TIẾU LÂM KIM CỔ (TrạngLợn) 110
- Nhận đường liên kết
- X
- Ứng dụng khác
(ĐC sưutầm trên NET)
Cho đến ngày nay, các nhà sử học vẫn khó có thể xác định chính xác và đầy đủ danh tính của Trạng Lợn. Có nguồn cho rằng trạng Lợn là Trạng nguyên Nguyễn Nghiêu Tư , nguồn khác cho rằng ông tên là Dương Đình Chung. Tuy nhiên, tất cả đều thống nhất rằng thời kỳ mà Trạng Lợn sống là đời vua Lê Thánh Tông
Ngoài cái tên rất nổi tiếng trên, Trạng Lợn còn có vài tên khác như Trạng Bói (do có tài đoàn mò mà trúng) hay Trạng Dừa. Cái tên Trạng Dừa này là dựa theo sách Địa dư của Ngô Vi Liên. Ông cho rằng Trạng Lợn được sinh ra tại làng Mạnh Chư, tục gọi là làng Dừa thuộc huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam
Trạng Lợn
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Ngoài cái tên rất nổi tiếng trên, Trạng Lợn còn có vài tên khác như Trạng Bói (do có tài đoàn mò mà trúng) hay Trạng Dừa. Cái tên Trạng Dừa này là dựa theo sách Địa dư của Ngô Vi Liên. Ông cho rằng Trạng Lợn được sinh ra tại làng Mạnh Chư, tục gọi là làng Dừa thuộc huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam
Vai trò trong truyện cười Việt Nam
Cũng như nhiều nhân vật khác như Trạng Quỳnh hay Ba Giai-Tú Xuất, Trạng Lợn xuất hiện như một nhân vật trào phúng, đả kích những thói hư tật xấu của bọn quan lại Ngoài ra, Trạng Lợn còn là một nhân vật khôi hài bởi ngoài những câu chuyện đả kích như nói ở trên còn có những câu chuyện không phải có mục đích đả kích mà chỉ để mua vui, khiến người đọc có thể ngả nghiêng cười. Có thể thấy, Trạng Lợn là một trong những nhân vật nổi tiếng nhất của truyện cười Việt Nam.- Trang này được sửa đổi lần cuối lúc 04:51 ngày 9 tháng 3 năm 2015.
Trạng “Lợn” - Nguyễn Nghiêu Trư
Ông hiệu là Tùng Khê người xã Phù Lương, huyện Võ Giàng, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc.
Tương truyền lúc nhỏ theo
cha làm nghề thịt lợn, lại đẻ vào tháng 10 tức tháng Hợi nên đặt tên là
Nguyễn Văn Trư và thường gọi là cậu Lợn (chữ Hán “Trư” nghĩa là lợn).Ông
bản tính nhanh nhẹn, thông minh, lúc nhỏ có lần cùng bố đi bắt lợn, gặp
kiệu ông Nghè vinh quy, Trư hỏi:- Ông gì thế bố?Người cha đáp:- Ông
Trạng!Trư nói:- Lớn lên con cũng làm ông Trạng!Từ đó đi chơi với trẻ
trong làng, ông đều khoe:- Tao là quan Trạng!Có người khách lỡm:- Trạng
dở hay trạng nguyên?Ông buột miệng:- Khách quen hóa khách lạ!Hai câu ứng
khẩu hợp thành câu đối khá hay.Cạnh làng ông là làng Yên Đinh đất học,
có cụ đồ sang chơi ra cho trạng vế đối, mang đề tài lợn, nghề sinh sống
của nhà này:- Lợn cấn ăn cám tốn (ý là lợn có chửa ăn hết nhiều cám
nhưng Cấn và Tốn là hai quẻ trong bát quái).Trạng đối ngay:- Chó khôn
chớ cắn càn.Câu đối xấc xược làm cụ đồ cay đắng, song vế đối chỉnh quá,
chó khôn đừng cắn bậy, mà Khôn và Càn cũng là hai quẻ trong bát quái. Cụ
đồ khuyên bố mẹ Trư cho Trư đi học.Chính cụ đồ bị ông đối xược ấy dạy
ông năm mới 8 tuổi, ông học rất giỏi, nghe một biết mười, lễ phép,
chuyên cần, bạn học có người gấp rưỡi, gấp đôi tuổi đều thương mến.
