BẠN BIẾT CHƯA ? 57

(ĐC sưu tầm trên NET)

10 đại trí huệ kinh điển lưu truyền 5000 năm của Trung Hoa

Trung Hoa



Cuộc đời của mỗi người sẽ có rất nhiều những sự tình không như ý, những cảnh ngộ trái ngang, những thời điểm nhấp nhô… Chúng ta nên đối mặt với những điều này như thế nào? Hãy đọc xong những câu danh ngôn đầy trí tuệ dưới đây, nhắm mắt lại hồi tưởng, biết đâu bạn sẽ có thể tìm ra đáp án!

1. “Thượng thiện nhược thủy, xử hạ bất tranh”

Tạm dịch nghĩa: Thiện giống như nước, ở chỗ thấp mà không tranh giành
Lão Tử nói: “Thượng thiện nhược thủy, thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh, xử chúng nhân chi sở ác, cố kỷ vu đạo.” Là có ý nói rằng, cảnh giới cao nhất của thiện hạnh là giống như đặc tính của nước. Nước không tranh giành lợi với vạn vật, nằm ở nơi mọi người không chú ý, cho nên nước là gần với Đạo nhất.
Trong học thuyết Đạo gia nói: “Thủy vi chí thiện chí nhu” (ý nói nước là vô cùng thiện, vô cùng mềm). Nước nhỏ thì im ắng không một tiếng động, nước lớn lại vô cùng mãnh liệt. Nước không tranh giành cùng người lại dung nạp được vạn vật, nuôi dưỡng vạn vật. Con đường của cuộc đời, cũng chỉ mong làm được như nước mà thôi!

2. “Đại trí nhược ngu, vật thị thông minh”

Tạm dịch nghĩa: Người trí tuệ giả ngu, không cậy mình thông minh
“Đại trí nhược ngu” là câu thành ngữ của Trung Hoa cổ đại. Câu thành ngữ này xuất phát từ “Hạ Âu Dương thiếu suất trí sĩ khải” của Tô Đông Pha đời Tống: “Đại dũng nhược khiếp, đại trí nhược ngu” là có ý nói rằng người có tài trí cao nhưng không để lộ tài năng, vẻ ngoài biểu hiện ra giống như một người ngu dốt nhưng thực ra lại là người trí tuệ.
Lão Tử nói: “Đại âm hi thanh, đại tượng vô hình” đều là có ý tứ này. Người có thể “đại trí nhược ngu” là người đã thông suốt, đã giác ngộ mới có thể làm được. Đây là thể hiện công phu và bản lĩnh của bậc đại trí.

3. “Đạm bạc điềm thích, minh tâm lập chí.”

Tạm dịch nghĩa: Điềm nhiên không màng danh lợi, tâm sáng lập chí.
“Đạm bạc minh chí” (Không màng danh lợi, định rõ chí hướng) là câu ra đời đầu tiên trong “Hoài Nam Tử: Chủ thuật huấn” của Lưu An, thời đầu Tây Hán.
Trong “Giới tử thư” của Gia Cát Lượng cũng có trích dẫn: “Phi đạm bạc vô dĩ minh chí, phi ninh tĩnh vô dĩ trí viễn” (Không đạm bạc thì không thể sáng cái chí, không yên lặng thì không thể nghĩ được xa). “Đạm bạc” là một loại tư tưởng cổ xưa của Đạo gia. Lão Tử cũng giảng: “Điềm đạm vi thượng, thắng nhi bất mỹ” (Điềm đạm là thượng sỹ, thắng cũng không đắc ý)
Nếu như cái tâm không thanh tịnh, ham muốn không giảm xuống thì sẽ khiến cho cái chí của mình không sáng tỏ kiên định. Không an định thanh tĩnh thì không thể thực hiện được lý tưởng cao xa, cũng không chịu khó chịu khổ mà học được.

4. “Tích thủy xuyên thạch, quý tại kiên trì”

Tạm dịch nghĩa: Nước chảy đá mòn, cái quý là ở sự kiên trì
Câu này có nguồn gốc từ cuốn “Hạc lâm ngọc lộ” của La Đại Kinh thời Tống: “Nhất nhật nhất tiễn, thiên nhật thiên tiễn, thằng cứ mộc đoạn, thủy tích thạch xuyên” (Một ngày một đồng, nghìn ngày nghìn đồng, thừng cưa gỗ đứt, nước chảy đá mòn).
Triều Tống, Trương Quai Nhai làm huyện lệnh huyện Sùng Dương. Một hôm ông nhìn thấy một vị tiểu quan lại đi từ kho của phủ ra với vẻ bối rối, trong khăn chùm đầu có cất giấu một lượng tiền. Trương Quai Nhai hạ lệnh tra khảo.
Tiểu quan lại không phục nói rằng: “Một đồng tiền thì tính toán làm gì?Ông chỉ có thể đánh ta, không thể giết ta được.”
Trương Quai Nhai tức giận nói: “Một ngày một đồng, ngàn ngày ngàn đồng, thừng cưa gỗ đứt, nước chảy đá mòn. Chém đầu!”

