|
|
Ngay từ chiều ngày 16 tháng 10, khi địch
chiếm đồi 94, tiểu đoàn 706 đã được lệnh nghiên cứu đánh địch. 18 giờ
ngày 18, tiểu đoàn rời khu rừng Kỳ Lão hành quân trong đêm tiến về khu
đồi 94. Khoảng 2 giờ sáng ngày 19, các mũi của tiểu đoàn đã triển khai
vây chặt quả đồi, có mũi cách địch chỉ 20 mét. Tiểu đoàn phát lệnh nổ
súng, sau một loạt hoả lực đi cùng, bộ đội trên các hướng xung phong
mãnh liệt, xả súng tiêu diệt bọn địch đang hoảng loạn quanh những chiếc
lều vải trên đồi. Trận đánh diễn ra nhanh gọn trong khoảng 30 phút, ta
diệt 150 tên, bắt sống 15 tên, thu một ĐKZ, sáu trung đại liên và nhiều
vũ khí quân trang, quân dụng khác. Ta hy sinh 17, bị thương 35 đồng chí.
Ở điểm cao 201, 3 giờ 30 phút ngày 19 tháng 10, tiểu đoàn 722
cũng áp sát địch và nổ súng tiến công. Do bị địch phát hiện trước, yếu
tố bất ngờ không còn, nên trận đánh diễn ra rất ác liệt. Sau nhiều lần
xung phong, ta chỉ chiếm được một mỏm đồi, đánh lui nhiều đợt phản kích
của địch, rồi tổ chức lui quân trước khi trời sáng. Trận này ta diệt 60
tên, bắt sống 15, thu 15 súng các loại, song thương vong của ta do bị
pháo binh địch cũng khá lớn (hy sinh 64 người, bị thương 83 người).
Sau
đợt hoạt động của ta đêm 18, địch tổ chức chiếm lại đồi 94, đồi 201,
tăng cường hai tiểu đoàn pháo lên Rịa, dốc toàn lực lượng vào việc tăng
cường công sự, chướng ngại vật trên các điểm cao, lùng sục bảo vệ các sở
chỉ huy, trận địa pháo. Về phía ta, Đảng uỷ đại đoàn cũng triệu tập
cuộc họp mở rộng và nhận định: địch đang củng cố các vị trí, song không
có mục đích chiếm đóng lâu dài, sắp tới chúng sẽ tổ chức các cuộc càn
rộng ra xung quanh, ta sẽ có điều kiện đánh địch trong vận động: mặt
khác, tập kích địch trên các điểm cao ta bị thương vong nhiều. Do đó đại
đoàn quyết định đổi phương châm tác chiến: “Phải tranh thủ đánh vận
động chiến”, tránh tư tưởng chỉ muốn “ăn to” không muốn phân tán đánh
nhỏ. Đại đoàn đã lệnh cho các trung đoàn tổ chức các bộ phận nhỏ kết hợp
với dân quân du kích đánh nhỏ, đánh phân tán. Trung đoàn 52 điều một
tiểu đoàn vào Quỳnh Lưu phát động chiến tranh du kích, Trung đoàn 48, 64
bố trí ở sườn địch trên đường Rịa, Phố Cát, sẵn sàng tiêu diệt địch khi
chúng đánh vào Nho Quan.
Sau những ngày chuẩn bị và củng cố bàn
đạp, 5 giờ sáng ngày 22 tháng 10, địch cho ba tiểu đoàn bộ binh cơ giới
có pháo binh, không quân yểm trợ tiến lên Nho Quan bằng hai mũi. Mũi
chính tiến theo đường 59 gồm hai tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn cơ
giới và hai tiểu đoàn pháo binh. Mũi thứ hai có một tiểu đoàn bộ binh
xuất phát từ mỏm đồi 94 đi theo con đường phía tây đường 59 lên Nho Quan
(cánh trái). Cả hai mũi tiến công của địch đều bị các bộ phận nhỏ phân
tán của trung đoàn 52 và 64 cùng dân quân du kích bắn tỉa nên chúng tiến
rất dè dặt.
Cánh trái, khi tới Bát Cô, bị một tiểu đoàn của
trung đoàn 52 chặn đánh và bị diệt 30 tên, phải dừng lại rồi rút ra
đường 59. Tiểu đoàn 706 trung đoàn 64 tổ chức truy kích bọn này đến tận
làng Tri Phương diệt gần một đại đội. Mũi chính, đến chiều mới tới Nho
Quan, thấy trong thị trấn “vườn không nhà trống” lại nghe tin cánh trái
bị đánh, nên vội vã phá một số nhà và cầu phao rồi rút ngay.
Sau
khi địch rút khỏi Nho Quan, Đại đoàn phán đoán địch sẽ đánh lên lần
nữa, nên điều tiểu đoàn 1 trung đoàn 48 tổ chức phục kích địch ở chân
đồi Trại Ngọc. Đêm 23, tiểu đoàn bí mật triển khai trận địa phục kích
dài hơn hai km ở chân đồi Trại Ngọc. 8 giờ sáng ngày 24, tiểu đoàn 1 lê
dương thuộc trung đoàn 5 có khoảng 20 xe tăng xe bọc thép đi cùng từ Rịa
tiến về Phủ Đồi - Trại Ngọc. Tiểu đoàn 706 nổ súng, trận chiến đấu rất
ác liệt vì trận địa phục kích của ta ở gần các điểm cao có địch chiếm
đóng nên địch dựa vào phi pháo, cơ giới và các lực lượng chốt giữ gần đó
chống cự quyết liệt. Trận đánh kéo dài đến chiều, ta diệt hơn một đại
đội địch, phá hủy năm xe tăng, bốn xe bọc thép, thu nhiều vũ khí phương
tiện.
Ngày 25 tháng 10, địch đưa bốn tiểu đoàn bộ binh, bốn tiểu
đoàn pháo binh và một tiểu đoàn thiết giáp từ Ghềnh mở cuộc càn quét
vào Bỉm Sơn - Quý Hương, nơi chúng cho là có căn cứ, kho tàng của Đại
đoàn 320. Qua ba ngày lùng sục không kết quả gì, sáng ngày 28 chúng cho
phần lớn lực lượng rút về, chỉ để lại một tiểu đoàn lê dương và một tiểu
đoàn ngụy Thái ở lại hòng phục kích chủ lực ta trên đường tới Sòng Cạn.
10 giờ sáng ngày 28 tháng 10, phát hiện địch đi từ Quý Hương về
Sòng Cạn, đại đoàn hạ quyết tâm tiêu diệt địch. Tiểu đoàn 3 trung đoàn
48 và tiểu đoàn 706 trung đoàn 64 được lệnh cùng xuất kích ra đánh địch.
Tiểu đoàn 2 trung đoàn 48 bịt hậu ở phía Quý Hương, tiểu đoàn 738 trung
đoàn 64 chặn viện ở Giốc Giàng. Bị ta đánh bất ngờ cả tiểu đoàn ngụy
Thái và một bộ phận của tiểu đoàn lê dương hoảng loạn tháo chạy. Ta tổ
chức truy kích và đánh trả máy bay địch đến ứng viện. Sau vài giờ chiến
đấu, ta loại khỏi vòng chiến đấu gần hai tiểu đoàn địch, diệt 300 tên,
bắt sống 155 tên, bắn rơi hai máy bay, thu nhiều vũ khí quân trang, quân
dụng. 15 giờ chiều cùng ngày (28.10), địch cho một tiểu đoàn bộ binh và
một tiểu đoàn thiết giáp từ Trại Ngọc vào Giốc Giàng để đón tàn binh.
Tiểu đoàn 738 trung đoàn 64 ở Sòng Cạn và các tiểu đoàn khác bố trí gần
Giốc Giàng tổ chức đánh viện không thành công. Ta chỉ tiêu hao một lực
lượng nhỏ địch, còn đại bộ phận chúng tổ chức rút theo kiểu cuốn chiếu
về Trại Ngọc.
Sau thất bại ở Giốc Giàng - Sòng Cạn, địch co về
Rịa, Vĩnh Phương củng cố, cướp phá, lùng sục đẩy ta ra xa khu vực bàn
đạp của chúng. Bộ đội chủ lực cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích
vẫn không ngừng đánh chặn và quấy phá diệt thêm được nhiều địch. Ngày 30
tháng 10, một bộ phận trung đoàn 52 diệt 30 tên địch ở bắc Vĩnh Phương
tám ki-lô-mét. Ngày 31, bộ đội trung đoàn 64 diệt 60 tên ở gần điểm cao
253 và diệt một trung đội địch ở Phú Hưu...
