KÝ ỨC CHÓI LỌI 92
(ĐC sưu tầm trên NET)
Cập nhật:
6:29 PM GMT+7, Thứ năm, 24/03/2016
Để chủ động đối phó cuộc phản kích tái chiếm Quảng Trị, ngay từ khi
địch đang tập kết quân, ngày 25/6/1972, Bộ Tư lệnh B5 lệnh cho Tỉnh đội
Quảng Trị: Khẩn trương chuẩn bị chiến đấu, đánh bại cuộc phản kích lớn
của địch nhằm tái chiếm toàn bộ tỉnh Quảng Trị, trước mắt chiếm cho được
thị xã. Ba mươi vạn nhân dân phía nam Quảng Trị lại phải đương đầu với
thử thách mới, một thử thách vô cùng quyết liệt. Bộ đội địa phương, du
kích vừa phối hợp khẩn trương đưa 8 vạn dân của thị xã và 2 huyện Triệu
Phong, Hải Lăng đến các nơi an toàn, vừa tổ chức nhiều đợt tập kích đánh
địch ở nhiều hướng. Khắp các xã, phường phía Nam tỉnh, trên tuyến sông
Vĩnh Định, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích nung nấu
lời thề “còn người còn trận địa, quyết tử bảo vệ quê hương”, kiên cường
chiến đấu không cho địch vào thị xã.
Bộ CHQS tỉnh Quảng Trị bố trí lực lượng tại khu vực thị xã với biên chế đầy đủ cho Tiểu đoàn bộ binh 8, Tiểu đoàn bộ binh 3, Đại đội 32 của thị xã, cùng các đơn vị du kích tập trung để phối hợp chiến đấu với bộ đội chủ lực bảo vệ địa bàn. Trên hướng Đông, Tiểu đoàn bộ binh 14, với nhiệm vụ chủ yếu là cùng bộ đội chủ lực chốt giữ khu vực Cửa Việt, đồng thời cùng với cán bộ cơ sở vận động, tổ chức sơ tán nhân dân về phía sau. Chuẩn bị mặt trận sau lưng địch, Tiểu đoàn 10 đặc công và các đại đội bộ đội địa phương của hai huyện Triệu Phong và Hải Lăng cùng các đội du kích, bám trụ thôn xã, sẵn sàng tập kích đánh vào hậu phương địch. Sáng ngày 28/6, với sự chi viện của không quân và hải quân Mỹ, các sư đoàn chủ lực ngụy bắt đầu ồ ạt tiến công sang bờ bắc sông Mỹ Chánh thực hiện cuộc hành quân “tái chiếm lãnh thổ”. Cuộc đánh trả địch phản công của quân và dân Quảng Trị cùng với bộ đội chủ lực trên mặt trận Quảng Trị quyết liệt ngay từ những ngày đầu.
Sau 20 ngày tiến công vào thị xã, địch chỉ lấn thêm đến làng Tri Bưu, làng Cổ Thành và khu vực chợ Sãi, mọi cuộc tấn công ồ ạt của quân địch đều bị chặn lại trước những chốt thép kiên cường của quân ta. Trong suốt thời gian từ ngày 4/7/1972 đến ngày 27/7/1972, địch đã nhiều lần tấn công vào các trận địa của ta nhưng đều bị ta đánh trả quyết liệt. Tiểu đoàn 14 của tỉnh phối hợp với du kích tại chỗ đánh địch ở tuyến các làng Cu Hoan, Trà Trì, Trà Lộc. Ngày 22/7/1972, địch đổ bộ bằng trực thăng xuống bắc sông Vĩnh Định đã bị lực lượng vũ trang tỉnh cùng với bộ đội chủ lực đánh thiệt hại nặng.
Vượt qua mọi khó khăn, gian khổ ác liệt và hy sinh, các chiến sĩ của ta đã chiến đấu kiên cường, chỉ trong vòng từ 28/6 đến 27/7/1972, các đơn vị chốt giữ thị xã và Thành Cổ đã đánh thiệt hại nặng lữ đoàn dù 2 và 2 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ, buộc sư đoàn dù phải lui về phía sau củng cố. Ở phía nam tỉnh, trong vùng địch tràn qua, chiến tranh du kích lan rộng. Lực lượng vũ trang tỉnh mở những trận đánh táo bạo ở Hội Yên, Gia Đẳng (Tiểu đoàn 10), ở Trà Trì, Trà Lộc (Tiểu đoàn 14), đánh sập cầu Hội Yên, Ngô Xá Đông, cầu Ba Bến trên tỉnh lộ 68 (Đại đội 24 Công binh). Du kích Triệu Sơn, Triệu Trạch, Triệu Thượng… tập kích địch bằng súng bộ binh, chông bẫy.
Bước sang tháng 8 và tháng 9, cuộc đọ sức quyết liệt giữa ta và địch ở khu vực thị xã và Thành Cổ ngày càng diễn ra ở mức độ cao hơn. Sau khi chiếm được một số địa bàn có lợi, địch chuyển sang tấn công vào thị xã. Với ý chí “còn người, còn trận địa”, “K3 Tam Đảo còn, Thành Cổ Quảng Trị còn” cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 3, Tiểu đoàn 8 chốt giữ trong thành đã đánh bật nhiều đợt phản kích của địch. Để giữ được Thành Cổ, chiến sĩ tađãphải sử dụng chiến thuật phối hợp hỏa lực và vận động, dùng pháo binh, xe tăng dẫn đầu đánh tan những vị trí địch yếu kém. Các dàn súng phòng không cơ động ngăn không cho máy bay đến đúng tầm có thể yểm trợ, nhờ đó xe tăng ào tới chiếm các mục tiêu của địch.
Nhiều trận đánh giữa ta và địch giành giật từng mảnh vườn, mô đất, từng góc hào, bức tường gạch diễn ra hết sức quyết liệt. Để hỗ trợ cho tinh thần quân ngụy, ngoài máy bay chiến thuật, chiến lược oanh tạc theo yêu cầu của bộ binh ở tiền duyên, Mỹ còn cho pháo hạm, pháo mặt đất tầm xa bắn tới hai vạn viên đạn suốt một ngày. Với chiến thuật “chậm chắc” mỗi khi gặp quân ta, địch dừng lại, gọi bom, pháo đánh rồi mới tổ chức tiến công tiếp. Bởi vậy, trên dải đất dài, hẹp chỉ vài cây số vuông của thị xã và Thành Cổ Quảng Trị, suốt ngày bom đạn nổ rền rĩ, mặt đất như chảo lửa lớn. Nhưng từ trong các trận địa đang nghiên ngả, chao đảo vì bom đạn, bộ đội chủ lực cùng lực lượng vũ trang tỉnh sát cánh chốt giữ Thành Cổ kiên cường, chịu đựng một khối lượng bom đạn khổng lồ chưa bao giờ thấy trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Trải qua 81 ngày đêm, quân và dân ta đã vượt qua muôn vàn khó khăn, ác liệt, mưa lũ triền miên để bám trụ và chiến đấu với các đối tượng sừng sỏ, thiện chiến của quân ngụy Sài Gòn với sự yểm trợ hỏa lực chưa từng thấy trong lịch sử chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Đông Dương. Đây là cuộc hành quân cực kỳ tàn bạo, chúng huy động 12-16 tàu khu trục hạm và tuần dương hạm thuộc hạm đội 7, hai sư đoàn dự bị chiến lược là sư đoàn dù và sư đoàn thủy quân lục chiến, một liên đoàn biệt động, 4 trung đoàn thiết giáp cùng hàng chục tiểu đoàn khác. Trên một diện tích đất nhỏ hẹp 16 ha và cả thị xã Quảng Trị hơn 3km2 , địch huy động bình quân mỗi ngày 150-170 lần, có ngày hơn 200 lần máy bay phản lực, 70-90 lần chiếc B52 oanh kích, có ngày địch trút xuống đến 13.000 đạn pháo, hàng ngàn tấn bom đủ các loại: bom bi, bom 7 tấn, bom điều khiển bằng la-de, bắn đủ các loại pháo chụp, pháo khoan, thả chất độc hóa học, hơi độc, hơi ngạt.., trung bình mỗi chiến sĩ của ta phải hứng chịu hơn 100 quả bom và 200 quả đạn pháo.
Tất cả các xã vòng cung bao quanh Thành Cổ ở phía bắc đều chịu đựng từ 100 đến 140 phi vụ B52, xã ít nhất cũng phải chịu 10 lần phi vụ B52 đánh phá. Tuyến hành lang chiến lược chi viện cho chiến trường, địch tập trung đánh phá dữ dội từ lúc bắt đầu mở cuộc phản kích tái chiếm Quảng Trị gây cho ta nhiều thiệt hại về người và của. Đầu tháng 8 chiến sĩ ta phải sống bằng lương khô, nước lả, bắn dè xẻn từng viên đạn trong vòng vây ngày càng thít chặt của kẻ thù. Trước tình thế đó, quân ta được lệnh rút lui sang sông Thạch Hãn hồi 18 giờ, ngày 16/9/1972. Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành Cổ Quảng Trị kéo dài 81 ngày đêm (từ 28/6 đến 16/9/1972), gắn cùng với dòng sông Thạch Hãn đầy bi tráng đi vào lịch sử như bản hùng ca bất tử, lay động lương tri loài người, trở thành biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, mãi mãi khắc ghi trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.
Đánh giá sự kiện này, Tổng Bí thư Lê Duẩn nói: “Chúng ta chịu được không phải vì chúng ta gang thép, vì gang thép cũng cháy với bom đạn của chúng, mà chính ta là con người, con người thực sự, con người Việt Nam với truyền thống 4.000 năm đã giác ngộ sâu sắc trách nhiệm trọng đại trước Tổ quốc, trước thời đại”. Thắng lợi chiến dịch Xuân- Hè 1972 giải phóng Quảng Trị và cuộc chiến đấu 81 ngày đêm bảo vệ Thành Cổ đã trở thành vấn đề chính trị trung tâm làm lung lay cả nước Mỹ, dập tắt ý đồ leo thang chiến tranh của các thế lực hiếu chiến, góp phần buộc đế quốc Mỹ phải nối lại đàm phán và ký kết hiệp định Paris. Đây là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược quan trọng, góp phần quyết định làm chuyển biến mạnh mẽ thế bố trí chiến lược giữa ta và địch, tạo tương quan lực lượng có lợi cho ta phát huy sức mạnh tổng hợp để quân và dân ta mở cuộc tấn công vũ bão, thần tốc làm nên đại thắng mùa Xuân 1975 lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Đầu
tháng 10/1972, cục diện chiến tranh Việt Nam chuyển biến quan trọng. Ở
miền Nam, quân và dân ta mở cuộc tiến công chiến lược quy mô lớn trên ba
hướng chiến trường trọng điểm: Bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Trị -
Thiên giành thắng lợi lớn. Đặc biệt, trên hướng Trị - Thiên, quân và dân
ta đã mở chiến dịch tiến công giải phóng cơ bản tỉnh Quảng Trị. Những
diễn biến trên chiến trường đã tác động trực tiếp đến bàn đàm phán bốn
bên ở Paris. Phái đoàn đàm phán chính quyền Mỹ đã chấp thuận thông qua
dự thảo hiệp định "về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam"
do ta soạn thảo. Tuy nhiên, ngay sau khi trúng cử Tổng thống nhiệm kỳ
2, bản chất hiếu chiến và ngoan cố của chính quyền Nixon lộ rõ. Tại bàn
đàm phán Paris, phái đoàn Mỹ đã lật lọng, đòi phải sửa đổi những điều
rất cơ bản trong Hiệp định, nhưng ta không chấp thuận. Hội nghị đi đến
bế tắc.

