Dai Chung la su suy ngam cua toi ve cuoc doi, xa hoi, nhan sinh
CHUYỆN ÍT BIẾT 42 (SKZ)
Nhận đường liên kết
Facebook
X
Pinterest
Email
Ứng dụng khác
-
(ĐC sưu tầm trên NET)
Khám phá thứ vũ khí reo rắc nỗi kinh hoàng cho thực dân Pháp
Một khẩu súng được nạp đạn đầu nòng giống với súng thần công của thế kỷ
18, có tầm bắn chỉ khoảng 50-100m, vậy mà đã giúp bộ đội Việt Minh san
bằng hết đồn bốt này đến đồn bốt khác...
Vũ khí uy hiếp quân Pháp của người Việt: Uy lực SKZ 60
17:29 27/11/2014
SKZ 60 - vũ khí hoàn toàn do Việt Nam nghiên cứu, chế tạo với công đầu
thuộc về kỹ sư Nguyễn Trinh Tiếp đã trở thành nỗi kinh hoàng của lính
viễn chinh Pháp và đội quân lê dương.
Đại bác không giật
Nếu còn tại thế, năm nay ông đã 90 tuổi, nhưng tiếc rằng ông đã hy
sinh vì bom Mỹ năm 1967 trên đường đi công tác khi mới 43 tuổi.
Nhắc đến ông, Thiếu tướng Lê Văn Chiểu, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục
Công nghiệp Quốc phòng, đánh giá: “Anh Tiếp là một người có nhân cách
cao, công bằng, đàng hoàng trong đối xử, làm việc hết mình vì kháng
chiến, tài ba trong chuyên môn nhưng không chút tự đề cao, không chút
tính toán cá nhân, bỏ qua một cách hồn nhiên những khuyết điểm của anh
em trong phòng, không hề có những biểu hiện thành kiến như một số trí
thức trong ngành Quân giới lúc bấy giờ”.
Trong cuốn sách “Chiến tranh Đông Dương” của Luy-xiêng Bô-đa xuất bản
năm 1963 tại NXB Ga-li-na (Paris, Pháp), có đoạn viết: “Trước đây,
người Việt chỉ có thể đột phá vào đồn bằng cách lấy sức người liều mạng
xông vào theo từng đợt sóng - tự sát. Nhưng bây giờ thì họ làm việc đó
với Bazoka hoặc với SKZ (một loại đại bác không giật do Việt Minh chế
tạo)... Cái thứ gây khó khăn cho chúng tôi, cái thứ xuyên thủng bê tông
dày 60cm là những quả đạn SKZ 8kg mà người Việt chế tạo trong các hang
núi ở Chi Nê... Chỉ cần vài quả là đủ tiêu diệt tháp canh của chúng
tôi...”.
SKZ 60 - vũ khí hoàn toàn do Việt Nam nghiên cứu, chế tạo.
Từ hai nguyên lý vũ khí hiện đại
Từ năm 1948, quân Pháp thấy không thể đánh nống ra mãi được nữa, đành
co cụm lại ở những phòng tuyến nhất định với những boong-ke lô cốt kiên
cố. Lúc đó đối với nhiệm vụ chiến đấu của bộ đội ta, vấn đề gay go,
nóng hổi đang được đặt ra là từ sau khi ta có đạn Bazoka bắn cháy được
xe tăng và lô cốt địch dày 30cm thì địch đã xây dựng hệ thống lô cốt bê
tông mới dày từ 60cm trở lên.
Vậy phải làm thế nào để tiêu diệt được các lô cốt mới đó? Phải có một
loại vũ khí có uy lực lớn, lớn hơn Bazoka vài ba lần nhưng lại phải
gọn, nhẹ, dễ mang vác. Yêu cầu này không dễ giải quyết vì xưa nay pháo
cỡ càng lớn thì khi bắn lại càng giật khỏe và càng phải nặng.
Ông Nguyễn Trinh Tiếp đã nghĩ đến một loại vũ khí đạt yêu cầu đó:
súng không giật, bắn đạn lõm (hiệu ứng Monroe), hai nguyên lý về vũ khí
rất mới thời bấy giờ. Về mặt lý thuyết, GS. Trần Đại Nghĩa hướng dẫn tỉ
mỉ về phương pháp tính toán, đặc biệt về phương pháp tính nội phao (nay
gọi là thuật phóng trong) của súng không giật.
Ngoài ra, Cục Quân giới còn cử một ban phụ trách chuyên đề do ông
Nguyễn Trinh Tiếp làm trưởng ban, ông Nguyễn Nguyên Huy làm thư ký phụ
trách theo dõi chung và tổ chức các cuộc thử nghiệm.
Ban đầu, ông Tiếp nghĩ đến súng Panzefaust của Đức, nhưng công nghệ
chế tạo loại vũ khí này không đơn giản. Anh em Quân giới có tham khảo
đến súng không giật 75mm và 57mm của Mỹ, nhưng do nòng có rãnh xoắn,
Quân giới ta không có khả năng chế tạo.
Một phương án khác được tính đến là bom ba càng của Mỹ, cỡ khoảng
150mm, dài khoảng 250mm, chứa được khoảng 2kg thuốc nổ. Bom ba càng Mỹ
không có chuôi gỗ ở phía sau như của Nhật mà thay vào đó là dây điện nối
với một nguồn điện để cho nổ khi cần.
Cân nhắc các loại vũ khí đã có, ông Tiếp đề xuất một đề án dùng một
quả đạn dài khoảng 1,2m, đầu cỡ 120mm bằng ống thép tóp, đuôi cỡ 60mm
bằng gỗ. Lượng thuốc nổ 2,2kg, dùng nguyên lý nổ lõm. Nòng súng gồm 3
đoạn: Đoạn chứa đuôi đạn cỡ 60,8mm, dài 80cm; bọng súng cỡ 82mm, dài
40cm, chịu áp lực tối đa khoảng 320kg/cm2; tuy-e có đường kính 50mm, dài
8-10cm. Khối lượng: 9kg. Sơ tốc vào khoảng 75-80m/giây. Tầm bắn hiệu
quả khoảng 50-60m.
Với vai trò “kỹ sư trưởng”, ông Tiếp, ông Huy đã cùng các ông Nguyễn
Văn Tài, Lê Văn Chiểu, Trần Chí Đạo lo việc thiết kế về mặt xạ thuật vũ
khí. Về nội phao, phải tính toán để xác định lượng thuốc phóng, là thuốc
đen nén, đủ sức đẩy quả đạn đạt đến tầm xa yêu cầu, đồng thời đảm bảo
có một số khí thuốc phụt ra phía sau giữ thế cân bằng theo nguyên lý cân
bằng động lượng.
Kỹ sư Nguyễn Trinh Tiếp (1924-1967) là con một gia đình viên chức, quê gốc ở Nông Cống, Thanh Hóa.
Tốt nghiệp tú tài trường Khải Định (nay là Quốc học Huế), ông ra Hà Nội học trường Cao đẳng Khoa học Đông Dương.
Năm 1947, ông là Trưởng phòng Xạ thuật (tức phòng thiết kế vũ khí).
Ông hy sinh khi đang là Cục phó Cục Quản lý đường bộ kiêm Phó ban đảm
bảo GTVT Trung ương.
Năm 1996, công trình chế tạo SKZ 60 của kỹ sư Nguyễn Trinh Tiếp được Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học Công nghệ.
Về độ dày tối thiểu của buồng đạn, phải tính toán chính xác để chịu
được áp lực của khí thuốc càng tăng lên khi thuốc cháy. Phải làm thế nào
để đo được sơ tốc đạn.
Vấn đề mấu chốt nhất là phải bằng tính toán và thực nghiệm xác định
đúng đắn hình dạng và kích thước lỗ tuy-e phụt khí thuốc ra sau để súng
không giật lùi khi bắn. Uy lực SKZ 60
Sau 3-4 tháng tính toán và thử nghiệm, có lúc gặp khó khăn, có lúc
gặp thất bại tạm thời, cuối cùng khẩu SKZ 60 đã ra đời. Đây là kiểu súng
không giật hoàn toàn Việt Nam, chỉ nặng 25kg, rất gọn nhẹ so với loại
pháo cổ điển, dễ mang vác vì có thể tháo dời giá ba chân ra khỏi súng.
Quả đạn cỡ 120mm, trọng lượng khoảng 9kg, có chuôi gỗ cỡ 60mm đút lọt
vào nòng, phóng đi xa được khoảng 100m, đã có uy lực lớn, độ xuyên thép
và bê tông gấp gần 3 lần đạn Bazoka.
SKZ 60 đã theo Tiểu đoàn 54, Trung đoàn 102 (Trung đoàn Thủ đô), Đại
đoàn 308 (Đại đoàn Quân Tiên phong) ra quân trận đầu, “thần sấm” nhanh
chóng hạ gục các lô cốt ở đồn Phố Lu trong chiến dịch Lê Hồng Phong I
(năm 1950).
Với thắng lợi trên, SKZ 60 được đưa ra sản xuất rộng rãi, rồi sản
xuất thêm SKZ 120 để bộ đội Liên khu 3 hạ đồn Vũ Lăng và đồn Chợ Cổng ở
Thái Bình năm 1952. Họ nhà SKZ lần lượt ra đời đã ghi dấu ấn với chiến
thắng Chùa Dầu (Ninh Bình), Komplong và Măng Giang (Liên khu 5)... Nhưng
có hiệu quả và được ưa chuộng hơn cả ở khắp các đại đoàn chủ lực là SKZ
60. Thứ vũ khí hoàn toàn của Việt Nam, do Việt Nam nghiên cứu và chế
tạo, đã trở thành nỗi kinh hoàng của lính viễn chinh Pháp và lê dương.
Giáo sư, viện sĩ Trần Đại Nghĩa là tên tuổi lớn
trong lĩnh vực chế tạo vũ khí của Việt Nam, gắn liền với những sản phẩm
nổi tiếng trong lịch sử kháng chiến như đạn Bazoka, súng SKZ hay các
loại bom bay có sức công phá mạnh.
Giáo sư, viện sĩ Trần Đại Nghĩa. Ảnh: Vast.ac
Những ngày qua, tại các viện, trung tâm nghiên cứu khoa học và quê hương
Vĩnh Long của giáo sư Trần Đại Nghĩa diễn ra nhiều hoạt động nhân kỷ
niệm 100 năm ngày sinh của ông (13/9/1913-13/9/2013). Ông có tên thật
là Phạm Quang Lễ, sinh ra ở Vĩnh Long và mồ côi cha từ khi 6 tuổi.
Trước khi từ giã cõi đời, cha ông căn dặn người thân phải cố gắng
cho ông ăn học đến nơi đến chốn để giúp nhà và giúp đời.
Chị gái của ông đã phải bỏ học để cùng mẹ làm lụng nuôi Phạm Quang Lễ
được đến trường. Ông lớn lên trong vòng tay yêu thương của mẹ và chị
gái. Với tư chất thông minh vượt trội, sau khi kết thúc Đệ nhất cấp
trường tỉnh Mỹ Tho, ông lên Sài Gòn theo học trường Trung học Pétrus Ký
nổi tiếng, bây giờ là trường THPT Lê Hồng Phong.
Giữa năm 1933, ông thi đỗ đầu hai bằng tú tài của cả Việt và Pháp. Nhưng
vì nhà nghèo, không có tiền ra Hà Nội để học tiếp, Phạm Quang Lễ quyết
định đi làm để giúp mẹ, giúp chị và nuôi chí chờ thời cơ.
Năm 1935, ông du học Pháp và sau những năm tháng học tập cần cù, với trí
thông minh và nghị lực cao, Phạm Quang Lễ đã nhận được cùng lúc ba bằng
đại học: Kỹ sư cầu đường, kỹ sư điện và cử nhân toán học. Sau đó ông
học lấy tiếp bằng Kỹ sư hàng không, bằng của Trường mỏ và Đại học bách
khoa.
Trong 11 năm du học ở nước ngoài, ông đã âm thầm nghiên cứu kỹ thuật,
công nghệ và hệ thống tổ chức chế tạo vũ khí. Năm 1946, Phạm Quang Lễ
theo Hồ Chủ tịch trở về quê hương. Tên Trần Đại Nghĩa là do Bác đặt cho
ông năm đó để dễ dàng hơn trong hoạt động cách mạng. Đây cũng là cái tên
đã đi vào lịch sử ngành chế tạo vũ khí của Việt Nam.
Đạn Bazoka
Tháng 11/1946, ông và các đồng nghiệp đã bắt tay nghiên cứu chế tạo súng
chống tăng dựa theo mẫu Bazoka của Mỹ. Công việc không dễ dàng, thất
bại liên tiếp nhưng đã không khiến ông nản chí. Cuối cùng,
tháng 2/1947, cuộc thử nghiệm Bazoka thành công. Mức đâm xuyên của đạn
vừa chế tạo đạt độ sâu 75 cm trên tường gạch, tương đương đạn Bazoka do
Mỹ chế tạo. Vũ khí mới xuất hiện đã khiến quân Pháp hoang mang.
Súng bazoka 40 mm do Quân giới Việt Nam sản xuất năm 1947 trang bị cho bộ đội chiến đấu trong Chiến dịch Việt Bắc. Ảnh: VinhlongOnline.
