Rất nhiều tư liệu, thư tịch cổ đại
hiện vẫn đang được cất giấu bí mật, ngoài tầm với của công chúng trong
các căn hầm phủ bụi của các thư viện trên thế giới.
Năm
1961, Doru Todericiu, Giáo sư ngành Khoa học và Kỹ thuật tại Đại học
Bucharest, đã tình cờ tìm thấy một tư liệu cổ đại, với tên gọi là Bản
thảo Sibiu.
Đây là
một tập bản thảo lớn, dày 450 trang có niên đại từ khoảng năm 1570, tức
là trước đó vài thế kỷ. Nội dung bản thảo này trình bày các số liệu kỹ
thuật liên quan đến một loại tên lửa nhiều tầng, pháo và môn đạn đạo
học.
Ảnh miêu tả tác giả Bản thảo Sibiu, ông Conrad Haas, đang thử nghiệm tên lửa. (Ảnh: Internet)
Khám phá
này đã bị thất lạc theo thời gian, bởi vì các nhà sử học không cho rằng
phát minh này có tầm quan trọng lớn đến vậy đối với lĩnh vực hàng không
vào buổi sơ khai.
Tư liệu
này cuối cùng đã được đăng trên một Tạp chí Xét lại Lịch sử Romania vào
năm 1967 dưới tiêu đề “Bản thảo Sibiu” (“The Sibiu Manuscript”, Doru
Todericiu, Revue Roumaine d’histoire, 1967, ed. Académie de la
république Socialiste de Roumanie).
Trong phần thứ ba của “Bản thảo Sibiu” có một báo cáo chi tiết về một “cái lao bay (flying javelin)” với tầm bắn hiệu quả [1] đáng
kể và sự kiện phóng một tên lửa nhiều tầng tại thành phố Sibiu vào năm
1555. Vụ phóng tên lửa này đã thành công trước sự chứng kiến của hàng
nghìn người.
Một tên lửa nhiều tầng đã được ông Conrad Haas miêu tả trong “Bản thảo Sibiu”. (Ảnh: Internet)
Bản thảo
này miêu tả các nguyên lý của một tên lửa nhiên liệu rắn 3 tầng, đồng
thời trình bày các bản vẽ thiết kế. Tác giả bản thảo này là Conrad Haas
(khoảng 1509-1579), một viên sĩ quan pháo binh người Áo, người đứng đầu
kho pháo binh ở thành phố Sibiu từ 1550 đến 1570, và là một công dân của
Sibiu (trước là Hermannstadt) thuộc Romania.
Bản
thảo của ông Conrad Haas vẫn còn tồn tại và nó là bằng chứng tư liệu
của một phát minh “hiện đại” được sáng tạo ra gần 500 năm trước! (Ảnh:
Internet)
Ảnh tô màu (không phải nguyên bản). (Ảnh: Internet)
Về sau
các tên lửa loại này đã được các phi hành gia sử dụng trong nhiều chương
trình không gian khác nhau, bao gồm Mercury, Gemini, và Apollo. Chúng
thường được phóng lên không gian tại Mũi Canaveral (hay mũi Kennedy) ở
bang Florida, Mỹ.
Bản thảo Sibiu đã chính thức trở thành bản thảo về tên lửa đầu tiên trên thế giới.
Hai
chiếc tên lửa này, một chiếc 2 tầng, một chiếc 3 tầng, đã được phóng
lên không gian tại Sibiu, Romania. Chúng được thiết kế bởi Conrad Haas.
Các bằng chứng tư liệu hiện nằm ở Bảo tàng Sibiu, Romania. (Ảnh:
Internet)
Lúc ban
đầu, ông Haas thiết kế và chế tạo tên lửa có hai tầng, mỗi tầng có đường
kính khác nhau, nhưng tầng này lọt được vào bên trong tầng kia (xem
hình trên). Nhưng trong thí nghiệm được tiến hành vào năm 1555, ông Haas
đã thử nghiệm một loại tên lửa 3 tầng.
Bản thảo
của ông Conrad Haas vẫn còn tồn tại và nó là bằng chứng tư liệu của một
phát minh “hiện đại” được sáng tạo ra gần 500 năm trước! Có thể liệt kê
một số phát minh và ý tưởng của ông như sau:
Hình dung ra tàu vũ trụ hiện đại;
Tên lửa nhiều tầng (hai tầng và ba tầng)
Nhiên liệu tên lửa với tỷ lệ thành phần nhiên liệu khác nhau trong tên lửa nhiều tầng
Việc
sử dụng nhiên liệu lỏng với các hỗn hợp khác nhau của nó, phụ thuộc vào
kiểu loại, tầm bắn, năng lượng và hình dáng của tên lửa
Sử dụng cánh tam giác (delta wing) để giữ ổn định.
