xuất phát từ từ Café của tiếng Pháp. Người Sài Gòn xưa chuộng cà phê pha phin, kì thực phin là từ “filter” nghĩa là lọc”.
Đã “xuất phát từ từ café của tiếng Pháp” thì còn “thuần Việt” thế nào được? Mà từ “phin” trong “cà phê phin” cũng đâu có bắt nguồn từ “filter” vì đây là tiếng Ăng Lê còn “filtre” thì mới là tiếng Pháp. Nhìn tổng quát, trong 3 bài của “Sưu Tầm”, ta thấy lác đác vẫn có những cái sai, nặng, nhẹ khác nhau:
1. -“ cassé > cát-xê ”. 
“Cassé” với nghĩa là bể, vỡ, gãy, v.v... thì không đi vào tiếng Việt. Còn “cát-xê” với nghĩa là tiền thù lao cho nghệ sĩ thì lại do “cachet” mà ra.
2. -“douille > đuôi (bộ phận để gắn bóng đèn)”.
Nếu là bộ phận để gắn bóng đèn thì chính tả tiếng Việt phải là “đui”. 
3. -“houblon > hốt-bố (loài dây leo có quả để tạo mùi cho rượu bia)”. 
Cũng hoàn toàn sai vì “hốt bố” là một từ Việt gốc Hán, bắt nguồn ở từ ghi bằng hai chữ [忽布], mà âm Hán Việt là… “hốt bố”, dùng để phiên âm danh từ “hop” của tiếng Anh, trong đó âm tiết thứ hai (mà tiếng Bắc Kinh phát âm thành “bù” (ghi theo pinyin) dùng để thể hiện phụ âm cuối P (của “hop”), là một âm bật hơi (explosive). Còn chính danh từ “hop” ( = hốt bố) của tiếng Anh, mà hình thái trung đại là “hoppe” thì lại bắt nguồn từ tiếng Pháp cổ “hoppe”, có nghĩa là… hốt bố.
4. -“mangoustan > măng-cụt (quả)”.
“Măng cụt” của tiếng Việt là một từ mượn của tiếng Khmer “moongkhut” khi những lưu dân người Việt Nam vào đến miền Nam của Đàng Trong còn tiếng Pháp thì mượn từ “mangoustan” ở tiếng Bồ Đào Nha “mangustão”, mà từ Bồ Đào Nha này thì lại mượn ở tiếng Mã Lai “manggis[tan]”.
5. -“revers > rờ-ve (cú đánh ngược tay trong môn bóng bàn hay quần vợt). Suy cho cùng thì “rờ-ve” (cú đánh ngược tay) chỉ là một thuật ngữ thể thao, còn trong tiếng Việt văn học thì cũng từ “revers” của tiếng Pháp mà ra, lại  là cái “ve [áo]”.
6. -“roquette > rốc-kết (phi đạn tự bay đi)”. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, “rốc-kết” chưa xuất hiện trong tiếng Việt; phải đến thời chống Mỹ nó mới ra đời. Vậy đây là một từ Việt gốc Anh, bắt nguồn ở từ “rocket”.
7. -“savon > xà-bông, xà-phòng”
    “Xà bông” không do tiếng Pháp “savon” mà ra vì từ này được phiên âm từ tiếng Bồ Đào Nha “sabão”.
8. -“treuil > trơi (bánh xe có quấn dây cáp để nâng các vật nặng lên)”.
“Trơi” là một từ thật sự không thông dụng còn từ thông dụng trong tiếng Việt, phiên âm từ danh từ “treuil” của tiếng Pháp, lại là “tời”.
Làm từ nguyên không phải là “cáp đôi” hai từ của hai thứ tiếng khác nhau chỉ vì chúng vừa đồng nghĩa, vừa giống (hoặc na ná) nhau về mặt ngữ âm. Ta nên lấy câu “Tous les sosies ne sont pas des parents”của J. Vendryes làm phương châm; câu này có nghĩa là “Không phải tất cả những người giống nhau [như đúc] đều là bà con [với nhau]”. Vì chỉ “trông mặt mà bắt hình dung” nên tác giả của bài này đã cho rằng tiếng Việt “xôm tụ” là do tiếng Pháp “somptueux” mà ra trong khi bản thân “xôm” và “tụ” đã là những từ độc lập sẵn có của tiếng Việt (còn trong những từ đa âm tiết phiên âm từ tiếng Pháp thì các âm tiết [trong mỗi từ] đều vô nghĩa). Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức đã giảng:
“XÔM Rôm, bảnh, rình-rang: Ăn-mặc coi xôm; nói nghe xôm lắm.
xôm đám Ra vẻ hực-hỡ, đông người trong đám, trong cuộc lễ: Dọn xôm đám, làm xôm đám.
xôm tụ Lớn tụ, tụ bài đặt nhiều tiền: Đặt xôm tụ […] xôm trai X. Bảnh trai”.
Còn bản thân “tụ” thì cũng là một từ độc lập, như có thể thấy trong Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức:
“TỤ dt (bạc): Tiền mỗi tay em đặt ra trước khi tay cái chia bài (bài cào, dà-dách, phé): đôn tụ, xôm tụ.
tụ bài Chỗ và đống tiền đặt ra của một tay bài trong sòng: Tụ bài này hên (sic)
tụ đầu Đống tiền nằm ở trước, dầu bài (bài cào) mấy nút cũng ăn-thua được.
tụ đuôi Đống tiền nằm ở sau, phải tám nút trở lên mới đôn lên (nhập chung với tụ đầu)”.
Cứ như trên thì “xôm” và “tụ” là những từ độc lập: “xôm tụ” nằm trên trục đối vị với “xôm đám”, “xôm trai” còn “tụ” thì đứng làm trung tâm của các danh ngữ “tụ bài”, “tụ đầu”, “tụ đuôi”. Vậy “xôm” là một vị từ tĩnh (tính từ) còn “tụ” là một danh từ nên “xôm tụ” không có dây mơ rễ má gì với “somptueux” của tiếng Pháp cả. Giỏi tiếng Pháp mà không hiểu cho thấu chính tiếng Việt thì cũng khó mà thực sự chính xác khi làm về từ nguyên của từ tiếng Việt. Chính vì vậy nên tác giả đó mới hoàn toàn sai lầm khi cho rằng “teinte > teng (rỉ sét)”.
Thực ra “teng (rỉ sét)” là một điệp thức trong phương ngữ miền Nam của danh từ “tanh” trong phương ngữ miền Bắc. “Tanh” là một từ mà Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học (Vietlex) do Hoàng Phê chủ biên không ghi nhận còn “teng” thì được Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức giảng đúng là “chất xanh ở đồng thau rỉ ra” nhưng lại ghi thiếu G cuối (nên đã viết thành “ten”). “Teinte” của tiếng Pháp chỉ nói về màu sắc, nước da còn cái “chất xanh ở đồng thau rỉ ra” thì tiếng Pháp lại gọi là “vert-de-gris”. Cũng vì không hiểu thấu được tiếng Việt nên tác giả đó mới khẳng định rằng từ “cartable” đã cho ra “chữ Cạc-táp, về sau biến thái thành cặp-táp rồi chỉ còn chữ Cặp”. Ở đây, ta có một hiện tượng rất tế nhị mà tác giả kia đã hiểu không thấu. “Cặp” trong “cặp sách” là một từ đã có sẵn từ xửa từ xưa trong tiếng Việt. Nguyễn Du không cần biết “cạc-táp” phiên âm từ “cartable” mà vẫn viết “Túi đàn, cặp sách đề huề dọn sang” (Truyện Kiều, câu 278). Cái nghĩa này của chữ “cặp” đã được Việt Nam tự điển của Khai trí Tiến đức giảng là “miếng gỗ vuông đóng hai cái quai gỗ để treo sách lên”. Trong Từ điển Truyện Kiều (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1974), Đào Duy Anh giảng đó là “cái khung gồm hai thanh đứng để kẹp chồng sách ở giữa mà treo lên hay mang đi cho tiện”. Còn Từ điển từ cổ của Vương Lộc (NXB Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học, 2001) thì giảng là “đồ dùng gồm một đế gỗ đóng vào hai khung gỗ, để đựng sách”. Gần đây hơn nữa, riêng cái chữ “cặp” cũng đã được Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học do Hoàng Phê chủ biên (NXB Đà Nẵng Vietlex, 2007) giảng là “đồ dùng để đựng sách thời trước, gồm một đế gỗ đóng vào hai khung gỗ”.
Rõ ràng là cái cặp sách đã tồn tại “bằng xương bằng thịt” hẳn hoi ở nước ta trước khi Pháp xâm lược Việt Nam và chính cái danh từ dùng để chỉ nó, là CẶP, đã đồng hóa âm tiết “cạc” trong “cạc-táp” (thành “cặp-táp”) chứ đâu có phải “bỗng dưng muốn khác” mà “cạc” đã trở thành “cặp”. Còn chuyện cái cặp từ hình thù xưa làm bằng tre, bằng gỗ, nay trở thành cái vật thường làm bằng da dùng để đựng sách vở, tài liệu, thì chỉ là chuyện thường tình trong quá trình chuyển biến ngữ nghĩa theo quỹ đạo của sự phát triển xã hội mà thôi.

