BUỐN ƠI, VỀ ĐẬY VỚI CÔ HỒN! 56
(ĐC sưu tầm trên NET)
1. “Chiến tranh và hoà bình”
Sau đạo lý làm người chúng ta hãy dấn thân vào một thảm hoạ mới nhất của lương tâm, lương tri và đạo đức làm người, đó là chiến tranh.
“Chiến tranh và hoà bình”
cũng là tên gọi của một cuốn tiểu thuyết được xếp hạng trong số chưa
đầy chục cuốn sách lừng danh nhất thế giới. Qua cuốn sách đồ sộ này, đại
văn hào Leo Tolstoi đã dùng thiên tài của mình để diễn tả nỗi trăn trở
nhức nhối của con người trong chiến tranh. Chiến tranh luôn luôn là cơn
đau của nhân loại, song đó là cơn đau thảm khốc. Một nỗi đau tràn bờ
khỏi ý nghĩa của từ đau đớn, bởi đó là nỗi đau chết người, nỗi đau bê
bết máu chảy, nỗi đau cầm tù tâm hồn, nỗi đau phi tang thân phận, hình
hài, tâm linh và tin tức về con người, nỗi đau mẹ mất con, vợ mất chồng,
nỗi đau khắc khoải của lương tri lịch sử và nỗi đau chua xót của một nụ
cười mỉa mai trước tâm thức nhân bản nghịch lý của con người. Chiến
tranh là nỗi đau không biên giới, một nỗi đau vượt khỏi mọi nỗi đau bằng
đôi cánh không hoá kiếp nổi của cái chết còn ghi dấu nặng nề niềm luyến
tiếc nhức nhối và đau xót. Chiến tranh không chỉ là nỗi đau thống khổ
về thân xác, mà còn là nỗi đau của sự xói lở công lý con người. Một kẻ
tội đồ mắc tội giết người sẽ bị xử trảm, trong khi đó những chiến sĩ
càng treo lủng lẳng nhiều đầu lâu của đối phương quanh cổ mình thì càng
được lãnh thưởng nhiều huân chương; và hơn nữa những tướng lĩnh, vua
chúa đẩy hành triệu người vào cuộc chiến tranh đang hoan hỉ hào hùng đầy
khí phách khi bước lên khán đài giăng đèn kết hoa để loan báo về sự
nghiệp tôn vinh ánh sáng nhân bản của con người và tôn vinh thắng lợi
của chiến cuộc đã thánh hoá tâm hồn nhân loại ?!
Chiến
tranh là vậy! Bằng máu, cái cao quí nhất của con người, nó có thể biện
chính cho cuộc chiến tranh vì công lý, lại có thể biện hộ cho trò chơi
giết người vụ lợi. Ngang trái thay cho chiến tranh, bởi lẽ có thể “Được làm vua thua làm giặc. Nhà vua chỉ là tên giặc thắng trận” (Lý Chánh Trung ‘Cách mạng và đạo đức’, tr.88). Chúng ta hãy thử nghe tiếng than của nhà đạo đức Rousseau : “Ôi,
người ơi, người đừng tìm tác giả của tội ác nữa, tác giả là người đấy.
Tội ác người làm hay tội ác người chịu, cả hai đều do người cả” (1)
Quả vậy, con người vừa là thợ săn vừa là con mồi của con người. Bằng chiến tranh con người đã săn đuổi con người đến tận thâm sơn cùng cốc. Con người dùng súng cùng thuốc nổ để săn lùng con người; dùng trại giam nhà tù để giam cầm con người; dùng bộ máy thông tin, cơ quan tâm lý để hành hạ truy bức tâm hồn con người; dùng chất độc hoá học để vấy bẩn hơi thở sống của con người, dùng hàng rào cấm vận để ngăn cản dạ dầy của con người, và cuối cùng triệt để nhất người ta dùng bom nguyên tử như một chiếc nơm tứ phía để chụp xuống “đàn kiến” con người. Chúng ta thử xem chàng thợ săn con người trang bị từ chân đến răng đã săn được bao nhiêu con người trong đại chiến thế giới thứ nhất và thứ hai.
- Chiến tranh thế giới thứ nhất: 33 tay súng quốc gia săn lẫn nhau, kết quả: bắn chết 8 triệu người, bắn bị thương 21 triêụ người khác, tiêu tốn 200 tỉ đô la.
-
Chiến tranh thế giới thứ hai: Hơn ba mươi tay súng kéo theo cả thế giới
vào cuộc săn bắn đồng loại khổng lồ, kết quả theo con số thấp nhất: 28
triệu người chết, con số thủ tiêu không lường hết được vì cho đến nay
chẳng có thợ săn nào thành thật thú nhận mình đã phi tang bao nhiêu con
mồi trong lò sát sinh hay dưới hố chôn tập thể, con số bị thương lên đến
hàng trăm triệu, nhiều đến mức làm nản chí những nhà thống kê, số tiền
tiêu tốn 2000 tỉ đô la, gấp mười lần chiến tranh thế giới thứ nhất (
theo Encyclopedia Compton’s).
Thật là vụ đại thu hoạch những cái xác của lương tri nhân loại.
Tuy nhiên, chiến tranh dù tàn khốc, tàn bạo, phi nhân bản là vậy, nhưng nó vẫn cứ xảy ra mỗi ngày và loài người chẳng thời khắc nào ngừng chuẩn bị cho chiến tranh với phương châm: “Muốn có hoà bình hãy chuẩn bị chiến tranh”. Người ta bỏ mặc dân lành đói khổ thất nghiệp để đổ tiền vào mua những khẩu ca nông ngày càng lớn, những trái bom ngày càng nặng bằng cách nói rằng: đó là vũ khí để bảo vệ cho quyền lợi rách rưới của dân nghèo.
Chúng ta hãy ngắm hai bộ lạc ở gần nhau vừa xung sát. Bộ lạc thua trận thì vật vã đau đớn, khóc lóc tang thương trong cảnh thiêu huỷ tro than và giữa những người thân đã nguội tanh hơi thở của sự sống. Còn bộ lạc thắng trận, họ đem xác những chiến sĩ hy sinh lên đài tưởng niệm tôn vinh những cái xác trong những giọt nước mắt và vòng hoa hoan hỉ. Chiến tranh là vậy. Nó là nỗi cay đắng cho kẻ này, nhưng lại là miếng mồi vinh quang cho kẻ khác. Và chẳng kẻ nào khi bước vào cuộc săn lại không tự nhủ: mình sẽ là thợ săn, còn đối phương của mình sẽ là con mồi.
Song đó là hình ảnh của cuộc chiến tranh mang một ngoại diện hết sức cụ thể và còn ở cấp độ nhận thức phổ quát. Đi sâu hơn nữa, một cuộc chiến tranh nằm trong bản tính gây hấn của con người đã trở nên huyễn hoặc khó nắm bắt, ca ngợi, phê phán hoặc lảng tránh như chính con người vậy. Nếu chiến tranh nằm trong bản tính gây hấn, thì nó có phải là sự ngược chiều của bản tính ái tình như là trạng thái tình cảm Ghét và Yêu của con người hay không? Đây là một vấn nạn nằm sâu trong căn để, nó bắt nguồn từ bản tính của loài người.
Trong Kinh Thánh, khi Chúa Trời nói: “Ta cho các ngươi hoà bình và chiến tranh giống như kỳ gieo cấy và mùa gặt hái”,
thì con người rơi vào câu hỏi đầy hoang mang rằng: không hiểu Chúa có
cổ xuý cho chiến tranh không? Một cách rõ nét và dứt điểm hơn, nhiều
triết gia đã cổ xuý cho chiến tranh bằng cách dè bỉu hoà bình như sau: “Hoà bình chỉ là trang trắng của lịch sử”.
Theo họ thì hoà bình chỉ làm cho người sống hèn nhát trong ôi ươn thụ
động, con người không được đào luyện mình trong ngọn lửa thử vàng, con
người không biết đến dũng khí can trường vượt thắng hoàn cảnh trong thời
khắc trọng đại của lịch sử. Họ cho rằng: “Một nhân loại không còn tranh chấp là một nhân loại ngái ngủ” (Lý Chánh Trung)(2).
Theo quan điểm này thì chiến tranh không được nhìn như những sự kiện
phi nhân bản xấu xa, mà để biện chính cho hành động căng thẳng tột độ
nhắm đến việc đào luyện con người - một con người phải gặt hái những giá
trị chín rũ của mình để gieo trồng một vụ mùa mới đầy sức sống hơn.
Ngoài cơn khát chiến tranh mang nặng yếu tố duy niệm của một số triết
gia, chiến tranh đã bước từ tư tưởng xuống cuộc đời để xung sát tung
hoành mong gặt lấy vinh quang cho ông hoàng bạo lực. Trang Tử nói: “Trộm một cái mốc thì bị giết, cướp một nước thì được gọi là vua”.
Làm vua, hai từ đó nghe như một tham vọng thôi thúc nhất, còn gì sướng bằng được làm vua thiên hạ, với quyền lực trong tay sẽ có rượu ngon, gái đẹp tối ngày cung phụng hầu hạ. Bởi vậy, người ta không chỉ thích làm vua trong nhà, mà còn thích làm vua ở xã, ở tỉnh, ở quốc gia, và còn khát vọng làm vua cả thế giới. Làm vua... làm vua nữa... lúc bấy giờ thì thế giới cũng trở thành quá nhỏ. Chính vì thích làm vua hoàn cầu, Hitler đã lôi kéo dân tộc Đức vào cuộc chiến tranh qui mô toàn cầu bằng cách khích lệ vào khoái cảm sô-vanh đế quốc của họ như: “Chúng ta hãy tàn ác. Nếu cứu được nước Đức, chúng ta phải thực hiện một nghĩa cử cao đẹp nhất thế giới . Chúng ta hãy làm quấy. Nếu cứu được nước Đức, chúng ta đã diệt trừ một việc quấy nhất thế giới. Chúng ta hãy vô luân. Nếu cứu được nước Đức, chúng ta đã mở ra con đường phục hồi đạo lý” (Hitler, Mein Kamf, tr.686).
Hãy
tàn ác! Hãy làm quấy! Hãy vô luân! Khẩu hiệu phi nhân bản đó đã lôi kéo
đánh lừa được cả một dân tộc, một lực lượng quân đội đông đảo hăm hở
kiên gan chiến đấu đến tận giây phút cuối cùng của chiến tranh. Cái gì
có lý do ở đó? Lý do duy nhất cho những lời phách lối đó là mặc cảm biện
hộ chủng tộc của một dân tộc. Vì lợi ích chung của dân tộc ta có quyền
làm tất cả. Còn lợi ích của loài người, giá trị nhân bản thì sao? Điều
đó có ích gì?
Nghe nói trong những ngày cuối cùng của chiến tranh thế giới hai, người ta thu được hằng hà sa số sổ tay của những binh lính Đức trân trọng ghi tên Nietzsche và tư tưởng cổ xuý chiến tranh của ông. Theo cách nhìn của Nietzsche thì chiến tranh được nhắc đến như một phương thuốc chữa trị mặc cảm yếu ớt của một dân tộc, mặc cảm không được làm vua. Nietzsche nói: “Đối với những quốc gia đang trở nên yếu kém và bị khinh thị thì chiến tranh có thể được coi như một liều thuốc, thật vậy, nếu các quốc gia ấy muốn tiếp tục sống còn... Đàn ông phải được huấn luyện cho chiến tranh, đàn bà thì cho sự tiêu khiển của các chiến sĩ, còn ngoài ra tất cả chỉ là điên rồ... Bạn cho rằng chính nghĩa thánh hoá các cuộc chiến tranh? Không! Tôi cho rằng một cuộc chiến tranh tốt thánh hoá bất cứ chính nghĩa nào” (3).