Để giữ bất ngờ cho
việc lui quân và làm vừa lòng phó tổng thống Mỹ Ních-xơn sẽ đến thị sát
tây nam Ninh Bình, ngày 2 tháng 11 (mở đầu đợt 3), địch tung bảy tiểu
đoàn chia làm hai cánh tiến công lên Nho Quan lần thứ hai. Cánh chính từ
Rịa đi theo đường 59 gồm hai tiểu đoàn bộ binh, hai tiểu đoàn dù, một
tiểu đoàn cơ giới và một tiểu đoàn pháo. Cánh trái có hai tiểu đoàn bộ
binh, từ mỏm đồi 94 đi men theo chân núi Yên Mông lên Nho Quan, làm
nhiệm vụ bảo vệ sườn cho cánh chính.
Quyết tâm của đại đoàn là:
dùng một lượng nhỏ của trung đoàn 52 phối hợp với du kích ngăn chặn,
tiêu hao làm chậm bước tiến của địch trên cánh chính (đường 59) đồng
thời tập trung lực lượng đánh địch trên cánh trái.
Cả hai cánh
quân của địch đều tiến rất thận trọng. Cánh chính bị một bộ phận của
tiểu đoàn 757 trung đoàn 52 cùng du kích chặn đánh, bắn tỉa phải dừng
lại nghỉ đêm tại Văn Luận, trong đêm lại bị ta tập kích hoả lực, thiệt
hại gần 100 tên, trưa ngày 3 tháng 11 mới tới Nho Quan.
Trưa
ngày 3 tháng 11, trong khi cánh chính tiến lên Nho Quan, thì một tiểu
đoàn của cánh trái tiểu đoàn 1, trung đoàn 5 lê dương sục vào làng Mống
Lá. Tiểu đoàn 391 trung đoàn 52 phục sẵn ở đây tổ chức nhiều mũi bao vây
chia cắt, tiêu diệt địch. Trận đánh kéo dài trong 45 phút, ta diệt gọn
hai đại đội, làm tan rã hai đại đội khác, bắt sống 110 tên.
Tiến
lên Nho Quan không thu được kết quả gì, trưa ngày 5 tháng 11, các lực
lượng địch ở Nho Quan rút về Rịa. Ngày 6 tháng 11, địch dùng không quân,
pháo binh bắn phá ác liệt các cửa rừng và các đường xuất kích của ta
bảo vệ cho toàn bộ lực lượng rút quân, kết thúc cuộc hành quân. Ta tranh
thủ thời cơ đưa lực lượng xuất kích diệt thêm một số địch ở các vị trí
xung quanh Rịa. Chiều ngày 6 tháng 11, bộ đội ta kiểm soát toàn bộ khu
vực địch đã mất, chiến dịch phản công tây nam Ninh Bình kết thúc thắng
lợi.
Sau 23 ngày đêm, Đại đoàn 320 đánh 23 trận lớn nhỏ cùng bộ
đội địa phương, dân quân du kích tỉnh Ninh Bình loại khỏi vòng chiến đấu
1.711 tên (bắt 311 tên), phá huỷ 21 xe (có ba xe tăng, bốn xe thiết
giáp), bắn rơi hai máy bay, thu nhiều vũ khí, trang bị.
Chiến
dịch phản công tây nam Ninh Bình không chỉ có ý nghĩa diệt sinh lực
địch mà quan trọng là đã làm thất bại ý đồ “đánh trước” của địch. Na-va
tập trung một lực lượng rất lớn đánh ra vùng tự do của ta hòng giành lại
thế chủ động, buộc ta phải tập trung chủ lực đối phó. Đại đoàn 320 cùng
lực lượng vũ trang địa phương đã bảo vệ được vùng hậu phương quan
trọng, bảo toàn được chủ lực. Các đại đoàn khác, kể cả Đại đoàn 304 và
Đại đoàn 316 đang đứng chân gần đó vẫn triển khai công tác chuẩn bị cho
hoạt động Đông Xuân 1953-1954.
Nét hay về nghệ thuật chiến dịch
trong chiến dịch phản công tây nam Ninh Bình là Bộ chỉ huy chiến dịch đã
rút kinh nghiệm kịp thời, nhanh chóng chuyển phương châm tác chiến từ
tập kích quân địch chiếm đóng sang đánh địch đang trong vận động; vận
dụng cách đánh thích hợp bằng lực lượng vừa và nhỏ, kết hợp chủ lực và
địa phương, kết hợp trận địa phục kích của chủ lực với làng xã chiến
đấu, tránh chỗ mạnh, lúc địch mạnh, đánh vào những cánh quân yếu, lực
lượng nhỏ lẻ, nhằm tiêu diệt, tiêu hao địch, bảo vệ ta, cuối cùng làm
thất bại mưu đồ cuộc hành quân của chúng.
Tuy nhiên, do nắm địch
không chắc, bố trí một số đơn vị không phù hợp với tình hình thực tế
nhưng lại chưa thay đổi cho phù hợp, một số bộ phận không chấp hành đúng
ý định của đại đoàn, nên ta còn bỏ lỡ nhiều cơ hội diệt địch, nhiều
trận thương vong còn lớn.
|
| |
|
|
|
|
Trong khi tiểu đoàn 439 tiến đánh Lai Châu
thì lực lượng chủ yếu của đại đoàn từ Tuần Giáo, sau bốn ngày hành quân,
đã tới các vị trí trên đường Điện Biên Phủ đi Lai Châu. Trung đoàn 174
bố trí ở khu vực Mường Muôn - Mường Pồn, đón đánh địch từ Lai Châu chạy
về, trung đoàn 98 ở Pu San chặn địch từ Điện Biên Phủ tiến lên. Tiểu
đoàn 888 trung đoàn 176 tiếp tục bám địch ở phía Him Lam - Bản Tấu.
Sáng
ngày 12 tháng 12, đại đội 674 tiểu đoàn 251 trung đoàn 174 dẫn đầu đội
hình trung đoàn tiến xuống Mường Pồn. Phát hiện trong bản có nhiều địch,
đại đội 674 bao vây áp sát chờ lực lượng phía sau tới tổ chức tiến
công.
Địch ở Mường Pồn khá đông, gồm hai đại đội bộ binh thuộc
tiểu đoàn ngụy 301 và một đại đội vận tải. Đây là lực lượng rút ở Lai
Châu về Điện Biên nhưng bị đại đội 35 tiểu đoàn 251 chặn đánh ở Cò Cháy
nam Mường Pồn hai km, phải quay về Mường Pồn tổ chức phòng ngự chờ quân ở
Điện Biên lên đón.
Địa hình trong khu vực trống trải, địch phát
hiện lực lượng ta bao vây đã tổ chức nhiều mũi, được sự yểm trợ của máy
bay, tiến công phá vây. Cuộc chiến đấu giữ vây của đại đội 674 diễn ra
ác liệt suốt cả ngày 12. Chính trong cuộc chiến đấu ác liệt này đã xuất
hiện gương chiến đấu dũng cảm của chiến sĩ Bế Văn Đàn “lấy thân mình làm
giá súng” tạo điều kiện cho đồng đội chặn các đợt phản kích của địch.
Sáng ngày 13, toàn bộ tiểu đoàn 251, được tăng cường đại đội 317, tổ
chức tiến công và làm chủ Mường Pồn, loại khỏi vòng chiến đấu các đại
đội địch ở đây, diệt 95 tên, bắt sống 52 tên, thu nhiều vũ khí và lừa,
ngựa.
Cũng vào những ngày này, quân địch ở Điện Biên đưa các
tiểu đoàn dù lê dương số 1 và tiểu đoàn dù ngụy số 2 từ Điện Biên Phủ
kéo ra đón cánh quân ở Lai Châu về. Ngày 11 tháng 12 lực lượng này vừa
ra tới Bản Tấu thì bị tiểu đoàn 888 trung đoàn 176 chặn đánh, bị diệt
gần 100 tên, chúng bỏ đường cái xuyên rừng lên Pu San. Trưa ngày 13,
địch lên tới Pu San đông nam Mường Pồn bốn km. Tại đây, được máy bay yểm
trợ, chúng tổ chức tiến công điểm cao 1.168 hòng chiếm điểm cao này làm
bàn đạp đón cánh quân ở Lai Châu về. Các chiến sĩ tiểu đoàn 215 và đại
đội phòng không 677 dựa vào thế hiểm của địa hình, đã kiên cường chiến
đấu đánh bật mọi đợt tiến công của hai tiểu đoàn địch. Sau nhiều đợt
tiến công không thành, lại nghe tin đồng bọn đã bị diệt ở Mường Pồn,
địch tổ chức quay về Điện Biên. Dọc đường số này lại bị đại đội 811 từ
Bản Tấu lên đánh chặn đầu và tiểu đoàn 215 đánh ở phía sau nên đội hình
tan tác, binh lính chạy tán loạn vào rừng tự tìm đường về Điện Biên Phủ.