Ngày 3/3/1947 đã trở thành một mốc son của ngành Quân giới Việt Nam
trong việc chế tạo khí tài, khi đạn Bazoka góp phần bẻ gẫy cuộc tấn công
của địch ở vùng Chương Mỹ, Quốc Oai (Hà Tây cũ). Trong chiến dịch Thu
Đông năm 1947, Bazoka còn bắn chìm cả tàu chiến Pháp trên sông Lô. Sau
này, Cục Quân giới tiếp tục sản xuất hàng loạt đạn Bazoka với tầm xa tới
600 m và phạm vi sát thương 50 m.
Súng SKZ
Sau đạn Bazoka, những năm 1948 - 1949, ông Trần Đại Nghĩa và các đồng
nghiệp trong Cục Quân giới bắt đầu nghiên cứu và chế tạo loại súng có
sức công phá mạnh - súng không giật SKZ. Đây là dòng vũ khí hiện đại,
mới xuất hiện lần đầu trong trận quân Mỹ đổ bộ lên đảo Okinawa của Nhật
Bản hồi cuối chiến tranh thế giới thứ hai.
SKZ là loại súng hạng nặng có trọng lượng 20 kg, đầu đạn lõm, dùng để
bắn vào những pháo đài kiên cố của địch, đầu đạn xuyên thủng bê tông
dầy. SKZ Việt Nam xuất trận lần đầu trong trận Phố Lu, đánh phá nhiều lô
cốt địch. Năm 1950, tại chiến trường Nam Trung Bộ, trong một đêm, với
loại súng không giật này ta đã loại bỏ 5 đồn giặc. Địch hoảng sợ tháo
chạy khỏi hàng loạt đồn bốt khác.
Bom bay
Bom bay do Quân giới Việt Nam sản xuất 3/1948. Ảnh: VinhlongOnline.
Để có thể đánh đòn chí mạng vào các điểm co cụm của địch, Trần Đại nghĩa
tiếp tục nghiên cứu chế tạo loại bom bay tương tự loại V1, V2 của
Đức. Sau đó ông đã tạo ra loại bom bay được cho là có sức tấn công chẳng
kém gì so với V1, V2. Ngoài ra, ông cũng tạo ra thành công loại tên lửa
nặng 30 kg có thể đánh phá các mục tiêu ở cách xa 4 km.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Trần Đại Nghĩa đã góp phần to lớn trong
cuộc chiến chống máy bay B-52 , phá hệ thống thủy lôi của địch và chế
tạo những trang thiết bị đặc biệt cho Bộ đội Đặc công. "Ông vua" vũ khí
của Việt Nam Trần Đại Nghĩa mất chiều ngày 9/8/1997 và tên tuổi của
ông luôn gắn liền với lịch sử ngành quân giới Việt Nam.
Hương Thu
Thán phục dàn vũ khí do quân giới Việt Nam chế tạo
Trong hai cuộc kháng chiến, ngành quân giới Việt Nam đã
tạo ra được vô số vũ khí mạnh mẽ, không hề thua kém các sản phẩm nước
ngoài.
Trong
giai đoạn đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ (đầu
những năm 1960 ở miền Nam), vũ khí trang bị cho bộ đội vô cùng thiếu
thốn. Nhưng trong cái khó mới ló cái khôn, quân đội ta đã nỗ lực đi từ
con số 0 tròn trĩnh để tự nghiên cứu chế tạo thành công nhiều loại súng
ống có sức công phá mạnh mẽ mà tới cả quân địch phải nể phục.
Một trong những kỹ sư giỏi nhất và có nhiều đóng góp nhất trong ngành quân giới Việt Nam
là Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa. Ảnh: Đồng chí Trần Địa Nghĩa (đứng giữa,
thứ 3 từ trái qua phải ảnh) đang giới thiệu sản phẩm vũ khí cho bộ đội
với Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Trong
kháng chiến chống Pháp, quân giới Việt Nam đã chế tạo được khá nhiều
mẫu súng, bom, mìn, lựu đạn phục vụ cho bộ đội chiến đấu. Điển hình,
trong ảnh từ trái qua phải gồm: Bộc phá ống (quân giới Việt Nam sản xuất
tháng 2/1952); bom ba càng (Trung đoàn Thủ đô dùng để chiến đấu ở Liên
khu I, năm 1946); súng SKZ (SSB) 81mm do quân giới Nam Bộ sản xuất; Đạn
SKZ 81mm; bom phóng (xưởng LA1 sản xuất năm 1948). Ở dưới là Bộc phá
khối (sản xuất tháng 2/1950) và bom bay OF (sản xuất tháng 3/1948).
Cận cảnh bom phóng do xưởng LA1, quân giới Việt Nam sản xuất.
Quân
giới Việt Nam cũng sản xuất thành công nhiều mẫu súng cá nhân cho bộ
đội, gồm: súng trường; súng kíp; súng tiểu liên; súng đại hỏa mai...
Một số mẫu súng ngắn do quân giới Việt Nam sản xuất
phục vụ bộ đội đánh Pháp (từ trên xuống dưới): súng ngắn (sản xuất ở
khu 9 từ 1945-1954); súng ngắn kiểu MAS cỡ 7,62mm; súng côn quay cỡ
6,35mm kiểu Saint Etine; súng ngắn colt 12mm; súng ngắn kiểu bút máy bắn
1 viên....
Bước
đầu, quân giới Việt Nam đã sản xuất thành công cả súng cối (cỡ 50,8mm,
60mm, 120mm, 160mm) – một trong những hỏa lực quan trọng của pháo binh
truyền thống.
Đạn cối 60mm do quân giới Việt Nam chế tạo trong kháng chiến chống Mỹ.
Một số loại mìn do Việt Nam sản xuất trong thời kỳ đánh Pháp.
Còn
đây là các sản phẩm súng tiểu liên, súng trường, súng chống tăng và
súng không giật được quân giới sản xuất phục vụ thời kỳ đầu đánh Mỹ ở
miền Nam (trước khi có dòng vũ khí từ ngoài Bắc chuyển vào). Đáng ngạc
nhiên, ngay từ thời kỳ đánh Mỹ, Việt Nam đã tự lực sản xuất thành công
súng chống B40 và B41 (RPG-2 và RPG-7) và súng trường bán tự động SKS
theo mẫu của Nga. Bên cạnh đó, ta cũng tự tạo cho mình một số loại vũ
khí mang dấu ấn riêng gồm: súng ngựa trời; lựu phóng AT trên súng
trường; súng ĐKZ 120mm và 60mm (được chế tạo trong thời kỳ đánh Pháp,
đánh Mỹ).
Ảnh tư liệu bên trong xưởng vũ khí ở Long An thời đánh Đế quốc Mỹ.
Mìn lõm do quân giới Việt Nam sản xuất năm 1949.
Chông
đu do dân quân Tây Nguyên chế tạo để đánh địch trong kháng chiến chống
Mỹ. Chính những vũ khí thô sơ này đã khiến cho quân Mỹ phải khiếp sợ hơn
cả đạn súng.
Chông
mổ - các loại vũ khí này tuy chỉ gây bị thương cho binh lính địch,
nhưng có tác dụng lâu dài đánh vào tâm lý của địch khi tác chiến trong
rừng.
Tàu chiến hiện đại của Mỹ không tránh khỏi cảnh bị tiêu diệt bởi "thủy lôi chóp nón Long An".
Súng
không giật SKZ 81mm và đạn. Đây là loại súng hạng nặng có trọng lượng
20 kg, đầu đạn lõm, dùng để bắn vào những pháo đài kiên cố của địch, đầu
đạn xuyên thủng bê tông dày. SKZ Việt Nam xuất trận lần đầu trong trận
Phố Lu, đánh phá nhiều lô cốt địch. Năm 1950, tại chiến trường Nam Trung
bộ, trong một đêm, với loại súng không giật này, ta đã loại bỏ 5 đồn
giặc. Địch hoảng sợ tháo chạy khỏi hàng loạt đồn bốt khác.
Sáng tạo của dân quân du kích miền Nam để đánh trực thăng Mỹ - bẫy gây nổ chống trực thăng.
Mìn phá xe do quân giới Việt Nam sản xuất, trang bị cho bộ đội trong kháng chiến chống thực dân Pháp.
An Ninh
M40 - Súng không giật đáng sợ nhất trên chiến trường Việt Nam
Tuấn Trung |
10
M40 106 mm của quân đội Mỹ chính là loại súng không giật có uy lực lớn nhất từng xuất hiện trên chiến trường Việt Nam.
Súng (pháo) không giật M40
là loại vũ khí chống tăng dành cho bộ binh được quân đội Mỹ giới thiệu
vào giữa những năm 1950. Mặc dù cỡ nòng chính xác là 105 mm nhưng nó lại
được mô tả bằng con số 106 mm để tránh việc phát nhầm đạn 105 mm không
tương thích của khẩu M27 thế hệ trước.
Súng không giật M40 có trọng
lượng 209,5 kg (nòng súng + giá 3 chân); dài 3,404 m; cao 1,02 m. Súng
có thể bắn nhiều loại đạn từ đạn nổ lõm chống tăng (HEAT) đến đạn nổ
mạnh sử dụng chất dẻo ở đầu đạn (HEP); góc nâng hạ tối đa từ -17 đến +65
độ; góc xoay ngang 360 độ; tầm bắn hiệu quả 1.350 m; tầm bắn tối đa
6.870 m; sơ tốc 503 m/s khi bắn đạn xuyên lõm M344A1.
Mặc dù được gọi là vũ khí
chống tăng hạng nhẹ nhưng với trọng lượng của mình, súng M40 rất khó có
thể sử dụng ở dạng mang vác mà thường được gắn trên xe jeep M151A1 MUTT để thực hiện nhiệm vụ yểm trợ hỏa lực cho bộ binh.
Bên cạnh M151A1 MUTT, xe jeep M38A1 CDN3 cũng thường được sử dụng làm phương tiện vận chuyển khẩu súng không giật này...
...khi đó phần thùng xe phía
sau sẽ được dùng để chứa đạn. Vỏ đạn của M40 khá đặc biệt với nhiều lỗ
nhỏ, khi bắn, khí thuốc sẽ được thổi qua các lỗ đó và phụt về phía sau
qua các vòi phun đặc biệt đằng sau súng, cơ chế này được tạo ra tại thời
điểm phản lực nhằm triệt tiêu lực hãm lùi của súng. M40 có thể bắn các
loại đạn xuyên lõm M344A1, đạn nổ mạnh M346A1 hay M581. Đạn xuyên lõm
M344A1 có thể xâm nhập qua 400 mm thép đồng nhất, các loại đạn cải tiến
RAT 700 hay 106 3A có thể xuyên tới 700 mm. Đây là con số vượt trội so
với DKZ B-10 82 mm hay SPG-9 73 mm của Việt Nam.
Ngoài ra súng không giật M40 còn có thể được lắp trên xe thiết giáp M113...
... hay bố trí phía trước tiền duyên phòng ngự để chống lại các đợt tấn công có sự tham gia của xe tăng, thiết giáp.
Tuy nhiên hình ảnh gắn liền với súng không giật M40 lại là khi nó được lắp đặt lên xe chống tăng tự hành M50 Ontos.
Được thiết kế để chống tăng nhưng M50 thường được quân đội Mỹ sử dụng
với chức năng chính là yểm trợ hỏa lực cho bộ binh. Với 6 khẩu súng
không giật M40 nạp đạn beehive, một chiếc M50 có thể quét sạch khu rừng
rậm có chiều sâu lên đến 400 m, nó chỉ cần vài giây lộ diện trước làn
đạn của đối phương trước khi làm sạch 6 khẩu M40, sau đó nhanh chóng di
chuyển đến nơi an toàn để nạp lại. M50 Ontos được coi là khẩu shotgun
lớn nhất thế giới.
Trong quân đội Mỹ, súng
không giật M40 đã bị thay thế vai trò bởi tên lửa chống tăng TOW, tuy
nhiên ở nhiều quốc gia khác nó vẫn được tin tưởng sử dụng do có uy lực
lớn, độ tin cậy cao và nhất là giá thành rẻ hơn 1 quả tên lửa chống tăng
rất nhiều. Trong ảnh là xe chống tăng tự hành Type-60 của Nhật Bản được
trang bị 2 khẩu M40.
Ngoài ra, khẩu súng không
giật này còn là thứ vũ khí yêu thích của nhiều lực lượng nổi dậy trên
thế giới. Hình ảnh của nó đã từng xuất hiện trong bộ phim bom tấn Black
Hawk Down sản xuất năm 2001.
theo Đại Lộ
Những kỹ sư quân sự nổi tiếng của VN!
“Ông vua” vũ khí Việt Nam Trần Đại Nghĩa
Giáo sư Trần Đại Nghĩa.
(Dân
trí) - Nhà khoa học Trần Đại Nghĩa không chỉ là tên tuổi lớn trong làng
khoa học quân sự , có nhiều đóng góp cho đất nước trên nhiều lĩnh vực.
Ông là nhà khoa học đầu tiên được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng
Lao động và Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I. Trải qua hai cuộc kháng
chiến cứu nước, tên tuổi ông trở thành một huyền thoại đối với nhiều thế
hệ người Việt cũng như bạn bè quốc tế.
Kỳ 1: Những hoài bão cháy bỏng trong chàng trai trẻ
Thủ khoa tú tài Tây
Tên
thật của Trần Đại Nghĩa là Phạm Quang Lễ. Ông sinh ngày 13/09/1913 tại
thị xã Vĩnh Long, miền Tây Nam bộ trong một gia đình có cha làm giáo
viên tiểu học. Ngay từ bé, ông đã ham thích tìm hiểu các hiện tượng
thiên nhiên, thiên văn. Đến khi học lớp 5, ngoài những bài học ở lớp,
cậu trò nhỏ còn được cha mình dạy thêm những môn như Pháp văn, toán...
