KÝ ỨC CHÓI LỌI 27
(ĐC sưu tầm trên NET)
Nghiên cứu kế hoạch Na-va của địch, Tổng Quân uỷ và Bộ Tổng tư lệnh đã dự kiến khả năng địch mở cuộc tiến công đánh chiếm vùng tự do Khu 5 và Khu 9. Sau Hội nghị quân sự tháng 11 năm 1953, trong phương án tác chiến chiến lược trình Bộ Chính trị (27-11-1953), Tổng Quân uỷ đã chỉ rõ: nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của Liên khu 5 trong Đông xuân 1953-1954 là phát triển vào Tây Nguyên, trước hết là phía bắc đồng thời tiếp tục củng cố và bảo vệ vùng tự do hiện nay.
Chấp hành chủ trương chiến lược trên, đầu tháng 12 năm 1953, Hội nghị Liên Khu uỷ và Đảng uỷ Bộ tư lệnh Liên khu 5 quyết định mở chiến dịch tiến công bắc Tây Nguyên nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, củng cố và mở rộng vùng tự do về phía tây, nối Liên khu 5 và Hạ Lào, phá âm mưu củng cố Tây Nguyên của địch.
Bắc Tây Nguyên gồm hai tỉnh Kom Tum và Gia Lai, địa hình rừng núi hiểm trở, dân cư thưa thớt. Khu vực này có các đường giao thông số 5, 14, 19 nối bắc Tây Nguyên với các tỉnh phía đông và phía nam. Bắc Tây Nguyên là địa bàn chiến lược quan trọng, uy hiếp trực tiếp vùng tự do Quảng Nam, Quảng Ngãi của ta. Tiến công vào bắc Tây Nguyên ta có điều kiện mở rộng vùng tự do về phía tây, uy hiếp toàn bộ vùng Tây Nguyên, Hạ Lào và đông Cam Pu Chia của địch.
Trên địa bàn Tây Nguyên, địch chia làm bốn khu: Kon Tum, Gia Lai, Buôn Ma Thuộc và Lâm Đồng. Bắc Tây Nguyên thuộc chiến trường “Cao nguyên Trung Bộ” của địch, gồm hai khu Kon Tum, Plây Cu, lực lượng có khoảng bốn tiểu đoàn cơ động và 15 đại đội chiếm đóng (cơ bản là ngụy quân). Tại khu Kon Tum, địch phòng thủ thành ba khu vực (Bắc, Nam, Đông) và thị xã. Khu Đông gồm các cứ điểm dọc đường số 5 như cứ điểm Măng Đen, Kon Brây, Măng Bút, là khu vực phòng ngự tương đối mạnh. Đặc biệt là Măng Đen, một cứ điểm trên đường 5 cách Kon Tum khoảng 40 ki-lô-mét, là một cứ điểm mạnh, do một tiểu đoàn đóng giữ. Khu nam Kon Tum có các cứ điểm Đạc Đoa, Buôn Hồ án ngữ trục đường 14 nối Kon Tum với Plây Cu. Nhìn chung, các cứ điểm của địch đều án ngữ các trục giao thông, các cứ điểm cách nhau khoảng 10 đến 30 km. Trong mỗi cứ điểm có một số đồn, nhiều cứ điểm có hệ thống công sự, vật cản khá kiên cố.
Lực lượng của ta tham gia chiến dịch gồm: hai trung đoàn chủ lực 108, 803, trung đoàn địa phương 120, cùng một số tiểu đoàn, đại đội độc lập của Liên khu và các địa phương. Tổng số quân tham gia chiến dịch khoảng 10.000 người.
Giữa tháng 12 năm 1953, kế hoạch tiến công lên bắc Tây Nguyên chính thức được thông qua. Theo kế hoạch, chiến dịch được tiến hành trên hai hướng.
