KÝ ỨC CHÓI LỌI 88
(ĐC sưu tầm trên NET)
Dẫn nhập
Lịch sử đã chứng minh: tự do và hòa bình chỉ được đem lại cho nhân loại tiến bộ sau những tranh đấu quyết liệt với các lực lượng phản tiến bộ. Vậy nên Balzac, tác giả của bộ tiểu thuyết nổi tiếng “Tấn trò đời”, từng đúc kết: “Sự tự do về chính trị, sự hòa bình của một quốc gia và chính cả khoa học là những món quà mà Định mệnh đánh thuế nặng nề bằng máu!”. Việt Nam sau hiệp định Geneve, nền độc lập chỉ được tái lập ở miền Bắc, mọi khả năng và phương thức phi bạo lực để thống nhất đất nước đều bị Mỹ và chính quyền Sài Gòn ngăn trở. “Định mệnh” buộc chúng ta phải tiếp tục cầm súng đứng lên, “muốn chống Mỹ - Diệm, ngoài con đường cách mạng nhân dân miền Nam không có con đường nào khác” (Lê Duẩn, 1956). Kể từ đó, trải qua 21 năm chiến tranh ác liệt, “Định mệnh” mới trả lại cho Việt Nam một niềm vui trọn vẹn, bằng đại thắng mùa Xuân 1975. Thời gian trôi và 40 năm sau nhìn lại, sự thật lịch sử đó dường như đang bị một bộ phận người Việt Nam hôm nay quên lãng, hoặc vì nhiều lý do mà cố tình làm sai lạc, méo mó. Chẳng hạn từ tháng 12 năm 2012 đến tháng 11/2014 ở Hoa Kỳ, nhật báo Người Việt và Nxb Người Việt Books đã lần lượt cho xuất bản sách “Bên thắng cuộc” của Huy Đức và “Đèn cù” của Trần Đĩnh; trong đó hai tác giả thuộc những thời kỳ làm báo khác nhau lại có chung một số luận điểm, đơn cử: 1/ Họ coi chiến tranh Việt Nam 1954 – 1975 là một cuộc nội chiến “huynh đệ tương tàn, vạ trong tường vách”, do một số nhà lãnh đạo có tư tưởng bạo lực trong Đảng Lao động Việt Nam tiến hành theo “sự chỉ đạo” của Liên Xô và Trung Quốc; 2/ Họ cố vạch ra những lằn ranh giữa ý Đảng với lòng dân, giữa tình cảm Bắc - Nam khi cho rằng ngày 30/4/1975 là ngày người miền Bắc thắng, còn đồng bào miền Nam là những người thua cuộc… Nhìn chung, giữa nhiều ý đồ chính trị, thì một mục tiêu quan trọng mà các sách dạng này hướng tới là nhằm đánh tráo ý nghĩa và giá trị đích thực của sự nghiệp giải phóng miền Nam. Cùng với sự phát triển của mạng Internet, những quan điểm phiến diện như thế rất dễ tiếp cận tới mọi giới, nhất là giới trẻ, tạo ra tâm lý hoài nghi chính sử. Bằng việc lý giải những nguyên nhân dẫn đến hành động chính trị - xã hội của một thời tuổi trẻ Sài Gòn 1954 - 1975, bài viết này sẽ góp một cơ sở nhận thức lịch sử khách quan, giúp phê phán lại những quan điểm sai lệch kể trên.