5. “Hậu tích bạc phát, dĩ nhu khắc cương”

Tạm dịch nghĩa: Tích lũy nhiều dùng ít một, lấy nhu thắng cương
“Hậu tích bạc phát” nguyên là câu “Quân tử hậu tích nhi bạc phát”. Trong “Giá thuyết tống Trương Hổ” của Tô Đông Pha có câu: “Bác quan nhi ước thủ, hậu tích nhi bạc phát”. Ý nói rằng, đọc sách nhiều đến đâu cũng chỉ có thể chắt lọc tinh hoa mà giữ lại, tích lũy nhiều đến đâu cũng chỉ có thể dùng từ từ từng chút một.
“Dĩ nhu khắc cương” ý nói dùng thái độ mềm mỏng, nhu hòa để đi đối đãi, khắc chế cái cứng rắn. Học thuyết của Đạo gia cũng là chủ trương thuận theo tự nhiên, vạn vật tương sinh tương khắc.  Không phải lúc nào cũng có thể dùng cái “cứng rắn” để đi giải quyết vấn đề, dùng “mềm mỏng, nhu hòa” mới thắng được.

6. “Hải nạp bách xuyên, bao dung hàm tàng”

Tạm dịch nghĩa: Biển có thể dung nạp nước của hàng trăm ngàn con sông, dung nạp được tất cả.
“Hải nạp bách xuyên” có nguồn gốc từ câu “Hình khí bất tồn, phương thốn hải nạp” trong “Tam quốc danh thần tự tán” của Viên Hoành, nhà Tấn. Lý Chu Hàn chú giải: “Phương thốn chi tâm, như hải chi nạp bách xuyên dã, ngôn kỳ bao hàm nghiễm dã.” Ý chỉ biển cả có thể dung chứa nước của hàng trăm hàng ngàn con sông, có thể dung chứa được trăm ngàn sông nên mới thành ra to lớn. Ý muốn nói rằng, khoan dung, rộng lượng, ý chí phóng khoáng là biểu hiện của một người có tu dưỡng.

7. “Giới kiêu khư táo, bình đẳng đãi nhân”

Tạm dịch nghĩa: Không kiêu căng, loại bỏ nóng nảy, đối xử bình đẳng với mọi người.
Khổng Tử nói:  “Quân tử thái nhi bất kiêu, tiểu nhân kiêu nhi bất thái” (Người quân tử thư thái mà không kiêu căng, kẻ tiểu nhân kiêu căng mà không bình an). Lão Tử nói: “Thận chung như thủy, tắc vô bại sự” (Cẩn thận từ đầu đến cuối thì không bại sự).

8. “Hàm dưỡng tâm tính, tĩnh định quy chân”

Tạm dịch nghĩa: Hàm dưỡng tâm tính, trở về bản tính nguyên sơ ban đầu.
Câu này là một loại giáo lý của Đạo giáo. Người tu luyện Đạo gia chính là muốn thông qua tu hành và tu luyện bản thân khiến cho sinh mệnh trở về trạng thái nguyên sơ ban đầu. Họ cho rằng, bản tính nguyên sơ của con người là thuần phác và chân thật, là gần với bản tính của “Đạo”. Chúng ta thường nghe thấy câu “trẻ em ngây thơ hồn nhiên”. Nhưng bởi vì theo quá trình phát triển, suy nghĩ dục niệm không ngừng sinh ra, hoàn cảnh xã hội ảnh hưởng và sự hấp dẫn của tình, sắc, tài đã khiến cho bản tính nguyên sơ dần dần bị mất đi. Con người cần phải tu dưỡng tâm tính, vứt bỏ dục vọng mà quay trở về.

9. “Tâm thành tắc linh, duy đức cảm thiên”

Tạm dịch nghĩa: Có tâm thành thì tắc sẽ linh, duy chỉ có phẩm đức là cảm động được trời.
“Tâm thành tắc linh”, điểm mấu chốt phải làm được là “tâm”“thành”. Cũng giống như “chính tâm” và “thành ý” trong “Lễ Ký” đã viết. Chỉ cần kiền tâm thành ý thì có thể sinh ra linh nghiệm. Chỉ cần có tín niệm kiên định, tâm thái và nguyện vọng chính xác thì có thể thực hiện, đây là “tâm thành tắc linh”. Từ xưa đến nay, bên nhà Phật đều là dùng “tâm thành tắc linh” để đối đãi.