Cha ông là người vốn là nhà nho uyên thâm chuyển sang học tiếng Pháp, đỗ
Thành Chung, được biết đến là người học rộng biết sâu.
Nhưng một
biến cố lớn xảy đến, cuộc sống đang yên ấm thì người cha đột ngột qua
đời. Vậy là cậu bé Lễ mới lên 7 tuổi đã mồ côi cha. Trước khi mất, ông
cụ gọi các con tới trăng trối: “Quanh ta, số người sung sướng chẳng là
bao, lớn lên các con có thể cũng đi dạy học như cha, nhưng cũng có thể
làm nghề khác, làm nghề chỉ để nuôi thân thì chưa đủ, nhất là với Lễ -
phải trở thành trụ cột gia đình, phải biết mang hiểu biết của mình giúp
ích cho đời”.
Sau đám tang, cuộc sống bộn bề khốn khó. Cậu Lễ,
may thay gửi được vào nhà một ông giáo đồng nghiệp của cha. Thế là cuộc
sống ở trọ bắt đầu từ đó. Nỗi nhớ cha, thương mẹ, thương chị luôn khắc
khoải trong lòng cậu trò nhỏ. Mẹ và chị gái ở quê thì tần tảo một nắng
hai sương nuôi Lễ ăn học, muôn vàn cơ cực.
Đến hè năm 1926, Phạm
Quang Lễ thi đậu vào trường Trung học Mỹ Tho. Chuyện cơm áo gạo tiền
không còn phải lo nữa, vì vào đây là có học bổng. Lễ luôn học rất tốt
các môn khoa học tự nhiên. Đến năm 20 tuổi, những tháng cuối của niên
khoá 1932-1933, trong lúc chuẩn bị cho kỳ thi lấy bằng tú tài bản xứ,
Phạm Quang Lễ quyết định ghi danh thi lấy bằng tú tài Tây. Hoàn toàn tin
vào khả năng của mình, bởi Lễ đã học kỹ các môn tự nhiên như toán, lý
hoá- những môn quyết định trong việc thi lấy loại bằng này. Năm ấy, Phạm
Quang Lễ thi đỗ thủ khoa cả tú tài Tây và tú tài bản xứ.
Hoài bão của tuổi trẻ
Trở
thành thủ khoa, Lễ không ra Hà Nội học đại học mà đi làm ở toà sứ Mỹ
Tho. Đó cũng là hai năm tìm cơ hội để đi học nước ngoài với hoài bão
sưu tầm tài liệu chế tạo vũ khí. Lòng yêu nước nhen nhóm trong chàng
thanh niên mỗi lúc một lớn dậy, để rồi Phạm Quang Lễ nhận ra, chỉ có đấu
tranh vũ trang mới có thể giải phóng dân tộc khỏi cảnh thuộc địa.
Lễ
chẳng mong gì trở thành một viên chức giống cha, để cả nhà vẫn khổ, mà
muốn tiến xa hơn nữa. Thật may, chàng trai trẻ được nhà báo Vương Quang
Ngưu nâng đỡ. Ông Ngưu là người luôn gần gũi, tìm hiểu tâm tư nguyện
vọng của những người trẻ tuổi có chí hướng giành độc lập cho Tổ quốc để
tìm cách nâng đỡ họ. Nhờ đó, Lễ được hội Ái hữu của trường Chasseloup-
Laubat cấp học bổng một năm sáng Pháp. Nếu thi đậu đại học, nhà nước
Pháp sẽ tiếp tục cấp học bổng.
Tháng 9/1935, chàng trai Phạm
Quang Lễ khi đó 22 tuổi, bước chân xuống tàu thuỷ đi Pháp. Hành trang
mang theo mình chẳng có gì ngoài hoài bão được học hỏi để trở về phục vụ
quê hương. Lần đầu bước chân tới Paris hoa lệ, chàng trai xứ Đông Dương
lặng người ngắm nhìn tháp Eiffel để cảm nhận đến tận cùng sự hùng vĩ
của nó, cũng như sự cao siêu của khoa học nơi kinh đô ánh sáng. Tháp cao
tới 318m nhưng toàn bộ bằng thép và chỉ nặng 7.000 tấn. Tại sao người
ta có thể có những tính toán chính xác tuyệt vời nhường ấy!
Được
nhận vào một trường Trung học đặc biệt 2 năm để chuẩn bị thi vào Đại
học, Lễ vạch ra phương pháp học để có thể hoàn tất chương trình trong
vòng 1 năm. Với trí thông minh và lòng ham học, chàng thanh niên học
nhảy một lớp (rút ngắn được 1 năm). Trong lòng luôn nung nấu, phải làm
sao để có kiến thức đầy đủ cho việc nghiên cứu, thiết kế và chế tạo vũ
khí trở về phục vụ sự nghiệp giải phóng đất nước. Nhưng nên bắt đầu bằng
cách nào đây, khi mà điều ấy là vô cùng bí mật đối với bất kỳ quốc gia
nào? Hoài bão và những câu hỏi luôn cháy bỏng trong lòng chàng thanh
niên.
Những chiều hoàng hôn ngồi ghế đá bên bờ sông Seine, lặng
ngắm cảnh vật êm đềm thanh bình và lãng mạn, trong lòng Lễ lại ngập lên
nỗi nhớ nhà, nhớ quê. Gương mặt khắc khổ vì sương gió của mẹ, hình ảnh
chị, những giọt nước mắt tiễn biệt, tiếng còi tàu rú lên rời cảng Nhà
Rồng... lại chầm chậm trôi trong đầu như một đoạn phim. Những lúc ấy chỉ
biết nén xuống nín lặng tất cả, chờ mong đến ngày đoàn viên.
Những bước ngoặt cuộc đời
Phạm
Quang Lễ quyết tâm nộp đơn thi vào trường đại học có những chuyên ngành
liên quan đến hoài bão của mình nhiều nhất. Anh chọn Trường quốc gia
Cầu đường Paris. Công sức cuối cùng cũng được đền đắp. Anh thi đỗ và
được học bổng lên tới 1.200 franc mỗi tháng. Ngoài việc học ở trường Cầu
đường, anh cũng nghe giảng ở các đại học danh tiếng khác như Trường
tổng hợp Sorbonne, Đại học Mỏ, Đại học Báck khoa, Đại học điện và Học
viện kỹ thuật Hàng không và lần lượt thi đậu các bằng Cử nhân khoa học,
kỹ sư cầu đường, kỹ sư điện, kỹ sư hàng không.
Mùa hè năm 1937,
chị gái mất, ông trở về chịu tang chị rồi lại quay trở lại Pháp. Niềm
đau khôn nguôn đành vùi sâu vào lòng. Phải gạt lệ để tiếp tục con đường
đã bắt đầu. Không được buồn chán, không thể để người thân thất vọng.
Trong suốt thời gian này, ông dồn tâm lặng lẽ nghiên cứu thu thập những
thông tin về vũ khí. Sau khi ra trường, ông vào làm ở một hãng Điện khí
và tiếp sau đó là một Hãng chế tạo máy bay dân dụng.
Người ta
thấy ông thường xuyên xuống các nhà máy, xí nghiệp, vào thư viện, đứng
hàng giờ trước những thiết bị khí tài trong Viện bảo tàng vũ khí. Thời
gian làm việc cho phòng thiết kế của hãng máy bay, ông đã tiếp xúc với
rất nhiều tài liệu quân sự, vũ khí vì hãng nọ còn sản xuất cả máy bay
quân sự. Kiến thức cứ âm thầm ngấm vào và lớn lên trong ông theo cách
ấy.
Sau ngày đất nước giành độc lập (tháng 8/1945), tình hình
trong nước vô cùng phức tạp và căng thẳng. Các thế lực thù trong giặc
ngoài, đế quốc phản động luôn tìm mọi cách để xoá bỏ chính quyền cách
mạng non trẻ.
Trước tình hình nước sôi lửa bỏng đó, tháng
9/1946 đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Pháp, cũng là để chọn
lựa một số trí thức yêu nước có hiểu biết về vũ khí đưa về Tổ quốc trong
đó có Phạm Quang Lễ - lúc đó 33 tuổi, đang là kỹ sư của hãng chế tạo
máy bay. Hồ Chủ tịch ân cần hỏi ông:
- Nguyện vọng của chú lúc này là gì?
Quá cảm động vì sự giản dị và quan tâm một cách sâu sắc của Bác, ông nói luôn điều mình đang ấp ủ:
- Kính thưa Cụ, nguyện vọng cao nhất là được trở về Tổ quốc cống hiến hết năng lực và tinh thần.
- Bây giờ ở nhà cực khổ lắm, chú có chịu nổi không? Bác Hồ hỏi.
- Tôi chịu nổi.
- Bây giờ ở nhà kĩ sư và công nhân về vũ khí không có, máy móc thiếu liệu chú có làm được không? Hồ Chủ tịch tiếp lời.
- Tôi đã chuẩn bị 11 năm rồi và tôi tin là sẽ làm được.
Trong
những ngày gần gũi Hồ Chủ tịch ở Paris, Phạm Quang Lễ lại càng hiểu sâu
sắc hơn về tài đức của Người. Ông đã trình bày với Người nhiều kiến
thức về khoa học kỹ thuật, đặc biệt là khoa học quân sự, về những hiểu
biết xung quanh thế chiến 2. Những gì ôm ấp bấy nay giờ được dịp thổ lộ,
như cá gặp nước, ông lập tức chuẩn bị cho ngày rời Pháp. Trước khi về
nước, ông còn tập trung thu thập hàng nghìn cuốn sách liên quan đến
nhiều lĩnh vực mà phần lớn là để phục vụ chiến tranh.
(Dân
trí) - Vừa về nước, Phạm Quang Lễ lập tức được Chủ tịch Hồ Chí Minh
trực tiếp giao nhiệm vụ lên Thái Nguyên cùng cán bộ công nhân xưởng quân
khí Giang Tiên tiến hành nghiên cứu chế tạo đạn badôca, một loại vũ khí
chủ yếu dùng đánh xe tăng thời đó. Với những đóng góp của ông cho ngành
quân giới, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tặng ông danh hiệu "Ông Phật làm
súng".
Kỳ II: Phát minh lay chuyển cục diện
Phạm Quang Lễ trở thành Trần Đại Nghĩa
Ngày
20/10/1946, con tàu đưa Hồ Chủ tịch và đoàn tuỳ tùng cập bến Hải
Phòng. Bến cảng rợp bóng cờ hoa, hàng nghìn đồng bào kéo nhau ra hân
hoan chào đón Chủ tịch. Những tiếng reo hò: "Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn
năm!" dậy lên khắp nơi. Trong lòng chàng trai trẻ Phạm Quang Lễ nghẹn
ngào khó diễn tả. Ông tự nhủ lòng phải làm gì đó góp phần xứng đáng với
niềm tin yêu của Bác, của người dân đã dành cho mình.
Chỉ 7 ngày
sau khi về nước (27/10/1946), Phạm Quang Lễ lập tức được Bác trực tiếp
giao nhiệm vụ lên Thái Nguyên, nghiên cứu chế tạo súng chống tăng dựa
theo mẫu badôca của Mỹ, với hai viên đạn do GS Tạ Quang Bửu lúc này là
Thứ trưởng Bộ Quốc phòng cung cấp. Phải bắt tay vào việc ngay. Nhưng mới
chỉ được ít hôm thì lại có điện gấp từ Bộ Quốc phòng gọi về gặp Bác Hồ.
Ngày
5/12/1946, Phạm Quang Lễ tới Bắc bộ phủ. Lòng khấp khởi, chàng kỹ sư
trẻ không hiểu Bác muốn gặp mình để giao nhiệm vụ gì. Vừa gặp, Chủ tịch
Hồ Chí Minh trịnh trọng nhưng cũng đầy thân mật bảo: "Kháng chiến sắp
đến nơi rồi, hôm nay tôi gọi chú lại để trao cho chú nhiệm vụ làm Cục
trưởng quân giới. Chú lo vũ khí cho bộ đội diệt giặc". Bác Hồ giao cho
ông toàn quyền hành động trong việc chế tạo vũ khí mà không phải thông
qua bất kỳ một cấp nào khác.
Rồi Người căn dặn: "Việc của chú là
việc đại nghĩa, vì thế từ nay Bác đặt tên cho chú là Trần Đại Nghĩa.
Dùng bí danh này để giữ bí mật cho chú và để bảo vệ gia đình, bà con chú
còn ở trong Nam". Bác giải thích ý nghĩa cái tên: "Một là họ Trần, là
họ của danh tướngTrần Hưng Đạo. Hai là, Đại Nghĩa là nghĩa lớn để chú
nhớ đến nhiệm vụ của mình với nhân dân, với đất nuớc. Đại Nghĩa còn là
chữ của Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo. Chú có ưng bí danh đó
không?".
Đảng và Nhà nước ta đánh giá cao công trình nghiên cứu
súng Badôca. Năm 1996, GS VS Trần Đại Nghĩa đã vinh dự nhận được Giải
thưởng Hồ Chí Minh về công trình nghiên cứu chế tạo Badôca trong những
năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp.