Hướng chính: Bắc Kon Tum, sử dụng trung đoàn 108, trung đoàn 803 (thiếu một đại đội), tiểu đoàn 30 chủ lực độc lập, liên đội đặc công, toàn bộ các đơn vị pháo, cối, phòng không, phần lớn các đơn vị công binh, trinh sát, thông tin cùng lực lượng địa phương tại chỗ thực hành tiến công theo hai bước. Bước 1: trung đoàn 108 và đặc công tiến công hai cứ điểm Măng Đen, Măng Bút, phá vỡ thế phòng thủ đông bắc của địch; trung đoàn 803 tiến công cứ điểm Công Brây, uy hiếp thị xã Kon Tum, đánh viện trên đường 5, đoạn Kon Tum - Công Brây. Bước 2, một bộ phận chủ lực tiếp tục kiềm giữ địch trên đường số 5, còn phần lớn lực lượng phát triển sang hướng tây bắc, phá vỡ hệ thống phòng thủ của địch trong khu vực Đắc Tô – Đắc Lây, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng Kon Tum.
Hướng phụ: Đường 19 An Khê do trung đoàn địa phương 120 cùng tiểu đoàn 40 chủ lực của khu, đại đội 11, tiểu đoàn 59, trung đoàn 803 đảm nhiệm. Hướng này phải nổ súng trước, tiêu diệt các cứ điểm Kà Tung, Ba Bả, Kà Tu, đánh phá giao thông trên đường 19, diệt sinh lực, thu hút giam chân địch, tạo điều kiện cho hướng chính phát triển.
Để thống nhất việc lãnh đạo chỉ huy, được sự ủy nhiệm của Trung ương, Liên khu uỷ Khu 5 quyết định thành lập Đảng uỷ, Bộ chỉ huy Chiến dịch bắc Tây Nguyên. Đồng chí Nguyễn Chánh - Bí thư Liên khu uỷ Khu 5 giữ chức Bí thư Đảng uỷ, Tư lệnh kiêm Chính uỷ chiến dịch đồng chí Nguyễn Bá Phát - Tham mưu phó Liên khu làm Tham mưu trưởng chiến dịch. Cơ quan của Bộ tư lệnh Liên khu hình thành hai bộ phận, một bộ phận phục vụ sự chỉ đạo chỉ huy chiến dịch, một bộ phận chỉ đạo chỉ huy hoạt động thường xuyên của Liên khu. Gần 200 cán bộ cấp tỉnh và huyện được điều động về tăng cường cho bộ máy lãnh đạo dân công phục vụ mặt trận. Hàng trăm cán bộ khác của cơ quan khu uỷ và Bộ Tư lệnh Liên khu được giao nhiệm vụ về các tỉnh tự do, kiểm tra đôn đốc việc xây dựng lực lượng, sẵn sàng đánh trả các cuộc tiến công của định.
Căn cứ vào ý định của Liên khu, phòng cung cấp Liên khu 5 cùng các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên tổ chức soi đường, mở các tuyến hành lang bí mật lên Tây Nguyên, huy động hơn 100.000 dân công vận chuyển gạo, muối lên dự trữ ở những vùng tiếp giáp chiến trường. Gần như toàn bộ lực lượng vận tải ở tuyến hậu phương của Liên khu dài 264 km, đã được huy động để vận chuyển chuẩn bị cho chiến dịch. Đến ngày 15 tháng 1 năm 1954, 10 hành lang vận chuyển từ 5 đến 10 cung vận tải bộ (có hành lang tới 15 cung) đã đưa hơn 1.000 tấn gạo, gần 100 tấn muối và thực phẩm tới các kho mặt trận. Vũ khí, đạn dược của Tổng cục Cung cấp chi viện cho Liên khu 5 cũng đã vào đến nơi. Bộ đội tham gia chiến dịch được trang bị ĐKZ 57mm, được bổ sung đạn súng trường DAM (lúc đó rất thiếu ở chiến trường Liên khu 5) và được chuẩn bị khá đầy đủ về vũ khí trang bị chiến đấu1.
Để đảm bảo bí mật cho việc chuẩn bị và nghi binh đánh lạc hướng phán đoán của địch, từ đầu tháng 1 năm 1954, Bộ chỉ huy chiến dịch đã chỉ đạo các tỉnh ở vùng sau lưng địch như Quảng Nam, Khánh Hòa, Đắc Lắc, Ninh Thuận, Bình Thuận... tổ chức lực lượng vũ trang phối hợp với nhân dân hoạt động rầm rộ, tập kích các căn cứ hậu cần, kho tàng, diệt tề trừ gian...