10. “Đại đạo chí giản, thuần phác tự nhiên”

Tạm dịch nghĩa: Đại đạo là cực kỳ đơn giản, thuần phác tự nhiên
“Đại đạo chí giản” là tư tưởng của Đạo gia. Đạo là một khái niệm trọng yếu, mang ý nghĩa là “đạo lý cuối cùng nhất”. Loại khái niệm này, không chỉ có bên Đạo gia mà Nho gia cũng coi trọng, ngoài ra cũng có nhiều trường phái sử dụng. “Đại đạo chí giản” ý nói rằng, đạo lý lớn (nguyên lý cơ bản, phương pháp và quy luật) là cực kỳ đơn giản, đơn giản đến mức chỉ dùng một, hai câu là nói rõ được. Chính là điều mà người ta gọi là “Chân truyền nhất cú thoại, giả truyền vạn quyển thư” (Chân truyền một câu, giả truyền vạn cuốn sách).
Theo NTDTV
Mai Trà biên dịch


Gia quy của gia tộc có nhiều Hoàng hậu nhất Trung Hoa: Chỉ có 6 chữ này

(Ảnh: Internet)
(Ảnh: Internet)
Trong 1700 năm, gia tộc họ Vương đã bồi dưỡng được 36 Hoàng hậu, 36 Phò mã và 35 Tể tướng trong các triều đại của Trung Hoa. Đây được ghi nhận là “Trung Hoa đệ nhất vọng tộc.”
Điều khiến mọi người kinh ngạc hơn chính là để được ghi nhận là “Trung Hoa đệ nhất vọng tộc,” họ chỉ dựa vào “gia quy thần bí” với vẻn vẹn 6 từ.
Mọi người thường nghe thấy câu “phú bất quá tam đại” ý nói rằng “giàu không quá ba đời” và đây cũng là điều mà nhiều gia đình gặp phải. Nhưng điều khiến mọi người chấn động chính là một “gia quy thần bí” lại có thể khiến cho gia tộc họ Vương ở Lang Gia, Sơn Đông vượt qua rất nhiều kiếp nạn, chịu đựng được đủ loại thử thách. Suốt 1700 năm kéo dài từ Đông Hán đến Minh Thanh, gia tộc này đã bồi dưỡng được 36 Hoàng hậu, 36 Phò mã và 35 Tể tướng (điều này được ghi chép lại trong “Nhị thập tứ sử.” Gia tộc này đã trở thành gia tộc hiển hách nhất lịch sử và được xưng là “Trung Hoa đệ nhất vọng tộc.”
Điều khiến mọi người kinh ngạc hơn là gia quy của gia tộc này chỉ vẻn vẹn có 6 từ là: “Ngôn nghi mạn, tâm nghi thiện” (Hiểu là: Nói nên chậm, tâm nên thiện). Nhưng chỉ với 3 từ: “Ngôn nghi mạn” đã có thể giúp thủy tổ của họ Vương là Vương Cát thuận lợi vượt qua đủ loại cửa ải chốn quan trường. Trong vòng 10 năm từ một vị quan huyện trở thành một trọng thần của triều đình, danh thần Tây Hán, Vương Cát đã đem 6 chữ “Ngôn nghi mạn, tâm nghi thiện” làm gia quy của dòng tộc họ Vương.
6 chữ này đã tạo phúc cho con cháu nhiều đời sau của họ Vương. 6 chữ gia quy này cũng sáng tạo ra những kỳ tích khiến con người khó tin!

(Ảnh: Internet)
(Ảnh: Internet)

“Ngôn nghi mạn” (Nói nên chậm)

