QUAN NIỆM (đăng lại)
MỘT NGƯỜI - Nhạc THANH BÌNH Ca sĩ SĨ PHÚ
( Nhớ bạn phương trời
Người xa, xa lắm, nhớ ta không?
Sao đang vui vẻ ra buồn bã!
Vừa mới quen nhau đã lạ lùng!
Lúc nhớ nhớ cùng trong mộng tưởng
Khi riêng riêng cả đến tình chung
Tương tư lọ phải là mưa gió
Một ngọn đèn xanh trống điểm thùng
(đây là bài thơ nhớ ông Cử Hồng ở Nghệ An)
Nguồn: Thơ Trần Tế Xương, Nxb Văn hóa - Thông tin, 1998)
Ta nhớ người còn tiếc nhớ nhung
Thản nhiên quên kẻ đã bạc lòng
Ta thương phận cố trong đành đục
Ghét những đời khoác lác giả trong!...
Ta chỉ yêu những nhân tình mộc mạc
Chẳng đoái hoài những đài các phô trương
Thích thú gì có ngàn hoa xơ xác
Gió thời gian lùa hữu sắc vô hương!
Trần Hạnh Thu
Nỗi niềm (Tuấn Khanh) - Sĩ Phú
Tình bạn vĩ đại và cuộc đời vĩ đại
Đó chính là cuộc đời của Helen Keller
(1880 - 1968) và tình bạn của bà với Anne Sullivan (1866 - 1936). Helen
là nữ tác giả nổi tiếng thế giới và là một giảng viên “đặc biệt” người
Mỹ, được Tổng thống Lyndon Johnson tặng thưởng Huân chương Tự do, tấm
huân chương cao quý nhất của nước Mỹ.
Cuộc gặp duyên nợ
Tháng 2-1882, mười chín tháng sau khi cất tiếng khóc chào đời, Helen bị cơn sốt bại não tấn công. Thời đó, nguyên nhân căn bệnh vẫn là một bí ẩn đầy thách thức đối với giới y khoa. Helen rơi vào tình trạng sốt cao kéo dài nhiều ngày và chỉ biết nằm chờ chết. Nhưng kỳ lạ thay, cơn sốt bỗng dưng biến mất. Helen khỏe lại nhưng thị lực và thính lực không còn nữa.
Năm lên sáu, Helen được mẹ đưa đi gặp các chuyên gia y tế để tìm kiếm một cơ may nhưng hầu như vô vọng. Họ không thể làm gì khác hơn ngoài việc động viên và giới thiệu mẹ con bà đến gặp Anne Sullivan. Anne Sullivan cũng là người gần như mất hết thị lực vào năm lên năm. Tuy nhiên, trong thời gian theo học tại Học viện Y khoa Perkins, bà đã trải qua hai cuộc phẫu thuật mắt và lấy lại một phần thị lực.
Năm 1886, Anne tốt nghiệp và đi tìm việc làm. Nhưng việc làm đối với một người yếu thị lực như bà vào thời đó không phải là chuyện dễ dàng. Và như một cơ duyên, bà được giới thiệu làm gia sư cho Helen Keller. Họ gặp nhau trong hoàn cảnh đó.
Ngày 3-3-1887, Anne đi Tuscumbia để gặp cô trò nhỏ. Để kỷ niệm lần “gặp” nhau đầu tiên này, Anne dạy Helen “đánh vần” chữ “doll” (búp bê) bằng cách sờ trên bảng chữ nổi Braille. Song, dù Helen có thể nhận ra và ghép vần chính xác, cô vẫn không hiểu được nghĩa (vì thính giác cũng mất hoàn toàn).
Cho tới một ngày, khi Anne dắt Helen ra vườn và vừa bơm nước vừa viết từ “nước” vào lòng bàn tay cô bé, gương mặt Helen bỗng rạng ngời một niềm sung sướng. Cô đã hiểu từ “water” (nước) nghĩa là gì. Trong vòng vài giờ sau sự kiện này, Helen đã học được 30 từ mới. Sự tiến bộ của Helen gây sửng sốt cho tất cả những ai đã từng biết đến cô. Chẳng bao lâu sau, Anne bắt đầu dạy Helen đọc chữ nổi rồi đến đánh máy chữ, cả loại có phím chữ nổi lẫn máy thường.
Mùa thu năm 1900, cô bước vào Đại học Radcliffe và trở thành người mù - điếc đầu tiên tại Mỹ (và có lẽ cả thế giới) đi học đại học. Cuộc sống tại Radcliffe rất gian nan đối với Helen và Anne. Số lượng bài vở khổng lồ nhanh chóng làm hỏng thị lực của Anne.
Trong thời gian này Helen viết tự truyện “The Story of My Life”. Năm 1903, sách được xuất bản và đó là một trong những quyển sách kinh điển của nền văn học Mỹ. Ngày 28-6-1904, Helen trở thành người mù-điếc đầu tiên lấy được bằng Cử nhân của Đại học Radcliffe. Năm 1913, “Out of the Dark” được xuất bản. Đó là một loạt những bài viết về chủ nghĩa xã hội và nhờ đó, ảnh hưởng của Helen trước công chúng trở nên rất mạnh mẽ. Từ đây mọi người được biết thêm về quan điểm chính trị của Helen.