Đúng trong dịp này, ngày 20 tháng 1 năm 1954, Na-va huy động gần 30 tiểu đoàn các loại, bắt đầu cuộc hành binh Át-lăng (Atlante) tiến công vùng tự do Phú Yên. Nắm được tình hình, trong cuộc họp ngày 21 tháng 1, Bộ chỉ huy chiến dịch nhận định: Phần lớn lực lượng cơ động của địch đã tập trung ở Phú Yên. Nếu đòn tiến công của ta lên Tây Nguyên không đủ sức uy hiếp mạnh thì không buộc được địch điều động lực lượng lên đối phó. Bộ chỉ huy hạ quyết tâm cho hướng thứ yếu nổ súng trước tiêu diệt các cứ điểm trên đường 19 từ Plây Cu đến An Khê để thu hút sự chú ý của địch, đồng thời trên hướng chính mở màn bằng một đòn tiến công đồng loạt ba mục tiêu: Măng Đen, Măng Bút và Công Brây, đập tan toàn bộ hệ thống phòng ngự đông bắc Kon Tum của địch.
Đêm 26 tháng 1, trên hướng phụ, trung đoàn 120 nổ súng diệt các cứ điểm Kà Tung, Ba Bả, Tà Tu và Búp Bê trên đường 19, mở màn chiến dịch, tiếp đó phát triển tiêu diệt thêm ba cứ điểm trên địa bàn đảm nhiệm.
Trên hướng chính, đêm ngày 27 tháng 1, ta nổ súng tiến công ba cứ điểm mạnh nhất trong hệ thống phòng thủ bắc Tây Nguyên của địch: Măng Đen, Măng Bút và Công Brây. Măng Đen và Măng Bút cách nhau 10 ki-lô-mét, Công Brây nằm lùi về phía Kon Tum, cách Kon Tum 30 ki-lô-mét và cách Măng Đen 25 ki-lô-mét. Măng Đen là cứ điểm then chốt nhất, nằm trên quả đồi hình yên ngựa và được xây dựng thành hai khu: Khu A (đồn lớn) cấu trúc theo hình tam giác, ở giữa có lô cốt mẹ bằng bê tông cốt thép, ba góc là ba lô cốt nhỏ, nối liền các lô cốt là hệ thống giao thông ngầm, xung quanh là hệ thống dây thép gai hình ngôi sao rộng từ 30 đến 90 mét. Khu B được xây dựng theo hình móng ngựa cũng có ba lô cốt và hệ thống hầm ngầm, giao thông hào ngầm nối liền các lô cốt. Giữa khu A và khu B rộng khoảng 800 mét, có một sân bay nhỏ. Khu A do hai đại đội địch đóng giữ, còn khu B thường có từ 100 đến 150, có khi lên đến 400 lính ứng chiến.
23 giờ 30 phút, tiểu đoàn 19 và 70 của trung đoàn 108 cùng nổ súng đánh vào Măng Đen. Ở hướng tiến công vào Khu A, do tiểu đoàn 19 đảm nhiệm, địch dựa vào công sự lô cốt, hầm ngầm chống trả quyết liệt. Sau ba đợt tiến công, ta thương vong lớn song vẫn không phát triển được. Trận đánh rơi vào thế giằng co.
Trên hướng tiến công vào khu B, do công sự và hoả lực của địch yếu hơn nên sau sáu giờ chiến đấu, tiểu đoàn 79 đã hoàn toàn làm chủ trận địa và tổ chức một mũi vượt qua sân bay đánh vào sau lưng địch ở khu A, hỗ trợ cho tiểu đoàn 19. Bị kẹt giữa hai hướng tiến công, địch ở khu A rơi vào thế bị động lúng túng và lần lượt bị tiêu diệt. 7 giờ ngày 28 tháng 1, sau tám giờ chiến đấu liên tục, ta hoàn toàn làm chủ cứ điểm Măng Đen.