Nguồn:
16:48 | 06/03/2016

Lý do lý trấu

Bạn đọc: Xin ông cho biết nghĩa của cụm từ “lý do lý trấu”? “Lý trấu” là gì? Xin cảm ơn ông.
Nguyễn Sơn (Hà Nội)

Học giả An Chi: Tiếng Việt có một đặc trưng là để bác bỏ, thấp hơn thì để bày tỏ sự dị ứng của mình trước một hiện tượng, một vấn đề, một khái niệm nào và thấp nhất là để đùa tếu một cách dí dỏm, người ta thay thế cái từ diễn đạt khái niệm, vấn đề, hiện tượng đó bằng một từ đồng âm với nó để tạo ra một ngữ đoạn mà nội dung không còn liên quan gì đến hiện tượng, vấn đề hoặc khái niệm ban đầu nữa.
Trường hợp đầu tiên mà chúng tôi muốn nêu làm thí dụ là ba tiếng "tuyệt cú mèo", xuất hiện trong Nam từ trước 1975, được Từ điển từ ngữ Nam Bộ của TS Huỳnh Công Tín (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009) giảng là "tuyệt vời, rất tuyệt, đạt đến mức coi như lý tưởng, không còn chê chỗ nào được nữa". Xuất phát điểm của quán ngữ này là danh ngữ "tuyệt cú" [絕句] của tiếng Hán, đã được nhiều nguồn thư tịch giảng là [绝句,又稱截句、断句,四句一首(…)] "tuyệt cú, hựu xưng tiệt cú, đoản cú, tứ cú nhất thủ" (tuyệt cú, cũng gọi [là] tiệt cú, đoản cú, mỗi bài bốn câu). Vậy "tuyệt cú" vốn là tên một thể thơ mà mỗi bài có bốn câu. Nhưng từ nguyên dân gian đã khiến nhiều người hiểu sai mà mặc nhiên cho rằng, nó có nghĩa là "câu [thơ] hay", rồi hiểu rộng ra là "hay", là "tuyệt". Và khi nó đã được mặc nhiên hiểu như thế này rồi thì người ta lại tếu táo mà đánh đồng chữ "cú" nghĩa là "câu" của nó với "cú" trong tên của một loài chim là loài "cú mèo". Thế là ta có ba tiếng "tuyệt cú mèo", như đã ghi nhận trong từ điển của TS Huỳnh Công Tín, cũng như trong Từ điển phương ngữ Nam Bộ do Nguyễn Văn Ái chủ biên (NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1994).
Xin nêu một thí dụ có xuất xứ là miền Bắc. Đó là thành ngữ "cậu ấm sứt vòi" mà Từ điển tiếng Việt do Văn Tân chủ biên giảng là "từ dùng để mỉa mai con nhà quan đã sa sút (cũ)". Thực ra, nói một cách đơn giản thì "cậu ấm" vốn có nghĩa là con trai nhà quan được hưởng phúc ấm của cha ông; rồi nghĩa rộng là con trai nhà quan và nghĩa xấu là con trai được cha mẹ nuông chiều một cách quá lố. Trong "cậu ấm sứt vòi" thì người ta đã biến từ "ấm" của "cậu ấm" thành "ấm" là bình đựng nước mà gắn cho nó cái vòi đã sứt. Ấm mà đã sứt vòi thì… hết xài (nên mới ám chỉ con nhà quan đã sa sút). Có ý kiến cho rằng, "cậu ấm sứt vòi" là "cậu ấm sứt b...".
Hiểu như thế là không biết gì về lối nói đang bàn. Huống chi cái đó - nếu đúng là… nó - thì dai chứ có cứng và giòn như xương, như răng đâu mà... "sứt"!
"Phe" là một động từ mà từ điển Vietlex giảng là "làm việc mua đi bán lại bất cứ hàng hóa gì để kiếm lãi [hàm ý coi thường]". Đây là một từ Việt gốc Pháp, bắt nguồn ở danh từ "affaire", mà cái nghĩa hữu quan là công việc buôn bán. Ban đầu, từ này được các doanh nhân, trí thức, người biết tiếng Pháp, v.v..., phiên âm thành "áp-phe". Thời còn mồ ma thực dân Pháp, hai tiếng "áp-phe" chỉ có sắc thái trung hòa và dùng để chỉ những thương vụ ra… thương vụ nhưng về sau nó đã bị ngắt đầu, chỉ còn lại có tiếng "phe" (sẽ ghi là "phe1") để chỉ hành động mua bán ít quang minh chính đại, có khi chỉ diễn ra nơi đầu đường xó chợ hoặc trên những chuyến xe liên tỉnh, v.v... (nên từ điển Vietlex mới chú là "hàm ý coi thường"). "Phe1" có một từ đồng âm nay đã trở thành từ cổ (archaism). Từ "phe" cổ xưa này (sẽ ghi là "phe2") là một từ gần nghĩa với từ "phẩy" còn "phẩy" thì được từ điển Vietlex giảng là "cầm một vật mỏng, nhẹ đưa qua đưa lại để tạo ra gió hoặc để làm bay bụi trên bề mặt". Vì gần nghĩa nên "phe2" và "phẩy" mới được kết hợp với nhau để tạo thành từ tổ đẳng lập "phe2 phẩy", mà từ điển do Văn Tân chủ biên giảng là "đưa đi đưa lại một cách nhẹ nhàng, ung dung". Nhưng sau khi động từ "phe1" xuất hiện và hiện tượng "phe1" xuất hiện trong xã hội "rộ" hơn buổi đầu thì người ta lại "sáng tạo" ra từ tổ "phe1 phẩy", bằng cách thêm "phẩy", vốn chỉ đi chung với "phe2", vào sau "phe1" để chỉ hành động buôn bán bị quan niệm là không chính đáng, không nghiêm túc.
Trong "văn nghệ" thì "nghệ" là nghề; vậy nói nôm na thì "văn nghệ" là "nghề văn". Nhưng, để tếu táo, người ta đã cố ý hiểu lệch từ "nghệ" là nghề thành "nghệ" là một loại củ có thể dùng làm gia vị hoặc dược liệu để đưa một loại củ khác là "gừng" vào mà tạo nên tổ hợp từ "văn nghệ văn gừng". "Gừng" là một loài thực vật chẳng có dây mơ rễ má gì về ngữ nghĩa với "nghệ" là nghề, có nghĩa là nghề, nhưng chính vì thế nên mới góp phần gây cười và làm cho hiện tượng được nói đến mất đi cái vẻ nghiêm túc.
Trong "chính trị" thì "trị" chẳng có dây mơ rễ má gì với "chị" là một từ chỉ quan hệ thân tộc. Nhưng vì, nói chung, ở miền Bắc thì "trị" vốn có phụ âm đầu TR thường được phát âm thành "chị" với phụ âm đầu CH nên nhiều người mới đánh đồng nó với "chị" trong "anh chị" mà nói "chính trị chính em" để làm cho khái niệm "chính trị" mất đi vẻ nghiêm túc. Theo cảm nhận riêng của chúng tôi thì lối nói này ra đời từ những người hay ngại những buổi sinh hoạt hoặc học tập chính tri.
Cá nhân An Chi có bộ Chuyện Đông chuyện Tây 6 tập, mà chúng tôi có gửi tặng một bạn đồng môn ở Chasseloup-Laubat đã sống bên Pháp trên nửa thế kỷ. Có lần từ Pháp về Việt Nam, anh bạn đã hỏi chúng tôi một cách thân mật: "Ê, chừng nào toa mới cho in tập 7 bộ Chuyện đông chuyện đủ của toa vậy?". Chẳng là, ở đây, anh bạn đã cố ý đánh đồng từ "Đông" chỉ phương mặt trời mọc với tính từ "đông" có nghĩa là "gồm nhiều người" nên mới đưa từ "đủ" vào để trêu An Chi. Mà anh bạn còn nói thêm: "Phải có cả tập 7 mới đủ đó nha".
Với hai câu: "Trong đầm gì đẹp bằng sen/ Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng" thì "nhị" hiển nhiên là bộ phận sinh sản của hoa và dùng để tả hoa sen trong đầm. Nhưng trong trường hợp sau đây - trường hợp này chỉ xuất hiện ở trong Nam - thì cũng cái từ "nhị" đó, chính nó, không còn trực tiếp nói về "hoa lá cành" nữa mà lại có tác dụng phủ định đối với vấn đề đã được nêu ra trước đó.
Sếp nói với nhân viên:
- Cậu phải hoàn thành bản kế hoạch trong vòng hai ngày.
Nhân viên:
- Nhưng hai ngày thì ít quá, thưa sếp…
Sếp:
- Không nhưng không nhị gì cả. Được thì làm; không được thì nghỉ.
"Nhưng" là một "kết từ biểu thị điều sắp nêu ra ngược lại với ý do điều vừa nói đến có thể gợi ra" (Từ điển tiếng Việt của Vietlex do Hoàng Phê chủ biên). Vậy "nhị" là bộ phận sinh sản của hoa thì liên quan gì đến "nhưng"? Thế mà có đấy. Trong Nam thì "nhưn" được phát âm thành "nhưng"; nói một cách khác, "nhưn" và "nhưng" là hai từ đồng âm. Ngài sếp kia đã thay kết từ "nhưng" bằng danh từ "nhưn" mà người trong Nam dùng đề chỉ cái mà người ngoài Bắc gọi là "nhân" (trong "nhân bánh bao", chẳng hạn). "Nhưn/nhân" và "nhị" đều có chung một đặc điểm là "vật nằm bên trong của một vật khác lớn hơn". Thế là ngài sếp kia đã "cáp đôi" "nhưn" với "nhị" mà tạo nên ngữ đoạn "không nhưn[g] không nhị" để bác bỏ sự viện cớ của nhân viên. Điều quan trọng cần chú ý là ở đây, hai từ được "cáp đôi" với nhau phải đồng nghĩa hoặc ít nhất phải có một nét nghĩa chung.
Cũng là với dụng ý bác bỏ mà bốn tiếng "lý do lý trấu" đã ra đời ở miền Bắc. Điểm đầu tiên chúng tôi muốn nói đến là, nói chung, ở miền Bắc thì "do" đồng âm với "gio", mà trong ngôn ngữ toàn dân là "tro", tức cái chất nhuyễn như bột, còn lại từ một vật đã bị đốt cháy. "Tro/gio", là một khái niệm có thể gợi ý cho ta liên tưởng đến "trấu", tức là vỏ thóc, có thể dùng để rấm bếp. Cứ như thế thì "tro/gio" và "trấu" là hai danh từ có một đặc điểm chung là đều liên quan đến công việc bếp núc. Và hai từ này cũng cùng có mặt trong thành ngữ "bòn tro đãi trấu". Người ta đã tận dụng những điều kiện đó mà đánh đồng "do" trong "lý do" với "gio" là "tro" rối "cáp đôi" nó với "trấu" thành "lý do lý trấu", mà ta thường thấy được dùng để bài bác, thấp nhất cũng là để tỏ thái độ không đồng tình, với cái lý do bị xem là không chính đáng, thấp nhất thì cũng là… vu vơ.
Nguồn:
09:01 | 02/03/2016