Một cuộc đời không lãng phí
Sau đó Helen và Anne bắt đầu những cuộc thuyết trình vòng quanh thế giới và sống khá thoải mái nhờ thù lao từ những buổi thuyết trình của họ. Nhưng nhu cầu nghe của khán thính giả ngày càng giảm dần. Họ chuyển qua làm kịch vui và thu được nhiều thành công vang dội. Năm 1918, Helen, Anne chuyển đến sống tại Forrest Hills, New York. Helen sử dụng ngôi nhà của họ làm cơ sở gây quỹ từ thiện giúp người mù và điếc.
Năm 1922, Anne mắc bệnh viêm phổi và yếu dần. Polly Thomson, cô thư ký cho Helen và Anne tiếp tục vai trò của Anne trên sân khấu: trở thành người “phiên dịch” cho Helen trước khán thính giả. Helen và Polly tiếp tục chu du khắp nơi trên thế giới để gây quỹ giúp đỡ người mù. Năm 1931, họ được Vua George và Hoàng hậu Mary của Anh mời vào tiếp kiến tại Điện Buckingham vì ngưỡng mộ tài năng của Helen trong việc “nghe” được người khác bằng đôi tay (không phải đôi tai) của mình. Ngày 20-10-1936, Anne qua đời. Helen bỗng cảm đơn độc như những ngày thơ ấu nhưng cô không cho phép mình đầu hàng số phận. Cùng Polly, họ lại tiếp tục tiến bước.
Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, Helen và Polly đi các nước Nhật, Úc, Nam Phi, châu Âu, châu Phi để gây quỹ cho Tổ chức Những Người Mù Hải ngoại Hoa Kỳ. Năm 1953, một bộ phim tài liệu có tên The Unconquored (Người không bị khuất phục) nói về cuộc đời Helen Keller được trao giải Oscar dành cho phim tài liệu hay nhất.
Năm 1957, vở The Miracle Worker, một vở kịch nói về thành công đầu tiên của Anne Sullivan trong việc giao tiếp với Helen khi còn bé, được dàn dựng và truyền hình trực tiếp lần đầu tiên ở Mỹ. Năm 1959, vở kịch được dàn dựng trên sân khấu Broadway và đem lại thành công vang dội. Năm 1962, nó được dựng thành phim và hai diễn viên vào vai Helen và Anne đã nhận được hai giải Oscar diễn viên xuất sắc nhất.
Năm 1960, đến lượt Polly Thomson qua đời vì hậu quả của những lần đột quỵ kéo dài. Tháng 10-1961, Helen bắt đầu hứng chịu những cơn đột quỵ đầu tiên. Bà ít giao thiệp với công chúng hơn và rút lui hẳn trong thời gian ngắn sau đó. Năm 1964, Helen được trao tặng Huân chương Tự do của Tổng thống Mỹ.
Một năm sau, bà được ghi tên vào Nhà Danh vọng Hoa Kỳ. Ngày 1-6-1968, Helen qua đời một cách bình yên trong một giấc ngủ tại nhà riêng. Hài cốt bà được đưa về đặt bên cạnh hai người bạn lớn, Anne Sullivan và Polly Thomson, tại Nhà thờ Chánh tòa Quốc gia Washington.
Cuộc gặp duyên nợ
Tháng 2-1882, mười chín tháng sau khi cất tiếng khóc chào đời, Helen bị cơn sốt bại não tấn công. Thời đó, nguyên nhân căn bệnh vẫn là một bí ẩn đầy thách thức đối với giới y khoa. Helen rơi vào tình trạng sốt cao kéo dài nhiều ngày và chỉ biết nằm chờ chết. Nhưng kỳ lạ thay, cơn sốt bỗng dưng biến mất. Helen khỏe lại nhưng thị lực và thính lực không còn nữa.
Năm lên sáu, Helen được mẹ đưa đi gặp các chuyên gia y tế để tìm kiếm một cơ may nhưng hầu như vô vọng. Họ không thể làm gì khác hơn ngoài việc động viên và giới thiệu mẹ con bà đến gặp Anne Sullivan. Anne Sullivan cũng là người gần như mất hết thị lực vào năm lên năm. Tuy nhiên, trong thời gian theo học tại Học viện Y khoa Perkins, bà đã trải qua hai cuộc phẫu thuật mắt và lấy lại một phần thị lực.
Năm 1886, Anne tốt nghiệp và đi tìm việc làm. Nhưng việc làm đối với một người yếu thị lực như bà vào thời đó không phải là chuyện dễ dàng. Và như một cơ duyên, bà được giới thiệu làm gia sư cho Helen Keller. Họ gặp nhau trong hoàn cảnh đó.
Ngày 3-3-1887, Anne đi Tuscumbia để gặp cô trò nhỏ. Để kỷ niệm lần “gặp” nhau đầu tiên này, Anne dạy Helen “đánh vần” chữ “doll” (búp bê) bằng cách sờ trên bảng chữ nổi Braille. Song, dù Helen có thể nhận ra và ghép vần chính xác, cô vẫn không hiểu được nghĩa (vì thính giác cũng mất hoàn toàn).