Thế là từ đấy, cái tên
Trần Đại Nghĩa gắn với cuộc đời ông. Có thể nói trong những ngày tháng
miệt mài nghiên cứu chế tạo vũ khí ở Chiến khu Việt Bắc là thời gian kĩ
sư Trần Đại Nghĩa cảm thấy có ý nghĩa nhất trong cuộc đời hoạt động của
mình. Sau này, đến những ngày trước khi qua đời, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa
vẫn nhắc lại tình cảm sâu sắc Bác dành cho ông, nhắc lại ngày 5/12 lịch
sử, ông được giao nhiệm vụ Cục trưởng Cục quân giới và trao bí danh đầy ý
nghĩa này. Đó là mốc lịch sử rất lớn đối với cuộc đời ông.
Chế tạo súng Badôca
Cùng
các cộng sự, Trần Đại Nghĩa bắt tay vào công việc ngay từ tháng
11/1946. Ông say mê làm việc đến quên ăn, quên ngủ. Nhiều đêm ông chỉ
mong cho trời chóng sáng để làm việc, nghiên cứu, thử nghiệm. Song công
việc không hề dễ dàng. Ông chỉ đạo xưởng Giang Tiên sản xuất thành công
một khẩu súng Badôca 60 mm và 50 quả đạn. Khi bắn thử, đạn nổ nhưng chưa
xuyên.
Đạn Badôca của Mỹ được nhồi bằng thuốc phóng, còn ta chỉ
có loại thuốc súng lấy được từ bom đạn của Pháp. Tất cả đều phải tính
toán lại từ đầu và phải hiểu được những nguyên lý cơ bản về thuốc phóng,
thuốc nổ. Những kiến thức sách vở 11 năm thu lượm xứ người bắt đầu phát
huy tác dụng. Hình ảnh người kỹ sư miệt mài tính toán tốc độ cháy, đốt
thử các loại thuốc súng, ngày đêm với cây thước tính trong tay... đã trở
nên quá đỗi quen thuộc với các cán bộ Chiến khu. Chỉ một sai sót nhỏ sẽ
phải trả giá bằng xương thịt của chiến sĩ nơi trận mạc, vì thế trách
nhiệm càng đè nặng lên vai ông.
Những cán bộ chiến khu sau này kể
lại, họ rất... sợ khi đi qua phòng ông vì đó là nơi rất nguy hiểm.
Trong căn phòng chứa đầy thuốc nổ đủ loại, chỗ nào cũng thấy ngổn ngang
bao tải thuốc nổ, trên mặt bàn làm việc la liệt các loại đạn Badôca, quả
đang nghiên cứu, quả đã nhồi xong, quả thì chưa nhồi, rồi thì hạt nổ...
Kỹ sư lại có thói quen... hút thuốc mỗi lúc tư duy. Rõ ràng tai hoạ
luôn rình rập. Cuối cùng, điều kì diệu đã đến. Cuối tháng 2 năm 1947,
cuộc thử nghiệm Badôca thành công. Mức đâm xuyên của đạn vừa chế tạo đạt
độ sâu 75cm trên tường thành xây gạch tương đương với sức nổ xuyên của
đạn Badôca do Mỹ chế tạo. Đây là bất ngờ lớn đối với địch.
Người
ta kể rằng một cuộn dây điện trở loại nhỏ, được tháo ra từ một chiếc vôn
kế. Nếu không có thì việc nghiên cứu của ông không thể thực hiện được.
Nó được dùng làm sợi tóc đốt mồi thuốc súng đen a-moóc, nếu sợi tóc bị
đứt thì đạn bị xịt. Trần Đại Nghĩa luôn giữ cuộn dây ấy bên mình, cho
đến một đêm đáng nhớ: 2/3/1947. Cuộn dây đã được đem ra sử dụng trong
tình trạng khẩn cấp.
Đêm đó, ông Phan Mỹ, Chánh Văn phòng Bộ Quốc
phòng giao nhiệm vụ sản xuất cấp tốc đạn Badôca để cản phá cuộc hành
quân của Pháp. Chúng ta đã vây Pháp hơn 2 tháng ở Hà Nội và giờ chúng
đang tìm cách thoát ra. Ông Phan Mỹ yêu cầu: "Các đồng chí đã bắn thử
Baôca thành công, tuy chưa chắc chắn lắm nhưng tình hình lúc này rất cấp
bách. Sáng mai quân Pháp có khả năng chọc thủng mặt trận Cầu Mới- Hà
Đông. Đề nghị anh Nghĩa cho nhồi gấp đạn Badôca ngay trong đêm để kịp
mang đến cho đồng chí Vương Thừa Vũ trong ngày mai. Anh Vũ đang bảo vệ
Bác Hồ và Chính phủ ở Quốc Oai, Hà Tây.
Dưới ánh đèn võ vàng, tất
cả đều được huy động nhồi thuốc, lắp đạn. Chẳng ai còn đầu óc nào để
nghĩ đến căn phòng đáng sợ của kỹ sư. Cật lực suốt đêm, đến 3 giờ sáng
thì tổ nghiên cứu của Trần Đại Nghĩa cùng anh em trong cơ quan Cục Quân
giới nhồi lắp được 10 quả đạn mang mã hiệu B60, kèm 1 quả đạn khói, 1
súng Mỹ cải tiến đưa ra mặt trận.
Nỗi kinh hoàng của kẻ địch
Sáng
3/3/1947, máy bay Pháp bắt đầu quần đảo nhằm yểm trợ cho xe tăng, cơ
giới của địch đánh chiếm thị xã Hà Đông. Quân ta bố trí dọc đê. Chiếc xe
đi đầu bị bắn cháy ngùn ngụt, chiếc thứ 2 cũng bị đạn bắn hỏng. Cả đoàn
xe địch khựng lại, hỗn loạn rồi thối lui. Sự xuất hiện của một loại vũ
khí mới đã khiến chúng bất ngờ và hoang mang. Ngày 3/3/1947 đã trở thành
một mốc son của ngành Quân giới Việt Nam trong việc chế tạo khí tài,
súng đạn. Chiến công này góp phần bẻ gẫy cuộc tấn công của địch ra vùng
Chương Mỹ, Quốc Oai.
Sau việc sản xuất súng đạn Badôca thành
công, cục Quân giới chuyển lên Việt Bắc và tiếp tục sản xuất hàng loại
súng này. Vũ khí của ta lúc này rất hiếm, riêng Badôca là loại vũ khí
quí. Badôca xuất hiện lần đầu tiên trên thể giới vào Thế chiến 2, năm
1943, đã trở thành vũ khí đáng sợ đối với nhiều đơn vị quân đội. Tuy
nhiên việc một đất nước vừa thoát khỏi cảnh thuộc địa và nửa phong kiến
như nước ta đã chế tạo thành công loại vũ khí hiện đại này, thật như
huyền thoại và là điều không thể ngờ đến của địch.
Bộ đội sau khi
được trang bị nhiều súng Badôca đa có nhiều sáng tạo trong chiến đấu.
Nếu trước kia Badôca chỉ nhắm vào các loại xe tăng, thiết giáp thì sau
này, bộ đội còn sử dụng để bắn ôtô, lô cốt, dùng thay thế lựu đạn ở
những nơi đối phương tập trung đông. Đạn Badôca có tầm xa tới 600m, phạm
vi sát thương tới 50m, nhưng không làm hỏng vũ khí đối phương. Vì vậy
chúng ta đã tịch thu được nhiều súng đạn của giặc sau mỗi trận thắng. Từ
khi đưa vào sử dụng, Badôca đã gây cho địch nhiều tổn thất rất lớn.
Từ
các mặt trận, thư của chiến sĩ gửi về ngành quân giới tới tấp. Những
người lính trực tiếp chiến đấu đã có nhiều phản hồi giúp kỹ sư hoàn
thiện hơn loại vũ khí này. Súng Badôca đã trở thành nỗi kinh hoàng của
kẻ địch, nhưng vẫn còn những hạn chế, chẳng hạn như tầm bắn chưa tốt,
nếu bắn cách xa 100m thì sức phá sẽ kém đi...
Người lính trông
đợi những vũ khí uy lực hơn, tiện dụng hơn, và thế là những kỹ sư lại
miệt mài nghiên cứu. Chiến sự ngày một ác liệt, ngoài Badôca chiến
trường cần phải có thêm vũ khí hạng nặng. Trần Đại Nghĩa lại đêm ngày
nghiên cứu. Năm 1948, khi vũ khí hạng nặng bắt đầu được sản xuất thì
Trần Đại Nghĩa cũng được phong quân hàm Thiếu tướng, trở thành một
trong 10 vị tướng đầu tiên của quân đội ta. Khi ấy ông mới 35 tuổi.
GS Trần Đại Nghĩa làm việc với cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng.
(Dân
trí) - Năm 1948, chiến sự diễn ra ngày một ác liệt hơn. Chiến trường
cần thêm những loại vũ khí hạng nặng, ngoài Badoca đã "thành danh". Trần
Đại Nghĩa khi đó là Cục trưởng Cục Quân giới lại một lần nữa nghiên cứu
thành công súng không giật SKZ và bom bay, hai loại vũ khí đặc biệt lúc
đó.
Kỳ III: Vị Cục trưởng tài ba của 2 Cục quan trọng
Súng SKZ bắt kịp vũ khí hiện đại của Mỹ
Cuộc
chiến đang vào hồi cam go, Trần Đại Nghĩa không đêm nào có được một
giấc ngủ trọn vẹn. ông luôn suy nghĩ về các loại vũ khí mới, có uy lực,
ngay cả trong những giấc ngủ ngắn ngủi. Ngay từ đầu kháng chiến, các cơ
sở quân giới của ta đã sản xuất nhiều vũ khí như lựu đạn, mìn gửi ra mặt
trận, nhưng hiệu quả của chúng không lớn. Lựu đạn, thậm chí có quả khi
nổ chỉ vỡ làm 4 mảnh, tính sát thương không cao.
Những năm 1948 -
1949, Cục Quân giới bắt đầu nghiên cứu các loại vũ khí hạng nặng. Đánh
địch cố thủ trong lô cốt bêtông cốt thép, thông thường ta cho nổ bộc lôi
hoặc mìn lõm cỡ lớn. Người chiến sĩ phải áp sát đồn địch, rất nguy
hiểm, nhiều người đã hi sinh. Các nước tiên tiến khi đó người ta hay
dùng đại bác hạng nặng, hạng trung hoặc đạn bay. Đạn bay ta chưa có, còn
đại bác chỉ sử dụng trong những chiến dịch lớn vì nó rất nặng, mỗi cỗ
pháo nặng tới vài tấn thép.
Trần Đại Nghĩa luôn nghĩ về một loại
súng thật nhẹ, có thể vận chuyển, mang vác dễ dàng, nhưng lại có sức
công phá ngang... đại bác. Lúc đầu có người gợi ý làm Badoca cỡ lớn,
chuyển đường kính từ 60 ly lên 90 ly nhưng không được, vì những hạn chế
kỹ thuật. Ông nghĩ tới súng không giật (SKZ: súng- không- giật). Đây là
loại vũ khí hiện đại, mới xuất hiện lần đầu trong trận quân Mỹ đổ bộ lên
đảo Okinawa của Nhật Bản hồi cuối chiến tranh thế giới thứ hai. Tất
nhiên, công nghệ chế tạo ra nó ra sao, cách thức thế nào thì chỉ...
người Mỹ mới biết.
Cùng các kỹ sư cộng sự gần gũi như Lê Tâm,
Nguyễn Trinh Tiếp,... Trần Đại Nghĩa phải lặp lại cái công việc mà các
nhà sáng chế Mỹ đã hoàn thành. Cuối cùng, ông đã thành công. Đó là loại
súng rất nhẹ, chỉ 20kg, đầu đạn lõm cỡ 160mm, dùng để bắn vào những pháo
đài kiên cố của địch, đầu đạn xuyên thủng bêtông dầy hàng mét.
Chỉ
sau SKZ của Mỹ mấy năm, SKZ Việt Nam xuất hiện lần đầu trong trận Phố
Lu, đánh phá tan tành các lô cốt địch. Sau này, trong cuốn "Chiến tranh
Đông Dương" xuất bản tại Paris năm 1963, ký giả Lucien Bodart viết: "Cái
thứ gây khó khăn cho chúng tôi, cái thứ xuyên thủng bêtông dày 60cm là
những quả đạn SKZ. Chỉ cần vài quả là đã tiêu diệt được lôcốt của chúng
tôi".
Ta đã nghiên cứu mất 2 năm mới thành công, trước đó không
một tài liệu nào nhắc tới vũ khí này. SKZ đã phát huy tác dụng rất lớn.
Gần đến chiến dịch Điện Biên Phủ, Cục Quân giới chuyển vào chiến trường
10 khẩu SKZ và 100 quả đạn. Số súng đạn này đã góp phần giúp anh em
chiến sĩ hạ gục nhiều đồn bốt địch.
Bom bay ra đời
Cuộc
chiến đấu thần thánh đang đứng trước nhiều yêu cầu cấp bách, đòi hỏi
các loại vũ khí ngày càng hoàn thiện hơn. Ta đã tạo được những thay đổi
lớn trên cục diện chiến trường, đẩy quân địch vào thế co cụm. Nhưng
chính lúc này, tình thế cũng đặt ra yêu cầu cần các loại vũ khí có sức
tiêu diệt lớn, đánh những đòn chí mạng vào các điểm co cụm của địch.
