ĐÃ TỪNG HIỆN THỰC 24
(ĐC sưu tàm trên NET)
Chị Vân và con trước căn nhà bên di ảnh nhạc sĩ Hoàng Phương.
Từng sở hữu 2 tiệm vàng, 1 tiệm mua bán đồng hồ, 3 căn nhà phố, nhưng về cuối đời ông sống nghèo khổ trong căn chòi rách nát...
Thành danh trên đất biển Gò Công
Hoàng Phương tên thật là Nguyễn Kim Hoàng, sinh năm 1943 trong một gia đình khá giả tại xóm Cầu Muống, xã Tân Thành, cách thị xã Gò Công (tỉnh Tiền Giang) khoảng 17km. Xóm Cầu Muống nằm cách bãi biển Tân Thành khoảng 2,5km, ngày ấy nơi đây nhà dân cư thưa thớt cất dọc theo hai bên trục lộ. Thuở nhỏ, ông học trường tiểu học sơ cấp Tân Thành, sau đó học ở trường Nam Tiểu học Gò Công. Trường Nam Tiểu học Gò Công lúc bấy giờ có một thầy dạy nhạc, đó là nhạc sĩ Lê Dinh.
Thi rớt vào đệ thất (lớp 6 bây giờ) trường công lập, ông theo học đệ thất trường Bán công Gò Công. Một năm sau, khi đang theo học lớp đệ lục (lớp 7 bây giờ) thì cũng là năm ông ghi danh học nhạc buổi tối với nhạc sĩ Lê Dinh. Sau khi học xong chương trình lớp đệ nhị (lớp 11 bây giờ), thi trượt tú tài 1, ông thôi học. Từ đây, ngoài cái nghiệp đam mê ca hát ra, ông đã chọn cho mình cái nghề để sinh sống sau này là học nghề sửa đồng hồ và học nghề thợ bạc.
Từ khi gặp được nhạc sĩ Lê Dinh, được nghe tiếng hát và phong cách biểu diễn của người nhạc sĩ tài ba này thì… âm nhạc như đã có sẵn từ trong máu ông được dịp trỗi dậy. Ông say mê nhạc hơn những bài toán. Một lần vào một đêm mùa thu, trên con đường từ trường về nhà sau buổi học thêm, ông đã nghe tiếng đàn violon thoát ra từ cửa sổ trên tầng hai của ngôi nhà bên cạnh đường, ai đó đã chơi bài “Con thuyền không bến” của Đặng Thế Phong. Đó là cái đêm định mệnh thôi thúc Nguyễn Kim Hoàng đến với nghiệp cầm ca. Ông quyết dành dụm tiền để mua cho kỳ được đàn violon và ghi danh học nhạc với nhạc sĩ Lê Dinh.
Một thời gian sau ông tìm đến với guitar, có lẽ đối với ông đàn guitar đa dạng, phong phú hơn, trong những buổi trình diễn trước công chúng, trong những lần cắm trại hay họp mặt bạn bè mà mang cây đàn guitar trễ một bên hông, nó có vẻ lãng mạn, tình tứ, mang dáng dấp của một gã du ca lãng tử. Việc gì đến phải đến, ông rời ghế nhà trường khi vừa học xong chương trình lớp đệ nhị (lớp 11 bây giờ). Từ đây ông bước vào một thế giới mới, không còn gò bó bởi thời gian như khi còn ngồi ở ghế nhà trường. Ông miệt mài hơn, vừa học đàn vừa sáng tác, sự say mê cộng với khả năng thiên phú sẵn có trong ông, để rồi sau bao tháng ngày bên cung bậc bổng trầm và kết quả mà ông đã đạt được hơn sự mong đợi rất nhiều. Năm 1968, nhạc phẩm đầu tay “Hoa sứ nhà nàng” của ông ra đời.
Sau này, Hoàng Phương tiếp tục làm sôi động đời sống âm nhạc miền Nam với dòng nhạc mang tên quê hương ông -“nhạc Gò Công”. Phải nói là Hoàng Phương đã góp một phần không nhỏ để quảng bá “Biển Gò Công” nổi danh khắp cả nước.
Bản “nhạc vàng” duy nhất được phép lưu hành sau ngày giải phóng
Trước 30.4.1975 đất nước phân ly, chiến tranh mỗi lúc một thêm khốc liệt. Thanh niên lớn lên ở vùng do chính quyền Việt Nam Cộng hòa (VNCH) kiểm soát bị bắt buộc gia nhập vào quân đội VNCH. Thường những nhạc sĩ thời ấy chỉ “đi lính” cho có lệ, rồi lo lót để được ở Sài Gòn hoạt động âm nhạc.
Sau ngày giải phóng, tất cả những tác giả có tên trong quân đội cũ đều là những người phải đi học tập cải tạo và nhạc của họ không được phép lưu hành. Như Trần Thiện Thanh, ông là một hạ sĩ quan, nhưng hoạt động chính là một nhạc sĩ. Nhiều bản nhạc ông viết về người lính VNCH, như những bản “Người ở lại Charlie”, “Anh không chết đâu em”, “Mùa xuân lá khô”… và nhiều bài viết về tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương đều bị cấm sau 30.4.1975.