Đầu xuân năm 1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm đơn vị pháo cao xạ bảo vệ Thủ đô ở trận địa trực chiến

Xác máy bay B52 bị bắn rơi ở đường Hoàng Hoa Thám (Hà Nội) ngày 27/12/1972

Bộ đội và dân quân tự vệ đứng trên xác máy bay B52 bị bắn rơi ở Hà Tây

Dân quân tự vệ kéo xác máy bay B52 bị bắn rơi ở phố Trần Phú


Bệnh viện Bạch Mai bị B52 bắn phá

Bộ đội đang chuyển máy móc, sẵn sàng chiến đấu ở Hà Tây năm 1972

Bom B52 của Mỹ phá hủy ga Yên Viên (Gia Lâm)

Các nữ dân quân sẵn sàng chiến đấu ở Uy Nỗ (Đông Anh, Hà Nội)

Diễn viên của đoàn văn công quân đội biểu diễn tại nơi chiến đấu ở Hà Tây năm 1972

Khẩu hiệu "hãy trả thù cho đồng bào khối 51 bị giặc Mỹ giết hại" dự bên bối cảnh đổ nát ở khu Lương Yên, Hà Nội sau ngày 19/12/1972

Quang cảnh một khu phố Hà Nội khi chưa bị ném bom năm 1972

Hình ảnh phòng không không quân của ta bảo vệ bầu trời Hà Nội

Triển lãm thu hút khán giả trong những ngày tháng 12 lịch sử.
T.B (tổng hợp)

Những cột khói được tạo ra từ bom Mỹ sau các cuộc oanh tạc ở trận An Lộc 1972. Loạt ảnh do phóng viên người Pháp Bruno Barbey của hãng thông tấn Magnum thực hiện. Ảnh: Magnumphotos.com

Khói lửa trong trận An Lộc. Ảnh: Magnumphotos.com

Xe tăng T-54 của lực lượng Giải phóng bị phá hủy sau khi dính bom B-52 của Mỹ ở An Lộc. Ảnh: Magnumphotos.com

Xác xe tăng T-54 trên đường Ngô Quyền, thị xã An Lộc sau một đợt giao tranh. Ảnh: Magnumphotos.com

Lính Sài Gòn trên đường phố đổ nát do bom Mỹ ở An Lộc. Ảnh: Magnumphotos.com

Lính Sài Gòn trở về căn cứ sau các cuộc oanh tạc ở An Lộc. Ảnh: Magnumphotos.com

Lính Sài Gòn cáng đồng đội bị thương trong trận An Lộc, 1972. Ảnh: Magnumphotos.com

Lính Sài Gòn bị thương trong trận An Lộc được đưa về tuyến sau. Ảnh: Magnumphotos.com

Lính Sài Gòn trên đống đổ nát của quảng trường trung tâm thị xã An Lộc. Ảnh: Magnumphotos.com

Xác binh sĩ Sài Gòn được đưa từ An Lộc về căn cứ Lai Khê. Ảnh: Magnumphotos.com

Lính Sài Gòn cáng đồng đội ngang qua xác một chiếc T-54 được "trang trí" bằng sọ người ở An Lộc. Ảnh: Magnumphotos.com

Một chiếc T-54 bị vùi lấp trong hố bom ở An Lộc. Ảnh: Magnumphotos.com

Một nhóm lính Sài Gòn, trong đó có cả lính trẻ em ở An Lộc. Ảnh: Magnumphotos.com

Một lính Sài Gòn thu nhặt các loại đồ quân dụng trong đống đổ nát ở An Lộc. Ảnh: Magnumphotos.com

