CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ 63/a (Samurai)
(ĐC sưu tầm trên NET)

Chân dung lãnh chúa Asano

Chân dung tham quan Kira - khởi nguồn của tấn bi kịch

Vụ tấn công Kira của Asano ngay trong thành Edo

Bia đá tưởng niệm nơi diễn ra vụ tấn công

Oishi Kuranosuke - chỉ huy nhóm 47 lãng nhân

Cuộc tấn công diễn ra vào một đêm nhiều tuyết và vô cùng ác liệt

Kết quả, phần thắng thuộc về các lãng nhân

Nhóm lãng nhân được người dân vô cùng yêu quý, nể phục

Mộ của lãnh chúa quá cố Asano tại Tuyền Nhạc Tự

Mộ của 47 lãng nhân tại Tuyền Nhạc Tự
·
Văn hóa vẫy tay
·
Nhật Bản chỉ có một dân tộc và cũng chỉ có một dòng họ làm vua (Yamato) từ thiên hoàng đầu tiên là Jimmu lên ngôi năm 660 trước công nguyên đến thiên hoàng ngày nay là đời thứ 125, vua Akihito lên ngôi năm 1989.
·
Cúi chào
·
Lòng dũng cảm gan dạ của các samurai
·
Vô gia cư
Chiến binh Samurai và thời kỳ huy hoàng*Phần 1
Người Nhật có nhiều nghi lễ khác biệt với các quốc gia khác, nhiều nghi
lễ của họ vượt quá sức tưởng tượng của con người. Có thể nói ở Nhật Bản
có một thế giới trái ngược với Châu Âu. Đối với những người phương Tây
đầu tiên đặt chân đến Nhật Bản, đất nước này là một thế giới bí ẩn. Khi
người Bồ Đào Nha đến nhật năm 1543, họ chứng kiến một đất nước đang chìm
trong nội chiến. Trong giai đoạn hỗn loạn ấy, một chiến binh samurai
xuất chúng đã xuất hiện. Lập nên một đế chế vững mạnh, kéo dài hơn 250
năm. Đây là những ký ức về một đế chế huyền bí của Nhật Bản.
Huyền thoại về 47 Samurai trả thù và tự tử tập thể
Lòng trung thành, sự dũng cảm của 47 Samurai đã thể hiện niềm tự hào tinh thần võ sĩ đạo của dân tộc Nhật Bản.
Samurai là niềm tự hào của cả dân tộc
Nhật Bản. Tài năng, sự dũng cảm và lòng trung thành của họ là điều không
phải bàn cãi. Dưới đây là một trong nhiều câu chuyện hay nhất nói về
những phẩm chất ấy của họ - câu chuyện về 47 lãng nhân, một huyền thoại
quốc gia của xứ sở hoa anh đào…
Khởi nguồn của tấn bi kịch
Câu chuyện khởi nguồn vào năm 1701 tại
Nhật Bản dưới sự cai quản về hình thức của Thiên hoàng ở Kyoto nhưng
thực quyền thuộc về đại tướng quân (Shogun) Tokugawa Tsunayoshi tại Edo.
Để tỏ ý kính trọng Thiên hoàng, Tokugawa
hàng năm dâng tặng cống vật tới Kyoto vào dịp năm mới, đổi lại Thiên
hoàng cho khâm sai tới Edo. Năm đó, nhiệm vụ đón tiếp khâm sai được đại
tướng quân giao cho hai thân tín trẻ là Naganori Asano, chúa tỉnh Harima
và thành Ako cùng với Munehare Date, chúa tỉnh Sendai.
Chân dung lãnh chúa Asano
Cái chết “oan” của vị lãnh chúa trẻ
Bước ngoặt câu chuyện tới khi Tokugawa
cử Yoshinaka Kira - một vị quan lớn tuổi tới để trợ giúp hai lãnh chúa
trẻ về lễ nghi đón tiếp. Thế nhưng Yoshinaka Kira lại là một tham quan
kiêu ngạo, đòi hỏi cả Asano và Date phải hối lộ cho ông ta những món quà
giá trị.
Vì họ không đáp ứng, Kira tỏ ra khó
chịu, thường xuyên lăng mạ và sỉ nhục cả hai. Date là người nổi giận
trước, suýt nữa đã định giết chết Kira. May sao, quân sư đã khuyên can
ông. Date sau đó đã hối lộ cho Kira một khoản cực lớn để ông ta đối xử
với mình tử tế.
Chân dung tham quan Kira - khởi nguồn của tấn bi kịch
Ngược lại, Asano không hề làm giống như
người bạn mình. Là một người cực kỳ trọng đạo đức, ông không chấp nhận
được hành động hối lộ mà Kira yêu cầu. Hệ quả là Kira xúc phạm Asano rất
nhiều lần, thậm chí còn gọi ông là “đồ con lợn”.
Asano chịu đựng điều này được trong 2
tháng. Cuối cùng, ngày 14/3 năm ấy, tại thành Edo, Asano đã dùng dao găm
tấn công Kira, nhưng chỉ làm ông ta bị thương ở mặt.