Song ở mức độ nào đó những người lính Đức đã hiểu nhầm đôi chút về Nietzsche, bởi vì họ chỉ nhìn ông ở góc độ biện hộ cho bạo lực chém giết của họ; vả lại Nietzsche cũng đáng để dính mắc vào sự hiểu lầm đó, bởi ông đã bàn đến chiến tranh như một thái độ cực đoan của triết học. Tuy vậy chúng ta không nên dừng ở chỗ kiểm thảo Nietzsche, mà chúng ta hãy vượt tới để nắm bắt cùng đích ý tưởng của ông về chiến tranh. Nietzsche nói: “Vì lợi ích của một chủng loại rất cần thiết để tất cả những hạng yếu đuối , suy nhược, bất thành nhân chết đi”. Ham muốn tối cao của Nietzsche là khát vọng tinh chế con người khỏi suy nhược, yếu đuối và thoái hoá giá trị làm người. Theo cách nhìn của Nietzsche thì một nhân loại không cần Lượng mà chỉ cần Phẩm. Phẩm để xây lên những con người siêu hạng – siêu nhân, và sau đó là những xã hội của những siêu nhân.
Chiến tranh không chỉ là cuộc biện hộ tối hậu cho quyền lợi lãnh thổ, tham vọng quyền lực, hoá giải căn bệnh suy nhược thân xác ươn hèn, mà chiến tranh còn được dùng để biện chính cho giá trị cao cả của linh hồn...
Từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIII, toàn bộ châu Âu cất một đội quân hùng hậu bao gồm từ ông già đến những chú nhi đồng, bảy lần ào ạt tấn công đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ với lý do bảo vệ miền đất Thánh. Lá cờ của đội quân hào hùng hiếu chiến này chẳng lúc nào suy giảm nhuệ khí với hình ảnh thánh giá và hàng chữ “God will it” – “Chúa muốn vậy” bay phần phật trên vó ngựa. Cuộc Thập tự chinh kéo dài 175 năm kể từ 1096 đến 1270 khiến xương chất thành núi, máu chảy thành sông, bao nhiêu vùng đất bình yên bị tàn phá và dẫm nát trong vó ngựa quần thảo của những chiến binh thiện chiến đầy sát khí. Tại sao cuộc chiến tranh kéo dài đến vậy? Bởi vì người ta đã tìm cách nuôi dưỡng linh hồn hiếu chiến bằng cách thổi một luồng khí siêu việt vào những thân xác có nguy cơ suy giảm và rệu rã tinh thần. Chúa muốn vậy! Đó là sự phấn khích của mệnh lệnh Thiên Chúa. Và khi linh hồn đã không chán chiến tranh thì thân xác có bao giờ chán.
Vượt
hơn cả sự biện hộ cho linh hồn, chiến tranh còn được coi như một phương
tiện hoàn hảo của công chính cao cả, một phương tiện tinh chế siêu việt
để đào luyện và hoàn tất con người. Chúng ta hãy xem một đoạn tả cuộc
chiến tranh giành ngôi báu giữa Arjuna và những nam tử Pan-đu anh em của
mình:
“...Tôi ở đây , giữa hai đạo quân...
Tôi rất đau đớn khi nhìn thấy bà con thân thích đang đứng ngoài mặt trận, sẵn sàng chém giết lẫn nhau...”
Tôn giả Krishna:
“Này Arjuna, linh hồn ở bất cứ thể xác của người nào cũng chẳng bao giờ bị huỷ diệt. Vậy nhà ngươi không việc gì phải than tiếc cho những phù sinh.
Đối với một Kshattrya, không có gì đáng khát khao hơn là một cuộc đấu tranh công lý. Những bậc Kshattrya sung sướng đón nhận một cuộc đấu tranh công lý, bởi trong lúc đấu tranh, thình lình họ biết mở những cánh cửa của trời.
Nhưng nếu nhà ngươi không muốn nhận cuộc đấu tranh công lý này, tức là nhà ngươi vứt bỏ bổn phận và danh dự của mình đi trước gió, và như thế nhà ngươi sẽ phạm vào một tội.
Loài người sẽ mãi mãi kể cho nhau sự mất danh dự của nhà ngươi, còn đối với một kẻ biết trọng danh dự thà chết còn hơn.
Vậy nhà ngươi hãy hoàn tất một hành động công lý, - “Hành động bao giờ cũng tốt hơn thụ động”. Nếu nhà ngươi thụ động, thì ngay đến việc lo lắng cho thân xác của nhà ngươi cũng không thể nào thực hiện nổi.
Hãy biết rằng, đức hy sinh do bản ngã giác ngộ mà có, và bản ngã giác ngộ lại đến từ vĩnh cửu, vĩnh cửu truyền vào vạn vật, vậy vật vĩnh cửu luôn nằm trong đức hy sinh” (Kinh Gita, tr.12- 20).
Theo
Kinh Gita thì chiến tranh là hành động, là công lý, là danh dự, là phẩm
chất tối cao, là linh hồn lần về bất tử. Đó là phẩm chất siêu việt của
chiến tranh được nhìn theo con mắt tín điều của huyền thoại hay tôn
giáo. Tuy vậy. chúng ta hãy tham chiếu cái nhìn đầy biện chứng khoa học
của các sử gia cận đại, và nhận thấy nó cũng chẳng kém cạnh gì. Các sử
gia cho rằng cuộc Thập tự chinh tuy thất bại, nhưng phương Đông đã gặt
hái một nhãn quan về phương Tây; còn phương Tây với đạo quân thắng chẳng
ra thắng bại không ra bại đã gặt hái chính mặc cảm suy nhược của mình,
và bởi chính ý thức về mặc cảm đó, họ đã khởi sự xây cất nền móng cho
thời Phục Hưng - một đỉnh tháp chói lọi của lịch sử nhân loại.Đến
đây thì chiến tranh dường như đang mở ra những cánh đồng đầy tiếng ngựa
hý vang, tiếng binh khí loảng xoảng, tiếng hò hét kiêu hùng, và máu có
đổ thì cũng chỉ để tôn vinh cho sự nghiệp chí dũng can trường của con
người? Và con người có muốn vùi quên dĩ vãng hoang tàn của chiến tranh
thế giới thứ nhất và chiến tranh thế giới thứ hai ? Không! Dù thế nào,
dù có đem lại những lợi ích nào đi nữa, chiến tranh vẫn khoét sâu trong
tâm hồn con người một đổ nát tàn phế hơn cả ngoài chiến địa.
Chiến tranh có phải bao giờ cũng mã thượng đâu? Để chiến thắng người ta sẵn sàng tiến hành những thủ đoạn dù là nhơ bẩn nhất, phi nhân nhất, sự tin cậy giữa những con người bị phá đổ, con người còn xấu xa hơn cả những con thú khi vừa dùng sức mạnh, vừa dùng các chiến lược - chiến thuật, thủ pháp, binh pháp tấn công triệt thủ lẫn nhau. Hai quả nguyên tử rơi xuống Hiroshima và Nagasaki, đâu có phải chỉ huỷ diệt trọn vẹn hai thành phố, mà cho đến ngày nay đám khói hình nấm phóng xạ uranium vẫn còn gieo rắc vào giấc ngủ bình yên của nhân loại những cơn ác mộng hoảng loạn đầy sợ hãi. Tại sao người Mỹ đã nhất quyết lẳng hai trái bom nguyên tử xuống đầu người Nhật? Có một lý do chính yếu khiến người Mỹ uất khí chẳng run tay làm điều đó, vì họ phát hiện: mười một nghìn khuôn mặt hoảng loạn tột độ của những tù binh Mỹ trước tín điều nhân bản của con người, khi bị những chiến sĩ Nhật hoàng đem đi thủ tiêu tập thể.
Bản chất của chiến tranh là sức mạnh, mà sức mạnh luôn luôn nhằm vào kẻ yếu để áp chế và tước bóc. Trong chiến tranh thế giới hai, mảnh đất đầu tiên mà Hitler muốn phô diễn sức mạnh của mình là miếng mồi Ba Lan vừa quyến rũ vừa yếu ớt. Chúng ta không thể nào không sửng sốt trước một chứng cứ sờ sờ ra đấy một chứng tích biện giải xác quyết rằng: những kẻ yếu chỉ là miếng mồi – là vật thí thân cho kẻ mạnh. Trong số 13 triệu dân thường bị chết vì bom đạn trong Đại chiến II, thì Ba Lan, một dân số quá nhỏ so với các nước tham chiến đã đóng góp con số thiệt mạng là trên 5 triệu.
Chiến
tranh không chỉ là trò chơi bất công, trò chơi biện hộ cho “công lý của
kẻ mạnh”, mà chiến tranh còn cướp đi cơm ăn áo mặc và làm bần cùng
những tầng lớp dân nghèo vốn đã quá khổ sở. Sau chiến tranh thế giới thứ
nhất, chính phủ Mỹ tuyên bố: Trong ba năm vừa chuẩn bị chiến tranh vừa
tham chiến, nước Mỹ đã tiêu pha số tiền bằng tất cả 124 năm, từ 1791 đến
1914 cộng lại. Thật là một con số khổng lồ. Thật là một mỉa mai nghịch
lý 3 năm bằng 124 năm. Một năm chiến tranh tiêu tốn tiền của bằng 40 năm
xây dựng. Một số chuyên gia chiến tranh tính rằng: một năm chiến tranh
thường ngốn đi số vốn của 27 năm sản xuất và xây dựng.
Cho đến ngày nay, khi con người đã có một tâm thức khá chín muồi nhờ trải qua những biến cố đau thương của lịch sử, thì chiến tranh không còn có cơ hội được biện chính cho sự nghiệp của sức mạnh một cách dễ dàng nữa; ngược lại nó ngày càng trở nên một mặc cảm xấu hổ của lương tri con người về thứ lề luật bạo hành đó, lề luật phi nhân bản và có khuynh hướng hạ cấp nhân phẩm của con người xuống muông thú. Giáo Hoàng Gioan XXIII nói: “Có một niềm tin ngày càng xâm chiếm các tâm trí thời đại ta là những tranh chấp giữa các dân tộc cần được giải quyết không phải bằng vũ lực, nhưng bằng điều đình”.
Xu hướng đối thoại là xu hướng của con người, bởi con người là trí tuệ hơn là bắp thịt. Bởi thế chúng ta hãy hướng về xu thế đối thoại, và muốn vậy trước hết hãy giải phẫu bản chất của chiến tranh.
Chiến tranh trước hết là sự vay trả bằng máu, nghĩa là con người đã đòi nợ máu như đòi nợ tiền, đòi nợ đồ vật. Kẻ bị thiệt hại cho cá nhân, gia tộc và quốc gia bằng sức mạnh thì chăm chăm dùng sức mạnh để trả thù món nợ đó. Bejamin Foudane nói: “Chiến tranh sẽ hoàn tất công trình của hận thù”.
