KÝ ỨC CHÓI LỌI 27

(ĐC sưu tầm trên NET)


CHIẾN DỊCH BẮC TÂY NGUYÊN
(Tiến công, từ ngày 26 tháng 1 đến ngày 17 tháng 2 năm 1954)


Nghiên cứu kế hoạch Na-va của địch, Tổng Quân uỷ và Bộ Tổng tư lệnh đã dự kiến khả năng địch mở cuộc tiến công đánh chiếm vùng tự do Khu 5 và Khu 9. Sau Hội nghị quân sự tháng 11 năm 1953, trong phương án tác chiến chiến lược trình Bộ Chính trị (27-11-1953), Tổng Quân uỷ đã chỉ rõ: nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của Liên khu 5 trong Đông xuân 1953-1954 là phát triển vào Tây Nguyên, trước hết là phía bắc đồng thời tiếp tục củng cố và bảo vệ vùng tự do hiện nay.

Chấp hành chủ trương chiến lược trên, đầu tháng 12 năm 1953, Hội nghị Liên Khu uỷ và Đảng uỷ Bộ tư lệnh Liên khu 5 quyết định mở chiến dịch tiến công bắc Tây Nguyên nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, củng cố và mở rộng vùng tự do về phía tây, nối Liên khu 5 và Hạ Lào, phá âm mưu củng cố Tây Nguyên của địch.

Bắc Tây Nguyên gồm hai tỉnh Kom Tum và Gia Lai, địa hình rừng núi hiểm trở, dân cư thưa thớt. Khu vực này có các đường giao thông số 5, 14, 19 nối bắc Tây Nguyên với các tỉnh phía đông và phía nam. Bắc Tây Nguyên là địa bàn chiến lược quan trọng, uy hiếp trực tiếp vùng tự do Quảng Nam, Quảng Ngãi của ta. Tiến công vào bắc Tây Nguyên ta có điều kiện mở rộng vùng tự do về phía tây, uy hiếp toàn bộ vùng Tây Nguyên, Hạ Lào và đông Cam Pu Chia của địch.

Trên địa bàn Tây Nguyên, địch chia làm bốn khu: Kon Tum, Gia Lai, Buôn Ma Thuộc và Lâm Đồng. Bắc Tây Nguyên thuộc chiến trường “Cao nguyên Trung Bộ” của địch, gồm hai khu Kon Tum, Plây Cu, lực lượng có khoảng bốn tiểu đoàn cơ động và 15 đại đội chiếm đóng (cơ bản là ngụy quân). Tại khu Kon Tum, địch phòng thủ thành ba khu vực (Bắc, Nam, Đông) và thị xã. Khu Đông gồm các cứ điểm dọc đường số 5 như cứ điểm Măng Đen, Kon Brây, Măng Bút, là khu vực phòng ngự tương đối mạnh. Đặc biệt là Măng Đen, một cứ điểm trên đường 5 cách Kon Tum khoảng 40 ki-lô-mét, là một cứ điểm mạnh, do một tiểu đoàn đóng giữ. Khu nam Kon Tum có các cứ điểm Đạc Đoa, Buôn Hồ án ngữ trục đường 14 nối Kon Tum với Plây Cu. Nhìn chung, các cứ điểm của địch đều án ngữ các trục giao thông, các cứ điểm cách nhau khoảng 10 đến 30 km. Trong mỗi cứ điểm có một số đồn, nhiều cứ điểm có hệ thống công sự, vật cản khá kiên cố.

Lực lượng của ta tham gia chiến dịch gồm: hai trung đoàn chủ lực 108, 803, trung đoàn địa phương 120, cùng một số tiểu đoàn, đại đội độc lập của Liên khu và các địa phương. Tổng số quân tham gia chiến dịch khoảng 10.000 người.

Giữa tháng 12 năm 1953, kế hoạch tiến công lên bắc Tây Nguyên chính thức được thông qua. Theo kế hoạch, chiến dịch được tiến hành trên hai hướng.

Hướng chính: Bắc Kon Tum, sử dụng trung đoàn 108, trung đoàn 803 (thiếu một đại đội), tiểu đoàn 30 chủ lực độc lập, liên đội đặc công, toàn bộ các đơn vị pháo, cối, phòng không, phần lớn các đơn vị công binh, trinh sát, thông tin cùng lực lượng địa phương tại chỗ thực hành tiến công theo hai bước. Bước 1: trung đoàn 108 và đặc công tiến công hai cứ điểm Măng Đen, Măng Bút, phá vỡ thế phòng thủ đông bắc của địch; trung đoàn 803 tiến công cứ điểm Công Brây, uy hiếp thị xã Kon Tum, đánh viện trên đường 5, đoạn Kon Tum - Công Brây. Bước 2, một bộ phận chủ lực tiếp tục kiềm giữ địch trên đường số 5, còn phần lớn lực lượng phát triển sang hướng tây bắc, phá vỡ hệ thống phòng thủ của địch trong khu vực Đắc Tô – Đắc Lây, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng Kon Tum.

Hướng phụ: Đường 19 An Khê do trung đoàn địa phương 120 cùng tiểu đoàn 40 chủ lực của khu, đại đội 11, tiểu đoàn 59, trung đoàn 803 đảm nhiệm. Hướng này phải nổ súng trước, tiêu diệt các cứ điểm Kà Tung, Ba Bả, Kà Tu, đánh phá giao thông trên đường 19, diệt sinh lực, thu hút giam chân địch, tạo điều kiện cho hướng chính phát triển.