Vụ tấn công Kira của Asano ngay trong thành Edo
Vào thời kỳ đó, hành động của Asano bị
khép vào trọng tội: tấn công quan của đại tướng quân ngay ở thành Edo.
Asano buộc phải thực hiện nghi lễ tự sát Seppuku, bị tịch thu tài sản,
gia tộc bị truất quyền thừa kế và 321 Samurai dưới trướng ông trở thành
“lãng nhân” (Ronin - Samurai mất chủ, con người trôi dạt). Trong khi đó,
tham quan Kira vẫn nhởn nhơ, không bị xử tội gì.
Bia đá tưởng niệm nơi diễn ra vụ tấn công
Kế hoạch báo thù và tâm nguyện được hoàn thành
Những người thân tín, nhất là các
Samurai vô cùng bất bình vì cái chết oan của chủ nhân mình. 321 Samurai
trở thành Ronin (lãng nhân) nhưng có 60 người còn lại kiên quyết chống
lại, lên một kế hoạch trả thù cho chủ nhân của mình. Người đứng đầu kế
hoạch là Oishi Kuranosuke - nguyên trưởng quân sư của Asano quá cố.
Oishi Kuranosuke - chỉ huy nhóm 47 lãng nhân
Để tránh khỏi sự nghi ngờ của Kira và
vây cánh đồng minh, những lãng nhân này chia nhau ra, giả làm các thương
nhân, nhà sư, thậm chí là kẻ nghiện ngập để chờ thời cơ trả thù cho chủ
tướng Asano năm xưa.
Sau hai năm, thời cơ đã tới với các lãng
nhân. Trong số 60 người, Oishi Kuranosuke chỉ cho phép 46 người cùng
với mình tấn công vào dinh thự của Kira. Đêm ngày 14/12/1702, 47 lãng
nhân đột nhập vào nhà riêng của viên tham quan.
Cuộc tấn công diễn ra vào một đêm nhiều tuyết và vô cùng ác liệt
Trong vòng 1,5 giờ đồng hồ, 47 lãng nhân
đã đánh bại 61 vệ sĩ của Kira mà không hề bị thương một vết nhỏ nào. Họ
bắt được Kira khi đang trốn trong một ngôi nhà phụ.
Kết quả, phần thắng thuộc về các lãng nhân
Nhóm lãng nhân yêu cầu Kira thực hiện
nghi lễ Seppuku nhưng ông ta không chịu. Kết quả là y bị các lãng nhân
chặt đầu, mang tới mộ của Asano để tế lễ. Trên đường đi, một lãng nhân
được lệnh phái tới Ako báo tin kế hoạch trả thù đã thành công.
Nhóm lãng nhân được người dân vô cùng yêu quý, nể phục
Trong lúc nhóm Samurai "bị mất chủ"
đem thủ cấp của Kira tới bái tế vong hồn lãnh chúa Asano, câu chuyện về
cuộc trả thù của họ nhanh chóng được lan truyền. Người dân ca ngợi họ
vì lòng trung thành, sự dũng cảm và tinh thần võ sĩ đạo. Thậm chí nhiều
người còn mời nhóm lãng nhân nghỉ ngơi, uống nước trước khi tiếp tục
hành trình.
Và cái chết thương tâm…
Khi tới Tuyền Nhạc Tự - nơi chôn cất
lãnh chúa Asano, Oishi Kuranosuke tắm rửa sạch sẽ cho thủ cấp của Kira,
sau đó bái tế chủ soái cũ. Hành động của nhóm 47 lãng nhân tới tai
Tokugawa.
Ông cũng cảm phục hành động của họ nên
không biết phải xử trí ra sao. Cuối cùng, sau 47 ngày suy nghĩ, cân
nhắc, ông ban cho họ lệnh tự xử và miễn tội cho lãng nhân trẻ nhất
Terasaka Kichiemon - người đưa tin tới Ako.
Mộ của lãnh chúa quá cố Asano tại Tuyền Nhạc Tự
Sau cùng, 46 lãng nhân còn lại tự chia
thành 4 nhóm nhỏ, tất cả đồng loạt tự sát tại Tuyền Nhạc Tự, bên cạnh
bia mộ của chủ soái Asano. Sau đó, họ được chôn cất bên cạnh người chủ
cũ của mình. Về phần Terasaka, ông sống tới khoảng năm 1747 và sau khi
chết, cũng được đem tới chôn cạnh các chiến hữu năm xưa.
Mộ của 47 lãng nhân tại Tuyền Nhạc Tự
Từ đó, huyền thoại về 47 lãng nhân kết
thúc và trở thành một trong những câu chuyện nổi tiếng thể hiện niềm tự
hào tinh thần võ sĩ đạo của dân tộc Nhật Bản.
Những câu chuyện nhỏ về nền văn hóa Samurai - Du học Nhật Bản
Những nét văn hóa đẹp và đầy lòng tự tôn cũng như khiến cả thế giới
ngưỡng mộ cũng một phần là bản chất thiêng liêng nhất của những võ sĩ
Samurai được lưu truyền trước kia. Hôm nay các bạn hãy cùng Thanh Giang Conincon tìm hiểu những điều rất thú vị này nhé.