Bằng chứng hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Sibiu, Romania.
Lady Sala Shabazz, người sáng lập Bảo tàng International Black Inventions Museum, từng nói:
“…
Điều đáng tiếc là, rất nhiều lần những người được ủy nhiệm viết các sách
giáo khoa đã biểu lộ các thành kiến khi loại bỏ các dữ liệu lịch sử
[quan trọng] khác. Với nỗ lực bao trùm một quãng lịch sử thật dài, họ đã
tóm lược lịch sử và bỏ sót rất nhiều thông tin quan trọng khác. Đây là
điều không mấy người biết được”.
Rất
nhiều người biết đến thành phố Sibiu bởi vì đây là nơi sinh của Hermann
Oberth, người được nhìn nhận là một trong ba vị cha đẻ của ngành tên lửa
học và ngành du hành vũ trụ hiện đại.
Chú thích của người dịch:
[1] Tầm bắn hiệu quả (hay
tầm bắn hiệu quả tối đa) của một loại vũ khí là khoảng cách xa nhất một
phát bắn hiệu quả có thể vươn tới, được ước tính với độ chắc chắn hợp
lý. Nó được quyết định bởi một số yếu tố: loại đạn được bắn, độ chính
xác cố hữu của vũ khí, và thể tích của đạn.
Tác giả: Ellen Lloyd, Message to Eagle. Đăng tải với sự cho phép. Đọc bản gốc ở đây. Quý Khải biên dịch
Vũ khí hủy diệt hàng loạt thời cổ đại
Thứ Ba, ngày 17/2/2015 - 07:31
So sánh giữa vũ khí hủy diệt trong sử thi Ấn Độ (India) và vũ khí hạt
nhân hiện đại, người ta phát hiện nhiều nét tương đồng. Liệu các loại vĩ
khí này có phải chỉ là trí tưởng tượng phong phú của người cổ đại
không?
Sử thi Mahabharata (1000 - 500 Trước Công Nguyên) là tác phẩm sử thi
lớn nhất của Ấn Ðộ, tập trung vào các cuộc xung đột quân sự, lý thuyết
chiến tranh, và vũ khí huyền bí. Nó giải quyết mâu thuẫn và xung đột
bằng cách sử dụng vũ khí hủy diệt hàng loạt.
Chiến tranh hạt nhân thời cổ đại
Nếu nhìn vào Mahabharata, ta bắt gặp những câu như sau: “Gurkha, bay nhanh và mạnh, ném một viên đạn duy nhất với quyền năng vũ trụ. Cột lửa khói dựng, sáng như vạn mặt trời, vút lên với tất cả sự lộng lẫy. Một tiếng sấm gầm, đốt toàn bộ cuộc chiến giữa Vrishnis và Andhakas thành tro bụi. Xác chết bị cháy đến mức không thể nhận dạng. Tóc và móng tay rời ra, gốm vỡ tan, những con chim trắng bệch… Sau một vài giờ, tất cả lương thực bị nhiễm độc… Ðể thoát khỏi ngọn lửa, người lính ném mình vào lòng suối, kỳ cọ thân thể và vũ khí”. Nếu loại vũ khí hủy diệt này có thật, chúng ta không phải là thế hệ tiên tiến nhất. Bạn vẫn còn nghi ngờ? Hãy đi sâu vào cuộc chiến tranh hạt nhân cổ đại này: “Ðó là một vũ khí mạnh mẽ. Nó có thể phá hủy trái đất ngay lập tức. Một âm thanh kinh hoàng bùng nổ trong khói và lửa. Nó gieo rắc cái chết…”
(Sử thi Ramayana) “Những tia lửa dày đặc tỏa ra như một vòi sen lớn, bắn khắp nơi, bao trùm kẻ thù… Bóng tối u ám nhanh chóng giải quyết đội quân của Pandava. Phương hướng của la bàn hỗn loạn trong bóng tối. Gió khốc liệt thổi, tắm không gian trong bụi đất và sỏi đá. Con chim cất giọng khàn điên cuồng… mọi thứ bị xáo trộn. Mặt đất rung chuyển, bị đốt cháy bởi nhiệt độ tàn khốc của loại vũ khí này. Những con voi bốc cháy, điên cuồng chạy tán loạn … Trên một diện tích rộng lớn, động vật vỡ nát trên mặt đất và chết. Các mũi tên lửa rơi xuống như mưa, liên tục và quyết liệt.”