Một lính Sài Gòn cõng đồng đội bị thương ra trực thăng quân y ở An Lộc. Ảnh: Magnumphotos.com
Năm 1972 lịch sử
Trong lịch sử kháng
chiến chống Mỹ cứu nước, cuộc tiến công chiến lược năm 1972 có ý nghĩa
và tầm vóc lịch sử đặc biệt. Tiếp nối những chiến thắng lớn năm 1971
trên khắp chiến trường ba nước Đông Dương (chiến thắng Đường 9 - Nam Lào
từ 30-1 đến 23-3-1971, chiến dịch Chen La II ở Campuchia từ 20-10 đến
4-12-1970, chiến thắng Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng từ 18-12-1971 đến
đầu năm 1972), cuộc tiến công chiến lược năm 1972 với mục tiêu kiên
quyết đánh bại kế hoạch “Việt Nam hóa” chiến tranh và học thuyết
Ních-xơn của Mỹ.
Sau
thất bại của địch năm 1972, nhất là thất bại thảm hại trong chiến dịch
“Lam Sơn 719”, cục diện chiến trường miền Nam chuyển biến nhanh, có lợi
cho cách mạng. Tuy nhiên, địch vẫn ngoan cố vì lực lượng quân sự còn rất
mạnh. Cùng với tăng viện khẩn cấp để vực quân ngụy Sài Gòn dậy, Hoa Kỳ
ráo riết hoạt động ngoại giao nhằm tìm kiếm từ bên ngoài một thỏa hiệp
nào đó để kiềm chế sự phát triển của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
của nhân dân ta.
Nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, quyết tâm thực hiện Di chúc của
Chủ tịch Hồ Chí Minh và với bản lĩnh chính trị vững vàng, Ban Chấp hành
Trung ương Đảng và Bộ Chính trị đã khẳng định quan điểm kiên trì đẩy
mạnh kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam, thống
nhất đất nước. Hội nghị lần thứ 20 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
III (2-1972) nhận định: “Năm 1972 là năm hết sức quan trọng trong cuộc
đấu tranh giữa ta và địch trên cả ba mặt trận quân sự, chính trị và
ngoại giao. So sánh lực lượng và thế chiến lược trên các chiến trường
đang thay đổi ngày càng có lợi cho ta. Chúng ta đang đứng trước thời cơ
thuận lợi để đưa cuộc kháng chiến tiến lên mạnh mẽ”.
Sơ đồ tiến công chiến lược mùa hè năm 1972.
Đầu
tháng 3-1972, Thường vụ Quân ủy Trung ương căn cứ vào chủ trương chiến
lược của Bộ Chính trị và thực tế chiến trường đã quyết định điều chỉnh
phương án, tiến hành cuộc tiến công chiến lược trong năm 1972 trên toàn
miền Nam: chiến trường Trị - Thiên từ hướng phối hợp trở thành hướng
tiến công chủ yếu; Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Khu V đẩy mạnh tác chiến
phối hợp với chiến trường chính Trị - Thiên.
Mục tiêu của ta là giành thắng lợi to lớn trên chiến trường, từ đó buộc địch phải chấp nhận giải pháp có lợi cho cách mạng miền Nam tại bàn Hội nghị ở Paris.
Kế
hoạch tác chiến là đánh địch khắp nơi nhưng tập trung binh lực vào ba
mặt trận chính: Trị - Thiên, miền Đông Nam Bộ, Nam Tây Nguyên; trong đó
chiến trường Trị - Thiên là mặt trận chính.
Tại chiến trường Trị - Thiên, địa bàn tiếp giáp với miền Bắc, địch xây dựng hệ thống phòng thủ thuộc loại vững chắc nhất ở miền Nam. Để đập tan hệ thống phòng thủ của địch, ta tập trung lực lượng rất lớn để tiến công địch.
Ngày 23-3-1972, Bộ Chính trị phê chuẩn phương án tác chiến chiến lược của Thường vụ Quân ủy Trung ương.
Sơ đồ chiến dịch tiến công Quảng Trị - Thừa Thiên (30/3 – 27/6/1972).
Trưa
30-3-1972, quân ta bắt đầu cuộc tiến công chiến lược theo kế hoạch của
Quân ủy Trung ương. Mở đầu cuộc tiến công, quân ta đánh vào Quảng Trị,
lấy Quảng Trị làm hướng tiến công chủ yếu, rồi phát triển rộng ra khắp
chiến trường miền Nam và kéo dài trong năm 1972.
Trong
những đợt tấn công đầu, ta đã giải phóng được Quảng Trị, tiêu diệt được
toàn bộ sinh lực địch đóng tại địa bàn. Sau đó tiếp tục tiến công địch ở
Thừa Thiên.
Khi
chiến dịch đang phát triển, Mỹ đưa lực lượng không quân quay trở lại
đánh phá ác liệt vùng Trị - Thiên và cả miền Bắc. Từ tháng 6 trở đi, ta
chuyển từ chiến dịch tiến công sang phòng ngự, chống địch phản kích, bảo
vệ vùng giải phóng. Chiến sự ngày càng quyết liệt khi địch đưa lực
lượng dự bị chiến lược ra để “tái chiếm Quảng Trị”. Cuộc chiến đấu giữa
ta và địch trở nên vô cùng quyết liệt. Từ cuối tháng 6-1972, bộ đội ta
thực hiện chiến dịch phòng thủ bảo vệ vùng giải phóng phía Nam
sông Thạch Hãn. Chiến dịch này kéo dài hơn 200 ngày đêm. Trong 81 ngày
đêm, tại Thành cổ Quảng Trị, bộ đội quyết tâm giữ thành chống mọi đợt
tiến công điên cuồng của địch. Chính vì vậy, sau chiến dịch này cả ta và
địch đều tổn thất nặng.
Thành cổ Quảng Trị năm 1972.
Trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, lần đầu tiên ta tổ chức tác chiến hợp đồng binh chủng, tiến công
địch và đã giải phóng được một vùng rộng lớn nối liền từ Cà Tum, Thiện
Ngôn, Cần Lê, Xa Mát, Lộc Ninh, An Lộc. Lộc Ninh trở thành thủ đô của
Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Tại chiến trường Tây Nguyên, ta giải phóng được vùng rộng lớn ở phía Nam
quốc lộ 14, mở rộng hệ thống tuyến đường vận tải chiến lược vào sâu
phía Nam Tây Nguyên. Đặc biệt, chiến thắng ở Đắc Tô, Tân Cảnh mở ra khả
năng quân giải phóng có thể đánh tiêu diệt lớn chủ lực của quân đội Sài
Gòn ở chiến trường Nam Tây Nguyên.
Trước
đòn tiến công của lực lượng vũ trang giải phóng trên các chiến trường
trong năm 1972, Hoa Kỳ phản ứng quyết liệt, cho máy bay ném bom với mức
độ ác liệt chưa từng có. Chỉ 4-5 ngày sau khi ta tiến công Quảng Trị,
Hoa Kỳ đã huy động tối đa lực lượng không quân và hải quân đánh phá các
tuyến đường vận tải ở Nam Khu IV nhằm cắt đứt chi viện của miền Bắc cho
chiến trường Quảng Trị.
Hầu
hết các tuyến vận tải vào chiến trường Khu V bị tê liệt. Tối 25-5-1972,
khi căn cứ Tân Cảnh, Đắc Tô thất thủ, Mỹ ném bom hủy diệt nhà thờ Kon
Hring thuộc xã Diên Bình, Kon Tum làm nhiều dân thường bị thiệt mạng,
trong đó có 357 người là đồng bào dân tộc ít người.
Sơ đồ chiến dịch Bắc Tây Nguyên.
Từ
giữa năm 1972, trên phạm vi tương đối rộng lớn, thời gian khá dài, sử
dụng lực lượng tổng hợp, kết hợp nhịp nhàng và chặt chẽ giữa tiến công
quân sự và nổi dậy của nhân dân, đánh địch bằng sức mạnh tổng hợp của
quân sự, chính trị và binh vận, các chiến dịch tiến công tổng hợp của
quân và dân khu VIII, Khu IX, Khu V và Khu VI đã giáng một đòn mạnh,
đánh bại phần lớn chương trình bình định của địch; góp phần quan trọng
vào việc phát triển thế trận chiến tranh nhân dân ở miền Nam.
Những thắng lợi trên chiến trường miền Nam năm 1972 đã mở ra bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống
Mỹ cứu nước; giáng đòn mạnh vào quân ngụy (công cụ chủ yếu) và quốc sách
“bình định” (xương sống) của chiến lược “Việt Nam hóa” chiến tranh của
Mỹ. Cùng với chiến thắng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai bằng
không quân của địch ở miền Bắc, buộc địch phải ký Hiệp định Paris, lập
lại hòa bình ở Việt Nam và Đông Dương.
Phương Anh (tổng hợp)Thành Cổ Quảng Trị mùa hè năm 1972
Trước thảm bại để Quảng Trị thất thủ, âm mưu của Mỹ- ngụy là phản kích tái chiếm thị xã Quảng Trị trong tháng 7 và toàn tỉnh Quảng Trị trong tháng 9/1972. Vì vậy, kẻ thù điên cuồng tập trung vào đây một lực lượng quân đội khổng lồ với nhiều binh chủng, nhiều sư đoàn mạnh nhất của quân lực Việt Nam cộng hoà, trong đó có cả những sư đoàn thuộc lực lượng tổng dự bị Quốc gia. Tập trung hỏa lực cả không quân và hải quân, chúng tổ chức thành 2 hướng tiến công hòng tái chiếm thị xã Quảng Trị. Với tham vọng và nỗ lực rất lớn của cả Mỹ lẫn quân đội Sài Gòn, mặt trận Quảng Trị, đặc biệt là thị xã, Thành Cổ Quảng Trị trở thành mục tiêu trọng yếu nhất, nơi đọ sức quyết liệt giữa ta và địch trong 81 ngày đêm lịch sử.