Để thống nhất việc lãnh đạo chỉ huy, được sự ủy nhiệm của Trung ương, Liên khu uỷ Khu 5 quyết định thành lập Đảng uỷ, Bộ chỉ huy Chiến dịch bắc Tây Nguyên. Đồng chí Nguyễn Chánh - Bí thư Liên khu uỷ Khu 5 giữ chức Bí thư Đảng uỷ, Tư lệnh kiêm Chính uỷ chiến dịch đồng chí Nguyễn Bá Phát - Tham mưu phó Liên khu làm Tham mưu trưởng chiến dịch. Cơ quan của Bộ tư lệnh Liên khu hình thành hai bộ phận, một bộ phận phục vụ sự chỉ đạo chỉ huy chiến dịch, một bộ phận chỉ đạo chỉ huy hoạt động thường xuyên của Liên khu. Gần 200 cán bộ cấp tỉnh và huyện được điều động về tăng cường cho bộ máy lãnh đạo dân công phục vụ mặt trận. Hàng trăm cán bộ khác của cơ quan khu uỷ và Bộ Tư lệnh Liên khu được giao nhiệm vụ về các tỉnh tự do, kiểm tra đôn đốc việc xây dựng lực lượng, sẵn sàng đánh trả các cuộc tiến công của định.

Căn cứ vào ý định của Liên khu, phòng cung cấp Liên khu 5 cùng các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên tổ chức soi đường, mở các tuyến hành lang bí mật lên Tây Nguyên, huy động hơn 100.000 dân công vận chuyển gạo, muối lên dự trữ ở những vùng tiếp giáp chiến trường. Gần như toàn bộ lực lượng vận tải ở tuyến hậu phương của Liên khu dài 264 km, đã được huy động để vận chuyển chuẩn bị cho chiến dịch. Đến ngày 15 tháng 1 năm 1954, 10 hành lang vận chuyển từ 5 đến 10 cung vận tải bộ (có hành lang tới 15 cung) đã đưa hơn 1.000 tấn gạo, gần 100 tấn muối và thực phẩm tới các kho mặt trận. Vũ khí, đạn dược của Tổng cục Cung cấp chi viện cho Liên khu 5 cũng đã vào đến nơi. Bộ đội tham gia chiến dịch được trang bị ĐKZ 57mm, được bổ sung đạn súng trường DAM (lúc đó rất thiếu ở chiến trường Liên khu 5) và được chuẩn bị khá đầy đủ về vũ khí trang bị chiến đấu1.

Để đảm bảo bí mật cho việc chuẩn bị và nghi binh đánh lạc hướng phán đoán của địch, từ đầu tháng 1 năm 1954, Bộ chỉ huy chiến dịch đã chỉ đạo các tỉnh ở vùng sau lưng địch như Quảng Nam, Khánh Hòa, Đắc Lắc, Ninh Thuận, Bình Thuận... tổ chức lực lượng vũ trang phối hợp với nhân dân hoạt động rầm rộ, tập kích các căn cứ hậu cần, kho tàng, diệt tề trừ gian...

Đúng trong dịp này, ngày 20 tháng 1 năm 1954, Na-va huy động gần 30 tiểu đoàn các loại, bắt đầu cuộc hành binh Át-lăng (Atlante) tiến công vùng tự do Phú Yên. Nắm được tình hình, trong cuộc họp ngày 21 tháng 1, Bộ chỉ huy chiến dịch nhận định: Phần lớn lực lượng cơ động của địch đã tập trung ở Phú Yên. Nếu đòn tiến công của ta lên Tây Nguyên không đủ sức uy hiếp mạnh thì không buộc được địch điều động lực lượng lên đối phó. Bộ chỉ huy hạ quyết tâm cho hướng thứ yếu nổ súng trước tiêu diệt các cứ điểm trên đường 19 từ Plây Cu đến An Khê để thu hút sự chú ý của địch, đồng thời trên hướng chính mở màn bằng một đòn tiến công đồng loạt ba mục tiêu: Măng Đen, Măng Bút và Công Brây, đập tan toàn bộ hệ thống phòng ngự đông bắc Kon Tum của địch.

Đêm 26 tháng 1, trên hướng phụ, trung đoàn 120 nổ súng diệt các cứ điểm Kà Tung, Ba Bả, Tà Tu và Búp Bê trên đường 19, mở màn chiến dịch, tiếp đó phát triển tiêu diệt thêm ba cứ điểm trên địa bàn đảm nhiệm.

Trên hướng chính, đêm ngày 27 tháng 1, ta nổ súng tiến công ba cứ điểm mạnh nhất trong hệ thống phòng thủ bắc Tây Nguyên của địch: Măng Đen, Măng Bút và Công Brây. Măng Đen và Măng Bút cách nhau 10 ki-lô-mét, Công Brây nằm lùi về phía Kon Tum, cách Kon Tum 30 ki-lô-mét và cách Măng Đen 25 ki-lô-mét. Măng Đen là cứ điểm then chốt nhất, nằm trên quả đồi hình yên ngựa và được xây dựng thành hai khu: Khu A (đồn lớn) cấu trúc theo hình tam giác, ở giữa có lô cốt mẹ bằng bê tông cốt thép, ba góc là ba lô cốt nhỏ, nối liền các lô cốt là hệ thống giao thông ngầm, xung quanh là hệ thống dây thép gai hình ngôi sao rộng từ 30 đến 90 mét. Khu B được xây dựng theo hình móng ngựa cũng có ba lô cốt và hệ thống hầm ngầm, giao thông hào ngầm nối liền các lô cốt. Giữa khu A và khu B rộng khoảng 800 mét, có một sân bay nhỏ. Khu A do hai đại đội địch đóng giữ, còn khu B thường có từ 100 đến 150, có khi lên đến 400 lính ứng chiến.