(Sử thi Mahabharata) “Khi ngày mai đến, Samva tạo ra tia sét, thiêu đốt toàn bộ con
người trong chuộc chiến của Vrishnis và Andhakas thành tro bụi... Thực
tế được báo cáo cho nhà vua. Ðau đớn bởi hậu quả khôn lường, hoàng đế
nghiền sắt thành bột mịn, rải xuống biển.”
(Sử thi Mahabharata)
Mahabharata
So sánh với thực tế hiện đại, những gì được mô tả như tia sét sắt có thể
là phóng xạ sắt (Iron-59). Có phải người cổ đại biết sử dụng Iron-59
như một vũ khí hạt nhân?
Rải bột sắt xuống biển là cách thức tốt nhất. Nước là lá chắn hiệu quả đối với bức xạ hạt nhân. Phần ba của sử thi Mahabharata
cũng đề cập đến việc Vrishnis (hậu duệ của Yadu, con trai của Yayati)
chọn chỗ ở gần biển. Ðiều này liệu có liên quan gì đó đến chuyện tránh
bức xạ hạt nhân? “Hỏa hoạn, ngọn lửa nghiêng về bên trái. Ðôi khi, chúng lóe lên
tia lửa huy hoàng màu xanh và màu đỏ. Bầu trời dường như bị bao phủ bởi
một thân hình người không đầu. Trong nhà bếp, thực phẩm lúc nhúc vô số
các loại sâu bọ.”
(Sử thi Mahabharata)
Có thể, những câu văn này ám chỉ việc thực phẩm bị nhiễm độc.
Từ những phát hiện trên, thật khó để không nghi ngờ cuộc chiến trong
Mahabharata là chiến tranh hạt nhân. Phải chăng, từ xa xưa, người Ấn Ðộ
đã biết đến sự tồn tại của nguyên tử và năng lượng nguyên tử? Nỗi lo sợ ám ảnh lịch sử
Luôn có một nỗi sợ hãi khủng khiếp trong quá khứ xa xôi. Các đế quốc,
cả các nhà lãnh đạo Trung Quốc trước đây, có chung một nỗi lo sợ. Họ sợ
nền văn hóa của mình sẽ bị xóa sổ hoàn toàn vì một loại vũ khí thần
thánh nào đấy.
Sử thi của Ấn Ðộ vẫn còn nguyên vẹn. Tuy nhiên, toàn bộ hồ sơ lịch sử
của Nam Mỹ đã biến mất. Sợ hãi và các yếu tố khác xóa bỏ gần như tất cả
lịch sử của con người 5.000 năm trước.
Nhìn rộng hơn vào kiến thức cổ đại, chúng ta có những phát hiện không ngờ. Trong văn bản cổ Agastrya Samhita
của Ấn Ðộ, có hướng dẫn chế tạo pin điện chính xác. Theo truyền thuyết
của Ý (Italia), Saint Benedict (448 - 548 Sau Công Nguyên, một vị thánh
Cơ Ðốc Giáo (Khristos) nâng được một tảng đá nặng bảy người không khiêng nổi nhờ lực hấp dẫn.
Hoàng đế Thành Thang, Nhà Thương, Trung Quốc (lên ngôi năm 1766 Trước
Công nguyên), từng ra lệnh chế tạo một cỗ xe bay và gặt hái thành công
(?). Tuy nhiên, cỗ xe bay này bị phá hủy bởi sắc lệnh của triều đình.
Nghe nói Vua Thành Thang sợ bí mật chế tạo có thể rơi vào tay kẻ xấu. Thần Krishna và vũ khí hủy diệt hàng loạt Cakra
Arjuna
Thần Krishna trong Mahabharata được gọi là Ðấng Toàn Năng.
“Krish” có nghĩa là “vị trí” và “Na” có nghĩa là “cao” hoặc là “cao
nhất”. Thần Krishna ngự trên hành tinh thứ 20, Krishnaloka. Ông là người
có vị trí cao nhất trong các vị thần.