Những ngày trời mưa bạn thường cõng ông qua chỗ lội.Khi ở nhà lúc nào
ông cũng chăm lo đèn sách, khi ra ao rửa bèo, ra vườn hái rau, tay vẫn
cầm cái que nhọn vạch xuống đất hoặc vào lá chuối, lá khoai những chữ
khó nhớ.Đến khi “biết chữ”, thầy đồ gửi ông ra học cụ Vũ Mộng Nguyên
người xã Đông Sơn, huyện Tiên Du, đỗ Thái học sinh không làm quan nhà Hồ
về dạy học.Ông là học trò tiêu biểu nhất của cụ Vũ Mộng Nguyên, đỗ
Trạng nguyên khoa Mậu Thìn (1448) niên hiệu Thái Hòa năm thứ 6 đời vua
Lê Nhân Tông.Tương truyền đêm trước ngày thi đình vua Nhân tông nằm mơ
thấy lợn đỗ trạng, vua sai xa giá xem bảng thấy trạng tân khoa là Nguyễn
Văn Trư, dân gian coi yết bảng cứ kháo thành vè “Long đầu lợn-Nguyễn
Văn Trư”, vua liền đổi tên cho Trạng là Nguyễn Nghiêu Tư.Ông làm quan
đến chức An phủ sứ Hàn lâm Trực học sỹ, đi sứ nhà Minh lại phong Lại bộ
thượng thư, về phong Chưởng lục bộ thượng thư.Khi vinh quy bái tổ, dân
làm nghè ở Phù Lương thị (chợ làng Phù Lương), tức làng Giùng, chợ Giùng
để đón, nghè còn đến thời kháng chiến chống Pháp dân vẫn gọi là Nghè
quan Trạng. Khi về hưu vua phong “Thượng quốc công chí sỹ” và vợ được
hàm “nhất phẩm phu nhân”.Năm 1459 Lê Nghi Dân giết vua tiếm vị, sai ông
đi sứ cầu phong, nhà Minh hoạch:- Sao lại dám giết em mà tranh ngôi
vua?Nghiêu Tư trả lời:- Đường Thái tông giết cả anh là Kiên Thành, em là
Nguyên Cát là việc cũ của thiên triều, thì việc nước tôi ngày nay có gì
là lạ?Thấy sứ thần Đại Việt trả lời rất đúng lý nhà Minh đành nhận
phong vương.Khi đoàn sứ thần ta tới ải Nam Quan, viên coi cửa ải nhà
Minh ỷ thế nước lớn, ngạo mạn treo lên cửa quan một chữ thập lớn bằng gỗ
mà không mở cửa đón tiếp.Trạng nói:- ý các người muốn coi người Minh là
“tung hoành vũ trụ”. Đã vậy thì Đại Việt ta đây “bao quát càn khôn”,
sai người bện một cái vòng tròn lớn bằng lụa tết mắc lên đầu chữ thập,
cả chữ thập lọt trong vòng tròn ấy. Viên quan coi ải khiếp phục, mở cửa
quan nghênh tiếp sứ giả.Vào đến Yên Kinh, Trạng vào yết kiến vua
Minh.Nhà vua muốn thử tài sứ giả, ngầm sai trong hoàng cung quán lịch
sự, đề hai chữ Kính Thiên treo ở giữa, bầy đôi sập thất bảo rất cao,
xung quanh đặt nghi vệ sang trọng như chỗ giường ngủ của thiên tử, để
xem Trạng có dám ngồi đó không.Khi sắp yến tiệc họ đưa trạng và phó sứ
dạo thăm cung điện rồi mới đưa đến đấy. Trạng bèn bảo phó sứ cùng ngồi
lên sập thất bảo. Thấy vậy, quan Minh ra hoạch:- Cớ sao sứ thần lại
ngược ngạo, vô lễ đến như vậy? Không trông lên trên kia xem, chỗ này là
chỗ gì?Trạng ta bình thản:- Dám thưa, ngài lấy cớ gì cho sứ thần tôi là
ngạo? Biển đề hai chữ Kính Thiên, chiết tự ra là kính nhị nhân (chữ
thiên là giời, tách ra là hai chữ nhị nhân là hai người) thực hẳn là ý