█Song chiến tranh chỉ là màn biểu diễn của sức mạnh, nó là một vở tuồng đã được các diễn viên thi thố cuộc tranh sát tương tàn, nhưng chiến tranh không chỉ bắt đầu từ lúc khai hoả say sưa khát máu của bạo lực, giống như vở tuồng đã được tập dượt trước khi trình diễn, chiến tranh thực sự đã được khởi sự từ những diễn viên thích tuồng bạo lực.
Chiến tranh là gì?
Mô thức của nó là bạo lực, bản chất của nó là bạo lực, và cứu cánh của nó là bắt kẻ khác phải thần phục bằng bạo lực. Thánh Gandhi nói: “Ai tin tưởng vào bạo lực, thì kẻ đó đang chuẩn bị chiến tranh” (Que celui qui croit a la force prepare la guere) (4).
Chiến tranh là sự bất lực của tín phục, của lý lẽ, của trí tuệ con người, và để cướp “cái” mong giành ưu thế với người khác, người ta chiếm cứ sức mạnh để gây áp chế hơn là muốn đối thoại tìm ra công lý. Vả lại, con người luôn bị lòng tham lợi quấy nhiễu và lôi cuốn, bởi vậy nó không muốn sống theo công lý để chia sẻ với người khác một cách công bằng, mà ngược lại nó muốn kiếm lời bằng chính sự thiệt hại của người khác. Muốn vậy phải chiếm lấy sức mạnh, Pascal nói: “Vì không thể bắt mọi người phục tùng lẽ phải, người ta biến lẽ phải thành sự phục tùng sức mạnh” (5).
Chính vì muốn thống lĩnh cai trị thế giới dưới tay mình, Hitler đã cổ động, tuyên truyền, khích lệ, khơi chảy trong dân tộc Đức một tinh thần vũ trang, thích dùng vũ khí, thích bạo lực hòng lấn át và đè bẹp các dân tộc khác bằng sức mạnh. Hitler nói: “Vấn đề là làm thế nào mang lại quyền lực cho người Đức, không phải ở chỗ ta có thể tạo vũ khí thế nào, nhưng ở chỗ làm cách nào gây được tinh thần khiến cho một dân tộc có khả năng mang vũ khí. Một khi có được tinh thần ấy rồi thì một dân tộc có trăm nghìn cách để đi đến vũ trang cần thiết.”
Câu nói thẳng tuột của Hitler “làm thế nào mang lại quyền lực cho người Đức” không chỉ bày tỏ khát vọng quyền lực của dân tộc Đức, mà còn bày tỏ khát vọng của các dân tộc khác, rồi của những cá nhân có một cái tên, và tiếp theo sẽ lôi kéo tuồn tuột dây chuyền lây lan những hành động phản kháng bạo lực để bảo vệ hay tạo dựng quyền lực cho mình. Khi mọi cá nhân, mọi thế lực, mọi quốc gia chỉ thích quyền lực thì trật tự xã hội, công lý chỉ là trật tự của sức mạnh. Lề luật là lề luật sức mạnh, ở đó kẻ có nhiều sức mạnh nhất sẽ đúng nhất, kẻ yếu ớt nhất sẽ xấu nhất. Robes Pierre nói: “Cho đến bây giờ nghệ thuật cai trị chỉ là nghệ thuật của thiểu số đàn áp đa số, và luật pháp chỉ là phương tiện để biến những tội ác đó thành hệ thống” (6).
Khi
có sức mạnh trong tay mới mong lấn át, đàn áp và bóc lột kẻ khác, bắt
kẻ khác phải phục dịch làm tôi tớ cho mình . Bởi thế càng có nhiều quyền
lực thì càng có nhiều người sợ hãi, càng có nhiều người sợ hãi thì càng
có nhiều kẻ nô dịch và hầu hạ. Khi đó thì quyền lực trở thành thứ tài
sản đầu tiên của mọi tài sản, có quyền lực sẽ có tất cả. Được tự do làm
ông chủ, có pháp lý, có nô bộc, có tiền của, có xe hơi nhà lầu, có “lẽ
phải” và mặc sức tung hoành ăn chơi xa xỉ... Song ngược lại, khi quyền
lực được thủ đắc trong tay ai, được dùng để ức hiếp, áp chế, bóc lột kẻ
khác thì càng ngày nó càng làm cho xã hội trở nên phi nhân, bởi lẽ giá
trị nhân bản cùng với nền văn minh của con người càng ngày càng trở nên
nơi thi thố luật muông thú ở rừng rậm, và chúa sơn lâm với nanh vuốt dữ
tợn nhất của mình sẽ điều khiển tất cả trật tự và giá trị con người. Dần
dần sức mạnh sẽ thay thế công lý, và toàn bộ xã hội chỉ còn là các giai
tầng đè nén của hệ thống sức mạnh. Ở đâu sức mạnh càng bành trướng, thì
ở đó giá trị bình đẳng giữa người với người càng teo rút. Fustel
Coulanges Nói: “Những bất bình đẳng xã hội bao giờ cũng tỉ lệ nghịch vớid sức mạnh của nhà cầm quyền”.
Điều đó càng đúng trong trường hợp một thể chế chỉ lo đến việc củng cố quyền lực một cách thái quá, điều đó có nghĩa họ chỉ coi trọng sức mạnh mong áp chế người khác về thể chất hơn là thực thi những giá trị luân lý và công chính. White Head nói: “Bất cứ kẻ nào khi có sức mạnh về thể chất, dù là tên kẻ cướp, viên thẩm phán, hay nhà cai trị, kẻ đó có sức mạnh cưỡng chế về thể chất”.
Song nhân loại ngày nay không chỉ là nạn nhân của bạo lực, là “miếng mồi của những guồng máy cưỡng chế thể chất”, mà từ thẳm sâu tinh thần con người đã trở nên những nạn nhân của những người lính không chỉ được trang bị từ chân đến răng mà được trang bị từ chân vào sâu não trạng “ý thức giết người”. Chúng ta đã nghe Hitler trang bị cho dân tộc Đức và quân nhân Đức triệt để như thế nào rồi “làm thế nào gây được tinh thần khiến cho một dân tộc có khả năng mang vũ khí... rồi thì... có trăm nghìn cách để đi đến vũ trang cần thiết”. Jasper nói: “Ý thức hệ là nguyên nhân chính của phân tán và chia rẽ nhân loại ngày nay” (7).
Chúng ta hãy ngắm cảnh hai đội quân Pháp và Nga ở hai bên bờ con sông nhỏ sau trận đánh, trong tác phẩm “Chiến tranh và hoà bình” của Leo Tolstoi. Người lính bên này xuống sông múc nước nấu cơm ăn, người lính bên kia cũng múc nước, họ nhìn nhau bình thản vì nhiệm vụ chiến đấu đã tạm ngừng, và lúc đó họ trở về làm con người bình dị, họ chẳng phải kẻ thù của nhau nữa, họ ý thức rằng con người chỉ là kẻ thù của nhau trong cuộc chiến mà thôi. Còn ngày nay, chúng ta hãy nhìn chiến tranh thế giới thứ nhất và chiến tranh thế giới thứ hai, người ta rình mò nhau tận thâm sơn cùng cốc, rình mò giết nhau cả khi ăn, khi ngủ, khi đầm ấm với vợ con, và tệ bạc hơn nữa họ chôn sống thủ tiêu những tù binh của đối phương đã hết khả năng chống cự, giết cả phụ nữ lẫn trẻ em chỉ vì tội không cùng phía với họ. Tại sao vậy? Bởi vì kẻ thù ngày nay không chỉ đơn giản là những con người tranh chấp về lãnh thổ hay quyền lợi cụ thể nào đó của con người, mà kẻ thù ngày nay là kẻ thù từ chân răng kẽ tóc, kẻ thù thâm sâu tận sâu thẳm tâm hồn, kẻ thù của những phe phái và hệ tư tưởng. Hắn là kẻ thù của ta chỉ vì tư tưởng của hắn trái nghịch với tư tưởng của ta hoặc chẳng giống ta.
Đó
là hình ảnh tàn khốc tột cùng của chiến tranh nhân loại ngày nay, Chiến
tranh thế giới thứ hai là một ví dụ: cầm tù hành hạ dã man về thể xác,
tra tấn tinh vi về tâm lý, thủ tiêu tù nhân, và cuối cùng ném cả bom
nguyên tử khiến con người chẳng còn nẻo mà chạy. Đó là cuộc chiến tranh
người ta chẳng còn để ý đến truyền thống mã thượng của các hiệp sĩ cổ
xưa nữa mà chỉ nghĩ đến việc làm sao phải tiêu diệt đối phương càng
nhiều càng tốt, kể cả bắn lén. Đó là cuộc chiến tranh mà con người trở
thành kẻ bị săn đuổi tuyệt đối trước trái tim đồng loại với ý thức tiêu
diệt tuyệt đối của đối phương.
Đối phương của nó không được quyền trốn thoát ở bất cứ ngõ ngách nào của ý thức cũng như thực tại cuộc đời,nó phải bị săn lùng ở khắp thâm sơn cùng cốc. Chính vậy mà thánh Gandhi đã nhìn nhận những cuộc xung đột ngày nay như những cuộc tương sát tuyệt đối nhằm đẩy nhân loại đến miệng hố diệt vong. Ông nói: “Thế giới bị dồn đẩy đến cái chết bởi nền chính trị đẫm máu của nó” (Le mond est frappe’ a mort par sa politique sanguinaire) (8).
(VTC News) – Ít ai biết rằng, năm 1984, tại Vị Xuyên (Hà Giang) xảy ra cuộc xung đột cực kỳ khốc liệt.
Kỳ 1: Cựu chiến binh và ký ức không quên
Những ngày này, nghĩa trang liệt sĩ Vị Xuyên đông hơn thường lệ. Bà bán tạp hóa cổng nghĩa trang vừa lượm đồ cho tôi vừa bảo: “Người ở mãi Nghệ An, Hà Tĩnh, Thái Bình kéo lên thăm thân đông lắm. Người qua đường cũng dừng lại mua nén hương, bao thuốc, gói kẹo vào thắp hương cho các liệt sĩ…”.
Chỉ tay vào người đàn ông dáng vẻ gầy gò, khắc khổ, đang ngồi bần thần bên nấm mồ phía bên phải nghĩa trang, anh quản trang bảo: “Năm nào cũng vậy, cứ đến lễ tết, những ngày tháng 2, ngày 12/7, ngày thương binh liệt sĩ 27/7, là bác kia cũng đều đến nghĩa trang, ngồi trò chuyện thật lâu ở nấm mồ đó. Tôi chưa hỏi chuyện, nhưng chắc là đồng đội của liệt sĩ”.
Tôi tiến lại gần, thấy ông đang nói chuyện thật. Tưởng như đồng đội ông đang ngồi đó, mà vô hình. Đợi ông “trò chuyện” xong với liệt sĩ, tôi mới bắt chuyện.
Người cựu chiến binh ấy là ông Lưu Thành Trì, một chiến sĩ của Trung đoàn 876, Sư đoàn 356, là sư đoàn hy sinh nhiều nhất trong cuộc chiến biên giới, mà cụ thể là trận đánh vị xuyên năm 1984.
Hiện ông Lưu Thành Trì là cán bộ của Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Hà Giang. Ông bảo, hầu như các ngày lễ, kỷ niệm, ông đều về Vị Xuyên thắp hương, thăm lại đồng đội. Cũng có khi, tự dưng thấy buồn, nhớ đồng đội, cũng tìm về đây hương nhang, trò chuyện với đồng đội cho đỡ buồn.