Cùng đêm 24, tiểu đoàn 59 trung đoàn 803 tổ chức đánh cứ điểm Công Brây. Do đường vận động xa hơn nên khi hướng Măng Đen nổ súng, tiểu đoàn vẫn còn cách Công Brây 5 km. Địch ở Công Brây đề phòng. Bộ đội ta nằm phục đến mờ sáng, thấy địch có biểu hiện chủ quan cho là ta không đánh mới bất ngờ nổ súng diệt đồn. Địch tan rã nhanh chóng. Sáng 28, tiểu đoàn 59 làm chủ Công Brây. Hướng Măng Bút, trận đánh diễn ra nhanh gọn. Tiểu đoàn 89 cùng liên đội đặc công làm chủ cứ điểm sau 30 phút chiến đấu.
Ba cứ điểm Măng Đen, Công Brây, Măng Bút bị san phẳng, cụm phòng ngự then chốt của địch ở bắc Tây Nguyên bị đập tan, tiểu khu Kon Tum bị uy hiếp trực tiếp. Lực lượng cơ động (GM100) đang bị giam chân ở Phú Yên chưa thể ứng cứu ngay được. Địch ở Kon Tum rơi vào tình trạng hoang mang dao động.
_____________________________________
1. Kết quả về công tác đảm bảo hậu cần trong chiến dịch, các địa phương đã huy động hơn 10.000 tấn lương thực thực phẩm, hơn 200.000 lượt dân công, phục vụ gần 6.000.000 ngày công, hơn 2.000 xe đạp thồ, hơn 1.000 xe bò, xe ngựa. Hậu cần chiến dịch đã cung cấp cho bộ đội 72 tấn vũ khí đạn dược, 900 tấn gạo, 200 tấn thịt, 50 tấn cá tươi, gần 100 tấn thực phẩm khô, 20 tấn thuốc quân y cứu chữa hơn 2.000 thương binh.
CHIẾN DỊCH BẮC TÂY NGUYÊN
(Tiến công, từ ngày 26 tháng 1 đến ngày 17 tháng 2 năm 1954)
Nghiên cứu kế hoạch Na-va của địch, Tổng Quân uỷ và Bộ Tổng tư lệnh đã dự kiến khả năng địch mở cuộc tiến công đánh chiếm vùng tự do Khu 5 và Khu 9. Sau Hội nghị quân sự tháng 11 năm 1953, trong phương án tác chiến chiến lược trình Bộ Chính trị (27-11-1953), Tổng Quân uỷ đã chỉ rõ: nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của Liên khu 5 trong Đông xuân 1953-1954 là phát triển vào Tây Nguyên, trước hết là phía bắc đồng thời tiếp tục củng cố và bảo vệ vùng tự do hiện nay.
Chấp hành chủ trương chiến lược trên, đầu tháng 12 năm 1953, Hội nghị Liên Khu uỷ và Đảng uỷ Bộ tư lệnh Liên khu 5 quyết định mở chiến dịch tiến công bắc Tây Nguyên nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, củng cố và mở rộng vùng tự do về phía tây, nối Liên khu 5 và Hạ Lào, phá âm mưu củng cố Tây Nguyên của địch.
Bắc Tây Nguyên gồm hai tỉnh Kom Tum và Gia Lai, địa hình rừng núi hiểm trở, dân cư thưa thớt. Khu vực này có các đường giao thông số 5, 14, 19 nối bắc Tây Nguyên với các tỉnh phía đông và phía nam. Bắc Tây Nguyên là địa bàn chiến lược quan trọng, uy hiếp trực tiếp vùng tự do Quảng Nam, Quảng Ngãi của ta. Tiến công vào bắc Tây Nguyên ta có điều kiện mở rộng vùng tự do về phía tây, uy hiếp toàn bộ vùng Tây Nguyên, Hạ Lào và đông Cam Pu Chia của địch.