Nói cho sướng miệng thì hay ho gì

Bạn đọc: Trên Facebook (FB) của Cá Vàng, Quang Nguyễn đã viết: “Cụ An Chi bảo rằng: Đến như cách phiên âm của Huình-Tịnh Paulus Của trong Đại Nam quốc âm tự vị thì ngay trong câu đang xét: “Sông Tương một dải nông sờ” một chữ dễ hơn là chữ “dải” cũng đã bị tác giả phiên sai thành “dãy”.
“Theo tôi, cụ An Chi chỉ nói cho sướng miệng mà thôi! Sao cụ lại không nghĩ đây là lỗi in ấn. Trong tự vị của cụ P.Của, mục từ  DẢI (trang 216 ) và mục từ DÃY (trang 217) được cụ P.Của phân biệt rất rõ ràng, có thấy lầm lẫn chỗ nào đâu? Đề cập đến cổ nhân mà không cẩn thận, dễ gây ra sự mạo phạm ngoài ý muốn! Xin hỏi ông An Chi có ý kiến gì về ý kiến của Quang Nguyễn. Xin cảm ơn ông.
Huỳnh Trọng Tín (Bà Chiểu, TP HCM)

Học giả An Chi: Nói cho sướng miệng thì hay ho gì. Vì thế nên chúng tôi mới trả lời cho bạn Quang Nguyễn (2-2-2016, trên FB của bạn Cá Vàng) như sau:
“Bạn Quang Nguyễn, người nghiên cứu nghiêm túc trọng cứ liệu xác thực chứ không nói cho sướng miệng. Nếu đó đúng là lỗi in ấn thì Huình-Tịnh Paulus Của đã cải chính trong phần “Đính ngoa” ở đầu Tome II”.
Bạn Quang Nguyễn không chấp nhận cách trả lời của chúng tôi nên đã viết tiếp (vẫn trên FB của bạn Cá Vàng):
“1- Vâng, tôi hoàn toàn đồng ý với cụ An Chi là: “Người nghiên cứu nghiêm túc trọng cứ liệu xác thực chứ không nói cho sướng miệng”. Vậy thì xin cụ làm ơn công bố ra cái chữ Nôm mà cụ P.Của đọc là DÃY trong câu “Sông Tương một dãy nung sừ” trích từ cuốn tự vị do chính cụ P. Của biên tập.
“2- Một bộ tự vị, tome I, năm 1895, 608 trang + tome II, năm 1896, 596 trang (theo bản in lại của Khai Trí [Saigon] 1974), do một mình cụ P.Của thực hiện mà bảo là không có sai sót trong mục đính ngoa thì quả là chuyện lạ!”.
Chúng tôi thì có ý kiến ngược hẳn với bạn Quang Nguyễn. Ta tuyệt đối không thể biện bạch rằng, vì bộ từ điển của Huình-Tịnh Paulus Của dày đến 1.204 trang nên nếu không có sai sót trong mục đính ngoa thì mới là chuyện lạ. Chơi tài tử thì được chứ làm học thuật nghiêm túc thì không. Chúng tôi chỉ căn cứ vào giấy trắng mực đen để nhận xét theo lệ thường mà thôi. Quyển Dictionarium Annamiticum, Lusitanum et Latinum (Từ điển Việt Bồ La) của A. de Rhodes cũng có nhiều sai sót về chính tả (chữ Việt - so với cách viết của chính tác giả) nên chính A. de Rhodes cũng đã phải làm một bảng “Đính chính” (Errata Dictionarij linguæ Annamiticæ corrige) dài hơn hai trang rưỡi dày đặc mà vẫn chưa nhặt ra hết những chỗ sai. Những chỗ sai sót này, chính A. de Rhodes phải chịu trách nhiệm chứ không phải là ai khác. Nhưng có vẻ như để thách thức, bạn Quang Nguyễn còn đề nghị chúng tôi “công bố ra cái chữ Nôm mà cụ P.Của đọc là DÃY trong câu “Sông Tương một dãy nung sừ”  trích từ cuốn tự vị do chính cụ P.Của biên tập”. Đây cũng là một kiểu thách thức kỳ lạ. Người phải trưng cái chữ Nôm “dãy” đó phải là Paulus Của chứ sao lại là An Chi. Để khẳng định cái sai của Paulus Của, An Chi chỉ căn cứ vào:
- Một là chữ “dải” trong hầu hết các bản Kiều quen thuộc, kể cả bản đã được khẳng định một cách chắc chắn là đã ra đời tại Nam Kỳ, do người Nam Kỳ biên tập. Đó là bản Duy Minh Thị 1872; bản này cũng in chữ “dải” hình thanh gồm có “mịch” [糸] và chữ “đái” [帶].
- Hai là nghĩa của chữ thứ 4 trong câu Kiều thứ 365 (để xem “dãy” hay là “dải” mới thích hợp). Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học (Vietlex) do Hoàng Phê chủ biên giảng “dải” là “khoảng đất hay nước trong thiên nhiên dài, nhưng hẹp” còn “dãy” là “tập hợp gồm những vật cùng loại nối tiếp nhau, cái này cạnh cái kia”.
Cứ như trên thì chữ “dải” mới thích hợp để nói về con sông Tương chứ nhất định không thể là “dãy”. Đó là chúng tôi còn chưa nói đến hiện tượng sau đây. Nếu quan niệm rằng “nung sừ” là một từ tổ chính phụ (“sừ” thêm nghĩa cho “nung”) thì cái nghĩa đang xét phải được gắn với chữ “nung” nhưng ở đây nó lại được đưa vào mục “nung sừ”, một mục phụ của mục “sừ”. Còn nếu quan niệm rằng, đó là một từ tổ đẳng lập thì mục “nung sừ” phải được xếp theo chữ cái N tại mục “nung”. Nhưng ở đây thì lại không như thế. Việc làm không bình thường này của Paulus Của rất dễ gây cho nhà nghiên cứu cái ấn tượng rằng tác giả đã bê nguyên xi hai chữ “nông sờ” của câu Kiều thứ 365 mà ông đọc thành “nung sừ” để làm thành một mục từ cho quyển từ điển của mình.
Bạn Quang Nguyễn lại còn thách thức tiếp:
“Và có lẽ vì cũng nghĩ rằng sông Tương là một con sông lớn nên sau khi phiên hai tiếng đang xét thành “nung sừ” rồi thì nhà từ điển tất phải luận ra rằng đó là “mịt mù”, “mênh mông” cho thuận lý chăng?” (An Chi). Có thật cụ P. Của đã “LUẬN” về ý nghĩa của tiếng ghép NUNG SỪ hay không? Không thấy cụ An Chi đưa ra bằng chứng qua sách từ vị do cụ P.Của biên tập”.
Chúng tôi chỉ nói “có lẽ” chứ đâu có khẳng định nên cũng không cần phải “đưa ra bằng chứng qua sách từ vị do cụ P.Của biên tập”.
Cuối cùng, bạn Quang Nguyễn còn lập luận rằng theo Nguyễn Văn Y, “đặc điểm nổi bật của bộ Đại Nam quốc âm tự vị đối với người Việt ngày nay là nó chứa rất nhiều từ ngữ xưa, có thể rất thông dụng ở thế kỷ XIX, nhưng hiện nay chúng ta không còn nói, viết nữa.” Quang Nguyễn đã đưa thông tin như trên nhưng về nguyên tắc thì điều này tuyệt đối không cho phép bất cứ ai kết luận rằng “nung sừ” là một đơn vị từ vựng cổ của tiếng Việt cũng như Huình-Tịnh Paulus Của không bao giờ sai.
Nguồn:
5 | 20/02/2016

'Bùi thị hý bút” nghĩa là gì?