Thời cắp sách luôn là những năm tháng tươi đẹp nhất của một đời người: hồn nhiên, tràn đầy sức sống và nhiều mơ ước. Nhưng trong hồi ức của một cựu sinh viên Văn Khoa thì thế hệ thanh niên lớn lên cùng ông ở Sài Gòn, đã bị mai một những tính cách đặc trưng ấy khi đến với học đường: “Sài Gòn những năm giữa thập niên 1960 đến đầu thập niên 1970 tuổi trẻ lớn lên và tự già đi trong chiến tranh. Những “lưu bút ngày xanh” đành gấp lại; những mơ mộng hoa bướm tự nó thành lỗi nhịp, vô duyên. Tiếng cười dường như ít đi, kém trong trẻo hồn nhiên; khuôn mặt, dáng vẻ tư lự, trầm lắng hơn và đầu óc không thể vô tư nhởn nhơ được nữa. Những điếu thuốc đầu tiên trong đời được đốt lên; những ly cà phê đắng được nhấp vào và quán cà phê trở thành nơi chốn hẹn hò để dàn trải tâm tư, để trầm lắng suy gẫm.” (Lương Tài Sỹ, 2014). Tư lự, trầm lắng, sớm quen với khói thuốc và vị đắng của những ly cà phê: vì sao lại có nhiều ấn tượng bất thường đến vậy ở một thế hệ học đường Thành phố? Những ai quan tâm chắc sẽ dễ đồng thuận với nhau rằng nguyên nhân cốt yếu là do họ đã sinh ra và lớn lên trong một xã hội đang có chiến tranh. Nhưng chiến tranh tác động như thế nào đến thế hệ đó? Để như một hình thức truy nguyên, lý giải về một ấn tượng rất điển hình khác nữa, liên quan đến cách họ bày tỏ thái độ và hành động trước thời cuộc, thì lại là một câu hỏi khó và bị chi phối bởi những góc nhìn. Ở đây, chúng tôi tiếp cận vấn đề qua cái nhìn cụ thể, vào những trang sách, giờ lên lớp, trong phạm vi gia đình, trên những diễn biến chính trị - xã hội xung quanh trường học… thuộc các phạm trù điều kiện giáo dục, môi trường văn hóa, đời sống kinh tế - xã hội của tuổi trẻ học đường Sài Gòn – Gia Định giai đoạn 1954 – 1975.
Tuổi trẻ Sài Gòn tranh đấu: Sài gòn những năm 1960
Đại uý Phan Lạc Tuyên; Trung tá Nguyễn Cao Kỳ và hai cuộc binh biến (Tuổi trẻ tranh đấu P3)
Một thời tuổi trẻ học đường Sài Gòn - Gia Định 1954 - 1975: Vì sao phải "xuống đường", "vô cứ"?
“Tuổi trẻ học đường thời chống Mỹ” là những người sinh ra từ đầu
những năm 1940 đến đầu những năm 1950 và trưởng thành ở nửa sau những
năm 1960. Trong khoảng 20 năm để họ lớn lên, học tập và chuẩn bị những
hành trang cần thiết để bước vào đời, đất nước đã trải qua nhiều sự kiện
lịch sử trọng đại, như Cách mạng tháng 8/1945, Chiến thắng Điện Biên
Phủ 1954 đưa đến việc ra đời Hiệp định Geneve và nhiều biến cố chính
trị, quân sự quan trọng khác. Nhưng đặc điểm thời đại lớn nhất, chi phối
rất nhiều đến đời sống, sự hình thành tính cách và số phận của họ là
tình trạng đất nước có chiến tranh và lãnh thổ thì bị chia hai từ Vỹ
tuyến 17. Sống và học tập ở Sài Gòn là sống ngay đầu não chỉ đạo cỗ máy
chiến tranh của nước Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, nên ít nhất từ
một bên tham chiến, họ đã xác quyết được bản chất của chiến tranh là
gì? Nhạy cảm với thời cuộc và giầu nhiệt huyết là hai phẩm chất thường
trực ở thanh niên nói chung và thanh niên học sinh sinh viên nói riêng,
vì vậy những hành động chính trị xã hội mà sử sách đã ghi nhận rất nhiều
từ thế hệ này sẽ là một cơ sở lịch sử quan trọng giúp nhận diện bản
chất của các nhân vật, sự kiện và vấn đề lịch sử có liên quan khác;
trong đó có một vấn đề mấu chốt: định rõ giá trị và ý nghĩa của sự kiện
30/4/1975.
