Dai Chung la su suy ngam cua toi ve cuoc doi, xa hoi, nhan sinh
KIẾP GIANG HỒ 203
Nhận đường liên kết
Facebook
X
Pinterest
Email
Ứng dụng khác
-
(ĐC sưu tầm trên NET)
Tiểu Sử SÁU NGỌ - PAUL NGỌ
Saigon vào những ngày đầu thế kỷ 20 nổi lên những tay lục lâm, nhưng lại
thích tự nhận mình là hảo hán. Trong số này phải kể đến trước tiên là
Tư Mắt và Sáu Ngọ. Tư Mắt thuộc hàng "anh chị", thuộc hàng "bố già" vào
thời ấy. Khắp Saigon, Chợ Lớn, thậm chí cả Nam Kỳ Lục Tỉnh hể nghe danh
Tư Mắt là đều nổi da gà. Ở bài này, chúng tôi chưa nói đến Tư Mắt, mà
chỉ xin nhắc qua Sáu Ngọ, một người có số phận gắn với "lịch sử đỏ đen"
của Sài gòn năm xưa.
Ái thiếp 10 năm và ngôi nhà ‘ma ám’ của ông vua cờ bạc
Câu chuyện bắt đầu từ hôm có đôi vợ chồng, một
người tuổi gần 60 trực tiếp đến tận nhà của ông để nhờ giải giúp cho một
cái hạn mà họ gọi là nạn kiếp từ đâu giáng xuống.
ảnh minh họa
Sáu
Ngọ là cái tên nôm na mà mọi người hay gọi, chớ còn riêng ông ta thì
còn có một cái tên Tây rất kêu, gọi là Paul Daron. Ông ta có quốc tịch
Pháp mà nhờ đó đã hành nghề cờ bạc lậu nhiều năm, làm giàu và nhảy lên
hạng đại gia ở Sài Gòn Chợ Lớn thời bấy giờ. Ngay như nhà chức trách
Pháp cũng phải nể nang và biệt đãi, để cho ông ta hành nghề và trở thành
trùm, tức là một loại vua không ngai: Vua cờ bạc!
Câu chuyện này tuy không kể trực tiếp
đến bản thân ông vua cờ bạc Sáu Ngọ, tuy nhiên nhân vật chính lại là
những người có liên quan tới Thầy Sáu mật thiết: Đó là một ái thiếp của
ông vua cờ bạc.
Khi ấy Sài Gòn còn là vùng đất mới phát
triển, việc tổ chức thành phố vẫn còn đang chưa chặt chẽ lắm và đặc
biệt các giới giang hồ, hảo hán rộng đường sinh sống hoạt động, cho nên
một con người lừng lẫy, tiếng tăm như Sáu Ngọ được xem là giàu nứt đố
đổ vách và có thê, có thiếp đầy nhà là chuyện thường tình.
Chuyện này liên quan đến một ái thiếp
mà thời đó khi sự việc xảy ra hầu như đã được bít kín. Bởi lẽ thứ nhất
là vì ông vua cờ bạc Sáu Ngọ không muốn lùm xùm làm mất uy tín của ông
ta, đồng thời ảnh hưởng tới công cuộc làm ăn mà yếu tố bí mật và kín
tiếng chừng nào tốt chừng ấy.
Cho nên chuyện chỉ vỡ lở khi có một nhà
tướng số lừng danh thời bấy giờ là ông Vy Kính Trang vô tình tiết lộ,
bởi chính ông ta là người chứng kiến được câu chuyện đầy bí hiểm này.
Nhà tướng số Vy Kính Trang vừa nói đã kể lại câu chuyện cho một nhà báo
lão thành, thuộc lớp đàn anh, đàn chú của người viết bài này vào sáu
bảy chục năm trước tại Sài Gòn, để rồi nhờ đó mà ngày hôm nay mới có tư
liệu cho bài viết. Thầy tướng số Vy Kính Trang đã quả quyết qua câu
chuyện: "Trong đời hành nghề của tôi tuy tôi chỉ chuyên về bói toán
nhưng lần ấy buộc lòng tôi phải chuyển hướng sang làm một nghề khác đó
là nghề vừa bói toán vừa giải bùa, giải nạn cho một người mà tôi thấy họ
lâm vào hoàn cảnh nguy cấp, rất đáng thương, rất tội...".
Lần theo những gì của thầy Vy Kính
Trang kể lại thì câu chuyện đã bắt đầu từ hôm có đôi vợ chồng, một
người tuổi gần 60 trực tiếp đến tận nhà của ông để nhờ giải giúp cho
một cái hạn mà họ gọi là nạn kiếp từ đâu giáng xuống. Họ vô cùng sợ
hãi, chẳng biết chống đỡ bằng cách nào! Nhìn thấy họ vừa lo sợ vừa đau
đớn thể xác khi van lơn thầy để được giúp đỡ, thì ông thầy tướng số đã
động lòng phá lệ.
Nói phá lệ ở đây là vì khi hành nghề
tướng số thì thầy Vy Kính Trang đã thề trước tổ nghiệp là chỉ làm đúng
một nghề đó là nghề bói toán, để giúp đời chớ không bao giờ lạm dụng
qua những nghề khác. Nhưng với trường hợp này thì thầy biết rằng mình
sẽ không thể nào giữ được lời thề trước tổ nghiệp, bởi đôi vợ chồng kia
nói thẳng rằng họ bị một chứng bệnh lạ mà họ nghĩ rằng đó không phải
là bệnh thông thường mà có thể liên quan đến bùa chú, trấn yểm!
Ái thiếp của "vua cờ bạc"
Quả thật khi nghe như vậy thì thầy
tướng số họ Vy hiểu rằng mình không thể nào giữ vững lập trường theo
lời thề trước tổ nghiệp. Bởi qua tiếp xúc với đôi vợ chồng kia, và nhất
là sau khi nghe họ kể tỉ mỉ về bệnh tình của mình, thì thầy họ Vy biết
chắc rằng hai người họ không bị bệnh thông thường như những bệnh nhân
khác mà chắc chắn có yếu tố thần bí nào đó nữa. Nhất là khi lão nghe
chính từ miệng đôi vợ chồng kể lể hết sự tình: "Vợ chồng chúng tôi tự
dưng phát nhức đầu, giống như ai cầm cây đinh dài đóng thẳng vào xương
sọ. Những cơn nhức buốt cứ đeo đẳng suốt ngày đêm mà bệnh tình cứ càng
ngày càng tăng dần".
Dĩ nhiên là họ đã không tiếc tiền để
chạy chữa đủ thầy bà, uống đủ loại thuốc. Nhưng bệnh tình chẳng có chút
thuyên giảm nào… Người chồng xưng mình là một kỹ sư công chánh, tức là
người có học thức tân thời, hiểu biết chớ không phải là ngu dốt, nhưng
ông ta vẫn tả bệnh tình của mình bằng giọng sợ hãi: "Tôi bị đau nửa
bên đầu, lúc đầu đau xoáy vào óc khiến tôi lăn lộn đau đớn. Sau khi
uống thuốc cũng không thấy thuyên giảm nên tôi vào thẳng nhà thương của
người Pháp để nhờ điều trị, tuy nhiên những đốc tờ (bác sỹ) giỏi nhất
trong nhà thương ấy sau khi khám, định bệnh và cho thuốc để uống thì
càng uống thuốc tôi càng bị đau nhiều hơn.
Lão họ Vy chưa kịp hỏi thêm thì bà vợ
của ông kỹ sư công chánh này đã bổ sung thêm bằng giọng đau khổ và đầy
sợ hãi: "Tưởng đâu chỉ mình nhà tôi đau mà thôi, nhưng qua ngày hôm sau
thì lại tới phiên tôi đau y như vậy! Những cơn nhức buốt khiến tôi, do
sức yếu hơn chồng, đã ngất xỉu từng lúc, bất kể ngày đêm. Những cơn
đau nhức chẳng khác nào ai cầm khoan mà khoan sâu vô hộp sọ của tôi.
Tóm lại cơn đau đầu của tôi và chồng tôi giống hệt như nhau, nhưng sức
chịu đựng mỗi người mỗi khác cho nên tôi luôn nặng hơn và càng lúc tôi
càng kiệt sức, tưởng chừng như thà chết còn sướng hơn!".
Thầy tướng số họ Vy nghe kể tới đó thì
nhẹ lắc đầu tìm cách từ chối: "Nghe ông bà kể thì tôi cũng lo cho ông
bà lắm. Tuy nhiên tôi xin nói thẳng tôi chỉ là nhà tướng số, chuyên bói
toán, vì vậy nếu ông bà cần xem vận mệnh của mình tốt xấu hay những gì
liên quan tới nạn kiếp thì tôi có thể trả lời mà không cần ngần
ngại. Tuy nhiên trường hợp của ông bà đây là bệnh, mà bệnh thì tôi
không thể chữa được, bởi tôi không phải là thầy thuốc".