Mahabharata là sử thi miêu tả cuộc chiến tranh thành Kurukshetra,
giữa hai dòng họ Pandavas và Hastina (cả hai đều thuộc dòng dõi vua
Bharata). Trong cuộc chiến này, có một chiến binh được dẫn bởi Thần
Krishna, Arjuna. Chàng có họ hàng với cả hai bên tham chiến.
Krishna dạy cho Arjuna nghệ thuật tự vệ và cách an định tinh thần
(Yoga). Tuy nhiên, ở đây, chúng ta không bàn về mối quan hệ giữa các vị
thần và con người. Cái được chú ý là vũ khí hủy diệt mà Thần Krishna
trao cho Arjuna, Cakra (còn có tên khác là Sudal Sana). Nó là sức mạnh
đảm bảo chân lý được thực thi.
Cakra có tính năng phá hoại mạnh nhất. Khi nó phát nổ sẽ tạo ra một cột sáng cực nóng, đốt cháy cả bầu trời.
Trong lúc chiến tranh hỗn loạn, một anh em họ của Arjuna khởi động vũ
khí hủy diệt có tên gọi là Barma Satara. Nó được cho là loại vũ khí có
năng lượng cực mạnh.
Làm thế nào anh em họ của Arjuna khởi động Barma Satara? Sử thi không
ghi lại. Còn Arjuna cần phải có sự đồng ý và hướng dẫn của Thần Krishna
mới có thể khởi động Cakra.
Sự phát nổ của Barma Satara tạo ra lớp lớp các tia lửa nóng trên bầu
trời. Arjuna phải cầu xin Thần Krishna cho phép bảo vệ Trái Ðất khỏi sức
nóng khổng lồ. Dưới sự hướng dẫn của Thần Krishna, Arjuna làm chệch
hướng làn sóng nhiệt lên trời. Làn sóng nhiệt khổng lồ tản rộng trong
bán kính hàng chục km và cao mười dặm. Các cấp độ của Cakra
Theo Thần Krishna, Cakra được chia thành ba cấp độ.
Cấp cao nhất là Sudal Sana, chưa từng được sử dụng. Nó là vũ khí bí
mật độc quyền của Thần Krishna, có khả năng phá hủy hàng chục hành tinh
một lúc.
Cấp thứ hai là Barma Satara. Nó được chia thành bảy cấp khác nhau.
Barma Satara được sử dụng trong chiến tranh thành Kuruthesa là Barma
Satara cấp năm.
Mức độ phá hoại của bốn cấp đầu không được nhắc tới.
Barma Satara cấp sáu tương đương với sự tàn phá của bom nguyên tử Mỹ ném xuống Hiroshima, Nhật Bản.
Barma Satara cấp bảy được sử dụng với mục đích bảo vệ, rắc thuốc lên toàn thế giới.
Cấp thứ ba của Cakra được chia thành 11 mức khác nhau.
Kinh thánh tiếng Phạn (tiếng Ấn Ðộ cổ) đề cập nhiều đến việc các vị
thần sử dụng vũ khí có sức mạnh hủy diệt tương tự như năng lượng hạt
nhân. Tuy nhiên, chúng không được sử dụng như các vật liệu trần thế. Lợi
thế của các loại vũ khí thần thánh này là nguồn năng lượng cực lớn. Nó
được các thần sử dụng để kiểm soát, điều khiển nhân loại.
Người Ấn Ðộ cổ đại tin sấm sét là một phần nhỏ của Barma Satara, có thể xua đuổi ma quỷ và ngăn chặn mưa. Thần chú Chakra
Ngoài Cakra, chúng ta nên quan tâm đến một vũ khí khác có sức mạnh tương đương trong Mahabharata. Ðó là Chakra.
Chakra là cách tấn công được kích hoạt thông qua thần chú, chỉ có thể phát huy công dụng nhờ vào thần chú.
Tiến trình bùng phát năng lượng hạt nhân cổ đại bằng thần chú được
miêu tả như sau. Thứ nhất, đọc thần chú. Thứ hai, các thành phần của
trái đất bị thay đổi, sóng nhiệt và tia sáng khổng lồ bắn vào không khí.
Thứ ba, đám mây quang và nhiệt tập trung, hình thành một lớp dày trên
bầu khí quyển của trái đất. Thứ tư, tia lửa tỏa ra từ đám mây quang, đâm
vào trái đất, dẫn đến sự hủy diệt lớn. Thứ năm, tia lử kết hợp với gió
và không khí, tạo ra đám cháy khổng lồ.