Bạn đọc: Từ ngày 25-1 đến ngày 3-2-2016, Báo Tuổi trẻ đã đăng 10 kỳ tư liệu “Giải mã gốm Chu Đậu” của Thái Lộc - Trần Mai. Đặc biệt là kỳ 4 (28-1) đã cho người đọc biết hai luồng ý kiến đối nghịch về 4 chữ “Bùi thị hý bút” trên chiếc bình gốm Chu Đậu ở Bảo tàng Topkapi Saray (Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ). Căn cứ vào 4 chữ này (kết hợp với một số chứng cứ khác), ông Tăng Bá Hoành, nguyên Giám đốc Bảo tàng Hải Dương là người đầu tiên lên tiếng chứng minh rằng, có một bà cụ tổ nghề gốm Chu Đậu tên là Bùi Thị Hý nhưng ý kiến đối nghịch thì cho rằng, “Bùi thị hý bút” chẳng qua là “họ Bùi vẽ chơi”. Còn chính hai tác giả của tư liệu thì kết luận: “Trong loạt bài viết này, chúng tôi đành phải hẹn với bạn đọc câu trả lời chữ “Hý” trên chiếc bình là tên riêng hay chơi/đùa trong một dịp khác. Bởi vì “một nửa sự thật không phải là sự thật” và những tư liệu hiện vật chúng tôi tiếp cận được còn có điểm đáng ngờ, chưa đủ khẳng định tính xác thực đến mức nào”. Xin ông An Chi cho biết ý kiến trong khi chờ đợi? Xin cảm ơn ông. Bùi Thế Nghi (Hải Dương)
 

Học giả An Chi: Trước khi kết luận thì, trong bài của mình, Thái Lộc - Trần Mai cũng đã ghi lại lời của ông Nguyễn Đình Chiến, nguyên Phó giám đốc Bảo tàng Lịch sử Việt Nam như sau:
"Những tư liệu (của ông Tăng Bá Hoành và những người có liên quan - AC) mang tính hư cấu, chúng tôi không tin. Tự dạng đầy đủ được tra trong từ điển là "họ Bùi vẽ chơi". Không thể ép lấy cái tượng trong tàu Cù Lao Chàm gán cho bà Bùi Thị Hý được!
bui thi hy but nghia la gi
Gốm Chu Đậu
"Tra kỹ tư liệu thu thập được, chúng tôi giật mình vì chữ "đại" trên cột trúc đài nét quá khác, mới và sắc so với nhiều chữ khác.
"Trong khi nhiều chữ viết khác bị phong hóa, mòn mờ theo thời gian thì nhiều chữ, gồm cả cụm "Bùi Thị Húy Hý" có nhiều nét khắc dựa trên sự lồi lõm của mặt đá đã bị phong hóa...". Cứ như trên thì những ý kiến mà ông Tăng Bá Hoành đại diện và là người chủ xướng thực sự không đáng tin chút nào nên chúng tôi cũng nghiêng về ý kiến của ông Nguyễn Đình Chiến. Nhưng nói như ông Chiến rằng "tự dạng đầy đủ được tra trong từ điển là «họ Bùi vẽ chơi»" thì cũng không xác đáng vì "hý bút" [戲筆] lại không có nghĩa là "vẽ chơi". "Vẽ chơi" thì hàm ý lạc quan còn "hý bút" có khi lại là để than thân trách phận, chẳng hạn trong bài thất ngôn của Dương Vạn Lý đời Tống mà tác giả đã dùng chính hai chữ "Hý bút" làm nhan đề (cho hai bài - đây là bài thứ nhất), nguyên văn như sau:
戲筆
野菊荒苔各鑄錢,
金黃銅綠兩爭妍。
天公支與窮詩客,
只買清愁不買田。
Phiên âm:
Hý bút
Dã cúc hoang đài các chú tiền
Kim Hoàng đồng lục lưỡng tranh nghiên
Thiên công chi dữ cùng thi khách
Chỉ mãi thanh sầu bất mãi điền
Tạm diễn nghĩa:
Cúc dại rêu hoang khéo đúc tiền
Vàng cúc xanh rêu khoe sắc chen
Ông trời cho khách thơ ngần ấy
Ruộng nào mua được chỉ mua phiền.
Trước cảnh túng quẫn của mình, nhìn những đóa cúc vàng và những đốm rêu xanh, Dương Vạn Lý liên tưởng đến hình dạng của những đồng tiền mà nghĩ rằng, ông trời ban cho mình (một khách thơ cùng túng) thứ tiền này thì chỉ gợi thêm sầu muộn (Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ!) chứ nào giúp cho mình có được cuộc sống vật chất thoải mái.
Cứ như tâm sự của Dương Vạn Lý thì ta làm sao có thể giảng "hý bút" là "vẽ chơi" được. Huống chi, trong "vẽ chơi" thì "chơi" (nghĩa của chữ "hý") là trạng ngữ chỉ mục đích của động từ "vẽ" còn trong "hý bút" thì "hý" lại là động từ chính, là trung tâm. Ngữ đoạn vị từ "hý bút" nằm trên một trục đối vị (paradigmatic axis) với "các bút", "khai bút", "lộng bút", "phóng bút", v.v..., trong đó "các", "khai", "lộng", "phóng" đều là động từ chính. Vậy, "hý bút" không phải là "vẽ chơi" mà là "nghịch bút", "nghịch" với nghĩa trong "nghịch bùn", "nghịch đất", "nghịch lửa", nghịch nước", v.v...
Dĩ nhiên "nghịch bút" chỉ là nghĩa đen còn cái nghĩa "thuật ngữ" của nó là "dùng bút mà sáng tác thơ văn, tranh vẽ theo ngẫu hứng". Lại cứ như trên thì trong "Bùi thị hý bút", "Bùi thị" là đề còn "hý bút" là thuyết mà cũng cứ như thế thì "hý" dứt khoát không trực tiếp phụ thuộc vào "Bùi thị". "Hý bút" là một ngữ [đoạn] vị từ (verb phrase), một từ tổ độc lập, như còn có thể thấy trong nhiều ngữ cảnh khác nữa. Nó cũng thường được dùng làm tên của thi phẩm, họa phẩm, mà thí dụ đầu tiên là tên bài thơ của Dương Vạn Lý đã nêu ở trên. Cũng vào đời Tống, Trịnh Thanh Chi [鄭清之] có bài "Thụy khởi hý bút" [睡起戲筆]. Trần Hiến Chương [陳獻章] đời Minh có bài "Tân Sửu nguyên đán hý bút". Thời nay, Gia Tuấn [家俊] có một bài thất tuyệt nhan đề "Hý bút" [戏笔], sáng tác vào ngày
12-2-2015 tại tiệm trà Lão Ba [老爸] đường Dược Tiến [跃进], thành phố Tam Á. Trang "Tân Bạch thư phòng" [辛白书房] có "Gia phi ẩn hý bút" [咖啡瘾戏笔], nghĩa là "Nghịch bút về chứng nghiện cà phê". Trở lên là nói về thơ. Còn về hoạ thì gần đây, Từ Hoa Phong [徐华峰] có Từ Hoa Phong thiên mặc hý bút họa tập [徐华峰天墨戏笔画集] do Trung Quốc xã hội xuất bản xã ấn hành. Chu Linh [朱龄] có 10 bức "Thủy mặc hý bút" [水墨戏笔]. Lộng Mặc Đường chủ [弄墨堂主] có 3 bức "Thủy mặc hý bút [tam bức]". Tôn Minh [孙明] có bức "Hý bút hoa điểu tiểu phẩm" với ghi chú "Tôn Minh hý bút" [孙明戏笔].
Cấu trúc của "Tôn Minh hý bút" [孙明戏笔] cũng y chang như của "Bùi thị hý bút". Nếu thuận theo cách phân tích đầy chất sáng tạo của ông Tăng Bá Hoành thì ở đây ta sẽ có một họa gia tên là "Tôn Minh Hý". Và chúng tôi xin cung cấp thêm cho ông Hoành là ở Nam Sách còn có một bà nữa cũng tên "Hý" nhưng họ Trang, là Trang Thị Hý nữa. Số là, ngoài chiếc bình ở Bảo tàng Topkapi Saray (Thổ Nhĩ Kỳ), ta được biết là còn có một chiếc bình khác thuộc dòng gốm Chu Đậu cũng nổi tiếng không kém, được trưng bày tại cuộc triển lãm về nghệ thuật của Trung Quốc ở London (Anh) năm 1936. Chiếc bình này được nhắc đến tại mục "5. Việt Nam đào từ" [5. 越南陶瓷], trang 251 trong quyển "Trung ngoại đào từ bưu phiếu" [中外陶瓷邮票] của Nhâm Mẫn Cương - Ngụy Thanh Mai [任敏剛;魏清梅] do Thiểm Tây khoa học kỹ thuật xuất bản xã ấn hành năm 2002.
Trên chiếc bình này có 13 chữ liên quan đến vấn đề đang bàn là "Đại Hòa bát niên tượng nhân Nam Sách châu Trang thị hý bút" [大和八年匠人南策州装氏戏笔], nghĩa là "người thợ họ Trang châu Nam Sách nghịch bút - năm Đại Hòa thứ 8". Chiếc bình Topkapi Saray cũng có đúng 13 chữ và đó là "Thái Hòa bát niên tượng nhân Nam Sách châu Bùi thị hý bút", nghĩa là "người thợ họ Bùi châu Nam Sách nghịch bút - năm Thái Hòa thứ 8". Khác nhau ở họ của người thợ (Trang ≠ Bùi) và ở chữ đầu tiên của ngữ đoạn: Đại ≠ Thái. Chữ "đại" [大] trong "Trung ngoại đào từ bưu phiếu" chắc chắn là kết quả của một sự nhầm lẫn từ chữ "thái" [太] trong niên hiệu "Thái Hòa" (1443 - 1453) của Lê Nhân Tông. Ta có thể khẳng định điều này vì chính hai tác giả của nó đã xác định "Đại Hòa bát niên" (của Việt Nam) là "Cảnh Thái nguyên niên" nhà Minh, đều là năm 1450 dương lịch.
Thế là chỉ trong năm 1450, ta đã có hai chiếc bình gốm Chu Đậu đặc biệt: chiếc Topkapi Saray do "Bùi thị hý bút" và chiếc Luân Đôn do "Trang thị hý bút". Nếu theo cách hiểu của ông Tăng Bá Hoành thì ta còn phải tìm thêm bà Hý thứ hai là "Trang Thị Hý". Và chúng tôi mạo muội nghĩ rằng gốm Chu Đậu còn có rất nhiều nữ nghệ nhân tên "Hý" khác vì trong hàng trăm ngàn hiện vật Chu Đậu, chắc còn có những chiếc khác cũng mang trên mình nó cái công thức "[…] X thị hý bút" chứ lẽ nào lại tuyệt đối không có? Vậy xin kính đề nghị các vị chuyên gia cứ thử đảo tới đảo lui, đảo xuôi đảo ngược nhiều hiện vật Chu Đậu đặc biệt khác xem còn có những "bà Hý" nào nữa hay không.
Nguồn:
0 | 10/02/2016