23 giờ 30 phút, tiểu đoàn 19 và 70 của trung đoàn 108 cùng nổ súng đánh vào Măng Đen. Ở hướng tiến công vào Khu A, do tiểu đoàn 19 đảm nhiệm, địch dựa vào công sự lô cốt, hầm ngầm chống trả quyết liệt. Sau ba đợt tiến công, ta thương vong lớn song vẫn không phát triển được. Trận đánh rơi vào thế giằng co.

Trên hướng tiến công vào khu B, do công sự và hoả lực của địch yếu hơn nên sau sáu giờ chiến đấu, tiểu đoàn 79 đã hoàn toàn làm chủ trận địa và tổ chức một mũi vượt qua sân bay đánh vào sau lưng địch ở khu A, hỗ trợ cho tiểu đoàn 19. Bị kẹt giữa hai hướng tiến công, địch ở khu A rơi vào thế bị động lúng túng và lần lượt bị tiêu diệt. 7 giờ ngày 28 tháng 1, sau tám giờ chiến đấu liên tục, ta hoàn toàn làm chủ cứ điểm Măng Đen.

Cùng đêm 24, tiểu đoàn 59 trung đoàn 803 tổ chức đánh cứ điểm Công Brây. Do đường vận động xa hơn nên khi hướng Măng Đen nổ súng, tiểu đoàn vẫn còn cách Công Brây 5 km. Địch ở Công Brây đề phòng. Bộ đội ta nằm phục đến mờ sáng, thấy địch có biểu hiện chủ quan cho là ta không đánh mới bất ngờ nổ súng diệt đồn. Địch tan rã nhanh chóng. Sáng 28, tiểu đoàn 59 làm chủ Công Brây. Hướng Măng Bút, trận đánh diễn ra nhanh gọn. Tiểu đoàn 89 cùng liên đội đặc công làm chủ cứ điểm sau 30 phút chiến đấu.

Ba cứ điểm Măng Đen, Công Brây, Măng Bút bị san phẳng, cụm phòng ngự then chốt của địch ở bắc Tây Nguyên bị đập tan, tiểu khu Kon Tum bị uy hiếp trực tiếp. Lực lượng cơ động (GM100) đang bị giam chân ở Phú Yên chưa thể ứng cứu ngay được. Địch ở Kon Tum rơi vào tình trạng hoang mang dao động.
_____________________________________
1. Kết quả về công tác đảm bảo hậu cần trong chiến dịch, các địa phương đã huy động hơn 10.000 tấn lương thực thực phẩm, hơn 200.000 lượt dân công, phục vụ gần 6.000.000 ngày công, hơn 2.000 xe đạp thồ, hơn 1.000 xe bò, xe ngựa. Hậu cần chiến dịch đã cung cấp cho bộ đội 72 tấn vũ khí đạn dược, 900 tấn gạo, 200 tấn thịt, 50 tấn cá tươi, gần 100 tấn thực phẩm khô, 20 tấn thuốc quân y cứu chữa hơn 2.000 thương binh.






WWW


Chớp thời cơ, đêm 28 tháng 1, Bộ chỉ huy chiến dịch lệnh cho các đơn vị đẩy nhanh tốc độ tiến công. Trung đoàn 28 phát triển tiến công địch trên hướng bắc Kon Tum, diệt các cứ điểm Đắc Tô, Đắc Sút, Đắc Lây... Trên đường 14 trung đoàn 803 áp sát uy hiếp thị xã Kon Tum, đồng thời đưa một bộ phận luồn sâu xuống phía nam cắt đường 14, đoạn Plây Cu - Kon Tum. Trung đoàn 120 phát triển sang hướng đèo Măng Giang tiến công các cứ điểm của địch ở khu vực ngã ba đường 19 và đường 19 bis.

Bước vào đợt 2, trên hướng bắc Kon Tum, trung đoàn 108 đã nhanh chóng tổ chức tiến công địch từ ngày 29 tháng 1. Nhưng nghe tin chủ lực ta tiến công, địch ở các đồn từ Đắc Tô, Đắc Lây, Đắc Sút cùng nhiều đồn bốt khác đã bỏ chạy trước khi ta đến. Trung đoàn chuyển sang truy kích địch. Sau bảy ngày đuổi địch, trung đoàn 108 đã diệt và bắt hàng trăm tên, giải phóng dải đất phía bắc Kon Tum và áp sát uy hiếp thị xã.

Trong khi trung đoàn 108 đang truy kích, tiến về thị xã Kon Tum từ phía bắc, ngày 31 tháng 1, địch điều GM100 từ Phú Yên lên tăng viện cho Kon Tum và Plây Cu (một tiểu đoàn ở Plây Cu, hai tiểu đoàn ở Kon Tum). Ngày 1 tháng 2, địch ở Kon Tum mở cuộc hành binh giải toả ra hướng Măng Đen, đến gần Công Brây thì sa vào trận địa phục kích của một bộ phận trung đoàn 803, một đại đội bị diệt, số còn lại phải quay về Kon Tum. Ngay đêm đó, đặc công của trung đoàn 803 đã tập kích diệt sở chỉ huy tiểu đoàn địch ở trung tâm thị xã. Trung đoàn 803 tiếp tục vây ép thị xã Kon Tum và cho một bộ phận xuống phía nam thị xã để chia cắt đường 14 theo kế hoạch. Ngày 4 tháng 2, tiểu đoàn 59 (bộ phận luồn xuống phía nam Kon Tum) của trung đoàn 803 đã phục kích một đoàn xe địch trên đường 14 từ Plây Cu tiếp tế cho Kon Tum, diệt bảy xe.