bản quốc muốn đem cái ngôi này mà hậu đãi sứ thần xa lại. Ngài dạy thế
chúng tôi quyết không chịu. Vả nghe cổ nhân có nói: “Đãi người phương xa
cốt lấy bụng thực”. Tôi nghe Thánh triều lấy thành tín đãi người ngoại
quốc. Thế mà sứ giả nước xa tới lại đem cái bụng trí thuật làm oai. Tôi
sợ người ta nghe tiếng dẫu có lòng thực hướng mộ, cũng sinh nghi mà
không lại nữa.Viên quan nhà Minh thấy trạng nói chẻ hoe như đã rõ gan
một từ trước, vội vàng:- Xin quý ngài xá lỗi. Nghĩ là buổi ban đầu, thử
xem ngài có phải là bậc tài giỏi không thôi. Nhưng quý ngài quả là bậc
thông minh, đã giỏi mà biết trước được như thế còn hề chi?Trong thời
gian ở Trung Quốc ông lập được nhiều công lớn, nhất là việc dạy hoàng tử
học, được vua Minh rất đỗi quý phục phong ông là Lưỡng quốc Trạng
nguyên.Song vì ông sinh ra trong nhà bán thịt lợn, tên là Trư và gọi là
Lợn, đã là lợn thì phải học dốt. Dân mới bịa ra chuyện rằng thày dạy
“Thiên tích thông minh, thánh phù công dụng”, ông đọc ra “thiên tích
thong manh, thánh nằm chỏng gọng”...Thế mà đỗ Trạng nên mọi chuyện gặp
may được bịa ra như bia “hạ mã” ông đọc là “bất yên” thì tự dưng trong
làng có đám cháy, con gái Bùi tướng công tên là Phấn ra vế đối “bát đao
phân mễ phấn” ông không đối được mới chép vào bảo lúc thi đỗ sẽ đối, vào
triều đề thi là “thiên lý trọng kim chung”, ông đem đối vào rồi lại đem
vế ấy về đối ở nhà Bùi tướng công, hay tuyệt vừa đỗ Trạng vừa được vợ,
rồi chuyện cầu mưa, xử kiện, xem bói, đối chữ ở Trung Quốc... thảy đều
gặp những sự may mắn, trùng hợp đến lạ lùng.Nghệ sỹ dân gian nào đó đã
chép thành chuyện Trạng Lợn mà ta thường đọc. Cực đoan hơn nữa, ở Hà Nam
có hẳn sách Trạng Lợn dài 18 hồi theo kiểu chương hồi Tam Quốc chí.
(Kiến Thức) - Có hay không một Trạng Lợn trong lịch sử, hoặc truyện Trạng Lợn được sáng
tác dựa trên hình mẫu nhân vật nào là điều còn ít người biết tới.
Trong một giai thoại khác, vẫn là gia đình ông Lương người họ
Dương ở làng Dừa thuộc tỉnh Hà Nam nhưng lại nêu ra một cốt truyện khác.
Người ta lại kể: có lần ông Lương đi chợ qua 1 cái gò và nghe có tiếng
trẻ con bảo “Thày đi chợ mua quà cho con”. Nhìn quanh không thấy ai cả,
ông Lương tưởng là mình nghe nhầm nhưng đến khi về qua đấy lại có tiếng
nói: “Con đã dặn mà thầy không mua quà cho con”. Ông Lương mới nói rằng:
“Có phải thế thật thì để mai thầy mua cho”.
Rời nhà Bùi tướng công sau khi đã đính ước với tiểu thư Phấn,
Trạng bị lạc đường vào một ngôi miếu hoang. Tại đây, Trạng gặp 1 ông lão
nói cho biết rằng năm nay khoa thi sẽ hoãn và dạy Trạng cách xem bói để
lên kinh kiếm sống đồng thời dặn mùa xuân sang năm ra cổng phía đông
kinh thành ngồi, hễ thấy có ai nhảy từ trên thành xuống thì cõng lấy
chạy đi.
(Còn nữa...)