Trên địa bàn Tây Nguyên, địch chia làm bốn khu: Kon Tum, Gia Lai, Buôn Ma Thuộc và Lâm Đồng. Bắc Tây Nguyên thuộc chiến trường “Cao nguyên Trung Bộ” của địch, gồm hai khu Kon Tum, Plây Cu, lực lượng có khoảng bốn tiểu đoàn cơ động và 15 đại đội chiếm đóng (cơ bản là ngụy quân). Tại khu Kon Tum, địch phòng thủ thành ba khu vực (Bắc, Nam, Đông) và thị xã. Khu Đông gồm các cứ điểm dọc đường số 5 như cứ điểm Măng Đen, Kon Brây, Măng Bút, là khu vực phòng ngự tương đối mạnh. Đặc biệt là Măng Đen, một cứ điểm trên đường 5 cách Kon Tum khoảng 40 ki-lô-mét, là một cứ điểm mạnh, do một tiểu đoàn đóng giữ. Khu nam Kon Tum có các cứ điểm Đạc Đoa, Buôn Hồ án ngữ trục đường 14 nối Kon Tum với Plây Cu. Nhìn chung, các cứ điểm của địch đều án ngữ các trục giao thông, các cứ điểm cách nhau khoảng 10 đến 30 km. Trong mỗi cứ điểm có một số đồn, nhiều cứ điểm có hệ thống công sự, vật cản khá kiên cố.
Lực lượng của ta tham gia chiến dịch gồm: hai trung đoàn chủ lực 108, 803, trung đoàn địa phương 120, cùng một số tiểu đoàn, đại đội độc lập của Liên khu và các địa phương. Tổng số quân tham gia chiến dịch khoảng 10.000 người.
Giữa tháng 12 năm 1953, kế hoạch tiến công lên bắc Tây Nguyên chính thức được thông qua. Theo kế hoạch, chiến dịch được tiến hành trên hai hướng.
Hướng chính: Bắc Kon Tum, sử dụng trung đoàn 108, trung đoàn 803 (thiếu một đại đội), tiểu đoàn 30 chủ lực độc lập, liên đội đặc công, toàn bộ các đơn vị pháo, cối, phòng không, phần lớn các đơn vị công binh, trinh sát, thông tin cùng lực lượng địa phương tại chỗ thực hành tiến công theo hai bước. Bước 1: trung đoàn 108 và đặc công tiến công hai cứ điểm Măng Đen, Măng Bút, phá vỡ thế phòng thủ đông bắc của địch; trung đoàn 803 tiến công cứ điểm Công Brây, uy hiếp thị xã Kon Tum, đánh viện trên đường 5, đoạn Kon Tum - Công Brây. Bước 2, một bộ phận chủ lực tiếp tục kiềm giữ địch trên đường số 5, còn phần lớn lực lượng phát triển sang hướng tây bắc, phá vỡ hệ thống phòng thủ của địch trong khu vực Đắc Tô – Đắc Lây, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng Kon Tum.
Hướng phụ: Đường 19 An Khê do trung đoàn địa phương 120 cùng tiểu đoàn 40 chủ lực của khu, đại đội 11, tiểu đoàn 59, trung đoàn 803 đảm nhiệm. Hướng này phải nổ súng trước, tiêu diệt các cứ điểm Kà Tung, Ba Bả, Kà Tu, đánh phá giao thông trên đường 19, diệt sinh lực, thu hút giam chân địch, tạo điều kiện cho hướng chính phát triển.
Để thống nhất việc lãnh đạo chỉ huy, được sự ủy nhiệm của Trung ương, Liên khu uỷ Khu 5 quyết định thành lập Đảng uỷ, Bộ chỉ huy Chiến dịch bắc Tây Nguyên. Đồng chí Nguyễn Chánh - Bí thư Liên khu uỷ Khu 5 giữ chức Bí thư Đảng uỷ, Tư lệnh kiêm Chính uỷ chiến dịch đồng chí Nguyễn Bá Phát - Tham mưu phó Liên khu làm Tham mưu trưởng chiến dịch. Cơ quan của Bộ tư lệnh Liên khu hình thành hai bộ phận, một bộ phận phục vụ sự chỉ đạo chỉ huy chiến dịch, một bộ phận chỉ đạo chỉ huy hoạt động thường xuyên của Liên khu. Gần 200 cán bộ cấp tỉnh và huyện được điều động về tăng cường cho bộ máy lãnh đạo dân công phục vụ mặt trận. Hàng trăm cán bộ khác của cơ quan khu uỷ và Bộ Tư lệnh Liên khu được giao nhiệm vụ về các tỉnh tự do, kiểm tra đôn đốc việc xây dựng lực lượng, sẵn sàng đánh trả các cuộc tiến công của định.