Thành Cổ Quảng Trị hôm nay. Ảnh: Thành Dũng
Bộ CHQS tỉnh Quảng Trị bố trí lực lượng tại khu vực thị xã với biên chế đầy đủ cho Tiểu đoàn bộ binh 8, Tiểu đoàn bộ binh 3, Đại đội 32 của thị xã, cùng các đơn vị du kích tập trung để phối hợp chiến đấu với bộ đội chủ lực bảo vệ địa bàn. Trên hướng Đông, Tiểu đoàn bộ binh 14, với nhiệm vụ chủ yếu là cùng bộ đội chủ lực chốt giữ khu vực Cửa Việt, đồng thời cùng với cán bộ cơ sở vận động, tổ chức sơ tán nhân dân về phía sau. Chuẩn bị mặt trận sau lưng địch, Tiểu đoàn 10 đặc công và các đại đội bộ đội địa phương của hai huyện Triệu Phong và Hải Lăng cùng các đội du kích, bám trụ thôn xã, sẵn sàng tập kích đánh vào hậu phương địch. Sáng ngày 28/6, với sự chi viện của không quân và hải quân Mỹ, các sư đoàn chủ lực ngụy bắt đầu ồ ạt tiến công sang bờ bắc sông Mỹ Chánh thực hiện cuộc hành quân “tái chiếm lãnh thổ”. Cuộc đánh trả địch phản công của quân và dân Quảng Trị cùng với bộ đội chủ lực trên mặt trận Quảng Trị quyết liệt ngay từ những ngày đầu.
Sau 20 ngày tiến công vào thị xã, địch chỉ lấn thêm đến làng Tri Bưu, làng Cổ Thành và khu vực chợ Sãi, mọi cuộc tấn công ồ ạt của quân địch đều bị chặn lại trước những chốt thép kiên cường của quân ta. Trong suốt thời gian từ ngày 4/7/1972 đến ngày 27/7/1972, địch đã nhiều lần tấn công vào các trận địa của ta nhưng đều bị ta đánh trả quyết liệt. Tiểu đoàn 14 của tỉnh phối hợp với du kích tại chỗ đánh địch ở tuyến các làng Cu Hoan, Trà Trì, Trà Lộc. Ngày 22/7/1972, địch đổ bộ bằng trực thăng xuống bắc sông Vĩnh Định đã bị lực lượng vũ trang tỉnh cùng với bộ đội chủ lực đánh thiệt hại nặng.
Vượt qua mọi khó khăn, gian khổ ác liệt và hy sinh, các chiến sĩ của ta đã chiến đấu kiên cường, chỉ trong vòng từ 28/6 đến 27/7/1972, các đơn vị chốt giữ thị xã và Thành Cổ đã đánh thiệt hại nặng lữ đoàn dù 2 và 2 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ, buộc sư đoàn dù phải lui về phía sau củng cố. Ở phía nam tỉnh, trong vùng địch tràn qua, chiến tranh du kích lan rộng. Lực lượng vũ trang tỉnh mở những trận đánh táo bạo ở Hội Yên, Gia Đẳng (Tiểu đoàn 10), ở Trà Trì, Trà Lộc (Tiểu đoàn 14), đánh sập cầu Hội Yên, Ngô Xá Đông, cầu Ba Bến trên tỉnh lộ 68 (Đại đội 24 Công binh). Du kích Triệu Sơn, Triệu Trạch, Triệu Thượng… tập kích địch bằng súng bộ binh, chông bẫy.
Bước sang tháng 8 và tháng 9, cuộc đọ sức quyết liệt giữa ta và địch ở khu vực thị xã và Thành Cổ ngày càng diễn ra ở mức độ cao hơn. Sau khi chiếm được một số địa bàn có lợi, địch chuyển sang tấn công vào thị xã. Với ý chí “còn người, còn trận địa”, “K3 Tam Đảo còn, Thành Cổ Quảng Trị còn” cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 3, Tiểu đoàn 8 chốt giữ trong thành đã đánh bật nhiều đợt phản kích của địch. Để giữ được Thành Cổ, chiến sĩ tađãphải sử dụng chiến thuật phối hợp hỏa lực và vận động, dùng pháo binh, xe tăng dẫn đầu đánh tan những vị trí địch yếu kém. Các dàn súng phòng không cơ động ngăn không cho máy bay đến đúng tầm có thể yểm trợ, nhờ đó xe tăng ào tới chiếm các mục tiêu của địch.
Nhiều trận đánh giữa ta và địch giành giật từng mảnh vườn, mô đất, từng góc hào, bức tường gạch diễn ra hết sức quyết liệt. Để hỗ trợ cho tinh thần quân ngụy, ngoài máy bay chiến thuật, chiến lược oanh tạc theo yêu cầu của bộ binh ở tiền duyên, Mỹ còn cho pháo hạm, pháo mặt đất tầm xa bắn tới hai vạn viên đạn suốt một ngày. Với chiến thuật “chậm chắc” mỗi khi gặp quân ta, địch dừng lại, gọi bom, pháo đánh rồi mới tổ chức tiến công tiếp. Bởi vậy, trên dải đất dài, hẹp chỉ vài cây số vuông của thị xã và Thành Cổ Quảng Trị, suốt ngày bom đạn nổ rền rĩ, mặt đất như chảo lửa lớn. Nhưng từ trong các trận địa đang nghiên ngả, chao đảo vì bom đạn, bộ đội chủ lực cùng lực lượng vũ trang tỉnh sát cánh chốt giữ Thành Cổ kiên cường, chịu đựng một khối lượng bom đạn khổng lồ chưa bao giờ thấy trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Trải qua 81 ngày đêm, quân và dân ta đã vượt qua muôn vàn khó khăn, ác liệt, mưa lũ triền miên để bám trụ và chiến đấu với các đối tượng sừng sỏ, thiện chiến của quân ngụy Sài Gòn với sự yểm trợ hỏa lực chưa từng thấy trong lịch sử chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Đông Dương. Đây là cuộc hành quân cực kỳ tàn bạo, chúng huy động 12-16 tàu khu trục hạm và tuần dương hạm thuộc hạm đội 7, hai sư đoàn dự bị chiến lược là sư đoàn dù và sư đoàn thủy quân lục chiến, một liên đoàn biệt động, 4 trung đoàn thiết giáp cùng hàng chục tiểu đoàn khác. Trên một diện tích đất nhỏ hẹp 16 ha và cả thị xã Quảng Trị hơn 3km2 , địch huy động bình quân mỗi ngày 150-170 lần, có ngày hơn 200 lần máy bay phản lực, 70-90 lần chiếc B52 oanh kích, có ngày địch trút xuống đến 13.000 đạn pháo, hàng ngàn tấn bom đủ các loại: bom bi, bom 7 tấn, bom điều khiển bằng la-de, bắn đủ các loại pháo chụp, pháo khoan, thả chất độc hóa học, hơi độc, hơi ngạt.., trung bình mỗi chiến sĩ của ta phải hứng chịu hơn 100 quả bom và 200 quả đạn pháo.
Tất cả các xã vòng cung bao quanh Thành Cổ ở phía bắc đều chịu đựng từ 100 đến 140 phi vụ B52, xã ít nhất cũng phải chịu 10 lần phi vụ B52 đánh phá. Tuyến hành lang chiến lược chi viện cho chiến trường, địch tập trung đánh phá dữ dội từ lúc bắt đầu mở cuộc phản kích tái chiếm Quảng Trị gây cho ta nhiều thiệt hại về người và của. Đầu tháng 8 chiến sĩ ta phải sống bằng lương khô, nước lả, bắn dè xẻn từng viên đạn trong vòng vây ngày càng thít chặt của kẻ thù. Trước tình thế đó, quân ta được lệnh rút lui sang sông Thạch Hãn hồi 18 giờ, ngày 16/9/1972. Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành Cổ Quảng Trị kéo dài 81 ngày đêm (từ 28/6 đến 16/9/1972), gắn cùng với dòng sông Thạch Hãn đầy bi tráng đi vào lịch sử như bản hùng ca bất tử, lay động lương tri loài người, trở thành biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, mãi mãi khắc ghi trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.
Đánh giá sự kiện này, Tổng Bí thư Lê Duẩn nói: “Chúng ta chịu được không phải vì chúng ta gang thép, vì gang thép cũng cháy với bom đạn của chúng, mà chính ta là con người, con người thực sự, con người Việt Nam với truyền thống 4.000 năm đã giác ngộ sâu sắc trách nhiệm trọng đại trước Tổ quốc, trước thời đại”. Thắng lợi chiến dịch Xuân- Hè 1972 giải phóng Quảng Trị và cuộc chiến đấu 81 ngày đêm bảo vệ Thành Cổ đã trở thành vấn đề chính trị trung tâm làm lung lay cả nước Mỹ, dập tắt ý đồ leo thang chiến tranh của các thế lực hiếu chiến, góp phần buộc đế quốc Mỹ phải nối lại đàm phán và ký kết hiệp định Paris. Đây là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược quan trọng, góp phần quyết định làm chuyển biến mạnh mẽ thế bố trí chiến lược giữa ta và địch, tạo tương quan lực lượng có lợi cho ta phát huy sức mạnh tổng hợp để quân và dân ta mở cuộc tấn công vũ bão, thần tốc làm nên đại thắng mùa Xuân 1975 lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Từ Quang Hóa / báo Quảng Trị
Ý nghĩa lịch sử của chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” năm 1972
- Chuyên mục chính: Tạp chí
- Chuyên mục: Kỷ niệm 40 năm chiến thắng "HN - ĐBP trên không"
- Được đăng ngày 06-12-2012
- Viết bởi PhongKhoaHoc
Với
mưu đồ tính toán từ trước, Chính quyền Richard Nixon huy động gần 200
máy bay B.52, 30 máy bay F.111 và hơn 1.000 máy bay tiêm kích, 6 liên