Có một trạng nguyên tên Trư
Nguyễn Văn Trư sớm nổi danh thông minh. Lúc nhỏ học cụ đồ ở gần
nhà. Đến khi “biết chữ”, thầy đồ gửi ra học cụ Vũ Mộng Nguyên người xã
Đông Sơn, huyện Tiên Du, từng đỗ Thái học sinh triều Hồ nhưng không ra
làm quan mà về dạy học. Năm 1448, Nguyễn Văn Trư đỗ Trạng nguyên khoa
Mậu Thìn (1448) đời vua Lê Nhân Tông. Tương truyền đêm trước ngày thi
đình vua Nhân Tông nằm mơ thấy lợn đỗ trạng, vua sai xa giá xem bảng
thấy trạng tân khoa là Nguyễn Văn Trư dân gian coi yết bảng cứ kháo
thành vè “Long đầu lợn-Nguyễn Văn Trư”. Vua liền đổi tên cho Trạng là
Nguyễn Nghiêu Tư.
Tuy nhiên trong Đại Việt sử ký toàn thư, ở sau phần
chép việc Nguyễn Văn Trư đỗ trạng nguyên, các sử quan đã mở ngoặc nói
thêm một đoạn rằng: “Nghiêu Tư từng thông dâm với mẹ vợ, bấy giờ, có
người ghi vào chuồng lợn là “phường trạng nguyên”, có người hát ở đường
cái rằng: “Trạng nguyên Trư Nguyễn Nghiêu Trư” là chế diễu hành vi xấu
xa đó”.
Ai là hình mẫu thật của Trạng Lợn? (1)
(Kiến Thức) - Có hay không một Trạng Lợn trong lịch sử, hoặc truyện Trạng Lợn được sáng
tác dựa trên hình mẫu nhân vật nào là điều còn ít người biết tới.
Chuyện về Trạng Lợn
trong dân gian có thể nói là phong phú và rất hài hước. Tuy vậy, có hay
không một Trạng Lợn trong lịch sử, hoặc truyện Trạng Lợn được sáng tác
dựa trên hình mẫu nhân vật nào là điều còn ít người biết tới.
Xuất thân khác lạ
Trạng Lợn trong dân gian có xuất thân
đậm nét thần thoại. Người ta bảo Trạng sinh ra ở làng Dừa thuộc tỉnh Hà
Nam. Bố Trạng là ông Lương, làm nghề bán thịt lợn. Do tình cờ, ông Lương
gặp được thày địa lý Tả Ao và đã đối đãi rất tử tế nên Tả Ao muốn đáp
ơn mới chỉ cho một huyệt đất phát Trạng nguyên. Một thời gian sau khi Tả
Ao đặt lại ngôi mộ của thân phụ ông Lương vào huyệt đất đã chọn thì gia
đình ông Lương làm ăn dần thịnh vượng. Gần một năm sau thì vợ ông thụ
thai và sinh ra được một đứa con trai rất thông minh. Đứa trẻ này sau đó
lớn lên trở thành Trạng Lợn.
| Bản sự tích Trạng Lợn trong kho tàng Hán Nôm của thư viện Quốc Gia. |
Rồi từ hôm sau ông cứ đều đặn mua quà
cho đứa trẻ. Quan sát thấy nó nhận quà xong đi đến cái gò đất thì biến
mất, ông cho là thần đồng trong gò hiện ra nhưng để bụng không nói với
ai. Được chừng 3 tháng thì ông bảo đứa trẻ: “Con có muốn ăn quà thì về
nhà thầy chứ ở đây thì thầy chẳng lấy đâu ra mà cho mãi được”. Đứa trẻ
nghĩ một hồi rồi đồng ý. Ông Lương lại hỏi: “Con ở với thầy bao lâu?”,
đứa trẻ đáp: “Thầy cho con bao nhiêu lần quà thì con ở với thầy bằng ấy
năm”. Từ hôm sau ông Lương không gặp đứa bé nữa, nhưng mươi hôm sau nó
lại xuất hiện và theo ông về nhà. Hai người về đến nhà thì vợ ông đang
sắp sinh, nhìn lại thì không thấy đứa bé đâu nữa. Ông Lương đặt tên con
trai là Chung Nhi.