![]() |
| HSSV Sài Gòn biểu tình chống Mỹ ngụy với ảnh Bác Hồ. |
Dẫn nhập
Lịch sử đã chứng minh: tự do và hòa bình chỉ được đem lại cho nhân loại tiến bộ sau những tranh đấu quyết liệt với các lực lượng phản tiến bộ. Vậy nên Balzac, tác giả của bộ tiểu thuyết nổi tiếng “Tấn trò đời”, từng đúc kết: “Sự tự do về chính trị, sự hòa bình của một quốc gia và chính cả khoa học là những món quà mà Định mệnh đánh thuế nặng nề bằng máu!”. Việt Nam sau hiệp định Geneve, nền độc lập chỉ được tái lập ở miền Bắc, mọi khả năng và phương thức phi bạo lực để thống nhất đất nước đều bị Mỹ và chính quyền Sài Gòn ngăn trở. “Định mệnh” buộc chúng ta phải tiếp tục cầm súng đứng lên, “muốn chống Mỹ - Diệm, ngoài con đường cách mạng nhân dân miền Nam không có con đường nào khác” (Lê Duẩn, 1956). Kể từ đó, trải qua 21 năm chiến tranh ác liệt, “Định mệnh” mới trả lại cho Việt Nam một niềm vui trọn vẹn, bằng đại thắng mùa Xuân 1975. Thời gian trôi và 40 năm sau nhìn lại, sự thật lịch sử đó dường như đang bị một bộ phận người Việt Nam hôm nay quên lãng, hoặc vì nhiều lý do mà cố tình làm sai lạc, méo mó. Chẳng hạn từ tháng 12 năm 2012 đến tháng 11/2014 ở Hoa Kỳ, nhật báo Người Việt và Nxb Người Việt Books đã lần lượt cho xuất bản sách “Bên thắng cuộc” của Huy Đức và “Đèn cù” của Trần Đĩnh; trong đó hai tác giả thuộc những thời kỳ làm báo khác nhau lại có chung một số luận điểm, đơn cử: 1/ Họ coi chiến tranh Việt Nam 1954 – 1975 là một cuộc nội chiến “huynh đệ tương tàn, vạ trong tường vách”, do một số nhà lãnh đạo có tư tưởng bạo lực trong Đảng Lao động Việt Nam tiến hành theo “sự chỉ đạo” của Liên Xô và Trung Quốc; 2/ Họ cố vạch ra những lằn ranh giữa ý Đảng với lòng dân, giữa tình cảm Bắc - Nam khi cho rằng ngày 30/4/1975 là ngày người miền Bắc thắng, còn đồng bào miền Nam là những người thua cuộc… Nhìn chung, giữa nhiều ý đồ chính trị, thì một mục tiêu quan trọng mà các sách dạng này hướng tới là nhằm đánh tráo ý nghĩa và giá trị đích thực của sự nghiệp giải phóng miền Nam. Cùng với sự phát triển của mạng Internet, những quan điểm phiến diện như thế rất dễ tiếp cận tới mọi giới, nhất là giới trẻ, tạo ra tâm lý hoài nghi chính sử. Bằng việc lý giải những nguyên nhân dẫn đến hành động chính trị - xã hội của một thời tuổi trẻ Sài Gòn 1954 - 1975, bài viết này sẽ góp một cơ sở nhận thức lịch sử khách quan, giúp phê phán lại những quan điểm sai lệch kể trên.
Thời cắp sách luôn là những năm tháng tươi đẹp nhất của một đời người: hồn nhiên, tràn đầy sức sống và nhiều mơ ước. Nhưng trong hồi ức của một cựu sinh viên Văn Khoa thì thế hệ thanh niên lớn lên cùng ông ở Sài Gòn, đã bị mai một những tính cách đặc trưng ấy khi đến với học đường: “Sài Gòn những năm giữa thập niên 1960 đến đầu thập niên 1970 tuổi trẻ lớn lên và tự già đi trong chiến tranh. Những “lưu bút ngày xanh” đành gấp lại; những mơ mộng hoa bướm tự nó thành lỗi nhịp, vô duyên. Tiếng cười dường như ít đi, kém trong trẻo hồn nhiên; khuôn mặt, dáng vẻ tư lự, trầm lắng hơn và đầu óc không thể vô tư nhởn nhơ được nữa. Những điếu thuốc đầu tiên trong đời được đốt lên; những ly cà phê đắng được nhấp vào và quán cà phê trở thành nơi chốn hẹn hò để dàn trải tâm tư, để trầm lắng suy gẫm.” (Lương Tài Sỹ, 2014). Tư lự, trầm lắng, sớm quen với khói thuốc và vị đắng của những ly cà phê: vì sao lại có nhiều ấn tượng bất thường đến vậy ở một thế hệ học đường Thành phố? Những ai quan tâm chắc sẽ dễ đồng thuận với nhau rằng nguyên nhân cốt yếu là do họ đã sinh ra và lớn lên trong một xã hội đang có chiến tranh. Nhưng chiến tranh tác động như thế nào đến thế hệ đó? Để như một hình thức truy nguyên, lý giải về một ấn tượng rất điển hình khác nữa, liên quan đến cách họ bày tỏ thái độ và hành động trước thời cuộc, thì lại là một câu hỏi khó và bị chi phối bởi những góc nhìn. Ở đây, chúng tôi tiếp cận vấn đề qua cái nhìn cụ thể, vào những trang sách, giờ lên lớp, trong phạm vi gia đình, trên những diễn biến chính trị - xã hội xung quanh trường học… thuộc các phạm trù điều kiện giáo dục, môi trường văn hóa, đời sống kinh tế - xã hội của tuổi trẻ học đường Sài Gòn – Gia Định giai đoạn 1954 – 1975.