Chuyện tên của loài khỉ

Ngoài danh từ "khỉ", phương ngữ Nam Bộ còn có hai danh từ khác nữa dùng để chỉ loài động vật này là "khọn" và "mai".

Ngoài danh từ "khỉ", phương ngữ Nam Bộ còn có hai danh từ khác nữa dùng để chỉ loài động vật này là "khọn" và "mai".
Từ thuở nhỏ, nghĩa là cách đây chừng 70 năm, tại đất Gia Định, cá nhân An Chi đã có nghe dùng từ "mai" để chỉ loài khỉ. Nhưng để cho thuyết phục hơn, xin trích - mà xin phép ông để trích hơi… dài - lời của nhà phê bình văn học Đặng Tiến:
"Miệt Bạc Liêu, Cà Mau có câu hát, về sau phổ biến khắp miền Nam, rồi lan truyền khắp nước:
"Tháng ba cơm gói ra Hòn,
Muốn ăn trứng nhạn phải lòn Hang Mai"
Nhiều người không hiểu chính xác, cho rằng Hang Mai có nhiều hoa mai thơ mộng, hay nhiều rắn hổ mang tàn độc. Thật ra, "mai" tiếng địa phương có nghĩa là "khỉ". Hang Mai tức là "hang của loài khỉ". Phi Vân đã giải thích như vậy, ngay trang mở đầu cuốn phóng sự "Đồng Quê", giải thưởng Hội Khuyến học Cần Thơ năm 1943. Và ông ấy miêu tả căn cơ:
chuyen ten cua loai khi
"Kinh Hang Mai ở làng Khánh Lâm, Cà Mau bắt đầu từ kinh Biện Nhi trổ ra Tiểu Dừa ( ... ). Ở hai bên bờ người ta có thể gặp những con trúc, rái, kỳ đà, chồn, ong mật và vô số cá". Dĩ nhiên là nhiều khỉ. Từ điển phương ngữ Nam Bộ của Nguyễn Văn Ái, 1994, cũng có ghi chữ mai nghĩa là khỉ" (Chim Việt Cành Nam, "Chuyện Khỉ năm Thân", Orléans, Xuân Giáp Thân 2004).
Nhà thiền học Lý Việt Dũng, người gốc Bạc Liêu, cũng đã khẳng định với chúng tôi rằng, tại quê ông, hầu như người ta không dùng từ "khỉ", mà chỉ nói "mai" để gọi loài động vật này.
Một cái tên khác nữa dùng để gọi loài khỉ tại Nam Bộ là "khọn", như có thể thấy trong Đại Nam quấc âm tự vị của Huình-Tịnh Paulus Của:
"Khọn. n. Khỉ.
Con khọn. id.
Làm tuồng mặt con khọn. Làm mặt khỉ, tiếng mắng đứa hay làm mặt vúc vắc, nhăn nhíu khó coi.
Làm con khọn. id. Làm chẳng nên sự gì (tiếng mắng)".
Dictionnaire annamite-français của J.F.M. Génibrel cũng ghi:
"KHỌN. Con khọn, Singe, m. Làm như khọn, Imiter les gestes. Singer, a."
Đáng tiếc là trong phương ngữ Nam Bộ hiện nay, "khọn" đã trở thành một từ cổ. Có lẽ cũng vì thế nên nó không được ghi nhận trong Từ điển phương ngữ Nam Bộ (1994) do Nguyễn Văn Ái chủ biên và Từ điển từ ngữ Nam Bộ (2009) của TS Huỳnh Công Tín. Nó chỉ được ghi nhận một cách "vớt vát" trong Việt Nam tự điển (1970) của Lê Văn Đức, cũng có thể xem là một quyển từ điển lấy phương ngữ Nam Bộ làm nền tảng. Nhưng "khọn" sẽ không "chết mất xác" vì nó đã gắn chặt với "khỉ" trong từ tổ đẳng lập "khỉ khọn" dùng để chỉ tính nghịch ngợm của thiếu nhi, thiếu niên, mà cả từ điển Nguyễn Văn Ái lẫn từ điển Huỳnh Công Tín đều có ghi nhận.
Thế là tiếng Nam Bộ có hai từ riêng là "khọn" và "mai", dùng để chỉ khỉ mà nói chung người miền Bắc không biết đến. Rồi miền Bắc cũng có hai từ riêng dùng để chỉ loài động vật này là "tườu" và "bú dù", thường là tiếng dùng để chửi mắng, mà nói chung, nhiều người miền Nam cũng ít có cơ hội được biết đến.
Nhưng cũng là từ "khỉ" chung cho tiếng Việt toàn dân mà người miền Nam lại khai thác cái khía cạnh hay làm trò của khỉ mà lấy tên của nó làm ẩn dụ để chỉ trẻ con nghịch ngợm; chẳng những xài "đơn" với "khỉ" mà còn xài "kép" với từ tổ "khỉ khọn", như đã nói ở trên. Cái nhìn này của người Miền Nam lại giống với nhãn quan của người Quảng Đông khi họ dùng ba tiếng "mạ lấu chính" [馬驑精], đọc theo âm Hán Việt là "mã lưu tinh", để chỉ những đứa trẻ tinh nghịch. Trong tiếng Quảng Đông thì "mạ lấu" [馬驑] (mã lưu) là khỉ; người Quảng Đông không dùng hai tiếng "hầu tử" [猴子] như trong tiếng Bắc Kinh (mà nếu ghi âm theo kiểu pinyin thì sẽ là "hóu.zi"). Còn điểm chung của cả hai miền Nam, Bắc nước ta là dùng từ "khỉ" để diễn tả cái ý "không ra gì" (nhưng miền Nam thì có nhiều cách ghép đôi hơn như "khỉ cùi", "khỉ khô", "khỉ mốc"). Bình dân và thông dụng nhất cho cả hai miền có lẽ là quán ngữ "cái con khỉ" đi liền theo sau từ/ngữ chỉ khái niệm mà người nói muốn phủ nhận hoặc phản đối, chẳng hạn "Cười, cười cái con khỉ!", "Đẹp, đẹp cái con khỉ!", v.v…
Liên quan đến tên gọi của loài linh trưởng này, chúng tôi đã lần theo chữ nghĩa để đi tìm nguồn gốc của chính từ "khỉ" thì thấy đây quả là một vấn đề hóc búa. Đặng Tiến (Bđd) đã dè dặt khi viết:
"Không biết vì lý do gì và từ thời nào, trong tiếng Hán Việt, người ta phát âm chệch từ khỉ thành khởi (cũng như quý thành quới): ngày nay ta nói khởi nghĩa, khởi hành, nhưng các từ điển xưa ghi là khỉ hành, khỉ nghĩa. Trong khi đó, trong tiếng thuần Việt, thành ngữ dân gian vẫn nói: "Khỉ khô khỉ mốc, khỉ ho cò gáy, rung cây nhát khỉ [……..] Không rõ từ khỉ phát âm chệch thành khởi có liên quan gì đến tên loài động vật không".
Đặng Tiến là nhà phê bình văn học. Ông không làm từ nguyên nhưng khi nói về chuyện có liên quan đến từ nguyên thì ông rất dè dặt. Ngược lại, trong bài "Năm Thân nói chuyện khỉ" của Nguyễn-Phú-Thứ (Lyon - France) trên mạng ERCT, tác giả đã khẳng định:
"Năm Thân tức Khỉ cũng là Khởi, cho nên trong bàn dân thiên hạ cũng thường nhắc nhở luôn trong sinh hoạt xả hội hằng ngày […..]".
Nguyễn Phú Thứ đã khẳng định như trên nhưng ở đây thì "khỉ" dứt khoát không thể là "khởi" được. "Khỉ", tên của một loài động vật, là một yếu tố phi Hán Việt còn "khỉ" trong "khỉ hành", "khỉ nghĩa" - mà Đặng Tiến đã nêu - là một yếu tố Hán Việt. Chỉ có trong phạm vi Hán Viêt ta mới thấy có một số yếu tố vốn thuộc vần -I đã chuyển sang vần -ƠI, như:
–"hy" [稀] là hiếm, vốn thuộc vận (vtv) "vi" [微], mới chuyển thành (mct) "hơi", dùng để chỉ mức độ không cao của một trạng thái, một tính chất, v.v… (hơi mệt, hơi dày, hơi ngọt, v.v…);
–"ly" [離] là rời, lìa, v.v…, vtv "chi" [支], mct "lơi" trong "buông lơi", "lơi tay", "mời lơi", v.v...;
–"nghị" [議] là bàn luận, vtv 'chí" [寘], mct "ngợi" trong "ca ngợi", "ngợi khen", "nghĩ ngợi", v.v...;
–"phi" [披] là mở ra, banh ra, vtv "chi" [支], mct "phơi" trong "phơi phóng", "phơi thóc", v.v...
"Quý" > "quới", "khỉ" > "khởi" cũng là cùng cái lý đó. Và đó chính là cơ sở ngữ âm mà người ta đã căn cứ vào để chuyển hai chữ húy kiêng âm sau đây từ vần -I sang vần -ƠI: –"Lỵ" [利] húy của Lê Thái Tổ đã đọc thành (đđt) "Lợi";
–"Thì" [時] húy của Tự Đức đđt "Thời".
Nhưng trên đây chỉ là chuyện "nội bộ" của phạm vi Hán Việt chứ ngoài phạm vi này thì không có chuyện chuyển -I thành -ƠI. Mà trong thực tế thì trên cả nước Việt Nam, "[con] khỉ" cũng chẳng bao giờ bị người Việt gọi là "[con] khởi" cả. Chính vì vậy nên nói rằng "Khỉ cũng là Khởi" trong trường hợp này là đã khẳng định một điều hoàn toàn vô căn cứ. Trong quá trình đi tìm từ nguyên của các từ Việt gốc Hán, chúng tôi có ghi nhận một ứng viên cho nguyên từ (etymon) của "khỉ". Đó là chữ/từ "quỷ" [蛫] trong tiếng Hán mà Hán ngữ đại tự điển (Thành Đô, 1993) đã cho nghĩa là "viên loại" [猿类], nghĩa là "loài vượn". Đây là một hình thanh tự mà nghĩa phù là "khuyển" [犭] còn thanh phù là "nguy" [危]. Về phụ âm đầu thì Q[w] của "quỷ", NG[w] của "nguy" và KH của "khỉ" đều là những âm cuối lưỡi cho nên mối tương quan về từ nguyên của chúng - nếu có - thì cũng là chuyện bình thường. Chúng tôi chỉ dè dặt có một điều là Q của "quỷ" và NG của "nguy" thì có [w], nghĩa là có yếu tố "tròn môi" còn KH của "khỉ" thì không. Vì sự dè dặt này mà chúng tôi chưa "duyệt" chữ/từ "quỷ" [蛫] làm nguyên từ của "khỉ" trong những trang ghi chép của mình. Làm từ nguyên thì không thể tào lao theo kiểu "thổ mộ là độc mã".
Nguồn:
5:01 | 31/01/2016