Một chuỗi may mắn bất ngờ
Khi Chung Nhi được 4, 5 tuổi, có hôm
hai cha con gặp một ông Trạng về vinh quy bái tổ, cậu hỏi cha: “Ông kia
là ai mà đội mũ đẹp thế?”, cha bảo: “Đấy là ông Trạng”. Thích chí, Chung
Nhi bảo: “Lớn lên con cũng làm ông Trạng”. Rồi từ đó gặp ai Chung Nhi
cũng tự xưng là Trạng. Dần dần người xung quanh cũng quen và vì nhà làm
nghề thịt lợn nên người ta gọi cậu Trạng Lợn.
Không chỉ dừng lại ở chỗ tự xưng,
Trạng Lợn đã trở thành Trạng nguyên được vua phong hẳn hoi. Dân gian đã
khéo thêm thắt những chuyện ly kỳ để hành trình đạt được ngôi vị Trạng
nguyên của Trạng Lợn rất thú vị. Khi đã thành niên thì cha mất, Trạng
Lợn chỉ chơi bời lêu lổng, bị mẹ mắng thì lại bảo sau này con sẽ làm
quan Trạng cho mẹ xem. Thấy mẹ không tin, Trạng quyết chí xin đi thi.
Khi đi ngang qua trang trại của Bùi tướng công là một vị quan về hưu,
Trạng gặp một cô gái xinh đẹp đứng trong vườn nên lân la ở đấy.
Bùi tướng công đang ngủ mơ thấy có
thần nhân bảo dậy ngay ra cổng đón quan trạng. Tướng công ra thì thấy có
1 anh học trò đang đứng đó thật bèn mời vào nhà chơi. Để thử tài, Bùi
công mới mời Chung Nhi ngâm vịnh. Chẳng nghĩ lâu, chàng đọc luôn 2 bài
thơ mà trên đường đi đã nghe lỏm được của 2 anh chàng cũng lều chõng lên
kinh. Nghe thơ, Bùi công cho là có tài năng mới có lòng muốn nhận làm
rể nhưng Trạng bảo đợi đỗ Trạng nguyên rồi mới tính chuyện gia thất
khiến Bùi công càng khâm phục. Cơm rượu xong xuôi, Trạng được xếp về
phòng ngủ, thấy trên tường có mấy chữ “Bát đao phân mễ phấn”. Trạng chỉ
đọc được chữ Phấn, đoán đấy là tên tiểu thư nên cũng tiện bút viết đại
vào bên cạnh chữ Chung tên mình.
Ngờ đâu đây là câu đối của Phấn tiểu
thư đưa ra, nếu ai đối được thì nàng sẽ ưng làm vợ. Thấy Trạng viết chữ
Chung, tiểu thư nghĩ thành câu “Thiên lý trọng kim chung” đối với câu
“Bát đao phân mễ phấn” rất chỉnh cho nên đã ưng ý Trạng Lợn. Thế là một
chữ viết đại mà lấy được tiểu thư lá ngọc cành vàng của Bùi tướng công.
| Nhờ câu đối này mà Trạng Lợn vừa được vợ đẹp vừa thành Trạng nguyên. |
Y lời ông lão, Trạng lên kinh hành
nghề bói toán, cũng lại may mắn nên lần nào cũng nói linh tinh mà vẫn
trúng. Đến mùa xuân năm sau, Trạng ra cổng thành phía đông ngồi. Một đêm
bỗng thấy có người ngã. Trạng chạy lại cõng thì quân lính đuổi tới
nhưng Trạng đã nhanh chân cõng người kia chạy về trốn ở chùa Thầy. Người
được cứu chính là Lê Thánh Tông sau này. Do Lê Nghi Dân cướp ngôi, giết
hại trung thần nên hoàng tử Lê Tư Thành bị quân lính truy đuổi. Ít lâu
sau Nghi Dân bị phế, triều đình hoàng tử Tư Thành về cung lên ngôi vua.