"Ra đến Đà Nẵng họ chạy tuốt vô căn cứ Mỹ để trốn" (P2. Tuổi trẻ tranh đấu)
Ơ, thằng này Việt Cộng ...(Tuổi trẻ tranh đấu. P5)
Sài Gòn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc
|
Nhưng ngay tức khắc, đế quốc Mỹ ra sức phá hoại việc thi hành hiệp định Genève.
Sau phong trào bảo vệ hòa bình ở Sài Gòn một phong
trào đã thu hút được hầu hết các tầng lớp nhân dân Sài Gòn tham gia. Đó
là phong trào cứu tế, xây cất lại nhà cửa, quyên góp quần áo chăn màn
cho bà con sau khi Ngô Đình Diệm, vì xung đột với Bình Xuyên đã đốt sạch
hằng mấy vùng liền lưng với nhau giữa Sài Gòn và Chợ Lớn.
Ngày 10 tháng 7 năm 1955, nhân dân Sài Gòn trong đó
phần đông là công nhân và lao động đình công, bãi công, bãi chợ họp mít
tinh... đòi Mỹ - Diệm phải nhận hiệp thương với miền Bắc để tổ chức
tổng tuyển cử, hòa bình thống nhất nước nhà. Mỹ - Diệm thẳng tay đàn áp
bắt bớ sát hại nhiều người, trong đó có nữ giáo sư Nguyễn Thị Diệu đang
có mang 4 tháng.
Trước khí thế đấu tranh của nhân dân Sài Gòn, các
đô thị khác và vùng nông thôn, bọn Mỹ - Diệm đã dùng mọi hình thức, thủ
đoạn đàn áp rất dã man như "quốc sách chống cộng" luật 10-59, nhưng càng áp bức bao nhiêu thì đấu tranh lại càng có điều kiện để chuyển lên mạnh bấy nhiêu.
Năm 1960, ở Sài Gòn có 1.500 cuộc đấu tranh của
công nhân dưới nhiều hình thức khác nhau và rất nhiều cuộc đấu tranh của
bà con dân nghèo thành thị, trí thức học sinh, tiểu chủ, tư sản dân
tộc, văn nghệ sĩ, ký giả v.v...
Tình hình Sài Gòn căng thẳng.
Biểu tình luôn luôn diễn ra. Mỹ - Diệm thẳng tay khủng bố bắt 2.000 sư
sãi, 4.000 học sinh, sinh viên, giết chết và làm bị thương 200 người.
Ngày 7-9-1963 nữ sinh Gia Long dùng guốc, bàn, ghế, lọ mực đánh lại bọn
cảnh sát dã chiến.
Năm 1964 năm Mỹ bắt đầu ném bom,
bắn phá miền Bắc, Sài Gòn có một số cuộc đấu tranh và trận đánh làm nức
lòng quần chúng cả nước.
Trận nổ bom ở sân bóng rổ trong
khu vực Tân Sơn Nhất (9-2-1964), trận tập kích rạp chớp bóng Kinh Đô
giành riêng cho Mỹ (16-2-1964) làm chết và bị thương 150 tên Mỹ.
Từ 15 đến 22-5 liên tục có những
cuộc biểu tình với khẩu hiệu "Đả đảo Mỹ - Khánh", "Đế quốc Mỹ cút
đi!... Ngay sau đó có cuộc đập nát tượng Ken-nơ-đy tại Quảng trường Hòa
Bình (7-6-1964).
Ảnh hưởng của trận đánh mìn nhà
ăn đường Nguyễn Minh Chiếu (1-8) gần sân bay Tân Sơn Nhất diệt 10 Mỹ
chưa dứt thì lại tiếp luôn trận đánh sập tầng gác thứ 5 khách sạn
Ca-ra-ven, làm chết và bị thương gần 100 Mỹ (25-8). Cũng trong ngày này
10 vạn học sinh, sinh viên và đồng bào Sài Gòn xuống đường biểu tình đòi
lật đổ Nguyễn Khánh và đòi tống cổ đế quốc Mỹ.