Dẫu lão ta đã nói như thế nhưng đôi vợ
chồng vẫn cố nài nỉ nhờ giúp đỡ. Sợ lão vẫn tiếp tục từ chối, cho nên
người vợ đã nói thẳng về nhân thân của mình: "Tui nói thiệt để thầy
nghe và cố giúp giùm. Tôi đây vốn là người Singapore, đã sang Việt Nam
từ mười năm trước, trong một cuộc thi sắc đẹp, được các quan chức người
Pháp và các đại thương gia người Hoa ở Sài Gòn tổ chức. Bởi tôi được
thầy Sáu Ngọ bảo trợ...".
Nghe nói tới thầy Sáu Ngọ thì lão tướng
số họ Vy giật mình và có phần nể nang hỏi, bởi lão là chỗ quen thân
với Sáu Ngọ: "Cô nói rõ hơn xem, cô là gì của thầy Sáu?" Người phụ nữ
thành thật nói thêm: "Như tôi vừa nói mà không dám giấu diếm thầy. Bởi
tôi biết nếu có giấu cũng không qua mặt được thầy. Tôi là ái thiếp của
Sáu Ngọ".
Nhìn người đàn ông gọi là chồng của bà
ta bên cạnh, lão Vy thắc mắc hỏi thì được người phụ nữ này nói rõ hơn:
"Nói phải có đầu có đuôi: Tôi từ Singapore qua xứ này và cặp với thầy
Sáu khi mới ở tuổi đôi mươi. Mối quan hệ của chúng tôi kéo dài khoảng
mười năm. Cho đến khi tôi ở tuổi 30 thì cuộc tình giữa tôi với thầy Sáu
chấm dứt, do tôi không muốn phá hoại gia đình của thầy ấy. Đồng thời
tôi cũng muốn tạo ra một mái ấm gia đình riêng, cho nên tôi chia tay
với thầy Sáu, để rồi gặp chồng tôi đây. Nói công bằng thì cũng nhờ thầy
Sáu giúp đỡ trong những năm chúng tôi có quan hệ, mà tôi có một số vốn
kha khá. Đến khi tôi gặp nhà tôi đây thì với vốn của hai vợ chồng,
chúng tôi đã cùng nhau dựng lên một cơ sở làm ăn khá phát đạt".
Saigon vào những ngày đầu thế kỷ 20 nổi lên những tay "yên hùng",
những tay lục lâm, nhưng lại thích tự xưng mình là hảo hán. Trong số
này phải kể đến trước tiên là Tư Mắt và Sáu Ngọ. Tư Mắt thuộc hàng "anh
chị", tức dân giang hồ, dao búa, một loại trùm du đãng thuộc hàng "bố
già" vào thời ấy. Khắp Saigon, Chợ Lớn, thậm chí cả Nam Kỳ Lục Tỉnh hể
nghe danh Tư Mắt là đều khiếp sợ (tất nhiên chỉ trong giới giang hồ và
lương dân). Ở bài này, chúng tôi chưa nói đến Tư Mắt, mà chỉ xin nhắc
qua Sáu Ngọ, một người có dính líu tới "lịch sử đỏ đen" của Saigon năm
xưa.
Người ta nói, người Pháp đến Việt Nam vào hạ bán thế kỷ 20 nói là
khai phá một nước chậm tiến, nhưng lại mang theo hai thứ họa lớn: sự
xâm lược đô hộ và một nếp sống sa đọa, ngoại lai. Sự sa dọa đầu tiên là
nạn cờ bạc, hút xách. Nói như thế không có nghĩa là ở Việt Nam trước đó
không có cờ bạc, và các tệ nạn xã hội, tuy nhiên nếu có thì cũng ở mức
độ nhỏ, một thứ tệ nạn "nội địa". Phải đợi khi người Pháp có mặt, đồng
thời được sự tiếp tay của một số người Hoa Kiều, thì những gì của ngoại
bang mới thực sự xâm nhập vào Việt Nam, đặc biệt là vùng đất phía Nam
của nước ta (Saigon là tiêu biểu). Người dân Saigon đã bắt đầu nghe nói
về những "thiên đàng" đỏ đen ở Macau, Monte-Carlo và Las Vegas. Và một
hậu quả của tất yếu của sự lây nhiễm này là sự ra đời của các sòng bạc,
những nơi mang hình thức casino, và sự nổi lên của những "ông trùm",
trong số này có Sáu Ngọ.
Sáu Ngọ được dân Saigon gọi bằng Thầy Sáu, không phải do có chức
tước gì, hay giàu sang phú hộ gì, mà chỉ vì là "Trùm". Ông nổi lên từ
hàng dân đen, có máu giang hồ và có mộng làm "dân cậu". Đầu tiên "Thầy
Sáu" bắt chước Tây, đứng ra làm các "xẹc" (Cerle - câu lạc bộ giải trí)
riêng cho người Việt Nam. Thực chất đây là các sòng bạc, được tổ chức
lén lút, trong phạm vi hẹp, tuy nhiên mức sát phạt thì không nhỏ.
Vào những năm đầu thế kỷ, hệ thống sòng bạc của Sáu Ngọ hiện diện
khắp Saigon - Chợ Lớn và các vùng phụ cận, Sáu Ngọ là chủ chứa, là trùm
hay gọi là đầu nậu cũng được, và nếu cần cũng có thể gọi là "bố già"
của một dạng mafia thời đó. Ông ta tổ chức tổ chức băng nhóm những tay
anh chị, du côn để bảo vệ công việc làm ăn, đồng thời để trấn áp những
địch thủ dám phá bĩnh việc "kinh doanh" của Thầy Sáu, giống như kiểu
mafia Ý, Sáu Ngọ gần như mua đứt làng lính, mua cả quan tòa, biện lý
người Pháp nổi tiếng là dữ dằn, để vô hiệu hóa mọi sự cản trở hoạt động
của ông ta. Sáu Ngọ còn chơi trội, dùng tiền mua luôn quốc tịch Pháp,
lấy tên là Paul, và lộng hành càng dữ.
Đứng trước tình hình đó, một số quan tòa Pháp tỏ ra cứng rắn hơn,
trong số này có biện lý Lafrique. Ông này quyết bằng mọi cách triệt hạ
cho được Sáu Ngọ, đôi lần làm cho "vua cờ bạc" phải điêu đứng. Nhưng rồi
bằng nhiều mánh khóe, thủ đoạn, Sáu Ngọ vẫn tồn tại, và nạn cờ bạc vẫn
lan rộng ở Saigon và các tỉnh Nam Kỳ. Và đây là nguyên nhân dẫn tới việc
ra đời một casino qui mô lớn hơn, đó là Đại Thế Giới và Kim Chung.
Đại Thế Giới (Grand Monde) được người Pháp chính thức cho thành
lập với các lý do: thà cho cờ bạc công khai, có lấy thuế, còn hơn để
kiểu cờ bạc lén lút nhưng tràn lan như kiểu Sáu Ngọ, vừa thất thu thuế,
vừa bị xúc phạm đến quyền lực của chính phủ bảo hộ Pháp.
Đồng lúc thành lập với Đại Thế Giới có sòng bạc Kim Chung ở khu
vực Cầu Muối (nay là Khu Dân Sinh, phường Cầu Ông Lãnh, Quận 1) Nhưng
Kim Chung có qui mô kém hơn, đối tượng chơi thuộc loại bình dân, nên mỗi
khi nhắc tới casino tiêu biểu của Saigon, người ta hay nói đến Đại Thế
Giới.
Đại Thế Giới tọa lạc trên đường Gallieni (nay là Trần Hưng Đao,
quận 5) trong một khuôn viên rộng lớn mênh mông, vòng rào tường cao, cửa
ra vào có bảo vệ mặc đồng phục canh gác cẩn mật, người ra vào tự do,
nhưng không phải ai cũng mạnh dạn vào, bởi muốn bước vào phải có tiền và
bởi cái 'Sát Khí' của Thần đỏ đen luôn vừa quyến rũ thiên hạ, lại vừa
hù dọa mọi người. Trên cổng lớn sáng rực ánh đèn néon, hàng chữ Grand
Monde (Đại Thế Giới) như một lời xác nhận với mọi người dân Saigon rằng
nơi đó là sòng bạc được nhà nước bảo trợ, cứ mặc tình mà sát phạt!.
Cuộc đấu súng giành gái và những cái chết!
16:42 05/05/2011
Giang hồ Sài Gòn biết bao chuyện thêu dệt. Những cuộc thanh
trừng trong thế giới ngầm thường diễn ra rất thầm lặng và nhiều khi
không để lại dấu vết. Nhưng cũng có những cuộc đấu súng đẫm máu của
những băng nhóm giang hồ, gây hoang mang dư luận một thời.