Để trả ơn cứu mạng, vua sẵn lòng ban
bạc vàng nhưng cho gì Trạng cũng không lấy, chỉ xin vua phong là Trạng
Nguyên. Triều đình can ngăn vì Trạng Nguyên là người phải thi đỗ mới
được còn có công thì thưởng bạc vàng là được. Tuy vậy vua Thánh Tông vẫn
đồng ý phong Trạng. Một hôm nhà Vua về chùa Thầy để lễ tạ và ban cho
các vị sư trụ trì rất nhiều vàng bạc để tu bổ lại chùa. Đến khi sửa đến
gác chuông, nhà vua đọc "Thiên lý trọng kim chung" rồi hỏi bách quan có
ai đối được không. Tất cả đều đứng ngây như phỗng. Nhớ lại câu đối ở nhà
Bùi công, Trạng Lợn đọc ngay “Bát đao phân mễ phấn”. Vua khen hay và
cho là phong Trạng Nguyên cũng không quá bèn ban cho cái biển “Chân
Trạng Nguyên” để về quê vinh quy bái tổ. Thế là 1 câu đối mà vừa được
làm Trạng vừa được vợ.
Sau khi đã được là Trạng nguyên,
truyện về Trạng Lợn vẫn còn nhiều giai thoại khác. Nào là đi sứ sang
Trung Quốc và đối đáp bên ấy, nào là phân biệt đầu gốc đầu ngọn trong
cây gỗ mà sứ giả Trung Quốc mang sang đố… Từ đầu đến cuối truyện Trạng
Lợn đều làm nổi bật lên một nhân vật không biết gì nhưng lần nào cũng
may mắn thành công. Trong khi đó, theo chính sử, ở Bắc Ninh có một người
thi đỗ Trạng Nguyên đàng hoàng và cũng được gọi là Trạng Lợn. Vậy hai
người là một hay khác nhau? Trạng Lợn ở Bắc Ninh và Trạng Lợn ở Hà Nam
liệu có liên quan?
(Còn nữa...)
Ai là hình mẫu thật của Trạng Lợn? (2)
(Kiến Thức) - Nếu
Trạng Lợn trong dân gian danh nổi như cồn, chính sử cũng ghi nhận một “Trạng Lợn” người Bắc Ninh nhưng hình ảnh rất mờ nhạt
trong lịch sử.
-
Có một trạng nguyên tên Trư
Sách Đại Việt sử ký toàn thư,
kỷ vua Lê Nhân Tông chép rằng: “Tháng 8 năm Mậu Thìn, niên hiệu Thái
Hòa thứ 6 (1448), Tổ chức khoa thi để chọn hiền tài. Đến khi thi Đình,
vua thân ra đề văn sách, hỏi về lễ, nhạc, hình, chính. Cho Nguyễn Nghiêu
Tư đỗ Trạng Nguyên, Trịnh Thiết Trường đỗ Bảng Nhãn, Chu Thiêm Uy đỗ
Thám hoa lang”.
Về xuất thân, bài “Trạng “lợn” –
Nguyễn Nghiêu Trư” trên báo Bắc Ninh tháng 3/2007 cho biết: Ông hiệu là
Tùng Khê người xã Phù Lương, huyện Võ Giàng, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc.
Lúc nhỏ theo cha làm nghề thịt lợn, lại đẻ vào tháng 10 tức tháng Hợi
nên đặt tên là Nguyễn Văn Trư và thường gọi là cậu Lợn (chữ Hán “Trư”
nghĩa là lợn).
| Truyện Trạng Lợn được in thành sách rất nhiều, là một trong những truyện nổi tiếng trong kho tàng truyện cười Việt Nam. |
Bài báo cũng cho biết Nguyễn Nghiêu Tư
làm quan đến chức An phủ sứ Hàn lâm Trực học sỹ, sau khi đi sứ nhà Minh
về được phong Chưởng lục bộ thượng thư. Khi vinh quy bái tổ, dân làm
nghè ở Phù Lương thị (chợ làng Phù Lương), tức làng Giùng, chợ Giùng để
đón, nghè còn đến thời kháng chiến chống Pháp dân vẫn gọi là Nghè quan
Trạng.
Tuy là một trạng nguyên song tên tuổi
Nguyễn Nghiêu Tư rất ít được nói đến. Sách Đại Việt sử ký toàn thư – bộ
chính sử của nước ta chỉ nhắc đến ông 2 lần. Lần đầu là năm 1448 khi ông
đỗ Trạng nguyên. Lần thứ 2 chép vào tháng 12 năm 1448, Nguyễn Nghiêu Tư
cùng với tiến sĩ Trịnh Kiêm được phong chức Hàn Lâm trực học sĩ. Lần
sau cũng nhắc đến tên ông là trong phần phụ lục thời Lê Nghi Dân, năm
1459. Trong phần phụ lục này, sử ký chép về Nghiêu Tư như sau: “ Tháng
ấy (tức tháng 10/1459) Nghi Dân sai bọn Lê Cảnh Huy, Nguyễn Như Đỗ,
Hoàng Thanh, Nguyễn Nghiêu Tư sang nhà Minh nộp cống hàng năm và xin bỏ
việc mò ngọc trai”.