Mặc dù lực lượng ở bắc Tây Nguyên còn đông, nhưng thế trận của địch hoàn toàn bất lợi. Đường số 5, số 14 bị cắt, Kon Tum bị uy hiếp và hoàn toàn cô lập. Để thực hiện chủ trương co cụm hòng đối phó với cuộc tiến công lớn của ta, Bộ chỉ huy Pháp ra lệnh bỏ thị xã Kon Tum, co về phòng thủ Plây Cu, đồng thời tạm dừng cuộc hành quân Át-lăng, đưa lực lượng tăng cường tuyến phòng thủ đường 19 và nam Tây Nguyên.

Đêm 6 tháng 2, địch rút khỏi Kon Tum, trung đoàn 803, do không nắm chắc địch, đã bỏ lỡ cơ hội diệt địch. Ngày hôm sau, trung đoàn tổ chức truy kích, song không có kết quả.

Bộ Tư lệnh chiến địch quyết định đưa trung đoàn 108 và 803 tiếp tục phát triển về hướng Plây Cu. Đêm 16 rạng ngày 17 tháng 2, cùng lúc ta tổ chức tiến công cứ điểm Đắc Đoa và tập kích thị xã Plây Cu.

Đắc Đoa là một cứ điểm mạnh do hai đại đội của binh đoàn cơ động 100 chiếm giữ. Cứ điểm có hệ thống công sự, lô cốt khá vững chắc. Trung đoàn 803 tổ chức hai mũi tên tiến công Đắc Đoa. Mũi chủ yếu phát triển khó khăn, mũi thứ yếu gặp thuận lợi hơn. Cuộc chiến đấu kéo dài hơn tám tiếng sáng ngày 17, ta làm chủ Đắc Đoa, xoá sổ hai đại đội địch, bắt sống 150 tên lính Âu - Phi.

Tại thị xã Plây Cu, đại đội 1, tiểu đoàn 78, trung đoàn 108 tập kích một số kho tàng và sở chỉ huy địch, diệt và làm bị thương gần 200 tên. Tại Buôn Hồ, ta vây ép, gọi hàng một đại đội địch, thu vũ khí rồi phóng thích tại chỗ.

Ngày 17 tháng 2, Chiến dịch bắc Tây Nguyên kết thúc. Trải qua hơn 20 ngày đêm chiến đấu, bộ đội ta đã diệt hơn 2.000 địch, bắt sống 310 tên, đập tan toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch ở Kon Tum giải phóng một vùng chiến lược gần 16.000km2 gồm cả một thị xã. Cùng với cuộc tiến công ở Hạ Lào, tạo thành vùng giải phóng liên hoàn từ nam Quảng Ngãi tới Hạ Lào. Ta còn thu nhiều vũ khí đủ trang bị cho một trung đoàn bộ binh.



Chiến dịch bắc Tây Nguyên là một thắng lợi lớn của quân và dân ta trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954. Đây là lần đầu tiên ta giải phóng được một vùng rộng lớn trên chiến trường rừng núi bắc Tây Nguyên, trong đó có một thị xã có tầm quan trọng cả về quân sự và chính trị. Thắng lợi của chiến dịch còn có ý nghĩa buộc địch phải ngừng cuộc hành quân Át-lăng, rút sáu tiểu đoàn bộ binh và dù lên ứng cứu cho Tây Nguyên, xây dựng hai tập đoàn cứ điểm ở Plây Cu và An Khê. Chiến dịch bắc Tây Nguyên đã đánh bại ý đồ “chủ động tiến công trước” và làm phân tán hơn nữa khối cơ động chiến lược của Na-va trên chiến trường Đông Dương.

Thành công của Chiến dịch bắc Tây Nguyên là ở chỗ ta đã chọn cách đánh hay cả về chiến dịch và chiến thuật, tổ chức hiệp đồng toàn diện, có hiệu quả trên địa bàn toàn liên khu.

Về chỉ đạo tác chiến trên địa bàn toàn liên khu, liên khu đã giao nhiệm vụ cho lực lượng vũ trang và nhân dân vùng tự do chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng đánh địch bảo vệ hậu phương đồng bằng, để bộ đội chủ lực rảnh tay tác chiến tập trung trên chiến trường rừng núi; chỉ đạo vùng sau lưng địch đẩy mạnh hoạt động để phối hợp với hướng chính. Sự chỉ đạo phối hợp này không những đã tạo thêm bất ngờ đối với địch trên hướng chủ yếu (Tây Nguyên) mà còn buộc địch phải đối phó trên diện rộng trong địa bàn toàn liên khu trước khi địch mở cuộc hành quân Át-lăng.

Về nghệ thuật chiến dịch nét độc đáo của Chiến dịch Bắc Tây Nguyên là ta đã chọn đúng hướng mở màn chiến dịch. Đông bắc Kon Tum là khu vực phòng thủ cứng của địch nhưng lại là khu vực phòng ngự hiểm yếu, không liên hoàn nên khi ta tiến công địch buộc phải ứng cứu, tạo điều kiện cho ta đánh địch ngoài công sự. Khi bị mất thì toàn bộ khu vực bắc Kon Tum và thị xã Kon Tum bị uy hiếp trực tiếp và nhanh chóng dẫn tới tan vỡ.