Nói lái trong tiếng Pháp

Bạn đọc: Nếu tôi nhớ không nhầm thì trong hơn 20 năm nay, trả lời cho độc giả, ông đã vài lần giải thích về hiện tượng “nói lái”, kể cả trong tiếng Anh (spoonerism) nhưng trong tiếng Pháp thì hình như chưa, hoặc có nhưng chỉ phớt qua. Xin ông vui lòng nói rõ thêm? Cảm ơn ông. Lê Thành Khẩn (Ba Đình, Hà Nội

Học giả An Chi: "Nói lái", tiếng Pháp là "contrepèterie". Danh từ này đã được Le dictionnaire de linguistique et des sciences du langage trong Tủ sách Larousse định nghĩa là:
"La contrepèterie est une sorte de jeu ou un lapsus consistant à permuter certains éléments phoniques (syllabes ou phonèmes) de telle manière qu'on obtient un nouveau énoncé qui apparaisse comme une déformation burlesque du premier énoncé: Mon oncle perd courage devant les amas de patentes devient Mon oncle perd courage devant les appas de ma tante. Le terme de contrepèterie désigne aussi l'énoncé lui-même issu de cette déformation".
(Nói lái là một cách chơi [chữ] hoặc một sự nhịu [lưỡi] nhầm hoán vị một số yếu tố âm thanh (âm tiết hoặc âm vị) sao cho người ta có được một phát ngôn mới có vẻ như là một kiểu biến dạng tếu táo của phát ngôn gốc: Bác/chú/cậu tôi nản lòng trước những mớ môn bài trở thành Bác/chú/cậu tôi nản lòng trước những nét khêu gợi của bác[gái]/thím/mợ tôi. Thuật ngữ "contrepèterie" cũng chỉ chính phát ngôn xuất phát từ sự biến dạng đó).
Cũng như trong tiếng Việt và cả trong tiếng Anh, hiện tượng nói lái có khi chỉ là hậu quả của một sự nhịu lưỡi, nhưng nhiều khi lại là kết quả của một hành động ngôn ngữ nhằm mục đích chơi chữ. Chính vì mục đích chơi chữ nên Rabelais, tại chương XVI (Des moeurs & conditions de Panurge) của tác phẩm Pantagruel mới lái "femme folle de la messe" thành "femme molle de la fesse" mà viết về Panurge: "Il disait qu'il n'y avait qu'une antistrophe entre femme folle à la messe et femme molle à la fesse". "Femme folle de la messe" là "phụ nữ sùng lễ [nhà thờ]" còn "femme molle à la fesse" là "phụ nữ thờ ơ với chuyện chăn gối" ("mou/molle" là yếu đuối, nhu nhược; "fesse" là mông [đít]). Vậy ý của Panurge là "chỉ cần một sự nói lái ("antistrophe" là từ cũ để chỉ "contrepèterie") thì người phụ nữ sùng đạo sẽ trở thành người phụ nữ lãnh cảm". Thí dụ này được xem như là điển hình về hiện tượng nói lái trong tiếng Pháp.
Ở thời hiện đại, Jacques Prévert cũng được xem là nhà văn thích chơi chữ bằng thao tác nói lái. Tờ Le Canard enchaîné (Con vịt [bị] trói) cũng nổi tiếng về chuyện nói lái với chuyên mục "Sur l'album de la Comtesse" (Về album của bà Bá tước). Còn tại Việt Nam thì nhiều người biết tiếng Pháp sống vào thời Cách mạng Tháng Tám và cuộc Kháng chiến chống Pháp có thể biết chuyện tên của viên Cao ủy Thierry d'Argenlieu đã được lái thành "Tient lieu d'argenterie" (Thay cho đồ bạc). Chả là "đồ bạc" được dùng theo nghĩa bóng để chỉ số mề đai của y vì d'Argenlieu thuộc loại được nhiều mề đai nhất của hải quân Pháp.
Và chẳng cứ Việt Nam ta mới có "văn nghệ bình dân"; Tây cũng chẳng thua gì. Nhẹ nhàng nhất là những chuyện như: - "Femme déçue" (phụ nữ [bị] thất vọng) lái thành "dame fessue" (bà đít bự);
- "Ni fin ni cesse" (không ngừng không nghỉ) lái thành "ni sein ni fesse" (ngực lép mông xẹp [không vú không mông]); - "J'ai glissé dans la piscine" (tôi đã trượt trong bể bơi) lái thành "j'ai pissé dans la Glycine" (tôi đã tè trong [tòa nhà] Glycine [thuộc Hàng hải quốc gia của Pháp]);
- "Méfiez-vous des dons coûteux" (hãy dè chừng với những món quà đắt tiền) lái thành "méfiez-vous des cons douteux" (hãy dè chừng với những thằng ngốc đáng ngờ);
- "Adjudant, faites bisser l'appel!" (thượng sĩ, cho điểm danh lại đi) lái thành "adjudant, faites pisser la belle!" (thượng sĩ, cho người đẹp đi tè đi);
- "Ce sont toujours les bons qui nous quittent..." (thường là những người tốt bỏ ta mà đi) lái thành "ce sont toujours les cons qui nous bitent..." (thường là những thằng ngốc [lại] hiểu ta); - "En lisant Racine ou Molière, je tricotais des épaulières" (tôi đan những miếng che vai lúc đọc Racine hay Molìere) lái thành "en lisant Racine ou Molière, je tripotais des écolières" (tôi sờ soạng mấy cô nữ sinh lúc đọc Racine hay Molière); v.v... và v.v...
Xin chú ý là trong khi tiếng Việt thiên về lái vần thì tiếng Pháp lại thiên về lái phụ âm đầu (của âm tiết).
Nguồn:

Ngựa Hồ - Chim Việt

Bạn đọc: Có lẽ nhiều người vẫn biết hai câu “Ngựa Hồ hí gió Bắc - Chim Việt đậu cành Nam” xuất xứ từ đôi câu đối tiếng Hán “Hồ mã tê Bắc phong - Việt điểu sào Nam chi” của tiếng Hán. Nhưng trong tiếng Hán thì hai câu này xuất xứ từ đâu? Xin ông vui lòng cho biết. Cảm ơn ông. Trần Đông Ngạc (Cầu Giấy, Hà Nội) 

Học giả An Chi: Sài Môn thi đàn có bài "Ngựa Hồ Chim Việt" của Võ Doãn Nhẫn, mở đầu như sau:
"Ngựa Hồ, chim Việt "do chữ Hồ mã, Việt điểu. Trong Ðường thi có câu "Hồ mã tế (sic [gõ nhầm chăng?]) bắc phong, Việt điểu sào nam chi", nghĩa là "ngựa Hồ hí gió bấc, chim Việt đậu cành nam", do điển rợ Hồ ở phía bắc Trung Hoa đem dâng Hán Vũ Ðế một con ngựa hay; nhưng từ khi sang Trung Hoa được nuôi ở vườn Thượng lâm thì bỏ ăn trông rất buồn và mỗi khi có gió bấc thổi thì hí lên. Lại tích chim Việt thì đời Hùng Vương có đem dâng cho vua Châu Thành Vương một con chim bạch trĩ, chim này chỉ chọn cành nào hướng về phương Nam thì đậu".
Võ Doãn Nhẫn khẳng định như trên, nhưng tiếc rằng thơ Đường thì lại không bài nào có hai câu "Hồ mã tê (không phải "tế") bắc phong, Việt điểu sào nam chi". Thực ra thì hai câu này đã có từ đời nhà Hán ở bên Tàu. Đây là hai câu nằm trong bài đầu tiên của Cổ thi thập cửu thủ (Mười chín bài thơ cổ) mà tác giả không được biết tên (Vô danh thị). Mười chín bài này được sưu tập sớm nhất là trong "Chiêu Minh văn tuyển" của Chiêu Minh Thái tử Tiêu Thống 
[蕭統], con trai trưởng của Lương Vũ Đế. Những bài thơ này không có tên nên được lấy câu đầu làm nhan đề. Hai câu đang xét nằm trong bài đầu tiên là "Hành hành trùng hành hành" [行行重行行], gồm 16 câu thơ ngũ ngôn, nguyên văn chữ Hán như sau: 
行行重行行, 與君生別離。
相去萬餘里, 各在天一涯;
道路阻且長, 會面安可知?
胡馬依北風, 越鳥巢南枝。
相去日已遠, 衣帶日已緩;
浮云蔽白日, 游子不顧返。
思君令人老, 歲月忽已晚。
棄捐勿復道, 努力加餐飯。
Phiên âm:
Hành hành trùng hành hành - Dữ quân sinh biệt ly
Tương khứ vạn dư lý - Các tại thiên nhất nhai
Đạo lộ trở thả trường - Hội diện an hà tri
Hồ mã y Bắc phong - Việt điểu sào Nam chi
Tương khứ nhật dĩ viễn - Y đái nhật dĩ hoãn
Phù vân tế bạch nhật - Du tử bất cố phản
Tư quân lệnh nhân lão - Tuế nguyệt hốt dĩ vãn
Khí quyên vật phục đạo - Nỗ lực gia xán phạn.
Dịch ý:
Chàng cứ đi, đi mãi - Thiếp với chàng sinh ly
Xa nhau hơn muôn dặm - Mỗi người một phương trời
Đường gian truân xa thẳm - Tái ngộ biết chừng nao
Ngựa Hồ trông gió Bắc - Chim Việt đậu cành Nam
Xa nhau ngày càng dài - Áo mặc ngày một rộng
Mây trôi che khuất nắng - Chàng nào nhớ ngày về
Tiều tụy vì nhớ chàng - Năm tháng càng trôi nhanh
Tâm tư không nói hết - Chỉ mong chàng yên thân.
Cứ như trên thì hai câu "Ngựa Hồ hí gió Bắc - Chim Việt đậu cành Nam" không xuất xứ từ thơ Đường, mà từ một bài thơ trong "Cổ thi thập cửu thủ", được giới nghiên cứu cho là đã ra đời vào khoảng từ 140 đến 190, tức khoảng cuối đời Thuận Đế đến trước đời Hiến Đế nhà Đông Hán. Bài thơ đã phản ánh một cách sinh động tâm tư của người thiếu phụ xa chồng trong cảnh xã hội loạn ly, làm cho người đọc không kìm được sự xúc động, được Thi phả của Trần Dịch [陳繹] ghi nhận là "tình chân, cảnh chân, sự chân, ý chân" (tình thật, cảnh thật, chuyện thật, ý thật). Ý kiến vô căn cứ của Võ Doãn Nhẫn đã làm giảm tuổi thọ của bài thơ từ 400 năm trở lên.
Ngay trước đời Đường thì khai quốc công thần nhà Tùy là Dương Tố cũng đã dụng điển mà viết trong bài "Xuất tái" (Ra biên ải) thứ nhất (vì có hai bài) hai câu "Bắc phong tê sóc mã - Hồ sương thiết tái hồng" [北風嘶朔馬,胡霜切塞鸿]. "Sóc" chỉ hướng Bắc, "sóc mã" chẳng qua là "Hồ mã" và "Bắc phong tê sóc mã" chẳng qua là "Hồ mã tê Bắc phong", có tu từ bằng hình thức đảo ngữ mà thôi. 
Đến đời Đường, Lưu Trường Khanh cũng dụng điển mà viết trong bài "Tòng quân" thứ sáu (vì có sáu bài) hai câu "Hồ mã tê nhất thanh - Hán binh lệ song lạc" (Ngựa Hồ hí một tiếng - Lính Hán lệ [chảy] hai hàng). 
Đến đời Tống, nhiều nhà thơ đã dụng điển "Hồ mã". Dương Ức có bài thơ ngũ ngôn 12 câu nhan đề "Hồ mã tê Bắc phong" nhưng chỉ dụng điển làm nhan đề cho bài thơ mang tính phúng dụ chứ trong 60 chữ của ông không có một chữ "mã" nào cả. Còn trong bài "Đại Trần Vô Kỷ thuật hoài", Ngô Cảnh (có thể đọc Kỉnh) [吳儆] đã mượn gần như "nguyên xi" hai câu cổ thi mà viết "Hồ mã tê Bắc phong - Việt điểu y Nam chi" [胡馬嘶北風 - 越鳥依南枝] làm hai câu đầu cho bài thơ ngũ ngôn 12 câu của mình. Trong bài "Phát Lăng Châu", Văn Thiên Tường viết "Kiện mã tê Bắc phong - Tiềm ngư lạc thâm uyên" [健馬嘶北風 - 潜魚樂深淵]. Lưu Xưởng viết trong bài "Phụ huyên" thứ tư (vì có bốn bài) hai câu "Hồ sô đề triêu sương - Biên mã tê sóc phong" [胡雛啼朝霜 - 邊馬嘶朔風]. Trong bài "Đông mộ" (Chiều đông), Triều Công Tố viết: "Biên mã tê Bắc phong - Tái hoàn thảo diệc suy" [邊馬嘶北風 - 塞垣草亦衰]. Tào Huân viết trong bài "Thu tứ": "Hải thảo vị điêu lục - Hồ mã tê Hàm Tần" [海草未凋綠 - 胡馬嘶咸秦]. V.v... và v.v...
Xin chú ý là vì lý do dị bản nên có một vài nguồn ghi chữ "y" [依] thay cho chữ "tê" (trong câu trước) hoặc chữ "sào" (trong câu sau), khi chép lại bài "Hành hành trùng hành hành". Cuối cùng, xin nói rằng "Hồ mã y Bắc phong - Việt điểu sào Nam chi" cũng chỉ là hai câu thơ đối ý chứ không phải là hai câu đối chính danh vì, chiếu theo luật đối, thì nó đã hỏng ngay từ đầu vì chữ cuối của hai câu đều thuộc vần bằng (nên sai hẳn luật).
Nguồn:

Điệp thức của chữ GIÁC [角]

Bạn đọc: Xin ông cho biết xuất xứ của từ “giác” trong “ống giác”, “giác hơi”. Nó có liên quan gì đến chữ “giác” trong “tê giác” mà ông đã có lần nói đến? Xin cám ơn ông! Trương Thế Mỹ (TP Vũng Tàu)
 