Văn hóa vẫy tay
Chuyện
vẫy tay, ở Nhật có hẳn biểu tượng mèo vẫy tay rất nổi tiếng. Đó là chú
Maneki Neko. Nếu tay phải nó vẫy là phú quý tìm về, tay trái nó vẫy là
lộc tài đang tới. Người bình dân vẫy tay kiểu gì cũng xong nhưng thiên
hoàng lại khác. Ngài chỉ vẫy tay một kiểu, thẳng ra trước mặt, không
vung xa cũng không vung gần, không lệch trái cũng không lệch phải.
Nhật Bản chỉ có một dân tộc và cũng chỉ có một dòng họ làm vua (Yamato) từ thiên hoàng đầu tiên là Jimmu lên ngôi năm 660 trước công nguyên đến thiên hoàng ngày nay là đời thứ 125, vua Akihito lên ngôi năm 1989.
Sở
dĩ không có cảnh tranh ngôi, soán vị, máu chảy đầu rơi, chu di tam tứ
ngũ lục thất bát cửu tộc như ở nhiều quốc gia bị ảnh hưởng Nho giáo khác
bởi vua Nhật không nắm thực quyền mà ngay từ đầu quyền đã do các lãnh
chúa nắm.
Vua
gần như được coi như một vị thần nhưng thiên hoàng Akihito ngày nay nổi
tiếng là gần gũi với dân chúng cũng như có tầm ảnh hưởng lớn đến bang
giao quốc tế. Chính ông hoàng này đã vài ba lần công khai xin lỗi các
nước Châu Á về tội ác của phát xít Nhật gây ra trong chiến tranh thế
giới thứ hai mà bắt đầu là xin lỗi Trung Quốc vào năm 1989.
Cúi chào
Hết
vẫy tay lại đến văn hóa cúi chào. Có rất nhiều kiểu cúi đầu chào ở
Nhật. Chào thường ngày nghiêng 15 độ, chào cảm ơn nghiêng 30 độ, chào
xin lỗi mong người khác tha thứ cho mình nghiêng 60 độ, chào xin lỗi khi
người ta chưa tha thứ cho mình nghiêng 90 độ.
Mức
độ cao nhất là không cúi nữa mà quỳ xuống khi ngay cả bản thân mình
cũng cảm thấy có lỗi, cũng bứt rứt không thể tha thứ được cho chính
mình. Xưa kia, rất có thể sau quỳ gối sẽ là màn lấy kiếm rạch bụng tự
sát kiểu samurai. Xuất thân từ đội vệ sĩ cực kỳ trung thành của tầng lớp
quý tộc Nhật xưa, ngày nay samurai đã trở thành một tinh thần vô cùng
đặc biệt.
Lòng dũng cảm gan dạ của các samurai
Những
phi công lái máy bay cảm tử trong thế chiến thứ hai sau khi uống ly
rượu thiên hoàng trao, họ đổ xăng đi mà không đổ xăng về, nhìn thấy tàu
địch là đâm nhào xuống, nổ tung cho chết trùm, chết lượt. Đó là những
samurai thời hiện đại.
Chiến
binh samurai nổi tiếng nhất trong lịch sử có lẽ phải kể đến người lính
Onoda khi cố thủ trong rừng rậm ở đảo Lubang của Philippines gần 30 năm
sau khi chiến tranh kết thúc. Năm 1944, ông tới Lubang để lãnh đạo một
nhóm nhỏ binh sĩ hoạt động độc lập theo đường lối chiến tranh du kích.
Kể
từ năm 1945, họ rút sâu vào rừng, sống bằng dừa, chuối và săn bắn. Ba
đồng đội của ông, một ra hàng, hai bị giết chết trong các cuộc đấu súng
với lính Philippines, còn người chỉ huy vẫn kiên định lập trường chiến
tranh du kích.
Onoda không chấp nhận sự thật là thiên hoàng đã đầu hàng. Ông xé nát
những tờ truyền đơn. Ông bịt tai không nghe tiếng loa phóng thanh phát
ra từ các máy bay trực thăng đang vè vè trên đầu, ra rả kêu gọi mình ra
khỏi rừng vì hòa bình đã lâu.
Tình
cờ được phát hiện bởi một sinh viên người Nhật đi du lịch, mãi đến năm
1974 sau khi đích thân người chỉ huy cũ tới nơi ra lệnh, Onoda trong bộ
quần áo rách nát mới buông súng, rời khỏi rừng rậm.
Chính
vị chỉ huy này năm xưa từng ra lệnh cho ông rằng: “Anh không được phép
tự tử. Dù bất kỳ điều gì xảy ra, dù sau ba năm hay năm năm, đơn vị sẽ
quay lại với các anh. Cho đến lúc đó, dù chỉ còn một người lính, anh
cũng phải lãnh đạo anh ta chiến đấu”.
Khi
hạ vũ khí, Onoda đã bàn giao cho cấp trên một khẩu súng trường, 500
viên đạn, vài quả lựu đạn. Buổi lễ trở nên vô cùng đặc biệt khi có sự
tham gia của đích thân tổng thống Philippines. Tổng thống đã ra lệnh ân
xá cho Onoda trước những hành động bắn, giết chống lại quân lính nước
này trong suốt ba thập kỷ.