Sau khi diệt xong các cứ điểm trong tuyến phòng thủ đông bắc Kon Tum, Bộ chỉ huy chiến dịch đã thúc đẩy các đơn vị nhanh chóng bước vào đợt 2, chuyển hướng tiến công các cứ điểm trên tuyến Đắc Tô – Đắc Lây và áp sát uy hiếp thị xã Kon Tum. Chủ trương linh hoạt đó đã khiến cho lực lượng lớn của địch trong thị xã không đủ khả năng tự cứu mà một lực lượng cơ động lớn được điều lên ứng cứu (GM100) cũng bị vô hiệu hóa.

Trong Chiến dịch Bắc Tây Nguyên ta còn chủ trương nổ súng đồng loạt trên các hướng (đông bắc, bắc và đường số 19) và tiêu diệt hàng loạt cứ điểm trong mấy ngày đầu chiến dịch, làm đảo lộn thế trận phòng thủ của địch, gây tâm lý hoang mang dao động trong binh lính địch, tạo điều kiện thuận lợi để ta đánh các trận tiếp sau.

Trong thực hành, bộ đội ta đã vận dụng khá linh hoạt các hình thức, thủ đoạn chiến thuật. Ngoài việc tổ chức tiến công một loạt các cứ điểm, ta đã tổ chức các trận địa phục kích trên đường 5 và đường 14 để đánh địch ngoài công sự, chớp thời cơ tập kích khi địch chủ quan, hay tổ chức các lực lượng luồn sâu đánh phá sở chỉ huy địch trong thị xã.

Tuy còn một số hạn chế trong tổ chức chỉ huy đánh địch trong công sự cũng như trong đánh vận động, song Chiến dịch Bắc Tây Nguyên là một bước tiến quan trọng về nghệ thuật tiến hành chiến dịch ở một chiến trường xa sự giúp đỡ hậu phương của ta.




WWW


CHIẾN DỊCH THƯỢNG LÀO 1954
(Tiến công, từ ngày 29 tháng 1 đến ngày 13 tháng 2 năm 1954)


Trưa ngày 26 tháng 1 năm 1954, trước tình hình địch đã tăng cường phòng ngự ở Điện Biên Phủ, Đảng uỷ Chiến dịch Điện Biên Phủ quyết định tạm thời đình chỉ cuộc tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tiếp tục chuẩn bị thêm để đánh với phương châm “Đánh chắc, tiến chắc”. Đồng thời, Đảng uỷ chiến dịch quyết định đưa Đại đoàn 308 tiến công sang hướng Thượng Lào, nhằm cô lập địch ở Điện Biên Phủ hơn nữa, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giúp bạn Lào mở rộng vùng giải phóng, không cho địch đánh vào sau lưng ta, vừa nghi binh thu hút sự chú ý của chúng, bảo đảm cho bộ đội ở Điện Biên Phủ rút ra khu tập kết an toàn.

Về địch, sau khi tướng Na-va quyết định xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ để giao chiến với chủ lực ta, thì ở Thượng Lào từ đầu tháng 12, địch cũng bắt đầu xây dựng “Phòng tuyến sông Nậm Hu”. Phòng tuyến này gồm một loạt cứ điểm dọc sông Nậm Hu từ Pắc U lên Mường Ngòi, Mường Khoa, với tổng số binh lực khoảng 20 đại đội (sáu tiểu đoàn). Nhiệm vụ của “phòng tuyến sông Nậm Hu” là bảo vệ Thượng Lào, bảo vệ cho Điện Biên Phủ khỏi bị cô lập, và tạo thành hành lang bảo đảm việc lui quân từ Điện Biên Phủ về Luông Pha Băng (Lào) khi cần thiết.

Về phía ta, 14 giờ ngày 26 tháng 1, Đại đoàn 308 chính thức nhận lệnh hành quân sang Lào kết hợp với bạn tiến công phòng tuyến sông Nậm Hu. Mặc dù trong mệnh lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho phép “lực lượng sử dụng bao nhiêu tuỳ thuộc vào khả năng cung cấp của đại đoàn... làm sao bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ... giữ vững lực lượng, có lệnh trở về ngay”1, nhưng Đảng ủy đại đoàn đã họp và quyết định đưa toàn bộ đại đoàn sang Lào để thực hiện nhiệm vụ.

Vào thời điểm này, biên chế của Đại đoàn 308 gồm các trung đoàn bộ binh 102, 88, 36, tiểu đoàn phòng không, cối 102 mm và một số đơn vị trực thuộc. Toàn bộ đại đoàn ở khu vực Hồng Lếnh phía tây cánh đồng Điện Biên Phủ.

18 giờ 30 ngày 26 tháng 1 (chỉ sau khi nhận lệnh bốn giờ), các đơn vị của đại đoàn lần lượt rút khỏi Điện Biên Phủ lên đường sang Thượng Lào. Chỉ huy đại đoàn sang Thượng Lào là đồng chí Vương Thừa Vũ - Tư lệnh kiêm bí thư Đảng uỷ đại đoàn.

Vì thời gian gấp nên đại đoàn vừa hành quân vừa tổ chức nắm địch, nghiên cứu địa hình, tổ chức bảo đảm hậu cần tại chỗ. Khó khăn lớn nhất trong đảm bảo cho chiến dịch là vấn đề thuốc quân y và lương thực. Mỗi ngày đại đoàn cần năm tấn gạo, nhưng khi lên đường các chiến sĩ của đại đoàn chỉ mang theo mỗi người một ngày lương khô và một ngày gạo. Đại đoàn đề ra phương châm “tự lực và gấp rút”, nhanh chóng tổ chức lực lượng cán bộ đi bắt liên lạc với cán bộ địa phương bạn huy động lương thực trong nhân dân. Bộ phận tiền phương của Tổng cục Cung cấp một mặt cử đoàn vận tải hỗ trợ tiếp tế cho đại đoàn, một mặt cử đại diện sang Lào liên hệ với bạn giải quyết vấn đề cung cấp tại chỗ cho bộ đội (ta dựa vào bạn dùng tiền Đông Dương để mua lương thực thực phẩm). Bộ Tổng tham mưu cũng cử một đại đội trinh sát của Bộ đi trước nắm địch ở Mường Khoa, để đảm bảo cho đại đoàn tiến quân thuận lợi.