Căn cứ vào ý định của Liên khu, phòng cung cấp Liên khu 5 cùng các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên tổ chức soi đường, mở các tuyến hành lang bí mật lên Tây Nguyên, huy động hơn 100.000 dân công vận chuyển gạo, muối lên dự trữ ở những vùng tiếp giáp chiến trường. Gần như toàn bộ lực lượng vận tải ở tuyến hậu phương của Liên khu dài 264 km, đã được huy động để vận chuyển chuẩn bị cho chiến dịch. Đến ngày 15 tháng 1 năm 1954, 10 hành lang vận chuyển từ 5 đến 10 cung vận tải bộ (có hành lang tới 15 cung) đã đưa hơn 1.000 tấn gạo, gần 100 tấn muối và thực phẩm tới các kho mặt trận. Vũ khí, đạn dược của Tổng cục Cung cấp chi viện cho Liên khu 5 cũng đã vào đến nơi. Bộ đội tham gia chiến dịch được trang bị ĐKZ 57mm, được bổ sung đạn súng trường DAM (lúc đó rất thiếu ở chiến trường Liên khu 5) và được chuẩn bị khá đầy đủ về vũ khí trang bị chiến đấu1.
Để đảm bảo bí mật cho việc chuẩn bị và nghi binh đánh lạc hướng phán đoán của địch, từ đầu tháng 1 năm 1954, Bộ chỉ huy chiến dịch đã chỉ đạo các tỉnh ở vùng sau lưng địch như Quảng Nam, Khánh Hòa, Đắc Lắc, Ninh Thuận, Bình Thuận... tổ chức lực lượng vũ trang phối hợp với nhân dân hoạt động rầm rộ, tập kích các căn cứ hậu cần, kho tàng, diệt tề trừ gian...
Đúng trong dịp này, ngày 20 tháng 1 năm 1954, Na-va huy động gần 30 tiểu đoàn các loại, bắt đầu cuộc hành binh Át-lăng (Atlante) tiến công vùng tự do Phú Yên. Nắm được tình hình, trong cuộc họp ngày 21 tháng 1, Bộ chỉ huy chiến dịch nhận định: Phần lớn lực lượng cơ động của địch đã tập trung ở Phú Yên. Nếu đòn tiến công của ta lên Tây Nguyên không đủ sức uy hiếp mạnh thì không buộc được địch điều động lực lượng lên đối phó. Bộ chỉ huy hạ quyết tâm cho hướng thứ yếu nổ súng trước tiêu diệt các cứ điểm trên đường 19 từ Plây Cu đến An Khê để thu hút sự chú ý của địch, đồng thời trên hướng chính mở màn bằng một đòn tiến công đồng loạt ba mục tiêu: Măng Đen, Măng Bút và Công Brây, đập tan toàn bộ hệ thống phòng ngự đông bắc Kon Tum của địch.
Đêm 26 tháng 1, trên hướng phụ, trung đoàn 120 nổ súng diệt các cứ điểm Kà Tung, Ba Bả, Tà Tu và Búp Bê trên đường 19, mở màn chiến dịch, tiếp đó phát triển tiêu diệt thêm ba cứ điểm trên địa bàn đảm nhiệm.