Cũng có những soạn giả không tham gia vào quân đội Sài Gòn nhưng có làm việc cho chính phủ cũ, nhạc của họ cũng bị cấm do có nhiều bản nhạc ca ngợi chế độ cũ như “Chuyến đò vĩ tuyến”, “Nắng đẹp miền Nam” của nhạc sĩ Lam Phương, “Đò chiều”, “Tàu đêm năm cũ” của Trúc Phương... Có những bản nhạc rất trong sáng, dễ thương, viết về những kỷ niệm của thời học sinh như “Nỗi buồn hoa phượng” của Thanh Sơn, “Niên học sau cùng” của Hàn Sinh cũng bị cấm. Nói chung các dòng nhạc được viết trước ngày 30.4.1975 hầu hết đều bị cấm vì không dính dáng đến thời cuộc thì cũng bị xếp vào loại nhạc ủy mị, “nhạc vàng”.
Chỉ có một tác giả duy nhất - Hoàng Phương - là không dính dáng đến quân đội Sài Gòn, không làm việc cho chế độ cũ, bởi vì ông bị tật - khập khiễng một bên chân. Nhạc của ông chỉ viết về tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương nên được phép lưu hành, trong đó có bản “Hoa sứ nhà nàng”.
Phải nói là trước ngày giải phóng, đời sống âm nhạc ở miền Nam cực kỳ phong phú, từ giới bình dân đến trí thức, ai cũng có thể chọn những bản nhạc thích hợp với “gu” của mình. Giới trí thức thì chọn nhạc của Phạm Duy, Ngô Thụy Miên, Dương Thiệu Tước…, ai thất tình triền miên thì kiếm nhạc của Đỗ Lễ, Vũ Thành An…, giới bình dân thì chọn dòng nhạc của Hoàng Phương, Trúc Phương, Lam Phương…, dễ dãi hơn nữa thì tìm nhạc của Vinh Sử, Cô Phượng…, còn người nào phản chiến, coi cuộc chiến là sự ô nhục, huynh đệ tương tàn thì tìm các “Ca khúc da vàng” của Trịnh Công Sơn.
Khi những bản nhạc ăn vào máu vào thịt của tầng lớp mê ca hát bị cấm nghe, cấm hát thì hỏi làm sao mà không buồn cho được. Đây là khoảng thời gian mà nhạc phẩm “Hoa sứ nhà nàng” lên ngôi “nhạc đế”, bản nhạc dễ học, dễ ca, những lời trong bài hát dễ nhớ. Hồi đó, “Hoa sứ nhà nàng” là nhạc phẩm không thể thiếu trong những tiệc vui, đám cưới thôn quê và những lần họp mặt.
Về cõi vĩnh hằng trong cô đơn và nghèo túng
Trước năm 1975, Hoàng Phương vừa viết nhạc vừa trông coi tiệm buôn bán đồng hồ, về sau ông có mở hai tiệm vàng Kim Hoàng và Toàn Tân tại thị xã Gò Công. Gia đình ông lúc đó rất khá giả, nhưng vì nặng nợ với nghiệp cầm ca, ông chọn con đường sống xa gia đình.
Năm 1989, ông bỏ lại tất cả sự nghiệp, kể cả gia đình, vợ và 8 đứa con để bước thêm bước nữa với người yêu mới tên là Mộng Vân (nhỏ hơn ông hai con giáp). Ông cất một căn nhà tạm bợ bằng tre lá, khoảng 15m2 gần bãi biển Tân Thành, gọi là nhà chứ thật ra nó là một căn chòi, nghèo nàn, xơ xác. Càng về sau, cuộc đời ông như buông thả, suốt ngày ông vùi đầu bên ly rượu, có khi mới hừng đông mà người ta đã thấy ông ngà say, một mình lang thang trên bãi biển Tân Thành.
Trong căn lều bé nhỏ ông vẫn sáng tác, một bên là cây đàn guitar và một bên là chai rượu đế, để rồi một thời gian sau đó ông suy sụp hoàn toàn, càng buồn phiền ông càng phẫn chí, ông lại vùi đầu vào ly rượu để lãng quên đời, rượu chè thâu đêm suốt sáng, điếu thuốc lúc nào cũng lấp lóe trên môi… Như cái vòng luẩn quẩn, ngỡ chuốc rượu cho tiêu sầu nào ngờ nỗi buồn như thêm chồng chất… Ông chưa quên được đời nhưng đời đã muốn lãng quên ông… Sau bao ngày đắm chìm trong men rượu, một hôm ông phát hiện ra mình mang một chứng bệnh quái ác - bệnh ung thư gan, thời kỳ cuối.
Hoàng Phương mất ngày 19.10.2002 tại Gò Công. Đám tang được tổ chức đơn sơ trong căn nhà bé nhỏ nghèo nàn của vợ chồng ông trên bãi biển Tân Thành. Khi chết rồi ông vẫn còn nặng nợ với nghiệp cầm ca, ông còn để lại cho người, cho đời khoảng 10 ca khúc bằng bản thảo viết tay: “Biển khóc”, “Thuyền giấy chiều mưa”, “Hương bâng khuâng”, “Tình hạ buồn”, “Tìm em quán Phượng”, “Bươm bướm ngày thơ”, “Em vẫn chờ”, “Kiếp tơ tằm”, “Mộng tàn”, “Mùa nhạn trắng”… Có phải như một lời cảm ơn (?). Cảm ơn cuộc sống dù đau khổ muộn phiền này!…
Ngày xửa ngày xưa...
Em là cô gái
Quê miệt Gò Công
Có lần anh qua xứ ấy
Quen nàng tiên giữa dòng.
Khuôn mặt sáng hồng
Thơ trong ánh mắt
Mái chèo em khua nắng hòa sông nước
Lóng lánh con đò, óng ánh lưng ong...