Như vậy, với sự trợ giúp của không quân, suốt ba ngày luồn
rừng, cánh quân của địch từ Điện Biên Phủ đã không sao ứng cứu được cánh
quân ở Lai Châu về, mà còn bị chết và bị thương 112 tên, bị bắt 38 tên,
đội hình tan rã khi quay trở lại Điện Biên.
Đường từ Mường Pồn
về Điện Biên Phủ bị chặn, các lực lượng địch rút từ Lai Châu về Điện
Biên buộc phải chia làm hai khối. Khối thứ nhất gồm đại bộ phận tiểu
đoàn ngụy 301 và bốn đại đội ở Nậm Lầm, Sốp Nhom tìm đường vòng xuyên
rừng về Điện Biên Phủ. Khối thứ hai gồm tàn quân ở Mường Tòng, Mường
Bum, Mường Chà tìm đường chạy sang Lào.
Các đơn vị trong đại
đoàn được lệnh tiếp tục truy kích địch. Tiểu đoàn 255 trung đoàn 174, có
tham mưu trưởng đại đoàn đi cùng, hành quân lên hướng Mường Tòng để
phối hợp với tiểu đoàn 439 trung đoàn 98 từ Lai Châu đánh xuống. Các
tiểu đoàn 249, 251 của trung đoàn 174 tiến ra Nậm Lầm, Sốp Nhom. Tiểu
đoàn 215 trung đoàn 98 bố trí ở Mường Muôn, sẵn sàng tiếp sức cho trung
đoàn 174. Tiểu đoàn 888 trung đoàn 176 chuyển về chốt giữ ở Mường Pồn,
sẵn sàng chặn địch ở Điện Biên Phủ lên.
Chiều ngày 13 tháng 12,
tiểu đoàn 255 và 439 gặp nhau cách Mường Tòng một km. Tham mưu trưởng
đại đoàn trực tiếp chỉ huy hai tiểu đoàn tiến công cụm quân địch ở Mường
Tòng. Bốn đại đội địch cụm ở Mường Tòng chống cự yếu ớt rồi vội vã rút
chạy, ta chuyển sang truy kích. Đến 21 giờ, bộ đội ta đuổi kịp bộ phận
đi sau diệt và bắt một số tên, trong đó có tên đại uý Pháp. Địch tiếp
tục rút chạy xuống phía nam. Sáng ngày 16, đến Nà Pheo bị đại đội 317
của ta diệt thêm một đại đội. Địch bỏ đường lớn chạy sang hướng tây, ta
truy kích đến Si-pa-phin, bắt thêm 80 tên.
Trên hướng Sốp Nhom,
đại đội 673, đơn vị đi đầu của cánh quân tiểu đoàn 251 và tiểu đoàn 249
gặp địch ở Huổi Mét. Đại đội tổ chức tiến công đánh tan một đại đội
địch, bắt sống 40 tên, thu năm trung liên, 30 tiểu liên, 30 súng trường.
Hướng tây bắc thị xã Lai Châu, đại đội 1480 cùng một bộ phận
của tiểu đoàn 930, trung đoàn 148 truy kích địch qua sông Đà. Sáng ngày
17, đại đội gặp địch ở Nậm Cáy, diệt 30 tên, bắt 70 tên (có một đại uý
Pháp) xoá sổ cơ bản khối tàn quân chạy lên bắc Lai Châu.
Trải
qua 12 ngày đêm liên tục tiến công, truy kích địch trên đoạn đường
khoảng 300 km ở địa bàn rừng núi hiểm trở, Đại đoàn 316 đã tiêu diệt và
làm tan rã 24 đại đội địch1
(khoảng 2.500 tên), đánh thiệt hại nặng ba tiểu đoàn, thu 528 súng
trường và tiểu liên, 148 súng trung liên, năm súng cối, 12 máy vô tuyến
điện, ba ô tô, 200 lừa ngựa. Đại đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ giải phóng
toàn bộ khu vực Lai Châu, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực
địch.
Lai Châu giải phóng, Điện Biên Phủ bị uy hiếp trực
tiếp từ phía bắc, địch buộc phải điều lực lượng từ đồng bằng Bắc Bộ lên
Điện Biên Phủ, biến nơi đây thành nơi tập trung lực lượng thứ hai của
chúng trên chiến trường Bắc Việt Nam. Như vậy, thắng lợi của chiến dịch
Lai Châu không chỉ có ý nghĩa tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng một
địa bàn rừng núi quan trọng mà đây còn là thắng lợi bước đầu của ta
trong việc thực hiện chủ trương chiến lược của Bộ Chính trị: Tiêu diệt
sinh lực địch, giải phóng đất đai đi đôi với buộc địch phải phân tán
khối cơ động chiến lược của chúng. Thắng lợi của chiến dịch giải phóng
Lai Châu là thắng lợi mở đầu xuất sắc của cuộc tiến công chiến lược Đông
Xuân 1953 - 1954, tạo ra những điều kiện thuận lợi để ta tiến hành
Chiến dịch Điện Biên Phủ sau này.
Bước phát triển mới của nghệ
thuật chiến dịch là ngay từ đầu đã hình thành thế trận chia cắt địch,
làm cho chúng hoàn toàn lâm vào thế bị động trong cuộc rút quân. Bằng
nhiều lực lượng, trên nhiều hướng, thực hiện nhiều hình thức, thủ đoạn
chiến thuật như: tiến công, truy kích, đón lõng, phục kích, chốt chặn...
ta đã chia cắt được lực lượng địch ở khu vực Lai Châu, chia cắt bộ phận
rút chạy và bộ phận ứng cứu để lần lượt đánh tan rã từng bộ phận địch.
Sau khi phái một lực lượng nhanh chóng tiến công tiêu diệt hai vị trí
phía trước (Pa Ham, Cơ-la-vơ), nhanh chóng tiếp cận mục tiêu chủ yếu (
Lai Châu), đại đoàn đã dựa vào phần lớn lực lượng đang đứng chân giữa
con đường độc đạo Lai Châu - Điện Biên để nhanh chóng triển khai lực
lượng tiêu diệt địch đang vận động (đón đánh địch từ Lai Châu về, chặn
địch từ Điện Biên Phủ lên, bám đánh địch ngay từ Him Lam, Bản Tấu). Nghệ
thuật hình thành thế trận chốt chặn ở những khu vực hiểm yếu, nhất là
đoạn Mường Pồn- Bản Tấu, là nghệ thuật điều hành chiến dịch sáng tạo,
phát huy được sức mạnh của các lực lượng trong quá trình truy kích địch.
Chốt chặn chiến dịch trong chiến dịch Lai Châu là bước phát triển mới
về nghệ thuật chiến dịch mà cả ba chiến dịch trước đó (Hòa Bình, Tây
Bắc, Thượng Lào) ta chưa thực hiện được.
Trong chiến dịch Lai
Châu, ta đã khắc phục được những thiếu sót chủ yếu trong truy kích của
chiến dịch Thượng Lào trước đó. Đó là tinh thần chủ động, quyết tâm truy
kích địch đến cùng của các đơn vị trên các hướng. Trong chiến dịch, bộ
đội ta đã vượt qua những khó khăn rất lớn về đường sá xa xôi, địa hình
hiểm trở, mùa đông giá rét... để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên giao.
_____________________________________
1. Theo
lịch sử quân sự tập 4 bộ tổng tham mưu ngụy, 1972 thì số địch chạy
thoát về Điện Biên Phủ là 10 trong tổng số 40 sĩ quan Pháp và 120 trong
tổng số 2.100 lính ngụy Thái.
|
| |
|
|
|
CHIẾN DỊCH TRUNG - HẠ LÀO
(Tiến công, từ ngày 21 tháng 12 năm 1953 đến tháng 5 năm 1954)
Trong
kế hoạch tác chiến chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954, ta chủ trương phối
hợp với quân giải phóng Pa Thét Lào mở cuộc tiến công ở Trung - Hạ Lào
nhằm thu hút quân cơ động Pháp, phá thế tập trung lực lượng của Na-va ở
đồng bằng Bắc Bộ, tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, mở rộng
và củng cố vùng giải phóng của bạn, đồng thời phá âm mưu đánh vào hậu
phương ta của định, bảo vệ vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh. Cuối tháng 11
năm 1953, cùng với việc giao nhiệm vụ cho các hướng, Bộ Tổng tư lệnh
quyết định mở Chiến dịch Trung - Hạ Lào.
Trung - Hạ Lào là vùng
rừng núi rộng lớn, phía bắc giáp tỉnh Xiêng Khoảng, phía tây giáp Thái
Lan, phía nam giáp Căm Pu Chia và phía đông giáp các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng
Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam của Việt Nam. Địa hình hầu hết
là rừng núi dân cư thưa thớt. Ở phía tây dọc theo lưu vực sông Mê Công
có dải bình nguyên hẹp, tập trung đông dân và là nơi sản xuất lúa gạo
chính của Trung - Hạ Lào. Khí hậu Trung - Hạ Lào khắc nghiệt chia làm
hai mùa rõ rệt. Mùa khô nóng nắng rất hiếm nước, mùa mưa, mưa tầm tã,
nước suối dâng cao rất khó cơ động.