Ngồi bên nấm mồ đồng đội, liệt sĩ Phạm Văn Đồng, ông Lưu Thành Trì nhớ lại chuyện xưa. Từng khoảnh khắc khốc liệt của cuộc chiến như cuốn phim quay chậm diễn ra trước mắt.
Ông Trì quê gốc ở Nghệ An. Chiến tranh biên giới xảy ra, theo Lệnh tổng động viên, ông nhập ngũ, lên nông trường 32 ở Nghĩa Đàn huấn luyện. Vài tháng sau thì được điều động lên Lào Cai.
Từ 1979 đến 1984, ông cùng đồng đội chiến đấu ở Lào Cai. Những lúc bình yên thì huấn luyện ở Cam Đường.
Ông Trì nhớ lại: “Hôm đó là 30/4/1984, tôi đi chợ mua sắm chuẩn bị ăn liên hoan ngày lễ độc lập, thì nhận lệnh báo động di chuyển. Tôi là đảng viên, nên được biết trước thông tin. Tôi thông báo với anh em chuẩn bị quân tư trang, không liên hoan nữa, lên đường ngay lập tức. Việc lên đường đột xuất thế này khiến tôi cảm nhận được sự căng thẳng.
Ngay hôm đó đơn vị hành quân sang Hàm Yên. Đến đất Hàm Yên thì điều tôi cảm nhận càng rõ ràng. Nhân dân đứng hai bên đường đông lắm. Người dân quẳng lên xe đủ thứ, thuốc lá, bánh kẹo, kim chỉ, lương khô.
Đoàn xe đưa lính qua thị xã Hà Giang, lên thẳng Vị Xuyên, đến Phương Thiện thì dừng lại. Chúng tôi tiếp tục cuốc bộ lên thôn Tha (xã Phương Độ). Đến đây, chúng tôi vẫn chưa biết chuyện gì xảy ra. Anh em được huấn luyện bắn đạn thật, bắn phá lô cốt suốt 2 tháng. Sau đó thì học đánh sa bàn”.
Với nhiệm vụ Trung đội trưởng trung đội pháo 12 ly 7, Lưu Thành Trì được giao nhiệm vụ cùng đồng đội trinh sát địa hình từ Cọc 6 đến điểm cao 772. Lúc đó, ông mới biết nhiệm vụ của Sư 356 là lấy lại chốt 685 và 772.
Thời điểm đó, Trung Quốc đã tiến quân chiếm đóng trọn điểm cao 1509, còn gọi là Núi Đất (người Trung Quốc gọi là Lão Sơn, hoặc Lao Sán) cùng một số điểm thấp hơn quanh điểm cao này. Nhiệm vụ của các Sư đoàn là đánh chiếm lại các điểm cao.
Ngày 5/7, ông Trì cùng các chiến sĩ bắt đầu trinh sát địa hình. Khi đó, dân cư ở biên giới đã sơ tán hết, không có bóng người, nhà cửa hoang tàn đổ nát.
Ông Trì nhớ lại: “Ban ngày chúng tôi nằm im, đêm mới trinh sát địa hình. Những ngày đó mưa liên miên, trâu bò của đồng bào trúng đạn pháo chết trương phềnh, bốc mùi nồng nặc”.
Sau mấy ngày dò dẫm, thì đơn vị ông đã tiến đến đồi 468, là quả đồi nằm ngay cửa khẩu Thanh Thủy bây giờ, bên con suối Lao Chải.
Địa điểm này “soi gương” điểm cao 772, thuận tiện bố trí pháo 12 ly 7, nên ông Trì quyết định lựa chọn. Ngày 10/7 thì kéo pháo vào trận địa.
Pháo 12 ly 7 bắn được cả máy bay, tiêu diệt được cả các vị trí dưới mặt đất, có nhiệm vụ khống chế đối phương, yểm trợ cho bộ binh tiến lên chiếm lại điểm cao.
Trước khi bố trí pháo, thì mọi người đã đào hầm. Cứ hai người đào một hầm. Hầm được khoét vào ruộng bậc thang như hàm ếch. Ban ngày nằm im trong hầm, ban đêm mới mò ra trinh sát địa hình, lựa chọn điểm để bắn pháo khi có hiệu lệnh.
Đêm 10/7, bố trí pháo xong, ông Trì đi thăm trận địa của đồng hương, là Phạm Văn Đồng. Ông Đồng không chỉ là đồng chí, mà còn là bạn bè, đồng hương thân thiết. Hai người đi lính cùng ngày, cùng đơn vị, cùng chiến hào.
Nhìn thấy ông Đồng bố trí pháo chưa hợp lý, ông Trì bảo: “Anh nên bố trí pháo tụt đi một tí. Chỗ anh đặt pháo khá thoáng, ngắm bắn dễ, nhưng lại gần cây cổ thụ là không ổn. Cây cổ thụ này sẽ là vật ngắm bắn chuẩn, nó bắn là chết”.
Tuy nhiên, ông Đồng không đồng ý dịch chuyển pháo lại phía sau. Ông bảo, vị trí đặt pháo điểm thẳng vào hào của địch, nên chỉ cần nã đạn là tiêu diệt ngay các vị trí của chúng.
Hai người đang tranh luận, thì đồng chí liên lạc đề nghị mọi người đi ăn ngô nướng, rồi bàn tiếp…
Ông Trì kể: “Đêm ấy, mọi người nấu cơm, nhưng cơm khê, nên bỏ đi không ăn, mà nướng ngô. Tuy nhiên, anh Đồng không ăn, mà cứ nằm trên võng, mặt buồn rười rượi. Lúc ấy, tôi mới biết anh Đồng mới cưới vợ, vợ đang mang bầu.
Anh Đồng bấm đốt ngón tay rồi bảo: “Lần này tôi sẽ không về đâu. Tôi sẽ hi sinh. Đồng hương nhớ đưa xác tôi ra đường để vận tải đưa về tuyến sau nhé”.
Đêm 11/10, tôi đi họp giao ban. Tôi nhận được lệnh triển khai hỏa lực vào 4h15 sáng hôm sau, yểm trợ cho bộ binh. Pháo quân khu sẽ bắn trước, từ 3 giờ đến 4 giờ”.
Sớm 12/7, tiếng pháo vang lên, đỏ rực trời đêm Thanh Thủy. Khẩu pháo ông chỉ huy bắn đỏ nòng. Phía Trung Quốc bắn trả dữ dội. Đạn pháo cày xới từng mét đất điểm cao 772. Ông Trì bị sức ép đạn pháo khiến máu rỉ ra ở hai tai.
Đồng chí giao liên vượt qua mưa đạn đến báo vị trí của đồng đội Phạm Văn Đồng trúng pháo và đã hi sinh. Ông chạy sang đào hầm, moi xác người đồng chí lên, khiêng ra đường mòn, để hậu cần đưa về tuyến sau.
Thực hiện lời hứa với đồng đội xong, ông quay lại trận địa, củng cố đội hình, bám chốt. Lúc đó, liên lạc bị cắt đứt hoàn toàn, thông tin không có nữa. Toàn bộ điểm cao 772 và khu vực xung quanh biến thành một dãy núi trắng xóa màu đá, không còn cành cây cọng cỏ nào bình thường.
Thời điểm đó, bên ngoài đã tin chắc trung đội pháo 12 ly 7 gồm 26 chiến sĩ, do Lưu Thành Trì chỉ huy đã hi sinh cả. Ba ngày sau, khi đã im tiếng pháo, một trinh sát vào chuyển lệnh rút, trung đội của ông mới rời chốt.
30 năm nay, mỗi năm vài lần tôi về Vị Xuyên, thắp hương cho đồng đội. Tuy nhiên, tôi không biết rõ đồng hương Phạm Văn Đồng ở xã nào, không rõ gia đình có biết phần mộ anh Đồng ở đây không…”.
Chiến tranh và tình trạng văn minh,
chiến tranh và tình trạng dã man
Phải chăng mọi cuộc chiến tranh đều như nhau?
Phải chăng mọi cuộc chiến tranh đều là phi nghĩa?
Hay là có những cuộc chiến tranh chính nghĩa và có những cuộc chiến tranh phi nghĩa?
Bảng chỉ mục
Nhận diện bộ mặt thật của chiến tranh
Nguyễn Hoàng ĐứcÝ hướng tính văn chương, NXB Văn hóa dân tộc
08:31' CH - Thứ năm, 23/04/2009
Sau đạo lý làm người chúng ta hãy dấn thân vào một thảm hoạ mới nhất của lương tâm, lương tri và đạo đức làm người, đó là chiến tranh.
“Chiến tranh và hoà bình”
cũng là tên gọi của một cuốn tiểu thuyết được xếp hạng trong số chưa
đầy chục cuốn sách lừng danh nhất thế giới. Qua cuốn sách đồ sộ này, đại
văn hào Leo Tolstoi đã dùng thiên tài của mình để diễn tả nỗi trăn trở
nhức nhối của con người trong chiến tranh. Chiến tranh luôn luôn là cơn
đau của nhân loại, song đó là cơn đau thảm khốc. Một nỗi đau tràn bờ
khỏi ý nghĩa của từ đau đớn, bởi đó là nỗi đau chết người, nỗi đau bê
bết máu chảy, nỗi đau cầm tù tâm hồn, nỗi đau phi tang thân phận, hình
hài, tâm linh và tin tức về con người, nỗi đau mẹ mất con, vợ mất chồng,
nỗi đau khắc khoải của lương tri lịch sử và nỗi đau chua xót của một nụ
cười mỉa mai trước tâm thức nhân bản nghịch lý của con người. Chiến
tranh là nỗi đau không biên giới, một nỗi đau vượt khỏi mọi nỗi đau bằng
đôi cánh không hoá kiếp nổi của cái chết còn ghi dấu nặng nề niềm luyến
tiếc nhức nhối và đau xót. Chiến tranh không chỉ là nỗi đau thống khổ
về thân xác, mà còn là nỗi đau của sự xói lở công lý con người. Một kẻ
tội đồ mắc tội giết người sẽ bị xử trảm, trong khi đó những chiến sĩ
càng treo lủng lẳng nhiều đầu lâu của đối phương quanh cổ mình thì càng
được lãnh thưởng nhiều huân chương; và hơn nữa những tướng lĩnh, vua
chúa đẩy hành triệu người vào cuộc chiến tranh đang hoan hỉ hào hùng đầy
khí phách khi bước lên khán đài giăng đèn kết hoa để loan báo về sự
nghiệp tôn vinh ánh sáng nhân bản của con người và tôn vinh thắng lợi
của chiến cuộc đã thánh hoá tâm hồn nhân loại ?!
Quả vậy, con người vừa là thợ săn vừa là con mồi của con người. Bằng chiến tranh con người đã săn đuổi con người đến tận thâm sơn cùng cốc. Con người dùng súng cùng thuốc nổ để săn lùng con người; dùng trại giam nhà tù để giam cầm con người; dùng bộ máy thông tin, cơ quan tâm lý để hành hạ truy bức tâm hồn con người; dùng chất độc hoá học để vấy bẩn hơi thở sống của con người, dùng hàng rào cấm vận để ngăn cản dạ dầy của con người, và cuối cùng triệt để nhất người ta dùng bom nguyên tử như một chiếc nơm tứ phía để chụp xuống “đàn kiến” con người. Chúng ta thử xem chàng thợ săn con người trang bị từ chân đến răng đã săn được bao nhiêu con người trong đại chiến thế giới thứ nhất và thứ hai.