Cho tới một ngày, khi Anne dắt Helen ra vườn và vừa bơm nước vừa viết từ “nước” vào lòng bàn tay cô bé, gương mặt Helen bỗng rạng ngời một niềm sung sướng. Cô đã hiểu từ “water” (nước) nghĩa là gì. Trong vòng vài giờ sau sự kiện này, Helen đã học được 30 từ mới. Sự tiến bộ của Helen gây sửng sốt cho tất cả những ai đã từng biết đến cô. Chẳng bao lâu sau, Anne bắt đầu dạy Helen đọc chữ nổi rồi đến đánh máy chữ, cả loại có phím chữ nổi lẫn máy thường.
Mùa thu năm 1900, cô bước vào Đại học Radcliffe và trở thành người mù - điếc đầu tiên tại Mỹ (và có lẽ cả thế giới) đi học đại học. Cuộc sống tại Radcliffe rất gian nan đối với Helen và Anne. Số lượng bài vở khổng lồ nhanh chóng làm hỏng thị lực của Anne.
Trong thời gian này Helen viết tự truyện “The Story of My Life”. Năm 1903, sách được xuất bản và đó là một trong những quyển sách kinh điển của nền văn học Mỹ. Ngày 28-6-1904, Helen trở thành người mù-điếc đầu tiên lấy được bằng Cử nhân của Đại học Radcliffe. Năm 1913, “Out of the Dark” được xuất bản. Đó là một loạt những bài viết về chủ nghĩa xã hội và nhờ đó, ảnh hưởng của Helen trước công chúng trở nên rất mạnh mẽ. Từ đây mọi người được biết thêm về quan điểm chính trị của Helen.
Một cuộc đời không lãng phí
Sau đó Helen và Anne bắt đầu những cuộc thuyết trình vòng quanh thế giới và sống khá thoải mái nhờ thù lao từ những buổi thuyết trình của họ. Nhưng nhu cầu nghe của khán thính giả ngày càng giảm dần. Họ chuyển qua làm kịch vui và thu được nhiều thành công vang dội. Năm 1918, Helen, Anne chuyển đến sống tại Forrest Hills, New York. Helen sử dụng ngôi nhà của họ làm cơ sở gây quỹ từ thiện giúp người mù và điếc.
Năm 1922, Anne mắc bệnh viêm phổi và yếu dần. Polly Thomson, cô thư ký cho Helen và Anne tiếp tục vai trò của Anne trên sân khấu: trở thành người “phiên dịch” cho Helen trước khán thính giả. Helen và Polly tiếp tục chu du khắp nơi trên thế giới để gây quỹ giúp đỡ người mù. Năm 1931, họ được Vua George và Hoàng hậu Mary của Anh mời vào tiếp kiến tại Điện Buckingham vì ngưỡng mộ tài năng của Helen trong việc “nghe” được người khác bằng đôi tay (không phải đôi tai) của mình. Ngày 20-10-1936, Anne qua đời. Helen bỗng cảm đơn độc như những ngày thơ ấu nhưng cô không cho phép mình đầu hàng số phận. Cùng Polly, họ lại tiếp tục tiến bước.
Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, Helen và Polly đi các nước Nhật, Úc, Nam Phi, châu Âu, châu Phi để gây quỹ cho Tổ chức Những Người Mù Hải ngoại Hoa Kỳ. Năm 1953, một bộ phim tài liệu có tên The Unconquored (Người không bị khuất phục) nói về cuộc đời Helen Keller được trao giải Oscar dành cho phim tài liệu hay nhất.
Năm 1957, vở The Miracle Worker, một vở kịch nói về thành công đầu tiên của Anne Sullivan trong việc giao tiếp với Helen khi còn bé, được dàn dựng và truyền hình trực tiếp lần đầu tiên ở Mỹ. Năm 1959, vở kịch được dàn dựng trên sân khấu Broadway và đem lại thành công vang dội. Năm 1962, nó được dựng thành phim và hai diễn viên vào vai Helen và Anne đã nhận được hai giải Oscar diễn viên xuất sắc nhất.
Năm 1960, đến lượt Polly Thomson qua đời vì hậu quả của những lần đột quỵ kéo dài. Tháng 10-1961, Helen bắt đầu hứng chịu những cơn đột quỵ đầu tiên. Bà ít giao thiệp với công chúng hơn và rút lui hẳn trong thời gian ngắn sau đó. Năm 1964, Helen được trao tặng Huân chương Tự do của Tổng thống Mỹ.
Một năm sau, bà được ghi tên vào Nhà Danh vọng Hoa Kỳ. Ngày 1-6-1968, Helen qua đời một cách bình yên trong một giấc ngủ tại nhà riêng. Hài cốt bà được đưa về đặt bên cạnh hai người bạn lớn, Anne Sullivan và Polly Thomson, tại Nhà thờ Chánh tòa Quốc gia Washington.