Ngày 31-8, một quả lựu đạn nổ ở ngã tư Đồng Khánh - Chu Văn Tiếp làm 8 Mỹ chết.
Ngày 7-10-1964, đặc công đánh 3
tàu chở xăng của Mỹ ở sông Nhà Bè thiêu hủy 70 vạn lít. Ngày 18-11 đánh
mìn câu lạc bộ hàng không ở sân bay Tân Sơn Nhất diệt 77 Mỹ.
Chấm hết năm 1964 là trận đánh
khách sạn Bơ-rin-cơ kỳ diệu, một tòa nhà 6 tầng ngay trung tâm thành
phố, diệt 155 sĩ quan Mỹ, trong đó có 2 đại tá, 9 trung tá, 5 thiếu tá,
phá hủy 24 xe quân sự.
Cũng trong năm 1964 một sự kiện
làm xúc động lòng người, và mãi mãi còn in đậm nét trong lòng người dân
Sài Gòn là sự hy sinh cao cả của người thợ điện anh hùng Nguyễn Văn Trỗi.
9 phút cuối cùng của anh Trỗi
cũng là 9 phút anh tiến công quyết liệt kẻ đã gây ra tộc ác đối với đồng
bào ta. Anh nói: "Còn giặc Mỹ là không ai có hạnh phúc được". Bọn ác ôn
xô đến bịt mắt, nhưng anh đã giựt phăng miếng vải đen, phóng tầm mắt ra
xa như muốn ôm trọn cả thành phố, nơi đây đồng bào, anh chị em, đồng
chí và người vợ yêu thương của anh đang sống và chiến đấu.
Tiếng nói cuối cùng của anh cũng là lời nhắn nhủ đồng bào và người thân:
Và, Nguyễn Văn Trỗi đã hiên ngang đi vào lịch sử!
Sau đó đúng ngày cúng anh, theo
tập quán dân tộc, đồng bào Sài Gòn đã dựng lên 4 đài kỷ niệm Nguyễn Văn
Trỗi ở ngay 4 góc nhà lao Chí Hòa. Cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền
Nam tung bay trên đỉnh cao các đài ấy.
Với những thành tích xuất sắc
nói trên, quân và dân Sài Gòn - Gia Định đã được Ủy ban Trung ương Mặt
trận Dân tộc Giải phóng miền Nam "tuyên dương công trạng" (25-12-1965)
và tặng thưởng 3 huân chương quân công giải phóng hạng nhì, 5 huân
chương quân công hạng ba, 4 huân chương chiến công giải phóng hạng nhất,
8 huân chương chiến công giải phóng hạng nhì.
Cùng với những chiến công vang
dội của nhân dân miền Nam anh hùng, nhân dân Sài Gòn - Gia Định liên
tiếp lập được những thành tích xuất sắc, góp phần đánh bại hai cuộc phản
công chiến lược mùa khô (1965 - 1966, 1966 - 1967) của đế quốc Mỹ.
Trong hai năm 1966 - 1967, nhiều
cơ quan chỉ huy và căn cứ quan trọng của Mỹ, ngụy tiếp tục bị đánh phá
dữ dội và bị tổn thất nặng nề. Nhiều tên sĩ quan Mỹ bị trừng trị, trong
đó có cả cấp tướng và rất nhiều cấp tá, cấp úy. Nổi bật là những trận
đánh vào trụ sở bộ tổng tham mưu ngụy (tháng 2-1966), tòa nhà 6 tầng
Vích-tô-ri-a, nơi ở của bọn sĩ quan cao cấp Mỹ (tháng 4-1966), đánh chìm
hàng chục tàu vận tải có cả loại trọng tải 10.000, 12.000 tấn và tàu
vớt mìn trên sông Lòng Tàu (tháng 6 và 8-1966, tháng 1, 2 và 4-1967),
đốt cháy một kho quân sự lớn của quân Mỹ ở Nhà Bè (tháng 9-1966), đánh
đồn Phú Lâm (tháng 10-1966), phá sập chiếc cầu dài 100 mét cách Sài Gòn
7km (tháng 10-1966), đánh cuộc diễu binh trong ngày "Quốc Khánh Cộng
hòa" (1-11-1966) bắn súng lớn vào sân bay Tân Sơn Nhất (tháng 12-1966,
tháng 4-1967), tiến công sở chỉ huy chiến tranh tâm lý của lục quân Mỹ
(tháng 12-1966), sở chỉ huy tiểu đoàn Mỹ (thuộc lữ đoàn 199) ở tại Long
Thới cách Sài Gòn 6km về phía Nam (tháng 5-1967), phá hủy trung tâm
thông tin quân sự Mỹ (26-10-1967).