Thần chú Chakra phản công đuợc chia làm ba giai đoạn. Thứ nhất, đọc
phần chú. Thứ hai, các tia lửa bị chặn lại giữa không trung. Cuối cùng,
tia lửa và nhiệt tan biến hết.
Trong Mahabharata, Arjuna sử dụng thần chú Chakra để ngăn chặn tia lửa và làn sóng nhiệt thâm nhập vào Trái Ðất.
Nếu dường như người ta không chút nghi
ngờ rằng tên lửa được phát minh ở Trung Hoa, thì niên đại và các điều
kiện đã phát minh ra nó lại không được xác định một cách chắc chắn.
Không phải vì không có bằng chứng bằng văn bản, mà vì không thể biết
những sử biên niên và các tài liệu mô tả thời đó là nói về những dụng cụ
để phóng hỏa, mang theo chất cháy, nhưng được phóng đi bằng cung, nỏ
hoặc máy móc khác hay đúng là nói về tên lửa thực sự được đẩy bằng cách
phụt khí, do thuốc nổ tạo ra.
Lịch sử phát triển của tên lửa
Thật vậy, người ta đã xác minh được rằng hỏa tiễn mà văn bản cổ nhất nói tới, thực ra chỉ là những mũi tên mang chất cháy. Nếu chỉ căn cứ vào những bằng chứng hòan toàn xác thực, thì hình như pháo hoa
kiểu tên lửa, dạng áp dụng đầu tiên của lực đẩy của thuốc pháo, đã trở
thành trò chơi dân gian ở Trung Hoa trong triều đại Đường (618-907).
Còn việc vận dụng chính lực đẩy ấy để phóng mũi lao tới quân thù thì
việc đó được xác nhận bởi nhiều chuyện kể về những trận đánh của người Trung Hoa
chống Mông Cổ trong thế kỉ XIII. Nói riêng, trong cuộc bao vây kinh
thành Khai Phong của họ, người Trung Hoa đã sử dụng thành công những hỏa tiễn đẩy một tên lửa nhỏ, gồm ống tre chứa đầy thuốc pháo và buộc vào gần mũi nhọn, lỗ hở hướng về nơi lắp cánh đuôi hỏa tiễn.
Chính những người Mông Cổ đã phổ biến kĩ thuật tên
lửa ra hầu khắp mọi nơi, trong các chiến dịch của họ. Nói riêng, họ đã
sử dụng chúng gần Budapest năm 1241, rồi ở Bagdad năm 1251.
Nhưng chủ yếu lại qua người Arập mà người châu Âu biết đến thuốc súng lẫn tên lửa. Tuy Albert le Grand đã cho công thức làm "lửa bay" trong cuốn sách "Về những điều kì diệu về thế giới"
của ông, nhưng lại nhờ Marcus Graecus hay Marc le Grec (Marc người Hy
Lạp) mà chúng ta có một bản mô tả chi tiết tên lửa, trong cuốn Sách về
những ngọn lửa để đốt quân thù của ông. Cuốn sách có lẽ đã xuất hiện
trong khoảng từ 1225 đến 1250, hoặc 1270. Chúng ta cũng ghi nhận rằng,
trong số các nhà tiên phong về kĩ thuật tên lửa thời Trung cổ, thì người
Italia là Muratori từ 1379 đã dùng thuật ngữ rochetta, được người Pháp
chuyển thành roquette, rồi đến người Anh lại thành rocket.
Trong nhiều thế kỉ, tên lửa không tiến thêm chút nào.Chủ nghĩa kinh
nghiệm mạnh nhất vẫn ngự trị trong việc chế tạo vỏ đạn mà phấn cuối làm
nhiệm vụ của ống phụt, có hiệu suất thảm hại.
Từ cuối thế kỉ XVII, để làm tiết mục trung tâm cho buổi bắn pháo hoa,
người ta sửdụng những tên lửa mạnh hơn, có thể đưa một trọng tải lên
cao, chủ yếu là những lá cờ và nhiều vật nhỏ khác, sau khi được phóng
lên không trung, sẽ lần lượt rơi xuống đất. Đó đây người ta còn có ý đồ
buộc vào đó một con vật nhỏ, cho nó rơi xuống- ôi, xiết bao kinh hoàng -
treo lủng lẳng vào một cái dù sơ sài.
