CÁC BẬC NHÂN TÀI KHOA HỌC 23
(ĐC sưu tầm trên NET)
-67:Antony van Leeuwenhoek

1632-1723
Hà Lan
Vào thời bấy giờ, người ta chỉ biết tới một loại thấu kính có số phóng đại nhỏ, trong khi đó ông Van Leeuwenhoek đã chế tạo được một dụng cụ đặc biệt nhờ thế có thể nhìn xét mọi vật lớn gấp mấy trăm lần. Do khám phá đặc biệt này, Viện Khoa Học Hoàng Gia London đã mời ông Van Leeuwenhoek tiếp tục đóng góp các nhận xét và Viện đã nhận được cả thẩy 375 bức thư của nhà quan sát người Hòa Lan trong 50 năm sau đó.
Antoni Van Leeuwenhoek sinh tại thị xã Delft, nước Hòa Lan, vào ngày 24 tháng 10 năm 1632. Cha của Antoni là ông Philip có nghề làm rổ rá để đựng các loại chén đĩa bằng sành sứ, còn bà mẹ Margaretha thuộc gia đình làm rượu bia Van Den Berch. Vào năm 1638, ông Philip qua đời, để lại bà vợ với 5 người con là Antoni lên 5 tuổi và 4 người em gái. Hai năm sau, bà Margaretha kết hôn với ông Jacob Molijn, có 3 người con riêng. Với một gia đình đông đúc như vậy, Antoni được gửi tới trường học tại Warmond, cách thị xã Delft chừng 20 dậm.

Vào năm 1648 khi được 16 tuổi, Antoni tới thủ đô Amsterdam để học nghề thương mại và làm việc trong một cửa hàng bán vải. Cuộc sống tại một thành phố lớn đã không đủ hấp dẫn nên vào năm 1654, Antoni trở lại thị xã Delft, kết hôn với một phụ nữ địa phương tên là Barbara de Mei rồi lập ra một cửa hàng bán vải, lụa và len cùng với một số y phục may sẵn. Để chắc chắn rằng hàng vải bán ra thuộc loại phẩm chất tốt, Antoni đã dùng tới loại kính lúp để xem xét từng sợi chỉ dệt.
Vào năm 1660, Antoni Leeuwenhoek đảm nhận thêm công việc quét dọn văn phòng của Tòa Thị Sảnh, trở nên nhân viên đo dạc vào năm 1669 và nhân viên kiểm soát rượu vang 10 năm về sau. Các công việc này rất thích hợp với Antoni vì ông ta là người biết quan sát cẩn thận, ưa thích đo lường chính xác.
Antoni Leeuwenhoek có vợ và 5 người con nhưng chỉ một người con gái tên là Maria, sinh năm 1656 là còn sống. Năm 1666 bà Barbara qua đời, Antoni kết hôn với người vợ mới tên là Cornelia Swalmius. Bà này thuộc một gia đình có giáo dục, với cha là mục sư, người anh là một bác sĩ. Vào năm 1667 hay 1668, Antoni qua thăm nước Anh, được nghe người dân nói về một nhà khoa học tên là Robert Hooke. Ông này thường dùng kính hiển vi không phải để xem xét các sợi vải, mà quan sát nhiều thứ khác nhau như vỏ cây, các loại mốc. Nhà khoa học Robert Hooke đã mô tả các tế bào bằng hình vẽ và các bài tường thuật trong một quyển sách có nhan đề là "Micrographia". Có lẽ do nhìn thấy tác phẩm khoa học này mà Anton Leeuwenhoek chú ý tới nhiều khám phá do loại kính hiển vi mang lại.
Khi trở về Hòa Lan, Antoni Leeuwenhoek được dịp tham dự vào nhiều buổi họp của các bác sĩ tại thị xã Delft. Các vị y sĩ này thường mổ xẻ xác người chết để tìm hiểu về cấu trúc của cơ thể. Một trong các bác sĩ này quen thân với Antoni Leeuwenhoek có tên là Reinier de Graaf. Ngày 28-4-1673, bác sĩ De Graaf gửi thư tới Hội Khoa Học Hoàng Gia London (The Royal Society of London) mô tả "một người rất khéo léo, tên là Leeuwenhoek, đã làm ra được các kính hiển vi tốt hơn thứ thường dùng". Ông De Graaf còn kèm theo một bức thư do Leeuwenhoek viết qua đó có mô tả ba sự việc. Thứ nhất, Leeuwenhoek nói về loại mốc mọc trên miếng bánh mì và các tế bào rất nhỏ, gọi là "bào tử" (spores). Thứ hai là phần mô tả con ong với mắt, miệng và vòi chích. Con vật thứ ba mà Leeuwenhoek đề cập là con rận (lice), một loại ký sinh rất nhỏ, sống trên da của người và gia súc bằng cách hút máu.
Hội Khoa Học Hoàng Gia London rất ưa thích bức thư của Leeuwenhoek và yêu nhà quan sát người Hòa Lan tiếp tục gửi thư. Kể từ thời gian này, Leeuwenhoek đã gửi qua nước Anh hàng trăm lá thư, nói rõ về địa điểm và làm sao một thí nghiệm hay một cách quan sát được thực hiện, nhưng ông ta không cho biết đã học cách chế tạo kính hiển vi từ đâu và vào năm nào. Qua một bức thư, người ta ước đoán rằng Leeuwenhoek bắt đầu làm ra kính hiển vi vào năm 1670 hay 1671. Trong bức thư đầu tiên trả lời Hội Khoa Học Hoàng Gia London gửi vào ngày 15-8-1673, Antoni Leeuwenhoek thú nhận mình thiếu huấn luyện về Khoa Học và về viết văn, và nói rõ rằng các bức vẽ là do nhờ các họa sĩ địa phương nhìn qua kính hiển vi.
Antoni Van Leeuwenhoek có một đam mê, đó là việc mài các thấu kính. Ông ta đã quyết định chế tạo các thấu kính thật hoàn hảo vì thế hơn 400 thấu kính đã được Leeuwenhoek mài dũa. Các thấu kính này nhỏ, đường kính chừng 3 milimét nhưng phẩm chất của chúng rất đáng kể. Leeuwenhoek đã dùng các thấu kính đó để chế tạo các kính hiển vi. Thời đó, kính của Leeuwenhoek rất đơn giản, nó gồm có một thấu kính được gắn trên một cái đế chắc chắn. Loại kính hiển vi do Leeuwenhoek chế tạo không giống thứ kính mà chúng ta dùng ngày nay, nó chỉ dài chừng vài inches, với một thấu kính đơn giản như một kính lúp vậy. Một bác sĩ Ái Nhĩ Lan thuộc Viên Khoa Học Hoàng Gia tên là Thomas Molyneux đã tới thăm Leeuwenhoek vào năm 1685, ghi nhận rằng kính hiển vi do Leeuwenhoek chế tạo có độ phóng lớn không nhiều hơn các thứ kính tương tự nhưng đặc biệt là rất trong sáng, rõ ràng. Về sau, người ta thấy rằng loại kính tốt nhất có độ phóng lớn cao nhất là 266 lần.
Nếu Galileo chĩa kính viễn vọng lên từng cao để thăm dò vũ trụ bao la thì trái lại, Leeuwenhoek lại dùng kính hiển vi để tìm hiểu các thế giới nhỏ bé li ti. Ông ta đã quan sát mọi vật nhỏ bé có trước mắt, từ da người, mắt bò, lông thú vật tới chân và đầu của các con ruồi. Leeuwenhoek đã bỏ hàng giờ vào việc quan sát, mặc dù những người chung quanh bảo ông là điên khùng. Nhờ quan sát tỉ mỉ, Leeuwenhoek thường khám phá ra các điều đáng ngạc nhiên. Ông cũng đo lường cẩn thận các sự vật quan sát nhưng đơn vị đo lường của ông khác thường. Ông ta so sánh nhiều đề tài quan sát với một hạt cát có độ lớn vào khoảng 1/30 inch.