đội tàu sân bay và 50 máy bay tiếp dầu KC.135... mở cuộc tập kích chiến
lược bằng không quân với quy mô lớn vào Hà Nội, Hải Phòng và một số mục
tiêu trên miền Bắc, với mật danh “Linebacker 2”. Riêng Hà Nội, trong 12
ngày đêm, không quân Mỹ đã tập trung trên 1.000 lần chiếc (trong đó có
khoảng 500 lần chiếc B.52), trút 40.000 tấn bom xuống nhiều khu dân cư:
Khâm Thiên, An Dương, Uy Nỗ, Bệnh viện Bạch Mai, Yên Viên, Gia Lâm, Đông
Anh, Văn Điển, Giáp Bát, Đài Phát thanh Mễ Trì... làm cho gần 2.400
người chết và 1.355 người khác bị thương. Với đòn đánh có tính chất hủy
diệt đối với Thủ đô Hà Nội - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa - xã
hội của đất nước ta, đế quốc Mỹ hy vọng sẽ nhanh chóng buộc Chính phủ
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải trở lại bàn đàm phán, chấp nhận các yêu
sách của Mỹ.
Nắm
bắt chính xác âm mưu, thủ đoạn và thời điểm không kích của địch, quân
và dân Thủ đô đã chủ động thiết lập một thế trận phòng không ba thứ quân
hoàn chỉnh, vững chắc, nhiều tầng, nhiều lớp, chủ động vào trận với hào
khí “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Sau 12 ngày đêm anh dũng chiến
đấu (18/12 - 29/12/1972), quân và dân Thủ đô cùng các địa phương miền
Bắc đã đập tan cuộc tập kích đường không của Mỹ; bắn rơi 81 máy bay,
trong đó có 34 B.52. Riêng Hà Nội bắn rơi 25 B.52. Với bước leo thang
bằng không quân cao nhất này, đế quốc Mỹ những tưởng rằng chúng sẽ nhanh
chóng giành thắng lợi, nhanh chóng làm tan rã ý chí chiến đấu của quân
dân ta; rằng “Hà Nội sẽ trở lại thời kỳ đồ đá”. Nhưng chúng đã chịu thất
bại thảm hại. Đây thực sự là một chiến công mang tầm vóc thời đại, một
trận “Điện Biên Phủ trên bầu trời Hà Nội” lừng lẫy năm châu, chấn động
địa cầu, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris ngày 27/1/1973, chấp nhận rút
quân Mỹ và quân đồng minh của Mỹ ra khỏi miền Nam, chấm dứt cuộc chiến
tranh xâm lược thực dân mới ở Việt Nam. Có nhiều nhân tố làm nên chiến
thắng oanh liệt của quân dân ta trong cuộc tập kích chiến lược đường
không bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ cách đây 40 năm, làm nên “Điện
Biên Phủ trên không” vang dội trong đó ý chí Việt Nam, chính trị - tinh
thần Việt Nam là nhân tố cơ bản làm nên chiến thắng đó.
Đây
là cuộc đụng đầu lịch sử, là đòn quyết chiến chiến lược của quân và dân
ta với lực lượng không quân chiến lược Mỹ; là cuộc đọ sức giữa chiến
tranh nhân dân Việt Nam với chiến tranh xâm lược, phá hoại bằng không
quân hiện đại của đế quốc Mỹ ở trình độ cao; là cuộc đọ sức giữa ý chí
và tinh thần của quân dân ta với sức mạnh và sự tàn khốc của vũ khí và
phương tiện chiến tranh hiện đại của Mỹ. Trong lịch sử dân tộc chưa từng
có cuộc đọ sức nào như thế. Những máy bay và phương tiện chiến tranh
hiện đại, tối tân bậc nhất đương thời lại vấp phải sức mạnh to lớn, vô
địch của ý chí Việt Nam, của chiến tranh nhân dân Việt Nam và cuối cùng
phải chịu thất bại. Quân và dân ta bước vào cuộc chiến đấu với tư thế
chủ động, tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu cao, vững vàng về
chính trị, tư tưởng và tâm lý. Quân và dân miền Bắc, đặc biệt là quân
dân Thủ đô Hà Nội, lực lượng Phòng không - Không quân đã anh dũng chiến
đấu, vượt lên đau thương, mất mát, làm nên chiến thắng “Điện Biên Phủ
trên không” hào hùng làm rạng danh lịch sử dân tộc Việt Nam.
Chiến
công oanh liệt "Điện Biên Phủ trên không" năm 1972 đã góp phần chứng
minh đường lối chính trị, học thuyết quân sự đúng đắn của Đảng Cộng sản
Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là sự kết hợp hài hòa giữa cách
mạng và khoa học, giữa dám đánh và biết đánh, giữa ý chí kiên định, bản
lĩnh vững vàng với năng lực chỉ huy, lãnh đạo tài giỏi của cán bộ các
cấp, giữa khí phách anh hùng và tài trí tuyệt vời của người chiến sĩ
trên trận địa. Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” nói lên sức mạnh
vô địch của chiến tranh nhân dân, của cách đánh sáng tạo Việt Nam, thể
hiện sức sống mãnh liệt của bản sắc văn hóa Việt Nam, của truyền thống
đấu tranh bất khuất của dân tộc ta hàng ngàn năm kết lại.
“Điện Biên phủ trên không”
là trận quyết chiến có ý nghĩa chiến lược, là trận thử thách chưa từng
có trong lịch sử. Chúng ta đã giành thắng lợi to lớn, toàn diện, buộc Mỹ
phải chấp nhận mọi điều khoản của Hiệp định Pari về “Chấm dứt chiến
tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam, phải thực hiện tôn trọng độc lập chủ
quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, phải rút hết quân Mỹ về nước”.
Chiến thắng này đã góp phần tạo ra thế và lực mới cho sự nghiệp giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước của nhân dân ta, để chúng ta thực
hiện trọn vẹn lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho
Nguỵ nhào”. Chiến thắng “Điện Biên phủ trên không” đã thể hiện đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn của Đảng ta, của chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do”
và chế độ XHCN ưu việt của nhân dân ta. Đó là chiến thắng của sức mạnh
chính trị, tinh thần của toàn dân tộc, là ý chí quyết đánh, dám đánh và
quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược bằng tất cả sự mưu trí, dũng cảm
và tinh thần chủ động sáng tạo, khắc phục khó khăn. Đó là chiến thắng
của sự kế thừa và phát huy truyền thống quân sự Việt Nam, của đường lối
chiến tranh nhân dân và nghệ thuật tổ chức sử dụng lực lượng trong thế
trận Phòng không nhân dân, trong tổ chức hiệp đồng chiến đấu tạo thành
sức mạnh tổng hợp cả trên không và mặt đất để chiến thắng kẻ thù.
Chiến thắng “Điện Biên phủ trên không” còn có ý nghĩa quan trọng đối với phong trào đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH của nhân dân thế giới; là đòn đánh lịch sử, mở đường cho sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân mới ở Việt Nam; góp phần làm tăng thêm sức mạnh và thế tiến công của phong trào cách mạng thế giới vào chủ nghĩa đế quốc; đem lại lòng tin cho những người trên trái đất đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Chiến thắng “Điện Biên phủ trên không” còn có ý nghĩa quan trọng đối với phong trào đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH của nhân dân thế giới; là đòn đánh lịch sử, mở đường cho sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân mới ở Việt Nam; góp phần làm tăng thêm sức mạnh và thế tiến công của phong trào cách mạng thế giới vào chủ nghĩa đế quốc; đem lại lòng tin cho những người trên trái đất đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Chiến thắng “Điện Biên phủ trên không”
mãi mãi trở thành dấu son chói lọi trong truyền thống chống ngoại xâm
của dân tộc ta. Chiến thắng đó đã trở thành truyền thống vẻ vang và mềm
tin vững chắc trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của bộ
đội Phòng không - Không quân.
Bốn mươi năm nhìn lại, chúng ta càng thấy tự hào về ý nghĩa lịch sử của chiến thắng “Điện Biên phủ trên không”.
Đây là một trong những chiến thắng vĩ đại nhất của dân tộc ta trong thế
kỷ 20, là trang sử vẻ vang của truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ
nước trong thời đại mới- thời đại Hồ chí Minh. Chiến thắng đó đã cho
chúng ta một bài học kinh nghiệm về sự tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh
đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu; bài học về tiến hành cuộc chiến tranh
toàn dân, toàn diện; bài học về xây dựng và phát huy ý chí quyết chiến,