Ngày 29 tháng 1, sau khi vượt 80 ki-lô-mét đường rừng, phần lớn lực lượng đại đoàn đã tới Sốp Nạo, riêng bộ phận đi trước đã tới sát bờ sông Nậm Hu. 20 giừ ngày 29 tháng 1, đại đoàn nhận được điện của Bộ Tổng tư lệnh tiền phương: “Địch đã phát hiện Đại đoàn 308 rời khỏi Điện Biên Phủ sang Lào, chúng đã ra lệnh rút khỏi Mường Khoa và các đồn lân cận về Nậm Bạc”.

Nhận được điện, Bộ chỉ huy đại đoàn quyết định: chia làm hai cánh, nhanh chóng truy kích địch: Cánh thứ nhất, trung đoàn 102 truy kích theo hướng Mường Khoa - Mường Sài; cánh thứ hai, trung đoàn 88 và 36 truy kích theo hướng Nậm Bạc - Luông Pha Băng.

Sáng ngày 30 tháng 1, cánh quân thứ nhất tổ chức vượt sông Nậm Hu tiến về phía Mường Khoa - Mường Sài. Đi cùng cánh quân này có sở chỉ huy nhẹ của đại đoàn, do Đại đoàn phó Cao Văn Khánh phụ trách. Nửa đêm 30, trung đoàn 102 vừa được lệnh dừng lại nghỉ đêm thì nhận được tin của quân báo đại đoàn phát hiện địch đang trên đường nhạy về Mường Sài, ở cách đơn vị khoảng 10 ki-lô-mét. Cả đơn vị lập tức gấp rút đuổi theo. Bộ phận quân báo của đại đoàn nhanh chóng tìm đường vượt lên trước, đến rạng sáng ngày 31, bộ phận này đã kết hợp được với một đơn vị địa phương tạo được một “cái nút” chặn trước đường hành quân của địch.

Quân địch đang nhốn nháo do bị chặn ở phía trước, thì phía sau, đại đội 261 tiếp đó là cả tiểu đoàn 18 của trung đoàn 102 đã kịp thời ập tới, tổ chức nhiều mũi đánh thẳng vào đội hình địch. Một đại đội Pa-thét Lào thuộc tiểu đoàn 920 đang trên đường đi Mường Sài để phối hợp với ta, nghe tiếng súng nổ đã chủ động đến cùng tiểu đoàn 18 đánh địch.

Bị tiến công bất ngờ, đội hình địch bị chia cắt làm đôi. Cụm thứ nhất gồm tiểu đoàn Ta-bo số 5 và ba đại đội ngụy do thiếu tá Vô-đơ-rây chỉ huy; cụm thứ hai có ba đại đội thuộc tiểu đoàn lê dương số 2 và một đại đội ngụy do thiếu tá Ca-ba-ri chỉ huy. Các cụm quân này chiếm giữ các điểm cao, vừa ngoan cố chống cự, vừa tìm đường rút chạy. Địch đông, địa hình rừng núi phức tạp nên trận đánh kéo dài, ta diệt và bắt sống một số, nhưng không đủ khả năng dứt điểm.

Chiều ngày 31 tháng 1, đại bộ phận lực lượng của trung đoàn 102 mới tới khu vực đánh địch. Trung đoàn trưởng lệnh cho các tiểu đoàn 79 và 54 tổ chức tiến công địch ngay. Lúc này lợi dụng trời bắt đầu tối và địa hình rừng núi, địch bí mật rút về Mường Sài. Tiểu đoàn 18 thấy cụm quân của Vô-đơ-rây xuống núi, lập tức chiếm lĩnh địa thế có lợi từ trên đánh xuống diệt hàng trăm tên, bắt sống 54 tên.

Ở phía sau, tiểu đoàn 79 và 54 tổ chức tiến công chậm. Lợi dụng trời tối, bốn đại đội do Ca-ba-ri chỉ huy đã rút chạy trước khi ta tiến công. Trung đoàn tổ chức lùng sục, truy đuổi địch ngay trong đêm.

Sáng ngày 1 tháng 2, tiểu đoàn 79 phát hiện được địch ở khu rừng rậm trước mặt. Đây chính là đại đội địch ở cụm 2. Tiểu đoàn nhanh chóng tổ chức một mũi vòng xuống phía nam chốt chặn, còn đại bộ phận tổ chức nhiều mũi đồng loạt tiến công bọn địch đang tạm dừng. Địch chống cự yếu ớt, nhanh chóng tan rã, lẩn trốn vào rừng tìm đường về Mường Sài. Trong các ngày 1 và 2 tháng 2, trung đoàn 102 tiếp tục tổ chức lực lượng đuổi địch và truy tìm những tên còn lẩn trốn trong rừng. Cả hai tiểu đoàn địch chạy từ Mường Khoa cơ bản bị trung đoàn 102 loại khỏi vòng chiến đấu. Trung đoàn đã diệt và bắt sống hàng trăm tên, trong đó có tên thiếu tá Ca-ba-ri và tên đại uý Lăm-be. Đêm 2 tháng 2, trung đoàn dừng lại ở sát Mường Sài củng cố chờ nhận nhiệm vụ mới.
_______________________________________
1. Lịch sử Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954). Nxb QĐND, H, 1991. tr.752.