Theo diễn biến lịch sử, cuối năm 1459,
Nghi Dân giết Lê Nhân Tông rồi tự lên ngôi Vua nhưng chỉ được 8 tháng
thì bị 2 đại thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt phế truất rồi tôn hoàng tử Tư
Thành lên ngôi vua – tức vua Lê Thánh Tông. Kể từ đó, không thấy sử sách
nhắc đến Nguyễn Nghiêu Tư nữa. Bởi thế nên đến nay, năm sinh năm mất và
những công việc, chức vụ của Nguyễn Nghiêu Tư sau năm 1460 không biết
ra sao.
.
Mối liên quan giữa Trạng thật với trạng giả
Như vậy là tồn tại 2 nhân vật Trạng
Lợn. Một Trạng do dân gian nhào nặn nên còn một là có thật. Vậy hai
trạng này có liên quan gì đến nhau hay không. Nếu lấy bài viết trên báo
Bắc Ninh làm chuẩn cho tiểu sử của Trạng Nguyễn Văn Trư để so sánh với
truyện dân gian thì ta thấy có khá nhiều chỗ giống nhau trong các giai
thoại. Đó là truyện Trạng đối lại câu hỏi “Lợn cấn ăn cám tốn” bằng câu
“Chó khôn chớ cắn càn”. Hay việc Trạng đi sứ sang Tàu, khi đến quan ải,
quan coi ải viết một chữ thập dán ở cổng thành và đóng cửa không cho
đoàn sứ qua. Trạng sai người vẽ một vòng tròn ra ngoài chữ thập khiến
quan coi ải hiểu thành câu đối “Tung hoành vũ trụ” với “Bao quát càn
khôn”… Điều đó cho thấy hai nhân vật này hẳn là phải có mối liên hệ như
cách ông bà ta vẫn nói: “Không có lửa làm sao có khói”.
Phần kết bài báo nói trên, tác giả có
phân tích về mối liên quan giữa trạng thật và trạng của dân gian. Đại ý
là “vì ông sinh ra trong nhà bán thịt lợn, tên là Trư và gọi là Lợn, đã
là lợn thì phải học dốt cho nên dân mới bịa ra mọi chuyện may mắn đến lạ
lùng để khẳng định Trạng Lợn chỉ ăn may mà thành Trạng nguyên”.
| Truyện Trạng Quỳnh Trạng Lợn. |
Từ mấy dòng ngắn ngủi này của sử ký,
ta có thể đặt một giả thiết về mối quan hệ giữa truyện dân gian với nhân
vật thật. Đó là vì Nguyễn Văn Trư từng có hành vi xấu xa mà nay lại đỗ
Trạng nguyên – địa vị đứng đầu sĩ tử thì người dân bất bình. Bởi thế
người ta chế diễu và phủ nhận ông. Hành động viết vào chuồng lợn 3 chữ
“phường trạng nguyên” nhằm mỉa mai ông Trạng cũng như con lợn, không có
cương thường lễ nghĩa (vì đã thông dâm với mẹ vợ).
Dân ta vốn có truyền thống bài xích
rất mạnh, cái gì đã không ưa thì phải đả kích sâu cay cho chết thì thôi.
Từ ghét bỏ về đạo đức, dân gian đi đến chỗ phủ nhận năng lực và không
tin một người như thế mà đỗ Trạng nguyên. Bởi thế, họ đã sáng tác nên
những giai thoại về những may mắn kiểu “mèo mù vớ cá rán” đã đưa Trạng
Lợn thành Trạng nguyên. Tất cả chỉ nhằm một thông điệp rằng Trạng lợn
dốt đặc nhưng ăn may nên đỗ đạt.
- Nhận đường liên kết
- X
- Ứng dụng khác
Nhận xét
Đăng nhận xét