Đường số 13 là con đường
chiến lược quan trọng nhất của Lào chạy dọc theo sông Mê Công từ bắc
xuống nam. Đây là con đường vận chuyển chủ yếu của địch ở Trung - Hạ
Lào. Nối từ đường 13 sang Việt Nam là các trục đường ngang số 8, số 12
và số 9. Các con đường này hầu hết đều len lỏi trong địa hình rừng núi
hiểm trở nên rất xấu, riêng chỉ có con đường 9 chạy từ Cửa Việt của Việt
Nam sang Xa-va-na-khét của Lào là con đường dễ đi hơn cả.
Các
nhà chiến lược phương Tây coi vùng Trung - Hạ Lào là một trong những địa
bàn chiến lược quan trọng đối với toàn bán đảo Đông Dương. Đặc biệt là
các khu vực đường số 12 đường số 9 và cao nguyên Bô-lô-ven (Hạ Lào). Nắm
được các địa bàn này sẽ tạo được thế chia cắt chiến lược trên toàn Đông
Dương và là một bàn đạp tiến công rất lợi hại.
Từ ngày trở lại
gây chiến tranh xâm lược ba nước Đông Dương, thực dân Pháp coi Trung -
Hạ Lào là vùng hậu phương, vĩ tuyến 18 ngang qua Trung Lào là “tuyến
cấm” cắt đôi Đông Dương và đường số 12 (Thà Khẹt - Ba Na Phào) là then
cửa của “tuyến cấm” đó. Khi ta ít hoạt động ở Hạ Lào, Trung Lào, việc tổ
chức phòng thủ của địch ở đây còn sơ sài, lực lượng chủ yếu là quân
ngụy Lào đóng rải rác trên các trục đường số 8, 12, 9, 13, 23... Đầu
tháng 12 năm 1953, phát hiện thấy chủ lực ta tiến sang Trung Lào, địch
vội điều hai binh đoàn cơ động số hai và số ba gồm sáu tiểu đoàn bộ binh
và một tiểu đoàn pháo binh từ Bắc Bộ sang tăng cường cho Trung Lào hòng
bịt các cửa ngõ vào Trung Lào, chủ yếu trên trục đường số 8 và 12.
Chúng bố trí thành ba cụm:
- Cụm A ở khu vực Na Pê, Cam Cốt, Lạc Sao trên đường số 8 gồm tiểu đoàn Ta-bo số 9 và một đại đội pháo 105mm.
-
Cụm B ở Ba Na Phào, Nhom Ma Rát trên đường 12, gồm hai tiểu đoàn bộ
binh Ma-rốc số 1, số 2 của trung đoàn 1 (1/1 RTM, 2/1 RTM); tiểu đoàn bộ
binh số 2 trung đoàn 4 (2/4 RTM); tiểu đoàn bộ binh An-giê-ri số 27 (27
BTA) và một tiểu đoàn pháo 105mm thuộc trung đoàn pháo binh An-giê-ri
số 69.
- Cụm C ở Nậm The làm lực lượng dự bị, có tiểu đoàn bộ binh cơ giới Xpa-hi (Spahis) số 6.
Các
đơn vị Âu-Phi được điều sang Trung Lào lần này là những đơn vị từng
trải trên chiến trường miền Trung, mới được chuyển ra đồng bằng Bắc Bộ
theo kế hoạch xây dựng lực lượng cơ động mạnh của Na-va. Từ khi đặt chân
tới Trung Lào, chúng ráo riết củng cố, mở rộng các vị trí án ngữ thành
những cứ điểm kiên cố, thường xuyên tổ chức các cuộc hành quân thăm dò,
thọc sâu vào các vùng căn cứ du kích Trung Lào và biên giới Việt Nam -
Lào để phát hiện chủ lực của ta.
Về tình hình ta, cơ sở
của bạn ở Trung - Hạ Lào khá mạnh. Lực lượng vũ trang của bạn ở Trung
Lào có một đại đội và năm trung đội, ở Hạ Lào bảy trung đội. Bộ đội tình
nguyện Việt Nam ở Trung Lào có hai tiểu đoàn và bốn đại đội vũ trang
tuyên truyền, ở Hạ Lào có một tiểu đoàn và một đại đội.
Lực lượng
ta tham gia chiến dịch Trung - Hạ Lào gồm có: trung đoàn 66 Đại đoàn
304 trung đoàn 101 Đại đoàn 325, tiểu đoàn 274 trung đoàn 18 Đại đoàn
325, một tiểu đoàn phòng không 12,7mm, một đại đội công binh, một đại
đội vận tải (tổng cộng quân số là 7.263 người) cùng các đơn vị tình
nguyện của Liên khu 4, Liên khu 5 và một số đơn vị Pa-thét Lào. Riêng
trung đoàn 18 (thiếu tiểu đoàn 274) hoạt động ở Bình Trị Thiên. Bộ chỉ
huy chiến dịch mang mật danh là “Mặt trận D” do đồng chí Hoàng Sâm, Đại
đoàn trưởng Đại đoàn 304 làm Tư lệnh, đồng chí Trần Quý Hai Chính uỷ
kiêm Đại đoàn trưởng Đại đoàn 325 làm chính uỷ. Cơ quan chiến dịch được
tổ chức trên cơ sở cơ quan Đại đoàn 325.
Căn cứ vào chủ trương
chung và tình hình địch đã tăng cường, Bộ chỉ huy chiến dịch xác định kế
hoạch tác chiến đợt 1 của chiến dịch như sau:
Tập trung cả hai
trung đoàn 66 và trung đoàn 101 (thiếu) tiến công cụm phòng ngự then
chốt của địch trên đường 12 (Bộ tư lệnh xác định đây là hướng chính của
chiến dịch). Trung đoàn 66 tiến công cứ điểm Mụ Giạ và Ba Na Phào. Trung
đoàn 101 tổ chức phục kính đánh viện trên đường số 12 đoạn từ Thà Khẹc
đến Ba Na Phào. Hướng phát triển tiếp theo của 2 trung đoàn này là theo
đường số 12 đánh về Nhom Ma Rát, giải phóng phía đông tỉnh Khăm Muộn.
Tiểu
đoàn 319, trung đoàn 101 cùng bộ đội bạn tiến công Na Pê, Lạc Sao, Cam
Cốt. Đây là hướng tiến công thứ yếu của chiến dịch, sau đó phát triển
theo trục đường số 8 đánh xuống đường số 12.
Tiểu đoàn 436 trung
đoàn 101, được tăng cường thêm quân số và chỉ huy, thọc sâu chiến dịch
xuống Hạ Lào tạo bàn đạp cho lực lượng lớn của ta phát triển xuống phía
Nam.
Trung đoàn 18 (thiếu tiểu đoàn 274), giai đoạn đầu phối hợp
với lực lượng vũ trang Bình Trị Thiên cắt đường số 9 không cho địch cơ
động lực lượng theo đường bộ lên ứng cứu, sau đó theo đường 9 phát triển
sang đánh địch ở Trung - Hạ Lào.
Về vấn đề bảo đảm 1,
Trung ương Đảng và Chính phủ đã chỉ thị cho Liên khu 4 tổ chức dân
công, bảo đảm hậu phương chiến dịch. Trung ương Đảng của bạn cũng động
viên nhân dân sẵn sàng phục vụ chiến trường. Liên khu 4 đã thành lập Hội
đồng cung cấp Mặt trận chuyên phục vụ chiến dịch và tiến hành công tác
chuẩn bị từ tháng 9 năm 1953. Tổng cục Cung cấp cử một đoàn cán bộ do
đồng chí Đinh Thiện phụ trách, trực tiếp cùng Hội đồng cung cấp Mặt trận
tổ chức công tác bảo đảm cho chiến dịch. Liên khu 4 còn tổ chức Ban chỉ
huy tiếp tế vận tải có đồng khí trưởng phòng cung cấp Đại đoàn 325 tham
gia, để thiết lập một hành lang tiếp tế từ Nghệ An sang Trung Lào.
Phòng cung cấp của Đại đoàn 325 làm nhiệm vụ hậu cần chiến dịch, bệnh
viện hậu phương K43 ở Thanh Chương, kho quân khí 700 ở Chu Lễ bảo đảm
tuyến sau cho Đại đoàn 325.