Song song với phong trào đấu
tranh vũ trang, phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân Sài Gòn -
Gia Định trong những năm này cũng phát triển mạnh mẽ, nhất là phong trào
công nhân, phong trào thanh niên, sinh viên, học sinh và phong trào trí
thức đòi hòa bình, đòi quyền tự quyết của nhân dân miền Nam. Bọn Mỹ,
ngụy mở rộng chiến tranh, hạ giá đồng bạc gây khó khăn cho đời sống của
công nhân và lao động, đa đưa đến những cuộc đấu tranh của công nhân đòi
đế quốc Mỹ cút đi, đòi lật đổ ngụy quyền bán nước Thiệu Kỳ nổ ra liên
tục. Nhiều cuộc đấu tranh lớn đã nổ ra trong các xí nghiệp thuộc các
ngành chiến lược của địch như hãng thầu quân sự RMK - BRJ, các hãng dầu
Sen, Can-tếch, Eét-xô và bến cảng Sài Gòn. Riêng cuộc đấu tranh của công
nhân hãng thầu quân sự RMK - BRJ kéo dài đến 4 tháng (5-9-1966). Trong
cuộc biểu tình của công nhân cảng Sài Gòn tháng 12-1966, quần chúng đã
trang bị dao, gậy gộc chiếm bến tàu, kịch liệt chống lại bọn cảnh sát
đến đàn áp.
Nhiều cuộc biểu tình chống Mỹ
rầm rộ có từ hàng ngàn đến hàng chục vạn người gồm công nhân, lao động,
thanh niên, sinh viên, học sinh và các tầng lớp khác đã nổ ra rất quyết
liệt như những cuộc biểu tình 10.000 người đòi hành hình bọn Thiệu, Kỳ,
Có (31-3-1966); 15.000 người diễu hành đi suốt đêm 2 rạng 3-4-1966 thét
vang những khẩu hiệu "đả đảo Mỹ", "Mỹ cút khỏi miền Nam Việt Nam" và bao
vây đài phát thanh Sài Gòn; 100.000 người bao vây "dinh thủ tướng" của
Nguyễn Cao Kỳ với khẩu hiệu "Lật đổ ngụy quyền Thiệu, Kỳ" (8-4-1966):
300.000 người kéo đi khắp các đường phố lớn đòi lật đổ bọn Thiệu, Kỳ bán
nước (14-4-1966) và cuộc xuống đường của 4 vạn công nhân lao động ngày
1-5-1966 đòi chấm dứt chiến tranh, đòi hạ giá sinh hoạt, đòi Mỹ cút đi.
Đặc biệt là cuộc đấu tranh chống trò hề bầu cử gian lận của bọn Mỹ -
Thiệu - Kỳ ngày 3-9-1967 của nhân dân Sài Gòn - Gia Định. Nhiều cuộc mít
tinh lớn tố cáo mánh khóe gian lận của bọn Thiệu, Kỳ và tẩy chay cuộc
bầu cử gian lận đó.
Những cuộc đấu tranh của các nhà
báo đòi bãi bỏ chế độ kiểm duyệt. Những tổ chức như "lực lượng bảo vệ
tinh thần thanh thiếu niên", "hội bảo vệ quyền lợi và nhân phẩm phụ nữ",
"lực lượng bảo vệ văn hóa dân tộc", "Ủy ban xây dựng kinh tế tự chủ"
lần lượt được thành lập và tiến hành đấu tranh chống bọn Thiệu, Kỳ.
Phong trào đấu tranh trên đây đã
có tiếng vang lớn và đã có ảnh hưởng mạnh mẽ trong quần chúng, được các
tầng lớp nhân dân Sài Gòn nhiệt liệt ủng hộ. Đây là một phong trào đậm
nét dân tộc, dân chủ, kích thích tinh thần yêu nước chống xâm lược Mỹ
của nhân dân ta ở miền Nam.
Các cuộc đấu tranh của nhân dân
Sài Gòn - Gia Định đã được đông đảo anh em binh sĩ đồng tình và ủng hộ.
Chính hãng thông tin Mỹ UPI đã than phiền "binh sĩ Việt Nam (ngụy) đã
cung cấp các phương tiện truyền tin, phóng thanh cho các cuộc biểu
tình". Số binh sĩ bỏ ngũ ngày càng nhiều.
