Cuối thế kỷ 16, quan hệ giao
thương giữa Việt Nam và các nước phương Tây bắt đầu phát triển. Thuận
theo đó, các giáo sĩ, thương nhân cũng vượt biển đến nước ta truyền đạo,
buôn bán, làm ăn. Trong quá trình truyền đạo, để lưu dấu những ngày
tháng sống ở đất khách quê người, họ đã chép lại rất tỉ mỉ phong tục,
văn hóa, sinh hoạt của người bản địa. Đại Kỷ Nguyên xin phép được trích
đăng lại những tư liệu quý giá đó, thông qua bản dịch của học giả Nguyễn
Trọng Phấn (1910 – 1996) đăng trên tạp chí Thanh Nghị.
Marini (1608 – 1682), sinh ra ở
Taggia (Ý), từng có 14 năm ở Bắc kỳ, ông có những ghi chép rất tỉ mỉ về
cuộc sống ở đây, khi đó vẫn còn gọi Đàng Ngoài. Thủy quân Đàng Ngoài thế
kỷ 17 đã được ông tả lại rất sinh động trong những ghi chép sống động
của mình và mối quan hệ so sánh với thủy quân châu Âu.
Thi chèo
Bọn
thuyền thủ bơi thường không có ghế ngồi, tay cầm chèo, mỗi bên mạn
thuyền là hai mươi nhăm đến ba mươi người. Khác với thủy thủ Âu châu, họ
quay mặt về phía mũi thuyền. Theo hiệu của người hoa tiêu, họ bơi có
nhịp, rất đều, lúc nhanh, lúc chậm, theo tiếng gõ vào thanh gỗ đặt chéo
trên một bệ cao đằng cuối thuyền là chỗ người hoa tiêu lên ngồi để hướng
dẫn và điều khiển.
(Ảnh minh hoạ: Internet)
Vui nhất
là khi ta thấy một chiếc thuyền bị đuối lại và bị các thuyền khác bỏ
xa. Thôi thì tiếng kêu gào, lời chế nhạo, sự xấu hổ làm kích thích bọn
trai bạn. Bọn này bỏ lối chèo lúc trước, nghiến răng, mắm môi, giậm chân
xuống sàn thuyền thỉnh thoảng lại cổ vũ nhau, gập cong lưng, cúi mình
có khi đầu chạm bàn tay cầm mái chèo; thu toàn lực, họ vội vàng đến nỗi
người như sút đi chỉ còn lại một nửa, đầu mái chèo chỉ chạm sơ xuống
nước, thuyền bay hơn là trôi đến gần những người khác rồi, họ đứng thẳng
người lên, không bơi dữ dội như thế nữa, thở một chút để phòng lúc gần
đến đích đã chọn họ còn hơi dấn lên trước nhất.
Mà khi
đã trông thấy, nhận thấy đích từ đằng xa rồi, thì hình như ngủ say sực
tỉnh, họ đứng thẳng mắt trông đích, tay cầm chèo. Họ đặt tất cả hy vọng
vào hai cánh tay, làm rung chuyển mái chèo thiếu chút nữa thì chèo gãy;
chân tay rã rời, đầu nghẹo đi, cằm tựa lên một bên vai; giá mái chèo
không làm bằng một thứ gỗ mềm và sai khiến được thì nhiều chiếc đã gãy
rồi. Thuyền nào về đích đầu tiên, được thưởng và hoan hô vang giời.