Em là cô gái
Quê miệt Gò Công
Hôm nay,
Giữa Đô Thành tình cờ gặp lại
Anh chào mà em dửng dưng
Ngạo nghễ bước đi về phía vũ trường
Đôi chân trần đẹp lắm!
Trắng nõn, mịn màng, thon dài tăm tắp
Làm khao khát đàn ông
Dán mắt dõi theo, chiêm ngưỡng, mơ mòng!
Ôi bông hoa rạng ngời tươi thắm
Thân thương biết bao, giờ sao lạ lẫm?
Có phải em không
Hỡi nàng tiên của một thuở xa xăm
Mà sực nức dầu thơm nước Pháp
Tóc uốn lượn lờ theo mốt Hồng Công?
Thôi rồi, anh đã lầm!
Em hôm nay là diễn viên Hàn Quốc
Môi em là son, má em là phấn
Mắt em xanh nhờ gắn mưới hàng mi
Em được tụng ca trong vai quí phi
Ở cung vàng điện ngọc
Rực rỡ giữa vòng vây quí tộc
Diệu huyền theo ánh nến hoàng cung...
Không!
Em của anh là nàng tiên
Duyên dáng chèo thuyền trên sông Vàm Cỏ
Cây trái bốn mùa xum xuê xứ sở
Bầu má mượt mà, mắt sáng long lanh
Nụ cười ý tứ lúng liêng
Khẽ dấu khẽ khoe lúm đồng tiền lơi lả
Mái chèo em khua hắt nắng lên mát lạ
Chếch choáng đôi bờ, trong vắt tình quê!
Đúng!
Em mãi là nàng tiên
Chèo nhớ nhung trên dòng thương ký ức
Cho thuở ban sơ biếc hoài tiềm thức
Theo suốt đời anh nỗi khắc khoải niềm em
Ngọt ngào nước dừa xiêm
Thơm dịu hương sen Đồng Tháp
Mê ly câu hò điệu hát
Trắc ẩn cung đàn "Dạ cổ hoài lang"!
Anh xin lỗi vì lỡ lầm
Chứ lòng anh không thể nào quên
Dù đất trời đảo điên thay đổi
Dù khắp không gian có hóa cứng bê tông
Và dòng thời gian hóa đục ngầu khói bụi
Ơi, nhan sắc ngày xưa!...
Trần Hạnh Thu


Tác giả "Hoa sứ nhà nàng" chết trong tận cùng nghèo khổ
20/07/2013
Nhắc đến nhạc sĩ Hoàng Phương, nhiều người yêu thích âm nhạc đều biết đó
chính là tác giả của nhạc phẩm “vàng” duy nhất được phép lưu hành sau
ngày giải phóng, đó là bài hát “Hoa sứ nhà nàng”. Ông chính là tác giả
của dòng nhạc Gò Công đã làm mưa làm gió từ Nam chí Bắc suốt thập niên
1980.
Từng sở hữu 2 tiệm vàng, 1 tiệm mua bán đồng hồ, 3 căn nhà phố, nhưng về cuối đời ông sống nghèo khổ trong căn chòi rách nát...
Thành danh trên đất biển Gò Công
Hoàng Phương tên thật là Nguyễn Kim Hoàng, sinh năm 1943 trong một gia đình khá giả tại xóm Cầu Muống, xã Tân Thành, cách thị xã Gò Công (tỉnh Tiền Giang) khoảng 17km. Xóm Cầu Muống nằm cách bãi biển Tân Thành khoảng 2,5km, ngày ấy nơi đây nhà dân cư thưa thớt cất dọc theo hai bên trục lộ. Thuở nhỏ, ông học trường tiểu học sơ cấp Tân Thành, sau đó học ở trường Nam Tiểu học Gò Công. Trường Nam Tiểu học Gò Công lúc bấy giờ có một thầy dạy nhạc, đó là nhạc sĩ Lê Dinh.
Thi rớt vào đệ thất (lớp 6 bây giờ) trường công lập, ông theo học đệ thất trường Bán công Gò Công. Một năm sau, khi đang theo học lớp đệ lục (lớp 7 bây giờ) thì cũng là năm ông ghi danh học nhạc buổi tối với nhạc sĩ Lê Dinh. Sau khi học xong chương trình lớp đệ nhị (lớp 11 bây giờ), thi trượt tú tài 1, ông thôi học. Từ đây, ngoài cái nghiệp đam mê ca hát ra, ông đã chọn cho mình cái nghề để sinh sống sau này là học nghề sửa đồng hồ và học nghề thợ bạc.
Từ khi gặp được nhạc sĩ Lê Dinh, được nghe tiếng hát và phong cách biểu diễn của người nhạc sĩ tài ba này thì… âm nhạc như đã có sẵn từ trong máu ông được dịp trỗi dậy. Ông say mê nhạc hơn những bài toán. Một lần vào một đêm mùa thu, trên con đường từ trường về nhà sau buổi học thêm, ông đã nghe tiếng đàn violon thoát ra từ cửa sổ trên tầng hai của ngôi nhà bên cạnh đường, ai đó đã chơi bài “Con thuyền không bến” của Đặng Thế Phong. Đó là cái đêm định mệnh thôi thúc Nguyễn Kim Hoàng đến với nghiệp cầm ca. Ông quyết dành dụm tiền để mua cho kỳ được đàn violon và ghi danh học nhạc với nhạc sĩ Lê Dinh.