WWW


Trên hướng Nậm Bạc - Luông Pha Băng, trung đoàn 36 đi đầu cũng khẩn trương xuyên rừng tiến về hướng Nậm Bạc. Chiều 30 tháng 1, trung đoàn đến sát Mường Ngòi, địch ở đây đã rút chạy. Sáng ngày 1 tháng 2, trung đoàn tổ chức vượt sông Nậm Hu. Nhân dân địa phương huy động thuyền độc mộc giúp đơn vị chở vũ khí nặng và các chiến sĩ đau yếu, còn lại toàn đơn vị kết bè mảng, dùng mọi thứ làm phao dìu nhau vượt qua sông rộng.

Tiểu đoàn 89 vượt sông đầu tiên, phát hiện một tiểu đoàn địch đang tạm dừng trên các quả đồi trước mặt, tổ chức tiến công ngay và nhanh chóng đánh tan đội hình địch. Suốt trong ngày 1 tháng 2, tiểu đoàn đã truy đuổi đánh 10 trận đạt hiệu suất cao và xóa sổ cả tiểu đoàn địch, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng.

Ngày 2 tháng 2, trung đoàn 36 tiến vào thung lũng Nậm Bạc. Trong thung lũng có một đồn địch. Quân địch trong đồn đang nhốn nháo chuẩn bị rút chạy. Chớp thời cơ đại đội 396, bộ phận đi đầu của tiểu đoàn 89, nhanh chóng đánh thẳng vào đồn. Địch hốt hoảng bỏ chạy, ta làm chủ cả vùng thung lũng Nậm Bạc.

Nậm Bạc là một khu vực ngã ba, một đường đi về phía Mường Sài, nơi trung đoàn 102 đang đánh tới, một đường qua Nậm Ngà rồi thẳng xuống Luông Pha Băng, nơi có sở chỉ huy Pháp ở Thượng Lào.

Sau khi chiếm được Nậm Bạc, trung đoàn 36 xốc lại đội hình, ngày 3 tháng 2, tiếp tục tiến thẳng về phía Nậm Ngà. Phía sau trung đoàn 36, trung đoàn 88 cũng đã tiến vào các khu vực mới giải phóng truy quét tàn binh địch, cùng bạn xây dựng cơ sở cách mạng. Ngày 5 tháng 2 trung đoàn 36 tiến đến sát Nậm Ngà. Đi đầu đội hình vẫn là tiểu đoàn 89, gồm đại đội 399 dẫn đầu, tiếp sau là các đại đội 395 và 397.

Lúc này, tiểu đoàn ngụy Thái số 1 cũng từ Mường Sài tới tăng viện cho Nậm Ngà. Đại đội đi đầu của chúng đã vào đồn, còn hai đại đội đang tới khu vực ngã ba Nậm Bạc - Nậm Ngà - Mường Sài.

Hai đại đội (395, 397) đi sau của tiểu đoàn 89, gặp địch ở khu vực ngã ba, nhanh chóng tổ chức thế bao vây hai đại đội của địch ở khu vực này. Đại đội 399 đi đầu tiếp tục tiến về phía đồn Nậm Ngà, tổ chức bao vây địch ở trong đồn. Ở khu vực ngã ba, trận tao ngộ chiến diễn ra khá ác liệt. Ta và địch đều cố chiếm những điểm cao có lợi, dùng hoả lực kiềm chế nhau. Lực lượng của ta dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn phó và chính trị viên tiểu đoàn, nhanh chóng chia thành nhiều mũi hình thành thế bao vây đồng thời sử dụng cối 82mm và súng máy chi viện cho bộ binh tiến công phía chính diện. Ở phía sau, chính trị viên của đại đội 395 dẫn một tiểu đội vòng theo đường núi đánh chọc sườn cụm hoả lực của địch. Bị bất ngờ, cụm hoả lực địch không kịp trở tay nhanh chóng bị tiêu diệt. Mất hoả lực, lại bị phân tán và uy hiếp bởi nhiều mũi tiến công của ta, hai đại đội địch tan rã và bị tiêu diệt gần hết.

Thừa thắng, tiểu đoàn 89 dồn toàn bộ lực lượng tiến công đồn Nậm Ngà. Địch ở đây chống cự yếu ớt và chịu thất bại hoàn toàn. Như vậy chỉ sau vài giờ chiến đấu, tiểu đoàn 89 đã giành được thắng lợi giòn giã, loại khỏi vòng chiến đấu gọn một tiểu đoàn địch, thu nhiều vũ khí, quân trang quân dụng.

Chiều ngày 7 tháng 2, trung đoàn 36 tiến xuống tới Bắc Sương. Ở đây, trung đoàn bắt liên lạc được với tiểu đoàn địa phương 970 của bạn và biết năm đại đội địch đã bỏ đồn chạy về Luông Pha Băng. Trung đoàn tiếp tục tiến vào hướng Luông Pha Băng. Ngày 11 tháng 2, trung đoàn vượt sông Nậm Hu (quãng ngã ba sông Nậm Hu gặp sông Mê Công). Ngay chiều hôm đó, tiểu đoàn 80 - bộ phận đi đầu của trung đoàn 36 đã tổ chức tiến công đồn Bản Na cách Luông Pha Băng 10 ki-lô-mét. Địch hoang mang, tan vỡ nhanh chóng, ta diệt một trung đội lê dương, một trung đội dù ngụy, bắt sống hàng chục tên, trong đó có tên quan hai Pháp.