Đức vua
còn đến quán dịch có hai tầng này với các triều thần mỗi khi nước lụt,
xem nước lên biến những cánh đồng rộng thành bể cả tai hại đến thế nào,
ngài cho là một sự vui thích dị kỳ khi đứng trên lầu các này xem bao
nhiêu dân đã sống bì bõm trong đồng nước…
Chèo chống giỏi, chinh chiến quen
Đức vua
có 2000 chiến thuyền không kể vô số những thuyền con nữa. Tuy vậy thủy
quân của ngài cũng không được bằng các hạm đội tàu bên Âu châu về súng
ống. Và cái nào cũng phải sửa soạn ra khơi để phụng sự đức vua. Như thế
ngài có thể lập được nhiều thủy đội mà không tốn kém lắm…
Trong
một cuộc đi thăm, đức vua lên hành hương trên một ngôi đền (hay chùa)
của một viên thái giám thân tín của ngài mới lập lên, tôi thấy suốt dọc
sông chạy bên đường, trên một quãng dài trông như một rừng (cột buồm),
một số thuyền đi hộ giá ngài nhiều đến nỗi đếm không xuể. Tôi đâm chán
và mải ngắm một quang cảnh thích ý và vui mắt. Tôi giao việc đếm thuyền
cho người khác.
(Ảnh minh hoạ: Internet)
Những
chiến thuyền này dài chừng ba mươi đến ba mươi nhăm thước và rộng chừng
mười bốn, mười lăm thước. Không có gì trở ra hai bên sườn như thuyền
chiến Âu châu, ở đằng đầu cũng không có mũi nhọn (để đâm thủng tàu bên
địch). Bánh lái giống như bánh lái đò chở trên sông, ở cuối thuyền chớ
không ở một bên mạn.
Những
thuyền to như thuyền rồng, mỗi bên mạn có hai mươi nhăm mái chèo; thuyền
bè có mười tám hoặc hai mươi chiếc thôi. Mỗi mái một người chèo; thành
ra thuyền thủ chỉ có từ năm đến sáu chục người vừa chèo chống giỏi lại
vừa chinh chiến quen; đến dịp thì buông tay chèo, họ vớ súng lúc nào
cũng để gần cạnh và họ biết cách dùng rất thắng lợi.
Nhiều
thuyền không dùng còi. Những viên thuyền trưởng ngồi trên trong cái
phòng hay một cái đài cao đặt ở đằng lái, một tay cầm một thanh gỗ gõ
vào một thanh khác cầm ở tay kia lúc mau, lúc chậm để sai khiến sức
nhanh chậm của thuyền, bọn thủy thủ bơi rất đúng với mệnh lệnh của
thuyền tướng. Họ phải là bọn đồng tuổi đồng sức vóc, khéo léo và thạo
việc; họ đi chân đất đóng một chiếc khố nhưng mặc áo may cùng một thứ
vải với mũ.
Trên
thuyền, chỗ sang trọng nhất ở đằng lái: đấy có một khoang thuyền rất
xinh xắn và cân xứng với thuyền, bên ngoài có nét chạm trổ rất đẹp mạ
vàng; bên trong có dát vàng, quét sơn tinh tế và phủ những bức thêu bằng
lụa; dưới sàn giải chiếu cói mảnh; chung quanh khoang có bao lơn và
nhiều cột nhỏ đặt như chung quanh một dãy hành lang; có một hai khẩu
thần công đặt trên giá chứa được tám cân đạn.
Mũi
thuyền và lái thuyền đều tròn, cất cao khỏi mặt nước chừng bốn năm thước
có trạm nhiều hình, lá nổi, thếp vàng, sơn màu rất thanh nhã, đẹp mắt.
Mạn thuyền là chỗ đặt bơi chèo cũng được trang điểm bằng những hình chạy
thành hàng chung quanh thành.
Họ không
dùng nhựa thông hoặc mỡ bò phết thuyền, nhưng dùng một thứ sơn thường
pha giống như sáp Tây Ban Nha, khi nào ánh nắng vào, thuyền sáng nhoáng
làm mắt bị chói. Những thuyền ngự có nhiều vàng dát, bên trong khoang có
ít nhiều chỗ mạ vàng; tất cả các mái chèo của những chiếc thuyền này
đều sơn vàng. Thuyền nào cũng có mui che, vỉ phủ lên trên để che ánh
nắng gay gắt; có những thứ chiếu cói to đan rất khéo, chống lên nhiều
con sào và buộc vào những sào ấy bằng dây tơ.