Dù
đã nhiều lần nghiên cứu các loại bom bay mang bí số V1, V2 của Đức
nhưng bí mật về các loại vũ khí đó, Trần Đại Nghĩa vẫn chưa giải mã
được. Trong ông luôn nung nấu sẽ có ngày tạo ra một loại vũ khí có uy
lực sấm sét. Dựa trên thực địa chiến trường, ông đã có phác hoạ đôi nét
về loại vũ khí này. Đó là do ta và địch luôn ở thế cài răng lược, vì vậy
tầm hiệu quả của "bom bay" chỉ hạn chế từ 3 đến 4km, quả đạn cũng chỉ
nặng tầm 25 - 30kg.
Nhưng vấn đề là làm sao để đẩy cả khối thuốc
nổ đó đi xa một hành trình dài tới mấy km. Trần Đại Nghĩa đã dành toàn
bộ thời gian để nghiên cứu phương án tối ưu chế tạo thuốc đẩy. Ngày đêm
mày mò, cuối cùng việc gì đến cũng phải đến. Trong một lần đi tắm suối,
nhà khoa học đã nghĩ tới phương án ép từng lớp thuốc vào ống thép. Và
ông thành công.
Vũ khí mới được khẩn trương sản xuất với tên gọi
khiêm nhường: đạn bay. Sau đó, nó được cấp tốc đưa đến các vùng chiến sự
khốc liệt. Nó đúng hơn phải gọi là bom bay bởi đã trút những đòn sấm
sét nhất xuống đầu quân thù. Một hàng binh sau này khai: Ngay cả lính
cảm tử của đội quân lê dương cũng có nhiều kẻ muốn chạy sang hàng ngũ
Việt Minh để tránh được thảm cảnh gây ra bởi một loại vũ khí mới rất
khủng khiếp, chẳng kém gì so với bom V1, V2 hồi Thế chiến 2.
Vị Cục trưởng tài ba của 2 Cục quan trọng
Sau
chiến dịch Việt Bắc (Thu Đông 1947), Trung ương Đảng và Bác Hồ quyết
định phong quân hàm cho một số cán bộ lãnh đạo, chỉ huy quân đội. Ngày
20/11/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 110/SL, phong quân
hàm Đại tướng cho Bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyên Giáp, sắc lệnh phong
Trung tướng cho đồng chí Nguyễn Bình và phong Thiếu tướng cho các đồng
chí Nguyễn Sơn, Chu Văn Tấn, Hoàng Văn Thái, Lê Thiết Hùng, Hoàng Sâm,
Lê Hiến Mai, Trần Tử Bình, Văn Tiến Dũng và Trần Đại Nghĩa. Lễ phong Đại
tướng được tổ chức trọng thể vào ngày 28/5/1948.
Buổi lễ được cử
hành trong căn nhà gỗ lợp tranh, phên nứa, bên bờ suối. Bác Hồ và cụ
Bùi Bằng Đoàn (Trưởng ban Thường trực Quốc hội) đứng hai bên bàn thờ.
Toàn thể nhân viên Chính phủ đứng xếp hàng phía trước. Đúng 13h, buổi lễ
bắt đầu. Không khí tĩnh lặng và trang nghiêm. Bác bước lên cầm bản sắc
lệnh, đoạn gọi Tướng Giáp ra đứng bên cạnh: "Nhân danh Chủ tịch nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Bác trao cho chú hàm Đại tướng để chú điều
khiển binh sĩ, làm tròn sứ mệnh mà nhân dân phó thác cho"...
Đối
với kỹ sư Trần Đại Nghĩa, việc được phong quân hàm thiếu tướng là vinh
dự rất lớn. Hai năm trước, khi còn là một kỹ sư trẻ, được Bác đón về
phục vụ kháng chiến, ông chưa bao giờ dám nghĩ đến điều này, dù chỉ là
trong mơ. Nhưng kháng chiến đã hun đúc, tôi luyện con người yêu nước
trong ông, từ một kỹ sư trẻ trở thành một Thiếu tướng quân đội với đầy
đủ kinh nghiệm vững vàng về súng ống, vũ khí chỉ trong vòng hai năm
trời. Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ thấy cuộc chiến tranh vệ quốc của dân
tộc ta mang ý nghĩa lớn lao đến nhường nào.
Năm 1949, Trần Đại
Nghĩa 36 tuổi, được giao đồng thời hai nhiệm vụ Cục trưởng cục Quân giới
và Cục trưởng Cục Pháo binh. Ông đã góp phần quan trọng xây dựng lực
lượng pháo binh để tham gia chiến dịch Biên giới năm 1950, sau đó là
chiến dịch Điện Biên Phủ, chiến dịch Đông Xuân 1953-1954. Thời kỳ này,
việc đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ pháo binh là yêu cầu vô cùng cấp
bách. Lúc đó, Bộ Tổng tham mưu thành lập ba Trung đoàn Pháo binh và đến
năm 1952 thì thành lập Đại đoàn pháo binh. Đó là đơn vị pháo binh đầu
tiên của quân đội ta, sau này tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ và gây
những tổn thất lớn cho quân địch.
Đạn
Badôca có tầm xa tới 600m, phạm vi sát thương tới 50m, nhưng không làm
hỏng vũ khí đối phương. Vì vậy chúng ta đã tịch thu được nhiều súng đạn
của giặc sau mỗi trận thắng.
Đạn HEAT mà không làm hỏng vũ khí
đối phương thì kể cũng tài thật, không hiểu nó diệt xe tăng kiểu gì. Mà
hồi đấy thì hình như là GS Trần Đại Nghĩa không có chế tạo đạn hoá.
Vợ chồng GS.VS Trần Đại Nghĩa trong một lần tiếp xúc với giới khoa học TPHCM.
(Dân
trí) - Dù ở cương vị nào, GS Trần Đại Nghĩa cũng quy tụ được đội ngũ
trí thức, đoàn kết và hướng họ vào mục tiêu xây dựng một nền khoa học
Việt Nam hiện đại, đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn đặt ra. Ông
trở thành một trong số những người đại diện tiêu biểu của giới trí thức
yêu nước Việt Nam.
Kỳ cuối: Một đại trí thức, nhà khoa học anh hùng
Chống vũ khí hiện đại của Mỹ
Năm
1952, tại Đại hội Anh hùng và Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất,
Trần Đại Nghĩa được phong danh hiệu Anh hùng lao động, một trong bảy Anh
hùng lao động đầu tiên của nước ta. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, miền
Bắc được hoàn toàn giải phóng, Trần Đại Nghĩa được chuyển ra ngoài quân
đội. Nhưng một thời gian sau, ông được trở lại để chế tạo vũ khí trong
chiến tranh chống Mỹ.
Năm 1966, Bác Hồ đã nói với Quân uỷ Trung
ương: "Kháng chiến chống Pháp tôi đem chú Nghĩa về nước là để chú ấy
phục vụ cho Quốc phòng. Nay kháng chiến chống Mỹ cũng đang gặp nhiều khó
khăn về mặt vũ khí, đạn dược, sao lại để chú ấy ngồi làm việc ở cơ quan
bên ngoài, không gọi chú ấy về giúp cho Bộ Quốc phòng?" Sau đó, Trần
Đại Nghĩa được gọi trở lại Bộ Quốc phòng, làm Phó Chủ nhiệm Tổng Cục hậu
cần, phụ trách về kỹ thuật. Đó cũng chính là năm ông được bầu làm Viện
sĩ tại Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, danh vị cao nhất của những người
làm công tác khoa học.
Về lại với quân đội, Trần Đại Nghĩa vận
dụng tất cả những kinh nghiệm quý báu tích luỹ được trong cuộc kháng
chiến chống Pháp cũng như các kinh nghiệm rất phong phú của thế giới sau
Thế chiến 2. Cần nói thêm rằng, đến năm 1966, nước ta đã mạnh hơn nhiều
so với năm 1946, có đội ngũ Quân giới mạnh sau 20 năm xây dựng, được
Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa anh em giúp đỡ nhiệt tình về vũ khí
hiện đại và hậu cần. Nhưng về phía địch thì đế quốc Mỹ năm 1966 mạnh
hơn Pháp năm 1946 nhiều lần.
Đối đầu với những vũ khí, khí tài
hiện đại và phức tạp của Mỹ, lúc đầu ta phải cải tiến các vũ khí được
viện trợ. Sau đó, phải phát triển nhiều loại vũ khí khác nhau để địch
đối phó khó hơn. Tình hình chiến trường, chiến lược, chiến thuật của ta
có nhiều điểm khác với các nước, bởi vậy việc sản xuất thêm vũ khí mới
cho thích hợp là rất cần thiết, mặc dù việc cải tiến các vũ khí tài trợ
cũng quan trọng không kém. Chẳng hạn, máy bay B52 của địch có tầm bay
rất cao, ngoài tầm bắn của tên lửa SAM-2 do Liên Xô viện trợ và có sức
oanh tạc ghê gớm. Ta phải phá chống nhiễu của B52 đối với SAM-2, phải
nghiên cứu cải tiến để nâng độ bay cao của SAM-2. Nếu không cải tiến thì
tên lửa này khó lòng tiêu diệt được mục tiêu.
Mỹ dùng đủ loại vũ
khí mới với khối lượng khổng lồ. Những năm 1965 - 1966, đế quốc Mỹ bắt
đầu oanh tạc đường 559 bằng vũ khí đa dạng như bom bi, bom laze, bom từ
trường, cây nhiệt đới, tia hồng ngoại, máy đếm, máy thông tin... Kèm
theo đó là các loại máy bay mà nổi tiếng nhất trong số đó phải kể đến
B52. Ta làm thêm nhiều đường bí mật mới để tăng thêm khối lượng vận
chuyển cho chiến trường miền Nam. Các đơn vị như Cục Quân giới, Viện Kỹ
thuật quân sự, các quân chủng, binh chủng đều phải nghiên cứu về các
loại vũ khí mới của địch.
Các nhà khoa học đã hướng dẫn cho các
đơn vị nhiều biện pháp chống vũ khí, chẳng hạn bom từ trường, cách chống
đơn giản nhất là dùng mảnh sắt buộc vào đầu dây, kéo qua chỗ có bom để
phá. Cây nhiệt đới thì lấy dây buộc các cành lại làm chúng mất tác dụng.
Bom laze thì đốt khói đánh lừa. Với mìn lá thì ta đối phó bằng cách đi
theo những con đường mòn sẵn có, không có cỏ, có thể tránh được mìn. Khi
phát hiện thì gom cành lá cây vun lại thành đống lá để người sau phát
hiện được. Đặc biệt, với máy bay B52- loại pháo đài bay chiến lược của
Mỹ, ta đã nghiên cứu và có những biện pháp đối phó hữu hiệu, như dùng
cao xạ phòng không, cải tiến nâng tầm cao của tên lửa SAM-2...
Nhận
định về những vũ khí, khí tài của Mỹ, Trần Đại Nghĩa cho rằng vũ khí
cho dù có hiện đại đến mấy đi nữa thì vẫn có nhược điểm. Ta cần nghiên
cứu, phát hiện và khoét sâu vào những nhược điểm và đó là biện pháp đối
phó tích cực nhất. Ngày 30/4/1975, miền Nam hoàn toàn được giải phóng.
Ngày lịch sử ấy, ông ghi vào sổ tay: "Nhiệm vụ của Bác giao cho chúng
tôi và tập thể các nhà khoa học Việt Nam là tham gia về mặt vũ khí và
khoa học quân sự trong hai cuộc kháng chiến đã được hoàn thành".
Đưa Phạm Tuân lên vũ trụ
Ngay
sau khi miền Nam được giải phóng, tháng 5/1975 Chính phủ đã quyết định
thành lập Viện Khoa học Việt Nam - Trung tâm nghiên cứu khoa học lớn
nhất cả nước về khoa học tự nhiên và một số ngành kỹ thuật. Viện sĩ Trần
Đại Nghĩa lúc này là Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước
được cử kiêm chức vụ Viện trưởng đầu tiên của Viện khoa học Việt Nam.
Ban
lãnh đạo Viện phải gánh vác trách nhiệm nặng nề, xây dựng nền khoa học
Việt Nam trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, đất nước vừa trải qua hai
cuộc chiến tranh, thiếu thốn đủ mọi đường, từ lực lượng cán bộ khoa học,
cơ sở vật chất, kinh phí... Nhưng Giáo sư Trần Đại Nghĩa vẫn luôn dành
sự quan tâm đặc biệt đến việc bồi dưỡng thế hệ trẻ, đội ngũ nhà khoa học
giỏi.
Năm 1979, có một sự kiện rất đáng nhớ: Viện được giao
nhiệm vụ phối hợp với Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô để thực hiên chương
trình khoa học cho chuyến bay vào vũ trụ của nhà du hành Phạm Tuân vào
giữa năm 1980. Viện sỹ Trần Đại Nghĩa cùng các đồng sự của ông đã có
những chuẩn bị rất tích cực.
Vào lúc 1 giờ 33 phút 03 giây (giờ
Hà Nội) ngày 24/7/1980, tại sân bay vũ trụ Bai-cô-nua (Liên Xô) tàu vũ
trụ Liên hợp 37 do Gorơbatco và Phạm Tuân điều khiển đã phóng lên quỹ
đạo. Tới 3 giờ 2 phút ngày 25/7/1980, tàu đã thực hiện thành công việc
lắp ghép với tổ hợp qũy đạo "Salút 6". Khi bay lên vũ trụ, Pham Tuân
mang theo Quốc huy Việt Nam, Huy hiệu Chủ tịch Hồ Chí Minh, chân dung
hai Tổng Bí thư Đảng cộng sản: Brê-giơ-nép và Lê Duẩn, bản Tuyên ngôn
độc lập của Bác, Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một nắm đất lấy từ
quảng trường Ba Đình, nơi Bác đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà...