Năm 1804, sĩ quan Anh William Congreve trở về từ Ấn
Độ, nơi mà ông đã phải chịu đựng những cuộc tấn công chết người của
những tên lửa của Tippoo Sahib, quốc vương Hồi giáo cuối cùng của
Mysore, thuyết phục được chính phủ của hoàng đế Anh giao phó cho ông
công việc mà sau nàu sẽ là cuộc nghiên cứu thuần lí về tên lửa quân sự
đầu tiên. Ông hoàn chỉnh được một mẫu nặng 15 kg, có tầm xa từ 2500 đến
3000 m, sau đó hai nghìn phiên bản được phóng vào thành phố Boulogne từ
1806. Ngay lập tức, các cường quốc khác quan tâm tới thứ vũ khí
mà họ đã sử dụng lẻ tẻ trong quá khứ đó, và nhiều tiến bộ đã đạt được
hầu như ở khắp mọi nơi. Nhưng, vào giữa thế kỉ XIX, tên lửa chiến tranh
dùng thuốc súng đã bị thay thế bởi đạn đại bác.
Năm 1898, lịch sử lâu dài của tên lửa đầy thăng trầm đã có một bước ngoặt quyết định. Một thầy giáo Nga không tên tuổi, Constantin Tsiolkovski đặt cơ sở khoa học cho ngành du hành vũ trụ dựa trên việc sử dụng đẩy tên lửa dùng chất đốt lỏng.
Công lao của thầy giáo tỉnh Caluga lại càng lớn, vì các chất lỏng mà
ông đề nghị từ 1903 lại chính là hydro và oxy lỏng, mà hiện nay, vẫn là
nhiên liệu (hay propecgol) của những tên lửa tiến bộ nhất.
Lúc đó, vẫn còn quá sớm để các giới cầm quyền và các công ty tư nhân
quan tâm tới tên lửa. Bản thân các nhà quan sự cũng coi như thời đại của
các công cụ đó đã kết thúc. Vì vậy, trong cả một phần ba thế kỉ XX,
việc nghiên cứu những công cụ ấy vẫn là công việc luôn luôn nhiệt tình,
và thường không chút vụ lợi của một vài nhà tiên phong đơn độc. Trong ba
chục năm, Tsiolkovski đã cung cấp một công trình lí thuyết đồ sộ. Ở
Pháp, từ 1912, Robert Ernault Pelterie trong một bài báo nhan đề Nhận
định về kết quả của một cách làm giảm trọng lượng động cơ, đã bàn về
việc dùng các tên lửa để phóng các thiết bị vũ trụ.
Nhà phát minh Robert H. Goddard với tên lửa sử dụng nhiên liệu lỏng đầu tiên trên thế giới.
Cũng trong thời kì ấy, một giáo sư vật lí Mĩ trẻ Robert H. Goddard bắt đầu sự nghiệp phi thường của nhà nghiên cứu đơn độc. Những cuộc thử nghiệm đầu tiên về tên lửa dùng thuốc súng
của ông được làm năm 1915. Rồi ông làm việc cho quân đội Mĩ, nhưng đến
khi đình chiến, quân đội chẳng còn quan tâm đến công trình của ông. Thế
là Goddard đành phải tiến hành những nghiên cứu cá nhân.
Năm 1919, ông cho xuất bản một cuốn sách kinh điển về kĩ thuật tên lửa: Phương pháp để đạt những độ cao cực lớn. Năm 1923, ông theo quan điểm của Tsiolkovski và hướng các nghiên cứu của mình vào tên lửa dùng nhiên liệu lỏng.