Riêng việc đảm bảo cho tiểu đoàn 436
thọc sâu xuống Hạ Lào, Trung ương đã chỉ thị cho Bình Trị Thiên - Liên
khu 5 đảm bảo cung cấp cho đơn vị hành quân tới đích, khi đến Hạ Lào,
đơn vị sẽ dựa vào sự cung cấp của bạn để hoạt động.
Cuối
tháng 11 năm 1953, lực lượng chủ yếu của chiến dịch bất đầu hành quân
từ Nam Đàn, Nghệ An vào Chu Lễ, Hương Khê rồi vượt đèo Quắc và dốc Trìm
Trẹo tiến sang phía bắc Trung Lào. Theo sau cánh quân này là gần 2.000
dân công Nghệ An, Hà Tĩnh do Liên khu 4 tổ chức bảo đảm việc vận chuyển
đạn, gạo phục vụ chiến dịch.
Sau một thời gian hành quân gian
khổ, vượt Trường Sơn trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, đầu tháng
12, các đơn vị đã tới khu vực tập kết ở vùng biên giới Việt - Lào. Ngày
19 tháng 12, Bộ chỉ huy mặt trận giao nhiệm vụ và phổ biến kế hoạch tác
chiến cho các đơn vị.
Theo kế hoạch, ngày 23 tháng 12 năm 1953,
trung đoàn 66 sẽ nổ súng tiến công cứ điểm Mụ Giạ, Ba Na Phào, mở màn
chiến dịch. Nhưng trong ngày 20 tháng 12 đoàn cán bộ trung đoàn 101 khi
trinh sát thực địa, đã bắt được tù binh và phát hiện địch đã cho tiểu
đoàn An-giê-ri số 27 (27e BTA) và một đại đội pháo 105mm từ Thà Khẹc,
Nhom Ma Rát lên xây dựng cứ điểm mới ở khu vực cầu Khăm He. Binh đoàn cơ
động số 2 cũng đã thiết lập sở chỉ huy nhẹ ở khu vực cầu Kha Ma (đường
số 12).
Ban chỉ huy trung đoàn 101 quyết định chuyển từ chuẩn bị
phục kích sang tổ chức tập kích tiêu diệt tiểu đoàn Âu-Phi ở cứ điểm
Khăm He và báo cáo Bộ chỉ huy chiến dịch đề nghị điều chỉnh phương án
chiến dịch.
Được Bộ chỉ huy chuẩn y, trung đoàn đã khẩn trương tổ chức đội hình hành quân theo hướng đường 12 đến căn cứ Khăm He.
Trong
đội hình trung đoàn lúc này có hai tiểu đoàn bộ binh 328, 274 và một số
bộ phận trực thuộc. Trung đoàn trưởng là đồng chí Trần Văn Bành và
chính uỷ là đồng chí Hoàng Văn Thái.
Xuống tới chân đèo Phu Ắc,
trung đoàn gặp một tốp lính Âu-Phi chốt trên quả đồi ven đường. Đại đội
đi đầu đã nhanh chóng hình thành bao vây và tiêu diệt toán địch.
Mờ
tối ngày 21, trung đoàn ra tới mặt đường và nhanh chóng tổ chức đội
hình áp sát cứ điểm Khăm He ngay trong đêm 21. Mọi vấn đề về xây dựng
quyết tâm, tổ chức hiệp đồng được tiến hành ngay trên thực địa.
4
giờ sáng ngày 22, sở chỉ huy trung đoàn phát lệnh nổ súng. Hoả lực súng
cối của các đơn vị dồn dập bắn vào cứ điểm, sau đó hai tiểu đoàn trên
hai hướng tổ chức nhiều mũi đánh vào căn cứ của địch. Cứ điểm rộng, lực
lượng địch đông, lính Âu-Phi dựa vào công sự trong cứ điểm ngoan cố
chống cự, trận chiến đấu diễn ra rất ác liệt. Bộ đội ta trên hai hướng
phải tổ chức hai mũi thọc sâu đánh thẳng vào sở chỉ huy và trận địa pháo
105mm, chia cắt địch ra thành nhiều mảng, kết hợp trong đánh ra ngoài
đánh vào, tiến công mãnh liệt không để cho địch co cụm. Đến sáng ngày 22
ta hoàn toàn làm chủ trận địa. Hầu hết binh lính thuộc tiểu đoàn
An-giê-ri số 27 và đại đội pháo 105mm bị diệt, hơn 60 tên bị bắt sống.
Ta thu nhiều vũ khí, quân trang quân dụng, trong đó có bốn khẩu pháo
105mm cùng hàng nghìn viên đạn pháo.
Sau khi làm chủ Khăm He,
trung đoàn 101 sử dụng tiểu đoàn 274 bố trí hai đầu đường cách Khăm He
ba đến bốn ki-lô-mét, sẵn sàng chặn địch từ Ba Na Phào và Nhom Ma Rát
kéo tới. Trưa ngày 22, tên thiếu tá chỉ huy cứ điểm Ba Na Phào đích thân
dẫn một đại đội thuộc tiểu đoàn Ma-rốc số 2 trung đoàn 4 xuống ứng cứu
cho Khăm He. Lực lượng này rơi vào trận địa phục kích của tiểu đoàn 274
và bị diệt gọn. Tên thiếu tá Pháp bị chết, ta thu một xe Zép cùng nhiều
tài liệu quý, trong đó có tấm bản đồ phòng thủ Trung Lào.
Chiều
ngày 22, chấp hành mệnh lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch, trung đoàn 101
để lại một đại đội tiếp tục chặn quân địch ở hướng Ba Na Phào còn toàn
bộ lực lượng hành quân theo đường 12 xuống tiến công địch ở Kha Ma.
Lúc
này, ở Kha Ma, chỉ huy binh đoàn cơ động số 2 được tin tiểu đoàn
An-giê-ri 27 ở Khăm He bị diệt, vội vàng điều lính Ma-rốc lên tổ chức
các chốt ở dãy đồi bắc đường 12, đồng thời cho rời sở chỉ huy về Nhom Ma
Rát, đề phòng ta tiến công.
Đêm 22, trung đoàn 101 tới Bản Bo,
được sự giúp đỡ của nhân dân, đơn vị đã áp sát Kha Ma, hoàn thành mọi
công tác chuẩn bị và hình thành thế bao vây toàn bộ quân địch. Sáng ngày
23, trung đoàn đồng loạt nổ súng. Địch dựa vào các mỏm đồi cao ngoan cố
chống lại. Bộ đội ta phải chia cắt và diệt từng mỏm đồi. Sau năm giờ
chiến đấu quyết liệt, ta làm chủ Kha Ma. Tiểu đoàn địch ở Kha Ma bị đánh
tan tác, 90 tên bị bắt, số sống sót tháo chạy thục mạng về Nhom Ma Rát.
Hai cứ điểm Khăm He và Kha Ma bị diệt, tinh thần binh lính Pháp
trên tuyến phía đông suy sụp, hệ thống phòng thủ của địch ở Trung Lào
rung chuyển. Bộ chỉ huy Pháp ra lệnh cho các đơn vị chiếm giữ đường số
8, đường số 12, rút nhanh về thị xã Thà Khẹt và thị xã Xa-van-na-khét để
cố thủ phòng tuyến sông Mê Công.
Phát hiện ý định chuẩn bị rút
khỏi đường số 8 và đường số 12 của địch, Bộ chỉ huy chiến dịch lệnh cho
trung đoàn 66, tiểu đoàn 319 kết hợp cùng các đơn vị Pa-thét Lào gấp rút
đánh vào các mục tiêu đã quy định, trung đoàn 101 nhanh chóng đánh
xuống thị trấn Nhom Ma Rát.
Chấp hành mệnh lệnh của Bộ chỉ huy,
đêm 23 tháng 12, trung đoàn 66 tiến vào bao vây vị trí Mụ Giạ và Ba Na
Phào. Nhưng địch ở đây đã bỏ đồn chạy về hướng Pà Cuội từ buổi chiều.
Trung đoàn tổ chức cắt rừng truy đuổi địch. Đến ngã ba Na Ca Chăm, ta
gặp địch, diệt một số. Số còn lại trên một tiểu đoàn chạy vào khu vực
đồn Pà Cuội. Mặc dù lúc này ta chỉ mới có một đại đội giáp địch, nhưng
lợi dụng lúc chúng đang hoang mang, trung đoàn vẫn hạ lệnh tiến công.
Đại đội 134 các tiểu đoàn Lê Lợi đi đầu tổ chức tiến công thẳng vào lực
lượng địch ở Pà Cuội. Các lực lượng đi sau nhanh chóng dồn lên hình
thành một mũi từ phía sau chia cắt đội hình địch. Cả tiểu đoàn Ma-rốc số
2 (24 RTM) cùng đại đội ngụy Lào trong đồn Pa Cuội bị thiệt hại nặng và
nhanh chóng tan vỡ. Ta bắt hàng trăm tù binh và làm chủ Pà Cuội.