Vô gia cư
Ở
Nhật có thể dễ dàng bắt gặp cảnh một người đàn ông ngày nào cũng mặc
complet, thắt cà vạt, cắp ca táp chào vợ, chào con để đi làm mỗi sáng.
Đùng một cái ti vi đưa tin anh ta tự tử. Thì ra người đàn ông khốn khổ
đã thất nghiệp mấy tháng nay nhưng không dám hé môi nửa lời với vợ con
mà vẫn giả vờ như công việc đang suôn sẻ để bí mật đi tìm việc mới.
Khi không thể tìm nổi việc làm, quẫn trí anh ta tìm một cái lầu cao để nhảy xuống hoặc tìm một nơi vắng vẻ mà thắt cổ.
Nhà
cửa, ô tô, tiện nghi sinh hoạt đắt tiền ở Nhật hầu hết đều mua kiểu trả
góp cộng thêm cuối tháng ngân hàng gửi về ùn ùn hàng chục hóa đơn đủ
loại phí dịch vụ. Tất cả đều trông chờ vào tiền lương để trả.
Người
đàn ông thất nghiệp cầm chắc trong tay là mất nhà, mất xe, mất luôn
nguồn sống cho cả gia đình. Nước Nhật có tỷ lệ tự tử cao vào hạng nhất
thế giới với trung bình khoảng 30.000 ca mỗi năm. Cứ 100 người chết ở xứ
này có từ 2- 3 người chết bởi tự tử.
Những
người bình tĩnh hơn, khi thất nghiệp không tự tử mà sẽ bỏ nhà…đi bụi.
Trong các công viên, vỉa hè thậm chí trước vườn tùng rất đẹp ở hoàng
cung Tokyo hoa lệ, tôi thấy la liệt người vô gia cư đứng, ngồi, nằm, co,
duỗi trên các ghế đá, bãi cỏ.
Dựng
những túp lều nho nhỏ làm nơi sinh sống. Dựng những chiếc xe đạp cũ kỹ
làm phương tiện di chuyển. Không ít trong số đó đã từng quyền cao, chức
trọng nên thất nghiệp không dám về quê.
Họ
tắm ở nhà vệ sinh công cộng, lấy nước nóng ở trong các quán ăn, lấy cơm
từ các siêu thị sau mỗi buổi chiều (ở các siêu thị Nhật cứ sau mỗi buổi
chiều, các thức ăn cận đát sẽ được hạ giá đến quá nửa thậm chí bỏ không
dù có thể còn ăn tốt).
Vô gia cư nhưng không thèm ngửa tay ăn xin, thậm chí có người còn xấu hổ mà cự tuyệt luôn cả nguồn trợ cấp của chính phủ.
Vô
gia cư mà vẫn rất sạch sẽ, tối tối vẫn thắp đèn đọc sách, viết facebook
bằng tiếng Anh rồi post lên mạng. Những ngày đông xứ đại hàn, tuyết rơi
phủ trắng công viên, ghế đá, nhiệt độ âm có khi mươi, mười lăm độ.
Lúc
này các nhân viên xã hội trở nên tất bật nhất. Họ phải đến gặp từng
người vô gia cư mà năn nỉ, thậm chí quỳ xuống mà tỉ tê sao cho những con
người rất tự trọng kia chịu vào nhà quy tập, có lò sưởi, có chăn ấm kẻo
chết cóng ngoài trời. Tinh thần samurai của họ nhiều khi đến tận những
hơi thở cuối cùng.
Samurai: Những điều có thể bạn chưa biết
Samurai được nhiều người biết đến như những kiếm sĩ huyền thoại của Nhật Bản trong các bộ phim võ thuật. Samurai đóng một vai trò hết sức quan trọng trong lịch sử Nhật Bản 1.500 năm qua. Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu giá trị tinh thần của các chiến binh samurai, vũ khí và trang bị cũng như lịch sử của họ như thế nào.
Samurai được nhiều người biết đến như những kiếm
sĩ huyền thoại của Nhật Bản trong các bộ phim võ thuật. Samurai đóng một
vai trò hết sức quan trọng trong lịch sử Nhật Bản 1.500 năm qua. Nhiều
người coi lịch sử của Nhật bản cũng chính là lịch sử của chiến binh
samurai. Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu giá trị tinh thần của
các chiến binh samurai, vũ khí và trang bị cũng như lịch sử của họ như
thế nào.
Vậy Samurai là gì?
Samurai
đảm trách nhiều vai trò ở nhật bản. Tuy nhiên, họ được biết đến nhiều
nhất trong vai trò của chiến binh. Nhưng những gì làm cho một samurai
khác với các chiến binh khác trên thế giới?
Có 4 yếu tố để làm nên một samurai
Samurai là một chiến binh được đào tạo và có kĩ năng chiến đấu tốt.
Samurai phục vụ daimyo (lãnh chúa) hay chủ tướng, với lòng trung thành tuyệt đối, thậm chí cho đến chết. Trong tiếng nhật samurai từ có nghĩa là, "những người phục vụ."
Samurai là tầng lớp ưu tú, được coi là ở đẳng cấp cao hơn công dân thường và binh lính thông thường.
Cuộc sống của samurai tuân theo tinh thần Bushido (võ sĩ đạo), một hệ thống luân lý đề cao sự danh dự.