Trên hướng Mường Sài, từ ngày 4 tháng 2, trung đoàn 102 cũng áp sát các vị trí tiền tiêu, dùng cối bắn vào các khu vực của địch. Trước sức ép của ta, địch phải lập cầu hàng không tăng cường lực lượng cho Mường Sài và Luông Pha Băng, xây dựng hai tập đoàn cứ điểm ở đây. Lực lượng cơ động chiến lược của Pháp lại thêm một lần nữa bị phân tán. Ngày 13 tháng 2 năm 1954, Đại đoàn 308 được lệnh của Bộ kết thúc chiến dịch và bí mật quay trở về Điện Biên Phủ. Đơn vị trinh sát của Bộ ở lại làm nhiệm vụ phao tin ta chuẩn bị đánh Luông Pha Băng để đại đoàn rút quân an toàn.

Như vậy, trong hơn mười ngày tiến công, truy kích địch trên chặng đường dài hơn 200 kém, Đại đoàn 308 đã đánh nhiều trận đạt hiệu quả cao. Ta và bạn đã tiêu diệt gọn một tiểu đoàn lê dương (2/2 REI), ba đại đội ngụy, đánh tan hai tiểu đoàn ngụy, tiêu hao một bộ phận của tiểu đoàn Ta-bo số 5 (tổng số 15 đại đội). Loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 2.000 tên, bắt sống 354 tên (trong đó có một quan tư, hai quan ba, sáu quan hai, một quan một), thu hàng chục tấn vũ khí, quân trang, quân dụng. Toàn bộ phòng tuyến sông Nậm Hu của địch bị phá vỡ. Một vùng rộng lớn lưu vực sông Nậm Hu được giải phóng, đẩy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ vào thế hoàn toàn bị cô lập.

Đòn tiến công sang Thượng Lào của Đại đoàn 308 thực sự bất ngờ đối với bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp. Thất bại ở Thượng Lào lần này chứng tỏ ý định của Na-va chiếm đóng Điện Biên Phủ để bảo vệ Thượng Lào, bảo vệ Luông Pha Băng đã bị phá sản. Địch buộc phải tăng quân cho Mường Sài và Luông Pha Băng, lực lượng cơ động của chúng lại một lần nữa bị phân tán. Chiến dịch Thượng Lào đã đạt được mục đích đề ra là tiêu hao sinh lực địch, đánh lạc hướng chú ý của địch với Điện Biên Phủ, tạo điều kiện để các lực lượng chuẩn bị tốt hơn cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Chiến thắng Thượng Lào còn tạo điều kiện cho trung đoàn 148 cùng bộ đội Pa-thét Lào giải phóng Bun Tầy, Bun Nừa, khu vực tỉnh lỵ và một vùng rộng lớn tỉnh Phông Xa Lỳ. Có thể nói Chiến dịch Thượng Lào đã đạt trọn vẹn mục tiêu của cả chiến lược và chiến dịch.

Nghệ thuật chiến dịch trong chiến dịch Thượng Lào trước hết thể hiện trong việc sử dụng lực lượng. Mặc dù được Bộ Tổng tư lệnh cho phép tự quyết định quy mô lực lượng ra quân (ít nhất là một tiểu đoàn), nhưng Bộ tư lệnh chiến dịch đã quyết tâm khắc phục khó khăn về bảo đảm hậu cần, sử dụng toàn bộ lực lượng của đại đoàn, tạo sức mạnh áp đảo trên cả hai hướng chiến dịch. Trước sức mạnh áp đảo của ta, địch buộc phải rút chạy, tạo điều kiện cho ta truy kích đánh địch ngoài công sự.

Việc tổ chức điều hành chiến dịch cũng là một thành công của Chiến dịch Thượng Lào. Chỉ sau khi nhận lệnh bốn giờ, đại đoàn đã hoàn thành cơ bản mọi công tác tổ chức chuẩn bị, từ chuẩn bị bộ đội, tổ chức dẫn đường nắm địch, tổ chức tiền trạm, tổ chức thông tin đảm bảo liên lạc đến việc đảm bảo hậu cần trong điều kiện chiến trường rừng núi xa, rộng và chia cắt. Điều này chứng tỏ trình độ tổ chức chỉ huy của cán bộ Đại đoàn 308 đã có bước trưởng thành đáng kể.

Trong thực hành chiến dịch, một ưu điểm nổi bật của cán bộ chiến sĩ đại đoàn là tính chủ động trong truy kích địch. Ở địa hình rừng núi, trên từng cánh, việc chỉ huy toàn bộ lực lượng của một trung đoàn hay cả đại đoàn là rất khó khăn. Mà việc truy kích địch thì thời gian, thời cơ lại là nhân tố hết sức quyết định. Trong chiến dịch, cán bộ các cấp của đại đoàn đã nêu cao tinh thần chủ động, không chờ đợi cấp trên, không chờ đủ lực lượng, đơn vị nào gặp địch là chủ động triển khai đánh địch, đơn vị đến sau hiệp đồng theo tiếng súng, hỗ trợ cho đơn vị đến trước, nhanh chóng khoét sâu điểm yếu tinh thần của quân địch rút chạy để tiến công giành thắng lợi. Trong truy kích, ta còn tổ chức được các bộ phận gọn nhẹ vượt lên trước ngăn chặn địch, tạo điều kiện cho các đơn vị phía sau đuổi kịp triển khai tiến công.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32