Ngày nay, nơi yên nghỉ của Helen là một điểm du lịch có sức hấp dẫn rất lớn đối với du khách Mỹ và quốc tế. Một tấm bia đồng được dựng lên có khắc dòng chữ kiểu Braille để tưởng niệm Helen Keller và hai người đồng hành thân thiết của bà. Du khách nào đến đó cũng muốn một lần sờ vào tấm bia có hàng chữ nổi, đến độ người ta đã phải thay tấm bia hai lần. |
Sáu tình bạn vĩ đại nhất trong sự nghiệp cách mạng của Fidel Castro
Trong suốt cuộc đời cách mạng giải phóng Cuba khỏi ách thống
trị ngoại bang và lật đổ chế độ độc tài Batista, lãnh tụ Fidel Castrol
phải đối mặt với không ít kẻ thù.
Nelson Mandela và Fidel Castro. (Ảnh: Reuters)
Nhưng ông luôn có những tình bạn vĩ đại, những người đồng chí thủy
chung. Nhiều người trong số này là những nhà tư tưởng lớn của thế giới,
các nhà hoạt động, những ngôi sao thể thao.
Cách đây hơn 3 tháng, nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh Fidel Castrol
(13/8/1926), kênh truyền thông teleSUR đã có bài viết về những tình bạn
vô giá này, với một số chi tiết chưa từng được công bố trước đó, và tâm
sự của những người bạn này về lãnh tụ cách mạng huyền thoại.
1. Nelson Mandela
Fidel Castro và nhà lãnh đạo Nam Phi có mối quan hệ gần gũi và lâu dài,
được hình thành từ chính cuộc đấu tranh chung chống lại bất công và áp
bức.
Khi khởi xướng cuộc phản kháng bất bạo động chống nạn áp bức chủng tộc ở
Nam Phi, Mandela đã tìm thấy niềm cảm hứng từ Cách mạng Cuba. Trong
cuốn tự truyện “Hành trình dài tới tự do,” nhà lãnh đạo biểu tượng của
đất nước Nam Phi đã mô tả kỹ càng về triết lý và thành công của Cách
mạng Cuba đã ảnh hưởng như thế nào đến quan điểm chính trị và ý thức hệ
của ông.
“Tôi đọc bản báo cáo của Blas Roca, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Cuba, về
những năm tháng họ hoạt động cách mạng dưới thời kỳ của chế độ Batista,”
Mandela viết, “Tôi đã đọc các tác phẩm viết về Che Guevara, Mao Trạch
Đông và Fidel Castro. Tất cả trong số họ đều khơi niềm cảm hứng cho
tôi.”
Sau khi Mandela được phóng thích năm 1990, tình bạn của hai nhà lãnh đạo này càng thêm khăng khít.
Mandela đã tới Cuba để gặp người bạn tâm giao và cám ơn những nỗ lực
của Cuba góp phần vào cuộc đấu tranh chống các chế độ apartheid. Bài
diễn văn của Mandela ở Cuba có đoạn viết: “Chúng tôi tới đây hôm nay để
ghi nhận món nợ lớn với nhân dân Cuba. Đã có những quốc gia nào khác có
được tấm lòng vị tha như Cuba từng thể hiện với người dân châu Phi?”
Năm 1994, Mandela được bầu là vị tổng thống da màu đầu tiên của Nam
Phi, một bước ngoặt lịch sử đánh dấu kết thúc thắng lợi của cuộc đấu
tranh hơn 40 năm chống áp bức và phân biệt chủng tộc.
Fidel đã sang tận Nam Phi năm đó để chúc mừng Mandela.
2. Muhammad Ali
Huyền thoại quyền anh hạng nặng Muhammad Ali (Mỹ) có mối quan hệ đặc
biệt với đất nước Cuba và nhà lãnh đạo cách mạng Fidel Castro.
Huyền thoại quyền anh và lãnh tụ Cuba. (Ảnh: esquire.com)
Với tư cách nhà hoạt động nhân đạo và chống phân biệt chủng tộc ở Mỹ,
Ali coi Chủ tịch Fidel như một người đồng chí. Năm 1996, Ali đã bay tới
Cuba trong chuyến đi của Tổ chức Chữ Thập đỏ để phân phát đồ cứu trợ y
tế. Ông đã ở thăm hòn đảo này 5 ngày và dẫn đầu đoàn đại biểu đi trao số
hàng cứu trợ trị giá 500.000 USD cho người dân Cuba.
Để cảm ơn những nỗ lực của Ali, Chủ tịch Fidel đã mời ông và các cộng
sự có buổi trò chuyện riêng. Theo phóng viên ảnh Hazel Hankin, hai người
bạn này suốt buổi chỉ bông đùa và… thụi nhau, khi Fidel liên tục tếu
táo với Ali: “Đấm thử tôi xem nào,” và chỉ vào mặt mình.
Những khoảnh khắc để đời này đã lọt vào ống kính của Hankin và vẫn còn
cho tới ngày nay như là biểu tượng của tình bạn mà không một ai có thể
nghĩ tới, giữa hai nhà vô địch của hai đấu trường khác nhau.
Ali vẫn tiếp tục các nỗ lực giúp đỡ đất nước Cuba như cam kết, và ông
đã trở lại đây vào năm 1998 để trao món hàng cứu trợ y tế trị giá 1,2
triệu USD.
3. Jesse Jackson
Năm 1984, nhà hoạt động xã hội Jesse Jackson tới Cuba để chứng kiến
cuộc trả tự do cho các tù nhân Mỹ. Thời điểm đó, hành động này được tờ
New York Times mô tả là “buổi lễ ngoại giao cá nhân vô cùng xúc động với
Chủ tịch Cuba Fidel Castro.”