Tư Mắt và Paul Ngọ... Nổi danh chỉ sau Phan Phát Sanh vì việc cướp Khám Lớn gây
bất an cho giới cai trị thuộc địa Nam Kỳ, có lẽ phải kể tới Tư Mắt. Tên
thật là Nguyễn Văn Trước, Tư Mắt sinh ra và lớn lên tại Gia Định thành
vào thời Tây thắng thế tại Nam Kỳ. Không đủ can đảm để thành một nghĩa
sĩ Cần Vương hoặc anh hùng kháng Pháp, Tư Mắt bắt đầu gầy dựng sự nghiệp
giang hồ của mình từ khu Gò Vấp. Thoạt đầu chỉ là những vụ đánh nhau nho nhỏ giữa xóm này
với xóm khác, Tư Mắt nổi danh nhờ gan dạ, võ nghệ khá, lại xử sự quân tử
rộng lượng. Khi vươn bàn tay ra đến khu chợ Cũ, Tư Mắt đụng độ với các
băng nhóm có từ thời nảo thời nào đang tiếp tục hùng cứ ở đây. Liệu
không chống nổi với các băng khác do nhân sự còn quá ít ỏi, Tư Mắt
chuyển qua địa bàn Sánh - Cái - Sị (Tân Nhai Thị) tức chợ Bến Thành mới
được xây dựng từ việc lấp ao vũng Borres xong. Mọi mua bán chuyển dần từ chợ Cũ qua chợ mới Bến Thành,
Tư Mắt theo đó cũng rủng rỉnh đồng ra đồng vào. Tiền có thì tha hồ quảng
đại giao du, nhân lực băng Tư Mắt tăng lên nhanh chóng. Tư Mắt quyết
định lấn vào cả 3 vùng béo bở: Chợ Cũ, Đất Hộ (ĐaKao) và Tân Định. Trùng
hợp xảy ra vụ Phan Xích Long (Phan Phát Sanh) cướp ngục, thực dân Pháp
ra sức khủng bố. Giang hồ hảo hán các nơi đa số có tham gia vụ này, đang
bị bóp nghẹt không thương tiếc cộng thêm việc xua quân lấn chiếm lãnh
địa của Tư Mắt nên tất cả nhanh chóng thúc thủ. Tư Mắt nghiễm nhiên trở
thành vua Sài Gòn.
Chùa Cây Mai - nơi Tư Mắt sám hối lúc tuổi già.
Vài năm sau, tên tuổi của Tư Mắt không giới hạn ở vùng
Sài Gòn-Chợ Lớn nữa mà lan tỏa khắp Lục Tỉnh Nam Kỳ. Thói quen đi ngao
du khắp cõi của ông trùm Tư Mắt cộng thêm tật thích gây hấn đã khiến tên
tuổi Tư Mắt trở thành "ông ngáo ộp" dọa bọn lưu manh khắp miền Nam.
Thậm chí có những kẻ chưa gặp Tư Mắt bao giờ cũng một điều anh Tư, hai
điều chú Tư… để dựa hơi như người thân thích. Mỗi khi đến một địa phương nào, Tư Mắt đều vung tiền ra
kết giao, thu phục. Có một lần xuống Bạc Liêu, đàn em Tư Mắt va chạm với
hảo hán địa phương và bị nện cho "ôm đầu máu" về cáo cấp với chủ. Tư Mắt xuống đến nơi với hai vệ sĩ người Chà, gọi thủ
lĩnh địa phương ra nói chuyện. Khi nghe một lời xin lỗi, Tư Mắt lập tức
móc hầu bao ra một bó giấy bộ lư (5 đồng) ban thưởng và chiêu đãi toàn
bộ giang hồ Bạc Liêu một bữa ăn nhậu hoành tráng. Tiền ở đâu ra? Xin
thưa, Tư Mắt chỉ ho một tiếng thì ông hội đồng Trạch phải nôn ra ngay,
hầu khỏi bị phá khuấy trong chuyện làm ăn. Mà ông hội đồng Trạch tức
Trần Trinh Trạch là cha của công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy (Cậu Ba
Quy). Lấy mỡ nó rán nó, chính là cách chơi của Tư Mắt. Khi đã trở thành nhân vật "huyền thoại" của giang hồ toàn
cõi, Tư Mắt sinh ra chủ quan. Những đàn em đến quy thuận càng lúc càng
đông mà một người ít học như Tư Mắt không tài nào quản lý nổi. Xảy ra
hàng loạt vụ ức hiếp và chà đạp danh dự của những người khác do bọn đàn
em cấp thấp tiến hành khiến danh dự và hào quang của một Tư Mắt trượng
nghĩa giang hồ có phần nào bị thương tổn. Một mối ân oán quái quỷ nào đó mà Tư Mắt không bao giờ
biết đã xảy ra ngoài tầm kiểm soát của ông trùm. Thế là cuộc trả thù
được tiến hành mà mục tiêu là vợ con của Tư Mắt, dĩ nhiên vì bản thân Tư
Mắt là bất khả xâm phạm. Vợ con thảm tử, Tư Mắt không thể tìm ra ai là
thủ phạm trong mớ bòng bong quan hệ ân oán không dứt của mình. Buồn tình, đau khổ vì cô độc cuối đờ, Tư Mắt tìm đến chùa
Phụng Sơn (Chùa Cây Mai) để tu hành sám hối. Nghiệp chưa dứt, nhân quả
báo ứng ra sao không rõ, Tư Mắt sửa đèn măng xông cho nhà chùa, đột
nhiên phực cháy. Huyền thoại Tư Mắt chấm dứt vì một giây bất cẩn! Paul Ngọ, tức Sáu Ngọ là một tay tổ cờ bạc khác sinh cùng
thời kém tuổi Tư Mắt không nhiều nhưng thủ đoạn thì Tư Mắt phải gọi
là…cụ! Thoạt đầu khởi nghiệp chỉ là một gã phát hỏa cho các trùm
cờ bạc của người Hoa. Lúc đó tại vùng đất thuộc địa Nam Kỳ, sau loạn
quyền phỉ tại Trung Quốc gây nên cuộc chiến bát-quốc-liên-quân tấn công
Bắc Kinh, những thủ lĩnh xiêu tán khắp nơi mà gần nhất là Việt Nam. Có 2
thế lực tranh chấp nhau, một là Nghĩa Hưng tức Kèo Xanh của người Phước
Kiến và Kèo Vàng của người Triều Châu. Hai bên tranh chấp địa bàn hoạt
động hội kín và xảy ra vụ biến động ở Sóc Trăng năm 1882. Thực dân Pháp bắt đầu lưu tâm và tìm cách triệt hạ. Paul
Ngọ lập tức rời bỏ chủ cũ đã không còn an toàn và nhờ người giới thiệu
để nhập quốc tịch Pháp, ngày xưa gọi là vào dân Tây. Khi đã được gọi là
dân Tây, Paul Ngọ bắt đầu với những sòng bạc nho nhỏ gọi là "giải trí
gia đình khi giỗ chạp". Tất nhiên tiền lót đường khiến các sòng bạc của
Sáu Ngọ hoạt động vô tư trước mũi chính quyền thuộc địa. Lấn thêm một bước, Sáu Ngọ thâu tóm các sòng me, tài xỉu
và thuận gió lập nên hàng loạt sòng roulett theo phong cách Âu châu dành
cho giới quý tộc, trưởng giả của Nam Kỳ. Toàn cõi Nam Kỳ có 6 chiếc xe
hơi, sau tăng lên gần 40 chiếc thì xe Paul Ngọ sử dụng chỉ thua đúng mỗi
Thống đốc Nam Kỳ lúc bấy giờ. Việc tấn công mạnh mẽ vào tổ chức hội kín Kèo Xanh-Kèo
Vàng đã tạo thành cơ hội ngàn năm có một cho Paul Ngọ trở thành ông trùm
cờ bạc. Sau khi phong trào hội kín bị dập tắt bằng cuộc đàn áp đẫm máu,
nhất là vụ Phan Xích Long cướp ngục không thành… nhà cầm quyền thay đổi
hàng loạt các viên chức mẫn cán và sạch sẽ hơn. Viên chánh thanh tra Sài Gòn vừa được đổi về đã lập tức
quan tâm đến hiện trạng cờ bạc lan tràn khắp cõi. Các tay lính kín mã tà
vốn nhận bạc hằng tháng của Paul Ngọ lập tức cảnh báo và khuyến cáo
Paul Ngọ đừng tiếp tục hoạt động. Không thể bó tay với cảnh ngồi không
ngáp gió, Paul Ngọ bèn bóp trán suy nghĩ để đối phó với viên thanh tra
khó nhai này. Một kế hoạch sau đó được tiến hành. Một vị bang trưởng hội Hoa kiều được ấn vào tay một bó
bạc Đông Dương, lập tức đến xin gặp vị chánh thanh tra. Vị bang trưởng
xin phép vào ngày giỗ, mời viên chánh thanh tra đến nhà tham dự. Để hòa
đồng tạo thuận lợi cho công việc, ngài bèn nhận lời. Đúng ngày giờ, ngài
chánh thanh tra đến với vài đệ tử thân tín. Buổi tiệc diễn ra hoành
tráng và hữu hảo. Cuối tiệc, nhân lúc ngài chánh thanh tra đang ngà ngà
say, mặt hớn hở do "thâm nhập quần chúng" thành công, viên bang trưởng
thỏ thẻ: "Theo phong tục Á Đông, sau tiệc chúng tôi muốn giải trí vài
ván mạt chược nhè nhẹ ăn thua vài đồng cho có không khí, chẳng rõ ngài
chánh thanh tra có thể…?". Dĩ nhiên đang vui, ngài gật đầu nhưng không
quên ngầm quan sát. Cờ bạc chút đỉnh trong không khí êm ả, cũng không
đến nỗ, ngài hài lòng ra về mà không nhận ra Paul Ngọ đang tới lui giữa
các sới bạc hôm ấy như một con thoi. Nửa tháng sau, ngài hết sức bực mình triệu tập thuộc cấp
để hỏi xem vì sao không có một báo cáo gì về hoạt động cờ bạc của Paul
Ngọ? Sau một lúc im lặng, một thuộc cấp dũng cảm trình bày: ngài cho
phép rồi, hỏi gì nữa? Khi biết được mình đã rơi vào bẫy của Paul Ngọ,
viên chánh thanh tra ngậm tăm để hằng tháng làm như vị tiền nhiệm nhận
một mức "quà cáp" tương đương với cả chục mức lương do nhà nước đại Pháp
cấp cho… Paul Ngọ lợi hại là thế, nhưng kết cuộc cũng chẳng khác
gì các bậc tiền bối "ngành" tổ chức cờ bạc. Cuối đời, Paul Ngọ sống
nghèo khổ và hằng ngày dắt chó đi dạo trên đường trong bộ quần áo bạc
màu, hệt một lão nông tri điền đến tuổi tri thiên mệnh… Vụ đấu súng kiểu Việt Nam… Giang hồ từ sau thời Bảy Viễn không còn đơn giản. Vì nhu
cầu mở rộng chiến tranh, Mỹ tăng cường từ một phái bộ quân sự vài ngàn
người đóng ở bến Bình Đông lên đến hàng chục nghìn rồi trực tiếp đổ quân
theo Hiến chương Vũng Tàu thời Nguyễn Khánh, cả miền Nam
hóa thành trại lính. Bảo An đoàn chưa tới 200.000 quân đã tăng lên già
nửa triệu trong cái quân đội được đào tạo kiểu lai căng giữa Mỹ và Pháp. Các sĩ quan được đào tạo tại Pháp giờ đã là tướng tá quân
đội Sài Gòn, chỉ huy kiểu Mỹ nên không khỏi có phần lệch pha. Những du
đãng hoặc có máu du đãng cũng vào lính và hành xử hết sức côn đồ, tùy
tiện. Nguyễn Viết Cần, lúc bấy giờ là một thiếu tá, nhưng cả miền Nam đều biết mặt biết tên và có phần kiêng dè.