“Ngôn nghi mạn” là bí kíp mà Vương Cát học được từ một ông lão cao tuổi ở phủ Xương Ấp Vương vào năm 77 trước Công nguyên khi ông từ Thất phẩm tri huyện được điều chuyển lên làm Ngũ phẩm trung úy ở Vương phủ đó.
Xương Ấp Vương Lưu Hạ mặc dù là cháu đích tôn của Hán Vũ Đế nhưng lại hoang dâm vô độ, hỉ nộ vô thường, bên cạnh ông ta đều là những kẻ tiểu nhân nịnh nọt bợ đỡ âm mưu nham hiểm. Trong chốn quan trường như vậy, Vương Cát đương nhiên sẽ cảm thấy vô cùng buồn rầu, lo phiền. Nhưng may mắn chính là Vương Cát đã gặp được một ông lão và ông lão này đã chỉ cho Vương Cát con đường thoát khỏi lầm lạc bằng cách đã tặng ông ba chữ “Ngôn nghi mạn.” Dựa vào 3 chữ này, Vương Cát đã lần lượt vượt qua được những nguy hiểm.
Trong chốn quan trường, ông cũng giành được rất nhiều danh tiếng. Ông đã được Hán Vũ Đế Lưu Tuần phong chức làm “Gián nghị đại phu” với nhiệm vụ can gián vua không mắc phải những quyết định sai lầm. Ông trở thành một trọng thần của triều đình được Hoàng đế tin tưởng trọng dụng.
Nói chuyện là thể hiện trí tuệ của một người. Đặc biệt là người trẻ tuổi, bởi vì kinh nghiệm cuộc đời còn ít nên thường nói những lời thiếu sót, có hại. Trong “Luận ngữ” của Khổng Tử có câu: “Ngôn vị cập chi nhi ngôn vị chi táo”.
“Ngôn vị cập chi nhi ngôn, vị chi táo,” khi chưa đến lượt mình nói mà mình cướp lời, đây chính là phạm vào tật xấu là “nóng nảy”. Có một ngày Khổng Tử ngồi đàm luận với mấy vị đệ tử về chí hướng. Tử Lộ tính tình hấp tấp vội vàng, khi Khổng Tử còn chưa nói hết lời thì Tử Lộ đã chen ngang. Nhưng Tử Lộ tuyệt đối không nghĩ rằng một lần như vậy của mình lại khiến Khổng Tử thưởng cho một “tiếng cười nhạt.” Đây là một bài học cực kỳ sâu sắc của Tử Lộ.
Điều này nói cho chúng ta biết rằng, nói chuyện là một môn nghệ thuật, nhất định phải cẩn thận. Trong lịch sử, những trường hợp bởi vì nói sai mà đắc tội với người thậm chí phải trả giá thê thảm nhiều không kể xiết. “Nói chậm” là có ý khuyên bảo chúng ta rằng, lời nói khi phát ra phải được thông qua suy nghĩ kỹ càng. Như vậy cũng sẽ khiến chúng ta trở nên thận trọng, vững vàng và bình tĩnh hơn. Nó giúp rèn luyện chúng ta thành người có nhân cách của người đại khí. Ngữ điệu giọng nói chậm rãi từ tốn thì người nghe mới có thể cảm thấy được tôn trọng, ân cần và dễ nghe.

“Tâm nghi thiện” (Tâm nên thiện)

