Dai Chung la su suy ngam cua toi ve cuoc doi, xa hoi, nhan sinh
SỰ NGU XUẨN CỦA CUỘC SỐNG 4
Nhận đường liên kết
Facebook
X
Pinterest
Email
Ứng dụng khác
-
-Xét trên bình
diện đánh giá sự sống là thứ quí giá nhất trên đời, thì giết chóc lẫn
nhau, dù là giết chóc bắt buộc, là hành động điên rồ tột bậc của con
người và chiến tranh, dù là chiến tranh chính nghĩa, vẫn là sự ngu xuẩn
vô hạn, dù là sự ngu xuẩn tự giác, nhân danh bảo vệ sự sống! -Đứng lên trên tất cả mà phán xét, thì: trí tuệ siêu việt của con người thậm ngu ngốc! -Chân lý là đây: Chiến tranh là mệnh lệnh tối thượng của tự nhiên mù quáng đối với trí tuệ sáng suốt của loài người: hãy giết chóc lẫn nhau!
-----------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
Đi kèm với chiến tranh luôn là sự tàn nhẫn với chết chóc, đói
khát và lo sợ…, và cuộc chiến tranh đang diễn ra ở Syria cũng không
phải là ngoại lệ.
Chùm ảnh dưới đây sẽ phần nào giúp các bạn có được một cái nhìn về
những gì đã diễn ra , cũng như những gì mà người dân nơi đây đang phải
gánh chịu. 1.Hình ảnh những người dân Syria đang muốn chạy trốn khỏi chiến tranh 2. Sự thương vong trong cuộc chiến
3.Trẻ em cũng là nạn nhân của chiến tranh 4. Thành phố hoang tàn và đổ nát
Ảnh thông qua: ohay.tv
Bảo Nguyên – Theo ohay.tv
Khánh Ly - Hát Trên Những Xác Người
ĐẠI BÁC RU ĐÊM - Trịnh Công Sơn - Khánh Ly
ĐẠI BÁC RU ĐÊM - nhạc: Trịnh Công Sơn, hát: Khánh Ly, PPS: NNS
Đại bác đêm đêm dội về thành phố. Người phu quét đường dừng chổi lắng nghe.
Đại bác qua đây đánh thức mẹ dậy. Đại bác qua đây con thơ buồn tủi. Nửa đêm sáng chói hỏa châu trên núi.
Đại bác đêm đêm dội về thành phố. Người phu quét đường dừng chổi đứng nghe.
Từng chuyến bay đêm con thơ giật mình. Hầm trú tan hoang ôi da thịt vàng. Từng đêm chong sáng là mắt quê hương.
Đại bác đêm đêm dội về thành phố. Người phu quét đường dừng chổi lắng nghe.
Hàng vạn chuyến xe, claymore lựu đạn. Hàng vạn chuyến xe mang vô thị thành. Từng vùng thịt xương có mẹ có em.
Đại bác đêm đêm dội về thành phố. Người phu quét đường dừng chổi lắng nghe.
Đại bác đêm đêm tương lai rụng vàng. Đại bác như kinh không mang lời nguyện. Trẻ thơ quên sống từng đêm nghe ngóng.
Đại bác đêm đêm dội về thành phố. Người phu quét đường dừng chổi đứng nghe.
Đại bác đêm đêm ru da thịt vàng. Đại bác nghe quen như câu dạo buồn. Trẻ con chưa lớn để thấy quê hương.
Hàng vạn tấn bom trút xuống đầu làng. Hàng vạn tấn bom trút xuống ruộng đồng. Cửa nhà Việt Nam cháy đỏ cuối thôn.
Hàng vạn chuyến xe, claymore lựu đạn. Hàng vạn chuyến xe mang vô thị thành. Từng vùng thịt xương có mẹ có em.
Nỗi buồn chiến tranh qua thi ca miền Nam (1960-1975)
Huy Phương
Chiến tranh được định nghĩa như một cuộc tranh giành hơn thua, xung
đột vũ trang vì quyền lực, chiếm đoạt lãnh thổ, áp đặt chủ nghĩa hay để
trả thù, rửa hận. Nhiều nhóm người và dân tộc đã nhân danh nhiều thứ như
tự do, độc lập, giải phóng… để mở cuộc chiến tranh. Dù với nhân danh
nào, mục đích nào, giải phóng, áp đặt hay tự vệ hay bảo toàn lãnh thổ
thì chiến tranh cũng đem lại chết chóc, tang tóc cho cả hai bên. Chúng
ta đã thấy hàng trăm nghìn bia mộ, những vành khăn tang của cô nhi quả
phụ, những nạng chống, những chiếc xe lăn của người thương tật, cùng với
xóm làng điêu tàn, và những hậu quả để lại cho đời sống cả chục năm sau
trên mặt địa cầu cũng như những dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn con người. “Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?” “Say chốn sa trường xin chớ mỉa Xưa nay chinh chiến mấy ai về?”
Hai câu Ðường của Vương Hàn đã cho ta thấy nỗi xót xa của người chiến
sĩ một lần đi không trở lại. Sau những khải hoàn môn kia, sau những
vòng hoa chiến thắng, sau những ngày lễ khao quân, sau những ”tướng công
thành” là những đống xương Vô Ðịnh, như hai câu sau đây của Bùi Hữu
Nghĩa: “Ðống xương vô định sương phơi trắng Vũng máu phi thường nhuộm cỏ cây!”
Chúng tôi xin lấy thời điểm 1954 – sau khi đất nước chia cắt và sau
đó vài năm chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc bộc phát khốc liệt. Trong
thời gian này chúng ta đã đọc được nhiều bài thơ viết về chiến tranh,
phần lớn là của những người cầm súng. Ở đây chúng tôi chưa có dịp để
trình bày với các bạn những bài thơ trong thời gian gọi là chống Mỹ cứu
nước với lòng căm thù hung hãn của những người làm thơ để “biểu diễn lập
trường.”
Với cái nhìn tổng quát, tôi xin nói về thơ chiến tranh của những thi
sĩ, trong cuộc chiến tranh để bảo vệ miền Nam trong hơn hai mươi năm.
Cũng xin nói thêm về danh từ phản chiến. Chỉ có những kẻ buôn súng mới
thích chiến tranh, còn ngoài ra không ai yêu chiến tranh, ai cũng chống
lại chiến tranh, mà người ta gọi bằng danh từ “Sợ phản chiến.” Nhưng
phản chiến không chỉ là đào ngũ, trốn lính, để trở thành hippy, bụi đời…
mà phản chiến cũng có thể vẫn cầm súng và làm hết bổn phận công dân của
mình.
Chúng ta có những nhà thơ phản chiến không mang danh nghĩa “bất phục
tòng,” hiện diện trong quân đội, có mặt trên chiến trường và vẫn làm thơ
lên án chiến tranh. Ðó là ưu điểm của nền văn nghệ miền Nam.
Trong những tác giả có thơ chiến tranh mà tôi trích dẫn nơi đây đã có
người nằm xuống trong cuộc chiến, vì người thơ không sống nổi qua một
cuộc chiến quá dài. Hiện nay việc sưu tập thơ trong chiến tranh đã gặp
nhiều khó khăn và nhiều tài liệu đã thất lạc, qua bao nhiêu lần khổ nạn
của đánh tư sản, thiêu hủy văn hóa phẩm, di tản, vượt biển.
Là người làm văn hóa, nhà văn, thi sĩ, họa sĩ, điêu khắc gia… chúng
ta đã chia sẻ gì với đất nước, với con người về nỗi buồn của chiến
tranh, cao hơn là nỗi đau đớn của chiến tranh.
Ðiều đáng ghi nhận là suốt trong những dòng thơ của những người miền
Nam cầm súng, không thấy ai căm thù, không thấy ai cao giọng hô hào cho
chủ nghĩa, không thấy ai đòi ăn gan uống máu quân thù. Họ coi chiến
tranh như chuyện tất nhiên phải làm, một bổn phận đưa đẩy, thậm chí là
một thứ trò chơi lớn, do đó những người thơ cầm súng cũng chấp nhận cái
chết, sẽ đến bất ngờ, nếu có, một cách thư thái nhẹ nhàng.
Tôi ghi lại đây bốn cái nhìn về chiến tranh:
1. Thảm cảnh của chiến tranh,
2. Chiến tranh như một thứ trò chơi của số mệnh,
3. Lòng nhân ái trong thơ của người lính miền Nam,
4. Nỗi buồn của người lính sau chiến tranh. – Thảm cảnh của chiến tranh:
Chiến tranh trước hết là địa ngục. Ở đó là máu lửa, bom đạn, chết
chóc, mẹ góa con côi, què cụt… Mô tả chiến tranh thì mỗi người nhìn từ
một góc cạnh, kẻ trực tiếp cầm súng làm chiến tranh, đối diện với kẻ
thù, người là nạn nhân mất chồng, mất cha, người thấy chiến tranh hiện
diện đe dọa cuộc sống bình thường trong thành phố. Chúng ta sẽ thấy nỗi
bi thảm chiến tranh hiện diện thế nào trong thơ.
Mai Trung Tĩnh đã vẽ một bức tranh tổng thể về chiến tranh trên quê
hương miền Nam, nơi ông đã sống và phục vụ trong quân đội trong bài thơ
mang nhan đề “Quê Hương”: “Những bình minh rớm máu Những hoàng hôn nghĩa trang Những ruộng đồng thi thể Những núi đồi thịt xương Khóc không còn nước mắt Ăn không trọn bát cơm Học chẳng thành ra học Chơi không còn chỗ chơi Tuổi trẻ uống đạn bom Bao lần chưa biết đã Bè bạn lá mùa thu Rụng mỗi lần lả tả Cái chết như tặng vật Tình yêu quán nghỉ chân Mười lăm trông mười bảy Ba mươi nhìn năm mươi.”
Vào sâu từng hoàn cảnh, từng địa phương, chúng ta sẽ thấy chiến tranh
nhìn từ mọi phía, nơi mặt trận đầy đạn bom, tại một đơn vị vừa có nhiều
người cầm súng hy sinh, hay một góc nhà vĩnh biệt quạnh hiu. Với Trần
Hoài Thư, người lính thám báo SÐ 22 BB, trực tiếp tham gia chiến tranh: “Pháo chụp người gào khan cổ họng Máy sôi tắt nghẹn chờ phi tuần Miểng thép đâm xiên thằng bạn gục Hỏa châu vàng thoi thóp triền sơn.”
Với Tô Thùy Yên, người lính làm thơ vùng sình lầy, sông rạch của miền Nam: – “Di tản khó – sâu dòi lúc nhúc Trong vết thương người bạn nín rên Người chết mấy ngày chưa lấy xác Thây sình, mặt nát, lạch mương tanh,”
hay: “Trời ơi những xác thây la liệt Con ai, chồng ai, anh em ai?” (TTY)
Lan Sơn Ðài, một nhà thơ trẻ, đã viết những dòng thơ buồn sau đây
trên tuần báo Khởi Hành năm 1969, khi chiến tranh tới hồi khốc liệt, lúc
thoát chết mà không biết nên khóc hay nên cười: “Khi tôi về theo đơn vị ở Tân Uyên, đêm không bóng đèn, ngày chói chang nắng phủ từng mùa trăng lùng địch tận chiến khu D, những ngày nơi đây tôi không hy vọng được về chết – nhất định tưởng rằng tôi sẽ chết bao nhiêu đói rét – ôi nhọc nhằn hết sức, vinh quang đâu – đời tôi đó hôm nay bạn bè tôi, thằng hóa đá, đứa mây bay đứa còn kẹt ở chiến khu một cánh tay, một bàn chân, dăm ba sợi tóc điều không tưởng là tôi được thoát nên biết cười hay nên khóc thế nào đây?” Và với Trần Thuật Ngữ, chiến tranh là vô nghĩa và vô định: “lòng theo chân bước mịt mờ thịt xương ủ lạnh ngọn cờ đỏ tươi từ đi theo vết máu người ngủ trong tiếng nổ quên lời chim ca người nằm trong đất xót xa người đi trên đất xương da rã rời.”
Và đây, với Nguyễn Phúc Sông Hương, người lính đang thực sự chiến đấu
trên mảnh đất đồng bằng Nam Bộ, thấy bạn bè ngã gục trước mắt mình: “Ngày đầu nhảy xuống rừng An Lộc Tuấn, Bé, Hùng, An đã giã từ Ðành lấp hình hài khắc dấu đá Quan tài chôn bạn chiếc poncho.” “…Chỉ hai trăm mét mà xa lắm Trảng trống đã rơi mấy chục người Trảng trống, đời ta nhiều trảng trống Và nhiều cao địa núi sông ơi!” Ðây là câu hỏi của một người chiến binh khác, Ý Yên: “Sau những đợt xung phong ào thác lũ Còn lại gì, vườn trống cạnh nhà hoang?”
Ngy Hữu, một người lính làm thơ khác đã viết những lời trối trăn gần như tuyệt vọng: “em biết không tháng ngày bom đạn phá những thằng con trai chết tuổi hai mươi anh nhìn lại bốn năm miền máu lửa xót xa đầy hồn du tử em ơi. “ngày mai anh về nghĩa trang quân đội người lính còn ngồi ôm súng không em xin đừng khóc nếu một lần em tới vì với đời – anh tình nguyện quên tên.”
Cũng trong hoàn cảnh những chiếc quan tài người lính mới được đưa về
hậu cứ hay ở quận lỵ heo hút, đôi khi chẳng có khói nhang, với cái nhìn
của Tô Thùy Yên: Áo quan phong quốc kỳ oanh liệt Niềm thiên thu đầm cỗ xe tang Quê nhà không tiện đường đưa tiễn Nghĩa tận sơ sài đám lạnh tanh. (thơ TTY)
Nếu được vẽ một bức tranh về chiến tranh thì Thái Hải Ngạn sẽ vẽ như thế này: “Vẽ quê hương khói đạn mù Vẽ anh em với mắt thù bao năm Vẽ em thơ chết trăng rằm Vẽ đêm phố chợ điêu tàn gạch vôi.”
Ðối với Ðịnh Giang, không còn cả tương lai cho thế hệ mai sau: “Mau lớn khôn đi con Góp mặt cùng bè bạn Ðêm nhìn nắng hỏa châu Ngày nhìn mưa bom đạn” … “Cha cuộc đời lính tráng Mười năm vác súng rồi Mỗi năm giờ sum họp Ngắn hơn giờ chia phôi.”
Tống Châu An ghi lại nỗi buồn trong một đêm đi kích ở miền quê: “Quê hương chinh chiến mù mù Ðêm nghe chinh phụ à ời ru con.”
Trái với những người làm thơ ngoài mặt trận, Lê Thị Huệ nhìn chiến
tranh ở hậu phương, trên phố phường qua những chướng ngại trên đường
phố, đó là những lô cốt, với những cái nhìn phản chiến, hờn giận: “Tôi lớn dậy cùng những lô cốt chắn đường, Tử thủ phố phường ướt những đêm kinh con gái Máu chảy lai láng chiến trường trong bản tin buổi sáng Lô cốt. Lô cốt. Những hàng rào kẽm gai! Gai đâm ngang mặt trời quê hương chiến tranh Tôi không biết được mùi hương của những nụ hoa chanh Nở cốm xanh trời việt Nam những trưa hè lưu tán Họ để lại lô cốt những cái bướu trâu Mọc u óc khắp tử cung tôi thời hậu chiến Chúng nổi tự bao giờ làm sao tôi hiểu thấu Những lô cốt còn lại từ một cuộc chiến tranh.”
Ðây cũng là cái nhìn về chiến tranh qua đời sống người dân ở một quận lỵ miền Nam, qua thơ của Thạch Nhân: “Buổi sáng nhìn những chuyến xe đò chạy vào quận lỵ những chuyến xe chạy chậm hơn rùa những mô đất cao, những ổ gà có thể là bóng tử thần đang chờ đợi chúng ta Buổi sáng nhìn những mái nhà, những ngôi chùa sụp đổ ôi quả đạn nào vừa rơi trúng đêm qua những xác người, những trái tim ngừng thở đứa bé nhà ai khát sữa kêu la”...
Không chia sẻ, làm sao hiểu được nỗi đau của người trong cuộc, khi
mất đi 1/2 phần đời của mình như người quả phụ trong thơ Lê Thị Ý, chua
xót với hình ảnh “anh lên lon mới giữ hai hàng nến trong”: “Ngày mai đi nhận xác chồng Say đi để nhớ mình không là mình. Ngày mai đi nhận xác anh Cuồng si một thuở hiển linh bây giờ.”
và Linh Phương, một người mà chúng ta biết rất ít, hiện ra một lần, rồi biến mất, nhưng những âm thanh còn lại để đời qua nhạc
Phạm Duy, một bài thơ với những hình ảnh xót xa nhất của chiến tranh, được coi như một bài thơ phản chiến: “Anh trở về trên chiếc băng ca Trên trực thăng sơn màu tang trắng Anh trở về chiều hoang trốn nắng Poncho buồn liệm kín đời anh Anh trở về bờ tóc em xanh Chít khăn sô trên đầu vội vã, em ơi.” – Nhà thơ nhìn chiến tranh như một trò chơi: Sống chết là số mệnh
Hầu hết những người làm thơ miền Nam là người cầm súng. Dù họ phản
chiến, nghĩa là ghét chiến tranh, chống chiến tranh, hoặc coi chiến
tranh như một điều phải làm, một điều không thể tránh. Bị động viên như
một trạng thái thụ động, hay hăng hái tình nguyện vào lính vì yêu lý
tưởng, vì không hèn, họ vẫn còn khí phách của những người trai. Ra trận,
có nghĩa là cái chết đã gần kề, không nghe ai run sợ, mà vẫn nghe sự
hào sảng, khí khái như Tô Thùy Yên sau đây -Tới đây toàn những tay hào sảng Sống chết khôn làm thắt ruột gan Cũng không ai nhắc gì thân thế Có vợ con mà như độc thân. – Bạn hỏi thăm ta cho có lệ Cuộc đời binh nghiệp – Ta cười bung Còn mươi tháng nữa lên trung úy Có thể ngày mai chữa biết chừng…
Và đây, những suy nghĩ của Trần Hoài Thư trong một đêm chuẩn bị hành quân: “Nửa đêm kẻng dục, quân ra trận kinh động cả lòng đêm tối bưng Nhận lấy chỉ ba ngày cơm gạo sấy không buồn, chỉ một chút bâng khuâng. Ðời ta là con số không vô tận May trên đầu còn chiếc mũ rừng mũ nhẹ nên coi đời cũng nhẹ Chiến tranh. Thì cũng tựa phù vân (THT)
Nguyễn Bắc Sơn, người được coi như một nhà thơ phản chiến, cũng chỉ hơi thấy một chút buồn ngày ra trận: “Ðêm nằm ngủ võng trên đồi cát Nghe súng rừng xa nổ cắc cù Chợt thấy trong lòng mình bát ngát Nỗi buồn sương khói của mùa thu. Mai ta đụng trận ta còn sống Về ghé song Mao phá phách chơi Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm Ðốt tiền mua vội một ngày vui. (Nguyễn Bắc Sơn)
Trong bài “Tiệc Tẩy Trần của Những Thằng Sống Sót,” Nguyễn Bắc Sơn đã viết: “Các bạn cũ những thằng nào vô phước, Mồ đang xanh vì cuộc chiến hôm qua, Hãy về đây mà say khướt cùng ta Này bóng mây cao, này vòm lá thấp.” Ðôi lúc giận đời cũng muốn chửi thề một tiếng: “Chửi thề mấy tiếng trong tầm pháo Thế hệ sinh lầm thuở rối ren!” (NBS) – Lòng nhân ái trong chiến tranh:
Người lính trong chiến tranh có buồn không? Xa xa, trên đường chinh
chiến gian nguy, không biết cái chết đang rình rập đâu đây, nhưng thơ
của người lính miền Nam vẫn hào khí và đầy lòng nhân ái, như những câu
thơ sau đây của Nguyễn Phúc Sông Hương, một đêm trăng tròn trên chiến
địa: Mấy tiếng tù và vang dưới lũng Chắc là địch lạc, thổi tìm quân. …Ðỉnh cao ta chẳng cần xin pháo Ðể cho người sống trọn đêm rằm.
Ai đi đánh giặc mà không muốn tìm và diệt đối thủ, nhưng ý tưởng của
Nguyễn Phúc Sông Hương cũng gần gũi với Nguyễn Bắc Sơn, coi chiến tranh
như tai trời ách nước, chết sống đều do số mệnh an bài: “Ta vốn hiền khô là lính cậu Ði hành quân rượu đế vẫn mang theo Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo Xem chiến cuộc như tai trời ách nước. Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi.”
Rõ ràng cuộc chiến như trò chơi, không căm hờn, không thù hận.
Trần Hoài Thư cũng đồng ý chiến tranh, chết sống là nghiệp số: “Kẻ bỏ ra đi người ở lại Chiến tranh thì cũng nghiệp oan chung.”
Tô Thùy Yên đã nói đến điều vô lý của chiến tranh trong bài thơ dài “Chiều Trên Phá Tam Giang”: “Hỡi gã Cộng quân sốt rét, đói Xích lời nguyền, sinh Bắc tử Nam. Vì sao ngươi tới đây? Vì sao ta tới đây? Lòng xót xa, thân xác mỏi mòn Dưới mắt ngươi làm tên lính nguy.”
hay: “Hỏi nhau chơi cho thỏa tính bông đùa Ngươi cùng ta ai thật sự hy sinh Cho tổ quốc Việt Nam – một tổ quốc…? Các việc người làm, ngươi tưởng chừng ghê gớm lắm. Các việc ta làm, Ta xét thấy chẳng ra chi!”
Những nhà thơ miền Nam, không nghe ai kêu gào giết giặc như nhà thơ
Chính Hữu của bên kia chiến tuyến, đó không phải là nỗi đau của chiến
tranh, đó là hả dạ lòng căm thù: “Mùa thu thây giặc chất sông núi, Mùa hạ thây giặc phơi đầy đồng.”
Cùng một cái nhìn đối với những xác chết ngoài trận địa sau cơn giao
tranh, Chính Hữu làm sao có được cái nhìn nhân ái đối với những con
người đã nằm xuống ngoài trận địa, để có thể đặt câu hỏi như Trần Hoài
Thư: “Ai bạn ai thù sao quá thảm, Trên một dòng cuồn cuộn oan gia”
hay pha chút đau đớn như Tô Thùy Yên: “Trời ơi, những xác thây la liệt Con ai, chồng ai, anh em ai?” – Chiến tranh chấm dứt: những người thơ miền Nam nghĩ gì? đó là nỗi buồn chưa hết, nỗi buồn sau chiến tranh:
Rồi chiến tranh đột ngột chấm dứt, người ta dùng hình ảnh người lính
bị bức tử phải buông súng, hay nói như nhà văn Cao Xuân Huy là gãy súng.
Danh từ quân đội là tan hàng, danh từ điện ảnh là đứt phim. Sáu năm
trước khi chiến tranh chấm dứt, Nguyễn Bắc Sơn đã nghĩ sẽ có một ngày: “Cởi áo trận và hoa mai ném tuốt, Xin giã từ đời vũ khí, huy chương Xin trở về như một kẻ hoàn lương Xin vứt hết, xin bắt đầu lại hết.”
và chúng ta, ai cũng có quyền mơ ước như Bùi Nghi Trang: “ngày nào đó ta trả súng trở về cha con ta vác sách thánh hiền, vác cần câu ra bờ ruộng.”
hay: “ngày nào đó ta trả súng trở về, ta sẽ kẻ lông mày cho hiền thê như Triệu Minh-Vô Kỵ”
Nhưng sau ngày 30 tháng 4, rõ ràng là những mơ ước đó không thành sự
thật, và rất nhiều điều bất trắc đang chờ đợi người lính thất trận.
Người lính không tiếc cấp bậc không tiếc danh vọng, nhưng có người đã
tiếc một cuộc đời toan tính hy sinh cho hai chữ tự do, họ tiếc vì sự
nghiệp nửa chừng dang dở. Giờ đây sau chiến tranh là nỗi nhớ chiến hữu,
nhớ bạn, nhớ bè: “Chiếc chiếu rượu bây giờ thành chiếu trống Những người xưa giờ đã bỏ đi đâu Còn lại mình tôi, cách nửa địa cầu Con ngựa lạc đàn ngậm ngùi đất khách” (Trần Hoài Thư)
Ðẹp hơn cả, trong sự hối tiếc sau chiến tranh, là họ không còn che
chở, chiến đấu được cho những người dân, những đồng bào trong vùng trách
nhiệm, bất lực trước thời cuộc đổi thay quá nhanh chóng.
Người lính miền Nam “chân theo đoàn quân rút đi, nhưng tấm lòng còn ở
lại” như ý thơ của Nguyễn Phúc Sông Hương, trong bài Nửa Hồn Xuân Lộc
mà tôi xin trích dẫn một vài đoạn sau đây để kết thúc cho bài này: ……. Hồn ta là kiếm sao không chém Rạp ngã rừng xanh, bạt núi đồi. Hỡi ơi! chân bước qua Bình Giã Cẩm Mỹ nhà ai khói, ngậm ngùi! Lửa cháy, cả lòng ta lửa cháy Xóm làng Gia Kiệm nhớ khôn nguôi. Ðêm nay Xuân Lộc, đoàn quân rút Ðành biệt nhau, xin tạ lỗi người Chao ơi tiếng tắc kè thê thiết Kêu giữa đêm dài sợ lẻ loi, Chân bước, nửa hồn chinh chiến giục Nửa hồn Xuân Lộc gọi quay lui Ta biết dưới hầm em đang khóc Thét gầm pháo địch dập không thôi…
——————— Tài liệu tham khảo: – Tạp Chí Khởi Hành của Viên Linh (bộ cũ trước 1975) – Trong dòng cảm thức văn học miền Nam (Trần Văn Nam – 2006) – Thơ Văn Hiện Ðại (Uyên Thao – 1969) – Tuyển tập thơ Trần Hoài Thư (2004) http://www.nguoi-viet.com/cuu-chien-binh/noi-buon-chien-tranh-qua-thi-ca-mien-nam-1960-1975/
MIỀN TÂY HOANG DẠI Ước gì một lần về thuở ấy miến Tây Sống lầy lội những tháng ngày hoang dại Súng cặp kè hông, nhong nhong lưng ngựa Phóng khoáng thảo nguyên, đạn nổ ì đùng Ta sẽ về, rủ em gái theo cùng Đem tình yêu vào vòng đấu súng Và ngã xuống trong một lần anh dũng Để mai này định nghĩa lại...thằng khùng! Đã khùng rồi thì xá chi anh hùng Của một thời tìm vàng sôi động Người người xô bồ tìm giàu sang cuộc sống Để lại điêu tàn, bắn giết mênh mông! Ta ước thế nghe có rùng rợn không? Trần Hạnh Thu NHẠC HUYỀN THOẠI CAO BỒI VIỄN TÂY
(ĐC sưu tầm trên NET) Bản tin 113 online cập nhật ngày 2/5: Truy tố 254 bị can bị trong đại án sai phạm lĩnh vực đăng kiểm 🔴 TRỰC TIẾP: Thời sự quốc tế 3/5 | Nga tuyên bố khai hỏa Iskander, hủy diệt hai pháo HIMARS Ukraine Tin tức thời sự mới nhất hôm nay | Bản tin sáng ngày 5-3-2024 MỘT CÕI ĐI VỀ (Sáng Tác: Trịnh Công Sơn) - KHÁNH LY OFFICIAL Miễn nhiệm chức vụ Chủ tịch Quốc hội đối với ông Vương Đình Huệ 9 giờ trước Khoảnh khắc tên lửa Nga công kích pháo HIMARS Ukraine 12 giờ trước Mong muốn Campuchia chia sẻ thông tin về Dự án kênh đào Funan Techo 10 giờ trước Gần 50 người chết trong vụ sập đường cao tốc ở Trung Quốc 10 giờ trước Lý do xuất khẩu của Trung Quốc sang Nga bất ngờ sụt giảm 8 giờ trước Ukraine nói Nga sản xuất tên lửa Zircon 'nhanh bất thường' 6 giờ trước Hàng chục nghìn người Gruzia tiến hành biểu tình lớn nhất từ trước tới nay 16 giờ trước Video 'rừng người' xem phương tiện chiến đấu bị Nga tịch thu ở chiến trường Ukraine 16 giờ trước U23 In...
I Only Want to Be with You - Dusty Springfield (Cover by Emily Linge) VẪN THẾ MÀ! Anh vẫn thế, trước sau vẫn thế mà Nhìn anh này, đừng nhìn phía trời xa Vẫn ngày ngày ra ngóng chờ trước của Đợi Nàng Thơ về tác hợp thi ca Tâm hồn anh có cửa đâu mà khóa Mà phải cùng em mở cánh cửa tâm hồn Anh tìm mãi nào thấy đâu ô cửa Toang hoác tứ bề, thông thống càn khôn* Còn trái tim anh vẫn êm đềm, yên ả Vẫn yêu quê hương, tổ quốc, con người Miền nhiệt đới khi thấy tim băng giá Chắc chắn là anh đã ngoẻo tự lâu rồi! Trần Hạnh Thu CT: * Trời đất
Nhận xét
Đăng nhận xét