Nhà lãnh đạo Fidel về sau này có tiết lộ rằng ông quyết định phóng
thích các tù nhân là do “kết quả từ chuyến thăm của Jackson. Tôi làm là
vì ông ấy và vì nhân dân nước Mỹ.”
Nhà hoạt động xã hội Jackson và Chủ tịch Fidel. (Ảnh: AP)
Về phần mình, Jackson ca ngợi sự chính trực, tài lãnh đạo của Fidel, mô
tả ông như là “chính trị gia chân thành và lôi cuốn nhất tôi từng gặp.”
Trong một sự kiện ở Havana, nhà hoạt động Jackson đã hô lớn “Fidel muôn
năm” trước hơn 300 quần chúng tại trường Đại học Tổng hợp Havana. Hai
nhân vật đã tay trong tay rời lễ đài.
4. Gabriel Garcia Marquez
Gabriel Garcia Marquez - một trong những nhân vật vĩ đại nhất của văn đàn thế giới, là bạn tâm giao của Fidel.
Ông luôn đứng bên người bạn Cuban này, bất chấp những lời chỉ trích cay nghiệt và không bao giờ phản bội tình bạn.
Hai người gặp nhau lần đầu tiên vào ngày 19/1/1959, khi Marquez tới
Cuba để chứng kiến phiên tòa xét xử chế độ của Fulgencio Batista. Ông
được Fidel Castro tiếp đón nồng hậu và kể từ đó, hai người đã có một
tình bạn keo sơn.
Nhà văn Marquez và Chủ tịch Fidel. (Ảnh: Getty Images)
Marquez từng tham gia Prensa Latina, hãng thông tấn Cuba do chiến sỹ
cách mạng huyền thoại Che Guevara thành lập để đương đầu với sức mạnh
truyền thông Mỹ. Làm một nhà báo, nhà văn đoạt giải Nobel đã đã góp phần
hình thành dại diện của Cuba trên hệ thống báo chí quốc tế.
Nhưng trong khi kết nối về mặt chính trị, giữa họ còn có sự đồng điệu
về mặt nghệ thuật. “Giữa chúng tôi là một tình bạn tri thức, ” nhà văn
Marquez kể trong cuộc phỏng vấn của Claudia Dreifus năm 1982, “Có thể
không nhiều người biết rằng Fidel là một người có học vấn cao. Khi ở bên
nhau, chúng tôi trò chuyện say sưa về chủ đề văn chương.”
Khi Marquez chia tay hãng thông tấn Prensa Latina và bắt đầu tập trung
vào sự nghiệp văn chương của mình, ông không bao giờ quên người bạn của
mình.
Theo câu chuyện mà tác giả Enrique Krauze thuật lại, năm 1996, khi dùng
bữa với Tổng thống (Mỹ) Bill Clinton, Marquez đã nói với ông này, “Nếu
ngài và Fidel ngồi mặt đối mặt với nhau, sẽ chẳng còn một bất đồng nào
tồn tại.”
5. Diego Maradona
Huyền thoại bóng đá thế giới Diego Maradona ngưỡng mộ Fidel Castro tới mức đã xăm hình lãnh tụ này trên chân mình.
Maradona từng xăm hình Chủ tịch Fidel vì lòng ngưỡng mộ tuyệt đối. (Ảnh: Reuters)
“Với tôi, ông ấy là một vị Thánh,” Maradona thốt lên như thế về vị lãnh tụ Cuba.
Maradona và Castro hiểu nhau khi siêu sao bóng đá Argentina lần đầu
tiên tới thăm Cuba năm 1986. Kể từ đó, cả hai đã có mối quan hệ thân
thiết, cùng nhau chia sẻ về tình yêu bóng đá và các quan điểm chính trị.
Khi ngôi sao này vật lộn với đợt cai nghiện cocaine, ông đã nhờ Cuba giúp đỡ và nhiều lần tới hòn đảo này điều trị.
Và để xóa tan những tin đồn khi đó rằng ông qua đời, Fidel đã đích thân
viết thư cho Maradona, khẳng định ông rất khỏe, thốt lên rằng Castro
như “người cha thứ hai của tôi, vì ông ấy luôn quan tâm và giúp đỡ tôi.
Sự thực là tôi chỉ biết ơn ông ấy.”
6. Hugo Chavez
Cố Tổng thống Venezuela Hugo Chavez luôn coi Fidel Castro như bậc tôn sư và là người cha tinh thần của mình.
Tình bạn 18 năm phi thường của hai người bắt đầu từ năm 1994, thời điểm
Chavez đi thăm Cuba sau khi được trả tự do sau lần bị tù đày do cuộc
binh biến bất thành năm 1992 chống chế độ Punto Fijo tham nhũng ở
Venezuela. Cả hai đã lập tức trở nên thân thiết, cùng nhau chơi bóng
chày và chia sẻ về sứ mệnh giải phóng nhân dân Mỹ Latin.