Trên hướng chính, đêm ngày 27 tháng 1, ta nổ súng tiến công ba cứ điểm mạnh nhất trong hệ thống phòng thủ bắc Tây Nguyên của địch: Măng Đen, Măng Bút và Công Brây. Măng Đen và Măng Bút cách nhau 10 ki-lô-mét, Công Brây nằm lùi về phía Kon Tum, cách Kon Tum 30 ki-lô-mét và cách Măng Đen 25 ki-lô-mét. Măng Đen là cứ điểm then chốt nhất, nằm trên quả đồi hình yên ngựa và được xây dựng thành hai khu: Khu A (đồn lớn) cấu trúc theo hình tam giác, ở giữa có lô cốt mẹ bằng bê tông cốt thép, ba góc là ba lô cốt nhỏ, nối liền các lô cốt là hệ thống giao thông ngầm, xung quanh là hệ thống dây thép gai hình ngôi sao rộng từ 30 đến 90 mét. Khu B được xây dựng theo hình móng ngựa cũng có ba lô cốt và hệ thống hầm ngầm, giao thông hào ngầm nối liền các lô cốt. Giữa khu A và khu B rộng khoảng 800 mét, có một sân bay nhỏ. Khu A do hai đại đội địch đóng giữ, còn khu B thường có từ 100 đến 150, có khi lên đến 400 lính ứng chiến.
23 giờ 30 phút, tiểu đoàn 19 và 70 của trung đoàn 108 cùng nổ súng đánh vào Măng Đen. Ở hướng tiến công vào Khu A, do tiểu đoàn 19 đảm nhiệm, địch dựa vào công sự lô cốt, hầm ngầm chống trả quyết liệt. Sau ba đợt tiến công, ta thương vong lớn song vẫn không phát triển được. Trận đánh rơi vào thế giằng co.
Trên hướng tiến công vào khu B, do công sự và hoả lực của địch yếu hơn nên sau sáu giờ chiến đấu, tiểu đoàn 79 đã hoàn toàn làm chủ trận địa và tổ chức một mũi vượt qua sân bay đánh vào sau lưng địch ở khu A, hỗ trợ cho tiểu đoàn 19. Bị kẹt giữa hai hướng tiến công, địch ở khu A rơi vào thế bị động lúng túng và lần lượt bị tiêu diệt. 7 giờ ngày 28 tháng 1, sau tám giờ chiến đấu liên tục, ta hoàn toàn làm chủ cứ điểm Măng Đen.
Cùng đêm 24, tiểu đoàn 59 trung đoàn 803 tổ chức đánh cứ điểm Công Brây. Do đường vận động xa hơn nên khi hướng Măng Đen nổ súng, tiểu đoàn vẫn còn cách Công Brây 5 km. Địch ở Công Brây đề phòng. Bộ đội ta nằm phục đến mờ sáng, thấy địch có biểu hiện chủ quan cho là ta không đánh mới bất ngờ nổ súng diệt đồn. Địch tan rã nhanh chóng. Sáng 28, tiểu đoàn 59 làm chủ Công Brây. Hướng Măng Bút, trận đánh diễn ra nhanh gọn. Tiểu đoàn 89 cùng liên đội đặc công làm chủ cứ điểm sau 30 phút chiến đấu.
Ba cứ điểm Măng Đen, Công Brây, Măng Bút bị san phẳng, cụm phòng ngự then chốt của địch ở bắc Tây Nguyên bị đập tan, tiểu khu Kon Tum bị uy hiếp trực tiếp. Lực lượng cơ động (GM100) đang bị giam chân ở Phú Yên chưa thể ứng cứu ngay được. Địch ở Kon Tum rơi vào tình trạng hoang mang dao động.
_____________________________________
1. Kết quả về công tác đảm bảo hậu cần trong chiến dịch, các địa phương đã huy động hơn 10.000 tấn lương thực thực phẩm, hơn 200.000 lượt dân công, phục vụ gần 6.000.000 ngày công, hơn 2.000 xe đạp thồ, hơn 1.000 xe bò, xe ngựa. Hậu cần chiến dịch đã cung cấp cho bộ đội 72 tấn vũ khí đạn dược, 900 tấn gạo, 200 tấn thịt, 50 tấn cá tươi, gần 100 tấn thực phẩm khô, 20 tấn thuốc quân y cứu chữa hơn 2.000 thương binh.
Nhận xét
Đăng nhận xét