Học giả An Chi: Liên quan đến ý bạn hỏi, Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học (Vietlex) do Hoàng Phê chủ biên giảng: "giác" là một động từ có nghĩa là "làm cho máu tụ lại một chỗ cho đỡ đau, bằng cách úp sát vào đó một dụng cụ hình chén thắt miệng [bầu giác] hoặc hình ống [ống giác] đã được đốt lửa hoặc nén hơi bên trong [một phương pháp chữa bệnh dân gian]". Cái mà từ điển Vietlex gọi là "phương pháp chữa bệnh dân gian" này, tiếng Anh gọi là "cupping therapy" (hoặc "cupping glass treatment"), tiếng Pháp là "traitement par ventouses", còn tiếng Tàu hiện đại là "[bạt] hỏa quán liệu pháp" [(拔)火罐療法].
Trong tiếng Việt, từ, ngữ của phương pháp chữa bệnh dân gian nói trên đã là cơ sở cho việc tạo ra thuật ngữ thực vật học "giác mút", dùng để chỉ dạng rễ của cây ký sinh đâm sâu vào cây chủ để hút chất dinh dưỡng từ cây này. Giác mút, tiếng Anh và tiếng Pháp là "haustorium" (tiếng Pháp cũng dùng "haustorie"), còn Tàu thì gọi là "hấp khí" [吸器]. Danh ngữ "giác mút" đã được dùng để đối dịch "haustorium/haustorie" trong Từ điển thực vật học Pháp Việt do Lê Khả Kế chủ biên (Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1978) hoặc Dictionnaire français-vietnamien, cũng do Lê Khả Kế chủ biên (Agence de Coopération Culturelle et Technique, 1981).
Nếu chỉ bằng vào những cứ liệu trên đây thì ta sẽ không thấy "giác" trong "ống giác", "giác hơi" có liên quan gì đến chữ "giác", có nghĩa là sừng, trong "tê giác" cả. Nhưng nếu tìm cho kỹ thì ta sẽ thấy là có đấy. Trong báo cáo khoa học "De l'utilisation des ventouses [Về việc sử dụng ống giác]" (Formation TUINA EMTC-2006-2008, déposé le 30-05-08), Dominique Schueller cho biết:
"Ống giác đã được dùng từ thời xa xăm, hầu như khắp nơi trên thế giới. Những chiếc (ống giác) đầu tiên có vẻ như đã được chế tác từ sừng của thú vật được khoét rỗng, bên trong người ta đốt lửa để có thể tạo ra chân không và từ đó gây ra một sức hút". (tr.7).
Bà cho biết phương pháp trị liệu đó không những đã được thực hiện ở những nền văn minh cổ đại như Ai Cập, Hy Lạp, Tàu, Ấn Độ, mà còn tại nhiều nơi khác ở châu Á, châu Âu và châu Mỹ Latinh từ thời xa xưa. Cá nhân chúng tôi đã từng thấy người Trại, tức người Sán Dìu, ở Tam Đảo (Vĩnh Phúc), dùng sừng trâu, nói cho thật chính xác là dùng cái chót sừng, khoét rỗng để làm ống giác. Tới đây thì ta đã thấy sự có mặt của cái vật gọi là sừng trong thao tác "giác". Sừng, tiếng Hán (đọc theo âm Hán Việt) là "giác", mà mặt chữ là [角]. "Bắt rễ" từ đây, ta sẽ gặp danh ngữ "hấp giác" [吸角], có nghĩa là "ống giác", là một lối nói trong y học cổ truyền của Tàu như đã được khẳng định tại http://bulo.hujiang.com/question/380483/: "Trung y lý đích bạt hỏa quán" [中医里的拔火罐], nghĩa là "ống giác trong [lối nói của] Trung y".
Ngày nay, Tàu chỉ chơi lối nói mô-đẹc (nói trên) nên đã xếp xó hai chữ/tiếng "hấp giác" [吸角], chứ Nhật thì vẫn còn giữ và đọc theo Kan-on là "kyukaku", mà chỉ cần gõ vào thanh tìm kiếm trên mạng thì ta đã có thể thấy ngay ở trang http://www.shutterstock.com/s/kyukaku/search.html hơn 50 bức ảnh về thao tác giác hơi. Thế là Tàu thì đã xếp xó cái chữ [角] mà âm Bắc Kinh là "jiǎo" (theo pinyin) với cái nghĩa là một thứ y cụ chứ ta và Nhật thì vẫn còn xài: Nhật với âm "kaku" (trong "kyukaku") còn ta thì với âm "giác". Có điều là ta đã chuyển từ loại của "giác" từ danh từ thành động từ (như từ điển Vietlex đã giảng), rồi lại dùng động từ này làm định ngữ hạn định cho "bầu" và "ống" trong hai danh ngữ "bầu giác" và "ống giác". Nhưng dù có chuyển từ loại hay không thì "giác" trong "ống giác", "giác hơi" cũng cứ là một từ Việt gốc Hán, bắt nguồn ở một từ ghi bằng chữ [角], mà âm Hán Việt hiện hành chính là … "giác" trong "hấp giác" [吸角].
Thế là cái sừng, nói cho chính xác là cái chót sừng, của một số loài động vật, đã từng được dùng làm ống giác. Nhưng nó còn có một công dụng thú vị khác nữa là làm vật đựng thức uống, dĩ nhiên là cũng từ thời xa xưa. Chẳng thế mà tiếng Việt lai có từ "cốc", được từ điển Vietlex giảng là "đồ dùng để uống nước, uống rượu, v.v... thường làm bằng thủy tinh hoặc nhựa, có thành cao, lòng sâu và không có quai". "Cốc" là một từ Việt gốc Hán, bắt nguồn ở một từ ghi bằng chữ [角], mà âm Hán Việt hiện hành là "giác". Với âm Bắc Kinh "jué" (theo pinyin), nghĩa thứ 7 của chữ "giác" [角] trong Hán ngữ đại tự điển (Thành Đô, 1993) là "cổ đại tửu khí […]", tức "đồ đựng rượu thời xưa […]". Tại nghĩa này, quyển từ điển đã dẫn "Bộ [角]" trong Thuyết văn thông huấn định thanh của Chu Tuấn Thanh đời Thanh như sau: "Nghi cổ tửu khí chi thủy, dĩ giác vi chi, cố [觚], [觶], [觴], [觥], đẳng tự đa tùng [角]", nghĩa là "ngờ [rằng] đồ đựng rượu sơ khai thời xưa làm bằng sừng, do đó [mà] các chữ "cô", "chi", "thương", "quanh", v.v., thường thuộc bộ "giác" [角]". Chí lý! Ở đây cần phải nói rõ rằng với nghĩa đang bàn thì âm Bắc Kinh của chữ [角] là "jué" còn với nghĩa "sừng" thì âm Bắc Kinh của nó lại là "jiǎo" nhưng âm Hán Việt của nó thì lại không phân hóa thành hai. Đó vẫn chỉ là "cổ nhạc thiết" [古岳切], tức là "các" (rồi về sau mới bị đọc thành "giác"). Vậy "các" thì liên quan gì về ngữ âm với "cốc" trong '"cốc nước", "cốc bia", v.v...? Xin thưa là có vì hai vận AC và ÔC có một mối quan hệ lịch sử lâu đời: các chữ "ác"
[握], [渥], chẳng hạn, cũng có âm "ốc" và hài thanh bằng chữ "ốc" [屋]; đặc biệt, chữ "giốc" trong danh ngữ "thế ỷ giốc" chính là chữ "giác" [角] mà ta đang nói đến. Vậy thì chẳng có gì lạ nếu việc dùng sừng (giác < các) làm đồ đựng thức uống đã gián tiếp sản sinh ra từ "cốc" trong tiếng Việt.
Rồi việc trâu, bò dùng sừng để húc đã đem đến cho chữ "giác" [角] cái nghĩa "húc", rồi nghĩa rộng là đánh nhau, tranh nhau. Nghĩa này đã đưa đến cho tiếng Việt động từ "cốc" mà từ điển Vietlex giảng là "gõ vào đầu bằng một đầu ngón tay gập lại".
Cái nghĩa "sừng" của chữ 'giác"
[角] còn đem đến cho tiếng Việt một danh từ là "gạc" mà từ điển của Vietlex giảng là "sừng già phân nhánh của hươu, nai". Mối quan hệ ngữ âm "GI ↔ G[H]" giữa "giác" và "gạc" thì không còn là chuyện lạ trong lĩnh vực từ nguyên học về các từ Việt gốc Hán: - "giá" [嫁] là gả chồng ↔ "gả" trong "cưới gả";
- cũng chữ"giá" [嫁] này nhưng với nghĩa "trút, trao cho người khác" ↔ "gá" trong "gá nợ", "gá nghĩa";
- "giải" [蟹] là cua ↔ "ghẹ" là một giống cua;
- "giam" [監] là nhốt kẻ có tội ↔ "găm" là "giữ lại không chịu đưa ra vì một mục đích nhất định (như trong "găm giữ");
- "giám" [監] là trông coi, xem xét ↔ "gắm" trong "gửi gắm", mà về từ nguyên, cũng là điệp thức của "ký giám" [寄監], có nghĩa gốc là "
[bắt rồi] giao cho nhà ngục tạm giam";
- "giáp" [夾] là kép, trái với "đơn" ↔ "ghép" trong "gán ghép";
- "giới" [疥] là ghẻ ↔ "ghẻ" trong "ghẻ chốc"; v.v...
Còn với nghĩa hình học của nó trong "đa giác", "tam giác", "tứ giác", v.v... thì "giác" [角] có một điệp thức là "góc" trong "góc cạnh". Rồi với cái nghĩa là một phần mười của một đồng, tức một hào, thì chữ "giác" còn đem đến cho tiếng Việt danh từ "cắc", một thời rất thông dụng trong Nam. "Nam cắc, Bắc hào". Biết rằng "giác" vốn là "các", ta sẽ dễ dàng thấy rằng từ "các" đến "cắc", chỉ có một bước nhỏ từ "a dài" sang "a ngắn" mà thôi.
Nguồn:

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32