Với lời khuyên và sự động viên của Fidel, ý thức hệ chính trị của
Chavez càng trở nên thông suốt, và ông đã trở thành một trong những nhà
lãnh đạo xã hội chủ nghĩa quan trọng nhất trong lịch sử Mỹ Latin.
Hai nhà lãnh đạo Fidel và Chavez trò chuyện thân tình. (Ảnh: AP)
Mối quan hệ khăng khít giữa Chavez và Chủ tịch Fidel đã giúp hai quốc
gia của họ xích lại gần nhau hơn. Kể từ khi Chavez giữ chức Tổng thống
Venezuela năm 1999, Cuba và Venezuela đã ký hơn 300 thỏa thuận về thương
mại và hợp tác.
Khi đất nước Cuba chật vật trong vòng bao vây cấm vận của nước Mỹ,
chính Venezuela là quốc gia viện trợ mạnh mẽ nhất cho hòn đảo tự do.
Khoảng thời gian từ năm 2007-2013, Venezuela đã viện trợ kinh tế trị giá
hơn 10 tỷ USD cho Cuba.
Sau khi Tổng thống Chavez qua đời, Chủ tịch Fidel từng viết lá thư, mô
tả nhà lãnh đạo Venezuela là “người bạn tuyệt vời nhất mà nhân dân Cuba
từng có trong lịch sử.”/.
TÌNH BẠN GIỮA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN
Thứ Tư, 20 tháng 3, 2013
Trong lịch sử, dưới nhiều góc độ khác nhau mà có rất nhiều quan điểm
khác nhau về tình bạn, Tình bạn bắt nguồn từ cảm tính, ở trực giác, tác
động của các giác quan (ánh mắt, nụ cười...) thông qua sự tiếp xúc gần
gũi (cùng học tập, lao động, vui chơi…), ở sự đồng điệu về sở thích, tâm
hồn và lối sống....
TÌNH BẠN GIỮA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN
Nguyễn Hữu Đường*
Trong
lịch sử, dưới nhiều góc độ khác nhau mà có rất nhiều quan điểm khác
nhau về tình bạn, Tình bạn bắt nguồn từ cảm tính, ở trực giác, tác động
của các giác quan (ánh mắt, nụ cười...) thông qua sự tiếp xúc gần gũi
(cùng học tập, lao động, vui chơi…), ở sự đồng điệu về sở thích, tâm hồn
và lối sống. Từ cảm tính mà có cảm tình với nhau, rồi từ cảm tình người
ta tiến tới những sự gắn kết về lí trí. Tình bạn chân chính, sâu sắc,
lâu bền bao giờ cũng đi từ sự bồng bột, sôi nổi, đôi khi say đắm rồi đến
yêu thương, quý trọng và đồng điệu tâm hồn, về tư tưởng, hành động tới
mức có thể sẵn sàng hi sinh vì nhau. Khi ấy lí trí soi sáng, dẫn dắt
đường đi cho tình cảm; và tình yêu thương gắn kết làm cho lí trí có linh
hồn. đỉnh cao của tình bạn là tình đồng chí, sự phát triển tình bạn
sang tình đồng chí là một quy luật chuyển hóa tự nhiên.
Trong xã hội phong kiến, tình bạn được xem là một trong những yếu tố tạo nên “Ngũ Thường” Tình
bạn không giới hạn ở tuổi tác, địa vị và luôn cần thiết cho cuộc sống.
Tình bạn là nền tảng để chúng ta xây dựng những mối tương quan khác,
tình bạn làm chúng ta lớn lên và được trở nên chính mình nhiều hơn. Alessandro Manzoni, một nhà văn người Ý đã từng nói: “Một
trong những hạnh phúc lớn nhất ở đời này là tình bạn, và một trong
những hạnh phúc của tình bạn là có một người để gửi gắm những tâm sự
thầm kín”.
Trong xã hội loài người, từ cổ chí kim, từ đông sang tây có rất nhiều
câu chuyện sáng chói về tình bạn như Lưu Bình và Dương Lễ, như Quản
Trọng và Bảo Thúc Nha... song tình bạn nào đẹp hơn, sáng chói hơn tình
bạn giữa K.Marx và Ăngghen, cái tình bạn mà ở nơi đó người ta đã thấy
được một không phân biệt đẳng cấp, thể hiện đức hy sinh lớn lao của con
người vì mục tiêu của nhân loại mà cống hiến: “Những
chuyện cổ tích thường kể lại những tấm gương cảm động về tình bạn. Giai
cấp vô sản châu Âu có thể nói rằng khoa học của mình là tác phẩm sáng
tạo của hai nhà bác học kiêm chiến sĩ mà tình bạn đã vượt xa tất cả
những gì là cảm động nhất trong những truyền thuyết của đời xưa kể về
tình bạn của con người”1.