Một thời gian sau ông tìm đến với guitar, có lẽ đối với ông đàn guitar đa dạng, phong phú hơn, trong những buổi trình diễn trước công chúng, trong những lần cắm trại hay họp mặt bạn bè mà mang cây đàn guitar trễ một bên hông, nó có vẻ lãng mạn, tình tứ, mang dáng dấp của một gã du ca lãng tử. Việc gì đến phải đến, ông rời ghế nhà trường khi vừa học xong chương trình lớp đệ nhị (lớp 11 bây giờ). Từ đây ông bước vào một thế giới mới, không còn gò bó bởi thời gian như khi còn ngồi ở ghế nhà trường. Ông miệt mài hơn, vừa học đàn vừa sáng tác, sự say mê cộng với khả năng thiên phú sẵn có trong ông, để rồi sau bao tháng ngày bên cung bậc bổng trầm và kết quả mà ông đã đạt được hơn sự mong đợi rất nhiều. Năm 1968, nhạc phẩm đầu tay “Hoa sứ nhà nàng” của ông ra đời.
Sau này, Hoàng Phương tiếp tục làm sôi động đời sống âm nhạc miền Nam với dòng nhạc mang tên quê hương ông -“nhạc Gò Công”. Phải nói là Hoàng Phương đã góp một phần không nhỏ để quảng bá “Biển Gò Công” nổi danh khắp cả nước.
Bản “nhạc vàng” duy nhất được phép lưu hành sau ngày giải phóng
Trước 30.4.1975 đất nước phân ly, chiến tranh mỗi lúc một thêm khốc liệt. Thanh niên lớn lên ở vùng do chính quyền Việt Nam Cộng hòa (VNCH) kiểm soát bị bắt buộc gia nhập vào quân đội VNCH. Thường những nhạc sĩ thời ấy chỉ “đi lính” cho có lệ, rồi lo lót để được ở Sài Gòn hoạt động âm nhạc.
Sau ngày giải phóng, tất cả những tác giả có tên trong quân đội cũ đều là những người phải đi học tập cải tạo và nhạc của họ không được phép lưu hành. Như Trần Thiện Thanh, ông là một hạ sĩ quan, nhưng hoạt động chính là một nhạc sĩ. Nhiều bản nhạc ông viết về người lính VNCH, như những bản “Người ở lại Charlie”, “Anh không chết đâu em”, “Mùa xuân lá khô”… và nhiều bài viết về tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương đều bị cấm sau 30.4.1975.
Cũng có những soạn giả không tham gia vào quân đội Sài Gòn nhưng có làm việc cho chính phủ cũ, nhạc của họ cũng bị cấm do có nhiều bản nhạc ca ngợi chế độ cũ như “Chuyến đò vĩ tuyến”, “Nắng đẹp miền Nam” của nhạc sĩ Lam Phương, “Đò chiều”, “Tàu đêm năm cũ” của Trúc Phương... Có những bản nhạc rất trong sáng, dễ thương, viết về những kỷ niệm của thời học sinh như “Nỗi buồn hoa phượng” của Thanh Sơn, “Niên học sau cùng” của Hàn Sinh cũng bị cấm. Nói chung các dòng nhạc được viết trước ngày 30.4.1975 hầu hết đều bị cấm vì không dính dáng đến thời cuộc thì cũng bị xếp vào loại nhạc ủy mị, “nhạc vàng”.
Chỉ có một tác giả duy nhất - Hoàng Phương - là không dính dáng đến quân đội Sài Gòn, không làm việc cho chế độ cũ, bởi vì ông bị tật - khập khiễng một bên chân. Nhạc của ông chỉ viết về tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương nên được phép lưu hành, trong đó có bản “Hoa sứ nhà nàng”.
Phải nói là trước ngày giải phóng, đời sống âm nhạc ở miền Nam cực kỳ phong phú, từ giới bình dân đến trí thức, ai cũng có thể chọn những bản nhạc thích hợp với “gu” của mình. Giới trí thức thì chọn nhạc của Phạm Duy, Ngô Thụy Miên, Dương Thiệu Tước…, ai thất tình triền miên thì kiếm nhạc của Đỗ Lễ, Vũ Thành An…, giới bình dân thì chọn dòng nhạc của Hoàng Phương, Trúc Phương, Lam Phương…, dễ dãi hơn nữa thì tìm nhạc của Vinh Sử, Cô Phượng…, còn người nào phản chiến, coi cuộc chiến là sự ô nhục, huynh đệ tương tàn thì tìm các “Ca khúc da vàng” của Trịnh Công Sơn.
Khi những bản nhạc ăn vào máu vào thịt của tầng lớp mê ca hát bị cấm nghe, cấm hát thì hỏi làm sao mà không buồn cho được. Đây là khoảng thời gian mà nhạc phẩm “Hoa sứ nhà nàng” lên ngôi “nhạc đế”, bản nhạc dễ học, dễ ca, những lời trong bài hát dễ nhớ. Hồi đó, “Hoa sứ nhà nàng” là nhạc phẩm không thể thiếu trong những tiệc vui, đám cưới thôn quê và những lần họp mặt.
Về cõi vĩnh hằng trong cô đơn và nghèo túng
Trước năm 1975, Hoàng Phương vừa viết nhạc vừa trông coi tiệm buôn bán đồng hồ, về sau ông có mở hai tiệm vàng Kim Hoàng và Toàn Tân tại thị xã Gò Công. Gia đình ông lúc đó rất khá giả, nhưng vì nặng nợ với nghiệp cầm ca, ông chọn con đường sống xa gia đình.