Bọn Mỹ, Thiệu, Kỳ hết sức hoang
mang, lo sợ trước phong trào đấu tranh ngày càng mạnh mẽ và quyết liệt
của nhân dân thành phố Sài Gòn - Gia Định. Chúng điên cuồng khủng bố,
dùng những biện pháp hết sức trắng trợn, dã man: thẳng tay đàn áp và bắt
bớ quần chúng biểu tình, ra "lệnh khẩn cấp chống biểu tình và mít tinh"
trên đường phố, dựng thêm nhiều hàng rào dây thép gai, dựng cả "pháp
trường cắt" ngay giữa chợ Bến Thành, rải quân đội, cảnh sát khắp đường
phố và đe dọa sẽ dốc toàn lực ra đối phó mạnh hơn nữa.
Nhưng, bất chấp khủng bố và đe
dọa, nhân dân Sài Gòn vẫn tiếp tục đấu tranh chống Mỹ, ngụy ngày càng
quyết liệt. Các cuộc đấu tranh toàn diện và mạnh mẽ trong những năm này
đã thực sự chuẩn bị một bước nhảy vọt kỳ diệu cho phong trào Sài Gòn -
Gia Định trong Tết Mậu Thân (1968).
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy
đồng loạt đưa chiến tranh vào đô thị của nhân dân miền Nam anh hùng
trong Tết Mậu Thân là một đòn trời giáng đánh vào đầu Mỹ, ngụy khiến cho
chúng thất điên bát đảo, không phương chống đỡ, bị tổn thất cực kỳ
nghiêm trọng.
Riêng ở Sài Gòn - Gia Định bão
lửa dữ dội vào đầu Mỹ, ngụy hai đợt: đợt 1 từ đêm 30 rạng 31-1 đến giữa
tháng 2; đợt 2 từ đêm 4 rạng ngày 5-5 đến 31-5. Trong cả hai đợt, Quân
giải phóng đã cùng với các lực lượng vũ trang của nhân dân và những
người yêu nước trong quân đội ngụy quyền Sài Gòn nổi dậy dồn dập tiến
công nhiều cơ quan đầu não và căn cứ quan trọng của bè lũ Mỹ, ngụy ngay
giữa thành phố Sài Gòn - Gia Định cùng với nghĩa binh yêu nước đánh phá
sứ quán Mỹ, bộ tổng tham mưu, sân bay Tân Sơn Nhất, phá hủy đài phát
thanh Sài Gòn, trại huấn luyện Quang Trung, "dinh độc lập", tổng nha
cảnh sát, bộ tư lệnh biệt khu thủ đô, bộ chỉ huy hải quân và nhiều căn
cứ khác, tiến công tiêu diệt các trân địa pháo, các bãi để xe tăng ở
Trại Phù Đổng, Cổ Loa và nhiều kho xăng dầu, đạn dược, trong đó có những
kho lớn như Long Bình, Hạnh Thông Tây. Nhiều giặc Mỹ, binh lính và cảnh
sát ngụy kể cả lính dù, lính thủy đánh bộ bị diệt và bị bắt. Nhiều cơ
quan và căn cứ của địch bị đánh đi đánh lại nhiều lần, đặc biệt là sân
bay Tân Sơn Nhất bị đánh hàng chục lần trong hai đợt và riêng trong đợt 1
đã bị quân giải phóng chiếm khu vực phía Bắc và phía Tây. Cũng trong
đợt 1, bộ tổng tham mưu ngụy bị Quân giải phóng chiếm hoàn toàn.
Nhân dân nhiều nơi trong thành
phố đã xuống đường phối hợp với Quân giải phóng và các lực lượng du kích
đánh phá các đồn bốt, quét bộ máy ngụy quyền, bắt trừng trị bọn phản
cách mạng ác ôn, kêu gọi binh sĩ ngụy mang súng trở về với nhân dân, làm
chủ nhiều khu vực trong thành phố (quận 5, 6, 7, 8 và phần lớn quận 3,
4) và nhanh chóng mở rộng lực lượng. Ở những nơi nhân dân làm chủ, hàng
ngàn thanh niên Sài Gòn đã nô nức cầm súng đứng vào hàng ngũ các lực
lượng vũ trang cách mạng chiến đấu chống địch; hàng trăm đơn vị dân quân
du kích và các đoàn thể chính trị, cách mạng đã nhanh chóng thành lập
và sôi nổi hoạt động, nhiều nơi đã lập tòa án nhân dân xử tội bọn ác ôn
ngoan cố. Trước khí thế đồng khởi mãnh liệt của nhân dân, nhiều binh sĩ
ngụy đã vác súng tham gia hàng ngũ cách mạng, nhiều đơn vị quân ngụy đã
giao súng cho nhân dân và cùng nhân dân đi đánh chiếm các đồn bót.