Một hôm, Leeuwenhoek nhìn vào một giọi nước mưa mà ông múc ra trong một vũng nước, ông đã tìm thấy "các sinh vật nhỏ bơi lội, chơi đùa, chúng nhỏ hơn một trăm lần nếu chúng ta nhìn bằng mắt thường". Ông gọi chúng là các sinh vật nhỏ khốn khổ. Leeuwenhoek nhận xét rằng các sinh vật đó không phải từ trên trời rơi xuống. Muốn chứng minh điều này, ông lấy một chiếc bát sạch và hứng nước mưa, khi nhìn thứ giọt nước mưa này, ông không thấy các sinh vật nhỏ đó nữa. Ông giữ lại thứ nước mưa này trong nhiều ngày và đã thấy các "vi sinh vật" hiện ra. Do đó, ông kết luận rằng chúng từ cát bụi do gió đưa lại.
Vào mùa hè năm 1674, Antoni Leeuwenhoek tới thăm hồ Berkelse, cách thị xã Delft vào khoảng 2 giờ đi đường. Trong một bức thư gửi cho Viện Khoa Học Hoàng Gia, Leeuwenhoek đã mô tả rằng trong giọt nước của hồ Berkelse có các "con vật rất nhỏ", mình uốn cong như các con rắn. Đây là khám phá lớn lao nhất của Leeuwenhoek. Phần lớn các con vật rất nhỏ mà Leeuwenhoek mô tả thuộc về loại sinh vật đơn bào (protists). Trong bức thư viết ngày 9-10-1676, Leeuwenhoek nhận xét về nhiều loại vi trùng (microbes) trong nhiều nguồn nước, từ nước mưa, nước biển, nước do tuyết tan, nước ngâm hồ tiêu (black pepper). Leeuwenhoek cũng nói về loại vi trùng vorticella có cái đuôi rất nhỏ để di chuyển hay bắt mồi. Để bảo đảm rằng các điều quan sát được mô tả đúng, Antoni Leeuwenhoek cũng gửi tới Viện Khoa Học Hoàng Gia các bức thư xác nhận sự thật của 8 nhân chứng, gồm cả mục sư, luật sư và bác sĩ.
Để kiểm chứng, Viện Khoa Học Hoàng Gia đã cử Robert Hooke làm lại các thí nghiệm của Leeuwenhoek nhưng rất trễ, vào năm 1677. Vào ngày 15 tháng 11 năm đó, một nhân viên của Viện tên là Birch đã xác nhận rằng "không còn nghi ngờ gì về khám phá của ông Leeuwenhoek". Việc tìm ra vi trùng trong nước đã là điều khiến cho nhiều người sửng sốt. Trong bức thư viết ngày 17-9-1683, Leeuwenhoek mô tả rằng trong chất màu trắng bám vào phía sau răng của mình, thứ mà ngày nay nha sĩ gọi là bựa răng (plaque), có hàng triệu vi trùng. Ông còn tìm thấy vi trùng trong phân người, một loại đơn bào sống trong ruột với tên ngày nay gọi là Giardia.
Antoni Leeuwenhoek còn khảo sát 67 loại côn trùng, kể cả loài tôm và loài nhện. Ông thường mang trong người các hộp đựng ấu trùng (larvae) rồi đề nghị cách giết các con sâu nhậy (moth) bằng cách dùng tới khói lưu huỳnh (sulfur).
Trước kia vào năm 1628, một nhà khoa học người Anh tên là William Harvey đã phổ biến một quyển sách nói về cách tuần hoàn của máu trong cơ thể. Harvey cho biết trái tim bơm máu qua các động mạch và nhờ máu mà cơ thể được nuôi sống, rồi sau đó, máu trở về tim bằng các tĩnh mạch. Trước Harvey, chưa từng có ai biết điều này. Có một điều mà ông Harvey chưa biết rõ, là làm sao máu chuyển từ động mạch sang tĩnh mạch. Sau khi ông Harvey qua đời 3 năm, một nhà khoa học người Ý tên là Marcello Malpighi đã giải thích được bí ẩn này vào năm 1660. Malpighi đã dùng kính hiển vi quan sát các mao mạch (capillaries) trong phổi của các con nhái tại nơi này, động mạch và tĩnh mạch được nối với nhau. Đây là điều mà ông Harvey chưa biết tới, bởi vì ông ta đã không có kính hiển vi.
Công trình khoa học của William Harvey được nhiều người biết tới. Khám phá của Marcello Malpighi kém phổ biến hơn trong khi đó, Leeuwenhoek chưa hề biết tới cả hai khám phá khoa học kể trên. Nhưng Leeuwenhoek đã dùng kính hiển vi quan sát các mạch máu nơi cổ con gà, nơi tai con thỏ, rồi nơi đuôi con nòng nọc (tadpole) nhờ đó đi đến kết luận rằng "động mạch và tĩnh mạch là cùng loại mạch máu". Leeuwenhoek lại lấy kim chích ngón tay rồi quan sát các giọt máu, ông đã khám phá ra các hồng huyết cầu. Năm 1674, ông kể lại một cách thành thực với Viện Khoa Học Hoàng về những điều khám phá của mình. Ba năm sau, ông lại mô tả về tinh trùng của loài chó và của các sinh vật khác.
Những điều khám phá của Antoni Leeuwenhoek đã khiến cho Viện Khoa Học Hoàng Gia hỏi mượn chiếc kính hiển vi nhưng Viện chỉ nhận được một bức thư dài mô tả về những điều huyền diệu của thế giới rất nhỏ còn chiếc kính hiển vi của nhà quan sát bị nghi ngờ thì không thấy gửi đến. Do đó Robert Hooke và Nehemiah Grew phải họp nhau để chế tạo một kính hiển vi khác. Các nhà khoa học người Anh đã kiểm chứng lại những khám phá của Antoni Leeuwenhoek và đã phải công nhận những điều tìm thấy đó. Ngày 8 tháng 2 năm 1680, Viện Khoa Học Hoàng Gia London đã ca ngợi Antoni Van Leeuwenhoek và chấp nhận nhà khoa học chưa từng cắp sách đến trường này làm hội viên.
Do là nhân viên của Viện Khoa Học Hoàng Gia London, nhiều người tại châu Âu đã biết tới danh tiếng của Antoni Van Leeuwenhoek. Họ đã tới thị xã Delft để thăm viếng nhà khoa học này, kể cả Hoàng Hậu Catherine, vợ của Vua Charles II nước Anh. Vào năm 1698, khi đi qua nước Hòa Lan, Đại Đế Peter của nước Nga đã dừng chân tại Delft và nhà khoa học Leeuwenhoek đã trình bày cho Sa Hoàng thấy rõ sự vận chuyển của máu trên đuôi của con lươn. Nhà khoa học cũng tặng Sa Hoàng một hoặc hai kính hiển vi nhờ đó một chiếc còn lưu lại tại nước Nga ngày nay và đây là một điều đặc biệt vì chưa bao giờ Antoni Leeuwenhoek cho ai dụng cụ khoa học này.
Trong các năm cuối đời, Antoni Van Leeuwenhoek nổi danh ngoài điều ông dự liệu. Vào năm 1711, ông Leeuwenhoek đã phải than phiền là đã có 26 người tới thăm ông trong 4 ngày liền khiến cho ông quá mệt mỏi. Nhiều người khách cũng đã làm phiền ông, chẳng hạn như họ chỉ trích ông thiếu giáo dục căn bản, nhưng điều này cũng khiến ông tự hào vì ông không bị ảnh hưởng bởi các thành kiến của người đương thời.
Antoni Van Leeuwenhoek được nhiều nhà khoa học kính trọng. Vào năm 1716, Đại Học Louvain gửi tặng ông một huy chương trên một mặt có khắc chân dung của ông, mặt kia là hình một tổ ong với hình ảnh thị xã Delft, với ý nghĩa ca ngợi công trình nghiên cứu của Leeuwenhoek giống như công tác kiên nhẫn của các con ong mật.