Khổ luyện vì cuộc sống và chiến tranh
Qúa trình
đào tạo một chiến binh samurai phụ thuộc vào sự giàu có của gia đình anh
ta. Trong gia đình có đẳng cấp thấp, người con trai học tập tại các
ngôi trường trong làng, và họ được đào tạo để trở thành một samurai từ
cha, anh trai, hoặc chú bác. Đào tạo võ thuật được coi là rất quan
trọng, và thường bắt đầu khi đứa trẻ lên năm. Con trai của gia đình giàu
có hơn thì được gửi đến học viện đặc biệt, để thu nhận kiến thức văn
học, nghệ thuật, và kĩ năng chiến đấu.
Chúng ta đã quá quen thuộc với hình ảnh samurai
là một bậc thầy sử dụng thanh kiếm katana với các kỹ năng chết người.
Tuy nhiên, samurai khi xuất hiện trong vài thế kỷ đầu tiên, còn được gọi
là chiến binh cưỡi ngựa bắn cung. Bắn cung trong khi cưỡi ngựa là kĩ
năng phức tạp, và làm chủ nó đòi hỏi nhiều năm luyện tập trên cả mục
tiêu cố định cũng như mục tiêu di động. Trong một thời gian, chó được sử
dụng như là mục tiêu chuyển động để luyện tập, cho đến khi các shogun
bãi bỏ phương pháp luyện tập tàn bạo này.
Các samurai còn phải luyện tập kiếm thuật không
ngừng nghỉ. Có một câu chuyện kể về một vị sư phụ đã tấn công các học
trò với một thanh kiếm bằng gỗ vào những thời điểm ngẫu nhiên trong suốt
cả ngày và đêm, cho đến khi các sinh viên học được cách không bao giờ
đánh mất cảnh giác.
Ngoài kỹ năng chiến binh, samurai cũng được đào
tạo trong các lĩnh vực khác, chẳng hạn như văn học và lịch sử. Trong
thời Tokugawa, thời kì hòa bình, vì vậy các kiến thức học tập đặc biệt
hữu ích. Tuy nhiên, một số sư phụ đào tạo samurai cảnh báo học trò của
họ không nên tập trung quá nhiều vào văn chương và nghệ thuật, vì sợ tâm
trí của họ sẽ trở nên yếu kém.
Áo giáp
Các
Samurai nổi bật với áo giáp và mũ giáp đặc trưng. Trong thời kì đầu
samurai sử dụng áo giáp dạng phẳng, nhưng sau là giáp tấm. Giáp tấm
(lamellar) là loại giáp được làm bằng cách kết các miếng kim loại thành
các đĩa nhỏ rồi phủ sơn mài lên để chống thấm nước. Cuối cùng những tấm
nhỏ này được kết lại bằng dây da thuộc, tấm này hơi chồng lên tấm kia.
Ban đầu có hai loại giáp dạng này:
• Yoroi: áo giáp trang bị cho các kị binh samurai, rất nặng với mũ sắt và bảo vệ vai.
• Do-Maru trang bị cho lính bộ binh nên có trọng lượng nhẹ hơn.
Về sau, khi giao chiến chủ yếu là giáp lá cà thì
giáp do-maru được samurai sử dụng nhiều hơn. Các nhà sản xuất vũ khí đã
cải tiến bộ giáp do-maru gồm có mũ giáp, bảo vệ vai và ống chân.
Mũ giáp hay Kabuto trong tiếng nhật, được làm
bằng cách gắn các tấm kim loại với nhau. Kabuto được thiết kế rất cầu
kì, các mối ghép được tán đinh theo hình rặng núi. Các samurai đẳng cấp
cao còn gắn cả biểu tượng gia tộc và các vật trang trí cầu kì khác lên
mũ giáp của họ. Một số kabuto còn bao gồm mặt nạ kim loại mang gương mặt
ma quỷ, với râu ria làm từ lông bờm ngựa. Trong thời bình, kabuto phát
triển rất phức tạp, và ngày nay được coi là tác phẩm nghệ thuật ở Nhật
Bản.
Vũ khí
Thứ vũ khí
nổi tiếng nhất của samurai là katana. Samurai luôn sử dụng tanaka cùng
với một thanh kiếm ngắn hơn được gọi là wakizashi tạo thành bộ kiếm
daisho.
Những thợ rèn tạo ra katana được coi là những thợ
làm kiếm giỏi nhất trong lịch sử. Một trong những vấn đề lớn nhất trong
việc làm ra một thanh kiếm chính là giữ cho kiếm phải thật sắc.Các thợ
rèn Nhật Bản đã giải quyết được vấn đề này bằng cách đúc kiếm nhiều lớp
bằng được cách pha trộn thép mềm với thép cứng để làm lưỡi kiếm, vẫn sắc
bén mà lại ít bị mẻ. Thanh kiếm sắc đến nỗi có thể cắt đôi một người
thành 2 nửa chỉ với một nhát kiếm.
Bên cạnh Kiếm và cung nỏ, Samurai còn sử dụng vũ
khí tên là naginata, một thanh mác dài gồm lưỡi dao dài 0.6 đến 1.2 mét
gắn trên trục gỗ dài 1.2 đến 1.5 mét. Chính vì vậy mà naginata là vũ khí
phòng ngự vô cùng hiệu qủa của người Nhật.