Ba năm sau, ông đã thực hiện thành công chuyến bay đầu tiên, nhưng ngắn
ngủi của một tên lửa nhỏ, phóng lên bằng một hỗn hợp dầu thắp đèn (dầu
lửa) và oxy lỏng, lên cao được 30m. Trước sự thờ ơ của các cơ quan chính
quyền, các nhà quan sự và những nhà công nghiệp chính chắn nhất,
Goddard vẫn theo đuổi sự nghiệp dũng cảm của mình, và ngay trước Thế
chiến Thứ hai, tên lửa của ông - bao gồm đủ các bộ phận của máy phóng
thiết bị vũ trụ tương lai - đã lên cao được 2200m và đạt vận tốc 1000
km/h. Nước Đức cũng có nhà tên lửa học đơn độc riêng của họ, Hermann Oberth, người đã công bố một tác phẩm nhan đề "Tên lửa phóng tới không gian giữa các hành tinh", từ năm 1923. Ông cũng cần sự giúp đỡ, và năm 1928, đã nhận làm cố vấn kĩ thuật cho bộ phim Một phụ nữ trên Mặt trăng,
của Fritz Lang, hợp đồng buộc nhà làm phim phải cung cấp số vốn cần
thiết để chế tạo một tên lửa thật sự, dùng chất đẩy lỏng, tên lửa này
phải được phóng khi phim xuất xưởng. Cuộc phóng này không thực hiện
được, vì Oberth là một nhà lí thuyết hơn là một nhà thực hành và không
hoàn thành được nhiệm vụ đúng thời hạn mong muốn, nhưng sự việc đã có
tác dụng tốt và gây được trong giới trẻ của Đức một trào lưu dư luận
rộng lớn vì sự nghiệp du hành vũ trụ. Quanh Oberth, chẳng bao lâu đã có
một nhóm nhà kĩ thuật trẻ tập hợp, trong số đó có Wernher von Braun
nhanh chóng nổi trội.
Một nhiệt tình tương tự ở Nga cũng khuấy động nhiều thanh niên thi
đua với Tsiolkovski. Vào cuối những năm 1920, những người thúc đẩy phong
trào là Fridrikh A. Tsander, người chế tạo những tên
lửa chất lỏng đầu tiên năm 1930 và Valentin P. Glushko đã chế tạo nhiều
tên lửa lớn từ 1930 trở đi. Một số tên lửa ấy sau này được dùng để đẩy
một máy bay - tên lửa được thiết kể bởi Serge Korolev,
một kĩ sư hứa hẹn một vận mệnh rực rỡ, nhưng không còn được nghe nói đến
trước khi qua đời. Thật vậy, chiến tranh đang tới gần, và các nghiên
cứu đều hướng về việc hoàn chỉnh các thiết bị quân sự được bao phủ trong
màn bí mật.
Người ta được biết rõ hơn về điều xảy ra ở Đức. Những nhà nghiên cứu
nghiệp dư của VfR (Verein fue Raumchiffart, Hội du hành vũ trụ), sau khi
dùng tên lửa để đẩy ôtô - do đó quảng cáo được cho cả sự nghiệp của họ, lẫn cho hãng Opel
- đến năm 1930, đã bắt đầu thử nghiệm những tên lửa nhỏ dùng nhiên liệu
lỏng. Tuy nhiên, nhiệt tình của hội đã bị cuộc khủng hoảng kinh tế dập
tắt, và năm 1932, những người lãnh đạo đã phải yêu cầu sự giúp đỡ của
quân đội. Chính là sau một cuộc trình diễn, được tổ chức bấy giờ cho các
chuyên gia quân sự, mà các vị này nắm bắt được lợi ích của tên lửa dùng
nhiên liệu lỏng để làm phương tiện vận tải vũ khí tấn công. Theo lời
khai của chính Von Braun thì lúc ấy, ông đã được tướng W. Domberger mời
gia nhập trung tâm nghiên cứu mà tướng đó lãnh đạo "để cung cấp cho ông những phương tiện thực nghiệm nhằm làm luận văn tiến sĩ về tân lửa của ông".
Năm 1936, đèn xanh đã được bật cho tướng Domberger và vị tướng này đã
xây dựng trên bờ biển Baltique trung tâm nổi tiếng Peenemunde, về
nghiên cứu khí tài quân sự, mà Von Braun đảm nhận ngay quyền lãnh đạo kĩ
thuật. Khi số mệnh trở nên bất lợi cho các lực lượng vũ trang Đức,
Hitler mới hiểu ra, một cách muộn màng, tầm quan trọng của tên lửa tầm xa.
Những phương tiện rất lớn đã được trao cho Domberger, và đã có lúc có
tới 20.000 người làm việc tại Peenemunde, hoặc để phục vụ cơ sở ấy. Kết
quả là ngày 3 tháng 10 năm 1942, tên lửa thí nghiệm đầu tiên A-a được
phóng lên. Ngày 8 tháng 9 năm 1944, dụng cụ nặng 15 tấn, mang một tấn
thuộc nổ này, được đưa vào hoạt động với tên gọi V2 đã được phóng sang London và Paris.