quyết thắng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, của sức mạnh đoàn kết
toàn dân tộc; bài học về phát huy sức sáng tạo, tinh thần độc lập tự
chủ, tự lực tự cường, tạo nên sức mạnh tổng hợp chiến thắng kẻ thù; đó
là bài học của sự quả cảm, khao khát độc lập tự do, xả thân chiến đấu
cho lý tưởng cao đẹp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Tinh
thần ấy, ý chí ấy trong những ngày cuối tháng 12 năm 1972 được nuôi
dưỡng, phát huy đến độ rực rỡ, mà cho đến bây giờ, 40 năm sau, những con
cháu của thế hệ làm nên “Điện Biên Phủ trên không” vẫn được thôi thúc
bởi ý chí ấy như một nguồn động lực to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc hôm nay. Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của nhân
dân ta trong tình hình mới gặp nhiều khó khăn và thách thức mới. Cùng
với chiến lược “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch, sự xuất
hiện một loại hình chiến tranh mới, chiến tranh xâm lược có sử dụng vũ
khí công nghệ cao do chủ nghĩa đế quốc tiến hành chống các quốc gia độc
lập có chủ quyền trên thế giới đã đặt ra những thách thức mới hết sức
gay gắt đối với ý chí con người, đối với nhân tố chính trị - tinh thần.
Trong điều kiện mới, chiến tranh nhân dân vẫn là lời giải cơ bản cho
công cuộc bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta; sức mạnh cơ bản và vũ khí sắc
bén của chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
vẫn là chính trị - tinh thần, là ý chí quyết chiến, quyết thắng. Vì thế,
xây dựng, củng cố và phát huy chính trị - tinh thần của quân đội và
nhân dân là nhiệm vụ cơ bản, cấp thiết của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện
nay.
Tháng
năm qua đi, những dấu tích chiến tranh có thể bị phai mờ theo quy luật
của thời gian, nhưng tầm vóc và ý nghĩa của “Chiến thắng Hà Nội - Điện
Biên Phủ trên không" vẫn mãi âm vang trong tâm trí của mỗi con người
Việt Nam nói riêng và nhân loại tiến bộ nói chung. Đặc biệt, những bài
học kinh nghiệm được rút ra từ đây vẫn nguyên vẹn giá trị để nghiên cứu,
vận dụng cho sự nghiệp xây dựng lực lượng và thế trận chiến tranh nhân
dân, quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc hôm nay. Mê-lê-la, nhà thơ Hy
Lạp đã ca ngợi Việt Nam bằng những vần thơ chân thực và đầy hình ảnh sau
đây: "Ôi! Việt Nam, đất nước của những căn nhà nhỏ/ Của những con
người mà tầm vóc không cao/ Nhưng chiến công của họ/ Thật vô cùng hiển
hách lớn lao”. Sau "Điện Biên phủ trên không", sau chiến dịch Hồ
Chí Minh toàn thắng, biết bao tấm lòng của bè bạn khắp nơi trên thế giới
đã hướng về Việt Nam với con mắt cảm phục, yêu mến và biết ơn. Hàng
ngàn vạn lời hay ý đẹp, có thể nói là tận cùng ngôn ngữ thế gian, của cả
loài người tiến bộ đã dành cho Việt Nam, qua làn sóng điện và qua những
dòng thư. Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô (Phidel Castro) đã phát biểu:
"Thắng lợi của nhân dân Việt Nam là một trong những chiến công oanh liệt
nhất, vĩ đại nhất của loài người!". Ông Kôn-dơ, cựu Thủ tướng
Ô-xtơ-rây-lia khẳng định: "Nhân dân Việt Nam đã đấu tranh không chỉ cho
riêng họ, mà còn cho cả thế giới. Thắng lợi của người Việt Nam là thắng
lợi của lý tưởng cao đẹp nhất của thời đại ngày nay!".
Lịch
sử nhân loại đang bước sang những trang sử mới. Tuy nhiên, có những sự
kiện mà với tầm vóc lớn lao của nó, sẽ không bao giờ phai mờ trong ký ức
nhân loại. Một trong những sự kiện mang dấu ấn đặc biệt ấy là "Điện
Biên Phủ trên không". "Điện Biên Phủ trên không", chiến thắng của ý chí
và trí tuệ Việt Nam, sẽ vĩnh viễn tồn tại như một mốc son sáng chói mãi
ngàn năm.
THU HẰNG
Từ cuộc tiến công chiến lược năm 1972 đến đại thắng mùa Xuân năm 1975
“Đánh cho Mỹ cút”
Trong
lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cuộc Tiến công chiến lược diễn
ra 40 năm trước đây (1972) có ý nghĩa và tầm vóc lịch sử đặc biệt. Tiếp
nối những chiến thắng lớn năm 1971 trên khắp chiến trường 3 nước Đông
Dương (chiến thắng Đường 9 - Nam Lào từ 30-1 đến 23-3-1971, chiến dịch
Chen La II ở Campuchia từ 20-10 đến 4-12-1970, chiến thắng Cánh đồng
Chum - Xiêng Khoảng từ 18-12-1971 đến đầu năm 1972), cuộc Tiến công
chiến lược năm 1972 với mục tiêu kiên quyết đánh bại kế hoạch "Việt Nam
hóa chiến tranh" và học thuyết Ních-xơn của Mỹ.
Thực
chất "Việt Nam hóa chiến tranh" là quân Mỹ rút về nước nhưng vẫn tiếp
tục chiến tranh xâm lược bằng quân đội tay sai của chính quyền Sài Gòn,
duy trì chế độ thực dân kiểu mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Đó là một
chiến lược chiến tranh rất thâm độc, xảo quyệt và ngoan cố của đế quốc
Mỹ. Năm 1971 và 1972, chính quyền Ních-xơn đẩy mạnh viện trợ kinh tế và
quân sự cho chính quyền Sài Gòn, đồng thời với việc rút dần quân Mỹ. Đến
đầu năm 1972, Mỹ buộc phải rút khoảng 40 vạn quân khỏi miền Nam, để lại
một bộ phận quan trọng về không quân và hải quân để yểm trợ cho quân
đội ngụy Sài Gòn. Ngày 13-6-1971, tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Mỹ tiết
lộ quá trình can thiệp của Mỹ vào Việt Nam và Đông Dương. Mỹ cũng ra
sức hoạt động ngoại giao, "tìm mọi cách lợi dụng những mâu thuẫn, những
thiên hướng tiêu cực hoặc sai lầm trong quan hệ giữa các nước xã hội chủ
nghĩa"(2) để gây sức ép với Đảng, nhân dân và cách mạng Việt Nam.
Nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, quyết tâm thực hiện Di chúc của
Chủ tịch Hồ Chí Minh và với bản lĩnh chính trị vững vàng, Ban Chấp hành
Trung ương Đảng và Bộ Chính trị đã khẳng định quan điểm kiên trì đẩy
mạnh kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam, thống
nhất đất nước. Hội nghị lần thứ 20 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
III (2-1972) nhận định: "Năm 1972 là năm hết sức quan trọng
trong cuộc đấu tranh giữa ta và địch trên cả ba mặt trận quân sự, chính
trị và ngoại giao. So sánh lực lượng và thế chiến lược trên các chiến
trường đang thay đổi ngày càng có lợi cho ta. Chúng ta đang đứng trước thời cơ thuận lợi để đưa cuộc kháng chiến tiến lên mạnh mẽ"(3). Phải động viên toàn lực và cố gắng vượt bậc.
Thực
hiện Nghị quyết của Trung ương Đảng và Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương
đã có nghị quyết và kế hoạch mở cuộc tiến công chiến lược trên toàn
chiến trường miền Nam. Trên toàn chiến trường miền Nam đã diễn ra ba
chiến dịch quy mô lớn: Chiến dịch Trị - Thiên (30-3 đến 27-6-1972);
Chiến dịch Bắc Tây Nguyên (30-3 đến 5-6-1972) và Chiến dịch Nguyễn Huệ ở
Đông Nam Bộ (1-4-1972 đến 19-1-1973).
Trong
các chiến dịch đó, chiến dịch Trị - Thiên có quy mô lớn nhất và diễn ra
ác liệt nhất. Với sức mạnh hiệp đồng binh chủng và phối hợp với sự nổi
dậy của nhân dân, quân và dân ta đã giải phóng hoàn toàn thị xã và toàn
tỉnh Quảng Trị; ngày 2-5-1972, quân địch phải rút khỏi thị xã Quảng Trị.
Trước sức mạnh tiến công của quân giải phóng, ngày 6-4-1972 Mỹ đã ném
bom miền Bắc, bắt đầu cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ II đối với miền
Bắc. Ngày 28-6-1972 tái chiếm thị xã Quảng Trị. Cuộc chiến đấu diễn ra
ác liệt tại Thành cổ Quảng Trị suốt 81 ngày đêm từ 28-6 đến 16-9-1972. Cả nước hướng về Quảng Trị, chia lửa với mặt trận Quảng Trị.
Cuộc
Tiến công chiến lược năm 1972, chiến dịch Trị - Thiên và chiến công 81
ngày đêm ở Thành cổ Quảng Trị là biểu hiện sáng ngời của chủ nghĩa anh
hùng cách mạng Việt Nam. Chiến công đó cùng với cuộc chiến đấu của quân,