- Chiến tranh thế giới thứ nhất: 33 tay súng quốc gia săn lẫn nhau, kết quả: bắn chết 8 triệu người, bắn bị thương 21 triêụ người khác, tiêu tốn 200 tỉ đô la.
-
Chiến tranh thế giới thứ hai: Hơn ba mươi tay súng kéo theo cả thế giới
vào cuộc săn bắn đồng loại khổng lồ, kết quả theo con số thấp nhất: 28
triệu người chết, con số thủ tiêu không lường hết được vì cho đến nay
chẳng có thợ săn nào thành thật thú nhận mình đã phi tang bao nhiêu con
mồi trong lò sát sinh hay dưới hố chôn tập thể, con số bị thương lên đến
hàng trăm triệu, nhiều đến mức làm nản chí những nhà thống kê, số tiền
tiêu tốn 2000 tỉ đô la, gấp mười lần chiến tranh thế giới thứ nhất (
theo Encyclopedia Compton’s).Thật là vụ đại thu hoạch những cái xác của lương tri nhân loại.
Tuy nhiên, chiến tranh dù tàn khốc, tàn bạo, phi nhân bản là vậy, nhưng nó vẫn cứ xảy ra mỗi ngày và loài người chẳng thời khắc nào ngừng chuẩn bị cho chiến tranh với phương châm: “Muốn có hoà bình hãy chuẩn bị chiến tranh”. Người ta bỏ mặc dân lành đói khổ thất nghiệp để đổ tiền vào mua những khẩu ca nông ngày càng lớn, những trái bom ngày càng nặng bằng cách nói rằng: đó là vũ khí để bảo vệ cho quyền lợi rách rưới của dân nghèo.
Chúng ta hãy ngắm hai bộ lạc ở gần nhau vừa xung sát. Bộ lạc thua trận thì vật vã đau đớn, khóc lóc tang thương trong cảnh thiêu huỷ tro than và giữa những người thân đã nguội tanh hơi thở của sự sống. Còn bộ lạc thắng trận, họ đem xác những chiến sĩ hy sinh lên đài tưởng niệm tôn vinh những cái xác trong những giọt nước mắt và vòng hoa hoan hỉ. Chiến tranh là vậy. Nó là nỗi cay đắng cho kẻ này, nhưng lại là miếng mồi vinh quang cho kẻ khác. Và chẳng kẻ nào khi bước vào cuộc săn lại không tự nhủ: mình sẽ là thợ săn, còn đối phương của mình sẽ là con mồi.
Song đó là hình ảnh của cuộc chiến tranh mang một ngoại diện hết sức cụ thể và còn ở cấp độ nhận thức phổ quát. Đi sâu hơn nữa, một cuộc chiến tranh nằm trong bản tính gây hấn của con người đã trở nên huyễn hoặc khó nắm bắt, ca ngợi, phê phán hoặc lảng tránh như chính con người vậy. Nếu chiến tranh nằm trong bản tính gây hấn, thì nó có phải là sự ngược chiều của bản tính ái tình như là trạng thái tình cảm Ghét và Yêu của con người hay không? Đây là một vấn nạn nằm sâu trong căn để, nó bắt nguồn từ bản tính của loài người.
Trong Kinh Thánh, khi Chúa Trời nói: “Ta cho các ngươi hoà bình và chiến tranh giống như kỳ gieo cấy và mùa gặt hái”,
thì con người rơi vào câu hỏi đầy hoang mang rằng: không hiểu Chúa có
cổ xuý cho chiến tranh không? Một cách rõ nét và dứt điểm hơn, nhiều
triết gia đã cổ xuý cho chiến tranh bằng cách dè bỉu hoà bình như sau: “Hoà bình chỉ là trang trắng của lịch sử”.
Theo họ thì hoà bình chỉ làm cho người sống hèn nhát trong ôi ươn thụ
động, con người không được đào luyện mình trong ngọn lửa thử vàng, con
người không biết đến dũng khí can trường vượt thắng hoàn cảnh trong thời
khắc trọng đại của lịch sử. Họ cho rằng: “Một nhân loại không còn tranh chấp là một nhân loại ngái ngủ” (Lý Chánh Trung)(2).
Theo quan điểm này thì chiến tranh không được nhìn như những sự kiện
phi nhân bản xấu xa, mà để biện chính cho hành động căng thẳng tột độ
nhắm đến việc đào luyện con người - một con người phải gặt hái những giá
trị chín rũ của mình để gieo trồng một vụ mùa mới đầy sức sống hơn.
Ngoài cơn khát chiến tranh mang nặng yếu tố duy niệm của một số triết
gia, chiến tranh đã bước từ tư tưởng xuống cuộc đời để xung sát tung
hoành mong gặt lấy vinh quang cho ông hoàng bạo lực. Trang Tử nói: “Trộm một cái mốc thì bị giết, cướp một nước thì được gọi là vua”.Làm vua, hai từ đó nghe như một tham vọng thôi thúc nhất, còn gì sướng bằng được làm vua thiên hạ, với quyền lực trong tay sẽ có rượu ngon, gái đẹp tối ngày cung phụng hầu hạ. Bởi vậy, người ta không chỉ thích làm vua trong nhà, mà còn thích làm vua ở xã, ở tỉnh, ở quốc gia, và còn khát vọng làm vua cả thế giới. Làm vua... làm vua nữa... lúc bấy giờ thì thế giới cũng trở thành quá nhỏ. Chính vì thích làm vua hoàn cầu, Hitler đã lôi kéo dân tộc Đức vào cuộc chiến tranh qui mô toàn cầu bằng cách khích lệ vào khoái cảm sô-vanh đế quốc của họ như: “Chúng ta hãy tàn ác. Nếu cứu được nước Đức, chúng ta phải thực hiện một nghĩa cử cao đẹp nhất thế giới . Chúng ta hãy làm quấy. Nếu cứu được nước Đức, chúng ta đã diệt trừ một việc quấy nhất thế giới. Chúng ta hãy vô luân. Nếu cứu được nước Đức, chúng ta đã mở ra con đường phục hồi đạo lý” (Hitler, Mein Kamf, tr.686).

Nghe nói trong những ngày cuối cùng của chiến tranh thế giới hai, người ta thu được hằng hà sa số sổ tay của những binh lính Đức trân trọng ghi tên Nietzsche và tư tưởng cổ xuý chiến tranh của ông. Theo cách nhìn của Nietzsche thì chiến tranh được nhắc đến như một phương thuốc chữa trị mặc cảm yếu ớt của một dân tộc, mặc cảm không được làm vua. Nietzsche nói: “Đối với những quốc gia đang trở nên yếu kém và bị khinh thị thì chiến tranh có thể được coi như một liều thuốc, thật vậy, nếu các quốc gia ấy muốn tiếp tục sống còn... Đàn ông phải được huấn luyện cho chiến tranh, đàn bà thì cho sự tiêu khiển của các chiến sĩ, còn ngoài ra tất cả chỉ là điên rồ... Bạn cho rằng chính nghĩa thánh hoá các cuộc chiến tranh? Không! Tôi cho rằng một cuộc chiến tranh tốt thánh hoá bất cứ chính nghĩa nào” (3).
Song ở mức độ nào đó những người lính Đức đã hiểu nhầm đôi chút về Nietzsche, bởi vì họ chỉ nhìn ông ở góc độ biện hộ cho bạo lực chém giết của họ; vả lại Nietzsche cũng đáng để dính mắc vào sự hiểu lầm đó, bởi ông đã bàn đến chiến tranh như một thái độ cực đoan của triết học. Tuy vậy chúng ta không nên dừng ở chỗ kiểm thảo Nietzsche, mà chúng ta hãy vượt tới để nắm bắt cùng đích ý tưởng của ông về chiến tranh. Nietzsche nói: “Vì lợi ích của một chủng loại rất cần thiết để tất cả những hạng yếu đuối , suy nhược, bất thành nhân chết đi”. Ham muốn tối cao của Nietzsche là khát vọng tinh chế con người khỏi suy nhược, yếu đuối và thoái hoá giá trị làm người. Theo cách nhìn của Nietzsche thì một nhân loại không cần Lượng mà chỉ cần Phẩm. Phẩm để xây lên những con người siêu hạng – siêu nhân, và sau đó là những xã hội của những siêu nhân.
Chiến tranh không chỉ là cuộc biện hộ tối hậu cho quyền lợi lãnh thổ, tham vọng quyền lực, hoá giải căn bệnh suy nhược thân xác ươn hèn, mà chiến tranh còn được dùng để biện chính cho giá trị cao cả của linh hồn...
Từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIII, toàn bộ châu Âu cất một đội quân hùng hậu bao gồm từ ông già đến những chú nhi đồng, bảy lần ào ạt tấn công đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ với lý do bảo vệ miền đất Thánh. Lá cờ của đội quân hào hùng hiếu chiến này chẳng lúc nào suy giảm nhuệ khí với hình ảnh thánh giá và hàng chữ “God will it” – “Chúa muốn vậy” bay phần phật trên vó ngựa. Cuộc Thập tự chinh kéo dài 175 năm kể từ 1096 đến 1270 khiến xương chất thành núi, máu chảy thành sông, bao nhiêu vùng đất bình yên bị tàn phá và dẫm nát trong vó ngựa quần thảo của những chiến binh thiện chiến đầy sát khí. Tại sao cuộc chiến tranh kéo dài đến vậy? Bởi vì người ta đã tìm cách nuôi dưỡng linh hồn hiếu chiến bằng cách thổi một luồng khí siêu việt vào những thân xác có nguy cơ suy giảm và rệu rã tinh thần. Chúa muốn vậy! Đó là sự phấn khích của mệnh lệnh Thiên Chúa. Và khi linh hồn đã không chán chiến tranh thì thân xác có bao giờ chán.

“...Tôi ở đây , giữa hai đạo quân...
Tôi rất đau đớn khi nhìn thấy bà con thân thích đang đứng ngoài mặt trận, sẵn sàng chém giết lẫn nhau...”
Tôn giả Krishna:
“Này Arjuna, linh hồn ở bất cứ thể xác của người nào cũng chẳng bao giờ bị huỷ diệt. Vậy nhà ngươi không việc gì phải than tiếc cho những phù sinh.
Đối với một Kshattrya, không có gì đáng khát khao hơn là một cuộc đấu tranh công lý. Những bậc Kshattrya sung sướng đón nhận một cuộc đấu tranh công lý, bởi trong lúc đấu tranh, thình lình họ biết mở những cánh cửa của trời.
Nhưng nếu nhà ngươi không muốn nhận cuộc đấu tranh công lý này, tức là nhà ngươi vứt bỏ bổn phận và danh dự của mình đi trước gió, và như thế nhà ngươi sẽ phạm vào một tội.
Loài người sẽ mãi mãi kể cho nhau sự mất danh dự của nhà ngươi, còn đối với một kẻ biết trọng danh dự thà chết còn hơn.
Vậy nhà ngươi hãy hoàn tất một hành động công lý, - “Hành động bao giờ cũng tốt hơn thụ động”. Nếu nhà ngươi thụ động, thì ngay đến việc lo lắng cho thân xác của nhà ngươi cũng không thể nào thực hiện nổi.
Hãy biết rằng, đức hy sinh do bản ngã giác ngộ mà có, và bản ngã giác ngộ lại đến từ vĩnh cửu, vĩnh cửu truyền vào vạn vật, vậy vật vĩnh cửu luôn nằm trong đức hy sinh” (Kinh Gita, tr.12- 20).