Mạt chược - trò chơi của trùm cờ bạc Paul Ngọ.
Đơn giản vì ngoài việc rất hung hăng, Cần lại là bào đệ
của Nguyễn Viết Thanh - tướng tư lệnh vùng 4 chiến thuật kiêm tư lệnh
quân đoàn 4, tức toàn khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Như thường lệ, cả
nhóm du đãng khoác áo lính, đúng hơn là sĩ quan, đi ăn chơi sau một
chuyến hành quân nhọc mệt. Dẫn đầu là thiếu tá Nguyễn Viết Cần và cả
chục chiến hữu lũ lượt kéo đến vũ trường Tour d'Ivoire (Tháp Ngà) ngay
góc đường Trần Hưng Đạo-Bùi Viện (nay là khu quận 1, TP HCM). Trước đó đã có cả chục sĩ quan Bộ tư lệnh đồng minh, chủ
yếu là sĩ quan Mỹ đang giành lấy một góc vũ trường. Chuyện không có gì
đáng nói nếu như cô cave xinh đẹp nhất, mối ruột của Cần đang được một
gã sĩ quan Mỹ dìu dặt theo tiếng nhạc trên sàn. Nguyễn Viết Cần ngoắc quản lý lại và yêu cầu trả "đương
sự về đơn vị cũ"… Tất nhiên bọn Mỹ không chấp nhận "chung sống hòa
bình". Lời qua tiếng lại biến cuộc thương lượng thành thách thức. Gã Mỹ
đề nghị giải quyết theo kiểu phim cao bồi miền viễn Tây. Hai khẩu Colt
45 được mang ra trên một cái khay, nhưng súng mỗi khẩu chỉ có đúng một
viên đạn. Cả hai được giải thích cặn kẽ về phương pháp đấu súng: Cả
hai quay lưng vào nhau, đếm 10 bước quay lại và ai muốn bắn trước cứ
bắn, nếu đủ tự tin bắn trúng. Nếu bắn trượt, người còn lại có quyền đi
lại gần để bắn cho chắc cú! Điều mà cả bọn sĩ quan ngụy không ngờ là gã
sĩ quan Mỹ, đối thủ của Nguyễn Viết Cần không đơn giản: gã là vô địch
bắn súng ngắn của Bộ tư lệnh quân đội Mỹ đóng ở Việt Nam.
Tóm lại, Cần chết chắc nếu chơi đúng luật… Hiệu lệnh được phát ra, Cần
bước đi được 3 bước bỗng quay phắt lại chĩa súng vào gáy gã Mỹ bóp cò! Cuộc đấu súng kiểu Mỹ chấm hết bằng kiểu hết sức… giang
hồ, với sự thắng lợi của phe Nguyễn Viết Cần, dù không mấy vẻ vang. Cả
hai phe nhảy vào các chỗ khuất để biến cuộc đấu súng tay đôi thành cuộc
chiến giành gái. Cho đến khi quân cảnh của cả Mỹ lẫn ngụy quyền đến nhặt
toàn bộ về đồn, cuộc đấu súng mới chấm dứt với kết quả: gã sĩ quan Mỹ vô
địch tác xạ chết toi! Do yếu tố chính trị và sợ tổn thương tình hữu
nghị đồng minh, vụ án được xử lý êm bằng một sự vụ lệnh tống Nguyễn Viết
Cần ra vùng 1, kèm theomộtgiấy báo tử do công vụ cho gã sĩ quan Mỹ Thiên Minh - Thiên Tường – CSTC tuần số 55
AI LÀ CHỦ NHÂN ĐẠI THẾ GIỚI
Phép hoạt động là của nhà nước cấp, nhưng tư nhân điều hành. Ngay từ đầu
khai trương, ai cũng thưởng Sáu Ngọ hay vài tay có máu mặt sở tại sẽ
được cho đứng thầu, nhưng không, chủ thầu là một tay nào đó từ Hong Kong
đến. Sở dĩ người Pháp cho các tay Hong Kong trúng thầu vì họ hiểu rằng ,
chỉ có những người từng am tường về tổ chức sòng bạc tầm cở thì mới có
khả năng đưa Đại Thế Giới lên ngang tầm với các sòng bạc ở Á Châu.
Người trúng thầu vốn xuất thân từ các sòng bạc ở Macau, đã sành sỏi về
tổ chức casino, do đó ông ta đã rập khuôn từ mọi hình thứcđến mọi mánh
khóe. Cùng kéo sang "miền đất hứa" mới với chủ còn có những cô hồ - lì
(người đứng điều khiển cuộc chơi của từng môn đỏ đen, theo cách gọi của
người trung Hoa) xinh đẹp và sành điệu, thừa sức làm vui lòng khách
chơi, dù có bị thua cháy túi!.
Ngay từ lúc mới mở cửa, Đại Thế Giới đã thu hút ngay con số khách
đỏ đen kỷ lục : tuần lễ đầu luôn có một vạn người tới thử thời vận mỗi
ngày, nhà chứa thu vô không dưới một triệu đồng (một triệu đồng bạc Đông
Dương hồi đó hết sức lớn, bằng bạc tỷ bây giờ). Tiền nộp cho nhà nước
không phải ít, từ 200.000 sau lên 300.000 và có lúc lên đến
500.000/ngày, vậy mà chủ chứa vẫn hốt đậm hơn bất cứ nghành kinh doanh
nào khác.
Khách chơi lúc đầu còn giới hạn trong giới trung lưu, đến người
nhiều tiền, lần hồi thu hút tới những giới bình dân, cả phu kéo xe, phu
bốc vác bến tàu, vì có đủ hình thức chơi, từ hốt me, tài xỉu, đến ru-lét
..v..v. Người chơi không cần phải động não nhiều, và cũng không cần có
nhiều vốn. Nhiều thua nhiều, ít thua ít, chỉ không đánh mới không thua!
Vậy mà Đại Thế Giới như có bùa, như ma túy gây nghiện, nó có thứ ma lực
lạ lùng càng lúc càng lôi cuốn người chơi lao vào như con thiêu thân
trước ánh đèn. Thế là bước đầu người Pháp thắng một keo quan trọng. Loại
được Sáu Ngọ một cách nhe nhàng hiệu quả....