Năm 1717 vào tuổi 85, Antoni Van Leeuwenhoek gửi tới Viện Khoa Học Hoàng Gia các bức thư mà ông cho là cuối cùng trong đó nói rằng bàn tay của ông đã yếu và run rẩy nhưng thật ra, ông còn sống thêm 6 năm nữa, vẫn tiếp tục quan sát nhiều mẫu vật kể cả loại cát có vàng của Công Ty Đông Ấn thuộc Hòa Lan và gửi thêm được 18 bức thư tới Viện Khoa Học kể trên. Antoni Van Leeuwenhoek qua đời vào ngày 26-8-1723, thọ 91 tuổi, để lại chúc thư trao tặng 26 kính hiển vi mà ông tự chế tạo cho Viện Khoa Học Hoàng Gia London.
Các khám phá qua kính hiển vi của Antoni Van Leeuwenhoek là các món quà tặng cho Nhân Loại. Leeuwenhoek là nhà khoa học quan sát và ghi chép cẩn thận, ông đã chú ý tới từng chi tiết rất nhỏ, mô tả sự vật bằng các hình vẽ, bằng các đo lường. Ông đã làm việc một cách chăm chỉ và kiên nhẫn, kiểm soát các điều tìm ra trong các hoàn cảnh khác nhau. Do bản tính hiếu kỳ, muốn hiểu rõ, Antoni Van Leeuwenhoek đã khảo sát mọi thứ, từ các loại côn trùng, các tế bào tới các vi trùng, từ cây cỏ tới các tinh thể. Tất cả các khám phá của Antoni Van Leeuwenhoek đã khiến cho người đương thời với ông coi ông là một nhân vật kỳ dị và một nhà ảo thuật danh tiếng.
Lịch sử của kính hiển vi bắt đầu từ thời Trung cổ. Từ Thế kỷ 11, những người
Arab đã biết mài nhẵn loại đá quý beryl thành thấu kính dạng cầu lồi để phóng to chữ
viết. Tuy nhiên, trong sự phát triển về sau của các thấu kính này để trở thành những
dụng cụ quang học có độ phóng đại đáng kể lại không có dấu ấn rõ nét của bất kỳ một
cá nhân nào. Chiếc kính hiển vi đầu tiên ra đời là kết quả của rất nhiều ý tưởng và
thiết kế đến từ các nhà khoa học và học giả khác nhau.
Hình minh họa: kính hiển vi phức hợp Thế kỷ 17 ((© Golub Collection –
University of California, Berkeley/Steven Ruzin, Curator).
Một bước tiến quan trọng cho sự phát triển sau này của hiển vi huỳnh
quang là sự khám phá ra chất đánh dấu GFP (Green Flourescing Protein).
Nó đến từ loại sứa có tên Aequorea victoria và được mô tả lần đầu tiên
bởi Osamu Shimomura vào năm 1961. Trong những năm 1990, Douglas Prasher
and Martin Chalfie đã thành công trong việc lần đầu tiên tái tạo GFP bên
ngoài cơ thể sứa và do đó nó có thể được dùng như là một chất đánh dấu
cho các protein khác. Trong những năm sau đó có rất nhiều các kỹ thuật
hiển vi huỳnh quang đã được phát triển và cải tiến. Những kỹ thuật như
FRAP (Fluorescence Recovery After Photobleaching) và TIRF (Total
Internal Reflection Microscopy) vẫn đóng một vai trò quan trọng trong
hiển vi hiện đại.
Năm 1957, Marvin Minsky đã đăng ký sáng chế đầu tiên về hiển vi đồng tiêu. Ban đầu, phát minh này không gây được sự chú ý đối với giới khoa học. Tuy nhiên sau khi phương pháp này được cải tiến nhờ kỹ thuật laser, nó cuối cùng cũng được chấp nhận và trở thành một kỹ thuật hiển vi được sử dụng rộng rãi.
-68:Georgius Agricola
1494-1555
Đức
Khoáng Vật Học
-69:Daniel Bernoulli
1700-1782
Thụy Sĩ
Toán Học, Vật Lý
-67:Antony van Leeuwenhoek
1632-1723
Hà Lan
Antoni Van Leeuwenhoek , nhà quan sát đầu tiên các sinh vật cực nhỏ
Đăng lúc: Thứ ba - 07/10/2014 08:11 - Người đăng bài viết: Cộng tác viênNăm 1673, Viện Khoa Học Hoàng Gia London nhận được một bức thư dài và rất kỳ dị. Bức thư được gửi tới các hội viện của Viện là những học giả uyên bác. Các vị này lúc đầu đã phì cười để rồi cuối cùng đổi sang ngạc nhiên và kính phục. Tác giả bức thư là một người Hòa Lan, làm nghề coi cửa hàng kiêm gác cửa khi rảnh việc. Trong bức thư, tác giả đã kể lại về sức khỏe của mình, về các người hàng xóm và sự mê tín của họ và về những điều quan sát bằng mắt qua một dụng cụ đặc biệt, vì thế bức thư có đầu đề như sau :" Một bài mẫu về vài điều quan sát bằng kính hiển vi do ông Leeuwenhoek chế tạo, liên quan tới các đường chỉ trên da thịt, tới vòi của con ong".".
Vào thời bấy giờ, người ta chỉ biết tới một loại thấu kính có số phóng đại nhỏ, trong khi đó ông Van Leeuwenhoek đã chế tạo được một dụng cụ đặc biệt nhờ thế có thể nhìn xét mọi vật lớn gấp mấy trăm lần. Do khám phá đặc biệt này, Viện Khoa Học Hoàng Gia London đã mời ông Van Leeuwenhoek tiếp tục đóng góp các nhận xét và Viện đã nhận được cả thẩy 375 bức thư của nhà quan sát người Hòa Lan trong 50 năm sau đó.
Antoni Van Leeuwenhoek sinh tại thị xã Delft, nước Hòa Lan, vào ngày 24 tháng 10 năm 1632. Cha của Antoni là ông Philip có nghề làm rổ rá để đựng các loại chén đĩa bằng sành sứ, còn bà mẹ Margaretha thuộc gia đình làm rượu bia Van Den Berch. Vào năm 1638, ông Philip qua đời, để lại bà vợ với 5 người con là Antoni lên 5 tuổi và 4 người em gái. Hai năm sau, bà Margaretha kết hôn với ông Jacob Molijn, có 3 người con riêng. Với một gia đình đông đúc như vậy, Antoni được gửi tới trường học tại Warmond, cách thị xã Delft chừng 20 dậm.
Vào năm 1648 khi được 16 tuổi, Antoni tới thủ đô Amsterdam để học nghề thương mại và làm việc trong một cửa hàng bán vải. Cuộc sống tại một thành phố lớn đã không đủ hấp dẫn nên vào năm 1654, Antoni trở lại thị xã Delft, kết hôn với một phụ nữ địa phương tên là Barbara de Mei rồi lập ra một cửa hàng bán vải, lụa và len cùng với một số y phục may sẵn. Để chắc chắn rằng hàng vải bán ra thuộc loại phẩm chất tốt, Antoni đã dùng tới loại kính lúp để xem xét từng sợi chỉ dệt.
Vào năm 1660, Antoni Leeuwenhoek đảm nhận thêm công việc quét dọn văn phòng của Tòa Thị Sảnh, trở nên nhân viên đo dạc vào năm 1669 và nhân viên kiểm soát rượu vang 10 năm về sau. Các công việc này rất thích hợp với Antoni vì ông ta là người biết quan sát cẩn thận, ưa thích đo lường chính xác.