(Ảnh minh hoạ: Internet)
Những
thuyền của các vương thân đại thần, thái giám cũng được trang hoàng ít
nhiều tùy theo sự chủ nhân những chiếc thuyền này tiêu vào đấy nhiều hay
ít. Thuyền cũng có cột và buồm nhưng tôi chỉ thấy họ dùng chèo thôi.
Chính vậy bọn chân sào vì lòng tự ái không bao giờ bỏ tay chèo, tuy
nhiều khi gió thuận, thổi từ đằng lái lên; họ không muốn đức vua và các
thuyền rồng chịu nguy hiểm vì sức gió, chỉ khi nào họ thi bơi, họ mới
giương buồm lên mà thôi.
Nguyễn Trọng Phấn (dịch)
Việt Nam qua tư liệu của người phương Tây (phần 5): Lối chữa bệnh lạ lùng của người Trung kỳ
Cuối thế kỷ 16, quan hệ giao thương giữa Việt Nam và các nước
phương Tây (Bồ Đào Nha, Anh, Pháp...) bắt đầu phát triển. Thuận theo
đó, các giáo sĩ, thương nhân cũng lũ lượt vượt biển đến nước ta truyền
đạo, buôn bán, làm ăn. Trong quá trình truyền đạo, để lưu dấu những ngày
tháng sống ở đất khách quê người, các giáo sĩ, thương nhân đã ghi chép
rất tỉ mỉ về phong tục, văn hóa, sinh hoạt của người bản địa. Đại Kỷ
Nguyên xin phép được trích đăng lại những tư liệu quý giá đó, thông qua
bản dịch của học giả Nguyễn Trọng Phấn (1910 – 1996) đăng trên tạp chí Thanh Nghị.
Cristoforo Borri (1585 – 1632)
là một cố đạo người Ý sang Trung kỳ vào khoảng 1618. Ông từng lưu lại ở
Hội An trong khoảng 4 năm *1618 – 1622). Năm 1631, khi trở về Roma, ông
cho xuất bản quyển sách in đầu tiên của châu Âu nói về Trung kỳ của Việt
Nam có tên: “Tường thuật về sứ mạng mới của các cha Dòng Tên tại Vương
quốc Đàng Trong”. Dưới đây là những dòng viết về thuật chữa bệnh của
người Trung kỳ.
Về các
ông lương y và phép chữa bệnh, tôi phải nói rằng ở Trung kỳ có rất nhiều
lương y người Bồ Đào Nha và bản xứ; thường có những bệnh rất lạ, không
có thuốc chữa đối với y sĩ Âu châu, thì ở đây các ông lang đã biết rõ
căn chứng rồi và chữa được rất dễ dàng. Đã nhiều lần các y sĩ Bồ Đào Nha
đã bỏ mặc người bệnh rồi tưởng thế là đi đứt, thì khi với đến ông lang
An Nam bệnh khỏi rất nhanh.
Những y sĩ bản xứ
(Ảnh: Internet)
Phương
pháp của các y sĩ An Nam là khi bước vào buồng con bệnh, họ đứng lại một
lúc để cho hết sự xúc động trong khi đi đường. Đoạn họ bắt mạch rất chủ
ý và cẩn thận; xong rồi họ nói rõ căn bệnh cho người ốm biết; nếu bệnh
không còn chữa được, cứu được nữa thì họ nói thật; tôi không có thuốc để
chữa, tỏ cho con bệnh rõ là không thể nào qua khỏi được; nếu họ đoán
rằng nhờ thuốc họ mà người ốm lành mạnh được, họ sẽ bảo cho ta biết là
họ có thuốc chữa ta và bao nhiêu lâu thì ta đi đứng được.