![]() |
| Tác giả: Nguyễn Hoàng Đức - Sinh năm 1957, học đại học An Ninh - Anh là một người khác thường mà nhà thơ Đỗ Minh Tuấn gọi là "Anh hề triết học, chàng Đông-ki-sốt văn chương" Tác phẩm đã in 1. Ý hướng tính văn chương. Chuyên luận và 9 cuốn khác.
Tác phẩm sắp in1. Ngưỡng cửa làm người (tiểu thuyết, 2 tập, và 12 cuốn khác)
2. Người Việt Nam tự ngắm mình (chuyên luận) 3. Hành trình nhận thức duy niệm của nhân loại (chungta.com đăng nhiều kỳ) 4. Hành trình tâm linh nhân loại (chuyên luận, chungta.com đăng nhiều kỳ)5. Công lý và Dục vọng (chungta.com đăng nhiều kỳ) 6. Quan phẩm và Nhân phẩm (chungta.com đăng nhiều kỳ) 7. Tự do nền móng thiết yếu của con người (chungta.com sẽ đăng nhiều kỳ) |
Chiến tranh có phải bao giờ cũng mã thượng đâu? Để chiến thắng người ta sẵn sàng tiến hành những thủ đoạn dù là nhơ bẩn nhất, phi nhân nhất, sự tin cậy giữa những con người bị phá đổ, con người còn xấu xa hơn cả những con thú khi vừa dùng sức mạnh, vừa dùng các chiến lược - chiến thuật, thủ pháp, binh pháp tấn công triệt thủ lẫn nhau. Hai quả nguyên tử rơi xuống Hiroshima và Nagasaki, đâu có phải chỉ huỷ diệt trọn vẹn hai thành phố, mà cho đến ngày nay đám khói hình nấm phóng xạ uranium vẫn còn gieo rắc vào giấc ngủ bình yên của nhân loại những cơn ác mộng hoảng loạn đầy sợ hãi. Tại sao người Mỹ đã nhất quyết lẳng hai trái bom nguyên tử xuống đầu người Nhật? Có một lý do chính yếu khiến người Mỹ uất khí chẳng run tay làm điều đó, vì họ phát hiện: mười một nghìn khuôn mặt hoảng loạn tột độ của những tù binh Mỹ trước tín điều nhân bản của con người, khi bị những chiến sĩ Nhật hoàng đem đi thủ tiêu tập thể.
Bản chất của chiến tranh là sức mạnh, mà sức mạnh luôn luôn nhằm vào kẻ yếu để áp chế và tước bóc. Trong chiến tranh thế giới hai, mảnh đất đầu tiên mà Hitler muốn phô diễn sức mạnh của mình là miếng mồi Ba Lan vừa quyến rũ vừa yếu ớt. Chúng ta không thể nào không sửng sốt trước một chứng cứ sờ sờ ra đấy một chứng tích biện giải xác quyết rằng: những kẻ yếu chỉ là miếng mồi – là vật thí thân cho kẻ mạnh. Trong số 13 triệu dân thường bị chết vì bom đạn trong Đại chiến II, thì Ba Lan, một dân số quá nhỏ so với các nước tham chiến đã đóng góp con số thiệt mạng là trên 5 triệu.
Chiến
tranh không chỉ là trò chơi bất công, trò chơi biện hộ cho “công lý của
kẻ mạnh”, mà chiến tranh còn cướp đi cơm ăn áo mặc và làm bần cùng
những tầng lớp dân nghèo vốn đã quá khổ sở. Sau chiến tranh thế giới thứ
nhất, chính phủ Mỹ tuyên bố: Trong ba năm vừa chuẩn bị chiến tranh vừa
tham chiến, nước Mỹ đã tiêu pha số tiền bằng tất cả 124 năm, từ 1791 đến
1914 cộng lại. Thật là một con số khổng lồ. Thật là một mỉa mai nghịch
lý 3 năm bằng 124 năm. Một năm chiến tranh tiêu tốn tiền của bằng 40 năm
xây dựng. Một số chuyên gia chiến tranh tính rằng: một năm chiến tranh
thường ngốn đi số vốn của 27 năm sản xuất và xây dựng.Cho đến ngày nay, khi con người đã có một tâm thức khá chín muồi nhờ trải qua những biến cố đau thương của lịch sử, thì chiến tranh không còn có cơ hội được biện chính cho sự nghiệp của sức mạnh một cách dễ dàng nữa; ngược lại nó ngày càng trở nên một mặc cảm xấu hổ của lương tri con người về thứ lề luật bạo hành đó, lề luật phi nhân bản và có khuynh hướng hạ cấp nhân phẩm của con người xuống muông thú. Giáo Hoàng Gioan XXIII nói: “Có một niềm tin ngày càng xâm chiếm các tâm trí thời đại ta là những tranh chấp giữa các dân tộc cần được giải quyết không phải bằng vũ lực, nhưng bằng điều đình”.
Xu hướng đối thoại là xu hướng của con người, bởi con người là trí tuệ hơn là bắp thịt. Bởi thế chúng ta hãy hướng về xu thế đối thoại, và muốn vậy trước hết hãy giải phẫu bản chất của chiến tranh.
Chiến tranh trước hết là sự vay trả bằng máu, nghĩa là con người đã đòi nợ máu như đòi nợ tiền, đòi nợ đồ vật. Kẻ bị thiệt hại cho cá nhân, gia tộc và quốc gia bằng sức mạnh thì chăm chăm dùng sức mạnh để trả thù món nợ đó. Bejamin Foudane nói: “Chiến tranh sẽ hoàn tất công trình của hận thù”.
█Song chiến tranh chỉ là màn biểu diễn của sức mạnh, nó là một vở tuồng đã được các diễn viên thi thố cuộc tranh sát tương tàn, nhưng chiến tranh không chỉ bắt đầu từ lúc khai hoả say sưa khát máu của bạo lực, giống như vở tuồng đã được tập dượt trước khi trình diễn, chiến tranh thực sự đã được khởi sự từ những diễn viên thích tuồng bạo lực.
Chiến tranh là gì?
Mô thức của nó là bạo lực, bản chất của nó là bạo lực, và cứu cánh của nó là bắt kẻ khác phải thần phục bằng bạo lực. Thánh Gandhi nói: “Ai tin tưởng vào bạo lực, thì kẻ đó đang chuẩn bị chiến tranh” (Que celui qui croit a la force prepare la guere) (4).
Chiến tranh là sự bất lực của tín phục, của lý lẽ, của trí tuệ con người, và để cướp “cái” mong giành ưu thế với người khác, người ta chiếm cứ sức mạnh để gây áp chế hơn là muốn đối thoại tìm ra công lý. Vả lại, con người luôn bị lòng tham lợi quấy nhiễu và lôi cuốn, bởi vậy nó không muốn sống theo công lý để chia sẻ với người khác một cách công bằng, mà ngược lại nó muốn kiếm lời bằng chính sự thiệt hại của người khác. Muốn vậy phải chiếm lấy sức mạnh, Pascal nói: “Vì không thể bắt mọi người phục tùng lẽ phải, người ta biến lẽ phải thành sự phục tùng sức mạnh” (5).
Chính vì muốn thống lĩnh cai trị thế giới dưới tay mình, Hitler đã cổ động, tuyên truyền, khích lệ, khơi chảy trong dân tộc Đức một tinh thần vũ trang, thích dùng vũ khí, thích bạo lực hòng lấn át và đè bẹp các dân tộc khác bằng sức mạnh. Hitler nói: “Vấn đề là làm thế nào mang lại quyền lực cho người Đức, không phải ở chỗ ta có thể tạo vũ khí thế nào, nhưng ở chỗ làm cách nào gây được tinh thần khiến cho một dân tộc có khả năng mang vũ khí. Một khi có được tinh thần ấy rồi thì một dân tộc có trăm nghìn cách để đi đến vũ trang cần thiết.”
Câu nói thẳng tuột của Hitler “làm thế nào mang lại quyền lực cho người Đức” không chỉ bày tỏ khát vọng quyền lực của dân tộc Đức, mà còn bày tỏ khát vọng của các dân tộc khác, rồi của những cá nhân có một cái tên, và tiếp theo sẽ lôi kéo tuồn tuột dây chuyền lây lan những hành động phản kháng bạo lực để bảo vệ hay tạo dựng quyền lực cho mình. Khi mọi cá nhân, mọi thế lực, mọi quốc gia chỉ thích quyền lực thì trật tự xã hội, công lý chỉ là trật tự của sức mạnh. Lề luật là lề luật sức mạnh, ở đó kẻ có nhiều sức mạnh nhất sẽ đúng nhất, kẻ yếu ớt nhất sẽ xấu nhất. Robes Pierre nói: “Cho đến bây giờ nghệ thuật cai trị chỉ là nghệ thuật của thiểu số đàn áp đa số, và luật pháp chỉ là phương tiện để biến những tội ác đó thành hệ thống” (6).
Khi
có sức mạnh trong tay mới mong lấn át, đàn áp và bóc lột kẻ khác, bắt
kẻ khác phải phục dịch làm tôi tớ cho mình . Bởi thế càng có nhiều quyền
lực thì càng có nhiều người sợ hãi, càng có nhiều người sợ hãi thì càng
có nhiều kẻ nô dịch và hầu hạ. Khi đó thì quyền lực trở thành thứ tài
sản đầu tiên của mọi tài sản, có quyền lực sẽ có tất cả. Được tự do làm
ông chủ, có pháp lý, có nô bộc, có tiền của, có xe hơi nhà lầu, có “lẽ
phải” và mặc sức tung hoành ăn chơi xa xỉ... Song ngược lại, khi quyền
lực được thủ đắc trong tay ai, được dùng để ức hiếp, áp chế, bóc lột kẻ
khác thì càng ngày nó càng làm cho xã hội trở nên phi nhân, bởi lẽ giá
trị nhân bản cùng với nền văn minh của con người càng ngày càng trở nên
nơi thi thố luật muông thú ở rừng rậm, và chúa sơn lâm với nanh vuốt dữ
tợn nhất của mình sẽ điều khiển tất cả trật tự và giá trị con người. Dần
dần sức mạnh sẽ thay thế công lý, và toàn bộ xã hội chỉ còn là các giai
tầng đè nén của hệ thống sức mạnh. Ở đâu sức mạnh càng bành trướng, thì
ở đó giá trị bình đẳng giữa người với người càng teo rút. Fustel
Coulanges Nói: “Những bất bình đẳng xã hội bao giờ cũng tỉ lệ nghịch vớid sức mạnh của nhà cầm quyền”.Điều đó càng đúng trong trường hợp một thể chế chỉ lo đến việc củng cố quyền lực một cách thái quá, điều đó có nghĩa họ chỉ coi trọng sức mạnh mong áp chế người khác về thể chất hơn là thực thi những giá trị luân lý và công chính. White Head nói: “Bất cứ kẻ nào khi có sức mạnh về thể chất, dù là tên kẻ cướp, viên thẩm phán, hay nhà cai trị, kẻ đó có sức mạnh cưỡng chế về thể chất”.