Trên
hướng đường số 12, trong hai ngày 23 và 24, trung đoàn 101 liên tục đập
tan các cụm chốt của binh đoàn Âu-Phi số 2 ở khu vực cầu Buông Pao, cầu
Bi Lan, bản Na Hay rồi đánh thẳng vào thị trấn Nhom Ma Rát. Ngày 24
tháng 12 năm 1953, thị trấn Nhom Ma Rát được giải phóng, cửa ngõ vào Thà
Khẹt mở toang, trung đoàn 101 gấp rút tiến hành công tác chuẩn bị đánh
Thà Khẹt.
Cùng thời gian này trên hướng thứ yếu, một số đơn vị
của bạn Lào đã thực hiện việc đánh cắt giao thông trên đường 13, đoạn
nối Trung Lào với Thượng Lào. Tiểu đoàn 319 cùng bạn đánh chiếm Na-pê,
Cam-cớt, Lạc Sao. Tiểu đoàn Ta-bo số 9 của địch bị quây chặt trên đường
số 8 không còn đường rút, vội vã phá hủy 70 xe và bốn khẩu pháo 105mm,
rồi rút bằng đường không về Xa-van-na-khét.
Bị đòn tiến công
liên tục, hai binh đoàn cơ động Pháp trên tuyến phòng thủ đường 12 và
đường số 8 bị diệt hơn một nửa, không còn đủ sức thực hiện kế hoạch “cố
thủ Thà Khẹt”. Ngày 25 tháng 12, địch rút khỏi thị xã Thà Khẹt, trung
đoàn 101 tiến vào giải phóng thị xã và bàn giao cho bạn. Tỉnh Khăm Muộn
rộng hơn bốn vạn ki-lô-mét vuông, cùng hàng chục vạn dân cơ bản được
giải phóng.
Cùng ngày 25 tháng 12, Na-va lên Sê Nô nghiên cứu
tình hình và quyết định điều động thêm quân từ đồng bằng Bắc Bộ và Sài
Gòn lên Xa-van-na-khét, hòng chặn đứng cuộc tiến công của liên quân Việt
- Lào, cứu vãn tình thế nguy ngập trên hướng Trung Lào. Trong những
ngày cuối cùng của năm 1953, Na-va điều đến Xa-van-na-khét chín tiểu
đoàn, gồm hai tiểu đoàn dù Âu Phi số 1 và 2, một tiểu đoàn dù số 2 trung
đoàn 1, hai tiểu đoàn dù lê dương số 2 và 6, một tiểu đoàn dù ngụy số
3, một tiểu đoàn cơ động ngụy số 17, hai tiểu đoàn pháo ngụy số 1 và 35.
Đầu tháng 1 năm 1954, Na-va điều tiếp thêm binh đoàn lê dương số 1,
binh đoàn cơ động ngụy số 51 và một số đại đội lẻ để bổ sung củng cố các
đơn vị bị tổn thất ở Khăm Muộn.
Qua hai lần ồ ạt tăng quân lực
lượng địch ở Trung Lào đã lên tới 24 tiểu đoàn bộ binh và ba tiểu đoàn
pháo binh. Chúng tổ chức một tập đoàn cứ điểm mới ở Sê Nô, lấy tên là
binh đoàn tác chiến Trung Lào do tướng Phờ-răng-xi chỉ huy.
|
|
|
|
Trước tình hình địch tăng cường lực lượng,
được sự đồng ý của tiền phương Bộ Tổng tham mưu, cuối tháng 12 năm 1953,
Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định chủ động kết thúc đợt 1 chiến dịch và
chủ trương tiến hành đợt 2, với mục đích bao vây, giam chân quân cơ động
của địch ở Sê Nô, mở đợt tiến công xuống phía nam phá vỡ phòng tuyến
đường số 9. Kế hoạch tác chiến được xác định như sau:
Trung đoàn
101 hoạt động trên đường 13, có nhiệm vụ đánh xuống phía nam sông Xê
Băng Phai, phối hợp cùng bạn mở rộng vùng giải phóng xuống bắc tỉnh
Xa-van-na-khét và sẵn sàng đánh bại các cuộc hành quân hòng chiếm lại
thị xã Thà Khẹt của địch.
Trung đoàn 66 chuyển xuống Ca Sốc, Ma
Pi Lạng, đánh một số cứ điểm và cắt đường 9 Xa-van-na-khét, buộc địch
phải ứng cứu, tổ chức phục kích đánh địch ngoài công sự, tạo điều kiện
giải phóng miền Đông tỉnh Xa-van-na-khét.
Trung đoàn 18 cùng bộ
đội địa phương Cam Lộ, Hương Hóa tăng cường hoạt động đánh cắt giao
thông trên đường 9, chuẩn bị cùng trung đoàn 66 tiến công phá vỡ hệ
thống phòng thủ của địch trên đường 9.
Thời gian nổ súng tiến công tuyến phòng thủ trên đường 9 dự kiến vào 0 giờ ngày 15 tháng 1 năm 1954.
Trong
khi ta đang gấp rút chuẩn bị cho đợt 2 chiến dịch, ngày 6 tháng 1, địch
tung ba tiểu đoàn Pháp và Âu-Phi ở Sê Nô ra chiếm một số bàn đạp ở khu
vực bắc sông Xê Băng Phai và đưa một tiểu đoàn cơ động ngụy lên chiếm
lại vị trí Hìn Xìu.
Trước tình hình địch tổ chức phản công, Bộ
tư lệnh chiến dịch lệnh cho các trung đoàn 66 và 101 tích cực tổ chức
tập kích, phục kích tiêu hao, tiêu diệt quân địch ở ngoài công sự.
Đêm
ngày 8 tháng 1, trung đoàn 66 tập trung cả ba tiểu đoàn tập kích quân
địch ở Hìn Xìu, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn ngụy cơ động số 3, loại
khỏi vòng chiến đấu gần 400 tên, bắt sống 88 tên, trong đó có tên đại uý
tiểu đoàn trưởng Môn Lê.
Cũng trong các ngày từ mồng 7 đến 12
tháng 1, các tiểu đoàn 319, 328 và 274 thuộc trung đoàn 101 liên tiếp tổ
chức các trận tập kích, phục kích đánh vào hai tiểu đoàn Âu-Phi số 1 và
lê dương số 6 đang lưu động ở khu vực bắc sông Xê Băng Phai, buộc hai
tiểu đoàn này phải rút về Sê Nô.
Ngày 18 tháng 1, địch tiếp tục
đưa binh đoàn lê dương số 1, binh đoàn Âu-Phi số 2 và một số đơn vị dù
ra lập các cụm cứ điểm mới ở Po Ung, Na Xoi. Tiếp đó, chúng phát triển
theo trục đường số 13 và bờ bắc sông Xê Băng Phai đánh lên hướng Ma Ha
Xây, Thà Khẹt, Nhom Ma Rát.
Kiên quyết bảo vệ vùng giải phóng
của bạn, trung đoàn 101 kết hợp cùng lực lượng vũ trang của bạn liên tục
chặn đánh, bẻ gãy nhiều đợt tiến công của địch. Đặc biệt ở khu vực Na
Kham, tiểu đoàn 328 cùng cơ quan trung đoàn bộ đã anh dũng chiến đấu, bẻ
gãy cuộc tiến công của ba tiểu đoàn địch, loại khỏi vòng chiến đấu gần
600 tên. Âm mưu chiếm lại tỉnh Khăm Muộn của địch bị đánh bại một bước
quan trọng.
Trên hướng đường 9, theo kế hoạch, trung đoàn 66
phải nổ súng tiến công địch vào ngày 15 tháng 1, song do công tác đảm
bảo gặp nhiều khó khăn, nên đến ngày 24 tháng 1, trung đoàn mới thực
hiện được. Đêm 24, cả trung đoàn đồng loạt nổ súng: tiểu đoàn Lê Lợi
tiến công cứ điểm Pha Lan, tiểu đoàn Cô Tô tiến công cứ điểm Ha Xa Lai
và tiểu đoàn Nguyễn Huệ diệt cứ điểm Xê Ta Mốc. Sau khi diệt song ba cứ
điểm, trung đoàn sử dụng tiểu đoàn Cô Tô và Lê Lợi tổ chức trận địa phục
kích trên đường 9 đoạn từ Đồng Hến đến Pha Lan (cách Đồng Hến khoảng 20
ki-lô-mét về phía đông). Sáng ngày 26 tháng 1, binh đoàn cơ động ngụy
Việt Nam số 51 từ Đồng Hến hành quân bằng cơ giới xuống hòng chiếm lại
Pha Lan. Tiểu đoàn đi đầu của địch lọt vào trận địa phục kích của trung
đoàn, bị đánh thiệt hại nặng nề. Hai đại đội ngụy bị diệt, 40 xe bị phá
huỷ, gần 100 tên bị bắt sống, lực lượng còn lại vội vã quay về Đồng Hến.