Xong rồi
thì họ tính tiền công, tùy theo bệnh nặng hay nhẹ. Cũng có khi, họ làm
giấy cam kết với gia chủ. Đoạn họ kê đơn và bốc thuốc lấy, không nhờ đến
bọn chế thuốc, một là để giữ kín, hết sức kín các đơn thuốc của họ, hai
là họ không dám tin và nhờ người khác bốc thuốc thay họ. Nếu đúng hạn
khỏi, bệnh nhân phải giả công cho thầy; nếu không khỏi thì thầy uổng
công và mất tiền thuốc.
Không
như thuốc ta làm cho người uống ghê tởm, “bụng mềm và dãn ra”, thuốc nam
dễ uống như nước cháo và rất bổ, uống vào không cần phải ăn cơm (?).
Nên một ngày người ốm uống mấy lần như ta uống nước xuýt. Đã không trái
với lẽ tự nhiên, thuốc lại còn bồi bổ những bộ phận trong người, làm
tiêu các khí độc, mà không hành người ốm.
(Ảnh: Internet)
Vào chỗ
này có một chuyện đáng kể: Một người Bồ Đào Nha ốm, nhờ các lương y Âu
châu chữa mãi không khỏi; người ta đành bỏ mặc anh ta chết đấy không đến
thăm nom nữa; sau vời một ông lang bản xứ đến; ông này cam đoan chữa
khỏi cho anh ta trong một kỳ hạn nhất định, nhưng căn dặn anh ta là
trong lúc để ông chữa, anh ta phải kiêng khem, sự đi lại với đàn bà cấm
ngặt; nếu anh ta trái lời thì không có thuốc nào chữa nữa; phải cữ đàn
bà mới sống được. Hai bên đồng ý làm giao kèo và ông lang nói chắc ba
mươi ngày thì khỏi.
Bệnh
nhân uống thuốc, vài ngày thấy khỏe khoắn và không còn sợ cái việc mà
ông lang đã cấm ngặt anh ta. Chuyện đến đấy thì ông lang lại thăm anh
ta, thấy mạch khác, bảo anh ta sửa soạn việc ma chay đi vì ông không còn
hy vọng gì nữa và hết phương để cứu sống rồi; bảo anh ta đừng quên giả
tiền công đã hẹn trong giao kèo vì anh ta chết không phải lỗi tự ông ta.
Việc đem đến cửa quan, án ra bắt người bệnh cùng ông lang; và án tuyên
rồi thì anh Bồ Đào Nha kia hấp hối.
Lá cỏ thần kỳ
Người
Trung kỳ còn biết chích huyết nữa; nhưng họ hà tiện máu người ốm hơn ta
và họ không dùng những dao chích thông thường đâu: họ có những lông
ngỗng trong có lắm “kim” bằng sứ rất sắc có cái to cái nhỏ, hình răng
cưa.
(Ảnh minh hoạ: Internet)
Khi phải
mở một ống hồi huyết quản nào, họ đặt lên trên ống ấy một chiếc lông
ngỗng lớn vừa bằng bề ngang huyết quản, chiếc “kim” vào nông hay sâu
đúng với ý muốn. Phải phục họ là sau khi lấy đủ máu rồi, họ chẳng cần
đến băng bó, vải thấm và dây buộc gì cả, chỉ đem nước bọt nhấm đầu ngón
tay cái rồi đem ấn lên chỗ lỗ thủng, họ làm cho thịt giở lại nguyên chỗ,
máu ngừng chảy và vết thương chóng lành. Tôi cho vì họ dùng chiếc “kim”
sứ có răng nên mạch máu chóng hàn miệng và đập được ngay.
Người Trung kỳ không thiếu những tay giải phẫu. Tôi chỉ muốn đem cách họ đã chữa tôi và một người bạn ra làm thí dụ.
Từ một
chỗ rất cao, tôi bị ngã xuống, dạ dày đập vào một khối đá; tôi thổ huyết
và ngực bị tổn thương. Uống thuốc tây chẳng đỡ chút nào. Lúc đó có một
ông lang chuyên nghề giải phẫu đến cho tôi một ít cỏ, giống như cỏ
mercuriale của ta (hỏa diễm thái), một phần ông ta đem giã và đắp lên dạ
dày tôi; một phần đem sắc lấy nước cho tôi uống; và một phần bảo tôi ăn
sống.
(Ảnh minh hoạ: Internet)
Vài ngày
sau, tôi hoàn toàn khỏi. Muốn tự thí nghiệm lấy, tôi bắt một con gà con
đem bẻ chân nó gãy thành nhiều đoạn rồi đem cỏ ấy đắp lên những chỗ gãy
vài bữa thì con gà nguyên lành.
Một thầy
dòng bạn tôi bị bọ cạp đốt – nọc bọ cạp có thể làm chết người ở xứ này –
cổ họng sưng bạnh ra và chúng tôi đã nghĩ đến phép sức dầu thánh cho
thầy ta thì bỗng có một ông lang ngoại khoa đến, thổi một hồ cơm với
nước lã thường.
Xong rồi
ông ta đặt nồi cơm xuống dưới hai chân thầy dòng, lấy chăn chùm kín
thầy ta để hơi cơm và khói nóng không mất đi đâu được. Hơi bốc lên đến
chỗ bị thương, thì thầy dòng thấy bớt đau, cổ hết sưng và người khỏe
mạnh như không bao giờ bị bệnh cả.
Còn có
nhiều việc tương tự như thế, nhưng thuốc dùng ngay tại xứ ấy công hiệu
hơn là đem về đây. Riêng tôi, tôi đem về một thùng nhỏ đại hoàng
(rhubarbe), lúc xuống tàu còn tốt vào bực nhất nhưng sau hai năm đi
đường lúc về đến Âu châu thì đại hoàng biến thể đến nỗi tôi không nhận
ra được nữa.
Thế mới biết các thảo dược đem từ bên ấy về đây mất hết cả linh nghiệm.
Bùi Trọng Phấn (dịch)
Việt Nam qua tư liệu của người phương Tây (phần 6): Chúa Trịnh Tráng trọng đãi người Âu châu
Cuối thế kỷ 16, quan hệ giao
thương giữa Việt Nam và các nước phương Tây (Bồ Đào Nha, Anh, Pháp...)
bắt đầu phát triển. Thuận theo đó, các giáo sĩ, thương nhân cũng lũ lượt
vượt biển đến nước ta truyền đạo, buôn bán, làm ăn. Trong quá trình
truyền đạo, để lưu dấu những ngày tháng sống ở đất khách quê người, các
giáo sĩ, thương nhân đã ghi chép rất tỉ mỉ về phong tục, văn hóa, sinh
hoạt của người bản địa. Đại Kỷ Nguyên xin phép được trích đăng lại những
tư liệu quý giá đó, thông qua bản dịch của học giả Nguyễn Trọng Phấn
(1910 – 1996) đăng trên tạp chí Thanh Nghị.
Giuliano Baldinotti (1591 –
1631), người Ý, sang Viễn Đông truyền giáo năm 1621. Ông là người Âu
châu đến Bắc kỳ đầu tiên, được chúa Trịnh Tráng trọng đãi.
Trước khi mất, Baldinotti làm tờ trình và nhân đấy Alexandre de Rhodes được cử sang trông nom địa phận Bắc kỳ.
Nhân dịp
mấy thương khách Bồ Đào Nha trù tính sang xứ Đông Kinh (Hà Nội) – hành
trình mà chưa ai đi cả – các bề trên xét rằng nên phái tôi đi với thầy
Giulio Piani, sang trông nom việc rửa tội và nhân thể xem dân xứ này có
sẵn sàng chịu lời Chúa hay không?
Alexandre de Rhodes được các bề trên cử sang trông nom địa phận Bắc kỳ. (Ảnh minh hoạ: Internet)
Từ Ma Cao đến Hà Nội
Chúng
tôi ở Áo Môn (Ma Cao) đi ngày 2.2.1626; mất 36 hôm, một vì dò hỏi đã
không được kỹ càng, hai là vì bão… Ngày 7.3, chúng tôi mới đến Đông
Kinh. Được tin Chúa Trịnh cử bốn thuyền chiến ra bể đón và hộ vệ chúng
tôi suốt dọc sông để bọn Tàu Ô đã rình sẵn khỏi cướp bóc.
Đến nơi,
tôi đi cùng thầy Giulio và tất cả các người Bồ Đào Nha vào bệ kiến,
Chúa hoan hỉ tiếp chúng tôi, khoản đãi chúng tôi, cho ăn nhiều món khác
nhau và hứa giúp mỗi khi chúng tôi cần việc gì. Khi chúng tôi kiếu từ,
ngài ban cho viên thuyền trưởng và tôi nhiều y phục bản xứ rất quý giá
rồi truyền lệnh cho chúng tôi được ở những nhà tốt nhất tại kinh đô.
Chúa Trịnh sai các quan ban thưởng cho những người Bồ Đào Nha rất nhiều đồ quý giá. (Ảnh minh hoạ: Internet)
Trong
thời kỳ chúng tôi lưu tại Đông Kinh ngài hậu đãi chúng tôi, sai mang các
thứ giải khát cho viên thuyền trưởng và tôi hoặc ban cho chúng tôi đủ
thứ tặng phẩm mỗi khi chúng tôi vào triều kiến. Ngài thường cho đòi
chúng tôi vào xem các cuộc vui như đấu voi, thí ngựa hoặc đua thuyền.
Chúng
tôi còn được mời xem tuồng hát và nhiều hội hè nhưng có vài nơi cần giữ
phẩm cách, tôi không đến. Ngài ưu đãi chúng tôi như vậy, hình như vì
muốn thông thương với người Bồ Đào Nha đã được tiếng đồn là đem nhiều
nguồn lợi bằng tàu thuyền đến xứ này.
Có
vẻ như Chúa Trịnh đã có ý muốn thông thương với người Bồ Đào Nha ngay
từ thế kỷ 16, nếu quả thật là như vậy, thì tầm nhìn xa trông rộng của
Chúa có những nét rất giống với Thiên Hoàng Minh Trị của Nhật Bản sau
đó. (Ảnh minh hoạ: Internet)
Trong
khi ở Đông Kinh, tôi hết sức khuyên bảo người Bồ Đào Nha nên làm gương
tốt cho dân trong xứ. Họ nghe theo tôi, nên Chúa đẹp lòng và sẵn có ý
tốt với đạo chúng ta, muốn lưu tôi lại. Một vị “nội giám” và một pháp sư
đã tâu ngài biết rằng tôi hiểu toán học, nên ngài sai một quan thị gọi
tôi vào để giảng cho ngài rõ những gì thuộc về thiên văn.
Khi quan thị đến, tôi thưa rằng: “Bề
trên sai tôi đi theo người Bồ Đào Nha lượt đi cũng như lượt về, tôi
phải cai quản họ và hướng dẫn họ về việc đạo, tôi không có phép ở lại
đây; nhưng khi về đến Ma Cao, tôi sẽ xin phép trở lại đây và sẽ ở đây
vĩnh viễn. Được như thế tôi thỏa mãn lắm vì phận sự tôi ở Đông phương
không phải là để thâu nhặt bạc vàng nhưng là để dạy cho họ cần đến những
việc trời và nói cho họ hiểu đâu là vị Thượng đế chân chính đã tạo ra
trời đất”.
Vị
Thượng Đế tối cao tạo ra trời đất, vũ trụ, vạn sự vạn vật. Và cũng
chính là “Chúa cứu thế” (cứu thế chủ) hay Phật Di Lặc (theo cách gọi của
nhà Phật) mà các tôn giáo đều nói đến. (Ảnh: Falunart)
Chúa rất
hài lòng về những lời trình bày của tôi nên mấy hôm sau cho vị pháp sư
trên kia vào chầu. Chúa ban yến cho tôi, hỏi tôi những câu hỏi về khối
tròn, yêu cầu tôi sang năm lại sang, ban cho tôi một chỉ bài để được vào
và ngụ khắp xứ, không phải chịu một điều khoản nào cả. Thái tử là người
sẽ lên kế vị ngài cũng ban cho tôi một chỉ bài giống như thế và nhiều
quà cáp của vương phủ…
Bị kẻ xấu hãm hại
Việc lập
giáo đường đang tiến hành thì một tên Maure có đạo Hồi đi nói xấu người
Bồ Đào Nha và rêu rao lên rằng người Bồ Đào Nha làm do thám cho vua
Đàng Trong là thù địch của vua Đàng Ngoài và viên thuyền trưởng Bồ Đào
Nha đã nhận được một món tiền to về việc ấy. Bịa đặt ra như thế, tên
Maure muốn trả thù mấy người Bồ Đào Nha có hiềm khích với hắn và muốn
chiếm lấy của cải chúng tôi khi chúng tôi bị trục ra khỏi xứ như quân do
thám hay như quân bất lương.
Chúng
tôi có dâng biểu trần tình; lại được thêm một vị hoàng thân đã hiểu biết
người Bồ Đào Nha ở nhiều nơi nói cho Chúa rõ, nên ngài không tin những
điều đồn bậy. Nhưng không yên tâm, Chúa buộc chúng tôi thề sẽ không vào
Đàng Trong và bao giờ cũng một lòng với ngài. Ngài cho đòi chúng tôi đến
một ngôi chùa (pagode). Dân gian theo chúng tôi đông lắm.
Những người Bồ Đào Nha phải phát lời thề thì Chúa Trịnh mới tin. (Ảnh minh hoạ: Internet)
Người ta
đặt lên trên một chiếc hương án một bình đầy rượu và nước, lần lượt
người ta lấy một chiếc xẻng và mũi một thanh mã tấu gõ vào bình. Đoạn
người ta cắt tiết một con gà mái, rồi lấy mấy giọt huyết gà dập tắt lửa
từ một tờ giấy có viết lời thề đem đốt trên hương án. Con gà mái bị chặt
làm nhiều khúc. Lễ phát thệ ở trong chùa chỉ có thế, mọi người đứng
vòng quanh hương án và không làm gì khác nữa. Song rồi họ chỉ vào chùa,
chỉ vào bàn thờ và các cây nho thếp vàng dựng ở trên bàn thờ bảo chúng
tôi thề sẽ theo đúng lời đã nguyện và uống rượu cúng…
Đoán
biết trước việc sẽ xảy ra như thế nào, tôi lấy một bức tranh to vẽ Chúa,
trải ra, tôi quỳ trước tranh nói không muốn gọi một vị Chúa nào khác
ngoài Chúa cứu thế mà thề cả… Quan nội giám, đến dự lễ thay Chúa, không
nghe theo lời tôi. Sau cùng tôi phải yêu cầu quan nội giám cho người về
tâu Chúa rõ ý định của chúng tôi.
Chúa
minh mẫn nên hiểu chuyện và truyền cho chúng tôi cứ thề như người có đạo
Cơ Đốc. Tôi nhìn vào hình Chúa mà thề rằng, nếu tôi sai lời trong sớ
thì Chúa sẽ bắt tôi chết bằng nước, bằng lửa, bằng đao gươm và các thứ
khổ hình khác. Thầy Giulio, viên thuyền trưởng và tất cả các người Bồ
Đào Nha cùng thề như vậy.
Sau
khi phát lời thề trước hình ảnh vị Chúa Cứu Thế mà họ mang theo, thì
lúc này, mọi nghi ngờ và khúc mắc đã được giải quyết. (Ảnh minh hoạ:
Internet)
Lời thề
của chúng tôi làm Chúa hết nghi ngờ, ban cho chúng tôi nhiều phẩm vật
cùng đồ giải khát và cho phép chúng tôi nhổ neo. Ngài đã giữ chúng tôi
lại thêm vài tháng chỉ vì ngài đã sợ chúng tôi vào nam.
MIỀN TÂY HOANG DẠI Ước gì một lần về thuở ấy miến Tây Sống lầy lội những tháng ngày hoang dại Súng cặp kè hông, nhong nhong lưng ngựa Phóng khoáng thảo nguyên, đạn nổ ì đùng Ta sẽ về, rủ em gái theo cùng Đem tình yêu vào vòng đấu súng Và ngã xuống trong một lần anh dũng Để mai này định nghĩa lại...thằng khùng! Đã khùng rồi thì xá chi anh hùng Của một thời tìm vàng sôi động Người người xô bồ tìm giàu sang cuộc sống Để lại điêu tàn, bắn giết mênh mông! Ta ước thế nghe có rùng rợn không? Trần Hạnh Thu NHẠC HUYỀN THOẠI CAO BỒI VIỄN TÂY
(ĐC sưu tầm trên NET) Bản tin 113 online cập nhật ngày 2/5: Truy tố 254 bị can bị trong đại án sai phạm lĩnh vực đăng kiểm 🔴 TRỰC TIẾP: Thời sự quốc tế 3/5 | Nga tuyên bố khai hỏa Iskander, hủy diệt hai pháo HIMARS Ukraine Tin tức thời sự mới nhất hôm nay | Bản tin sáng ngày 5-3-2024 MỘT CÕI ĐI VỀ (Sáng Tác: Trịnh Công Sơn) - KHÁNH LY OFFICIAL Miễn nhiệm chức vụ Chủ tịch Quốc hội đối với ông Vương Đình Huệ 9 giờ trước Khoảnh khắc tên lửa Nga công kích pháo HIMARS Ukraine 12 giờ trước Mong muốn Campuchia chia sẻ thông tin về Dự án kênh đào Funan Techo 10 giờ trước Gần 50 người chết trong vụ sập đường cao tốc ở Trung Quốc 10 giờ trước Lý do xuất khẩu của Trung Quốc sang Nga bất ngờ sụt giảm 8 giờ trước Ukraine nói Nga sản xuất tên lửa Zircon 'nhanh bất thường' 6 giờ trước Hàng chục nghìn người Gruzia tiến hành biểu tình lớn nhất từ trước tới nay 16 giờ trước Video 'rừng người' xem phương tiện chiến đấu bị Nga tịch thu ở chiến trường Ukraine 16 giờ trước U23 In...
I Only Want to Be with You - Dusty Springfield (Cover by Emily Linge) VẪN THẾ MÀ! Anh vẫn thế, trước sau vẫn thế mà Nhìn anh này, đừng nhìn phía trời xa Vẫn ngày ngày ra ngóng chờ trước của Đợi Nàng Thơ về tác hợp thi ca Tâm hồn anh có cửa đâu mà khóa Mà phải cùng em mở cánh cửa tâm hồn Anh tìm mãi nào thấy đâu ô cửa Toang hoác tứ bề, thông thống càn khôn* Còn trái tim anh vẫn êm đềm, yên ả Vẫn yêu quê hương, tổ quốc, con người Miền nhiệt đới khi thấy tim băng giá Chắc chắn là anh đã ngoẻo tự lâu rồi! Trần Hạnh Thu CT: * Trời đất
Nhận xét
Đăng nhận xét