Năm 1989, ông bỏ lại tất cả sự nghiệp, kể cả gia đình, vợ và 8 đứa con để bước thêm bước nữa với người yêu mới tên là Mộng Vân (nhỏ hơn ông hai con giáp). Ông cất một căn nhà tạm bợ bằng tre lá, khoảng 15m2 gần bãi biển Tân Thành, gọi là nhà chứ thật ra nó là một căn chòi, nghèo nàn, xơ xác. Càng về sau, cuộc đời ông như buông thả, suốt ngày ông vùi đầu bên ly rượu, có khi mới hừng đông mà người ta đã thấy ông ngà say, một mình lang thang trên bãi biển Tân Thành.
Trong căn lều bé nhỏ ông vẫn sáng tác, một bên là cây đàn guitar và một bên là chai rượu đế, để rồi một thời gian sau đó ông suy sụp hoàn toàn, càng buồn phiền ông càng phẫn chí, ông lại vùi đầu vào ly rượu để lãng quên đời, rượu chè thâu đêm suốt sáng, điếu thuốc lúc nào cũng lấp lóe trên môi… Như cái vòng luẩn quẩn, ngỡ chuốc rượu cho tiêu sầu nào ngờ nỗi buồn như thêm chồng chất… Ông chưa quên được đời nhưng đời đã muốn lãng quên ông… Sau bao ngày đắm chìm trong men rượu, một hôm ông phát hiện ra mình mang một chứng bệnh quái ác - bệnh ung thư gan, thời kỳ cuối.
Hoàng Phương mất ngày 19.10.2002 tại Gò Công. Đám tang được tổ chức đơn sơ trong căn nhà bé nhỏ nghèo nàn của vợ chồng ông trên bãi biển Tân Thành. Khi chết rồi ông vẫn còn nặng nợ với nghiệp cầm ca, ông còn để lại cho người, cho đời khoảng 10 ca khúc bằng bản thảo viết tay: “Biển khóc”, “Thuyền giấy chiều mưa”, “Hương bâng khuâng”, “Tình hạ buồn”, “Tìm em quán Phượng”, “Bươm bướm ngày thơ”, “Em vẫn chờ”, “Kiếp tơ tằm”, “Mộng tàn”, “Mùa nhạn trắng”… Có phải như một lời cảm ơn (?). Cảm ơn cuộc sống dù đau khổ muộn phiền này!…
Nhiều người dân Gò Công vẫn hát Hoa sứ nhà nàng mà không hề biết tác giả của nó chính là ông thợ sửa đồng hồ phố huyện.
Tôi còn nhớ, năm
1986, băng nhạc Gò Công nổi lên như một hiện tượng của cả nước. Khắp
trong Nam ngoài Bắc, mọi người đổ xô nhau tìm băng cassette nhạc Gò Công
của nhạc sĩ Hoàng Phương. Có người nhận xét băng nhạc này dường như có
chất của nhạc Trầm Tử Thiêng hay có một chút gì đó giống nhạc của Trúc
Phương… Nhưng không, nhạc Gò Công là dòng nhạc của xứ biển Gò Công không
thể lẫn vào đâu.
Chỉ biết nhạc Gò Công, không biết tác giả
Tôi về biển Tân Thành (Gò Công Đông, tỉnh Tiền
Giang), trong luồng gió chướng mát lạnh. Bãi nghêu mênh mang, dòng người
tấp nập đi ra biển. Văng vẳng bên quán cóc ven đường là khúc nhạc Gò
Công - Chuyện tình hoa muống biển. Thời cực thịnh, nhạc Gò Công
được mở khắp nơi, băng cassette bán rất chạy nhưng toàn băng sang lại
(sao chép) nên chẳng ai trả tiền tác quyền cho nhạc sĩ. Nhưng nhạc sĩ
Hoàng Phương không buồn, anh vẫn liên tục sáng tác những khúc ca ca ngợi
quê hương mình. địa danh Gò Công nhờ vậy trở nên nổi tiếng, được mọi
người biết đến.
Các bài hát của anh được viết trên nền nhạc Boléro,
đơn giản, êm dịu và rất dễ hát. Bàng bạc trong nhạc Hoàng Phương ta luôn
nghe thấy tiếng sóng biển rì rào, tiếng sóng như lời ru của mẹ mà anh
đã được nghe từ thuở còn nằm nôi và kỷ niệm tuổi thơ, những ngày nô đùa
cùng bạn bè trên bãi biển. Tình yêu quê hương đầy ắp, trong sáng, Boléro
Gò Công của Hoàng Phương là như vậy.
Nguyên gốc bài Hoa sứ nhà nàng.
Tôi hỏi nhiều người dân Gò Công về anh nhưng họ chẳng
biết ông Hoàng Phương nào cả, chỉ biết nhạc Gò Công thôi. Tôi phải vào
Phòng Văn hóa-Thông tin huyện thì ở đây cho biết Hoàng Phương mất năm
2002, hiện còn một người con công tác ở huyện Gò Công Tây.
Cuối cùng tôi cũng tìm được anh Nguyễn Hoàng Tùng, sinh năm 1966, là con cả của nhạc sĩ. Anh cho biết đôi nét về cha của mình.
Thân thế người nhạc sĩ
Hoàng Phương tên thật là Nguyễn Kim Hoàng, sinh năm
1943. Ông nội ông là Nguyễn Kim Ngọc - Hương sư Ngọc, ở xã Long Bình,
huyện Gò Công Tây. Cha ông là Nguyễn Kim Trọng về lập nghiệp tại xã Tân
Thành, Gò Công Đông. Ông sinh ra ở xóm Cầu Muống, xã Tân Thành, cách thị
xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang khoảng 17 km, cách bãi tắm biển Tân Thành
chỉ 2 km. Lớn lên, ông học Trường Trung học Trương Công Định ở thị xã Gò
Công. Những năm vào trung học, ông đam mê âm nhạc, tự học đàn violon và
organ. Năm 12 tuổi, ông tìm đến nhạc sĩ Lê Dinh, lúc đó là thầy dạy
nhạc ở Trường nam Tiểu học Gò Công để học nâng cao. Hết lớp đệ nhị (nay
là lớp 11), ông ôm đàn về nhà, bỏ học.
Lúc nhỏ, nhạc sĩ Hoàng Phương bị một cái mụn mạch
lươn ở mắt cá nên bị rút gân, chân đi khập khiễng. “Tái ông thất mã”,
nhờ chân bị tật nên ông cũng không bị bắt đi lính, chuyên tâm học thêm
đàn guitar, rồi học thêm nghề sửa đồng hồ của cha và nghề thợ bạc để
kiếm sống. Năm 1968, ông lên Sài Gòn tham gia ban nhạc cùng Vinh Sử,
Quốc Dũng, Lê Hựu Hà. nhạc phẩm đầu tay của ông là tác phẩm Hoa sứ nhà nàng cũng được sáng tác vào năm này.
Hoàng Tùng với cây đàn ghi ta kỷ vật của cha.
Sau thành công của Hoa sứ nhà nàng, ông cho ra đời một loạt tác phẩm: Mùa
nhạn trắng, Tìm em quán phượng, Đàn thương cô quán trong làng, Anh về
đẹp tình quê hương, Nhớ em, Sông quê tình nhớ, Căn nhà mộng ước… Tuy nhiên, người ta chỉ nhớ nhất bài Hoa sứ nhà nàng, dường như Vinh Sử và Lê Hựu Hà đã lấn át Hoàng Phương…
Sau 1975, Hoàng Phương về Gò Công mở tiệm sửa đồng
hồ. Năm 1985, ông tích lũy ít vốn mở được tiệm vàng Toàn Tân. Nghiệp
nghệ sĩ tưởng chừng như đã chấm dứt.
Trở lại từ Hoa sứ nhà nàng
Tôi thắc mắc, ngọn lửa nghệ sĩ đã tắt lịm trong ông
11 năm, vì sao đùng một cái năm 1986 Hoàng Phương sáng tác một mạch gần
20 bài và nổi lên thành hiện tượng “nhạc Gò Công”? Anh Hoàng Tùng cười:
“Năm 1986, khi Bộ Văn hóa cho lưu hành bài hát Hoa sứ nhà nàng của
cha tôi trên các phương tiện thông tin đại chúng, ông sướng run người.
11 năm người ta lên án nhạc vàng, đến nỗi ông không dám cầm đàn, không
dám khoe mình là nhạc sĩ. Bây giờ, bài hát của ông đã được Nhà nước công
nhận. Cảm ơn làn gió đổi mới, tối ngày cha tôi ôm đàn, ghi ghi chép
chép… rồi bày ra cha con hát với nhau!”.
Hoàng Phương và người vợ đầu. Ảnh trong bài: NN
Năm đó, ông sáng tác không mệt mỏi, hàng loạt bài hát về quê hương Tiền Giang: Trưa
hè trên bãi biển, Chung một dòng sông, Gò Công hồng trang sử, Biển
thức, Về nông trường Phú Đông, Tiếng chim mùa xuân, Nhà em đó bên kia
sông, Biển Gò Công khi em đến, Chiều xuân qua thị trấn Gò Công, Ánh mắt
quê hương, Khung trời quê, Khúc Cachiusa hát ở bên sông Tiền, Mỹ Tho
thành phố cội nguồn, Mẹ Gò Công, Biển tím, Khung trời quê...
Hoàng Tùng nhớ lại: “Cha tôi bỏ hết công việc làm ăn
để lao vào sáng tác. Ông còn liên hệ với Phòng Văn hóa-Thông tin huyện
dàn dựng biểu diễn các bài hát của ông cho công chúng Gò Công thưởng
thức. Nhưng rồi cũng chẳng ai thèm nhớ. Lúc này cha tôi mới hiểu ra,
mình không phải là nhạc sĩ hòa âm, phối khí nên dàn dựng nghe dở òm. Thế
là ông gom tiền nong, lặn lội lên Sài Gòn tìm nhạc sĩ Quốc Dũng và Lê
Hựu Hà. Họ phối khí hòa âm xong thì ca sĩ Bảo Yến (vợ Quốc Dũng) hát
thử. Thấy hay thế là thu băng cassette. Vậy là người ta ùn ùn đi tìm
băng nhạc Gò Công”.
Trở về với biển
Sau năm 1986, Hoàng Phương tiếp tục cho ra đời các bài hát về quê hương và trở nên quen thuộc với không ít người yêu nhạc như: Hương sơ ri, Đôi
mắt quê hương, Chiếc cầu chiều mưa, Nỗi sầu tương tư, Chiếc thuyền từ
ly, Hẹn em bên cửa sông Tiền, Nhớ biển Gò Công, Xa rồi Gò Công, Chuyến
xe Tiền Giang. Hoàng Phương cũng đã cùng với con trai là Hoàng Tùng cho ra đời bài Ao nhà ao bên.
Như hầu hết các ca khúc khác, ông vẫn dành cho tình
yêu lứa đôi những giai điệu mượt mà hơn. Những chuyện tình dang dở,
những mối tình quê, đậm đà, chân chất như chính những con người quê ông:
thật thà, mặn nồng, chung thủy. Ở góc độ khác, nhạc Hoàng Phương là
nhạc biển quê ông. Quê hương Hoàng Phương có hoa sứ, có sơ ri, có hoa
muống biển, có con dã tràng… không lẫn vào đâu được. Có lẽ vì thế mà
nhạc của ông đã đi vào lòng rất nhiều người yêu nhạc ở miền Nam thời đó
và cho đến cả bây giờ.
Hoàng Phương hào sảng và mê đắm, ông sống đời nghệ sĩ
đúng nghĩa, tất cả cho nhạc phẩm. Có thể nói Hoàng Phương là nhạc sĩ
đầu tiên ở Tiền Giang dám bỏ tiền sản xuất băng cassette gồm những ca
khúc về tình yêu và vùng đất Gò Công. Trong cuộc đời ông, nghệ thuật
không song hành với kinh tế. Về cuối đời, hai tiệm vàng lần lượt mất đi,
cuộc sống mỗi ngày càng trở lên cơ cực, ông lên Sài Gòn tìm đến các
trung tâm băng nhạc để kiếm sống nhưng cũng không vực dậy được kinh tế.
Năm 2002, ông lâm bệnh nặng.
Ngày 14-8-2002, nhạc sĩ Hoàng Phương đã đi về với biển. Tôi trở lại biển Tân Thành vẫn nghe tiếng hát vọng về: “Mùa xuân không về phố bao giờ!”.
NGUYỄN NGỌC
Về lại Gò Công
Gò
Công, một địa danh từng lưu dấu trong tiềm thức của con người Nam kỳ lục
tỉnh hàng trăm năm trước. Hôm nay, đất và người Gò Công vẫn còn đây đó
những dấu tích khắc ghi thời son sắc và những hoài bão hướng tới Chân -
Thiện - Mỹ.
Đình Tân Đông - ngôi đình “độc nhất vô nhị” ở Việt Nam bởi
toàn bộ đình cổ được bao bọc bởi một cây bồ đề với hàng trăm
búi rễ ôm trọn thân đình
Gò
Công, mảnh đất được khai phá đầu tiên, hình thành và phát triển cùng
thời điểm 300 năm với Sài Gòn - Gia Định, Đồng Nai - Bến Nghé. Thời gian
dần trôi, trải qua biết bao biến cố thăng trầm của thời cuộc, đất và
người Gò Công đã đóng góp ít nhiều vào trang sử bi tráng và hào hùng của
mảnh đất nổi tiếng Địa linh nhân kiệt:
Gò Công rạch Lá nhớ nhung
Quê xưa Võ Tánh, Trương công oai hùng
Lạc loài cách bến xa sông
Gió thu hiu hắt chạnh lòng cố hương
Quay về
với quá khứ thời khai phá và quật khởi của đất và người Gò Công, mảnh
đất địa linh nhân kiệt, người ta không khỏi chạnh lòng khi nhận ra những
tên đất, tên người gắn liền với những điển cố, giai thoại, mà con người
Gò Công vẫn còn lưu giữ để vừa làm di tích, vừa lưu truyền cho hậu thế.
Đó là Gò Chim Công nói lên ý nghĩa nơi đất lành chim đậu; là lòng
thương nước thương dân của Võ Tánh, Trương Định; là ý chí ăn học, thi
thố khoa cử của Cống sĩ Phạm Đăng Hưng ở giồng Sơn Quy và nhan sắc Gò
Công của 02 bậc mẫu nghi thiên hạ Từ Dũ và Nam Phương hoàng hậu.
Nam Phương hoàng hậu
Theo
dòng thời gian, trải qua trên 300 năm khai phá hình thành và phát triển,
với vị trí địa lý là cửa ngõ giao thương ra biển lớn và đi sâu vào nội
địa đất liền của 02 vùng kinh tế lớn phía Nam của cả nước là vùng vựa
lúa và nuôi trồng thủy sản nước ngọt Đồng bằng sông Cửu Long nên Gò Công
được xác định là vùng kinh tế biển nhiều tiềm năng phát triển của tỉnh
Tiền Giang và cũng là vùng đất xuất xứ của một số loại nông sản, sản vật
quý hiếm.
Nhắc
tới Gò Công, về với Gò Công đã có biết bao tao nhân - mặc khách khoái
cảm với những sản vật độc đáo mà thiên nhiên ban tặng cho nơi này. Nổi
tiếng nhất là mắm tôm chà Gò Công, một đặc sản làm từ con tôm bạc, tôm
đất của đồng lúa, sông ngòi Gò Công và đang ngày càng phát triển ở thị
xã Gò Công và Gò Công Đông.
Mắm tôm chà
Bên
cạnh đó, Gò Công còn có một sản vật được tạo ra từ bàn tay tài hoa của
nhiều thế hệ nghệ nhân xóm Ông Non Gò Công, đó là cây tủ thờ cẩn ốc xà
cừ độc đáo, là một báu vật dùng để trang hoàng nơi thờ cúng tổ tiên, ông
bà và cũng là của cải nói lên sự sung mãn, truyền thống nho phong sĩ
khí của gia đình, dòng họ và đang được gìn giữ, phát huy. Hiện đang được
trưng bày tại đền Hùng tỉnh Phú Thọ và nhiều nơi tôn nghiêm khác trong
nước.