Ph.Ăngghen
sinh ngày 28-11-1820 tại thành phố Bác-men, tỉnh Ranh (nước Đức) trong
một gia đình tư sản sùng tín tôn giáo. Từ một học sinh đầy mơ mộng, một
chàng trai giàu lòng nhân đạo, nồng nhiệt yêu tự do đã dùng thi ca làm
vũ khí biểu lộ sự đồng tình với nhân dân và khát vọng tương lai. Tốt
nghiệp tú tài, Ph.Ăngghen vâng lời cha thôi học, theo nghề kinh doanh
thương mại. Những quan sát xã hội và hoạt động thực tiễn đã làm biến
chuyển thế giới quan và tư duy chính trị của ông. Từ con đường tự học,
học trong sách báo, trong các câu lạc bộ bác học, trong tổng kết thực
tiễn và trong sự phẫn nộ với xã hội đương thời, Ph.Ăngghen đã trở thành
một nhà bác học. Trên con đường học tập và nghiên cứu, Ph.Ăngghen đã gặp
K.Marx một cách gián tiếp thông qua đọc các tác phẩm của K.Marx. Dần
dần từ việc nghiên cứu triết học, kinh tế chính trị học, hai ông đã tìm
đến nhau rồi trở thành những người đồng chí - những người đồng sáng lập
nên một học thuyết cách mạng dẫn đầu thời đại.
K.Marx
sinh ngày 15-5-1818 ở thành Tơ-ri-a thuộc tỉnh Ranh (nước Đức) trong
một gia đình trí thức (cha ông là luật sư). Từ nhỏ ông đã được giáo dục
và hun đúc trong tinh thần khai sáng của chủ nghĩa tự do, nhân đạo và lý
tính. Ông tốt nghiệp tú tài rồi vào học khoa Luật tại trường Đại học
Tổng hợp Bon, sau chuyển sang học trường Đại học Béc-lin, một trung tâm
nghiên cứu về triết học. Mác đã bảo vệ xuất sắc luận án Tiến sĩ triết
học, rồi vừa nghiên cứu vừa tổng kết thực tiễn, ông cùng với Ăngghen
sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học.
Hai
con người xa lạ, từ những hoàn cảnh xuất thân, môi trường giáo dục và
quá trình đào tạo rất khác nhau đã trở thành hai người đồng chí rồi sau
trở thành hai người bạn, một tình bạn vĩ đại và cảm động, gắn quyện tình
đồng chí sắt son chung thuỷ tới mức mà sau khi K.Marx qua đời
Ph.Ăngghen đã đề xuất rằng những công trình sáng tạo riêng cũng như
những công trình hợp tác chung của hai người nên lấy tên là học thuyết
K.Marx.
Lần
đầu tiên, K.Marx gặp Ph. Ăngghen vào cuối tháng Mười Một 1842, khi Ph.
Ăngghen trên đường sang Anh và ghé thăm ban biên tập tờ Rheinische
Zeitung (Nhật báo tỉnh Ranh). Mùa hè năm 1844, Ph. Ăngghen đến thăm K.Marx ở Pa-ri. Hai ông đã trở thành những người bạn cùng chung lý tưởng và quan điểm trong tất cả mọi vấn đề lý luận và thực tiễn và đây được xem như là “cuộc gặp mặt lịch sử” của hai vĩ nhân.Hai
ông trở thành đôi bạn hiếm có trong lịch sử. Bằng cả cuộc đời, hai ông
đã chứng minh rằng: từ mục đích lý tưởng và học thuyết, họ đã sống vì
nhau, cho nhau trọn cả cuộc đời. Họ đã dành cho nhau những gì tốt đẹp
nhất, tôn trọng và quý mến nhau hơn cả chính bản thân mình. K.Marx kể rằng: Ăngghen
luôn đi trước K.Marx trên nhiều lĩnh vực, mọi điều tiên đoán của Mác
bao giờ xảy ra cũng muộn hơn ở Ăngghen và K.Marx bao giờ cũng theo gót
Ăngghen. Chính những nghiên cứu phác thảo trong lĩnh vực kinh tế của Ăngghen đã làm cho K.Marx nảy
ra ý tưởng phải đi vào nghiên cứu môn kinh tế chính trị. Không ai có
thể phủ nhận thiên tài của Mác khi nghiên cứu kinh tế chính trị học thể
hiện ở bộ Tư bản vĩ đại nhưng cũng không ai có thể phủ nhận ảnh hưởng to
lớn và sự cộng tác của Ăngghen đối với K.Marx khi
hoàn thành tác phẩm đó. Hơn thế nữa, Vì lý do vật chất, trong lúc gia
đình K.Marx phải bôn ba từ nơi này đến nơi khác do sự truy lùng của
chính quyền đương thời, chính Ăngghen là người đứng ra lo chu toàn thu
xếp gia đình để K.Marx phần nào yên tâm nghiên cứu, Ăngghen đã phải làm
nghề thư ký hãng buôn trong gần 20 năm. Và cũng vì thế, có lần K.Marx chỉ vào bộ Tư bản và nói rằng: Chính đây là của Ăngghen.
K.Marx cũng
cho biết rằng Ăngghen chắc còn có thể sáng tạo thêm bao công trình đồ
sộ, nếu gần hai mươi năm ấy ông được tự do, không bị cái nghề thư ký
hãng buôn cầm tù khổ sai. Bởi lẽ, Ăngghen là người có khối óc bách khoa,
sắc sảo, với sự hiểu biết phong phú lạ thường và khả năng làm việc kỳ
diệu. K.Marx ngưỡng mộ, tự hào và lấy làm thảo mãn về đạo đức, tài trí của Ăngghen. K.Marx yêu mến Ăngghen hơn cả bản thân mình. K.Marx luôn luôn lo cho sức khoẻ của Ăngghen và sẵn sàng quên cả bản thân mình để bảo vệ Ăngghen.