Những kỷ vật ấy đều gắn với lịch sử
dân tộc, mang ý nghĩa rất lớn. Chuyến bay lên vũ trụ có ý nghĩa đặc
biệt đối với nhân dân ta. Riêng với Viện khoa học Việt Nam và Viện sĩ
Trần Đại Nghĩa thì ý nghĩa về mặt khoa học và chính trị càng to lớn.
Một tấm gương trí thức sáng ngời
Về
già, giáo sư Trần Đại Nghĩa mới có dịp hồi tưởng lại những gì đã trải
qua trong suốt cuộc đời ông. Ông mồ côi cha từ năm lên bảy. Tuổi thơ bất
hạnh của người con duy nhất trong gia đình tạo cho ông sớm có nếp suy
nghĩ tự lập. Từ trí óc non nớt, ông đã chấp nhận một cuộc sống cô đơn
với đèn sách để mong có ngày đền đáp lại công đức của cha mẹ, người thân
ruột thịt đã từng nuôi dạy giúp đỡ. Chính sự dồn nén, kiên nhẫn quyết
tâm lâu ngày trở thành một tập quán trong sinh hoạt định hình của ông,
đó là suốt ngày cặm cụi đọc tài liệu, ghi chép và suy tư.
Hình
ảnh của Trần Đại Nghĩa lắng đọng sâu đậm nhất trong tâm trí mọi người là
một con người nhân hậu, khiêm tốn, bình dị. Tấm lòng ông rộng mở với
mọi người. Những người từng tiếp xúc với ông luôn thấy ở ông vẻ hiền
lành bình dị rất đáng mến. Dù là một nhà khoa học uyên bác, một GS.VS
nhưng ông luôn khiêm nhường. Ông luôn ca tụng hết lời những nhà khoa học
khác như Tạ Quang Bửu, Tôn Thất Tùng, Lê Văn Thiêm... và nhận phần yếu
kém hơn về mình.
Những ngày cuối cùng, nhà khoa học tuổi già sức
yếu, sống cùng bệnh tật. 16h20 ngày 09 tháng 08 năm 1997, ông đã qua
đời hưởng thọ 85 tuổi. Người ta nói rằng, vẻ mặt ông lúc ra đi rất thanh
thản, ông nhìn người vợ đã tần tảo bên ông suốt mấy chục năm bằng ánh
mắt trìu mến, rồi nhẹ nhàng trút hơi thở cuối cùng. Cuộc đời ông chính
là cuộc đời phù hợp với bức chân dung lý tưởng của người Việt đi du học
để tiếp thu những gì cần thiết cho đất nước rồi trở về hoà mình với nhân
dân trong nước, đem trí tuệ, tài năng, công sức tham gia chiến đấu và
xây dựng Tổ quốc.
« Trả lời #5 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2007, 04:33:28 PM »
Trích dẫn
Chẳng
hạn, máy bay B52 của địch có tầm bay rất cao, ngoài tầm bắn của tên lửa
SAM-2 do Liên Xô viện trợ và có sức oanh tạc ghê gớm. Ta phải phá chống
nhiễu của B52 đối với SAM-2, phải nghiên cứu cải tiến để nâng độ bay
cao của SAM-2. Nếu không cải tiến thì tên lửa này khó lòng tiêu diệt
được mục tiêu. .... Đặc biệt, với máy bay B52- loại pháo đài bay
chiến lược của Mỹ, ta đã nghiên cứu và có những biện pháp đối phó hữu
hiệu, như dùng cao xạ phòng không, cải tiến nâng tầm cao của tên lửa
SAM-2...
Đầu tiên là đạn HEAT không làm hỏng vũ khí, sau lại đến SAM nâng tầm, bó tay hoàn toàn với tay PV viết bài này. Báo
chí sáng tác ra huyền thoại và cũng chính báo chí nuôi dưỡng huyền
thoại, cả QC PKKQ chạy theo đính chính hàng bao nhiêu năm trời mà chả ăn
thua gì.
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Mười Hai, 2007, 04:54:44 PM gửi bởi Tunguska »
Một cuộc họp tại Bộ Tư lệnh Nam bộ, năm 1949 (người mặc sơmi ngắn tay màu sáng là kỹ sư Lê Tâm)
TTCN
- Trong kháng chiến chống Pháp, ở hai đầu đất nước, khi kỹ sư Trần Đại
Nghĩa nghiên cứu, chế tạo thành công bazooka giữa rừng già Bắc Cạn,
Tuyên Quang, thì kỹ sư Lê Tâm nghiên cứu, chế tạo thành công SS trong
rừng sác Bà Rịa - Vũng Tàu.
Hai loại súng ấy đều bắn đạn lõm,
loại đạn có thể nâng độ nóng lên tới 3.000oC, dễ dàng xuyên thủng vỏ xe
tăng, xe bọc thép, tàu thủy như chiếc đũa chọc thủng... cục bơ!
Kỹ sư Lê Tâm năm nay đã 84 tuổi, tóc bạc như tơ.
Ông
tên thật là Nguyễn Hy Hiền, do cụ thân sinh của ông - một bậc đại nho -
đặt cho nhằm gửi gắm niềm mong ước của người cha vào cậu con trai của
mình từ câu danh ngôn thuở trước: Sĩ học hy hiền, hiền hy thánh, thánh
hy thiên. Có nghĩa: kẻ sĩ học với hi vọng trở thành người hiền, người
hiền hi vọng trở thành thánh nhân, còn bậc thánh nhân thì hi vọng đạt
tới mức anh minh, khoan thứ như lồng lộng trời cao!
Ông sinh năm
1921 tại làng Niêm Phò, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế, một
vùng quê đã đi vào thơ Tố Hữu: Như quê bạn, Niêm Phò trơ trụi/ Đạn bom
cày cả nương sắn, đồng khoai...
Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm giáo sư Nguyễn Xiển tại nhà riêng (người đứng giữa là kỹ sư Lê Tâm, con rể GS Nguyễn Xiển)
Thân
phụ của Nguyễn Hy Hiền là cụ phó bảng Nguyễn Văn Mại, nổi tiếng là một
trong “ngũ bá”, tức năm vị túc nho hay chữ nhất nước Nam thời ấy.
Từ
nhỏ, Nguyễn Hy Hiền đã học rất giỏi. Năm 1939, ông đỗ đầu tú tài Tây,
cả ban toán lẫn ban triết ở Huế. Lúc bấy giờ Hội Như Tây du học (một tổ
chức khuyến học của Nam triều) mỗi năm cấp một suất học bổng cho học
sinh nào xuất sắc nhất trong cả ba kỳ Bắc, Trung, Nam. Nguyễn Hy Hiền
được nhận suất học bổng đó.
Ông rời Sài Gòn sang Pháp du học trên một chuyến tàu thủy, lênh đênh hàng tháng trời qua Ân Độ Dương, Hồng Hải, Địa Trung Hải.
Sau khi bổ túc kiến thức tại Trường Saint-Louis, Nguyễn Hy Hiền thi đỗ vào Trường Quốc gia cầu - đường.
Một số loại SS được trưng bày tại Bảo tàng Lực lượng vũ trang Quân khu 7 TP.HCM
Đêm
19-12-1946, chiếc tàu thủy chở kỹ sư Hiền ghé cảng Singapore, đúng vào
lúc trong nước kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Ngày 23-12, tàu cập bến
Sài Gòn. Ông đến ngay nhà bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng, lúc đó đang công khai
giữ chức giám đốc Viện Pasteur, đưa tận tay thư giới thiệu của đồng chí
Phạm Văn Đồng, lúc sang Pháp dự hội nghị Fontainebleau.
Một
tháng sau, nhận được hồi âm từ chiến khu, KS Hiền thay đồ Tây mặc bộ bà
ba đen, lên một chiếc xe thổ mộ lóc cóc chạy về phía Củ Chi. Đến một chỗ
vắng ở vùng ven đô, ông xuống xe, lặng lẽ len lỏi qua đồn bót Pháp, rồi
được một chú bé liên lạc đón, đưa ra chiến khu.
KS Nguyễn Hy
Hiền được giao phụ trách ngành quân giới. Năm 1949, ông là một trong bảy
sĩ quan đầu tiên ở Nam bộ được phong quân hàm đại tá.
- Tôi phải
đổi cả họ tên thành Lê Tâm - ông kể - bởi vì nếu cứ để nguyên họ tên
khai sinh thì sẽ liên lụy đến mấy trăm con người thuộc dòng họ Nguyễn Hy
đang sống trong vùng bị địch tạm chiếm.
Chiến trường Nam bộ
không có nơi nào địa hình hiểm trở để có thể xây dựng thành An toàn khu
(ATK). Các xưởng quân giới phải chuyển chỗ luôn, lúc đóng ở Đồng Tháp
Mười, lúc dọn đến chiến khu Đ, lúc lui về khu rừng ngập mặn Bà Rịa -
Vũng Tàu. Giặc tràn vào rừng, ta chôn máy xuống đất. Giặc rút lui, ta
đào máy lên! Nhưng những xưởng quân giới lớn vẫn được xây dựng, như
xưởng của Bộ Tư lệnh Nam bộ có gần 1.000 người. Lực lượng quân giới Nam
bộ đông tới 8.000 người. Trong rừng sác lầy lội đầy muỗi, vắt, súng cối,
bộc lôi, địa lôi, đạn súng trường, súng lục, cả SS... đã ra đời.
KS
Lê Tâm đã nghĩ tới một loại súng có sức công phá bằng cỗ đại bác nặng
hàng tấn thép, nhưng chỉ nhẹ khoảng 5-10kg, nòng súng làm bằng ống thép
đầu máy xe lửa trông tựa như điếu cày, có thể vác trên vai. Công việc
đầu tiên là phải tự chế tạo được đạn lõm. Khi bị kích nổ, đạn lõm tập
trung năng lượng vào một luồng, đủ tạo ra sức nóng tới 3.000o C, áp suất
hàng trăm átmốtphe, chọc thủng được vỏ thép xe tăng. Đầu viên đạn lõm
to hơn nòng súng, nằm ngoài, chỉ có chuôi đạn nằm trong nòng. Thuốc đẩy
viên đạn bay ra phía trước và cùng lúc đẩy khối lùi (có thể tiện bằng
gỗ) bay lại phía sau, do đó triệt tiêu lực giật. KS Lê Tâm đặt tên cho
loại vũ khí mới này là SS, nghĩa là súng rừng sác.
- Ta chỉ mới đem SS ra chống càn mấy trận Tây đã hoảng hồn, không còn dám hung hăng như trước nữa! - KS Lê Tâm nói.
Năm 1952, KS Lê Tâm được điều động ra Việt Bắc. Ông cuốc bộ một mạch suốt sáu tháng rưỡi, dọc theo dãy Trường Sơn.
Tại
Việt Bắc, ông tham gia chỉ đạo mở đường rộng 8m để có thể tiếp nhận vũ
khí hạng nặng từ Trung Quốc, chuẩn bị cho trận quyết chiến ở vùng lòng
chảo Điện Biên Phủ. Ông được giao phụ trách bạt đèo Tam Canh, một trong
những đoạn đường đèo khó nhất.
Hòa bình trở lại trên nửa nước,
ông về Hà Nội giữ chức phó cục trưởng Cục Kỹ thuật đường sắt, tham gia
chỉ đạo phục hồi nhiều tuyến đường sắt, rồi làm chủ nhiệm khoa xây dựng
Trường đại học Bách khoa, cục trưởng Cục Đo lường, ủy viên Ủy ban Khoa
học và kỹ thuật nhà nước (nay là Bộ Khoa học và công nghệ), tổng biên
tập tạp chí Hoạt Động Khoa Học...
Năm 1996, ông được phong tặng
Giải thưởng Hồ Chí Minh về công trình “Một số vũ khí đặc biệt trong
kháng chiến chống Pháp (1945-1954)” trong đó có vũ khí SS do ông và
những người cộng tác sáng chế trong rừng sác Bà Rịa - Vũng Tàu.
Anh
hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Tường Long - người đã góp phần
cải tiến máy bay IL-14 thành máy bay vận tải - chiến đấu trong chiến
dịch Mậu Thân 1968 - Ảnh: T.HÙNG
TT - Trên thế giới có lẽ chưa
ai lấy máy bay dân dụng đi chiến đấu. Vậy mà những người lính chúng ta
đã “mổ bụng”, “nắn cánh” máy bay vận tải IL-14 để nó mang bom, ống phóng
đạn cối bay vào chiến trường. Đó là một câu chuyện kỳ lạ cách đây 38
năm...
Có một sự kiện chiến tranh ít được biết đến: không quân
nhân dân VN đã từng sử dụng “cầu hàng không” và lính nhảy dù chi viện
cho chiến trường miền Nam trong chiến dịch Tết Mậu Thân 1968.
Nhân
kỷ niệm 59 năm Ngày thương binh liệt sĩ 27-7, Tuổi Trẻ trở lại sự kiện
này - một sự kiện bi hùng của những người lính lặng lẽ, trải dài trong
suốt gần 40 năm qua.
Từ những chiếc máy bay vận tải, để phục vụ
một chiến dịch đặc biệt, chúng đã được bí mật cải tiến thành chiến đấu
cơ. Một câu chuyện tự hào của những người lính.
“Hãy trở về tìm Nguyễn Ái Quốc!”
38
năm sau, trong một ngôi nhà trên đường Nguyễn Thái Bình, Q.1, TP.HCM,
Anh hùng lực lượng vũ trang Nguyễn Tường Long - nguyên tổ trưởng cơ khí
ban kỹ thuật trung đoàn 919, người đóng góp lớn trong sự kiện “cầu hàng
không” - nhớ lại:
“Đó là một chủ trương tuyệt mật, lúc đó có
nhiều người không tin sẽ thành công, nhưng cuối cùng nó đã trở thành
hiện thực, một cách xuất sắc. Khi những chiếc IL-14 đáp xuống sân bay,
chỉ huy trung đoàn mới thở phào: thành công rồi!”.
Anh hùng
Nguyễn Tường Long là một trường hợp khá đặc biệt. Ông sinh ra trên đất
Pháp, học xong ngành kỹ thuật hàng không, cha ông bảo với con trai rằng:
“Hãy trở về VN tìm Nguyễn Ái Quốc mà giúp nước”. Và năm 1944, người
thanh niên 21 tuổi ấy từ giã cha mẹ và em gái trở về Hà Nội để tham gia
cách mạng và mãi mãi không bao giờ còn gặp lại người thân của mình. Đối
với Tường Long và Việt kiều ngày ấy, cái tên Nguyễn Ái Quốc thiêng liêng
đến nhường nào, đủ sức mạnh để động viên ông đi suốt cuộc trường chinh
của đất nước sau đó.
Ngay khi ban kỹ thuật trung đoàn 919 nhận
được lệnh của bộ tư lệnh quân khu về việc phải tìm mọi cách cải tiến kỹ
thuật các loại máy bay vận tải thành chiến đấu cơ, Tường Long tin chắc
đó chỉ có thể là loại máy bay vận tải IL-14 được mang về từ Siberia
(Liên Xô cũ). Ông lập tức sang sân bay Gia Lâm tìm hiểu các tài liệu kỹ
thuật nói về máy bay IL-14 nhưng tìm mãi không được, tình cờ phát hiện
một tài liệu của Đức viết theo sách của Liên Xô nói về chiếc IL-14 dùng
chở khách.
Ông và đồng nghiệp trong ban kỹ thuật bàn bạc nghiên
cứu để lắp thêm hai giá treo bom dưới thân và cánh máy bay để có thể
treo được bốn quả bom loại 100kg hoặc hai quả bom loại 250kg. Chưa hết,
đã là chiến đấu cơ cần phải có hỏa lực mạnh, ông và đồng sự lại tiếp tục
“mổ bụng” chiếc IL-14 lắp được 27 ống phóng đạn cối. Các ghế ngồi ở
khoang hành khách được tháo tung ra để tận dụng hai gờ chạy dọc sàn máy
bay, gắn thêm được 50 ống chứa 50 quả đạn cối 120mm. Mỗi lần muốn thả
đạn cối, người ta rút chốt hãm, kéo dây cáp làm cho khung chứa đạn bị
trọng tâm hất đạn cối rớt ra ngoài.
Công việc cải tiến được tiến
hành hết sức bí mật, nhiều chuyên gia không tin sẽ thành công, nhiều ý
kiến còn cho rằng “treo bom tùm lum trên máy bay vận tải có khi vừa cất
cánh bom rớt xuống thì khốn”. Người quan tâm nhiều nhất đến việc này là
ông Nguyễn Văn Bang, phi công học từ Trung Quốc trở về.
Ông nói
với Nguyễn Tường Long: “Đó cũng là ý kiến để anh em mình quyết tâm thử,
cùng thử, có chết thì cùng chết, không gì phải sợ!”. Ngày ấy chiến tranh
ác liệt nên những chiếc máy bay IL-14 phải đưa về gửi ở sân bay Tường
Vân (Trung Quốc), anh em phải sang đưa ba chiếc về Gia Lâm phục vụ cho
việc cải tiến thành máy bay vận tải - ném bom.
Điều chưa có trong lịch sử hàng không
Từ
trái sang: tổ bay Hoàng Ngọc Trung, Nguyễn Văn Kính, Nguyễn Văn Sửu,
Nguyễn Bỉnh Sen, Trần Trung Quý... trước giờ xuất phát - Ảnh tư liệu Rồi
những chiến đấu cơ kỳ lạ cũng cất cánh thử nghiệm, phi công Nguyễn Văn
Bang trực tiếp thử nghiệm chuyến bay đầu tiên. Chiếc máy bay vận tải
IL-14 bay lên không trung với bom, đạn cối mang đầy dưới cánh và trong
khoang, đảo vòng quanh với nhiều tư thế bay và đáp xuống sân bay an toàn
tuyệt đối. Ông Tường Long cho biết:
“Trong lịch sử hàng không
thế giới, có lẽ chưa ai dùng máy bay dân dụng làm máy bay chiến đấu cả.
Tôi đã căn cứ trên số ghế ngồi và trọng tải máy bay để tính toán lắp bom
cho đủ trọng lượng. Theo nguyên tắc kỹ thuật, người ta tính toán nếu
bay với vận tốc 240km/g, sức cản trong 1cm2 là 40km, nhưng tôi và anh
Bang kiểm tra thử khi bay thử nghiệm, sức cản thực tế nhỏ hơn như thế
nhiều.
Vậy là cứ lắp bom đạn vào và mang ra sân bay thử rồi rút
kinh nghiệm từng chuyến. Tất cả phải thực hành và kiểm tra trên máy bay,
bởi dưới mặt đất không chịu sức cản ngược gió, phải bay và đánh dấu vào
tay ga để sau đó điều chỉnh từ từ”. Một cải tiến được hình thành trong
sự hợp tác chặt chẽ giữa kỹ thuật và phi công, và thành công tuyệt đối.
Đó
là những ngày mà tướng Phan Khắc Hy, nguyên chính ủy Bộ Tư lệnh không
quân (thuộc quân chủng phòng không - không quân), không thể nào quên
trong ký ức của mình: ngày 27 Tết Mậu Thân (26-1-1968), ông Phan Khắc Hy
và phó tư lệnh quân chủng đặc trách không quân, thượng tá Nguyễn Văn
Tiên, mang theo mật lệnh của phó tổng tham mưu trưởng quân đội nhân dân
VN Phùng Thế Tài, vượt cầu phao sông Hồng giữa ban ngày xuống thẳng sở
chỉ huy trung đoàn 919 để phổ biến nhiệm vụ tuyệt mật: “Thả dù tiếp tế
bộ binh và tấn công một số mục tiêu mặt đất ở phía nam vĩ tuyến 17!”.
Ngay
sáng hôm sau, đoàn phó Phan Huyễn chỉ huy một lực lượng đặc biệt gồm 60
cán bộ chiến sĩ vào Quảng Bình lập sở chỉ huy không quân phối thuộc chỉ
huy mặt trận. Sau đó hai tổ tham mưu, liên lạc không đón giao thừa,
chuẩn bị một hành trang gọn nhẹ để theo chân hai cán bộ chỉ huy là Lê
Quỳ và Hồ Bạch Đào tách khỏi đoàn đi sâu vào Nam, áp sát địa bàn chiến
đấu. Còn ở đoàn bộ, ngày 28 tết, đoàn không quân Hồng Hà, mật danh trung
đoàn 919, đã sẵn sàng chiến đấu cao. Đại đội máy bay IL-14 của thượng
úy Nguyễn Văn Bang là đơn vị được giao nhiệm vụ đặc biệt này.
Đêm
30 rạng mồng 1 tết, miền Nam tổng tiến công. Sáng mồng 1, sở chỉ huy
thông báo khẩn: sẵn sàng chi viện miền Nam. Nhưng mồng 1, mồng 2... trôi
qua vẫn chưa có lệnh xuất phát. Không khí đợi chờ căng thẳng. Thượng úy
Bang và đồng đội hằng ngày tập trung quanh chiếc radio nghe thông tin
mặt trận. Đối phương phản công. Rồi lệnh xuất kích cũng được ban hành.
NGUYỄN VĂN TIẾN HÙNG
« Sửa lần cuối: 27 Tháng Mười Hai, 2007, 11:44:44 AM gửi bởi Tunguska »
« Trả lời #8 vào lúc: 27 Tháng Mười Hai, 2007, 11:44:02 AM »
Cánh chim đầu đàn ngành kỹ thuật toàn quân
Trung
tướng Trương Khánh Châu, nguyên là Phó tư lệnh Quân chủng Không quân,
nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Giám đốc Trung tâm Khoa học kỹ
thuật-Công nghệ quân sự Bộ Quốc phòng là một người gắn bó với ngành kỹ
thuật hơn năm mươi năm. Ông đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học
và sáng kiến cải tiến kỹ thuật, trong đó có những sáng kiến có giá trị
trong phục vụ chiến đấu thắng lợi. Nhân dịp kỷ niệm 60 năm quân đội, tôi
có dịp gặp Trung tướng, nghe ông kể lại những bước đường trong quân ngũ
của ông.
Trung
tướng Trương Khánh Châu (bên trái) đang trao đổi kinh nghiệm kỹ thuật
hàng không với Đại tá Phương Minh Hòa, Phó tư lệnh Quân chủng Phòng
không-Không quân.
Lòng ham mê định hướng cuộc đời
Khi nói chuyện với tôi, Trung tướng Trương Khánh Châu khẳng định: Lòng ham mê kỹ thuật đã định hướng đúng cho cuộc đời tôi.
Trung
tướng Trương Khánh Châu tên thật là Trương Minh Trinh, sinh năm 1935,
tại làng Khánh Hòa, xã Châu Phú, huyện Châu Đốc, tỉnh An Giang. Cha của
ông là Trương Minh Vẽn, làm thợ điện ở nhà máy đèn. Ảnh hưởng của người
cha, ông đã có lòng ham mê học kỹ thuật từ nhỏ. Ông tham gia cách mạng
từ tháng 11-1949 với nhiệm vụ làm Thư ký văn phòng Tỉnh đoàn thanh niên
cứu quốc Long Châu Hà. Tháng 5-1950, ông tham gia chiến đấu ở bộ đội địa
phương, sau đó chuyển về công tác ở tỉnh đội Hà Tiên. Cuối năm 1951,
Trường Lục quân 2 Trần Quốc Tuấn tổ chức chiêu sinh. Ông Tám Lăng là
Chính trị viên Tỉnh đội, thấy ông là người ham học nên gọi lên:
- Anh thấy em sáng dạ, lại chăm chỉ cần cù. Đợt chiêu sinh này các anh định cử em đi học, em chịu không?
Như người khác thì chắc vui mừng lắm, nhưng ông Châu lại suy nghĩ khác:
- Thôi, em không đi học chỉ huy đâu, em ở lại chiến đấu với các anh.
Ông Tám Lăng khuyên bảo:
- Cuộc chiến đấu còn lâu dài, em nên đi học. Tổ quốc rất cần những người chỉ huy qua trường lớp như em.
Nhưng
ông Châu vẫn lắc đầu quầy quậy. Thế là ông Tám bực mình: “Tùy em!”, rồi
ông cử người khác đi. Vài tháng sau, có cuộc chiêu sinh cho Trường kỹ
thuật Nam Bộ, ông Châu lên năn nỉ ông Tám Lăng cho đi học. Ông Tám trợn
mắt:
- Cho em đi học chỉ huy thì không đi, mà lại đòi đi học làm
thợ? Thôi để lúc nào trường Trần Quốc Tuấn chiêu sinh lại, anh cho em đi
học. Được không?
Ông Châu kiên quyết xin đi học trường kỹ thuật.
Ông gặp cả Tỉnh đội trưởng Ba Kiềm để trình bày. Thế là ông được đi học
Trường kỹ thuật Nam Bộ. Ra trường, ông trở thành thợ nguội binh công
xưởng 141 miền Tây Nam Bộ. Lúc mới về xưởng, ông được giao một đống súng
hỏng trong kho, cái thì gẫy báng, cái thì hỏng cò... Ông đã hì hục kiếm
gỗ về cưa bào làm báng súng, đánh quét vé-ni như mới vậy. Có khẩu súng
trường mất ổ nạp đạn, ông nhìn theo mẫu khẩu tốt, tự rèn, tiện lại ổ nạp
mới, thế là ta lại có khẩu súng tốt. Có lần, tiểu đoàn 307 do ông
Nguyễn Văn Tiên chỉ huy (sau này là Phó tư lệnh Quân chủng Phòng
không-Không quân), chuẩn bị đi đánh đồn giặc, nhưng không may khẩu súng
đại liên 13,2mm bị hỏng, không bắn được liên thanh. Ông suy nghĩ, muốn
bắn liên thanh được, viên này ra viên kia phải lên được nòng, như vậy
phải có nguồn hơi. Từ suy nghĩ ấy, ông phát hiện chốt đóng mở hơi là một
thanh sắt hình bị mòn, ông phải rèn lại chốt khác. Từ 3 giờ chiều ông
hì hục làm đến 5 giờ sáng thì thành công việc khôi phục bắn liên thanh
cho khẩu đại liên.