dân miền Bắc đập tan cuộc tập kích chiến lược của Mỹ bằng máy bay B52
vào Hà Nội, Hải Phòng 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972 làm nên một trận
"Điện Biên Phủ trên không" đã buộc đế quốc Mỹ chấp nhận thất bại, ký
Hiệp định Pa-ri (27-1-1973) và rút hết quân Mỹ về nước (29-3-1973).
Chiến thắng năm 1972 có ý nghĩa lịch sử rất quan trọng, đã "đánh cho Mỹ
cút", tạo điều kiện để "đánh cho ngụy nhào" như căn dặn của Chủ tịch Hồ
Chí Minh.
Quyết tâm đi đến thắng lợi cuối cùng
Hiệp định Pa-ri ngày 27-1-1973 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, Điều
1 đã ghi rõ: "Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền,
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Giơ-ne-vơ
năm một nghìn chín trăm năm mươi tư về Việt Nam đã công nhận". Điều hiển
nhiên về pháp lý quốc tế đó có được khi cả dân tộc Việt Nam đã phải
chiến đấu, hy sinh to lớn trong rất nhiều năm.
Sau
Hiệp định Pa-ri, chính quyền và quân đội Sài Gòn ra sức phá hoại Hiệp
định, lấn chiếm vùng giải phóng, âm mưu chia cắt lâu dài nước Việt Nam,
củng cố chế độ thực dân mới của Mỹ ở miền Nam. Vừa kiên trì thi hành
Hiệp định Pa-ri, vừa nắm vững thế chủ động về quân sự, Hội nghị lần thứ
21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) họp tháng 10-1973 đã phân
tích tình hình, quyết định mục tiêu giải phóng hoàn toàn miền Nam bằng
con đường sử dụng bạo lực cách mạng. Hội nghị Trung ương 21 dự kiến hai
khả năng: một là, buộc địch thi hành Hiệp định, hòa bình được lập lại thật sự và hai là,
địch tiếp tục vi phạm, phá hoại, xung đột quân sự ngày càng tăng và
phải tiến hành chiến tranh cách mạng gay go, quyết liệt để đánh bại
địch, giành thắng lợi hoàn toàn. Phải tranh thủ khả năng thứ nhất, đồng thời chủ động chuẩn bị sẵn sàng cho khả năng thứ hai. Diễn biến thực tế trên chiến trường cho thấy chỉ có thể là khả năng thứ hai, nghĩa là bằng chiến tranh cách mạng để giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Nắm
vững quan điểm chỉ đạo của Trung ương Đảng và Bộ Chính trị, từ nửa cuối
năm 1973 và năm 1974, trên các chiến trường miền Nam, ta chủ động xây
dựng, phát triển lực lượng về mọi mặt, miền Bắc chi viện miền Nam với
quy mô lớn để dồn sức cho thắng lợi cuối cùng.
Cuối
năm 1974, cách mạng ở miền Nam ngày càng phát triển thuận lợi. Bộ Chính
trị họp từ ngày 3-9 đến ngày 8-10-1974 và sau khi đồng chí Phạm Hùng từ
chiến trường ra, có cơ sở thực tế để Bộ Chính trị đi đến kết luận: "Hạ
quyết tâm hoàn thành sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền
Nam. Đây là sự kiện vô cùng trọng đại, để tiến tới kết thúc cuộc chiến
tranh cách mạng kéo dài gần ba mươi năm, kể từ khi chúng ta giành được
chính quyền, để hoàn thành trọn vẹn trách nhiệm vẻ vang đối với dân tộc
và thực hiện nghĩa vụ quốc tế lớn lao đối với thời đại. Đây là một quyết
định rất dũng cảm, có thể nói là táo bạo"(4).
Bộ Chính trị cho rằng, thời cơ thuận lợi để giải phóng hoàn toàn miền
Nam đã tới. Nếu để chậm tình hình sẽ vô cùng phức tạp "thời cơ này đòi
hỏi phải làm nhanh, làm gọn, làm triệt để, nhưng phải khôn khéo"(5).
Ngày
7-1-1975, Bộ Chính trị họp đợt hai, tiếp tục làm sáng tỏ những kết luận
quan trọng. Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Bí thư thứ nhất Lê Duẩn
nêu rõ: "Chúng ta thấy chính xác hơn thời cơ lịch sử và khả năng thực tế
để quyết chiến những trận cuối cùng, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước đến thắng lợi hoàn toàn. Chúng ta nhất trí phải gấp rút chuẩn bị
mọi mặt để kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh cứu nước trong năm 1975
hoặc năm 1976"(6). Bộ Chính trị đề ra kế hoạch năm 1975 cho các chiến
trường Nam Bộ, khu V, Tây Nguyên với mục tiêu tiến đánh Sài Gòn.
Ngày
6-1-1975, quân giải phóng tiến công và đã giải phóng toàn tỉnh Phước
Long. Chiến thắng Phước Long và trước đó là chiến thắng Thượng Đức
(7-1974) đã chứng minh sức mạnh của cách mạng miền Nam, sự suy yếu của
quân ngụy và cũng cho thấy Mỹ không có khả năng quay trở lại. Toàn Đảng,
toàn dân, toàn quân cả nước với nỗ lực cao nhất quyết tâm thực hiện
những quyết định chiến lược của Bộ Chính trị.
Đại thắng Mùa Xuân năm 1975 - bản anh hùng ca của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam
Ngày
10-3-1975, chiến thắng Buôn Mê Thuột mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi
dậy mùa xuân 1975. Với chiến thắng lớn ở Tây Nguyên, ngày 18-3-1975, Bộ
Chính trị họp và quyết định giải phóng miền Nam trong năm 1975. Ngày
25-3-1975, thành lập Hội đồng chi viện miền Nam gồm 9 đồng chí do Thủ
tướng Phạm Văn Đồng đứng đầu để chỉ đạo "huy động sức người, sức của
thật đầy đủ, kịp thời để đáp ứng mọi yêu cầu của miền Nam trong tình
hình mới". Cũng trong ngày 25-3, Bộ Chính trị quyết định giải phóng miền
Nam trước mùa mưa. Ngày 25-3, giải phóng thành phố Huế; ngày 29-3, giải
phóng Đà Nẵng và đến ngày 3-4 đã quét sạch quân địch khỏi các tỉnh ven
biển miền Trung từ Đà Nẵng đến Cam Ranh. Ngày 29-3-1975, lúc 16 giờ 30
phút, Bộ Chính trị có điện về chia cắt và bao vây chiến lược phía Tây Sài Gòn. Ngày 31-3, lúc 11 giờ, Bộ Chính trị có điện về chuẩn bị gấp kế hoạch đánh chiếm Sài Gòn.
Ngày
1-4-1975, Bộ Chính trị xác định quyết tâm chiến lược giải phóng miền
Nam trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là trong tháng 4 năm 1975, không
thể chậm hơn. Lúc 14 giờ ngày 1-4-1975, Bộ Chính trị điện xúc tiến gấp
kế hoạch tiến công và nổi dậy ở Sài Gòn - Gia Định, lập Bộ chỉ huy và
Đảng ủy mặt trận Sài Gòn.
Ngày
7-4-1975, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp ra mệnh lệnh lịch sử:
"Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng
giờ, từng phút xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và
toàn thắng".
Ngày
9-4-1975, Bộ Chính trị có điện về kế hoạch tiến công Sài Gòn: "Cần bảo
đảm một khi đã phát động tiến công thì phải công kích thật mạnh và liên
tục, dồn dập cho đến toàn thắng; vừa tiến công ở ngoại vi, vừa nắm kịp
thời cơ, thọc sâu vào trung tâm Sài Gòn từ nhiều hướng với những lực
lượng đã chuẩn bị sẵn. Thực hiện từ ngoài đánh vào, từ trong đánh ra,
tạo điều kiện cho đồng bào nổi dậy, không chia làm hai bước. Đó là
phương án cơ bản và chắc thắng nhất. Trong tình hình hiện nay, thần tốc,
thần tốc, táo bạo, bất ngờ là ở chỗ đó"(7). Ngày 14-4-1975, lúc 17 giờ
50 phút, Bộ Chính trị quyết định chiến dịch giải phóng Sài Gòn lấy tên
là Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Cứ
điểm cố thủ của địch ở Xuân Lộc bị quân ta đập tan ngày 20-4-1975. Xuân
Lộc được giải phóng, "cánh cửa thép" phía đông Sài Gòn đã mở. Ngày
26-4-1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử bắt đầu. Ngày 30-4-1975, lúc
11 giờ 30 phút, quân giải phóng chiếm Dinh Độc lập, Tổng thống chính
quyền Sài Gòn Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Cuộc Tổng tiến công và
nổi dậy mùa xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh đã toàn
thắng. Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất. Thắng
lợi vẻ vang đó đã kết thúc 30 năm chiến tranh cách mạng đầy gian khổ, hy
sinh, chấm dứt 117 năm chế độ thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ và
mới trên đất nước Việt Nam, mở ra kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc, kỷ
nguyên đất nước hoàn toàn độc lập, thống nhất và tiến lên chủ nghĩa xã
hội.
Cuộc
Tiến công chiến lược năm 1972 đã tạo những điều kiện, tiền đề cho Đại