Cũng ngay trong đêm 26 tháng 1, tiểu đoàn Nguyễn Huệ của trung đoàn 66
đã nổ súng tiến công Mường Phìn, một cứ điểm nằm ở ngã ba đường 9 đi Xa
Ra Van, diệt gọn một đại đội ngụy Lào trong căn cứ này.
Suốt
trong đợt 2 chiến dịch, bộ đội ta ở Trung Lào đã phá tan âm mưu nối lại
đường số 9 trước Tết Nguyên Đán (31.1.1954) của địch, đánh thiệt hại
nặng sáu tiểu đoàn, vô hiệu hoá hoàn toàn đường số 9. Hai cụm cứ điểm
lớn của địch ở hai đầu đường 9 là Sê Pôn và Sê Nô bị cô lập. Chiến
trường Đông Dương gần như bị cắt làm đôi. Thế trận của địch trên chiến
trường Trung Lào hết sức bất lợi.
Trên hướng Hạ Lào, ngay từ
cuối tháng 11 năm 1953, tiểu đoàn 436 trung đoàn 101 đã được lệnh hành
quân từ Nghệ An cắt rừng tiến xuống Hạ Lào làm nhiệm vụ thọc sâu chiến
dịch và tạo bàn đạp cho lực lượng lớn của ta từ Trung Lào phát triển
xuống, buộc địch phải phân tán hơn nữa khối cơ động chiến lược của
chúng. Do nhiệm vụ đặc biệt, tiểu đoàn được tăng cường lực lượng và hoả
lực mạnh. Tổng quân số tiểu đoàn có 760 cán bộ chiến sĩ (gấp rưỡi biên
chế thông thường) được biên chế thành năm đại đội (ba đại đội bộ binh,
một đại đội ĐKZ và một đại đội súng cối 82mm). Các chiến sĩ bộ binh được
trang bị hầu hết là tiểu liên K50. Hai đồng chí trung đoàn phó và phó
chính uỷ trung đoàn 101 trực tiếp xuống chỉ huy tiểu đoàn.
Tham
gia chiến đấu trên hướng thọc sâu (Hạ Lào) còn có đại đội quân tình
nguyện Liên khu 5 và tiểu đoàn chủ lực của bạn đang đứng chân ở Xa Ra
Van bắc Hạ Lào.
Giữa tháng 1 năm 1954, tiểu đoàn 436 vượt dốc Pa
Ninh, theo đường dây của Liên khu 5 vào tập kết ở khu căn cứ Quân khu
Hạ Lào. Ngày 28 tháng 1, ta và bạn mở hội nghị quân chính bàn kế hoạch
đánh địch.
Mục tiêu tiến công đầu tiên của ta và bạn là hệ thống
chiếm đóng của địch ở Atôpơ. Lực lượng định trong vùng gồm một tiểu
đoàn tăng cường (khoảng 1.000 tên) bố trí thành hai cụm: cụm thứ nhất ở
khu vực thị xã và sân bay Atôpơ, có bốn đại đội chủ lực; cụm thứ hai ở
cứ điểm Pui tây nam Atôpơ 19 ki-lô-mét có một đại đội xung kích và một
trung đội pháo. Ngoài ra, chúng còn có lực lượng địa phương và phỉ đóng ở
các đồn lẻ rải rác trong vùng để khống chế kìm kẹp nhân dân.
Sau
khi nghiên cứu kỹ tình hình địch, ta và bạn hạ quyết tâm đánh địch ở
Atôpơ theo hai bước. Bước 1, tập trung toàn bộ lực lượng của tiểu đoàn
436 đánh cứ điểm Pui, các lực lượng chủ lực của nam Hạ Lào và bộ đội
tình nguyện Liên Khu 5 diệt các lô cốt tháp canh ở ngoại vi thị xã và
tiến hành bao vây khu vực thị xã, sân bay Atôpơ. Bước 2, tiểu đoàn 436
chuyển về cùng các đơn vị bạn tiến công thị xã, phát triển giải phóng
hoàn toàn vùng Atôpơ.
Nửa đêm về sáng ngày 30 tháng 1 năm 1954,
từ hai hướng, tiểu đoàn 436 tiến công cứ điểm Pui. Địch ở đây ngoan cố
chống cự, song do ta đưa được hoả lực lên sát hàng rào, xung kích xung
phong mãnh liệt nên chỉ sau 30 phút, ta đã đánh tan cứ điểm Pui, diệt
gọn số địch ở đây và bắt sống 84 tên.
Tại khu vực thị xã Atôpơ,
ngay từ chập tối ngày 29 tháng 1, các đơn vị của bạn đã tổ chức vây ép,
uy hiếp địch. Sáng 30 tháng 1, nghe tin cứ điểm Pui bị diệt, địch ở
Atôpơ hoang mang lo sợ, tổ chức đốt phá kho tàng, phá hủy vũ khí và tổ
chức rút quân về thị xã Pắc Xế. Chiều ngày 30 tháng 1, khi tiểu đoàn 436
từ Pui vận động đến thì thị xã đang bốc cháy. Tiểu đoàn cùng lực lượng
của bạn lập tức tiến công giải phóng thị xã. Đến 21 giờ, ta làm chủ thị
xã, thu rất nhiều vũ khí đạn dược và bắt sống trên 100 tên địch.
|
| |
|
|
|
|
Từ ngày 1 đến ngày 3 tháng 2, tiểu đoàn 436
truy kích địch chạy về Pắc Xế. Trên đường truy kích, tiểu đoàn đã cùng
bạn quét sạch địch ở các vị trí Nha Hỏn, Keng Xay, Huội Coòng... Số địch
chạy từ Atôpơ cơ bản bị diệt và tan rã, chỉ còn một bộ phận rất nhỏ
chạy về được Pắc Xế.
Ngày 5 tháng 2, tiểu đoàn 436 tiến lên vùng
Xa Ra Van, đánh vào các cứ điểm Bung Kma, Lào Ngam. Quân địch ở đây bỏ
chạy về thị xã Xa Ra Van. Tiểu đoàn 436 tiếp tục đánh sang thị trấn Thà
Teng (Viêng Thông), nơi địch đang bị chủ lực bạn bao vây từ trước đó bốn
ngày. Khi phát hiện tiểu đoàn 436 tràn tới, địch vội vã tháo chạy về
thị xã Xa Ra Van.
Trước nguy cơ thị xã Xa Ra Van có thể bị mất,
địch điều ngay một binh đoàn lê dương vừa từ Bắc Bộ sang và binh đoàn
ngụy số 51 từ Sê Nô xuống lập thêm hai cụm cứ điểm mới ở thị xã Xa Ra
Van và Pắc Xế. Quân cơ động Pháp lại một lần nữa bị phân tán hơn.
Trung
tuần tháng 2 năm 1954, khi trung đoàn 18 được điều sang cùng trung đoàn
66 hoạt động ở Trung Lào, thì trung đoàn 101 (gồm tiểu đoàn 329 và 328)
được lệnh xuống Hạ Lào, đông bắc Cam Pu Chia cùng tiểu đoàn 436 tiếp
tục phát triển tiến công địch để phối hợp với Chiến trường Điện Biên
Phủ.
Đầu tháng 3, trung đoàn 101 (cả ba tiểu đoàn) vượt qua cao
nguyên Bô Lô Ven vào tập kết ở phía tây Bờ Chom thuộc phía nam tỉnh
Atôpơ. Tại đây, trung đoàn 101 đã thống nhất kế hoạch chiến đấu cùng bạn
Cam Pu Chia. Theo kế hoạch, trung đoàn 101 sẽ nhanh chóng tiến công hai
cứ điểm lớn của địch ở hai thị trấn Xiêm Pạng tỉnh Xtung Treng và thị
trấn Von Xai tỉnh Ra Ta Na Ki Ri nhằm đẩy nhanh sự tan vỡ hệ thống phòng
thủ của địch trên vùng đông bắc Cam Pu Chia.
Trung tuần tháng 3
năm 1954, tại khu vực Xiêm Pạng, tiểu đoàn 319 dùng một bộ phận nhỏ vây
cứ điểm địch, còn đại bộ phận tổ chức trận địa phục kích tại Bản Khế,
phía tây cứ điểm Xiêng Pạng 3 km. Một tiểu đoàn ngụy thuộc binh đoàn cơ
động 52 đi giải toả cho cứ điểm, lọt vào trận địa phục kích của tiểu
đoàn, bị đánh thiệt hại nặng, 20 xe quân sự và bốn khẩu pháo 105mm bị
phá huỷ. Thừa thắng, tiểu đoàn tổ chức tiến công làm chủ hoàn toàn cứ
điểm Xiêm Pạng.