Antoni Leeuwenhoek có vợ và 5 người con nhưng chỉ một người con gái tên là Maria, sinh năm 1656 là còn sống. Năm 1666 bà Barbara qua đời, Antoni kết hôn với người vợ mới tên là Cornelia Swalmius. Bà này thuộc một gia đình có giáo dục, với cha là mục sư, người anh là một bác sĩ. Vào năm 1667 hay 1668, Antoni qua thăm nước Anh, được nghe người dân nói về một nhà khoa học tên là Robert Hooke. Ông này thường dùng kính hiển vi không phải để xem xét các sợi vải, mà quan sát nhiều thứ khác nhau như vỏ cây, các loại mốc. Nhà khoa học Robert Hooke đã mô tả các tế bào bằng hình vẽ và các bài tường thuật trong một quyển sách có nhan đề là "Micrographia". Có lẽ do nhìn thấy tác phẩm khoa học này mà Anton Leeuwenhoek chú ý tới nhiều khám phá do loại kính hiển vi mang lại.
Khi trở về Hòa Lan, Antoni Leeuwenhoek được dịp tham dự vào nhiều buổi họp của các bác sĩ tại thị xã Delft. Các vị y sĩ này thường mổ xẻ xác người chết để tìm hiểu về cấu trúc của cơ thể. Một trong các bác sĩ này quen thân với Antoni Leeuwenhoek có tên là Reinier de Graaf. Ngày 28-4-1673, bác sĩ De Graaf gửi thư tới Hội Khoa Học Hoàng Gia London (The Royal Society of London) mô tả "một người rất khéo léo, tên là Leeuwenhoek, đã làm ra được các kính hiển vi tốt hơn thứ thường dùng". Ông De Graaf còn kèm theo một bức thư do Leeuwenhoek viết qua đó có mô tả ba sự việc. Thứ nhất, Leeuwenhoek nói về loại mốc mọc trên miếng bánh mì và các tế bào rất nhỏ, gọi là "bào tử" (spores). Thứ hai là phần mô tả con ong với mắt, miệng và vòi chích. Con vật thứ ba mà Leeuwenhoek đề cập là con rận (lice), một loại ký sinh rất nhỏ, sống trên da của người và gia súc bằng cách hút máu.
Hội Khoa Học Hoàng Gia London rất ưa thích bức thư của Leeuwenhoek và yêu nhà quan sát người Hòa Lan tiếp tục gửi thư. Kể từ thời gian này, Leeuwenhoek đã gửi qua nước Anh hàng trăm lá thư, nói rõ về địa điểm và làm sao một thí nghiệm hay một cách quan sát được thực hiện, nhưng ông ta không cho biết đã học cách chế tạo kính hiển vi từ đâu và vào năm nào. Qua một bức thư, người ta ước đoán rằng Leeuwenhoek bắt đầu làm ra kính hiển vi vào năm 1670 hay 1671. Trong bức thư đầu tiên trả lời Hội Khoa Học Hoàng Gia London gửi vào ngày 15-8-1673, Antoni Leeuwenhoek thú nhận mình thiếu huấn luyện về Khoa Học và về viết văn, và nói rõ rằng các bức vẽ là do nhờ các họa sĩ địa phương nhìn qua kính hiển vi.
Antoni Van Leeuwenhoek có một đam mê, đó là việc mài các thấu kính. Ông ta đã quyết định chế tạo các thấu kính thật hoàn hảo vì thế hơn 400 thấu kính đã được Leeuwenhoek mài dũa. Các thấu kính này nhỏ, đường kính chừng 3 milimét nhưng phẩm chất của chúng rất đáng kể. Leeuwenhoek đã dùng các thấu kính đó để chế tạo các kính hiển vi. Thời đó, kính của Leeuwenhoek rất đơn giản, nó gồm có một thấu kính được gắn trên một cái đế chắc chắn. Loại kính hiển vi do Leeuwenhoek chế tạo không giống thứ kính mà chúng ta dùng ngày nay, nó chỉ dài chừng vài inches, với một thấu kính đơn giản như một kính lúp vậy. Một bác sĩ Ái Nhĩ Lan thuộc Viên Khoa Học Hoàng Gia tên là Thomas Molyneux đã tới thăm Leeuwenhoek vào năm 1685, ghi nhận rằng kính hiển vi do Leeuwenhoek chế tạo có độ phóng lớn không nhiều hơn các thứ kính tương tự nhưng đặc biệt là rất trong sáng, rõ ràng. Về sau, người ta thấy rằng loại kính tốt nhất có độ phóng lớn cao nhất là 266 lần.
Nếu Galileo chĩa kính viễn vọng lên từng cao để thăm dò vũ trụ bao la thì trái lại, Leeuwenhoek lại dùng kính hiển vi để tìm hiểu các thế giới nhỏ bé li ti. Ông ta đã quan sát mọi vật nhỏ bé có trước mắt, từ da người, mắt bò, lông thú vật tới chân và đầu của các con ruồi. Leeuwenhoek đã bỏ hàng giờ vào việc quan sát, mặc dù những người chung quanh bảo ông là điên khùng. Nhờ quan sát tỉ mỉ, Leeuwenhoek thường khám phá ra các điều đáng ngạc nhiên. Ông cũng đo lường cẩn thận các sự vật quan sát nhưng đơn vị đo lường của ông khác thường. Ông ta so sánh nhiều đề tài quan sát với một hạt cát có độ lớn vào khoảng 1/30 inch.
Một hôm, Leeuwenhoek nhìn vào một giọi nước mưa mà ông múc ra trong một vũng nước, ông đã tìm thấy "các sinh vật nhỏ bơi lội, chơi đùa, chúng nhỏ hơn một trăm lần nếu chúng ta nhìn bằng mắt thường". Ông gọi chúng là các sinh vật nhỏ khốn khổ. Leeuwenhoek nhận xét rằng các sinh vật đó không phải từ trên trời rơi xuống. Muốn chứng minh điều này, ông lấy một chiếc bát sạch và hứng nước mưa, khi nhìn thứ giọt nước mưa này, ông không thấy các sinh vật nhỏ đó nữa. Ông giữ lại thứ nước mưa này trong nhiều ngày và đã thấy các "vi sinh vật" hiện ra. Do đó, ông kết luận rằng chúng từ cát bụi do gió đưa lại.
Vào mùa hè năm 1674, Antoni Leeuwenhoek tới thăm hồ Berkelse, cách thị xã Delft vào khoảng 2 giờ đi đường. Trong một bức thư gửi cho Viện Khoa Học Hoàng Gia, Leeuwenhoek đã mô tả rằng trong giọt nước của hồ Berkelse có các "con vật rất nhỏ", mình uốn cong như các con rắn. Đây là khám phá lớn lao nhất của Leeuwenhoek. Phần lớn các con vật rất nhỏ mà Leeuwenhoek mô tả thuộc về loại sinh vật đơn bào (protists). Trong bức thư viết ngày 9-10-1676, Leeuwenhoek nhận xét về nhiều loại vi trùng (microbes) trong nhiều nguồn nước, từ nước mưa, nước biển, nước do tuyết tan, nước ngâm hồ tiêu (black pepper). Leeuwenhoek cũng nói về loại vi trùng vorticella có cái đuôi rất nhỏ để di chuyển hay bắt mồi. Để bảo đảm rằng các điều quan sát được mô tả đúng, Antoni Leeuwenhoek cũng gửi tới Viện Khoa Học Hoàng Gia các bức thư xác nhận sự thật của 8 nhân chứng, gồm cả mục sư, luật sư và bác sĩ.
Để kiểm chứng, Viện Khoa Học Hoàng Gia đã cử Robert Hooke làm lại các thí nghiệm của Leeuwenhoek nhưng rất trễ, vào năm 1677. Vào ngày 15 tháng 11 năm đó, một nhân viên của Viện tên là Birch đã xác nhận rằng "không còn nghi ngờ gì về khám phá của ông Leeuwenhoek". Việc tìm ra vi trùng trong nước đã là điều khiến cho nhiều người sửng sốt. Trong bức thư viết ngày 17-9-1683, Leeuwenhoek mô tả rằng trong chất màu trắng bám vào phía sau răng của mình, thứ mà ngày nay nha sĩ gọi là bựa răng (plaque), có hàng triệu vi trùng. Ông còn tìm thấy vi trùng trong phân người, một loại đơn bào sống trong ruột với tên ngày nay gọi là Giardia.
Antoni Leeuwenhoek còn khảo sát 67 loại côn trùng, kể cả loài tôm và loài nhện. Ông thường mang trong người các hộp đựng ấu trùng (larvae) rồi đề nghị cách giết các con sâu nhậy (moth) bằng cách dùng tới khói lưu huỳnh (sulfur).
Trước kia vào năm 1628, một nhà khoa học người Anh tên là William Harvey đã phổ biến một quyển sách nói về cách tuần hoàn của máu trong cơ thể. Harvey cho biết trái tim bơm máu qua các động mạch và nhờ máu mà cơ thể được nuôi sống, rồi sau đó, máu trở về tim bằng các tĩnh mạch. Trước Harvey, chưa từng có ai biết điều này. Có một điều mà ông Harvey chưa biết rõ, là làm sao máu chuyển từ động mạch sang tĩnh mạch. Sau khi ông Harvey qua đời 3 năm, một nhà khoa học người Ý tên là Marcello Malpighi đã giải thích được bí ẩn này vào năm 1660. Malpighi đã dùng kính hiển vi quan sát các mao mạch (capillaries) trong phổi của các con nhái tại nơi này, động mạch và tĩnh mạch được nối với nhau. Đây là điều mà ông Harvey chưa biết tới, bởi vì ông ta đã không có kính hiển vi.
Công trình khoa học của William Harvey được nhiều người biết tới. Khám phá của Marcello Malpighi kém phổ biến hơn trong khi đó, Leeuwenhoek chưa hề biết tới cả hai khám phá khoa học kể trên. Nhưng Leeuwenhoek đã dùng kính hiển vi quan sát các mạch máu nơi cổ con gà, nơi tai con thỏ, rồi nơi đuôi con nòng nọc (tadpole) nhờ đó đi đến kết luận rằng "động mạch và tĩnh mạch là cùng loại mạch máu". Leeuwenhoek lại lấy kim chích ngón tay rồi quan sát các giọt máu, ông đã khám phá ra các hồng huyết cầu. Năm 1674, ông kể lại một cách thành thực với Viện Khoa Học Hoàng về những điều khám phá của mình. Ba năm sau, ông lại mô tả về tinh trùng của loài chó và của các sinh vật khác.
Những điều khám phá của Antoni Leeuwenhoek đã khiến cho Viện Khoa Học Hoàng Gia hỏi mượn chiếc kính hiển vi nhưng Viện chỉ nhận được một bức thư dài mô tả về những điều huyền diệu của thế giới rất nhỏ còn chiếc kính hiển vi của nhà quan sát bị nghi ngờ thì không thấy gửi đến. Do đó Robert Hooke và Nehemiah Grew phải họp nhau để chế tạo một kính hiển vi khác. Các nhà khoa học người Anh đã kiểm chứng lại những khám phá của Antoni Leeuwenhoek và đã phải công nhận những điều tìm thấy đó. Ngày 8 tháng 2 năm 1680, Viện Khoa Học Hoàng Gia London đã ca ngợi Antoni Van Leeuwenhoek và chấp nhận nhà khoa học chưa từng cắp sách đến trường này làm hội viên.
Do là nhân viên của Viện Khoa Học Hoàng Gia London, nhiều người tại châu Âu đã biết tới danh tiếng của Antoni Van Leeuwenhoek. Họ đã tới thị xã Delft để thăm viếng nhà khoa học này, kể cả Hoàng Hậu Catherine, vợ của Vua Charles II nước Anh. Vào năm 1698, khi đi qua nước Hòa Lan, Đại Đế Peter của nước Nga đã dừng chân tại Delft và nhà khoa học Leeuwenhoek đã trình bày cho Sa Hoàng thấy rõ sự vận chuyển của máu trên đuôi của con lươn. Nhà khoa học cũng tặng Sa Hoàng một hoặc hai kính hiển vi nhờ đó một chiếc còn lưu lại tại nước Nga ngày nay và đây là một điều đặc biệt vì chưa bao giờ Antoni Leeuwenhoek cho ai dụng cụ khoa học này.
Trong các năm cuối đời, Antoni Van Leeuwenhoek nổi danh ngoài điều ông dự liệu. Vào năm 1711, ông Leeuwenhoek đã phải than phiền là đã có 26 người tới thăm ông trong 4 ngày liền khiến cho ông quá mệt mỏi. Nhiều người khách cũng đã làm phiền ông, chẳng hạn như họ chỉ trích ông thiếu giáo dục căn bản, nhưng điều này cũng khiến ông tự hào vì ông không bị ảnh hưởng bởi các thành kiến của người đương thời.
Antoni Van Leeuwenhoek được nhiều nhà khoa học kính trọng. Vào năm 1716, Đại Học Louvain gửi tặng ông một huy chương trên một mặt có khắc chân dung của ông, mặt kia là hình một tổ ong với hình ảnh thị xã Delft, với ý nghĩa ca ngợi công trình nghiên cứu của Leeuwenhoek giống như công tác kiên nhẫn của các con ong mật.
Năm 1717 vào tuổi 85, Antoni Van Leeuwenhoek gửi tới Viện Khoa Học Hoàng Gia các bức thư mà ông cho là cuối cùng trong đó nói rằng bàn tay của ông đã yếu và run rẩy nhưng thật ra, ông còn sống thêm 6 năm nữa, vẫn tiếp tục quan sát nhiều mẫu vật kể cả loại cát có vàng của Công Ty Đông Ấn thuộc Hòa Lan và gửi thêm được 18 bức thư tới Viện Khoa Học kể trên. Antoni Van Leeuwenhoek qua đời vào ngày 26-8-1723, thọ 91 tuổi, để lại chúc thư trao tặng 26 kính hiển vi mà ông tự chế tạo cho Viện Khoa Học Hoàng Gia London.
Các khám phá qua kính hiển vi của Antoni Van Leeuwenhoek là các món quà tặng cho Nhân Loại. Leeuwenhoek là nhà khoa học quan sát và ghi chép cẩn thận, ông đã chú ý tới từng chi tiết rất nhỏ, mô tả sự vật bằng các hình vẽ, bằng các đo lường. Ông đã làm việc một cách chăm chỉ và kiên nhẫn, kiểm soát các điều tìm ra trong các hoàn cảnh khác nhau. Do bản tính hiếu kỳ, muốn hiểu rõ, Antoni Van Leeuwenhoek đã khảo sát mọi thứ, từ các loại côn trùng, các tế bào tới các vi trùng, từ cây cỏ tới các tinh thể. Tất cả các khám phá của Antoni Van Leeuwenhoek đã khiến cho người đương thời với ông coi ông là một nhân vật kỳ dị và một nhà ảo thuật danh tiếng.
Nguồn: violet.vn
Sơ lược lịch sử về kính hiển vi quang học - từ kính phóng đại thời Trung cổ đến Kính hiển vi phân giải siêu cao
5238 lượt - 2015-09-29 09:46:13Arab đã biết mài nhẵn loại đá quý beryl thành thấu kính dạng cầu lồi để phóng to chữ
viết. Tuy nhiên, trong sự phát triển về sau của các thấu kính này để trở thành những
dụng cụ quang học có độ phóng đại đáng kể lại không có dấu ấn rõ nét của bất kỳ một
cá nhân nào. Chiếc kính hiển vi đầu tiên ra đời là kết quả của rất nhiều ý tưởng và
thiết kế đến từ các nhà khoa học và học giả khác nhau.
Hình minh họa: kính hiển vi phức hợp Thế kỷ 17 ((© Golub Collection –
University of California, Berkeley/Steven Ruzin, Curator).
Dụng cụ phóng đại đầu tiên tạo ra bởi những người thợ làm kính
Mặc dù ý tưởng về việc phóng đại một vật
thể hai lần với hai thấu kính đặt thẳng hàng đã bắt đầu manh nha ngay từ
đầu thế kỷ 16, người ta đã phải mất một thời gian khá lâu để có thể tạo
ra được một dụng cụ như vậy. Hans Janssen – một thợ làm kính người Hà
Lan và con trai ông, Zacharias được cho là những người đã tạo ra chiếc
kính hiển vi phức hợp đầu tiên trong những thập kỷ cuối của thế kỷ 16.
Thiết bị này có độ phóng đại có thể điều chỉnh trong khoảng 3x và 9x.
Cũng trong khoảng thời gian đó, các nhà khoa học khác đã chế tạo ra các
dụng cụ phóng đại tương tự. Năm 1609, Galileo Galilei đã biến đổi chiếc
kính viễn vọng của ông thành một chiếc kính hiển vi. Nó có một thấu kính
phân kỳ đóng vai trò như một thị kính và một thấu kính hội tụ thực hiện
chức năng của một vật kính. Một chiếc kính hiển vi sơ khai cấu tạo bởi
hai thấu kính hội tụ đã được giới thiệu trong khoảng năm 1620 bởi nhà
thiên văn học Cornelius Drebbel. Tuy nhiên, rõ ràng đó không phải là ý
tưởng của chính Drebbel, mà là của Johannes Kepler.
Cuốn sách Micrographia của Robert Hooke
Học giả người Anh Robert Hooke chính là
người đã đặt nền móng cho ngành khoa học hiển vi còn tương đối mới mẻ
lúc bấy giờ. Năm 1667 ông đã cho xuất bản một cuốn sách với nội dung căn
bản về chủ đề gọi là “Micrographia”. Cuốn sách với những hình vẽ mà ông
quan sát được với kính hiển vi đã giúp công chúng được tiếp cận gần hơn
với thế giới vi mô. Trong đó có những hình ảnh có độ phóng đại lên đến
50x. Chiếc kính hiển vi của Robert Hooke được chế tạo bởi Christopher
Cock, một thợ cơ khí ở London. Ông đã cải tiến chúng bằng cách kết hợp
một chiếc đèn dầu thông thường với một quả cầu bằng thủy tinh có chứa
nước bên trong để tập trung ánh sáng vào mẫu vật được quan sát, nhờ đó
mẫu vật được chiếu sáng đồng đều hơn. Tuy nhiên, hiện tượng quang sai đã
gây ra những khó khăn đáng kể cho Robert Hooke, nhất là khi ông kết hợp
hai thấu kính với nhau.
Các tế bào sống lần đầu tiên được quan sát bởi một nhà buôn vải
Độ phóng đại hiển vi cao nhất trong đạt
được khoảng thời gian kể trên thuộc về một nhà buôn vải người Hà Lan có
tên Antonie van Leeuwenhoek (1632 – 1723). Vốn là một người đam mê hiển
vi, Leeuwenhoek đã thành công trong việc tạo ra một chiếc kính hiển vi
có độ phóng đại lên đến hơn 200x. Tuy nhiên, thay vì làm việc với một
chiếc kính hiển vi phức hợp như Robert Hooke, ông sử dụng một chiếc kính
hiển vi chỉ có duy nhất một thấu kính. Nhờ đó ông đã tránh được các vấn
đề gây ra bởi hiện tượng quang sai khi sử dụng hai thấu kính. Tuy
nhiên, bất lợi của việc sử dụng một thấu kính là phải đặt dụng cụ rất
gần với mắt. Thậm chí cho đến ngày nay, người ta cũng chưa thể biết được
tại sao Leeuwenhoek lại có thể tạo ra được những thấu kính tốt đến như
vậy, chúng hầu như không có tạp chất bề mặt cũng như các khiếm khuyết
hình dạng và cho phép độ phóng đại cao. Khi Leeuwenhoek mất năm 1723 ở
tuổi 91, những kiến thức về kỹ thuật chế tạo thấu kính cũng đi theo ông.
Nhờ độ phóng đại tốt của những chiếc hiển vi của mình, Leeuwenhoek là
người đầu tiên quan sát được các tế bào sống và chuyển động như vi khuẩn
và tinh trùng. Những chiếc kính hiển vi ban đầu chỉ được xem như thú
tiêu khiển dành cho giới thượng lưu, đồng thời giá trị của chúng đối với
khoa học cũng chưa được công nhận. Do đó, nhiều thập kỷ trôi qua mà
không có một sự cải tiến mang tính tiên phong nào về mặt kỹ thuật. Chỉ
đến thế kỷ 18, khi mà người ta chế tạo ra được những vật kính tiêu sắc
đầu tiên để hạn chế các sắc sai chủ yếu gây ra bởi sự không hoàn hảo của
các thấu kính thì độ phân giải mới được cải thiện. Một trong những
nguyên nhân khiến cho việc phát minh ra các vật kính tiêu sắc mất nhiều
thời gian đến vậy là bởi một lý thuyết của Isaac Newton. Mặc dù là một
trong những nhà khoa học tự nhiên nổi tiếng nhất thời đó, nhưng Newton
đã sai lầm khi cho rằng hiện tượng sắc sai là không thể khắc phục được.
Định luật nhiễu xạ Abbe và phương pháp chiếu sáng Koehler
Vào đầu Thế kỷ 19, Joseph von Fraunhofer
đã có thể giảm thiểu quang sai của ảnh hơn nữa bằng những cải tiến đáng
kể về chất lượng của loại vật liệu thủy tinh dùng để chế tạo kính hiển
vi quang học. Vào giữa Thế kỷ 19, Giovanni Amici tiến thêm một bước với
việc phát triển các vật kính ngâm nước và ngâm dầu. Cuối cùng, vào năm
1873, Ernst Abbe đã đặt nền móng khoa học cho việc sản xuất ra các thế
hệ kính hiển vi mạnh mẽ về sau. Trước đó, người ta chế tạo các thấu kính
cho kính hiển vi bằng cách thử nghiệm và làm lại, chứ không phải bằng
cách tính toán quang học. Tuy nhiên, cũng trong khoảng thời gian đó,
Abbe đã dự đoán rằng độ phân giải tối đa có thể đạt được đối với một
kính hiển vi quang học là 200nm. Cùng với cơ sở cho các tính toán quang
học, Abbe đã cải tiến các vật kính ngâm dầu và cho ra một thiết bị chiếu
sáng tối ưu trong một vài năm sau đó. Cũng chỉ một vài năm sau, August
Koehler đã phát triển một phương pháp chiếu sáng mang tên ông, về sau
trở thành tiêu chuẩn trong chiếu sáng hiển vi và vẫn được sử dụng rộng
rãi cho đến ngày nay.
Bước tiến đáng kể đạt được nhờ các phương pháp tương phản mới, hiển vi huỳnh quang và hiển vi đồng tiêu
Nửa đầu Thế kỷ 20 đã chứng kiển rất nhiều
khám phá đặt nền tảng cho các kỹ thuật hiển vi hiện đại. Trong đó quan
trọng nhất là việc thiết lập nên những nguyên lý cơ bản cho hiển vi
huỳnh quang và các kỹ thuật có liên quan như hiển vi nhị và đa photon.
Một sự phát triển mang tính cách mạng khác đối với khoa học hiển vi là
sự ra đời của chiếc kính hiển vi tương phản pha đầu tiên của Fritz
Zernike vào năm 1941. Một vài năm sau, ở thời điểm bắt đầu của nửa sau
Thế kỷ 20, Georges Nomarski đã phát minh ra một kỹ thuật hiển vi khác
gọi là tương phản pha giao thoa khác biệt (DIC). Và cũng giống như tương
phản pha, kỹ thuật này được sử dụng rộng rãi cho đến ngày nay.
Năm 1957, Marvin Minsky đã đăng ký sáng chế đầu tiên về hiển vi đồng tiêu. Ban đầu, phát minh này không gây được sự chú ý đối với giới khoa học. Tuy nhiên sau khi phương pháp này được cải tiến nhờ kỹ thuật laser, nó cuối cùng cũng được chấp nhận và trở thành một kỹ thuật hiển vi được sử dụng rộng rãi.
Hiển vi độ phân giải siêu cao mở ra những chân trời mới
Tiến bộ mang tính đột phá cuối cùng trong
hiển vi quang học được giới thiệu vào những năm 1990 bởi Stefan Hell,
người đã phát triển các kỹ thuật hiển vi huỳnh quang độ phân giải siêu
cao. Điều này cuối cùng đã cho phép vượt qua giới hạn về độ phân giải
của định luật nhiễu xạ Abbe. Sử dụng kỹ thuật hiển vi đồng tiêu STED
(Stimulated Emission Depletion) hay hiển vi trường rộng độ phân giải
siêu cao GSDIM (Ground State Depletion Microscopy followed by Individual
Molecule Return), giờ đây người ta có thể phân giải các cấu trúc nhỏ cỡ
nanomet. Stefan Hell cùng với Eric Betzig và William Moerner đã được
trao giải Nobel về Hóa học năm 2014 cho những đóng góp của họ đối với sự
phát triển của hiển vi huỳnh quang độ phân giải siêu cao.
-68:Georgius Agricola
1494-1555
Đức
Khoáng Vật Học
Bài 4: Cảm xạ có thể tìm hài cốt dưới lòng đất?
Thứ Hai, 04/11/2013 17:26 GMT+7
(Thethaovanhoa.vn) - Như
đã trình bày ở hai kỳ trước, việc tiếp xúc với “vong” hay nói chuyện
với “linh hồn” liệt sĩ hoàn toàn chỉ là cuộc tự nói chuyện do giới đồng
cốt bịa đặt, như một thủ thuật tạo niềm tin, qua đó họ có thể thu lượm
được một số thông tin có ích từ thân nhân người chết. Báo chí có lần nói
tới khả năng dùng cảm xạ để phát hiện hài cốt dưới lòng đất?
Cảm xạ là gì?
Thuật
ngữ cảm xạ (dowsing) được dùng lần đầu tiên vào năm 1540 trong tác phẩm
về khai mỏ mang tên De re Metallica của Georgius Agricola, được ấn hành
tại Basel, Thụy Sĩ, như một kỹ thuật tìm khoáng sản hay đồ vật bị chôn
giấu. (Georgius Agricola (1494 - 1554), tác giả quyển De re metallica. Ông là cha đẻ của ngành Khoáng vật học.)
Trong khi đó cuốn Phục hồi Pluton
của Nam tước phu nhân Beausoleil năm 1640 khuyến khích cách dùng gậy để
“cảm xạ” các nguồn nước ngầm; kỹ thuật này phổ biến khắp châu Âu. Ngược
với cái tên nghe lạ tai, kỹ thuật cảm xạ thực ra rất đơn giản. Muốn tìm
nguồn nước, đồ vật chôn giấu... nhà cảm xạ cầm một đoạn cây nhỏ hình
chữ Y hay một con lắc trên hai tay và đi lại trên vùng đất nghi ngờ.
Bình thường cây gậy nằm ngang ở vị trí cân bằng, còn con lắc dao động
bình thường theo chiều ngang. Khi cây gậy mất thăng bằng hay con lắc dao
động bất thường, nhà cảm xạ dừng lại và đánh dấu trên mặt đất. Theo họ,
dưới vị trí đánh dấu có nguồn nước ngầm hay hài cốt người chết, và
chúng tác dụng lên cây gậy hay con lắc qua một tương tác bí ẩn nào đó.
Cần
nói thêm là giới khoa học chính thống nghi ngờ khả năng thực tế của cảm
xạ, vì họ chưa tìm được lời giải thích hợp lý. Một trong nhiều giả
thuyết được nêu ra là, đồ vật chôn dưới đất làm biến động từ trường trái
đất, và một số người có khả năng đo được sự thay đổi đó.
Cảm xạ trong tìm mộ?
Như
đã trình bày, khi lên đồng, cô Năm nhập vai một “đức ông” có khả năng
vẽ sơ đồ nơi chôn cất mộ. Bằng cách tung đồng xu, “ông” sẽ xác định hài
cốt đang nằm tại khu vực được đánh số nào đó, chẳng hạn khu vực số 2.
Nhưng khu vực số 2 là khu vực nào? Khi người đi tìm mộ hỏi như vậy,
“ông” trả lời ngay: “Phải đi hỏi chứ.
Đi hỏi đồng đội, hỏi chính quyền, hỏi huyện đội, tỉnh đội xem hài cốt
nằm ở đâu. Và khi đã hỏi được thì về báo ngay để cô Năm đến tìm”.

Nhà cảm xạ - tranh minh hoạ sách của Pháp thế kỷ 18 về mê tín dị đoan
Tóm
lại, ở trường hợp cô Năm, quá trình tìm mộ chỉ thực sự bắt đầu khi
người nhà đến báo cho cô vị trí nơi chôn cất, chẳng hạn tại một ruộng
ngô hay nương sắn nào đó. Toàn bộ chuỗi lên đồng, vẽ sơ đồ, nói chuyện
với người chết, xác định vị trí hài cốt trên sơ đồ... chỉ là động tác
giả. Quá trình tìm mộ thật chỉ bắt đầu khi cô Năm theo chân người nhà
đến tận nơi từng chôn cất người đã khuất. Vì khu vực có thể rộng, địa
hình biến đổi theo tháng năm, nên người nhà và đồng đội có thể đã đào
nhiều nơi nhưng chưa thấy hài cốt. Cô Năm nói có thể giúp họ tìm lời
giải, bằng cách đi lại nhiều lần trên khu đất đó.
Một
câu hỏi mang tính quyết định cần trả lời là, khả năng cảm xạ của cô Năm
có đáng tin cậy hay không? Người viết cho rằng thật khó trả lời khi
chưa được tận mắt theo dõi quá trình cảm xạ trên thực địa. Liệu lời kể
khi nào thấy bỏng rát bàn chân thì dừng lại của cô có đáng tin hay
không, khi trước đó cô đã dùng hàng loạt thủ thuật “lừa gạt vô thức”
(thuật ngữ chuyên môn chỉ hành động lừa gạt không chủ ý ở trạng thái vô
thức) để gặt hái niềm tin của mọi người? Hay lúc đó cô không thấy bàn
chân bỏng rát, mà chỉ thấy một số dấu hiệu gợi ý rằng ở dưới mặt đất có
thể có hài cốt?
Chỉ
cô Năm mới trả lời được câu hỏi này, mà cô thì nhất định không chịu
tiết lộ. Đây chính là khó khăn cơ bản của việc nghiên cứu khả năng tìm
mộ nói riêng, các khả năng dị thường khác nói chung.
Kinh
nghiệm khảo sát khả năng cảm xạ tìm nước ngầm trên thế giới cho thấy,
khi được thử nghiệm tại hiện trường (như trường hợp cô Năm tìm mộ), các
nhà cảm xạ đạt tỷ lệ thành công rất cao, nhưng khi các ám hiệu địa chất
được loại trừ, tỷ lệ đó giảm xuống đáng kể. Cần nói thêm là tỷ lệ thành
công của cảm xạ tuy cao nhưng không hơn khả năng của một nhà địa chất có
kinh nghiệm. Điều đó cho thấy dường như giới cảm xạ chỉ dùng các dấu
hiệu địa chất để tìm nước ngầm (như vị trí các mô đất, khe lạch; cây cối
xanh tốt hơn...).
Ở
trường hợp cô Năm, không loại trừ các dấu hiệu mang tính chỉ dẫn như
vậy. Chẳng hạn trên vùng đất khô cằn mà lại thấy bụi cây tươi tốt hơn
thì nhiều khả năng bên dưới có điều khác thường, chẳng hạn một hài cốt.
Đào lên thấy hài cốt thì tốt, nếu không thì một chút đất đen mủn cũng
được xem là dấu hiệu của hài cốt! Vai trò quyết định ở đây thuộc về gia
đình, bạn bè và chính quyền. Vì thế lúc tỉnh lại sau khi lên đồng, cô
Năm nói với nữ phóng viên đi cùng tôi (đại ý): Công của cô Năm chỉ 1%
thôi, còn 99% thuộc về gia đình, đồng đội và chính quyền. Về điểm này
thì tôi hoàn toàn đồng ý với cô: 1% đó thuộc về công khuyến khích mọi
người cố gắng; càng cố gắng thì khả năng tìm thấy hài cốt càng cao.
Và
như thế con số hàng ngàn bộ hài cốt đã được cô Năm tìm thấy chỉ là một
con số chưa được kiểm chứng và không đáng tin cậy mà thôi. Đó cũng là
tình trạng chung bất cứ một nhà ngoại cảm tìm mộ nào khác.
TS Đỗ Kiên Cường
-69:Daniel Bernoulli
1700-1782
Thụy Sĩ
Toán Học, Vật Lý
Khám phá "ma thuật" từ hiệu ứng Bernoulli
Quả bóng bàn bay lơ lửng trên máy sấy tóc, lon nước ngọt tự nhiên hút vào nhau...
Thí nghiệm chứng minh
Hãy bắt đầu với một chuỗi thí nghiệm kiểm tra ngay sau đây. Thí
nghiệm đầu tiên, bạn chuẩn bị một quả bóng bàn và một chiếc máy sấy
tóc.
Sau đó, giữ quả bóng phía trên máy sấy
rồi bật công tắc. Kết quả nhận được là: quả bóng sẽ bay lơ lửng phía
trên, không bay đi chỗ khác mà cũng không rơi xuống.

Trong
thí nghiệm thứ hai, sử dụng hai chiếc lon nước ngọt rỗng để trên bàn,
giữa hai lon có một khe hẹp. Dùng hơi thổi mạnh vào khe hẹp ấy. Trái với
những suy nghĩ là hai chiếc lon bắn ra xa hoặc không có hiện tượng gì,
trong thực tế bạn sẽ thấy hai chiếc lon đột nhiên như bị hút vào nhau
như nam châm vậy.


Gần gũi hơn nữa, bạn đã bao giờ thổi một tờ giấy khi cầm trên tay
chưa? Nếu có thì bạn liệu có nhận ra khi bạn thổi một tờ giấy, thực tế
tờ giấy có xu hướng bị hút lại về phía bạn chứ không hề bay xa ra chỗ
khác?
Hãy cùng xem các thí nghiệm trên qua video clip sau:
Hiệu ứng Bernoulli về không khí và chất lỏng được lấy tên từ nhà vật lý tài ba Daniel Bernoulli. Lý thuyết này không hề khô khan như nhiều người lầm tưởng, thậm chí lại rất thú vị và có tính ứng dụng rất cao.

Chân dung nhà toán học, vật lý học Daniel Bernoulli (1700 -1782).
Lý giải khoa học
Giờ thì chắc hẳn nhiều người đang rất muốn biết vì sao lại thế. Câu
trả lời như đã hé lộ từ đâu, đó là do ảnh hưởng của hiệu ứng Bernoulli.
Trong cả ba thí nghiệm kể trên, khi bạn thổi vào khe giữa hai chiếc
lon, bật máy sấy tóc, bạn đều làm không khí chỗ đó chuyển động thành
dòng, gây ra áp suất thấp ở gần miệng, hoặc máy sấy.

Chính
áp suất này gây ra sự hút của tờ giấy hay của chiếc lon xích lại gần
nhau. Trong trường hợp quả bóng, lực hút này khá lớn do máy sấy tóc quay
liên tục, tạo thành dòng khí luân chuyển, khiến quả bóng cứ lơ lửng
trên không như... ma làm vậy.
Thêm vào đó,
nếu tinh ý một chút ta sẽ thấy trong các cơn bão có vòi rồng, gió lốc
luôn có khả năng lật tung và thổi bay nóc nhà. Điều này cũng được lý
giải đơn thuần bằng hiệu ứng Bernoulli khi không khí chuyển động quanh
ngôi nhà làm xuất hiện lực nâng, khiến bật tung nóc bất cứ ngôi nhà nào
dù có kiên cố đến mấy.
Ứng dụng thú vị trong thực tế
Một
trong những ứng dụng thực tế nhất của hiệu ứng Bernoulli này đó chính
là trong công nghiệp chế tạo máy bay. Đã bao giờ bạn tự hỏi rằng, tại
sao một vật thể khổng lồ như vậy lại có thể bay ở độ cao hàng trăm mét
như các loài chim? Câu trả lời chính là nhờ lực nâng khí động học gây ra
bởi hiệu ứng Bernoulli.

Khi
máy bay cất cánh, sẽ có dòng không khí “chảy” xung quanh cánh máy bay,
nơi có các cánh quạt động cơ. Dòng khí này khiến áp suất ở dưới cánh cao
hơn so với phía trên cánh.
Theo quy luật tự
nhiên, không khí di chuyển từ nơi có áp suất cao tới nơi có áp suất
thấp, tất yếu sẽ xuất hiện một lực nâng máy bay lên và nhờ đó máy bay có
thể lượn trên không trung dễ dàng. Cánh máy bay càng rộng thì lực nâng
này càng lớn và tốc độ để cất cánh càng nhỏ.

Điều này còn đúng với các chất lỏng. Ứng dụng điển hình quen thuộc
đó là trong sản xuất nước hoa. Một số loại nước hoa có vòi phun, xịt.
Khi bạn ấn vòi đó xuống, tức là gây ra áp suất thấp trong lọ, khiến nước
hoa bị hút theo vòi và phun ra.
Gia đình Bernoulli: một dòng họ Toán học
Xin xem bài viết trong file sau:
https://rosetta.vn/lequanganh/wp-content/uploads/sites/7/2018/02/Gia_dinh_Bernoulli.pdf
Qua lịch sử, ta thấy có rất nhiều người có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển của Toán học. Nhưng sự đóng góp to lớn cho Toán học trong nhiều ngành khác nhau của một dòng họ, một gia đình thì chỉ có một: Gia đình Bernoulli. Trong hai thế kỷ 17 và 18 gia đình này đã cung cấp cho Toán học ít nhất là tám nhà Toán học, trong số ấy có ba nhà Toán học có ảnh hưởng nổi trội nhất. Đó là Jacob Bernoulli (1654 – 1705), Johann Bernoulli (1667 – 1748) và Daniel Bernoulli (1700 – 1782).
https://rosetta.vn/lequanganh/wp-content/uploads/sites/7/2018/02/Gia_dinh_Bernoulli.pdf
Qua lịch sử, ta thấy có rất nhiều người có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển của Toán học. Nhưng sự đóng góp to lớn cho Toán học trong nhiều ngành khác nhau của một dòng họ, một gia đình thì chỉ có một: Gia đình Bernoulli. Trong hai thế kỷ 17 và 18 gia đình này đã cung cấp cho Toán học ít nhất là tám nhà Toán học, trong số ấy có ba nhà Toán học có ảnh hưởng nổi trội nhất. Đó là Jacob Bernoulli (1654 – 1705), Johann Bernoulli (1667 – 1748) và Daniel Bernoulli (1700 – 1782).
Lê Quang Ánh, Ph.D.

Nhận xét
Đăng nhận xét