CUỘC CHIẾN ĐỎ ĐEN
Gọi là cuộc chiến vì không còn từ ngữ nào để dùng cho sát nghĩa
hơn. Cuộc chiến giữa khách chơi và nhà cái, cuộc chiến giữa bản thân
người chơi và gia đình họ, và cuộc chiến cực kỳ quyết liệt, quyết liệt
giữa những thế lực để giành quyền chi phối sòng bạc Đại Thế Giới. Từ
ngày Đại Thế Giới mở ra, đã có không biết bao nhiêu thảm cảnh gia đình
xảy ra. Có người là công chức cấp cao của nhà nước, giàu sang tột bực,
vậy mà chỉ trong vài tuần "làm quen" với Grand Monde đã nướng hết sản
nghiệp vào đó, và tất nhiên là nướng cả cuộc đời. Có những người vợ,
những cô này bà nọ, chỉ vì ham vui, vào thử vài lần rồi bắt bén vào tiếp
và..... cuối cùng lột hết vòng vàng nữ trang, lấy cắp cả tiền nhà,
"cúng" sạch, và sau đó là "cúng" luôn cả cái ngàn vàng của mình! Thời đó
cầu Bình Lợi được xem là nơi kết liễu những cuộc đời bất hạnh, sau một
đêm cháy túi ở Đại Thế Giới....
Cả Saigon, vùng phụ cận, cả Nam Kỳ Lục Tỉnh nữa, và cũng không
thiếu người ở những miền xa của đất nước đổ xô về Saigon, về với Đại thế
Giới lập lòe ánh sáng ma quái, để chơi, để khóc và cà để chết. Vậy mà
như một luồng thác lũ, không thể ngăn nổi. Trong khi đó một cuộc đổ xô
khác, ở phía những thế lực muốn nắm Đại Thế Giới, cũng đến hồi quyết
liệt. Hồi ông vua cuối cùng của triều Nguyễn, Bảo Đại, Đại Thế Giới như
rồng lên mây, như được chắp thêm cánh bay. "Đức Quốc Trưởng" Bảo Đại đã
được người Pháp giao lại nguồn lợi Đại Thế giới, như một món quà ân
thưởng, làm cho ông vua sành cờ bạc này thích thú không gì bằng. Đệ nhị
thế chiến nổ ra, tình hình sôi sục, nhưng vẫn không ảnh hưởng gì đến
sòng bạc Đại Thế Giới, nếu không muốn nói nó còn chuẩn bị sức để phất
mạnh hơn ở tương lai.
Giai đoạn "sục sôi" nhất của Đại Thế Giới là thời điểm yên hùng
lục lâm và vài tay chính trị hàng đầu chĩa mủi dùi vào sòng bài. Từ năm
1947 đến 1953, đã nhiều lần Đại Thế Giới nằm trong tầm ngắm của nhiều
người. Đến khi xảy ra cuộc đối đầu chính trị giữa phe ông Ngô Đình Diệm
và phe trung thành của vua Bảo Đại, thì rỏ ràng có một người rắp tâm
nuốt chửng cái "máy hốt bạc "này. Người đó là Bảy Viễn, thủ lãnh của
nhóm Bình Xuyên. Vốn là tay "anh chị", từng nuôi mộng như Sáu Ngọ, nên
khi được quyền lực trong tay, được vua Bảo Đại ủng hộ, được các tướng
lãnh thân Pháp hậu thuẫn, Bảy Viễn đã làm một cuộc "đảo chánh", lật đổ
sự thống trị của các nhà thầu Hong Kong khỏi lãnh địa Đai Thế Giới. Bình
Xuyên đã trúng thầu khai thác Đại Thế Giới với giá 500 ngàn đồng mỗi
đêm, thừa sức có tiền nuôi quân đóng bên kia cầu chữ Y của họ, và thả
sức ăn tiêu, bỏ túi riêng. Đại Thế Giới như một mỏ vàng vô tận, ai nắm
được nó thì nắm được sức mạnh chính trị về tay mình. Đã có lúc người ta
ngỡ là Bảy Viễn sẽ trở thành nhân vật hàng đầu nhờ khai thác quyền lợi
béo bở đó. Kịp đến khi nổ ra cuộc "huynh đệ tương tàn" trong nội chính -
chính phủ miền Nam lúc đó, giữa tổng thống Ngô Đình Diệm và Bình Xuyên,
mà cuối cùng Bình Xuyên bị thua, tan rã và Đại Thế Giới cũng bị khai tử
luôn. Những ngày đầu năm 1955 đã đánh dấu ngày tàn của Grand Monde, khi
chính quyền thời đó trước áp lực của đồng bào quần chúng, đã phải ngậm
ngùi ký sắc lệnh dẹp sòng bạc lớn nhất Đông Nam Á. Người Saigon thở phào
nhẹ nhõm mỗi khi đi ngang qua nơi vừa "Thiên Đàng" vừa "Địa Ngục" mà
không còn nhìn thấy mấy chữ Grand Monde - Đại Thế Giới.....
Những hoa hậu đầu tiên đất Sài Gòn xưa
Truyện bây giờ mới kể, về những những hoa hậu đầu tiên đất Sài Gòn – Gia Định xưa
1. Nguyễn Thị Liễu:
Không thể khẳng định được cuộc thi hoa hậu có từ lúc nào, bởi lẻ thời đó
chiến tranh loạn lạc, những cuộc thi tổ chức trong vũ trường là thường
xuyên. Nhưng lịch sữ ghi lại rằng cuộc thi hoa hậu đầu tiên đã diễn ra
tại vườn Ông Thượng tức vườn Tao Đàn hiện thuộc địa bàn quận 1, TP.HCM
vào năm 1937. Cuộc thi theo gọi theo tiếng Pháp là Concours
élégantSaigon (thi tuyển người lịch sự Sài gòn) được một nhóm công chức
và một số nhà kinh doanh lúc bấy giờ đang hoạt động ở Sài Gòn đứng ra tổ
chức.
Cuộc thi trên đất “Bến Nghé xưa”, phạm vi “tuyển sinh” đến các thành phố
và nông thôn xa Sài Gòn, đã có 19 cô gái là hoa khôi lục tỉnh nam kỳ
được bình chọn dự thi. Một trong những hạng mục thi là có phần thi trang
phục áo dài Việt Nam. (Được ghi chép lại là nhà may Phúc Thịnh thiết
kế). Có nghĩa là cuộc thi hoa hậu này từ người đẹp đến trang phục đều là
nội hóa “rất ViệtNam”. Kết quả, người đẹp được nhận danh hiệu hoa hậu
đầu tiên vào năm 1937 là cô gái 25 tuổi.
Nguyễn Thị Liễu sinh năm 1912, quê ở Hóc Môn. Nguyễn Thị Liễu lấy chồng
năm 17 tuổi nhưng chỉ được 6 tháng thì chồng cô vắn số qua đời, cô hoa
hậu bất đắc dĩ sống cuộc đời góa bụa. Đến nay vẫn chưa tìm thấy chân
dung của hoa hậu Nguyễn Thị Liễu.
2. Cô Ba Xà Bông:
Đứng tốp đầu trong danh sách những người đẹp vang bóng trên đất Sài Sài
thành vào cuối thế kỷ 19 phải kể đến đó là “cô Ba Xà Bông”
Hoa hậu Việt Nam – cô ba xà bông
Có tài liệu xưa cho rằng cuộc thi hoa
hậu đầu tiên tại Việt Nam 1965 mang tên Miss Sài Gòn. Kết quả là hoa hậu
là một người con gái đẹp không ai bì, đẹp tự nhiên, không răng giả,
không ngực keo su nhân tạo, tóc dài chấm gót, da trắng mướt và thơm phức
dầu dừa, đẹp không vì son phấn giả tạo đã vượt qua tổng số lượng thí
sinh tham dự là 100 người đẹp đến từ các tỉnh thành khác gần Sài Gòn,
không ai khác đó là cô ba – con gái ông Chánh – cô làm nghề thư ký.
Trước đây hãng xà bông Việt Nam do ông Trương Văn Bền là chủ. Đã dùng
hình cô Ba in trên nhãn xà bông với nhiều cỡ 250 gr, 500 gr, 1kg… vì
thời xưa người ta mua xà bông về và cắt từng khúc ra sử dụng và xài dần.
Sản phẩm xà bông Việt Nam mang hình cô Ba – nên người dân quen gọi cô
bằng tên “cô Ba xà bông” – xà bông cô Ba được phân phối rộng khắp lục
tỉnh được mọi người ưa chuộng và sử dụng nhiều hơn loại xà bông mang tên
Marseille của Pháp thời bấy giờ.
Chân dung cô ba trên cục xà bông
Tuy là người nổi tiếng nhưng cô Ba lại là người “rất Việt Nam” và
giản dị khi cô từ chối mọi lời đề nghị yêu đương và chụp hình áo tắm từ
các sĩ quan người Pháp mà lấy người chồng Việt Nam. Có lẻ vì nét rất
Việt Nam của cô Ba nên chân dung của cô Ba đã được chọn in trên xà bông
và in trên con tem của sở dây thép thời bấy giờ.