Cũng trong thời gian này, tại khu vực Von Xai,
tiểu đoàn 436 đã chặn đánh làm tan rã một tiểu đoàn địch ở bắc Von Xai
hai km, thu hai khẩu pháo 105mm, sau đó tiến công vào Von Xai, diệt và
bắt sống toàn bộ quân địch, làm chủ thị trấn.
Thừa thắng, trung
đoàn 101 hình thành hai mũi đánh dọc trục lộ 13 và trục lộ 19, lần lượt
chiếm Bò Kéo, Bò Kó, Bò Kham, La Ban Xiếc... và áp tới gần thị xã Xtung
Treng.
Trong bảy ngày chiến đấu ở vùng đông bắc Cam Pu Chia,
trung đoàn 101 đã đánh thiệt hại nặng binh đoàn cơ động ngụy số 52, loại
khỏi vòng chiến đấu trên 1.000 tên, góp phần giải phóng vùng đất đai
rộng ở vùng đông bắc Cam Pu Chia.
Lo sợ trước sức tiến công của
ta ở Hạ Lào đông bắc Cam Pu Chia, địch phải điều thêm nhiều tiểu đoàn
củng cố các cứ điểm dọc sông Mê Công ở các khu vực Không Xê Đôn, Pắc Xế,
Phia Phay, Xtung Treng... Quân cơ động Pháp tiếp tục bị căng ra trên
toàn chiến trường miền trung Đông Dương và tiếp tục ngập sâu trong thế
lúng túng bị động.
Từ hạ tuần tháng 3, trung đoàn 101 được lệnh
tiến sâu hơn nữa xuống phía nam, cùng bạn chuyển sang hoạt động quy mô
nhỏ (cỡ đại đội), từng bước mở rộng củng cố các khu du kích, tiếp tục
kìm chân một bộ phận lực lượng cơ động của địch.
Cũng trong
tháng 3 và tháng 4 năm 1954, khi trung đoàn 101 chuyển xuống hoạt động ở
Hạ Lào, đông bắc Cam Pu Chia, thì ở Trung Lào, địch huy động các binh
đoàn cơ động số 1 và 2 mở các cuộc hành quân chiếm lại các vị trí đã
mất. Trung đoàn 66, trung đoàn 18 cùng lực lượng vũ trang bạn đã liên
tục vây hãm, chặn đánh làm hai binh đoàn này bị tổn thất nặng nề.
Trước khi chiến dịch Điện Biên Phủ bước vào đợt cuối, cuộc tiến công của ta và bạn ở Trung Lào kết thúc.
Trong
Chiến dịch Trung - Hạ Lào, ta giành thắng lợi lớn, đã loại khỏi vòng
chiến đấu 9.510 tên địch (4.715 tên bị giết, 3.716 tên bị thương, 1.039
tên bị bắt, có ba quan ba, 10 quan hai, ba quan một), thu nhiều vũ khí1, xóa sổ nhiều căn cứ và giải phóng 16.000km2 với 600 nghìn dân.
Trên
cơ sở thắng lợi quan trọng về tiêu diệt sinh lực địch và giải phóng đất
đai, Chiến dịch Trung-Hạ Lào đã thực hiện được một yêu cầu chiến lược
hàng đầu là buộc Na-va phải tiếp tục phân tán khối cơ động chiến lược
của chúng, góp phần làm giảm khối chủ lực của địch trên chiến trường
chính Bắc Bộ, nhất là đối với hướng chính Điện Biên Phủ. Ở Trung Lào, ta
đã mở rộng vùng giải phóng của bạn từ nam, bắc đường 9 xuống đến đông
Xa-van-na-khét, vô hiệu hoá đường số 12, cắt đứt đường số 9, buộc địch
phải ở trong tình thế “Đông Dương bị cắt làm đôi”. Ở Hạ Lào và đông bắc
Cam Pu Chia, ta đã giải phóng một vùng rộng lớn, nối liền các căn cứ du
kích đông, đông bắc Cam Pu Chia với vùng giải phóng Hạ Lào, góp phần
thực hiện chủ trương đánh thông hành lang chiến lược nam bắc Đông Dương,
sau đó tiếp tục kìm chân một bộ phận lực lượng cơ động của địch sau
Chiến thắng Điện Biên Phủ.
Về nghệ thuật chiến dịch, chiến dịch
Trung - Hạ Lào có bước phát triển. Trước hết, ta đã chọn đúng nơi địch
yếu và sơ hở để mở chiến dịch tiến công, quan trọng hơn là ta đã liên
tục thọc sâu xuống phía nam, đánh vào “hậu phương an toàn” của địch,
từng bước làm đảo lộn thế phòng thủ của chúng ở khu vực này. Mở chiến
dịch Trung - Hạ Lào và không ngừng phát triển xuống phía nam, ta đã ngày
càng khoét sâu điểm yếu cơ bản của địch là mâu thuẫn giữa chiến trường
rộng với binh lực hạn chế; giữa tập trung binh lực trên chiến trường
chính với đối phó với nhiều hướng tiến công của ta. Mũi thọc sâu chiến
dịch ở Hạ Lào - đông bắc Cam Pu Chia của ta là bất ngờ lớn đối với địch.
Chúng cho rằng ta không có đủ sức vượt qua “tuyến cấm” (đường số 12) và
lá chắn Sê Nô để phát triển tiến công. Từ bất ngờ ban đầu ở Trung Lào,
tiếp đến ở Hạ Lào và cuối cùng là đông bắc Cam Pu Chia, địch phải liên
tiếp điều lực lượng từ các chiến trường nhất là từ miền Bắc đến để đối
phó, nhưng cũng không hạn chế được nhịp độ phát triển nhanh và ngày một
sâu xuống phía nam của ta.
Về cách đánh chiến dịch, ngay từ đầu
cũng như trong quá trình phát triển chiến dịch, ta đã liên tiếp triển
khai thế trận chia cắt địch. Ta đã chia cắt địch trên các đường chiến
lược số 12, số 9 và số 13, chia cắt địch trên từng khu vực, từng địa
bàn. Với lực lượng ít hơn địch nhiều, song ta đã từng bước chuyển hướng
tiến công, đánh vào những vùng quan trọng về chiến lược, nhưng mỏng yếu
của địch, nhằm chia cắt địch, tiêu diệt từng bộ phận sinh lực của chúng,
mở rộng vùng giải phóng và thực hiện yêu cầu chiến lược thu hút, phân
tán chủ lực địch.
Trong thực hành chiến dịch ta đã rất linh hoạt
trong đánh điểm diệt viện và truy kích địch. Ta đã chọn các mục tiêu
vừa sức nhưng lại có vị thế quan trọng trong hệ thống phòng thủ của
địch, tạo nên sự chấn động lớn, buộc chúng phải ứng cứu giải toả để ta
đánh địch ngoài công sự hoặc tạo thuận lợi uy hiếp tiến công các mục
tiêu chính. Khi địch rút chạy, mặc dù địa hình không quen thuộc, nhưng
bộ đội ta đã biết dựa vào bạn, khẩn trương nhanh chóng, quyết tâm truy
kích địch đến cùng.
Một nét nổi bật trong Chiến dịch Trung - Hạ
Lào là sự phối hợp chặt chẽ giữa các cánh, các hướng; giữa bộ đội Việt
Nam với nhân dân và lực lượng vũ trang nước bạn. Đó là sự hiệp đồng
chiến đấu với ý thức chủ động rất cao giữa các lực lượng thuộc các đơn
vị khác nhau trên một địa bàn chiến dịch rộng lớn, kéo dài từ Trung Lào
đến đông bắc Cam Pu Chia. Sự phối hợp hành động của nhiều lực lượng trên
một phạm vi rộng trong Chiến dịch Trung - Hạ Lào, chứng tỏ trình độ tổ
chức chỉ huy, hiệp đồng cấp chiến dịch của ta có bước phát triển quan
trọng.
_______________________________________
1. Số
vũ khí thu được gồm: 647 súng trường, 315 tiêu liên, 85 trung đại liên,
12 súng cối, bảy ĐKZ, bốn khẩu pháo 105mm, 63 máy vô tuyến điện.
|
|
|
|
|
__________________________________
1. Kết
quả trong chiến dịch, đã đảm bảo 50 tấn đạn, cứu chữa 1.350 thương
binh, và 1.024 bệnh binh. Hội đồng cung cấp Mặt trận đã tiếp tế cho bộ
đội 3.409 tấn gạo, 154 tấn muối, 2.102 con trâu bò, huy động 54.075 dân
công phục vụ chiến dịch thành 1.974.800 ngày công, cùng 1.429 thuyền,
2.217 xe đạp thồ.
|
|
|
|
|
Nhận xét
Đăng nhận xét