Song nhân loại ngày nay không chỉ là nạn nhân của bạo lực, là “miếng mồi của những guồng máy cưỡng chế thể chất”, mà từ thẳm sâu tinh thần con người đã trở nên những nạn nhân của những người lính không chỉ được trang bị từ chân đến răng mà được trang bị từ chân vào sâu não trạng “ý thức giết người”. Chúng ta đã nghe Hitler trang bị cho dân tộc Đức và quân nhân Đức triệt để như thế nào rồi “làm thế nào gây được tinh thần khiến cho một dân tộc có khả năng mang vũ khí... rồi thì... có trăm nghìn cách để đi đến vũ trang cần thiết”. Jasper nói: “Ý thức hệ là nguyên nhân chính của phân tán và chia rẽ nhân loại ngày nay” (7).
Chúng ta hãy ngắm cảnh hai đội quân Pháp và Nga ở hai bên bờ con sông nhỏ sau trận đánh, trong tác phẩm “Chiến tranh và hoà bình” của Leo Tolstoi. Người lính bên này xuống sông múc nước nấu cơm ăn, người lính bên kia cũng múc nước, họ nhìn nhau bình thản vì nhiệm vụ chiến đấu đã tạm ngừng, và lúc đó họ trở về làm con người bình dị, họ chẳng phải kẻ thù của nhau nữa, họ ý thức rằng con người chỉ là kẻ thù của nhau trong cuộc chiến mà thôi. Còn ngày nay, chúng ta hãy nhìn chiến tranh thế giới thứ nhất và chiến tranh thế giới thứ hai, người ta rình mò nhau tận thâm sơn cùng cốc, rình mò giết nhau cả khi ăn, khi ngủ, khi đầm ấm với vợ con, và tệ bạc hơn nữa họ chôn sống thủ tiêu những tù binh của đối phương đã hết khả năng chống cự, giết cả phụ nữ lẫn trẻ em chỉ vì tội không cùng phía với họ. Tại sao vậy? Bởi vì kẻ thù ngày nay không chỉ đơn giản là những con người tranh chấp về lãnh thổ hay quyền lợi cụ thể nào đó của con người, mà kẻ thù ngày nay là kẻ thù từ chân răng kẽ tóc, kẻ thù thâm sâu tận sâu thẳm tâm hồn, kẻ thù của những phe phái và hệ tư tưởng. Hắn là kẻ thù của ta chỉ vì tư tưởng của hắn trái nghịch với tư tưởng của ta hoặc chẳng giống ta.

Đối phương của nó không được quyền trốn thoát ở bất cứ ngõ ngách nào của ý thức cũng như thực tại cuộc đời,nó phải bị săn lùng ở khắp thâm sơn cùng cốc. Chính vậy mà thánh Gandhi đã nhìn nhận những cuộc xung đột ngày nay như những cuộc tương sát tuyệt đối nhằm đẩy nhân loại đến miệng hố diệt vong. Ông nói: “Thế giới bị dồn đẩy đến cái chết bởi nền chính trị đẫm máu của nó” (Le mond est frappe’ a mort par sa politique sanguinaire) (8).
Chiến tranh biên giới: Chuyện ít biết về cuộc chiến tàn khốc ở Vị Xuyên
Kỳ 1: Cựu chiến binh và ký ức không quên
Những ngày này, nghĩa trang liệt sĩ Vị Xuyên đông hơn thường lệ. Bà bán tạp hóa cổng nghĩa trang vừa lượm đồ cho tôi vừa bảo: “Người ở mãi Nghệ An, Hà Tĩnh, Thái Bình kéo lên thăm thân đông lắm. Người qua đường cũng dừng lại mua nén hương, bao thuốc, gói kẹo vào thắp hương cho các liệt sĩ…”.
Chỉ tay vào người đàn ông dáng vẻ gầy gò, khắc khổ, đang ngồi bần thần bên nấm mồ phía bên phải nghĩa trang, anh quản trang bảo: “Năm nào cũng vậy, cứ đến lễ tết, những ngày tháng 2, ngày 12/7, ngày thương binh liệt sĩ 27/7, là bác kia cũng đều đến nghĩa trang, ngồi trò chuyện thật lâu ở nấm mồ đó. Tôi chưa hỏi chuyện, nhưng chắc là đồng đội của liệt sĩ”.
Tôi tiến lại gần, thấy ông đang nói chuyện thật. Tưởng như đồng đội ông đang ngồi đó, mà vô hình. Đợi ông “trò chuyện” xong với liệt sĩ, tôi mới bắt chuyện.
| Nghĩa trang Vị Xuyên |
Người cựu chiến binh ấy là ông Lưu Thành Trì, một chiến sĩ của Trung đoàn 876, Sư đoàn 356, là sư đoàn hy sinh nhiều nhất trong cuộc chiến biên giới, mà cụ thể là trận đánh vị xuyên năm 1984.
Hiện ông Lưu Thành Trì là cán bộ của Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Hà Giang. Ông bảo, hầu như các ngày lễ, kỷ niệm, ông đều về Vị Xuyên thắp hương, thăm lại đồng đội. Cũng có khi, tự dưng thấy buồn, nhớ đồng đội, cũng tìm về đây hương nhang, trò chuyện với đồng đội cho đỡ buồn.
Ngồi bên nấm mồ đồng đội, liệt sĩ Phạm Văn Đồng, ông Lưu Thành Trì nhớ lại chuyện xưa. Từng khoảnh khắc khốc liệt của cuộc chiến như cuốn phim quay chậm diễn ra trước mắt.
Ông Trì quê gốc ở Nghệ An. Chiến tranh biên giới xảy ra, theo Lệnh tổng động viên, ông nhập ngũ, lên nông trường 32 ở Nghĩa Đàn huấn luyện. Vài tháng sau thì được điều động lên Lào Cai.
Từ 1979 đến 1984, ông cùng đồng đội chiến đấu ở Lào Cai. Những lúc bình yên thì huấn luyện ở Cam Đường.
| Năm nào ông Trì cũng về Vị Xuyên thắp hương cho đồng đội |
Ông Trì nhớ lại: “Hôm đó là 30/4/1984, tôi đi chợ mua sắm chuẩn bị ăn liên hoan ngày lễ độc lập, thì nhận lệnh báo động di chuyển. Tôi là đảng viên, nên được biết trước thông tin. Tôi thông báo với anh em chuẩn bị quân tư trang, không liên hoan nữa, lên đường ngay lập tức. Việc lên đường đột xuất thế này khiến tôi cảm nhận được sự căng thẳng.
Ngay hôm đó đơn vị hành quân sang Hàm Yên. Đến đất Hàm Yên thì điều tôi cảm nhận càng rõ ràng. Nhân dân đứng hai bên đường đông lắm. Người dân quẳng lên xe đủ thứ, thuốc lá, bánh kẹo, kim chỉ, lương khô.
Đoàn xe đưa lính qua thị xã Hà Giang, lên thẳng Vị Xuyên, đến Phương Thiện thì dừng lại. Chúng tôi tiếp tục cuốc bộ lên thôn Tha (xã Phương Độ). Đến đây, chúng tôi vẫn chưa biết chuyện gì xảy ra. Anh em được huấn luyện bắn đạn thật, bắn phá lô cốt suốt 2 tháng. Sau đó thì học đánh sa bàn”.
Với nhiệm vụ Trung đội trưởng trung đội pháo 12 ly 7, Lưu Thành Trì được giao nhiệm vụ cùng đồng đội trinh sát địa hình từ Cọc 6 đến điểm cao 772. Lúc đó, ông mới biết nhiệm vụ của Sư 356 là lấy lại chốt 685 và 772.
| Có tới 600 đồng đội của ông Trì ở Sư đoàn 356 hy sinh trong trận Vị Xuyên 1984 |
Thời điểm đó, Trung Quốc đã tiến quân chiếm đóng trọn điểm cao 1509, còn gọi là Núi Đất (người Trung Quốc gọi là Lão Sơn, hoặc Lao Sán) cùng một số điểm thấp hơn quanh điểm cao này. Nhiệm vụ của các Sư đoàn là đánh chiếm lại các điểm cao.
Ngày 5/7, ông Trì cùng các chiến sĩ bắt đầu trinh sát địa hình. Khi đó, dân cư ở biên giới đã sơ tán hết, không có bóng người, nhà cửa hoang tàn đổ nát.
Ông Trì nhớ lại: “Ban ngày chúng tôi nằm im, đêm mới trinh sát địa hình. Những ngày đó mưa liên miên, trâu bò của đồng bào trúng đạn pháo chết trương phềnh, bốc mùi nồng nặc”.
Sau mấy ngày dò dẫm, thì đơn vị ông đã tiến đến đồi 468, là quả đồi nằm ngay cửa khẩu Thanh Thủy bây giờ, bên con suối Lao Chải.
Địa điểm này “soi gương” điểm cao 772, thuận tiện bố trí pháo 12 ly 7, nên ông Trì quyết định lựa chọn. Ngày 10/7 thì kéo pháo vào trận địa.
Pháo 12 ly 7 bắn được cả máy bay, tiêu diệt được cả các vị trí dưới mặt đất, có nhiệm vụ khống chế đối phương, yểm trợ cho bộ binh tiến lên chiếm lại điểm cao.
| Liệt sĩ Phạm Văn Đồng, là đồng đội, đồng hương của ông Trì |
Trước khi bố trí pháo, thì mọi người đã đào hầm. Cứ hai người đào một hầm. Hầm được khoét vào ruộng bậc thang như hàm ếch. Ban ngày nằm im trong hầm, ban đêm mới mò ra trinh sát địa hình, lựa chọn điểm để bắn pháo khi có hiệu lệnh.
Đêm 10/7, bố trí pháo xong, ông Trì đi thăm trận địa của đồng hương, là Phạm Văn Đồng. Ông Đồng không chỉ là đồng chí, mà còn là bạn bè, đồng hương thân thiết. Hai người đi lính cùng ngày, cùng đơn vị, cùng chiến hào.
Nhìn thấy ông Đồng bố trí pháo chưa hợp lý, ông Trì bảo: “Anh nên bố trí pháo tụt đi một tí. Chỗ anh đặt pháo khá thoáng, ngắm bắn dễ, nhưng lại gần cây cổ thụ là không ổn. Cây cổ thụ này sẽ là vật ngắm bắn chuẩn, nó bắn là chết”.
Tuy nhiên, ông Đồng không đồng ý dịch chuyển pháo lại phía sau. Ông bảo, vị trí đặt pháo điểm thẳng vào hào của địch, nên chỉ cần nã đạn là tiêu diệt ngay các vị trí của chúng.
Video kế sách "kết xa, đánh gần" của Trung Quốc
Hai người đang tranh luận, thì đồng chí liên lạc đề nghị mọi người đi ăn ngô nướng, rồi bàn tiếp…
Ông Trì kể: “Đêm ấy, mọi người nấu cơm, nhưng cơm khê, nên bỏ đi không ăn, mà nướng ngô. Tuy nhiên, anh Đồng không ăn, mà cứ nằm trên võng, mặt buồn rười rượi. Lúc ấy, tôi mới biết anh Đồng mới cưới vợ, vợ đang mang bầu.
Anh Đồng bấm đốt ngón tay rồi bảo: “Lần này tôi sẽ không về đâu. Tôi sẽ hi sinh. Đồng hương nhớ đưa xác tôi ra đường để vận tải đưa về tuyến sau nhé”.