Chân dung cô ba trên tem của sở dây thép
Nét giản dị của cô lại khác xa với các hoa khôi cùng trang lứa như Tư
Nhị, Sáu Hương, Hai Thời… vốn là những người đẹp đã làm nghiêng ngả nhà
cửa ruộng vườn của nhiều tay hiếu sắc. Theo đó, các cô mỗi chiều ngồi
trên xe Delage để mui trần, có tài xế riêng, hoặc ngồi trên xe Hoa Kỳ
mới cáu cạnh để lượn đi lượn lại quanh các đường phố chính của Sài Gòn
từ chợ Bến Thành qua đường Bonard (đường Lê Lợi ngày nay) vòng qua
trường Chasseloup – Laubat (trường Lê Quý Đôn ngày nay), xuống khu Chợ
Lớn, khoe sắc trên đường nhựa “để lên Thủ Đức ăn nem hoặc đến tắm suối
Xuân Trường… Tối lại dưới bóng đèn, các cô như bướm tề tựu đủ mặt cạnh
sòng bài sòng me, hoặc năm ba người gầy mâm hút có đờn ca giúp vui, báo
hại các cậu con chủ điền muốn lên mặt với chị em đành phải trốn về bán
lúa vay bạc Chà, cố cầm sự nghiệp ông bà để lại” mà chạy theo cho kịp
nếp ăn chơi của các hoa khôi đương thời.
Lịch sử về cuộc đời cô và cái chết của cô được ghi chép thành 2 hướng:
1. Người đã dám cầm súng bắn chết tên
biện lý Jaboin, bị Tòa đại hình Mỹ Tho kết án ngày 19.6.1893 và bị xử tử
ngày 18.1.1894 tại Trà Vinh
2. Theo 1 nhà thơ ở Trà Vinh thì lại ghi chép rằng, chính cha của cô Ba
(Thầy Thông Chánh) đã bắn Biện lý Jaboin vào ngày Quốc khánh Pháp ngày
14 tháng 7 – Thực tế ngày bắn là 14 tháng 5 năm 1893. Theo nhà nghiên
cứu Trần Dũng giải thích nguyên nhân lùi ngày và mục dích là đổi ngày
14/5 thành ngày 14/7 ngay ngày quốc khánh của Pháp để tạo tiếng vang lớn
hơn. Còn cô Ba sau khi cha bị xử tử thì dùng súng trả thù cho cha…
nhưng chưa kịp bắn thì cô bị bắt giam. Sau đó, cô cũng bị xử tử chết.
3. Nguyễn Hữu Thị Lan:
Đất Sài Gòn xưa còn nhắc đến 1 người con gái tên Nguyễn Hữu Thị Lan xuất
thân từ nguồn gốc thế gia vọng tộc, cô là cháu ngoại của ông Lê Phát
Đạt tức Huyện Sỹ, người đứng đầu trong tứ đại danh gia: Nhất Sỹ, nhì
Phương, tam Xường, tứ Định… cô gái này cũng làm nhiều đại gia và sĩ quan
đảo điên vì sắc đẹp và tính tình thuỳ mỵ của cô.
Chân dung Nguyễn Hữu Thị Lan
Nguyễn Hữu Thị Lan (Marie Thérèse) sau
khi tốt nghiệp tú tài ở Pháp về nước, Cô Lan tình cờ quen biết với Vĩnh
Thụy khi Vĩnh Thụy đăng cơ trở thành vị vua cuối cùng của triều Nguyễn,
cô trở thành Nam Phương hoàng hậu vào ngày 20/3/1934, và cũng trở thành
biểu tượng nhan sắc của cả nước.
Nguyễn Hữu Thị Lan trở thành Nam Phương hoàng hậu
4. Cô Ba Trà:
Nhan sắc của cô ba Trà (Yvette Trà) cũng rất nổi tiếng toàn Nam Kỳ.
Những người quen biết và từng giao thiệp với Yvette Trà đều xem đó là
niềm vinh dự để chứng minh đẳng cấp, đủ để hiểu ngoài việc xinh đẹp cô
còn là một thương hiệu hiếm có, có lẽ do thông minh và hiểu tâm lý đàn
ông!
Sinh năm 1906, được mệnh danh là Étoile de Saigon – ngôi sao Sài gòn.
Với nhan sắc hiếm có cộng với trí thông minh của mình, cô lần lượt “đốn
ngã” hàng loạt những tay chơi hào hoa giàu có bậc nhất Sài Gòn như Hắc –
Bạch công tử, công tử Bích (người dám một lúc tặng cho cô 70.000 đồng
trong lúc vàng 60 đồng một lượng).
Những tay trí thức, máu mặt chốn quan trường thời Pháp thuộc cũng đổ gục
vì cô: Quan tòa Trần Văn Tỷ, trạng sư Dương Văn Giáo, bác sĩ Lê Quang
Trinh, Nguyễn Văn Áng, chủ sòng bạc Paul Ngọ tức Sáu Ngọ…
Cô ba Trần Ngọc Trà còn được mệnh danh bà hoàng vũ trường, sòng bài Sài
Gòn hồi cuối thế kỷ 19. Những bậc “máu mặt” đều biết rất rõ, cô Ba Trà
chỉ thích chia cho mỗi ngưòi một mảnh tình gặm chơi đỡ buồn, chứ đừng ai
mong lấy được Ngôi sao Sài Gòn làm của riêng hay làm người yêu vĩnh
viễn vì cô Ba đã lập gia đình vài ba lần và rồi tan vỡ.
Chân dung cô Ba Trà
Trái ngược với nhan sắc sinh đẹp là tuổi thơ của cô lại nhiều cay đắng
và tủi nhục: Cha của cô đem lòng nghi ngờ sự chung thủy của vợ (mẹ cô),
ông không thừa nhận Trà là con đẻ. Và cũng vì quá ghen tuông nên cha cô
đã qua đời vì thổ huyết. Người bác ruột của cô dựa vào cớ đó cũng đã sỉ
nhục, đánh đuổi mẹ con cô ra khỏi nhà.
Vì quá đau khổ, nhục nhã nên được bao nhiêu uất ức, mẹ cô đều trút lên
vai đứa con nhỏ dại. Những trận đòn roi vô cớ liên tục ập xuống đầu cô
nhiều đến nỗi, cô không còn thấy đau đớn. Chính điều này đã làm cho cô
Ba Trà sau này luôn nhìn đời bằng một con mắt lạnh lùng, vô cảm.
Tình duyên, hôn nhân của cô cũng rất lận đận. Cô bắt đầu kết hôn ở tuổi
14, và đã trải qua 4 cuộc hôn nhân lần lượt là: viên quan ba người Pháp,
con rai tỷ phú đất Phan Rang, bác sĩ Trần Ngọc Án, và cuối cùng là 1
triệu phú trẻ tuổi, nhưng tất cả đều tan vỡ. Kể từ đó, cô lao vào ăn
chơi, cặp kè hết người này đến người khác và dấn sâu vào con đường bài
bạc
Những canh bạc lớn đã đốt sạch gia sản của người đẹp. Khi còn trẻ, cô Ba
Trà được nhiều người săn đón bao nhiêu thì đến lúc già, cô lại cô độc
bấy nhiêu. Kể cả người tình nghĩa hiệp Lâm Kỳ Xuyên cũng ra đi không một
lần ngoái lại. Đến cuối đời, hoa khôi Trần Ngọc Trà lâm vào cảnh nợ
nần, túng bấn và phải đi làm công ở một cửa tiệm tồi tàn để sinh kế.
Cuộc đời của đóa hoa đẹp nhất Sài Gòn lúc bấy giờ đã khép lại bằng những
nốt trầm buồn bã.
5. Marianne nhị (tư nhị):
Bạn đời cô ba Trà chính là “Marianne Nhị” hay còn gọi là Tư Nhị, cô Tư
Nhị có nhan sắc đậm đà và hoang dã hơn YvetteTrà. Marianne Nhị là “đứa
con hai dòng máu”, cha gốc Khơ-me, mẹ Việt (quê Sa Đéc – Đồng Tháp), gia
đình sinh sống lâu năm ở Nam Vang – Campuchia.
Khi cô lớn lên, Tư Nhị về Sài Gòn với 2 bàn tay trắng. Để có chỗ nương
thân, Nhị lúc đầu xin làm em nuôi dưới trướng của chị Ba Phò và sống
trong nhà chị ấy ở khu vực chợ Thái Bình. Sau này, Tư Nhị được cô ba Trà
dìu dắt, từ đó, cô lao vào cuộc chơi với giới thượng lưu Sài Gòn và
nhanh chóng trở thành tình nhân của “Fanchini”, một trùm giang hồ chuyên
buôn thuốc phiện toàn cõi Đông Dương và phần thưởng của cô là được một
căn biệt thự khang trang ở đường Verdun (tức đường Cách Mạng Tháng Tám
bây giờ).
Với bản tính man dại Tư Nhị, bị ảnh hưởng của chị đỡ đầu của mình, Tư
Nhị lao vào các cuộc chơi như một con thiêu thân. Người tình của Tư Nhị
thay xoành xoạch và thú hút thuốc phiện đã nhanh chóng đẩy Tư Nhị vào bi
kịch.