thắng Mùa Xuân năm 1975. Đó là những chiến thắng kết tinh truyền thống
yêu nước suốt mấy ngàn năm lịch sử của dân tộc và ở tầm cao trí tuệ Việt
Nam. Những chiến thắng đó thể hiện sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân
tộc với sự bền bỉ đấu tranh và hy sinh to lớn của khát vọng độc lập,
thống nhất của dân tộc Việt Nam. Đó là thắng lợi của chế độ xã hội chủ
nghĩa trên hậu phương miền Bắc gắn liền với sức mạnh tiền tuyến lớn miền
Nam, cũng là thắng lợi của tình đoàn kết quốc tế và mang ý nghĩa thời
đại. Những thắng lợi đó bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của
Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) - một Đảng cách
mạng chân chính được vũ trang bởi lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, do Chủ
tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sáng lập và rèn luyện. Cần nhấn mạnh sự lãnh
đạo, chỉ đạo thông minh, quyết đoán và sáng tạo tuyệt vời của ban lãnh
đạo cao nhất của Đảng, của Tổng hành dinh với những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời điểm đặc biệt của lịch sử./.
(1) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, t.37, tr.471
(2) Sđd, t.33, tr.42
(3) Sđd, t.33, tr.143
(5) Sđd, t.35, tr.179
(6) Sđd, t.35, tr.192
(7) Sđd, t.36, tr.103
Những hình ảnh 12 ngày đêm lịch sử năm 1972
(VOV) - Những ngày này 40
năm về trước, Hà Nội, Hải Phòng và nhiều thành phố, trung tâm khác của
miền Bắc mịt mù, tan hoang bởi bom đạn
|
| Ngày 14/12/1972, Tổng thống Mỹ Nixon phê chuẩn kế hoạch tập kích bằng không quân chiến lược vào Hà Nội và Hải Phòng. |
|
| Không quân Mỹ sử dụng "Pháo đài bay" B52 rải thảm vào thủ đô và các thành phố lân cận. Trong ảnh, bệnh viện Bạch Mai bị bom Mỹ đánh phá tan hoang. |
|
| Đêm 18/12/1972, Đài phát sóng Mễ Trì bị đánh phá. Tuy tổn thất nặng nề nhưng Tiếng nói Việt Nam chỉ ngừng trong 9 phút. |
![]() |
| Đêm 26/12/1972, phố Khâm Thiên tan hoang bởi bom Mỹ. Tổng cộng 278 người đã thiệt mạng, chủ yếu là phụ nữ, cụ già, em nhỏ. |
![]() |
| Phụ nữ và em nhỏ trên đường đi sơ tán. |
|
| Những chiếc hầm cá nhân ngay trên vỉa hè. |
|
| Tuy nhiên, mưu đồ đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá của Nixon đã bị đập tan bởi sự anh dũng và quật cường của quân và dân ta. Trong ảnh, các chiến sỹ tên lửa bên "Rồng lửa" SAM 2. |
|
| Đoàn không quân "Sao Đỏ", đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang góp phần xứng đáng trong thắng lợi của chiến dịch. |
|
| Anh hùng Phạm Tuân, người điều khiển chiếc Mic - 21 bắn rơi B52. |
|
| Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng tới hiện trường xác chiếc B52 bị bắn rơi tại phố Hoàng Hoa Thám, Hà Nội. Tổng cộng trong 12 ngày đêm, đã có 34 chiếc bị bắn hạ trong đó 16 chiếc rơi tại chỗ. |
| Bắt giặc lái Mỹ ở Hồ Trúc Bạch. |
|
| Bữa ăn của tù binh phi công, tại Trại giam Hỏa Lò. Tuy trong điều kiện khó khăn nhưng họ vẫn được đối xử rất tốt. |
![]() |
| Thất bại nặng nề trong chiến dịch Điện Biên
Phủ trên không buộc Mỹ và tay sai phải ngồi vào bàn đàm phán để ký kết
hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh Việt Nam vào năm 1973. Trong
ảnh, Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam Nguyễn
Thị Bình đặt bút kí ngày 27/1/1973. |
![]() |
| Những tù binh Mỹ được trao trả trong năm 1973 tại sân bay Gia Lâm. |
Xác B52 “vương vãi” trên đường phố Hà Nội năm 1972
[ 14/12/2012 22:48 PM | Lượt xem: 1103 ]
Qua gần 80 tài liệu, hình ảnh, video... được trưng bày tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, người xem được sống lại thời khắc lịch sử hào hùng, thiêng liêng của dân tộc khi đối đầu với "pháo đài bay" - B52 trên bầu trời Hà Nội cách đây 40 năm (12/1972-12/2012).
Đầu xuân năm 1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm đơn vị pháo cao xạ bảo vệ Thủ đô ở trận địa trực chiến
Xác máy bay B52 bị bắn rơi ở đường Hoàng Hoa Thám (Hà Nội) ngày 27/12/1972
Bộ đội và dân quân tự vệ đứng trên xác máy bay B52 bị bắn rơi ở Hà Tây
Dân quân tự vệ kéo xác máy bay B52 bị bắn rơi ở phố Trần Phú
Bệnh viện Bạch Mai bị B52 bắn phá
Bộ đội đang chuyển máy móc, sẵn sàng chiến đấu ở Hà Tây năm 1972
Bom B52 của Mỹ phá hủy ga Yên Viên (Gia Lâm)
Các nữ dân quân sẵn sàng chiến đấu ở Uy Nỗ (Đông Anh, Hà Nội)
Diễn viên của đoàn văn công quân đội biểu diễn tại nơi chiến đấu ở Hà Tây năm 1972
Khẩu hiệu "hãy trả thù cho đồng bào khối 51 bị giặc Mỹ giết hại" dự bên bối cảnh đổ nát ở khu Lương Yên, Hà Nội sau ngày 19/12/1972
Quang cảnh một khu phố Hà Nội khi chưa bị ném bom năm 1972
Hình ảnh phòng không không quân của ta bảo vệ bầu trời Hà Nội
Triển lãm thu hút khán giả trong những ngày tháng 12 lịch sử.
Trúc Linh
Trận An Lộc
Nhà báo và mặt trận An Lộc
Lịch sử đã sang trang vào ngày 30/4/1975, nhưng những dấu ấn của chiến
tranh khó phai mờ. Mùa hè 1972 chiến cuộc diễn biến ác liệt, quân Cộng
sản Bắc Việt công khai vượt vĩ tuyến 17 mở các mặt trận lớn, đưa xe
tăng, pháo binh và phòng không hiện đại tiến công lấn chiếm lãnh thổ
VNCH. Ở phía Nam, địch quân từ Campuchia tràn sang mở mặt trận Bình
Long, cuộc vây hãm thị xã An Lộc gần ba tháng là một chiến trường thách
đố đối với các nhà báo. Nam Nguyên, lúc đó là đặc phái viên của Hệ thống
Truyền thanh Quốc gia kể lại câu chuyện của mình.
Báo chí gọi đây là chiến trường thách đố vì lần đầu tiên trong chiến
tranh Việt Nam, 40.000 quân cộng sản phong tỏa hoàn toàn một thành phố
của Nam Việt Nam cả trên bộ cũng như trên không. Đường bộ vào An Lộc
theo QL 13 bị cắt, địch quân tạo lưới lửa phòng không và pháo kích không
ngừng, trực thăng không thể đổ quân vì không có một bãi đáp nào đủ an
toàn. Tiếp tế đạn dược và lương thực toàn thả dù với hơn phân nửa lọt
vào vùng địch. Đối với các phóng viên vào An Lộc đã khó mà khi vào được
rồi thì lại không có đường ra.
Hình ảnh khủng khiếp về trận An Lộc 1972 (2)
(Kiến Thức) - Trận An Lộc 1972 là một trong những trận đánh có quy mô lớn nhất và ác liệt nhất thời chiến tranh Việt Nam.
T.B (tổng hợp) Hình ảnh khủng khiếp về trận An Lộc 1972 (1)
Những cột khói được tạo ra từ bom Mỹ sau các cuộc oanh tạc ở trận An Lộc 1972. Loạt ảnh do phóng viên người Pháp Bruno Barbey của hãng thông tấn Magnum thực hiện. Ảnh: Magnumphotos.com
Xe tăng T-54 của lực lượng Giải phóng bị phá hủy sau khi dính bom B-52 của Mỹ ở An Lộc. Ảnh: Magnumphotos.com
Xác xe tăng T-54 trên đường Ngô Quyền, thị xã An Lộc sau một đợt giao tranh. Ảnh: Magnumphotos.com
Lính Sài Gòn trên đường phố đổ nát do bom Mỹ ở An Lộc. Ảnh: Magnumphotos.com
Lính Sài Gòn trở về căn cứ sau các cuộc oanh tạc ở An Lộc. Ảnh: Magnumphotos.com
Lính Sài Gòn cáng đồng đội bị thương trong trận An Lộc, 1972. Ảnh: Magnumphotos.com
Lính Sài Gòn bị thương trong trận An Lộc được đưa về tuyến sau. Ảnh: Magnumphotos.com
Xác binh sĩ Sài Gòn được đưa từ An Lộc về căn cứ Lai Khê. Ảnh: Magnumphotos.com
Lính Sài Gòn cáng đồng đội ngang qua xác một chiếc T-54 được "trang trí" bằng sọ người ở An Lộc. Ảnh: Magnumphotos.com
Một chiếc T-54 bị vùi lấp trong hố bom ở An Lộc. Ảnh: Magnumphotos.com
Một nhóm lính Sài Gòn, trong đó có cả lính trẻ em ở An Lộc. Ảnh: Magnumphotos.com
Một lính Sài Gòn thu nhặt các loại đồ quân dụng trong đống đổ nát ở An Lộc. Ảnh: Magnumphotos.com
Một lính Sài Gòn cõng đồng đội bị thương ra trực thăng quân y ở An Lộc. Ảnh: Magnumphotos.com
VietBao.vn (Theo_Kiến Thức >>>)




Nhận xét
Đăng nhận xét