Tháng 3-1955, tập kết ra Bắc, ông được làm thợ
đặc thiết sân bay Gia Lâm. Hồi còn trong rừng, ông Châu hay lấy kèn ra
thổi, cũng được dăm ba bài. Ai dè có anh bạn thân chơi nhạc cho Đoàn văn
công Tổng cục Chính trị giới thiệu ông. Thế là các anh trong đoàn văn
công sang Gia Lâm gặp ông, đề nghị về đoàn văn công. Ông phải từ chối
mãi, vì lúc này ông đang mong muốn được đi học ngành kỹ thuật hàng
không. Trong tâm trí ông lúc đó chỉ ước mơ trở thành người thợ bậc cao
để phục vụ cho Tổ quốc. Chính lòng đam mê kỹ thuật đã không làm ông trở
thành người chỉ huy hay nhạc công mà trở thành một nhà khoa học cống
hiến nhiều công trình cho đất nước.
Những sáng kiến phục vụ chiến đấu và huấn luyện
Ngay
từ khi còn làm thợ đặc thiết sân bay Gia Lâm, ông đã có sáng kiến cải
tiến hệ thống phanh cho máy bay AN.2. Từ việc chỉ một phi công sử dụng
phanh, ông cải tiến để hai phi công có thể cùng phanh được. Sáng kiến
này phục vụ cho công tác huấn luyện phi công. Cục trưởng Không quân lúc
ấy là ông Đặng Tính, đã hỏi ông:
- Cậu dựa vào đâu mà tính toán để cải tiến được?
Ông chỉ biết cười trừ:
- Báo cáo thủ trưởng, tôi chẳng biết tính toán gì, mà chủ yếu làm theo kinh nghiệm và sự nhạy cảm thôi.
Thấy
vậy, ông Đặng Tính tạo điều kiện cho ông Châu đi học Đại học hàng không
Ki-ép ở Liên Xô. Sau đó ông được sang Trung Quốc thực tập kỹ thuật hàng
không.
Trở về nước trong tình hình cuộc chiến tranh phá hoại
bằng không quân của đế quốc Mỹ ra miền Bắc hết sức ác liệt, ông được Tư
lệnh Binh chủng Không quân Đào Đình Luyện giao nhiệm vụ nghiên cứu làm
sao để MiG-17 hạ cánh trên bãi cát khoảng 500m chiều dài. Ý đồ của cấp
trên là muốn sử dụng máy bay MiG.17 đi đánh tàu khu trục Mỹ ở Quảng
Bình, yêu cầu đường băng hạ cánh của MiG-17 khoảng 1.500m, mà xung quanh
khu vực đó ta không có sân bay nào đáp ứng được yêu cầu này. Thế là ông
Trương Khánh Châu đã nghiên cứu lắp dù đuôi cho MiG-17. Khi MiG-17 có
dù đuôi, chỉ cần một bãi cát ven biển có chiều dài khoảng 500m là có thể
hạ cánh được. Sáng kiến này đã tạo điều kiện cho hai phi công Nguyễn
Văn Bẩy và Lê Xuân Dị đánh bom vào tàu khu trục Mỹ ở ngoài khơi Quảng
Bình.
Tư lệnh Binh chủng Đào Đình Luyện lại giao nhiệm vụ cho ông
cải tiến máy bay IL-28 trinh sát chụp ảnh sang thành máy bay ném bom.
Ông đã cùng anh em kỹ thuật nghiên cứu đưa các thiết bị chụp ảnh xuống
để lắp bom lên máy bay. Việc cải tiến thành công đã tạo điều kiện cho
máy bay ta sang Nam Lào ném bom cháy kho xăng vài triệu tấn của Mỹ, làm
địch không có nhiên liệu đi đánh phá miền Bắc Việt Nam.
Thời kỳ
này, Mỹ đánh phá sân bay ta rất ác liệt, những chiếc MiG là mục tiêu của
không quân chúng. Việc di chuyển máy bay đi sơ tán rất nan giải, vì
xung quanh sân bay không có đường kéo đi xa được. Ông Châu đã nghĩ ra
phương án làm giàn để cẩu máy bay MiG bằng trực thăng Mi-6. Với phương
pháp dùng các ống thép đút vào các chốt bánh, sau đó dùng dây cáp nối
lên để trực thăng cẩu máy bay. Những tính toán chính xác, không để máy
bay quay ngang, phương án của ông đã được không quân ta sử dụng để sơ
tán máy bay khỏi sân bay và khi cần lại đưa về chiến đấu. Có những lúc
kẻ địch tưởng ta đã bị tiêu diệt hết máy bay, nào ngờ khi chúng nghênh
ngang vào đánh phá thì những con én bạc lại bất thần xuất hiện, giáng
cho chúng những đòn đích đáng. Việc cất giấu máy bay bằng đường không
này đã góp phần tránh được tiêu hao sinh lực cho không quân trong những
năm chiến tranh.
Có lần Tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân Lê Văn Tri gọi ông lên giao nhiệm vụ:
-
Hiện nay C-130 của địch đánh rất rát trên tuyến đường vận tải của ta,
cậu thử nghiên cứu xem cải tiến máy bay nào đuổi được C-130 không?
Ông
Châu về suy nghĩ. Các máy bay MiG của ta bay không được xa, yêu cầu về
đường băng khó khăn, chỉ có cải tiến máy bay L.39, là loại máy bay huấn
luyện, bay được khá lâu trên không thì rất phù hợp với nhiệm vụ này. Thế
là ông lại cùng anh em kỹ thuật lấy giá rốc két của máy bay MiG.19 lắp
sang máy bay L.39, mỗi bên cánh lắp được 2 quả. 4 chiếc máy bay L.39
được đưa vào sân bay Đồng Hới, từ đó, máy bay cất cánh và đuổi máy bay
C.130 dọc Trường Sơn.
Từ cuối năm 1966 đến năm 1972, ông đã làm
nhiệm vụ kiểm tra mức độ hư hỏng, phân cấp hướng dẫn và trực tiếp sửa
chữa máy bay. Ông đã cùng tổ kỹ thuật sửa chữa được 221 lần chiếc máy
bay, trong đó có nhiều chiếc hỏng nặng. Ông cũng biên soạn nhiều tài
liệu có giá trị như: Quy trình sửa chữa vỏ bọc MiG.17; Đo thăng bằng
MiG.15; MiG.17, MiG.19; Nguyên lý bay siêu âm, chế tạo máy bay... Đồng
thời ông cũng mở nhiều lớp kỹ thuật để giảng dạy cho anh em. Ngày
31-3-1973, ông Trương Khánh Châu đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu
Anh hùng LLVT nhân dân.
Góp sức xây dựng ngành kỹ thuật toàn quân
Từ
kỹ sư ngành hàng không, ông đã phấn đấu học tập không ngừng và trở
thành tiến sĩ khoa học kỹ thuật. Ngày 4-3-1978, khi ông đang là Trưởng
phòng nghiên cứu Cục Kỹ thuật Quân chủng Không quân, Quân ủy Trung ương
phê duyệt dự án: “Xây dựng cơ sở thiết kế chế thử máy bay cánh quạt loại
nhỏ”. Ông được cử làm Chủ nhiệm dự án, còn phó tiến sĩ Nguyễn Văn Hải
và kỹ sư Cao Văn Bình làm Phó chủ nhiệm dự án. Nhóm nghiên cứu gồm 13
người, làm việc liên tục không mệt mỏi, trong điều kiện cơ sở vật chất
lúc ấy hết sức nghèo nàn. Sau hơn hai năm thiết kế chế tạo, ngày
25-9-1980, chiếc máy bay Việt Nam chế tạo đầu tiên mang tên TL.1 rời
đường băng cất cánh lên bầu trời quê hương. Với 102 phút trên không, 13
lần cất hạ cánh, máy bay TL.1 đã chứng tỏ khả năng của những nhà thiết
kế ngành hàng không Việt Nam. Máy bay TL.1 có tốc độ 265km/giờ, độ cao
tối đa 4.500m, trọng lượng 1.100kg, có thể chở người. Tổng bí thư Lê
Duẩn và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Văn Tiến Dũng đã xuống xem bay thử và
khen ngợi. Lúc này, ông Trương Khánh Châu đã được bổ nhiệm Phó Tư lệnh,
kiêm Chủ nhiệm Kỹ thuật, kiêm Viện trưởng Viện kỹ thuật Quân chủng Không
quân. Sau đó ông còn tham gia chế thử hai chiếc máy bay nữa là HL.1 và
HL.2. Trong những năm cuối thập kỷ 1980, tình hình kinh tế nước ta có
nhiều khó khăn, nên việc chế thử máy bay phải tạm dừng lại.
Tháng
9-1990, ông Trương Khánh Châu được điều về làm Phó Chủ nhiệm thứ nhất,
sau đó là Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật Bộ Quốc phòng. Tháng 11-1996,
Trung tướng Trương Khánh Châu đảm nhiệm trọng trách Thứ trưởng Bộ Quốc
phòng và năm 2000 kiêm thêm Giám đốc Trung tâm khoa học kỹ thuật-công
nghệ quân sự Bộ Quốc phòng. Ông là một trong những người đề xướng phong
trào “Quản lý, khai thác vũ khí trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn,
tiết kiệm và an toàn giao thông” trong toàn quân. Ông đã tham gia nhiều
ủy ban chỉ đạo của quân đội và Nhà nước về khoa học kỹ thuật như công
nghệ thông tin, vệ tinh địa tĩnh... Hiện nay, Trung tướng không còn đảm
nhiệm chức vụ Thứ trưởng nữa, nhưng ông vẫn dồn tâm trí tham gia một số
dự án Bộ Quốc phòng. Ông được phong Viện sĩ chính thức Viện hàn lâm các
khoa học tự nhiên Nga năm 2000 và Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Hàng
không Nga năm 2002.
Niềm đam mê kỹ thuật và sự phấn đấu không
ngừng cho khoa học đã là động lực cho Trung tướng Trương Khánh Châu trở
thành một trong những cánh chim đầu đàn kỹ thuật của toàn quân.
ĐOÀN HOÀI TRUNG.
----------------------------- Ngưỡng
mộ nhất bác này, từ một kỹ sư bình thường trở thành trung tướng, phó tư
lệnh PKKQ, thứ trưởng QP, giám đốc TT KHKT-CNQS, AH LLVTND....
MIỀN TÂY HOANG DẠI Ước gì một lần về thuở ấy miến Tây Sống lầy lội những tháng ngày hoang dại Súng cặp kè hông, nhong nhong lưng ngựa Phóng khoáng thảo nguyên, đạn nổ ì đùng Ta sẽ về, rủ em gái theo cùng Đem tình yêu vào vòng đấu súng Và ngã xuống trong một lần anh dũng Để mai này định nghĩa lại...thằng khùng! Đã khùng rồi thì xá chi anh hùng Của một thời tìm vàng sôi động Người người xô bồ tìm giàu sang cuộc sống Để lại điêu tàn, bắn giết mênh mông! Ta ước thế nghe có rùng rợn không? Trần Hạnh Thu NHẠC HUYỀN THOẠI CAO BỒI VIỄN TÂY
(ĐC sưu tầm trên NET) Bản tin 113 online cập nhật ngày 2/5: Truy tố 254 bị can bị trong đại án sai phạm lĩnh vực đăng kiểm 🔴 TRỰC TIẾP: Thời sự quốc tế 3/5 | Nga tuyên bố khai hỏa Iskander, hủy diệt hai pháo HIMARS Ukraine Tin tức thời sự mới nhất hôm nay | Bản tin sáng ngày 5-3-2024 MỘT CÕI ĐI VỀ (Sáng Tác: Trịnh Công Sơn) - KHÁNH LY OFFICIAL Miễn nhiệm chức vụ Chủ tịch Quốc hội đối với ông Vương Đình Huệ 9 giờ trước Khoảnh khắc tên lửa Nga công kích pháo HIMARS Ukraine 12 giờ trước Mong muốn Campuchia chia sẻ thông tin về Dự án kênh đào Funan Techo 10 giờ trước Gần 50 người chết trong vụ sập đường cao tốc ở Trung Quốc 10 giờ trước Lý do xuất khẩu của Trung Quốc sang Nga bất ngờ sụt giảm 8 giờ trước Ukraine nói Nga sản xuất tên lửa Zircon 'nhanh bất thường' 6 giờ trước Hàng chục nghìn người Gruzia tiến hành biểu tình lớn nhất từ trước tới nay 16 giờ trước Video 'rừng người' xem phương tiện chiến đấu bị Nga tịch thu ở chiến trường Ukraine 16 giờ trước U23 In...
I Only Want to Be with You - Dusty Springfield (Cover by Emily Linge) VẪN THẾ MÀ! Anh vẫn thế, trước sau vẫn thế mà Nhìn anh này, đừng nhìn phía trời xa Vẫn ngày ngày ra ngóng chờ trước của Đợi Nàng Thơ về tác hợp thi ca Tâm hồn anh có cửa đâu mà khóa Mà phải cùng em mở cánh cửa tâm hồn Anh tìm mãi nào thấy đâu ô cửa Toang hoác tứ bề, thông thống càn khôn* Còn trái tim anh vẫn êm đềm, yên ả Vẫn yêu quê hương, tổ quốc, con người Miền nhiệt đới khi thấy tim băng giá Chắc chắn là anh đã ngoẻo tự lâu rồi! Trần Hạnh Thu CT: * Trời đất
Nhận xét
Đăng nhận xét