Sau vài năm ngắn, trong lúc cô ba Trà vẫn còn là một bông hoa đầy hương
sắc, thì Tư Nhị bỗng dưng biến mất. Sau này một người quen kể lại, tình
cờ gặp Tư Nhị trong một quán ăn ở đường”George Guynemer” trong hình
dáng: môi thâm đen, đôi chân nõn nà quấn quanh mấy lớp vải dính máu mủ
với đám ruồi bu đen không ngớt, trông dơ dáy bẩn thỉu…
Ảnh
minh hoạ và chú thích của một tờ báo Mỹ ghi rằng: Sòng bạc Đại Thế Giới
là sòng bạc lớn nhất ở Đông Dương, mỗi năm thu về 9 triệu đô la tiền
thuế
Qua người bạn lớn tuổi giới thiệu, tôi gọi điện cho ông M. ở Dallas –
một người ở tuổi thất thập cổ lai hy để nghe vài câu chuyện về thời đỏ
đen của ông tại sòng bạc Ðại Thế Giới (Casino Grande Monde) nổi tiếng
nhất Sài Gòn cách nay hơn nửa thế kỷ. Sài Gòn thuở ấy còn có sòng bạc
Kim Chung ở khu vực chợ Cầu Ông Lãnh sau khi TT. Ngô Ðình Diệm ra lệnh
đóng cửa vào năm 1955 trở thành chợ Dân Sinh). Riêng miếng đất rộng gần
ba hécta thuộc sòng bạc Ðại Thế Giới thì nghe ông M. nói trở thành khu
tập võ và múa lân của các đội võ thuật Chợ Lớn, cho đến sau năm 1975
không biết miếng đất đó được trưng dụng cho công trình gì rồi trở thành
Trung tâm Văn hoá Q.5.
Ông M. kể thời đó đâu phải Sài Gòn chỉ có hai sòng bạc Ðại Thế Giới
và Kim Chung, mà còn một sòng bạc không tên nằm ở khu vực chợ Bình Tây
ngày nay chuyên mở các sòng tài-xỉu thu hút hầu hết người Hoa Chợ Lớn.
Ông nhớ hồi thời tướng Bảy Viễn – khi ấy làm Ðô trưởng cảnh sát Sài Gòn
và được vua Bảo Ðại bổ nhiệm làm Tổng trấn Sài Gòn – Gia Ðịnh nắm quyền
điều hành sòng bạc Ðại Thế Giới vào năm 1952 – thì sòng bạc này lúc nào
cũng tấp nập người đến tìm vận may. So với sòng bạc Kim Chung đa phần
khách đánh bạc là dân đen, phu phen thợ thuyền chợ búa, thì Ðại Thế Giới
sang trọng hơn bội phần, đủ mọi hạng khách, nhiều nhất là công chức, sĩ
quan và các tay nhà giàu trong nước và cả triệu phú châu Á vẫn thường
ghé qua Sài Gòn làm ăn tìm thời vận qua gái gú bài bạc. Hàng ngàn bóng
đèn màu sáng choang từ trong ra tới ngoài dọc theo đường Trần Hưng Ðạo.
Các tiệm ăn, vũ trường nhờ đó được ăn theo, phát triển, kẻ tới người đi
như một khu vui chơi hào nhoáng thực thụ. Chợ Dân Sinh ở khu vực cầu Ông Lãnh hồi xưa là sòng bài Kim Chung – Ảnh: Internet
Khách đánh bạc tới đây, có người lắm của bạc tiền làm ăn lớn ở Sài
Gòn và điền chủ các tỉnh, không hiếm hoa khôi mệnh phụ phu nhân cũng tìm
tới. Những giai thoại đầy trên sách báo về các hoa khôi đam mê cờ bạc
được nhiều người nhắc đến như cô Ba Trà về sau chết không chỗ chôn thân,
hay người đẹp Hà Thị Tám may mắn trở thành vợ của Bảy Viễn; sau khi ông
Diệm cắt quyền kinh doanh các sòng bạc ở Sài Gòn, dẹp tan Bình Xuyên,
Bảy Viễn thoát thân mang gia đình lưu vong sang Pháp.
Việc dọn dẹp các sòng bài của ông Diệm, nhất là khu Ðại Thế Giới –
một ổ kinh doanh sòng bạc, phòng hút thuốc phiện và mãi dâm làm dân
chúng thời đó vui mừng vì thân nhân, vợ chồng, con cái của họ không còn
cơ hội bước chân đến địa ngục trần gian nộp tiền cho chủ, vướng vào cảnh
nợ nần cầm cố nhà cửa, có người thắt cổ tự vận, có người nhảy cầu Bình
Lợi chấm dứt cuộc đời, đầu thai làm con ma đỏ đen. Việc triệt tiêu các
sòng bài cũng là một mũi tên bắn trúng hai đích: dứt bỏ “loạn quân” với
mục tiêu chính trị và quét sạch ổ tệ nạn xã hội đem bình yên cho dân
chúng làm ăn. Nhưng dẹp các sòng bạc công khai thì những con ma mê đánh
bạc lại tụ tập những ổ đánh bạc chui được tổ chức khắp nơi ở Sài Gòn.
Lần theo chuyện xưa tích cũ trong “Bến Nghé xưa” của nhà văn Nam Sơn,
ngay từ lúc chiếm Gia Ðịnh, người Pháp đã cho phép người Hoa Chợ Lớn
thầu sòng bạc để thu ngân sách và làm cho dân chúng lãng quên chính trị.
“Nghị định ngày 26/7/1861 cho phép công khai các sòng bạc ở Chợ Lớn.
Ðại khái, có nội quy, thí dụ cấm cờ bạc ngoài đường sá, cấm đàn bà trẻ
con vào sòng, có nhân viên cảnh sát kiểm soát trật tự, định giờ mở cửa
và đóng cửa nhưng chỉ là hình thức. Cuối năm 1861, lại cho phép mở rộng
sòng bạc đến Sài Gòn, rồi năm sau cho phép ở các tỉnh miền Ðông. Ði đôi
với sòng bạc, cho phép mở ổ mãi dâm”. Chính quyền Pháp cho công khai cờ
bạc nhằm thu thuế, còn hơn để con bạc chơi lén lút, tệ nạn tràn lan mà
ngân khố không có thêm đồng nào.
Tác giả Thượng Hồng viết trong bài “Trùm tài phiệt đỏ đen Sáu Ngọ”
rằng: Sau thập niên 20 của thế kỷ trước, cuộc sống người dân còn nghèo
nên thú vui là trò đỏ đen. Ðánh bạc mong đổi đời, lại vừa thoả tính
ngông cuồng như những tay hảo hán Tư Mắt, Sáu Ngọ trước đó và đương thời
của các ông trùm sòng bạc chui ở Chợ Lớn – Sài Gòn. Bấy giờ thầy Sáu
Ngọ nổi danh như cồn, người ta thường có câu cửa miệng: “Cờ bạc mà được
như Sáu Ngọ thì hãy nên cờ bạc!” Nhờ làm trùm cờ bạc mà Sáu Ngọ trở
thành tỷ phú của đất Sài Gòn. Và Sáu Ngọ đương nhiên trở thành cái gai
trong con mắt của chính quyền, gần như ông trở thành kẻ đối đầu, thách
thức, trong khi nhà nước đang bảo hộ các sòng bạc hợp pháp công khai. Bảy
Viễn một thời từng làm chủ sòng bạc Đại Thế Giới trước khi TT Diệm ra
sắc lệnh đình chỉ hoạt động ngành cờ bạc tại Sài Gòn năm 1955 Ảnh: LIFE
Những sòng bạc do nhà nước dựng lên có quy mô nhỏ do đó thuế thu vào
cũng rất cò con. Trong cuốn “Giai thoại về các tỷ phú Sài Gòn xưa”, tác
giả Thượng Hồng ghi tiếp: “Vào năm 1937, khi Sài Gòn thành lập hai sòng
bạc Ðại Thế Giới và Kim Chung thì Lâm Giống, người Hồng Kông, có cổ phần
tại hai sòng bạc lớn ở Macau đã có mặt. Giai thoại về ông này được thêu
dệt một cách tình tiết. Từ một người nghèo đánh giày, chạy bàn quán ăn,
rồi trở thành trùm cờ bạc y như phim “Thần bài” của Hồng Kông, trở nên
giàu có. Nghe nói ông ta đấu thầu được quyền khai thác sòng bạc Ðại Thế
Giới với giá 10 triệu đồng (nên nhớ vào những năm đó, giá một lượng vàng
chỉ trên dưới 100 đồng) và chịu đóng thuế 200 ngàn đồng mỗi ngày cho
công quỹ. Ngay từ lúc mở cửa, khách đánh bạc tới Ðại Thế Giới nườm nượp.
Theo một tài liệu khác ở các báo chí thời đó, tiền đóng vào công quỹ
tăng lên, 300 ngàn rồi 500 ngàn đồng một ngày. Ngành kinh doanh cờ bạc
trở thành miếng đất béo bở cho các tay trùm giang hồ mafia dòm ngó cho dù chiến tranh thế giới lần 2 đang diễn ra, người Nhật vào Việt Nam.