Vào thế khỉ 16, khi các thương nhân châu Âu đến
Nhật Bản lần đầu tiên, người Nhật đã trả một khoản tiền lớn để mua súng,
nhanh chóng nắm vững các kỹ thuật rèn cần thiết để sản xuất hàng loạt
các loại vũ khí. Từ đó sung đã gây ra ảnh hưởng lớn đến chiến tranh trên
đất nước Nhật Bản, các lãnh chúa có thể củng cố quân đội bằng cách
trang bị cho binh lính chưa được đào tạo những khẩu súng giá rẻ. Một số
Samurai phải trang bị giáp dày hơn kín hơn như okegawa-do, để chống lại
đạn pháo.
Bushido: biểu tượng danh giá của samurai
Các
Samurai không phải là các chiến binh đánh thuê mà là thuộc hạ của các
lãnh chúa, tuân theo giá trị luân lý được gọi là tư tưởng võ sĩ đạo
(Bushido).
Bushido gồm một số các quy tắc không chính thức
mà các chiến binh samurai phải tuân theo. Tinh thần Bushido đã thay đổi
rất nhiều trong suốt chiều dài lịch sử của Nhật bản và chỉ được viết ra
cho đến tận thể kỉ 17 trong khi các samurai đã xuất hiện trước đó hàng
thế kỉ.
Đức tính đầu tiên của một samurai là phải trung
thành với lãnh chúa của mình. Ở Nhật bản thời phong kiến lãnh chúa nhận
sự cúng nạp từ các chư hầu của mình, đổi lai họ nhận được bảo vệ kinh tế
và quân sự từ các lãnh chúa. Nếu một lãnh chúa nhận được lòng trung
thành tuyệt đối từ các chư hầu của mình, toàn bộ hệ thống phong kiến sẽ
sụp đổ. Vì vậy, trung thành lại mang đến sự cực đoan. Các hiến binh
chiến đấu tới chết để bảo vệ chủ nhân của mình, thậm chí là tự tử nếu họ
cảm hổ thẹn với chủ nhân.
Samurai cũng có nhiệm vụ báo thù. Họ sẽ tìm người
để báo thù nếu danh dự của chủ nhân bị tổn hại hoặc chủ nhân của họ bị
sát hại. Câu chuyện “47 người võ sĩ” là tiêu biểu cho lòng trung thành,
sự hy sinh, chí kiên định và danh dự mà tất cả võ sĩ luôn thể hiện vào
thời bấy giờ. Câu chuyện kể về một nhóm võ sĩ thời kỳ đầu thế kỷ 18 đã
mất chủ tướng sau khi vị chủ tướng đó bị ép buộc phải thực hiện seppuku
(mổ bụng tự sát) vì bị buộc tội đã tấn công lãnh chúa khác. Để trả thù,
họ đã giết viên quan tòa đó sau 2 năm kiên trì xây dựng kế hoạch và chờ
đợi thời cơ. Các võ sĩ sau đó bị bắt và buộc phải thực hiện Seppuku bởi
vì họ đã giết người và tấn công bí mật, điều bị coi là đê tiện.
Samurai và Thiền Tông
Các tôn
giáo bản địa của Nhật Bản là Thần đạo, cho đến khi bị Phật giáo thay thế
trong thế kỷ thứ 5 sau công nguyên. Các samurai tin theo một phái Phật
Giáo gọi là Thiền tông. Thiền là tập trung tư tưởng vào một sự việc hoặc
một ý tưởng duy nhất. Những người theo Thiền tông cho là họ có thể tìm
ra chân lý và sự hiểu biết thông qua tĩnh tâm và chế ngự bản thân. Các
samurai thì cho là Thiền sẽ giúp họ hành động dứt khoát, đặc biệt là
trong chiến đấu, và phát triển thư thái nội tâm.
Seppuku (mổ bụng tự sát)
Danh dự là
thứ quý giá nhất của một samurai. Họ sẽ tử sát nếu thất bại hoặc vi
phạm tinh thần Bushido. Tự sát đã trở thành một nghi thức được gọi là
seppuku trong tiếng nhật hay thô tục hơn là hara-kiri. Seppuku
là cách một samurai khôi phục lại danh dự đối với chủ nhân và gia đình,
và thực hiện nghĩa vụ trung thành khi samurai đó thất bại.
Seppuku được thực hiện như một nghi thức. Samurai
khi được ban cho hình phạt Seppuku (Harakiri) được tắm rửa thật sạch
sẽ, mặc một áo dài màu trắng. Dụng cụ thực hiện nghi thức được đặt trên
một cái đĩa của ông gồm một thanh kiếm ngắn wakizashi hoặc một con dao
tanto được bọc giấy. Samurai sau đó lấy con dao và cắt mở dạ dày của
mình, từ trái sang phải. Một người samurai khác đứng sau sẽ thực
hiện daki-kubi, đó là một nhát chém gần như đứt hẳn đầu của người
Samurai (Vẫn còn 1 dải thịt mỏng gắn đầu với thân thể) sau khi người
samurai đã tự mổ bụng.