Ngoài
ra, không thể không nhắc đến cây sơ ri cũng là một trong những đặc sản
Gò Công từ bao đời nay tự lớn lên và nuôi sống người dân nơi đây. Vườn
sơ ri sum suê cho trái chín quanh năm, từng là nơi lưu giữ kỷ niệm tuổi
thơ, tuổi mới lớn và cả tuổi lứa đôi của những nam thanh nữ tú miệt vườn
Gò Công. Những mối tình son sắc bên vườn sơ ri đó nên thơ đến nỗi trở
thành những bài ca trữ tình làm lưu luyến biết bao tao nhân mặc khách
mấy độ đi về Gò Công, để thưởng thức bằng được hương vị trái sơ ri bên
góc vườn sơ ri trĩu quả, mà tưởng như được gần gũi người đẹp Gò Me của
Gò Công trong bài thơ gái Gò Me của nhà thơ Hoàng Tố Nguyên thuở nào.
Sơ ri
Về lại
Gò Công, người lữ thứ trở về cố hương hay ai đó vừa mới đến Gò Công vài
lần chắc hẳn không thể bỏ qua chuyến du ngoạn biển Tân Thành. Biển Tân
Thành ngày nay không còn được nhìn thấy sự trù phú của những vườn mãng
cầu dai xanh um ven biển trong buổi trưa hè lộng gió biển đông ngày xưa
nữa, nhưng Tân Thành ngày nay ít nhiều được du khách khen tấm tắc là bãi
biển cát đen đẹp nhất nhì Đồng bằng sông Cửu Long. Đến với biển Tân
Thành, Gò Công là vừa ngắm sóng biển rì rầm bờ bãi vừa thưởng thức các
món đặc sản biển, vừa hoài niệm về những chuyện tình trên quê biển Gò
Công nên thơ và vương vấn ngày nào:
Ước chi anh như đám dừa xanh cuối sông Vàm cỏ
Như rặng trâm bầu đón gió cửa Cửu Long
Để được sống bên em giữa muôn trùng sóng vỗ
Ơi người anh yêu, người con gái Gò Công
Biển Tân Thành
Đến với
Gò Công hôm nay, du khách sẽ không khỏi bị thuyết phục về sự phát triển
theo hướng hiện đại nhưng người Gò Công vẫn giữ gìn được giá trị truyền
thống của tiền nhân. Chặng đường mở mang và phát triển mới đang mở ra
trên quê hương Gò Công và cũng hứa hẹn sản sinh ra nhiều tên đất, tên
người và sản vật mới vào trang sử của mảnh đất Địa linh nhân kiệt.
Theo: Thanh Chương
NHAN SẮC NGÀY XƯA
Ngày xửa ngày xưa...
Em là cô gái
Quê miệt Gò Công
Có lần anh qua xứ ấy
Quen nàng tiên giữa dòng.
Khuôn mặt sáng hồng
Thơ trong ánh mắt
Mái chèo em khua nắng hòa sông nước
Lóng lánh con đò, óng ánh lưng ong...
Em là cô gái
Quê miệt Gò Công
Hôm nay,
Giữa Đô Thành tình cờ gặp lại
Anh chào mà em dửng dưng
Ngạo nghễ bước đi về phía vũ trường
Đôi chân trần đẹp lắm!
Trắng nõn, mịn màng, thon dài tăm tắp
Làm khao khát đàn ông
Dán mắt dõi theo, chiêm ngưỡng, mơ mòng!
Ôi bông hoa rạng ngời tươi thắm
Thân thương biết bao, giờ sao lạ lẫm?
Có phải em không
Hỡi nàng tiên của một thuở xa xăm
Mà sực nức dầu thơm nước Pháp
Tóc uốn lượn lờ theo mốt Hồng Công?
Thôi rồi, anh đã lầm!
Em hôm nay là diễn viên Hàn Quốc
Môi em là son, má em là phấn
Mắt em xanh nhờ gắn mưới hàng mi
Em được tụng ca trong vai quí phi
Ở cung vàng điện ngọc
Rực rỡ giữa vòng vây quí tộc
Diệu huyền theo ánh nến hoàng cung...
Không!
Em của anh là nàng tiên
Duyên dáng chèo thuyền trên sông Vàm Cỏ
Cây trái bốn mùa xum xuê xứ sở
Bầu má mượt mà, mắt sáng long lanh
Nụ cười ý tứ lúng liêng
Khẽ dấu khẽ khoe lúm đồng tiền lơi lả
Mái chèo em khua hắt nắng lên mát lạ
Chếch choáng đôi bờ, trong vắt tình quê!
Đúng!
Em mãi là nàng tiên
Chèo nhớ nhung trên dòng thương ký ức
Cho thuở ban sơ biếc hoài tiềm thức
Theo suốt đời anh nỗi khắc khoải niềm em
Ngọt ngào nước dừa xiêm
Thơm dịu hương sen Đồng Tháp
Mê ly câu hò điệu hát
Trắc ẩn cung đàn "Dạ cổ hoài lang"!
Anh xin lỗi vì lỡ lầm
Chứ lòng anh không thể nào quên
Dù đất trời đảo điên thay đổi
Dù khắp không gian có hóa cứng bê tông
Và dòng thời gian hóa đục ngầu khói bụi
Ơi, nhan sắc ngày xưa!...
Trần Hạnh Thu
Nhận xét
Đăng nhận xét