Đêm 11/10, tôi đi họp giao ban. Tôi nhận được lệnh triển khai hỏa lực vào 4h15 sáng hôm sau, yểm trợ cho bộ binh. Pháo quân khu sẽ bắn trước, từ 3 giờ đến 4 giờ”.
| Đài tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh trong Chiến tranh biên giới, ở cửa khẩu Thanh Thủy |
Sớm 12/7, tiếng pháo vang lên, đỏ rực trời đêm Thanh Thủy. Khẩu pháo ông chỉ huy bắn đỏ nòng. Phía Trung Quốc bắn trả dữ dội. Đạn pháo cày xới từng mét đất điểm cao 772. Ông Trì bị sức ép đạn pháo khiến máu rỉ ra ở hai tai.
Đồng chí giao liên vượt qua mưa đạn đến báo vị trí của đồng đội Phạm Văn Đồng trúng pháo và đã hi sinh. Ông chạy sang đào hầm, moi xác người đồng chí lên, khiêng ra đường mòn, để hậu cần đưa về tuyến sau.
Thực hiện lời hứa với đồng đội xong, ông quay lại trận địa, củng cố đội hình, bám chốt. Lúc đó, liên lạc bị cắt đứt hoàn toàn, thông tin không có nữa. Toàn bộ điểm cao 772 và khu vực xung quanh biến thành một dãy núi trắng xóa màu đá, không còn cành cây cọng cỏ nào bình thường.
Thời điểm đó, bên ngoài đã tin chắc trung đội pháo 12 ly 7 gồm 26 chiến sĩ, do Lưu Thành Trì chỉ huy đã hi sinh cả. Ba ngày sau, khi đã im tiếng pháo, một trinh sát vào chuyển lệnh rút, trung đội của ông mới rời chốt.
Video: Phim tư liệu quý giá về sự khốc liệt của Chiến tranh biên giới 1979
Ông
Trì nhớ lại: “Lúc ra tuyến sau, đi dọc đường, thấy nhiều tử sĩ quá. Anh
em được gói trong tăng võng. Trời mưa tầm tã, cô y tá phát chiếc khăn,
hộp dầu cao, để tôi đi nhận dạng đồng đội. Dù thi thể đồng hương Phạm
Văn Đồng đã biến dạng, nhưng tôi vẫn nhận ra qua bộ quần áo và vóc dáng.30 năm nay, mỗi năm vài lần tôi về Vị Xuyên, thắp hương cho đồng đội. Tuy nhiên, tôi không biết rõ đồng hương Phạm Văn Đồng ở xã nào, không rõ gia đình có biết phần mộ anh Đồng ở đây không…”.
Tại sao con người gây ra chiến tranh
| Tác giả | Myriam Revault d’Allones |
| Ngôn ngữ | Tiếng Việt |
| Lĩnh vực | Phát triển Thiếu nhi |
| Dịch giả | Trúc Đào |
| Năm xuất bản | 2010 |
| Đơn vị xuất bản | Tri thức |
| Giá sách | 18.000 đ |
Tất nhiên là chúng ta không thích chiến
tranh. Không ai muốn gây chiến tranh, chứng kiến và chịu đựng chiến
tranh. Tất cả đều biết rằng chiến tranh chỉ đem lại những đau khổ và mất
mát, chiến tranh không tránh khỏi gieo cái chết bởi vì mục đích của mỗi
bên tham chiến là chiến thắng kẻ thù của mình. Và để “thắng” người ta
tìm cách giành được chiến thắng bằng mọi cách: chiến tranh là bạo lực
không giới hạn.
Chiến tranh là một kiểu bạo lực - tức là
một cách dùng sức mạnh thể chất và tinh thần để ép buộc người khác -
nhưng còn có nhiều kiểu bạo lực khác nữa. Chiến tranh không phải là một
thứ bạo lực bất kỳ. Đó là một thứ bạo lực không có giới hạn, bởi vì
trong thời chiến những người tham chiến, những binh lính có quyền giết
kẻ thù của mình. Như vậy là họ được phép làm cái điều mà họ không được
phép làm trong thời bình.
Chiến tranh là một hành động bạo lực để
buộc kẻ thù phải thực hiện ý chí của chúng ta và chịu khuất phục ý chí
đó. Và mỗi bên, mỗi phe đều rơi vào một tình thế giống hệt nhau và hành
động với một ý định giống nhau, đây là nguyên nhân dẫn đến những hành
động cực đoan, tức sự đấu tranh sống mái.
Khi một cuộc chiến tranh kết thúc, có
người chiến thắng và người bại trận. Người chết có thể thuộc về cả bên
thắng lẫn bên thua. Người chết không chỉ là binh lính, người tham chiến,
mà còn là những người không tham chiến, những dân thường, và trong số
họ có trẻ em. Cách nào đó, đây là điều mà ai cũng biết bởi vì hằng ngày
chúng ta nhìn thấy qua truyền hình những hình ảnh về chiến tranh: những
hình ảnh dữ dội, gây phẫn nộ, và chúng ta có lý khi phẫn nộ, bởi vì
không gì tồi tệ hơn là việc tự làm cho mình quen với điều ta không được
phép chấp nhận, với cái không thể chấp nhận.
Như vậy, tất cả mọi người đều nhất trí
vấn đề trên - chúng ta không thích chiến tranh: chúng ta yêu hòa bình
hơn, chúng ta thích chung sống với những người khác, chuyện trò với họ,
tranh luận - cho dù chúng ta bất đồng với nhau và bởi vì chúng ta bất
đồng với nhau, có thể đến trường bình thường, dựng xây những thành phố,
sinh sống tại đó, đi du lịch và không phải sống trong mối đe dọa của bom
đạn.
Cho nên câu hỏi mà chúng ta lập tức muốn
đặt ra là: liệu con người có thể ngừng gây chiến hay không? Tại sao con
người không thôi đánh nhau để vĩnh viễn sống trong hòa bình? Liệu chúng
ta có thể nghĩ ra một thế giới không có chiến tranh?
Nhưng trước hết hãy trở lại câu hỏi và cách câu hỏi này được đặt ra: “tại sao con người gây ra chiến tranh?”.
Câu hỏi “tại sao” là câu hỏi của triết
học và đồng thời cũng là câu hỏi được mọi trẻ em đặt cho người khác và
tự đặt cho chúng. Tại sao bầu trời lại màu xanh? Tại sao trời lại có
mây? Tại sao lại có cái gì đó thay vì không gì cả? Tại sao con người lại
phải chết?
Giữa nhà triết học và trẻ em có tồn tại
một sự đồng lõa rất kín đáo. Người lớn và trẻ em đặt cùng những câu hỏi
như nhau và hầu như dưới hình thức giống hệt nhau: tại sao sự vật lại
như chúng đang là? Do đâu mà có cái này hay cái kia? Tại sao chúng ta
lại làm điều này chứ không phải điều khác? Rắc rối nằm ở chỗ đây là
những câu hỏi không phải bao giờ chúng ta cũng có thể trả lời được. Bất
luận thế nào, chúng ta không thể bao giờ cũng trả lời bắt đầu bằng “bởi
vì là”.
Và thực tế là triết học đặt câu hỏi “tại
sao?” nhưng không bao giờ trả lời bằng “bởi vì là”. Trái lại, trong
triết học người ta suy tưởng rằng trả lời “bởi vì là” là phản triết học.
Các bậc cha mẹ cũng vậy, khi đã hết cách thì họ rốt cuộc trả lời bằng
“bởi vì là” hoặc “bởi vì nó là như thế”. Họ chẳng biết phải nói gì nữa:
không chỉ bởi vì họ thấy bị quấy rầy, họ không có thời gian hay họ phải
đi chợ v.v... Mà trên hết là bởi vì họ không có câu trả lời. Cả triết
học cũng không có câu trả lời: đây là một lý do khiến người ta thường
khẳng định rằng triết học chẳng “dùng” vào việc gì cả. Nhưng điều quan
trọng là đặt câu hỏi và đặt câu hỏi cho đúng, hoặc giả ít nhất là cố
gắng đặt câu hỏi cho đúng: thế cũng đã là rất khó rồi. Vả lại có khi
trong lúc suy nghĩ thì người ta có thể nhận ra rằng bản thân các câu hỏi
đã được đặt sai và vì thế mà ta không thể trả lời chúng. Vậy thì chúng
ta phải đặt câu hỏi của mình theo cách khác.
***
CÁC CÂU TRÍCH TRONG TÁC PHẨM
Chẳng ai mất trí đến nỗi yêu chiến tranh hơn hoà bình.
Hérodote
Nếu hai người cùng muốn một vật, khi đó không thể cả hai cùng có được vật đó,
họ trở thành những kẻ thù địch: và trong khi theo đuổi mục đích này
thì mỗi người đều ra sức phá hoặc át người kia.
Hobbes
Loài cá bị quyết định bởi bản tính của chúng là phải ăn và những con cá lớn hơn
thì ăn những con cá bé; kết quả là loài cá sống tự do dưới nước
và những con cá lớn hơn thì ăn những con cá bé hơn...
Spinoza
Không có chiến tranh giữa con người với con người,
chỉ có chiến tranh giữa nhà nước với nhà nước.
Rousseau
Không có những phẩm tính thuộc về
tính chất phi xã hội này, dĩ nhiên bản thân những phẩm tính này ít gây
thiện cảm, thì những tài năng [của con người] sẽ mãi mãi bị chôn vùi,
mãi ở trong tình trạng phôi thai, trong môi trường cuộc sống của nhũng
mục đồng xứ Arcadie, trong một sự hòa hợp, sự thỏa mãn và một tình yêu
thương lẫn nhau tuyệt vời; con người, dịu dàng như những con cừu mà họ
chăn dắt, chẳng mang lại cho cuộc sống nhiều giá trị hơn là bầy gia súc
của họ.
Kant
Giống như một đám cháy phi thường
bỗng bùng lên dữ dội nơi thung sâu giữa núi rừng khô héo. Chốn thâm u
khu rừng cháy lên và gió từ bốn phương thổi tung ngọn lửa. Cũng như thế,
Achille lao lên như một vị thần, tay cầm ngọn giáo nhảy xổ vào những kẻ
chịu trận. Máu chảy thành dòng trên mặt đất đen. Lòng chàng chỉ còn
nghĩ đến giết. Tiếng than vãn vang lên từ đống thân thể người đã nhận
mũi kiếm của chàng. Máu đỏ thành dòng.
Homère
Không gì ngụy trang nổi sự tàn nhẫn lạnh lùng của những sự kiện trong chiến tranh, bởi vì kẻ thắng cũng như kẻ bại đều không được cảm phục, cũng chẳng bị kinh bỉ hay căm ghét.
Số phận và thần thánh quyết định hầu như sự may rủi bất định của những
trận đánh … về phần những quân nhân, những sự so sánh khiến họ hiện ra,
dù họ là người thắng hay bại, như là những con vật hay những vật vô tri
vô giác chẳng thể gợi nên cảm xúc ngưỡng mộ cũng như khinh bỉ, mà chỉ gợi sự hối tiếc rằng con người sao lại có thể bị biến đổi đến như vậy.
Simone Weil
****
MỤC LỤC
Đặt câu hỏi về chiến tranh như thế nào? Chiến tranh và tình trạng văn minh,
chiến tranh và tình trạng dã man
Phải chăng mọi cuộc chiến tranh đều như nhau?
Phải chăng mọi cuộc chiến tranh đều là phi nghĩa?
Hay là có những cuộc chiến tranh chính nghĩa và có những cuộc chiến tranh phi nghĩa?
Bảng chỉ mục

Nhận xét
Đăng nhận xét