Về sau, seppuku càng trở nên nghi thức hơn, trong
một số trường hợp bằng cách sử dụng quạt giấy thay vì dao. Thông
thường, Kaishaku-nin (samurai thứ hai), sẽ thực hiện nhát chém hoàn hảo
theo đúng nghi thức sẽ được thực hiện ngay sau khi thanh dao vừa ngập
vào ổ bụng của người Samurai. Trong thời hiện đại, nghi thức seppuku lại
nổi lên ở Nhật Bản, như 1 cách để để khôi phục lại danh dự khi đối mặt
với thất bại và được sử dụng như một phương tiện thể hiện phản đối.
Lịch sử của samurai
Cho đến
nay các nhà sử học vẫn chưa xác định được ai là samurai đầu tiên. Một số
đề xuất rằng samurai xuất phát là các chiến binh bình thường. Trong thế
kỉ thứ 5, 6, 7 sau công nguyên, đã xảy ra liên tiếp các cuộc chiến
tranh giành ngai vàng giữa ác hoàng tử và gia tộc khi Thiên Hoàng qua
đời. Tuy nhiên, hầu hết các cuộc giao tranh là chống lại người bản địa
trên các hòn đảo của nhật bản mà đế chế Nhật Bản gọi là emishi.
Một số vị hoàng đế Nhật Bản thấy rằng emishi là
các chiến binh giỏi nên sau đó đã tuyển mộ họ để chiến đấu chống lại các
gia tộc khác và các phe phái tôn giáo nổi loạn. Những chiến thuật quân
sự và truyền thống của emishi đã được các binh lính Nhật bản kết hợp lại
và sau đó được các samurai sử dụng.
Địa vị của samurai xuất phát từ sự gia tăng các
gia tộc quyền lực sống xa thủ đô, nắm giữ lãnh địa rộng lớn và lưu
truyền từ thế hệ này snag thế hệ khác trong hàng trăm năm. Những thành
viên trong gia tộc của các vị tướng này sẽ mang địa vị quý tộc.
Những samurai đầu tiên là sự hòa quyện của truyền
thống quân sự của những võ phu thất học với địa vị ưu tú và hình mẫu
các chiến binh kyuba no michi. Theo một số ghi chép, từ “samurai” đầu
tiên xuất hiện trong thế kỷ 12. Trong thời gian dài, các samurai là lực
lượng quân sự chính để chống lại emishi và gia tộc khác.
Trong những năm 1100, hai gia tộc mạnh mẽ phục vụ
Nhật Hoàng: gia tộc Taira và gia tộc Minamoto. Hai gia tộc đã trở thành
đối thủ của nhau, và năm 1192, Minamoto Yoritomo dẫn đầu gia tộc của
mình chiến thắng gia tộc Taira. Nhật Hoàng phong cho Minamoto Yoritomo
chức Shogun - Chinh di đại tướng quân-người đứng đầu của quân đội. Tuy
nhiên, Yoritomo lợi dụng vị thế này để thiết lập sự cai trị, và thiết
lập một chế độ độc tài quân sự được gọi là bakufu hay Mạc phủ. Từ đây,
thay vì làm trướng dưới quyền của các lãnh chúa đất, Samurai trở thành
những người cai trị của Nhật Bản dưới triều đại shogun. Sau khi Yoritomo
qua đời, vợ ông Masa-ko và dòng họ Hojo của bà nắm giữ việc tổ chức Mạc
phủ, duy trì kiểm soát đối với Nhật Bản trong vòng hơn 100 năm.
Năm 1338, gia tộc Ashikaga giành được quyền lực
từ dòng họ Hojo. Chế độ Shogun của Nhà Ashikaga không hùng mất hầu hết
quyền kiểm soát đất nước, gây ra tư tưởng bè phái, giao chiến liên lục
giữa các gia tộc. Trong thời gian này, các lãnh chúa (daimyo) đã xây
dựng thành quách vững chắc để phòng thủ trước các cuộc tấn công.
Thời kỳ chiến tranh này gọi là nội chiến Sengoku,
kéo dài cho đến khi Tokugawa Ieyaso nắm quyền kiểm soát Nhật Bản năm
1603. Tokugawa thi hành một chính sách nghiêm ngặt, cô lập và giữ quyền
kiểm soát của các lãnh chúa (daimyo) bằng cách buộc gia đình của họ sống
ở thủ đô, trong khi các lãnh chúa đang sống trên lãnh địa của họ.
Tokugawa yêu cầu mỗi lãnh chúa qua lại thủ đô ít nhất một lần mỗi năm.
Chính sách này đảm bảo sự kiểm soát các lãnh chúa bởi vì họ phải để vợ
và con làm con tin ở Edo và chi phí các chuyến đi qua lại giữa hai nơi
làm suy yếu quyền lực kinh tế của các lãnh chúa).