Còn Ăngghen, suốt cả cuộc đời đã hy sinh, giúp đỡ cho cả gia đình K.Marx về vật chất lẫn tinh thần. Nếu không có sự giúp đỡ hết lòng của Ăngghen thì K.Marx khó có điều kiện vật chất để hoàn thành những tác phẩm đồ sộ của mình. Ăngghen luôn luôn chăm lo cho K.Marx về
mọi mặt, không những về công việc, mà cả sức khoẻ và cuộc sống gia
đình. Do điều kiện tài chính khó khăn và do làm việc quá sức, Mác khó
tránh khỏi bị ốm đau. Mỗi lần K.Marx ốm, Ăngghen sốt sắng sưu tầm các loại sách báo nói về bệnh tật và phương thức điều trị và tự mình trở thành bác sĩ điều trị cho K.Marx. Ăngghen đã trở thành linh hồn của gia đình K.Marx và
luôn đóng vai trò trung tâm hoà giải những mâu thuẫn, là trọng tài
trong các cuộc vui gia đình. Ăngghen nuôi hầu hết các con của K.Marx và
được họ xem như người cha thứ hai của mình. Nhưng không chỉ có thế,
trên bình diện lý luận, ngoài những tác phẩm riêng của mình, Ăngghen còn
giúp đỡ Mác rất nhiều về mặt khoa học. K.Marx đã
dành cho bộ Tư bản bao nhiêu năm tháng của cuộc đời, bao nhiêu sức lực
và tâm huyết của mình. “Tư bản” là một tác phẩm biểu hiện trí tuệ tuyệt
vời với trình độ hiểu biết phi thường. Chính K.Marx trước
khi xuất bản bộ Tư bản tập I đã đề nghị Ăngghen cùng đứng tên với tư
cách đồng tác giả nhưng Ăngghen đã khiêm nhường từ chối. Sau khi K.Marx mất,
chính sự uyên bác và sự mẫn cảm khoa học cùng với đồng điệu về tư tưởng
và tâm hồn, đã cho phép Ăngghen soạn thảo hai tập còn lại của bộ Tư bản
đồ sộ, bộ tác phẩm đó vẫn mang tên K.Marx mà liền mạch tư tưởng. Ngay
khi Tư bản tập II và III được xuất bản, có người băn khoăn hỏi Ăngghen
sao không lấy tên mình, ông tuyênbố: “Phần ông đóng góp như thế nào thì tuỳ độc giả nhận xét nhưng tư tưởng chủ đạo của các tác phẩm ấy hoàn toàn là của bạn ông K.Marx”.
Khi K.Marx qua
đời, có người từng hỏi Ăngghen, ông có thể nói tư tưởng chủ đạo của học
thuyết Mác là gì? Ăngghen đã không ngần ngại trả lời “sự tự do của mỗi
người là là điều kiện tạo nên sự do của xã hội”
Sau khi K.Marx qua đời, Ăngghen là người duy nhất có quyền công bố những tác phẩm của K.Marx nhưng
cho đến trước khi trút hơi thở cuối cùng ông vẫn nhắc đi nhắc lại nhiều
lần rằng công lao sáng lập ra triết học và khoa kinh tế chính trị học
mácxit chủ yếu thuộc về K.Marx - Ăngghen
đã đề xuất rằng những công trình sáng tạo riêng cũng như công trình hợp
tác chung của hai người nên lấy tên là học thuyết Mác. Đối với K.Marx - Ăngghen luôn tự cho mình chỉ là vai phụ. Còn bất cứ ở đâu và bất kỳ trong vở diễn nào, K.Marx bao giờ cũng là kép chính. Tên tuổi của Ăngghen vang lừng khắp thế giới vì nó luôn gắn liền với tên tuổi của K.Marx. Để đánh giá về công lao của Ăngghen, V.I. Lênin viết: “Sau
bạn ông là Các Mác, Ăng-ghen là nhà bác học và người thầy lỗi lạc nhất
của giai cấp vô sản hiện đại trong toàn thế giới văn minh. Từ ngày mà
vận mệnh đã gắn liền Các Mác với Phri-đrích Ăng-ghen thì sự nghiệp suốt
đời của hai người bạn ấy trở thành sự nghiệp chung của họ. Cho nên muốn
hiểu Ph.Ăng-ghen đã làm gì cho giai cấp vô sản thì phải nhận rõ ý nghĩa
của học thuyết và hoạt động của Các Mác đối với sự phát triển của phong
trào công nhân hiện đại”
K.Marx và
Ăngghen không những để lại cho nhân loại một khối lượng tri thức khoa
học khổng lồ mà các ông còn để lại một tấm gương sáng chói về nhân cách,
một tình bạn-tình đồng chí vĩ đại đáng để chúng ta học hỏi.
02h, ngày 14 tháng 4 năm 2011
* Nguyễn Hữu Đường- GV môn GDCD Trường THPT Tân Phú
Phim hoạt hình - Khoảnh khắc kỳ diệu - TÌNH BẠN
Nhận xét
Đăng nhận xét