“Tâm nghi thiện” là 3 từ được ông lão cao tuổi ở phủ Xương Ấp Vương tặng lần thứ hai cho Vương Cát vào năm 67 trước Công nguyên. Nguyên lai là do khi được thăng chức lên cao, Vương Cát xuất hiện tâm lý lợi dụng chức quyền để “trả đũa” kẻ thù của mình. Ông đã khiến những người bất đồng với mình phải bị thê thảm.
Ví dụ, Trưởng sử Triệu Lạc bởi vì bất đồng chính kiến với Vương Cát nên bị Vương Cát vạch tội cuối cùng bị bãi quan về quê. Không lâu sau, Triệu Lạc buồn bực uất hận mà chết. Khi được ông lão cao tuổi khuyên can, Vương Cát đã tận tâm cải sửa, không làm viêc hại người mà khách quan công chính đối đãi với mọi người. Điều này khiến ông càng ngày càng được nhiều người yêu mến. Mặc dù cả đời sống trong chốn quan trường hiểm ác nhưng lại được bình an tự tại. Có sử sách nói rằng, ông lão đã tặng cho Vương Cát 6 chữ này chính là Tể tướng của thời Hán Vũ Đế – Công Tôn Hoằng.

“Tâm nghi thiện”, giúp mọi người làm việc tốt tất sẽ có phúc báo.

Mạnh Tử đã nói: “Quân tử chi sở dĩ dị ư nhân giả dĩ kỳ tồn tâm dã. Quân tử dĩ nhân tồn tâm, dĩ lễ tồn tâm. Nhân giả ái nhân, hữu lễ giả kính nhân. Ái nhân giả, nhân hằng ái chi; kính nhân giả, nhân hằng kính chi.” (tạm dịch: Người quân tử khác người thường ở chỗ giữ tâm. Người quân tử lấy lòng thương người để giữ tâm, lấy lễ để giữ tâm. Người có Nhân tức người có lòng thương người, người có Lễ tức người biết kính người. Yêu người thì được người yêu lại, kính người thì được người kính lại). 
Người có tâm thiện, vui vẻ giúp người, cứu người lúc nguy nan thì những người xung quanh đều sẵn lòng kết giao với và càng muốn giúp đỡ lại. Trong “Đạo Đức Kinh” của Lão Tử nói: “Thiên đạo vô thân, thường dữ thiện nhân” (tạm dịch: Đạo trời không có thiên vị, thường giúp người lành).
“Tâm nghi thiện” có thể khuyếch trương dương khí của con người. Người xưa có câu: “Hành thiện tối nhạc” (ý nói làm việc thiện vui sướng nhất). Lòng người thật vô cùng kỳ lạ, khi chúng ta làm bất kể việc gì không tốt thì trong lòng sẽ thấy bất an, không vui vẻ nổi, nội tâm không thoải mái. “Bất an, không thoải mái” này không phải là đối với người khác mà là đối với chính bản thân mình. Lâu dần, sắc mặt thần khí đều sẽ trở nên xấu xí, tinh thần khác thường. Nếu như một người tuyệt đối làm việc thiện không vì điều kiện gì, trợ giúp người khác, làm việc có lợi cho người khác thì trong lòng người ấy chắc chắn sẽ vô cùng vui vẻ hạnh phúc.

(Ảnh: Internet)
(Ảnh: Internet)

“Ngôn nghi mạn, tâm nghi thiện”, tại sao gia quy chỉ vẻn vẹn với 6 chữ này lại có sức mạnh kỳ diệu đến như vậy? Khi còn trẻ nhất định phải “ngôn nghi mạn” bởi vì như vậy sẽ giảm thiểu được phạm sai lầm, bảo vệ được bản thân mà tiếp tục phát triển. Người đến tuổi trung niên, tâm trí đã trưởng thành, thực lực đã hùng mạnh, lúc này nên “Tâm nghi thiện.” Như vậy mới có thể giảm thiểu người đối địch, có phong độ khí phách, được mọi người kính trọng.
6 từ này nhìn thì thấy đơn giản vô vị, nhưng lại hàm chứa đạo lý thâm sâu về làm người của người xưa. Một người làm được 6 chữ này sẽ có được nhân cách của người đại khí, có phúc báo và sống cuộc đời thong dong an bình.
Theo NTDTV
Mai Trà biên dịch


Thế nào là “đạo của người quân tử”?

3e9b7a9c5c1


Khổng Tử bàn về đạo của người quân tử như sau:
Đức của người quân tử
Khổng Tử nói: “Nhan Hồi có bốn đức mà người quân tử cần có: một là thực hành nhân nghĩa kiên định; hai là sẵn sàng vui vẻ tiếp nhận lời khuyên bảo của người khác; ba là thận trọng khi nhận lộc quan; bốn là khiêm tốn, cẩn trọng trong lời nói cũng như việc làm. Sử Thu cũng có ba đức như thế: một là tuy không có chức tước gì nhưng vẫn luôn giữ lòng trung với cấp trên; hai là tuy không thờ cúng nhưng vẫn luôn biết tôn kính quỷ thần; ba là đối với mình thì nghiêm khắc, với người thì khoan dung”. 
Tăng Tham nói: “Tôi biết thầy có ba đức hay, nhưng tôi không làm được: một là thầy chỉ cần thấy người khác làm một việc tốt là có thể tha thứ cả trăm khuyết điểm trước đây; hai là thầy xem ưu điểm của người khác như của chính mình, không bao giờ đố kỵ; ba là thầy chỉ cần nghe được một câu nói hay là cố gắng đưa vào cuộc sống chăm chỉ luyện tập, không chút lơ là. Đây là những đức hay của thầy mà tôi không học được; vì thế tôi không thể bằng Nhan Hồi và Sử Thu”.
Tử Cống sẽ ngày càng sa sút
Khổng Tử nói: “Sau khi ta chết, Tử Hạ sẽ không ngừng tiến bộ, Tử Cống thì ngày càng sa sút”.
Tăng Tham hỏi: “Thưa thầy tại sao?”
1507150209291734--ss3
Khổng Tử nói: “Tử Hạ thích chơi với kẻ mạnh hơn mình, Tử Cống lại thích chơi với kẻ thua kém mình. Ta nghe nói, muốn hiểu một người có thể quan sát bạn bè và thân phụ người đó; muốn hiểu một quân vương có thể quan sát sứ giả mà ông ta phái đi; muốn hiểu tính chất đất đai có thể quan sát cây cối sinh trưởng trên đất ấy. Vì thế mới nói: ‘chơi với người hay giống như đi vào căn phòng trồng hoa lan, lâu dần sẽ không cảm nhận được hương thơm của nó nữa, vì khi đó mình cũng hòa vào mùi hương hoa rồi; ở với người xấu cũng giống như đi đến chợ cá, lâu dần cũng không còn thấy mùi hôi tanh nữa vì cũng quen mất rồi’. Vì thế, người quân tử cần biết cẩn trọng chọn lựa người ở cùng với mình”.
Nếu nước vào thuyền
Khổng Tử nói: “Thuyền không có nước thì không đi được, nhưng nếu nước vào trong thuyền thì thuyền cũng bị chìm; vua không có dân thì không có gì để gọi là trị quốc, nhưng nếu dân trèo lên đầu vua thì quốc gia cũng không còn. Vì thế, vua ở trên cao không thể không cẩn trọng; thần dân ở dưới thấp không thể không có sự ràng buộc”.
Khổng Tử bàn về “đạo của quân tử”
Cao Đình nước Tề nói với Khổng Tử: “Tôi từ nước Tề xa xôi đến đây gặp Ngài vì muốn học đạo quân tử. Mong Ngài hãy chỉ cho tôi”.
Khổng Tử đáp: “Nội tâm phải chính trực, đây là cái gốc làm người. Bề ngoài, trong công việc phải cẩn trọng, giữ vững ý chí của mình; kiên trì thực hiện nhân nghĩa; thấy người có tài đức thì khiêm tốn học tập; gặp kẻ tiểu nhân bất tài thì tránh xa. Với người quân tử có tài năng không sinh lòng đố kỵ mà phải biết học tập. Làm được như thế thì người ở xa đến mấy cũng có thể thân như anh em. Nếu không muốn học theo đạo người quân tử thì người ở gần bên cạnh cũng khó thân nhau được”.
“Còn nữa, trong cuộc sống thường ngày, mỗi ngày chúng ta nói gì, làm gì, muốn làm sao không nói lời gây tai họa, làm những việc mình phải ân hận, thật không phải dễ dàng. Chỉ có người tài năng, có trí tuệ mới làm được. Vì thế phải luôn cẩn trọng, chú ý lời nói và việc làm của mình. Cần biết: cho dù một người cả đời trước đây chưa làm điều gì sai trái, nhưng cũng có thể chỉ vì một câu nói không hay nhất thời mà bao nhiêu công lao trước đây bị mất hết. Vì thế, muốn trở thành người quân tử phải luôn luôn cẩn trọng!”
Tinh Vệ biên dịch


Điển tích: Nồi cơm của Khổng Tử

Khổng Tử và các học trò. (Ảnh internet)
Khổng Tử và các học trò. (Ảnh internet)
Một lần, Khổng Tử dẫn học trò đi du thuyết từ nước Lỗ sang nước Tề. Trong đám học trò đi với Khổng Tử có Nhan Hồi và Tử Lộ là hai học trò cưng của Khổng Tử.
Trong thời Đông Chu, chiến tranh liên miên, các nước chư hầu loạn lạc, dân chúng phiêu bạt điêu linh, lầm than đói khổ… Thầy trò Khổng Tử cũng lâm vào cảnh rau cháo cầm hơi và cũng có nhiều ngày phải nhịn đói, nhịn khát. Tuy vậy, không một ai kêu than, thoái chí; tất cả đều quyết tâm theo thầy đến cùng.
May mắn thay, ngày đầu tiên đến đất Tề, có một nhà hào phú từ lâu đã nghe danh Khổng Tử, nên đem biếu thầy trò một ít gạo. Khổng Tử liền phân công Tử Lộ dẫn các môn sinh vào rừng kiếm rau, còn Nhan Hồi thì đảm nhận việc thổi cơm.
Tại sao Khổng Tử lại giao cho Nhan Hồi – một đệ tử đạo cao đức trọng mà Khổng Tử đã đặt nhiều kỳ vọng nhất phần việc nấu cơm? Bởi lẽ, trong hoàn cảnh đói kém, phân công cho Nhan Hồi việc bếp núc là hợp lý nhất.
Sau khi Tử Lộ dẫn các môn sinh vào rừng kiếm rau. Nhan Hồi thổi cơm ở nhà bếp. Khổng Tử nằm đọc sách ở nhà trên, đối diện với nhà bếp, cách một cái sân nhỏ. Đang đọc sách bỗng nghe một tiếng “cộp” từ nhà bếp vọng lên, Khổng Tử ngừng đọc, liếc mắt nhìn xuống… thấy Nhan Hồi từ từ mở vung, lấy đũa xới cơm cho vào tay và nắm lại từng nắm nhỏ… Xong, Nhan Hồi đậy vung lại, liếc mắt nhìn chung quanh… rồi từ từ đưa cơm lên miệng ăn.
Hành động của Nhan Hồi không lọt qua đôi mắt của vị thầy tôn kính. Khổng Tử thở dài… ngửa mặt lên trời mà than rằng: “Chao ôi! Học trò cưng nhất của ta mà lại đi ăn vụng thầy, vụng bạn, đốn mạt như thế này ư? Chao ôi! Bao nhiêu kỳ vọng ta đặt vào nó thế là tan thành mây khói!”
Sau đó, Tử Lộ cùng các môn sinh khác mang rau về. Nhan Hồi lại luộc rau. Khổng Tử vẫn nằm im đau khổ. Một lát sau rau chín. Nhan Hồi và Tử Lộ dọn cơm lên nhà trên; tất cả các môn sinh chắp tay mời Khổng Tử xơi cơm.
Khổng Tử ngồi dậy và nói rằng: “Các con ơi! Chúng ta đi từ đất Lỗ sang Tề đường xa vạn dặm, thầy rất mừng vì trong hoàn cảnh loạn lạc, dãi nắng dầm mưa, đói khổ như thế này mà các con vẫn giữ được tấm lòng trong sạch, các con vẫn yêu thương đùm bọc nhau, các con vẫn một dạ theo thầy, trải qua bao nhiêu chặng đường đói cơm, khát nước… Hôm nay, ngày đầu tiên đến đất Tề, may mắn làm sao thầy trò ta lại có được bữa cơm. Bữa cơm đầu tiên trên đất Tề làm thầy chạnh lòng nhớ đến quê hương nước Lỗ. Thầy nhớ đến cha mẹ thầy… cho nên thầy muốn xới một bát cơm để cúng cha mẹ thầy, các con bảo có nên chăng?
Trừ Nhan Hồi đứng im, còn các môn sinh đều chắp tay thưa: “Dạ thưa thầy, nên ạ!”
Khổng Tử lại nói: “Nhưng không biết nồi cơm này có sạch hay không?”
Tất cả học trò không rõ ý Khổng Tử muốn nói gì nên ngơ ngác nhìn nhau. Lúc bấy giờ Nhan Hồi liền chắp tay thưa: “Dạ thưa thầy, nồi cơm này không được sạch”.
Khổng Tử hỏi: “Tại sao?”
Nhan Hồi thưa: “Khi cơm chín, con mở vung ra xem thử cơm đã chín đều chưa, chẳng may một cơn gió tràn vào, bồ hóng và bụi trên nhà rơi xuống làm bẩn cả nồi cơm. Con đã nhanh tay đậy vung lại nhưng không kịp. Sau đó con liền xới lớp cơm bẩn ra, định vứt đi… nhưng lại nghĩ: cơm thì ít, anh em lại đông, nếu bỏ lớp cơm bẩn này thì vô hình chung làm mất một phần ăn, anh em hẳn phải ăn ít lại. Vì thế cho nên con đã mạn phép thầy và tất cả anh em, ăn trước phần cơm bẩn ấy, còn phần cơm sạch để dâng thầy và tất cả anh em… Thưa thầy, như vậy là hôm nay con đã ăn cơm rồi … bây giờ, con xin phép không ăn cơm nữa, con chỉ ăn phần rau. Và… thưa thầy, nồi cơm đã ăn trước thì không nên cúng nữa ạ!
Nghe Nhan Hồi nói xong, Khổng Tử ngửa mặt lên trời mà than rằng: “Chao ôi! Thế ra trên đời này có những việc chính mắt mình trông thấy rành rành mà vẫn không hiểu được đúng sự thật! Chao ôi! Suýt tí nữa là Khổng Tử này trở thành kẻ hồ đồ!”


Văn hóa truyền thống: Kẻ trộm cũng có Đạo


李白诗意圖-胡博综
Những năm Càn Long triều đại nhà Thanh, huyện Sùng Đức (xưa gọi là huyện Thạch Môn), tỉnh Chiết Giang, có một viên tri huyện là Chương Thanh, xuất thân là người đọc sách, học vấn uyên thâm, làm quan thanh liêm, thanh danh nổi tiếng trong dân chúng. Chương Thanh đến huyện Sùng Đức đảm nhiệm chỉ có mấy năm, huyện đã trở nên an bình trật tự, dân chúng an cư lạc nghiệp, đêm không cần khóa cửa.
Lúc này, khắp huyện kế bên trộm án xảy ra liên tục, nhân tâm náo loạn. Bên trên có văn thư xuống, điều ông sang huyện lân cận làm tri huyện, chỉnh đốn tình hình ở đó. Chương Thanh một mình đến huyện ấy nhậm chức, lập tức sử dụng các biện pháp nghiêm khắc kịp thời. Từ khi ông đến nhậm chức, đạo tặc liền im hơi lặng tiếng, không còn xảy ra vụ trộm nào nữa. Chương Thanh rất nhanh chóng chỉnh đốn cả huyện trở nên an bình, hòa hợp.
Mấy tháng sau, ông đưa người nhà đến ở cùng. Ba năm nhậm chức đã qua, ông cùng gia quyến lên thuyền trở về quê. Dân chúng tự nguyện tụ tập tại bến để tiễn Chương Thanh. Trong lúc, ông từ biệt mọi người, đột nhiên có một người chạy ngang qua, đôi kính cận đang mang đã không cánh mà bay. Ông choáng váng, suýt nữa ngã xuống sông, may mà phu thuyền nhanh tay giữ chặt. Kính mắt không cánh mà bay, khiến ông nghĩ mãi không lý giải được, nói rằng bị trộm mất, thì đôi kính ấy không đáng tiền, trộm nó làm gì? Nói là đánh mất, sao lại không có chút cảm giác nào cả, ông không khỏi cứ mãi lắc đầu, cảm thấy hết sức kỳ quái. Cũng may trong hành lý vẫn còn cặp kính khác, vẫn còn nhìn được. Vì vậy, ông phất tay, bảo phu thuyền bắt đầu đi.
Buổi tối hôm đó, thuyền tạm dừng đỗ qua đêm tại một trấn nhỏ ở ranh giới của 2 huyện. Sáng sớm ngày hôm sau, Chương Thanh đột nhiên phát hiện 10 cái rương gỗ lớn đặt ở trong thuyền tất cả đều đã biến mất không còn dấu vết. Đó chính là toàn bộ gia sản của ông, ông không khỏi kinh hãi, há miệng trợn mắt, “Bọn đạo tặc to gan lớn mật, ta chưa rời khỏi huyện, chúng đã liền nổi dậy hoành hành, còn trộm cắp ngay trên đầu ta, thật sự là ghê gớm! Như thế xem ra cặp kính bị mất hôm qua dám chắc cũng chính là bọn trộm này lấy mất”.
Làm sao bây giờ? Chương Thanh suy nghĩ: “Đám đạo tặc này trộm được rồi, chắc hẳn đã xa chạy cao bay, biết bọn chúng ở đâu mà tìm, hỡi ôi, tự dằn lòng mà quên đi vậy”. Nghĩ thế, Chương Thanh thở dài, bảo nhà thuyền rời bến.
Thuyền đi 3 ngày, rốt cục đã về đến quê hương của ông một cách bình an. Ông nhìn phía xa xa, chỉ thấy trên bến chỉnh tề xếp đủ 10 cái rương lớn, nhìn qua thật là quen thuộc, trông giống như mấy cái rương mà mình đã bị đánh cắp. Chương Thanh cảm thấy mười phần kỳ quái, vội vàng cập bến, nhanh chân nhảy lên bờ chạy tới mà xem. Hỡi ôi, quả nhiên là mấy cái rương của mình, thật là may mắn! Trên cái rương còn có một phong thư, chặn lên trên là cặp kính vốn đã không cánh mà bay lúc trước.
Chương Thanh vừa mừng vừa sợ, lúc này mở phong thư ra, chỉ thấy trong thư nói rằng:
Gửi Chương đại nhân:
“Bọn tôi là một nhóm đạo tặc, vào thời ông nhậm chức, chúng tôi ái mộ thanh danh liêm khiết chính trực của ông, chưa bao giờ trộm cắp tại huyện mà ông cai quản. Nhưng là, lúc ông rời khỏi huyện có mang theo 10 chiếc rương gỗ rất lớn, không khỏi khiến chúng tôi hoài nghi không rõ ông có phải là vị thanh quan như thế hay không. Cho nên, bọn tôi đầu tiên lấy trộm đôi kính sau lại lấy trộm mấy cái rương gỗ, cũng là để cảnh báo cho ông thấy. Mở xem tất cả mấy cái rương gỗ, thấy tài sản của ông ngoài sách với sách ra, tất cả có chưa đến 32 ngân lượng. Mọi người thường nói: “Nhất Nhâm Thanh Tri Phủ, Thập Vạn Tuyết Hoa Ngân” (Một viên tri phủ thanh liêm nhậm chức, cũng có được 10 vạn ngân lượng). Ông làm huyện lệnh nhiều năm, nhưng vẫn nghèo như không. Thấy rõ ông đích thực là một vị quan thanh liêm, bách tính đã không nhìn lầm ông. Bọn tôi lúc trước đã mạo phạm nhiều, thật sự xin lỗi, đặc biệt xin trả lại những vật đã lấy trộm trước kia, mong được Đại nhân bao dung tha thứ”.
Nguyên lai là như thế! Chương Thanh trong lòng cảm thán, không khỏi lẩm bẩm: “Thật là! Thực sự là đạo tặc cũng có đạo!”
Người xưa có tiêu chuẩn đạo đức rất cao, tin Trời tin Thần, tiêu chuẩn thiện ác phổ quát là từ nội tâm của con người. Người xấu làm việc xấu vẫn có một thước đo chuẩn mực cho riêng mình. Những việc có liên quan đến vấn đề lương tâm, hoặc đối với người Đại thiện cùng với thanh quan, những đạo tặc có lương tri đều không dám xâm phạm.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32