Tokugawa cũng ban hành lệnh cấm mang kiếm trừ
samurai. Tất cả thanh kiếm không thuộc sở hữu của samurai bị tịch thu và
nấu chảy để làm tượng. Điều này chứng tỏ samurai là một tầng lớp rất
khác biệt, ở đẳng cấp cao hơn người dân bình thường.Trong suốt thời kì
hòa bình Tokugawa cai trị, samurai hiếm khi tham gia chiến đấu. thời
gian này các samurai đảm trách vai trò khác, hộ tống lãnh chúa của họ
qua lại thủ đô, làm việc như các quan chức ở Mạc phủ, và thu thập cống
nạp từ các lãnh chúa phong kiến.
Kết thúc thời đại samurai
Tokugawa
và con cháu của ông đã cai trị Nhật Bản hòa bình trong hai thế kỷ rưỡi.
Vai trò của các samurai đã giảm dần trong giai đoạn này, nhưng hai yếu
tố dẫn đến kết thúc của samurai: sự đô thị hóa ở Nhật Bản, và kết thúc
của chủ nghĩa cô lập bế quan tỏa cảng.
Khi mà càng nhiều người Nhật Bản di chuyển đến
các thành phố, càng có ít nông dân sản xuất lúa để đáp ứng nhu cầu của
số dân ngày càng tăng. Cuộc sống xa hoa trụy lạc của các Shogun và lãnh
chúa làm yếu đi nền kinh tế Nhật bản. Nhiều người Nhật, bao gồm cả
samurai lớp thấp hơn, ngày càng bất mãn với Mạc phủ vì kinh tế ngày càng
kém đi.
Sau đó, vào năm 1853, một số con tàu Hoa Kì cập
bến vịnh Edo. Trưởng đoàn đã trao một bức thông điệp từ Tổng thống
Millard Fillmore đến Thiên hoàng (tồn tại như bù nhìn, mặc dù các shogun
cai trị đất nước).Tổng thống Fillmore bày tỏ mong muốn mở rộng quan hệ
thương mại với Nhật Bản, các thủy thủ Hoa Kỳ được người Nhật đối xử
tốt, và muốn mở Nhật Bản như là một cổng tiếp tế cho các tàu của Hoa Kì.
Perry giao bức thông điệp, nói với Nhật Bản, ông sẽ trở lại sau một vài
tháng rồi rời đi.
Sau sự kiện đó xảy ra một sự chia rẽ lớn ở Nhật
Bản. Một số muốn từ chối lời đề nghị của Mỹ, duy trì chủ nghĩa biệt lập,
duy trì truyền thống họ. Những người khác, tuy nhiên, nhận ra rằng Nhật
Bản không bao giờ có thể vươn tới các công nghệ của người phương Tây.
Họ đề nghị mở cửa Nhật Bản để tìm hiểu mọi thứ từ nước Mỹ, kết thúc chủ
nghĩa biệt lập và trở thành một cường quốc thế giới. Cuối cùng, Mạc phủ
đã quyết định mở của Nhật Bản bất chấp việc Nhật Hoàng từ chối không
đồng ý với hiệp ước. Một vài nhóm samurai nổi loạn, muốn một Nhật Bản
truyền thống, hỗ trợ Nhật Hoàng và bắt đầu một cuộc nội chiến chống lại
Mạc phủ. Không ngờ họ đã thành công, lật đổ các shogun, kết thúc thời kỳ
Tokugawa và khôi phục lại quyền lực của NHật hoàng. Hạ tầng lớp samurai
mất vị trí lãnh đạo, kiểm soát chính phủ từ phía sau vị hoàng đế mới,
một cậu bé người được gọi là Thiên Hoàng Minh Trị. Sự kiện này được gọi
là Duy Tân Minh Trị.
Sức mạnh của các lãnh chúa đã bị lấy đi khi chính
phủ tịch thu đất đai của họ. Không còn ai trả lương cho các samurai,
chính phủ đã quyết định trả tiền cho họ với trái phiếu dựa theo đẳng
cấp. điều này ảnh hưởng đến cả samurai đẳng cấp cao và thấp tuy có khác
nhau nhưng đều theo cùng một hướng -mỗi tầng lớp hoặc sử dụng trái phiếu
để đầu tư vào đất hoặc kinh doanh, hoặc nhận ra họ không có đủ thu nhập
để tự nuôi mình, đã quay trở lại làm nông dân hoặc công nhân ở các
thành phố. Từ đó, các samurai không còn có vị thế nào nữa ở Nhật Bản.
Cuối cùng, vào năm 1876, Thiên Hoàng cấm samurai
mang kiếm, dẫn đến việc kết thúc thời kì samurai. Mặc dù có một số cuộc
nổi loạn của các samurai ở một số tỉnh, nhưng các samurai cuối cùng cũng
đảm nhiệm vai trò mới trong xã hội Nhật Bản, khi mà Nhật bản chuyển
sang thời đại công nghiệp.
Mặc dù các samurai không còn tồn tại, nhưng tinh
thần của họ về danh dự và kỷ luật vẫn phổ biến trong xã hội Nhật hiện
đại. Từ các phi công cảm tử của Nhật Bản trong Thế chiến II, võ sĩ và
thậm chí cả doanh nhân hiện đại luôn coi Bushido như một kim chỉ nam
trong cuộc sống, hình ảnh samurai tiếp tục ảnh hưởng mạnh mẽ đến nước
Nhật ngày nay.
Tham khảo: Howstuffworks
Nhận xét
Đăng nhận xét