Tất cả các đường giao thông vận
tải chạy về Sài Gòn đều bị băm nát, cắt đứt kể cả đường số 4, đường số
1, đường số 15 liên lạc giữa bọn Mỹ, ngụy ở Sài Gòn với các địa phương
bị tê liệt.
Bị thua một vố đau nhưng Mỹ,
ngụy vẫn rất ngoan cố, liều mạng đến cùng. Chúng cố gắng tập trung lực
lượng chống lại một cách điên cuồng, dùng cả xe tăng, đại bác, máy bay
bắn và thả bom bừa bãi xuống nhiều nơi trong thành phố, phá hủy nhiều
nhà cửa và tài sản của nhân dân, giết và làm bị thương nhiều người kể cả
những người già cả, phụ nữ, trẻ em.
Các chiến sĩ cách mạng kiên
cường của Sài Gòn - Gia Định vừa chiến đấu quyết liệt với địch, vừa tận
tình giúp đỡ đồng bào thành phố, cứu chữa những người bị thương, dập tắt
các đám cháy do bom đạn Mỹ và Thiệu, Kỳ gây ra, hướng dẫn đồng bào đào
hầm hố, công sự, tổ chức đội ngũ chiến đấu để bảo vệ khu phố. Đồng bào
thành phố đã hết lòng ủng hộ các chiến sĩ vũ trang cách mạng. Đông đảo
thanh niên, học sinh, sinh viên cả nam lẫn nữ đã ra tận chiến hào tiếp
tế lương thực cho các chiến sĩ và tiếp tay với quân cách mạng lùng diệt
bọn tay sai ác ôn ngoan cố.
Qua hai đợt của Liên minh tổng
tiến công và nổi dậy, quân và dân Sài Gòn - Gia Định đã loại khỏi vòng
chiến đấu 47.000 tên địch (có gần 20.500 tên Mỹ và chư hầu), tiêu diệt
và đánh thiệt hại nặng 21 tiểu đoàn, 97 đại đội Mỹ, ngụy và chư hầu, bắn
rơi và phá hủy gần 500 máy bay các loại, phá hủy 1.480 xe quân sự (có
gần 630 xe tăng và xe bọc thép), 45 kho bom đạn, xăng dầu, đánh chìm và
bắn cháy hàng chục tàu (có nhiều tàu trọng tải 10.000 đến 13.000 tấn),
đánh sập 29 cầu, tiêu diệt, bức rút, bức hàng 150 đồn bót.
Với những chiến thắng hết sức to
lớn đó, quân và dân Sài Gòn - Gia Định đã vinh dự được Uủy ban Trung
ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam tuyên dương công trạng và tặng
thưởng 2 huân chương Thành đồng Tổ quốc hạng nhất và hai huân chương
Quân công giải phóng hạng hai.
Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân
nhân dân Sài Gòn - Gia Định lại trải qua nhiều đợt giành giật ác liệt
với quân thù. Ở vùng nông thôn ven thành phố về phía Đông Bắc, phía Tây
Nam, đồng bào đã chịu đựng hàng chục trận ném bom tọa độ của máy bay B.
52 và hàng trăm cuộc rải chất độ hóa học đã hủy diệt hầu hết các vườn
hoa quả nổi tiếng của miền Nam như chôm chôm, măng cụt, mãng cầu, xoài,
cam, chuối... Mỹ ngụy còn rải thảm bom bi, mìn nổ chậm hòng ngăn cản
việc đi lại của du kích. Nhưng Sài Gòn vẫn vững chãi lớn lên.
Tháng 6-1969, một sự kiện lịch
sử quan trọng đã làm nức lòng nhân dân miền Nam, đó là việc thành lập
Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Tiếp theo đó,
Ủy ban nhân dân cách mạng Sài Gòn - Gia Định được thành lập là một trong
những đơn vị chính quyền được hình thành sớm nhất ở miền Nam.
|

Nhận xét
Đăng nhận xét