“Trong suốt thời kỳ chiến tranh Thế giới thứ 2, khi khắp nơi điêu
đứng vì chiến tranh, kinh tế suy sụp thì ở Sài Gòn – Chợ Lớn, hai sòng
bạc Ðại Thế Giới và Kim Chung vẫn bình yên mở cửa ngày đêm… Khi Thế
chiến chấm dứt, cũng là lúc Lâm Giống ngự trên đỉnh cao giàu sang. Cho
đến đầu thập niên 50, một ‘khắc tinh’ của Lâm Giống đã loại y ra khỏi
cuộc chơi” (Trích “Làm giàu từ Ðại Thế Giới – Thượng Hồng).
Người đó là Bảy Viễn, ông giành lấy quyền thầu Ðại Thế Giới bằng cách
chơi súng đạn. Một trái phá được ném vào Ðại Thế Giới giữa lúc đông
người sát phạt đỏ đen, làm thương vong hàng chục người. Lâm Giống đành
trao quyền lực lại cho Bảy Viễn khi ấy còn là đầu đảng thảo khấu Bình
Xuyên, “Tư lệnh” lực lượng võ trang Bình Xuyên, chủ sòng bài Ðại Thế
Giới kiêm… tỷ phú! Sau này khi làm Ðô trưởng Sài Gòn, sòng bạc Ðại Thế
Giới tổ chức thêm loại hình giải trí cho thêm hoành tráng.
Tôi cứ nghĩ casino ngày xưa đẹp lộng lẫy, có khách sạn, hý
trường sân khấu như các casino ngày nay, nhưng ông M. nói, chẳng có gì
ngoài khu chơi trò xe điện có cảnh sát đứng xét giấy tờ tùy thân. Loại
trò chơi này dành cho con nít, nhưng người Sài Gòn thấy lạ lắm. Ðèn màu
trên xe kêu chíp chíp, chạy qua chạy lại, xe này đụng xe kia rầm rầm.
Lúc vào, ai nấy hớn hở, sau một hồi ghé mấy sòng tài xỉu, khi trở ra ai
cũng lặng thinh với cái mặt đưa đám. Sòng bạc tại Ma Cao trong thế kỷ trước
Ông M. kể tiếp chuyện của mình: “Sở dĩ tuần nào tôi cũng lui tới Ðại
Thế Giới trong nhiều năm là do cha tôi có tiệm buôn lụa vải rất lớn ở
Sài Gòn, chỉ cần hỏi tiền là ổng đưa. Tôi ham đến đó, một mặt vì không
biết trò gì tiêu khiển cuối tuần, nhậu nhẹt cũng không, dù thanh niên
Sài Gòn hồi xưa cũng nhậu như điên chẳng khác gì ngày nay. Hút xách cũng
không, trong khi khắp nơi đầy các tiệm hút thuốc phiện cám dỗ, chỉ cà
phê thuốc lá, chơi bài bạc chút ít cũng không đến nỗi. Vậy mà bước vào
thế giới này rồi, hình như con ma bài nó nhập, thua riết cháy túi, cha
tôi giận quá ra lệnh nếu tôi không bỏ bài bạc, ổng đăng báo từ tôi.
“Trong Ðại Thế Giới có roulette, hốt me (có người gọi đánh me), tài
xỉu. Không thấy có bài lá bài cào, xì dách hay xì phé. Có cả ghi đánh số
đề xổ tận Hồng Kông nhưng ít người chơi. Thời gian sau này không còn
các sòng bài thì người chơi bạc hào hứng với số đề. Hốt me là người ta
dùng hột me mà hốt với cái chén sau đó giở ra, phân thành từng nhóm bốn
hạt. Số hạt còn lại tương ứng với các cửa đặt cược: yêu (1), lượng (2),
tam (3), cúc (4). Còn Tài xỉu là chơi 3 hột xí ngầu với tổng số điểm lớn
– nhỏ. Xỉu từ 4 đến 10. Tài từ 11 đến 17, ngoài ra còn có Bảo: tức là
ra ba con giống nhau và vài luật khác, nói ra dông dài. Ba hột xí ngầu
được lắc trong cái ống gỗ sơn mài màu đen úp lên cái dĩa gỗ phẳng mặt.
Con xẩm hồ lì nào cũng xinh đẹp, mặc xường xám xẻ hông, trên ngực áo bên
trái đính chiếc khăn voan (không biết làm dáng hay lau mồ hôi tay), cầm
ống lắc đưa tay lên cao lắc lắc, miệng kêu dẻo quẹo: ‘Hối… chỏ’ (chuẩn
bị mở, rồi lại tiếp tục kêu: ‘Hối tắc…. la’ (khui), con bạc nào thua, cô
nàng quơ cây que cào gom đống tiền mặt, ai trúng cứ thế mà chung, lại
tiếp tục ván khác.
“Có lần tôi đặt xỉu thua đến sáu lần liên tiếp, mà con xẩm lắc cứ ra
tài. Theo kinh nghiệm, ít ai thua liên tiếp từ ván thứ bảy trở đi, tôi
quyết định dồn hết tiền vào cửa xỉu. Tim tôi đập mạnh hơn, con xẩm lắc
hộp xí ngầu đặt xuống bàn hô mấy tiếng ‘hối… tắc… la’ mà lòng tôi đau
điếng: ‘lại tài’. Lúc đó đầu tôi choáng váng muốn ngã xuống xỉu luôn.
Sau lần đó, nếu không nhờ cha tôi ra biện pháp mạnh, chắc tôi đã trở
thành con ma bài chết không mồ chôn rồi chứ đâu có cửa sau này tôi lấy
vợ, tiếp nhận công việc buôn bán của cha tôi. Thế nhưng sau 1975, tôi
không đánh bạc mà thua bại sản, gia đình tôi bị đánh tư sản, lần này
thua trắng mới đau.”
MIỀN TÂY HOANG DẠI Ước gì một lần về thuở ấy miến Tây Sống lầy lội những tháng ngày hoang dại Súng cặp kè hông, nhong nhong lưng ngựa Phóng khoáng thảo nguyên, đạn nổ ì đùng Ta sẽ về, rủ em gái theo cùng Đem tình yêu vào vòng đấu súng Và ngã xuống trong một lần anh dũng Để mai này định nghĩa lại...thằng khùng! Đã khùng rồi thì xá chi anh hùng Của một thời tìm vàng sôi động Người người xô bồ tìm giàu sang cuộc sống Để lại điêu tàn, bắn giết mênh mông! Ta ước thế nghe có rùng rợn không? Trần Hạnh Thu NHẠC HUYỀN THOẠI CAO BỒI VIỄN TÂY
(ĐC sưu tầm trên NET) Bản tin 113 online cập nhật ngày 2/5: Truy tố 254 bị can bị trong đại án sai phạm lĩnh vực đăng kiểm 🔴 TRỰC TIẾP: Thời sự quốc tế 3/5 | Nga tuyên bố khai hỏa Iskander, hủy diệt hai pháo HIMARS Ukraine Tin tức thời sự mới nhất hôm nay | Bản tin sáng ngày 5-3-2024 MỘT CÕI ĐI VỀ (Sáng Tác: Trịnh Công Sơn) - KHÁNH LY OFFICIAL Miễn nhiệm chức vụ Chủ tịch Quốc hội đối với ông Vương Đình Huệ 9 giờ trước Khoảnh khắc tên lửa Nga công kích pháo HIMARS Ukraine 12 giờ trước Mong muốn Campuchia chia sẻ thông tin về Dự án kênh đào Funan Techo 10 giờ trước Gần 50 người chết trong vụ sập đường cao tốc ở Trung Quốc 10 giờ trước Lý do xuất khẩu của Trung Quốc sang Nga bất ngờ sụt giảm 8 giờ trước Ukraine nói Nga sản xuất tên lửa Zircon 'nhanh bất thường' 6 giờ trước Hàng chục nghìn người Gruzia tiến hành biểu tình lớn nhất từ trước tới nay 16 giờ trước Video 'rừng người' xem phương tiện chiến đấu bị Nga tịch thu ở chiến trường Ukraine 16 giờ trước U23 In...
I Only Want to Be with You - Dusty Springfield (Cover by Emily Linge) VẪN THẾ MÀ! Anh vẫn thế, trước sau vẫn thế mà Nhìn anh này, đừng nhìn phía trời xa Vẫn ngày ngày ra ngóng chờ trước của Đợi Nàng Thơ về tác hợp thi ca Tâm hồn anh có cửa đâu mà khóa Mà phải cùng em mở cánh cửa tâm hồn Anh tìm mãi nào thấy đâu ô cửa Toang hoác tứ bề, thông thống càn khôn* Còn trái tim anh vẫn êm đềm, yên ả Vẫn yêu quê hương, tổ quốc, con người Miền nhiệt đới khi thấy tim băng giá Chắc chắn là anh đã ngoẻo tự lâu rồi! Trần Hạnh Thu CT: * Trời đất
Nhận xét
Đăng nhận xét