Cuối chiến tranh, Von Braun cùng nhiều thành viên trong nhóm của ông
đã rút khỏi Peenemunde trước khi quân Nga đến, và sang Hoa Kì cùng với
một kho tên lửa V2. Chính là với những con người và
thiết bị ấy mà Hoa Kì bắt đầu các nỗ lực của họ trong lĩnh vực các chiến
cụ vượt đại châu, và nghiên cứu vũ trụ. Ông tổ của những tên lửa lớn,
nhiều tầng, hiện được phóng từ căn cứu Kennedy là một tên lửa V2, trên
đó có lắp một tên lửa Wac-Corporal nhỏ. Thiết bị này, phóng lên ngày 24 tháng 2 năm 1949 đã có thể đạt độ cao 403 km. Đó là một tên lửa Redstone (đá đỏ) mà nhóm của Von Braun chế tạo trước hết. Rồi từ dụng cụ 20.400 kg xuất xứ từ V2 này, lại đến tên lửa Jupiter, 47.600 kg, tiêu thụ kêrôxen và oxy lỏng. Chính là với Jupiter mà người Mĩ đã phóng thành công vệ tinh đầu tiên của họ, ngày 1 tháng 2 năm 1958.
Ba tháng trước đó, dư luận quần chúng cũng như các nhà chuyên môn đã sửng sốt trước việc phóng vệ tinh Spoutnik,
nặng 84 kg của Nga, tiếp theo là một vệ tinh khác, nặng 508 kg, chỉ sau
đó một tháng. Như vậy, rõ ràng là ở Liên Xô, người ta cũng tin cậy vào
các nhà tên lửa học, và các nghiên cứu đã được tiến hành lâu năm ở đó
dưới sự bảo trợ của nhà nước, và trong sự bí mật hoàn hảo nhất. Chẳng
hạn, phải đến năm 1966, quốc tang dành cho Serge Korolev, mà không ai
nghe nhắc đến từ những năm 1930, mới để lộ ra rằng ông chính là cha đẻ
của các tên lửa vũ trụ của Liên Xô.
Ngay sau đó, người ta chế tạo những tên lửa ngày càng mạnh, càng đáng
tin cậy hơn, để thỏa mãn các nhu cầu nghiên cứu vũ trụ và du hành vũ
trụ. Một trong những tên lửa độc đáo hơn cả và được sử dụng lâu dài hơn
cả (một vạn lần phóng) không còn nghi ngờ gì nữa là tên lửa R-7
của Korolev; được thử nghiệm có kết quả trong tháng 8 năm 1957, thì
ngay tháng 10 nó đã đưa được lên quỹ đạo vệ tinh nhân tạo đầu tiên, Spoutnik-1.
Tầng thứ nhất của nó gồm hai mươi ống phụt, thành thử đường kính đáy
của nó lên tới 10m. Từ lúc đó, diễn ra một cuộc ganh đua giữa Liên Xô và
Hoa Kì. Cuộc chạy đua về sực mạnh đã đem lại thắng lợi cho người Mĩ,
vào tháng 11 năm 1967, với sự phóng lần đầu của tên lửa Saturn-5 do nhóm của Von Braun xây dựng. Nó cao 110m, cân nặng 2700 tấn lúc cất cánh và có thể đưa lên mặt trăng một con tàu Apollo
45 tấn, nhưng nó chỉ được chế tạo tới phiên bản thứ 18. Energia của Nga
đã là tên lửa mạnh nhất thế giới, từ ngày nó được đưa vào hoạt động,
tháng 5 năm 1987, cho đến khi ngừng khai thác, năm 1995 (vì lí do kinh
tế).
Cuối cùng, nước Pháp đã trở thành cường quốc vũ trụ thứ ba, vào năm 1965, với việc đưa quả vệ tinh nhỏ Astéris lên quỹ đạo, bằng tên lửa Diamant A.
Tên lửa Arian của châu Âu đã bắt đầu sự nghiệp vinh quang của nó năm
1979; cao 48m, Arian có thể đưa từ bệ phóng Kourou ở Guyana, lên quỹ đạo
địa tĩnh, những thiết bị nặng tới 1750 kg, năm 1996, Arian-5 đã có một
khả năng phóng 6700 kg. Sự tăng khối lượng của các vệ tinh này, sở dĩ
trở thành khả dĩ, là nhờ sự phát triển của những thiết bị phóng dùng sự
đẩy với kĩ thuật nghiệm lạnh (tức là dùng oxy và hydro lỏng).
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét