Operation Junction City – Chiến dịch đổ bộ đường không lớn nhất sau thế chiến thứ 2 của Mỹ
Chiến dịch Junction City – Operation Junction City là một chiến
dịch quân sự kéo dài 82 ngày do các lực lượng Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng
hòa (RVN) tiến hành vào ngày 22/2/1967 trong Chiến tranh Việt Nam.
Đây là hoạt động quân sự đường không lớn nhất của Hoa Kỳ kể từ Chiến
dịch Varsity tháng 3 năm 1945, hoạt động không quân lớn duy nhất của
Chiến tranh Việt Nam, và là một trong những chiến dịch lớn nhất của Mỹ
trong chiến tranh Việt Nam.
Cuộc hành quân được đặt tên theo thành phố Junction, Kansas, quê nhà của chỉ huy chiến dịch.
Mục đích của chiến dịch là xóa sổ các căn cứ đầu não của lực lượng
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (GPMNVN) ở Chiến khu C.
Theo một số tài liệu của các nhà phân tích Mỹ tại thời điểm đó, khu vực
này như trụ sở chính, tương đương “Lầu năm góc” thu nhỏ với đầy đủ công
cụ như máy đánh chữ, tủ tài liệu, nhân viên cấp cao. Thật
ra, sau khi chiến tranh kết thúc, tài liệu công bố cho thấy đây chỉ là
một nhóm nhỏ và di động, thường trú ẩn tại các cơ sở đại phương, tại một
thời điểm không dài, không phải một cơ quan đầu não cố định.
Chiến thuật của chiến dịch là “búa và đe”, khi các lực lượng không
quân “tràn qua” trụ sở của quân GPMNVN, họ phải rút ra và rơi vào “cái
đe” của các lực lượng bố trí sẵn.
Tổng số lực lượng dành cho chiến dịch này bao gồm hầu hết Sư đoàn Bộ
binh số 1 và số 25, các lữ đoàn không quân của Lữ đoàn Dù 173 và xe
thiết giáp của Trung Đoàn thiết giáp số 11. Lính dù đổ bộ
Chiến dịch bắt đầu vào ngày 22/2/1967 với sự tham gia của hai sư đoàn
bộ binh, chỉ huy bởi Thiếu tướng William E. DePuy (sư số 1) và Thiếu
Tướng Frederick C. Weyand (sư số 25). Cùng lúc đó, 8 tiểu đoàn với 249
máy bay trực thăng và 3 phi đoàn C-130 vận tải đã đưa 845 lính nhảy dù
vào trận.
Đây là lần đổ bộ lính dù duy nhất trong Chiến tranh Việt Nam và lớn nhất kể từ Chiến dịch Tomahawk trong chiến tranh Triều Tiên.
Ban đầu, các hoạt động quân sự đã thành công khi tiến đến các vị trị
đã định mà không gặp trở ngại lớn nào, lực lượng GPMNVN dường như không
có cơ hội trốn thoát.
Trên thực tế, các lực lượng GPMNVN, có tính di động cao và nhỏ lẻ đã
di dời trụ sở chính sang Campuchia và đưa ra nhiều cuộc tấn công nhằm
gây thiệt hại cho người Mỹ.
Vào ngày 28/2 và ngày 10/3, xuất hiện hai cuộc đụng độ khốc liệt với
lực lượng Hoa Kỳ: trận Prek Klok I và trận Prek Klok II, nơi mà Hoa Kỳ
được hỗ trợ bởi các cuộc không kích mạnh mẽ và hỗ trợ lớn của pháo binh
lớn đã đẩy lùi các cuộc tấn công của Việt Cộng nhưng kết quả chiến lược
tổng thể đã gây thất vọng. Xe cơ giới M113 chở lính Mỹ
Ngày 18/3/1967, Tướng Bruce Palmer, Jr. thay thế tướng Seaman, bắt đầu giai đoạn 2 của chiến dịch.
Mục tiêu lần này là phía đông và được thực hiện bởi các đơn vị cơ giới ,
Sư đoàn Bộ binh số 1 và trung đoàn thiết giáp số 11, tăng cường thêm Lữ
đoàn 1 Sư Đoàn 9 Bộ Binh.
Giai đoạn khốc liệt nhất của chiến dịch bắt đầu với trận Bàu Bàng
ngày 19/3, khi Trung Đoàn 273 đã gây tổn thất cho Trung đoàn Thiết giáp
Hoa Kỳ, mặc dù cuối cùng đã buộc phải rút lui bởi một hỏa lực vượt trội.
Ngày 21/3 và 1/4, lực lượng GPMNVN mở 2 cuộc tấn công lớn vào Sư Đoàn
1 và Sư Đoàn 25, và hai vụ tấn công đều bị đẩy lùi, sư đoàn 9 của
GPMNVN suy yếu và phải rút lui an toàn về các khu vực giáp biên giới với
Campuchia.
Ngày 16/4, Bộ Tư Lệnh vùng 2 của Hoa Kỳ đã đồng ý với VNCH quyết định
tiếp tục giai đoạn thứ ba của Chiến dịch Junction City. Đến ngày 14/5,
một số đơn vị thuộc Sư Đoàn 25 Bộ Binh, đã tiến hành các cuộc truy kích
vào các ngôi làng, các khu vực tình nghi và thu được một lượng lớn vũ
khí nhưng không thấy các đơn vị GPMNVN. Kết quả chiến dịch
Lực lượng GPMNVN bị thiệt hại đáng kể, trong đó có một lượng lớn đồ
dùng bị thu hồi: 810 tấn gạo, 600 tấn vũ khí nhỏ, 500.000 trang tài
liệu.
Theo tính toán của Bộ Tư lệnh Hoa Kỳ, Sư Đoàn 9 của quân GPMNVN bị
suy yếu nghiêm trọng với khoảng 2.728 người thiệt mạng, 34 người bị bắt
và 139 người đào ngũ, 100 vũ khí tự tạo và 491 vũ khí cá nhân đã bị bắt. Lính dù Mỹ
Theo Đại tướng William Westmoreland, trong chiến dịch này, con số
thiệt hại của Mỹ là 282 lính chết và khoảng 1.560 bị thương (cùng với
vài trăm thương vong của VNCH); 107 thiết vận xa, 57 xe tăng, 28 xe vận
tải và 11 khẩu đại bác bị phá hủy hoặc hư hại.
Phía mặt trận GPMNVN tuyên bố trong trận này họ đã loại khỏi vòng
chiến 11.000 quân của Mỹ và Việt Nam Cộng hòa, đã phá hủy hoặc gây hư
hại 900 xe quân sự, phá hủy 119 súng đại bác hoặc súng cối của liên quân
Mỹ – Việt Nam Cộng hòa.
Tuy vậy, trụ sở di động với một số lãnh đạo chủ chốt như Tướng Thanh,
Trần Văn Trân, tướng Đỗ, đã nhanh chóng rút lui về Campuchia, tiếp tục
hoạt động và gây tổn thất cho các nhà hoạch định chiến lược Hoa Kỳ.
Với lượng khổng lồ các nguồn lực và trang thiết bị đã sử dụng, bao
gồm 366.000 quả pháo và 3.235 tấn bom, lực lượng Mỹ đã gây ra thiệt hại
cho lực lượng GPMNVN và chứng minh được khả năng của lực lượng không
quân và lực lượng cơ giới hóa của họ.
Mặc dù các kết quả chiến thuật, chiến dịch Junction City đã thất bại
về mặt chiến lược khi bỏ lỡ các mục tiêu quan trọng nhất cũng như thất
bại trong việc tạo ra đòn bẩy chiến lược dài hạn.
MUSIC OF THE VIETNAM WAR
Chiến dịch lớn nhất của Mỹ ở Việt Nam thất bại thảm hại thế nào?
Cập nhật lúc: 19:05 25/02/2018
(Kiến Thức) - Huy động 45.000 quân
cùng hàng trăm xe tăng, máy bay chiến đấu hiện đại, Junction City là
chiến dịch hành quân lớn nhất của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam với mục
tiêu "quét sạch" lực lượng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam
ở Chiến khu C.
50 năm trước (1967), đánh bại cuộc hành quân quy mô lớn Junction City của quân Mỹ
Thứ tư, 01 Tháng 3 2017 08:56
Đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam, đến cuối năm 1964 thì lâm vào
tình trạng bi đát. Phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam dâng cao;
ngụy quyền rệu rã; ngụy quân suy sụp nghiêm trọng. Với bản chất cực kỳ
hiếu chiến, các nhà cầm quyền Mỹ quyết định tiến hành chiến lược “chiến
tranh cục bộ” nhằm làm thay đổi cục diện chiến trường, cứu nguy cho tay
sai. Từ đầu năm 1965, quân viễn chinh Mỹ ồ ạt đổ vào miền Nam, kèm theo
khối lượng khổng lồ trang bị vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại
nhất lúc đó.
Lính Mỹ trong Chiến dịch Junction City - Ảnh: BETTMANN
Tư lệnh quân đội Mỹ ở Đông Dương, Đại tướng Westmoreland, vạch ra một
kế hoạch đầy cuồng vọng, kế hoạch hai gọng kìm “tìm diệt” và “bình
định”, dự định giành thắng lợi hoàn toàn trong vòng 24 đến 30 tháng sau
khi nghiền nát lực lượng cách mạng ở miền Nam và kéo miền Bắc nước ta
trở lại thời kỳ đồ đá(!). Nhà Trắng và lầu năm góc tin tưởng, tích cực
xúc tiến việc tăng quân ở miền Nam và tăng cường ném bom phá hoại miền
Bắc theo yêu cầu của Westmoreland.
Câu hỏi lớn đặt ra cho Đảng và nhân dân ta là: “Việt Nam có đánh được
Mỹ không?” nhanh chóng được trả lời. Núi Thành (5/1965), Vạn Tường
(8/1965), Pleime (10/1965) là những đòn phủ đầu đích đáng giáng xuống
đầu quân Mỹ.
Mùa khô 1965-1966, quân Mỹ mở cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất
đánh ra 5 hướng ở miền Đông Nam Bộ và Khu 5. Chiến dịch “Năm mũi tên”
này thất bại, địch không đạt được bất cứ mục tiêu nào đã đề ra. Với ta,
đây là hiệp đầu thắng chiến lược “chiến tranh cục bộ”, một thắng lợi có ý
nghĩa chiến lược quan trọng.
Sang mùa khô 1966-1967, quân Mỹ tiếp tục mở cuộc phản công chiến lược
lần thứ hai. Lần này chúng không phân tán lực lượng đánh trên nhiều
hướng mà tập trung đánh vào miền Đông Nam Bộ, ưu tiên tiến công hệ thống
căn cứ của ta.
Sau nhiều cuộc hành quân, đáng kể có Attenbore (9/1966), Brimerton
(10/1966), Cedar Fall (1/1967), đều bị ta đánh tan, đến cuộc hành quân
Junction City, đỉnh cao của chiến lược “chiến tranh cục bộ” và gọng kìm
“tìm diệt” của quân Mỹ. Địch chọn trọng điểm là chiến khu Dương Minh
Châu thuộc địa bàn Bắc Tây Ninh, nhằm diệt cơ quan đầu não và phần lớn
quân chủ lực của ta đứng chân tại đây.
Lực lượng hành quân gồm lữ đoàn bộ binh Mỹ của Sư đoàn số 1 Anh cả đỏ,
Sư đoàn số 25 Tia chớp nhiệt đới, Sư đoàn số 4, Sư đoàn số 9, tổng cộng
hơn 45.000 tên. Vũ khí và phương tiện chiến tranh gồm 1.200 xe tăng và
xe bọc thép, 256 khẩu pháo các cỡ trong đó có cả “vua chiến trường” 175
ly. Không lực sử dụng hầu như không hạn chế: khoảng 200 máy bay chiến
đấu, 300 máy bay lên thẳng và nhiều máy bay trinh sát, vận tải. Máy bay
B.52 chi viện trước và trong chiến đấu. Cả lực lượng hùng hậu này chỉ
nhằm tiến công một mục tiêu khoảng 1.500 km2.
Đây là một nỗ lực tối đa của quân Mỹ, giao cho tướng Johnathan Siman
chỉ huy, nhằm những mục tiêu đầy cuồng vọng và mang tính chủ quan cố
hữu. Đó là tiêu diệt cơ quan đầu não lãnh đạo kháng chiến và quân chủ
lực ta; chiếm đóng lâu dài căn cứ của ta; triệt phá toàn bộ hệ thống kho
tàng của ta cùng với việc bịt chặt biên giới Campuchia… Những mục tiêu
này mang cả tính chiến dịch và chiến lược, vì thắng lợi thuộc về phía Mỹ
thì Mỹ sẽ có quyền quyết định chiều hướng phát triển của chiến tranh,
dễ dàng giành thắng lợi hoàn toàn.
Lực lượng ta tham gia đánh trả cuộc hành quân Junction City chỉ có Sư
đoàn 9 và Trung đoàn 16, quân số chưa đến 10.000 người, trang bị vũ khí
bộ binh thông thường, cơ động bằng đôi chân dép lốp. Rõ ràng đây là một
thử thách lớn đối với ta.
Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ chỉ huy Miền nhận định: Ta kiên quyết
đánh bại cuộc hành quân này của địch, vì lấy ít địch nhiều, lấy yếu
thắng mạnh đã từng phổ biến trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc
ta. Ta phải tạo được một thế trận chiến tranh nhân dân trong toàn vùng
căn cứ, lấy con người trí tuệ, dũng cảm và quyết tâm cao làm trung tâm,
làm cơ sở cho một nghệ thuật quân sự ưu việt hơn địch. Từ đó căn cứ được
tổ chức thành 13 “huyện” với một đại đội chiến đấu mà thành viên là
nhân dân tại chỗ và cán bộ, nhân viên các cơ quan. Mỗi “huyện” lại chia
làm nhiều “xã”, có nhiều tổ du kích. Tất cả cộng lại khoảng 10.000 tay
súng, được trang bị mạnh, từ súng chống tăng, súng cối, trung liên, tiểu
liên… đến súng trường, lựu đạn, mìn định hướng… Thế trận chiến tranh
nhân dân với ba thứ quân như vậy được xây dựng khá vững chắc.
Sáng sớm 22/2/1967, cuộc hành quân Junction City bắt đầu. Trước đó, máy
bay B.52 đã ném bom xuống nhiều nơi để dọn bãi cho bộ binh nhảy dù.
Tướng chỉ huy cuộc hành quân J.Siman cho đổ quân tiến công ồ ạt ngay từ
đầu, không sử dụng lực lượng nhỏ giọt. Chiến trận đã diễn ra ở nhiều
nơi: Cà Tum, Tà Đạt, Khe Đôn, Bàu Cỏ, Đồng Pan…, nhưng sau đây chỉ xin
nói một số điểm chung nhất về diễn biến và kết quả.
Xe tăng “bầy” của quân Mỹ chở binh lính chia thành nhiễu mũi thọc sâu
vào rừng, băm nát từng khu vực nhỏ, nhưng không tìm thấy cơ quan đầu não
và chủ lực ta. Trái lại, ở bất cứ nơi đâu chúng cũng bị đánh bởi những
“đối thủ vô hình”. Lính nhảy dù dính đạn chết treo trên cành cây. Máy
bay bị súng trung liên, súng trường bắn rơi. Xe tăng trúng mìn đứt xích.
Và kỳ lạ là Đài phát thanh Giải phóng vẫn hoạt động đều đều, dẫu chúng
dự định “bắt câm” ngay từ đầu. Bám trụ, săn cơ giới, săn máy bay trở
thành phong trào thi đua sôi nổi của du kích. Trong trận đánh xuất sắc
ngày 3/3/1967, chỉ 19 tay súng du kích đã đẩy lùi 8 đợt xung phong của
địch, diệt 1 đại đội Mỹ và đánh thiệt hại nặng 1 đại đội khác. Ngày
13/3/1967, giai đoạn đầu của cuộc hành quân kết thúc với kết quả thảm
hại: 5.859 tên, đa số là Mỹ bị loại khỏi vòng chiến đấu, 33 khẩu pháo và
497 xe quân sự bị phá hủy, 90 máy bay các loại bị bắn rơi. “Tướng quân”
J.Siman bị cách chức tại trận và triệu hồi về Mỹ.
Từ ngày 15/3/1967, Bộ chỉ huy quân đội Mỹ ở Sài Gòn ra lệnh triển khai
tiếp giai đoạn hai của cuộc hành quân Junction City. Quân Mỹ thay đổi
thủ đoạn là bao vây rộng, thọc sâu, tiến chắc, không quân oanh tạc dữ
đội. Nhưng chúng không sao làm thay đổi được tình hình. Thế trận chiến
tranh nhân dân của ta khiến chúng đi đến đâu cũng bị đánh đau, quân ta
thoắt ẩn thoắt hiện và ở thế chủ động hoàn toàn. Bộ đội địa phương và du
kích ta tiếp tục bám địch, đánh tiêu hao, tiêu diệt nhỏ. Còn quả đấm
chủ lực tập trung đánh một số trận tương đối lớn. Như trận Bàu Bàng ngày
18/3/1967, Trung đoàn 3/ Sư đoàn 9 tập kích diệt 400 Mỹ, phá hủy 92 xe
tăng và xe thiết giáp, 9 khẩu pháo. Đêm 20 rạng ngày 21/3/1967, Trung
đoàn 2/ Sư đoàn 9 và Trung đoàn 16 của ta đánh một trận quyết chiến trên
khu vực Đồng Rùm khi địch vừa cụm lại. Kết quả ta đánh thiệt hại nặng
một tiểu đoàn pháo 18 khẩu, ba chi đoàn xe thiết giáp 72 chiếc, bắn rơi
10 máy bay, diệt 1.220 tên Mỹ. Đêm 31/3/1967, Trung đoàn 1/ Sư đoàn 9 và
Tiểu đoàn 7/ Trung đoàn 16 tập kích địch cụm ở Ba Vùng và pháo kích
địch cụm ở sóc Con Trăn, diệt 800 tên Mỹ, bắn rơi 13 máy bay.
Thương vong, đau ốm, mệt mỏi, hoang mang…, sức chiến đấu của quân Mỹ
giảm sút nghiêm trọng. Ngày 15/5/1967, Wesmoreland ra lệnh chấm dứt cuộc
hành quân. Tổng cộng cả 2 giai đoạn, ta loại khỏi vòng chiến đấu 14.233
tên, chủ yếu là Mỹ, phá hủy và phá hỏng 775 xe tăng và xe thiết giáp,
217 xe quân sự, 112 khẩu pháo từ 105 ly trở lên, bắn rơi và bắn hỏng 160
máy bay chiến đấu và lên thẳng. Cùng với sự thiệt hại lớn về binh lực
vừa nêu, quân Mỹ còn chuốc lấy một thất bại quan trọng hơn, đó là sự bế
tắc về chiến thuật và chiến lược. Giới cầm quyền cũng rất lúng túng, bế
tắc. Còn ta, ta khẳng định khả năng ta giành thắng lợi về quân sự là tất
yếu. Ta đã tạo được thế và lực để đưa cuộc đấu tranh cách mạng ở miền
Nam tiến lên mạnh mẽ làm phá sản hoàn toàn chiến lược “chiến tranh cục
bộ” của Mỹ không lâu sau đó. Sau chiến thắng đánh bại cuộc hành quân quy mô lớn Junction City của
quân Mỹ, Tư lệnh Quân Giải Phóng miền Nam Trần Văn Trà dẫn lại hai câu
thơ của Bác Hồ “Lạc nước hai xe đành bỏ phí/ Gặp thời một tốt cũng thành công”,
và nói: “Xe của Mỹ lạc nước nên không có tác dụng, mà tốt của quân Giải
Phóng gặp thời rõ ràng phát huy hiệu quả. Thời là thế trận chiến tranh
nhân dân bày sẵn, để địch lạc vào một mê hồn trận không biết đâu mà lần,
không thấy đối phương ở đâu mà đánh, mất cả sức và mất cả hồn, bị động
và bất ngờ… Đây là một trận tiêu biểu của cuộc chiến tranh nhân dân Việt
Nam”
Qua
53 ngày đêm, cuộc hành quân trên bộ lớn nhất của Mỹ trên chiến trường
Việt Nam đã bị quân dân vùng căn cứ và quân dân Tây Ninh bẻ gãy hoàn
toàn. Lực lượng vũ trang giải phóng đã diệt gọn 2 tiểu đoàn, 11 đại đội
bộ binh, tiểu đoàn pháo binh, 9 chi đoàn xe thiết giáp, tiêu hao nặng 3
tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn dù, loại khỏi vòng chiến đấu 14.233 tên
Mỹ (1/3 quân số), phá huỷ 922 xe (có 775 xe thiết giáp), 112 trong số
256 khẩu pháo, bắn rơi 160 máy bay trong đó có 114 trực thăng. Cuộc càn
Junction City bị thất bại.
Sau
thất bại của hai cuộc càn Attellboro và Cedarfall, Lầu Năm Góc như “con
bạc khát nước” vẫn cay cú, tiếp tục mở cuộc hành quân Junction City
đánh vào khu căn cứ Bắc Tây Ninh, được gọi là căn cứ Khu B (địch gọi là
Khu C) thuộc huyện Dương Minh Châu. Diện tích toàn khu căn cứ khoảng
1.500km2. Trong những năm địch đánh phá gom dân ác liệt, dân số trong
vùng căn cứ chỉ còn khoảng 800 người theo cách mạng ở rải rác dọc biên
giới và sông Vàm Cỏ Đông trên khu vực xóm Giữa, Lò Gò, Tà Nốt, một ít ở
Kà Tum, Sóc Mới làm ruộng sinh sống và tham gia công tác dân công vận
tải tiếp tế cho bộ đội. Còn vùng trung tâm căn cứ chỉ có nhân viên, cán
bộ cơ quan, nhà trường, công xưởng, bệnh viện, kho tàng của Bộ Tư lệnh
miền Nam và các ngành trực thuộc Trung ương Cục.
Từ ngày 22.2.1967 đến 15.4.1967, quân Mỹ mở tiếp cuộc càn Junction City
đánh vào khu căn cứ Bắc Tây Ninh. Đây là trận càn chủ yếu trong cuộc
phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai, cũng là cuộc càn lớn nhất với
nhiều tham vọng nhất của Mỹ từ khi đưa quân vào xâm lược nước ta. Mỹ tập
trung 45.000 quân, 1.200 xe tăng, thiết giáp, 250 khẩu pháo, 600 máy
bay chiến đấu và vận tải. Máy bay B52 ném bom hủy diệt từng vùng rộng để
phục vụ cuộc càn quét. Cuộc càn quét này do tướng ba sao Giơn-na-than
Si Man, tư lệnh dã chiến 2 chỉ huy.
Chuẩn bị cho cuộc hành quân
Junction City, các căn cứ Mỹ và các chốt biệt kích ngụy từng bước hình
thành thế bao vây, chia cắt căn cứ kháng chiến: căn cứ Trảng Lớn của Lữ
đoàn 196 Mỹ; căn cứ Dầu Tiếng của Lữ đoàn 3 Sư đoàn Bộ binh 25 Mỹ; căn
cứ Chơn Thành của Trung đoàn bộ và Tiểu đoàn 14 Trung đoàn 9 Sư đoàn 5
ngụy; yếu khu Minh Thạnh; các trại biệt kích Suối Đá, Trảng Sụp, Trại
Bí, Mỏ Công; các sân bay Trảng Lớn, Quản Lợi, Minh Thạnh, Dầu Tiếng đều
là những căn cứ xuất phát hành quân, tiếp tế hậu cần. Từ 25.9.1966 đến
20.2.1967, địch thực hiện trên 60 phi vụ C47 và C123 thả chất độc khai
hoang trên một khu vực rộng lớn của khu căn cứ Bắc Tây Ninh.
Tiếp
đó, máy bay cường kích và máy bay B52 giội bom ồ ạt xuống vùng rừng Tây
Ninh. Các máy thu tiếng động được thả ở các hành lang căn cứ. Hàng loạt
toán biệt kích đột nhập vào các khu vực quan trọng. Trong khi đó, một
lực lượng lớn quân Mỹ và ngụy đã sẵn sàng tư thế tiến công, hơn bảy lữ
đoàn Mỹ, hai chiến đoàn ngụy, 1.200 xe tăng, xe bọc thép, 256 khẩu pháo,
300 máy bay lên thẳng, ba phi đoàn máy bay vận tải.
Mục tiêu của
cuộc hành quân Junction City: Tiêu diệt cơ quan lãnh đạo kháng chiến
chống Mỹ ở miền Nam, diệt Sư đoàn 9 chủ lực quân giải phóng và Đài Phát
thanh giải phóng, bịt biên giới, triệt phá kho tàng, dự trữ hậu cần của
lực lượng cách mạng. Chia cắt, lấn chiếm khu căn cứ. Giành lấy một thắng
lợi quân sự quyết định tạo ra một bước ngoặt làm chuyển biến cục diện
quân sự, chính trị có lợi cho chúng.
Nắm được ý đồ của địch, Trung
ương Cục và Bộ CHQS Miền đã chỉ đạo xây dựng thế trận chiến tranh nhân
dân tại chỗ bằng cách tổ chức từng khu vực cơ quan đóng thành xã, huyện.
Các cơ quan quân sự Miền hình thành 7 huyện đội, 6 cụm cơ quan Dân,
Chính, Đảng thành 13 khu vực phòng thủ tương đương 13 huyện trong căn
cứ. Toàn bộ cán bộ nhân viên trong căn cứ trở thành lực lượng vũ trang
tại chỗ đánh càn theo khu vực được giao. Riêng đối với Tây Ninh, Trung
ương Cục chỉ đạo tổ chức lực lượng vành đai phía sau hình thành thế trận
nhân dân khắp 3 vùng với 3 thứ quân.
Quán triệt sự chỉ đạo và
phương châm tác chiến của Bộ CHQS Miền, Tỉnh ủy Tây Ninh đề ra nhiệm vụ
xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân tại chỗ, sẵn sàng đánh địch trên
trục lộ giao thông và cắt đứt giao thông, đánh địch ở các cứ điểm, phá
kho tàng, đánh phá mạnh ấp chiến lược để góp phần bẻ gãy cuộc phản công
chiến lược mùa khô lần thứ hai của địch.
Cuộc hành quân Junction
City diễn ra từ ngày 22.2 đến 15.4.1967, qua hai giai đoạn: Giai đoạn I
(22.2 đến 17.3.1967) địch tiến công khu vực tỉnh lộ 4 đến quốc lộ 22.
Giai đoạn II (từ 18.3 đến 15.4) lật cánh sang phía Đông tỉnh lộ 4. Thủ
đoạn của địch là bao vây kết hợp dùng lực lượng đột kích mạnh, xe tăng,
biệt kích thọc sâu chia cắt, gọi là “bủa lưới phóng lao”.
Từ giai
đoạn đầu, các lực lượng tại chỗ tỏ rõ khả năng bảo vệ căn cứ, thực hiện
tốt các mũi bung ra, tổ chức các đội săn cơ giới, tiêu hao được địch.
Sau
4 ngày hành quân, hãng thông tấn AFP của Pháp đưa tin: “Cuộc hành quân
Junction City được coi là một trong những hy vọng của Mỹ trong giai đoạn
trước mắt, cuộc hành quân có nhiều tham vọng nhất trong cuộc chiến
tranh, nhưng kết quả thật đáng buồn, trong 4 ngày qua không thấy dấu vết
nhà lãnh đạo Mặt trận dân tộc giải phóng đâu cả… Đài Phát thanh Mặt
trận Dân tộc giải phóng vẫn tiếp tục hoạt động, mặc dù một trong những
mục tiêu của cuộc hành quân này là làm cho nó câm đi… Bộ chỉ huy Mỹ đang
chuẩn bị thú nhận cuộc mạo hiểm lớn này là thất bại!”. Tướng
Westmoreland, tổng chỉ huy các lực lượng viễn chinh ở miền Nam Việt Nam
cũng phải than thở: Chẳng tìm thấy bóng một tên du kích Việt cộng đâu
cả, nhưng bất cứ ở đâu quân Mỹ cũng đều bị chặn đánh.
Tiếp những
ngày sau, các mũi tiến công của địch vào trung tâm căn cứ đều bị bẻ gãy,
tinh thần của địch giảm sút nên co cụm lại, chỉ hoạt động chung quanh
các chốt đóng quân và bảo vệ vận chuyển tiếp tế.
Giai đoạn II, ta
phán đoán trước địch sẽ lật cánh sang hướng Đông, nên điều động lực
lượng chặn đánh. Địch bao vây khu vực căn cứ khu B, kết hợp xe tăng, bộ
binh đột kích và trực thăng đổ chụp đánh sâu. Lực lượng tại chỗ tiếp tục
giữ quyền chủ động phản công tiêu diệt địch, bẻ gãy nhiều mũi đột kích
của chúng. Bộ đội chủ lực tập trung thực hiện được trận quyết chiến Đồng
Rùm, tập kích địch ở Bàu Tư Viết, tấn công cụm quân Mỹ ở Đồng Pan, hiệu
suất tiêu diệt địch cao.
Qua 53 ngày đêm, cuộc hành quân trên bộ
lớn nhất của Mỹ trên chiến trường Việt Nam đã bị quân dân vùng căn cứ và
quân dân Tây Ninh bẻ gãy hoàn toàn. Lực lượng vũ trang giải phóng đã
diệt gọn 2 tiểu đoàn, 11 đại đội bộ binh, tiểu đoàn pháo binh, 9 chi
đoàn xe thiết giáp, tiêu hao nặng 3 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn dù,
loại khỏi vòng chiến đấu 14.233 tên Mỹ (1/3 quân số), phá hủy 922 xe (có
775 xe thiết giáp), 112 trong số 256 khẩu pháo, bắn rơi 160 máy bay
trong đó có 114 trực thăng. Cuộc càn Junction City bị thất bại.
Với quyết tâm đánh bại cuộc hành quân Junction City, vai trò địa phương được phát huy cao độ. Phát
huy sức mạnh của chiến tranh nhân dân với thế trận liên hoàn giữa lực
lượng du kích xã và tự vệ cơ quan, giữa các ấp, xã và cụm chiến đấu
trong vùng căn cứ. Từ đó, giành thế chủ động chiến trường không cho địch
phát huy sức mạnh của binh khí kỹ thuật hiện đại và thất bại hoàn toàn.
Trong
thế trận chung đó, huyện Tà Đạt (được thành lập tháng 6.1966 theo
phương châm tác chiến phòng thủ bảo vệ căn cứ của Bộ Chỉ huy Miền) là
một trong 13 huyện căn cứ của khu căn cứ Bắc Tây Ninh, nổi lên như một
pháo đài kiên cố, chiến đấu rất ngoan cường, làm thất bại các mũi tiến
công của 6 lữ đoàn bộ binh, nhảy dù và đổ bộ trực thăng của Mỹ, bảo vệ
được căn cứ kho tàng, đồng thời còn bảo đảm được công tác chuyên môn,
thông tin liên lạc phục vụ cho chiến đấu.
Tại vành đai phía sau,
lực lượng 3 thứ quân của Tây Ninh đã có phần đóng góp to lớn vào chiến
thắng chung. Ngoài việc tham gia diệt địch vận chuyển trên các trục lộ
giao thông 19, 22, 26… lập chướng ngại vật làm chậm bước tiến quân của
địch, bộ đội địa phương Tòa Thánh, du kích và nhân dân xã Trường Hòa đã
diệt gọn đội bình định và đánh tan Đại đội Bảo an 276 trong ấp chiến
lược này. Lực lượng huyện Dương Minh Châu được trên hỗ trợ diệt gọn Đại
đội Bảo an ở Chà Là. Phong trào quần chúng trong và ngoài ấp chiến lược
có cả gia đình binh sĩ ngụy tham gia, liên tục nổi dậy kết hợp với du
kích diệt gọn từng tiểu đội, trung đội dân vệ và đấu tranh chống phi
pháo, chống càn quét diễn ra ác liệt ở các huyện Trảng Bàng, Gò Dầu,
Châu Thành, Bến Cầu.
Tây Ninh không chỉ là trọng điểm địch đánh
phá mà còn là địa bàn chiến tranh gián điệp. Địch đã dồn lực lượng CIA,
tình báo tổng nha, tình báo phủ đặc ủy Trung ương, tình báo vùng 3 chiến
thuật, tình báo tiểu khu… hòng đánh phá từ trong nội bộ ta. Quần chúng
cảnh giác cao, đã vạch mặt các tên tình báo, đội tự vệ mật, đã đánh
nhiều trận táo bạo vào những đối tượng đầu sỏ công an, bình định, thám
báo… hỗ trợ cho phong trào chung đạt thắng lợi.
Cùng với các lực
lượng thi đua diệt Mỹ-ngụy, Quân y Tây Ninh đã chiến đấu thầm lặng trên
mặt trận chống bệnh tật. Họ cũng phải trải qua những tháng năm ác liệt
với các trận ném bom B52, pháo bầy, các cuộc càn quét lớn. Trong thời kỳ
này, thương bệnh binh vào nằm bệnh xá ngày càng nhiều, mà khả năng tiếp
nhận của bệnh xá cao nhất là 70 giường, nhiều lúc số thương binh vào
viện lên tới 250 người (kể cả thương binh chủ lực Miền). Do đó, cán bộ
nhân viên bệnh xá phải đào thêm hàng trăm nhà hầm để chứa thương binh,
và phải đào địa đạo để đưa thương binh đến vị trí an toàn.
Hầu hết
các ca mổ tiến hành dưới hầm sâu, phía trên bom đạn vẫn nổ. Ở hầm nhưng
mọi sinh hoạt của thương binh vẫn được bảo đảm bình thường. Số thương
binh còn đi đứng được ở hầm có nắp hoặc hầm ếch, thương binh không đi
được thì ở hầm nắp sẵn có lỗ thông hơi thoáng mát. Ngoài ra, thương binh
còn được bảo vệ bằng hầm bí mật, địa đạo ngắn, hầm hố chông, hàng rào
chiến đấu, gài lựu đạn phong tỏa bên ngoài. Địch đã nhiều lần càn quét
vào căn cứ Bời Lời, Dương Minh Châu, Gò Dầu, Châu Thành, Bến Cầu nhưng
các bệnh xá quân y Tây Ninh vẫn bảo vệ được thương bệnh binh an toàn.
Khẩu đội phòng không 12ly7 của quân Giải phóng chống càn
Trong
cuộc càn Junction City, bệnh xá quân y cũng nằm trong vùng địch càn
quét đánh phá. Cho nên bệnh xá chia làm 2 bộ phận: trong đó có một bộ
phận gần Sóc Lào. Cùng thời điểm này, tiểu đoàn 14 có tên ra chiêu hồi,
bộ phận quân y ở Sóc Lào được lệnh di chuyển nhưng chưa kịp địch đã càn
đến. Tất cả cán bộ nhân viên, thương bệnh binh phải bám lại
dưới địa đạo. Trước tình hình đó, chi bộ đảng họp quyết định phải di
chuyển căn cứ. Đêm đến, đại bộ phận cán bộ nhân viên bệnh xá lần lượt
cõng thương binh rời khỏi vòng vây. Đến sông Sài Gòn, y tá, thương binh
ngâm mình dưới nước suốt ngày, đầu đội lục bình để ngụy trang che mắt
trực thăng. Đến đêm, toàn bộ thương binh 30 người và 2 ca mới giải phẫu
đưa về nhà dân ở Lộc Hưng, An Tịnh. Sau đó thương binh được chuyển qua
quốc lộ 1 vượt sông Vàm Cỏ Đông đến Bến Cầu.
Số nhân viên và
thương binh sơ tán không kịp có 7 người do chị Nguyễn Thị Đó (Tư Đó) phụ
trách. Lương thực dự trữ có 3 ngày, địch càn lâu, lương thực hết, ban
đêm nhân viên phải tự tìm lương thực về cho thương binh, ban ngày lại
xuống địa đạo trú ẩn. Dù có khó khăn, cán bộ nhân viên bệnh xá đã thể
hiện nhiều gương tốt trong công tác phục vụ thương binh như chị Nguyễn
Thị Hạnh hiến máu cho thương binh đến ngất xỉu. Chị Trần Thị Lệ suốt
những năm tháng làm nhiệm vụ giặt quần áo, băng gạc đầy máu mủ trong
điều kiện nước khan hiếm, nhưng lúc nào chị cũng dịu dàng, niềm nở, sẵn
sàng giúp đỡ thương bệnh binh. Y tá Trần Thị Hương dũng cảm cõng thương
binh từ trong vùng bom đạn B52, khi bom nổ gần chị lấy thân mình che chở
thương binh an toàn, bản thân chị phải hy sinh. Đồng chí Lê Đình Kiệt,
trong lúc địch càn chịu nhịn đói, khát nhiều ngày dưới hầm địa đạo,
nhưng khi có thương binh vào anh sẵn sàng giải phẫu cấp cứu.
Đánh
giá thắng lợi cuộc chống trận càn Junction City, Đại tướng Nguyễn Chí
Thanh, Chính ủy Bộ Chỉ huy Miền nhận xét: “Cuộc hành quân Junction City
là một cuộc hành quân lớn nhất của quân Mỹ vào vùng căn cứ Bắc Tây Ninh
lại là cuộc hành quân thua đau nhất, là cái mốc đánh dấu đỉnh cao sự
thất bại của chúng trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai
trong âm mưu tìm diệt của chúng”.
(Theo Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tây Ninh)
Hallelujah Veterans Version
Dũng sĩ Đoàn Phước Truyền và trận phục kích xe tăng Mỹ
GiadinhNet - Ngày 19/8/2009, Bộ
Tư lệnh Cảnh vệ (Bộ Công an) tổ chức khánh thành nhà truyền thống, tôi
có dịp gặp một đại biểu từ Cao Lãnh (Đồng Tháp) ra dự buổi lễ. Tên tuổi
của ông đã đi vào những trang sử hào hùng của lực lượng Cảnh vệ. Ông là
Đoàn Phước Truyền, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Trận đánh trảng Trà Chúc
Ở tuổi 63, tuy giặc Mỹ lấy đi một phần cơ thể,
nhưng ông vẫn mạnh khoẻ. Biết chúng tôi muốn tìm hiểu về những trận
chiến đấu với giặc Mỹ, ông như sống lại thời trai trẻ tràn đầy nhựa sống
của thuở coi chiến trường là nhà.
Anh hùng Đoàn Phước Truyền.
Đoàn Phước Truyền sinh ra ở xã Tân Mỹ, huyện Lấp
Vò, tỉnh Đồng Tháp - nơi có những cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay. Lớn
lên không chịu ngồi nhìn cảnh giặc Mỹ tàn phá quê hương, giết chóc người
thân trong gia đình và bà con thôn xóm, chưa đầy 17 tuổi, ông đã xung
phong lên đường tiêu diệt kẻ thù, bảo vệ quê hương. Nhập ngũ được 2 năm,
tháng 6/1965, Đoàn Phước Truyền được điều động bổ sung vào C1, D3, Đoàn
180, nay là Phòng Bảo vệ 180 thuộc Bộ Tư lệnh Cảnh vệ.
Tháng 6/1966, địch xây dựng căn cứ biệt kích ở Trại
Bí (Tây Ninh) và lấn chiếm vào vùng căn cứ R. Đây là cứ điểm tiền tiêu
tiếp giáp với khu căn cứ R. Từ đây, chúng tung biệt kích đánh phá khu
căn cứ của ta. Cũng trong thời gian này, đại đội 1, Đoàn 180 được điều
động về Trại Bí để đánh bọn biệt kích lấn chiếm khu căn cứ.
Về trận đánh biệt kích ở trảng Trà Chúc diễn ra vào
ngày 4/7/1966, ông Truyền kể lại: "Được tin trinh sát báo có 1 đại đội
biệt kích địch cắt rừng tiến vào các cơ quan của R (như B21, B23, C7
Quân y viện). Đại đội 1 chúng tôi tổ chức vận động ra chặn đánh địch.
Đại đội chia ra làm 3 mũi, mỗi trung đội 1 mũi, song song cùng tiến. Khi
anh em triển khai đội hình xong thì cách địch 50m, do địch phát hiện
thấy nên chúng phục kích và chủ động nổ súng trước. Lúc đó, cánh chính
diện của ta nổ súng đánh trả và đồng loạt xung phong, cùng lúc trung đội
tôi bí mật xuyên hông bên cánh phải đội hình địch.
Ngày 19/8/2009, Chủ
tịch nước Nguyễn Minh Triết đến dự và cắt băng khánh thành nhà truyền
thống của BTL Cảnh vệ (Anh hùng Đoàn Phước Truyền đứng thứ nhất từ trái
sang).
Khi đó, địch đã phát hiện chúng tôi núp dưới gốc
cây dầu nên tập trung bắn vào. Tiếng đạn xuyên vào gốc cây lốp bốp, cây
nhỏ bị đạn bắn đứt ngã la liệt. Thấy 2 tên nằm nấp sau gò mối bắn trả
liên tiếp, tôi liền đưa khẩu tiểu liên lên và siết cò. Bắn liền 2 loạt, 2
tên địch ngã gục tại chỗ, ổ đại liên bị tiêu diệt. Thấy đồng bọn bị
tiêu diệt, một tên khác lao lên định lấy khẩu đại liên, nhưng bị tôi
phát hiện và tiêu diệt luôn tên này. Tôi lao lên gò ôm khẩu đại liên,
quay họng súng về phía địch nổ súng vào phía sườn đội hình địch. Bị đánh
liên tiếp và bị thiệt hại nặng, bọn địch rút chạy bỏ lại trên 20 xác
đồng bọn tại trận địa".
Trong trận này, đại đội của ông Truyền đã tiêu diệt
khoảng 60 tên biệt kích, thu trên 20 khẩu súng các loại, trong đó có 2
khẩu đại liên, 2 trung liên, 14 khẩu Carbine và 3 khẩu M79, 2 máy PRC25
cùng nhiều đạn dược, quân trang quân dụng.
2 tháng đánh trận càn Junction City
Cuối năm 1966 đầu năm 1967, sau khi ồ ạt đưa quân
vào miền Nam, Mỹ mở chiến dịch mùa khô lần thứ hai mà chúng gọi là chiến
dịch "tìm và diệt". Ngày 22/2/1967, Mỹ mở cuộc hành quân Junction City
với lực lượng 45.000 quân. Đây là cuộc hành quân có số quân đông nhất,
binh khí kỹ thuật hiện đại nhất lúc bấy giờ, bao gồm: Sư đoàn số 1 "Anh
cả đỏ" chuyên đổ bộ đường không; Sư đoàn 25 cơ giới "Tia chớp nhiệt
đới"; Lữ đoàn dù 173; Sư đoàn 9 bộ binh... và hơn 1.260 xe tăng, xe bọc
thép, 259 khẩu trọng pháo, trên 400 máy bay lên thẳng đỗ quân, máy bay
ném bom hàng tháng trời trước cuộc hành quân. Với khối lượng binh hoả
lực trên, địch triển khai trên vùng đất hẹp của Khu căn cứ tây bắc Tây
Ninh. Mỹ tuyên bố sẽ tiêu diệt lực lượng chủ lực của ta và cơ quan Trung
ương Cục miền Nam trong vòng 3 tháng.
Chiến sỹ Đoàn 180- An ninh vũ trang bắn cháy xe tăng của Mỹ trên quốc lộ 22 tỉnh Tây Ninh (năm 1967).
Về lực lượng của ta, trước đây chủ yếu được trang
bị AK47 và trung liên RPD để đánh biệt kích. Đến tháng 11/1966, cả tiểu
đoàn được trang bị 5 khẩu B40, mỗi khẩu được 6 quả đạn. Các xạ thủ được
cán bộ quân khí hướng dẫn sử dụng khoảng 2 giờ. Lúc đó B40 là loại súng
chống tăng tốt nhất. Vì Mỹ đã huy động lực lượng xe tăng, xe bọc thép...
rất lớn, tạo "quả đấm thép" cho lực lượng xung kích đánh vào khu căn
cứ, nếu ta diệt được xe tăng sẽ hạn chế hoặc ngăn chặn các mũi tấn công
đánh phá của địch. Lúc này, Ban Chỉ huy ATK (tức Đoàn 180) phát động
phong trào "tiêu diệt xe tăng Mỹ" nhằm rút kinh nghiệm trong cách đánh
và củng cố lòng tin của chiến sĩ về loại súng B40 trông rất đơn giản
nhưng bắn cháy được các loại xe tăng lớn và hiện đại. Từ đó, phong trào
thi đua tìm diệt xe tăng dấy lên sôi nổi ở các đơn vị, ai cũng muốn là
người đầu tiên bắn cháy xe tăng Mỹ.
Rạng sáng 23/3/1967,
như thường ngày, tổ của ông Truyền gồm 5 người gồm Đoàn Phước Truyền -
xạ thủ B40, Cao Ngọc Chinh, Hà Văn Mách, Ngô Doãn Nha và y tá Hà Trường
Vũ đều trang bị AK47, nai nịt gọn gàng lên đường "săn xe tăng Mỹ". Khi
trời vừa hửng sáng, từ hướng đông xuất hiện từng tốp máy bay phản lực
của Mỹ thay nhau trút bom từ hướng trảng Ba Chân lên hướng trảng Dầu, lộ
Ủi. Theo quy luật hoạt động của quân Mỹ, sau khi máy bay ném bom, pháo
binh sẽ bắn dồn dập dọn đường cho xe tăng tiến vào đánh phá. Tổ chiến
đấu nhận định, cánh quân thiết giáp trảng Ba Chân sẽ đánh lên hướng cơ
quan Ban Kinh tài R, Cơ quan Mặt trận Dân tộc giải phóng, Ban Tổ chức
Trung ương Cục...
Chiến sỹ Đoàn 180- An ninh vũ trang bắn cháy xe tăng của Mỹ trên quốc lộ 22 tỉnh Tây Ninh (năm 1967).
Trước tình hình đó, ông Truyền bàn với anh em cắt
rừng ra hướng lộ Ủi đón đầu chặn đánh. Khi tổ chiến đấu đến địa điểm
định trước, cách căn cứ Ban Tổ chức Trung ương Cục khoảng 300m, vừa
triển khai đội hình phục kích thì đoàn xe tăng hơn 50 chiếc cũng ầm ầm
chạy lên. Vì khu vực này rừng cây quá rậm rạp che khuất tầm nhìn nên
không thể chọn vị trí thuận lợi để xạ kích, ông Truyền chỉ kịp chọn con
đường mòn nhỏ vào cơ quan cách mặt đường lộ Ủi khoảng 7 - 8m, giương
súng lên sẵn sàng nhả đạn.
Ông Truyền nhớ lại: "Khi đoàn xe tăng ầm ầm chạy
tới mỗi lúc một gần, đất dưới chân rung lên như động đất, đợi chiếc M41
đi đầu lọt vào tầm ngắm tôi mới siết cò. Một tiếng nổ như sấm vang lên,
khói đen phủ lên đầu xe, chiếc xe theo quán tính chỉ lết thêm khoảng
5-6m thì bốc cháy dữ dội, đạn pháo trong xe bị cháy nổ ầm ầm. Bị đánh
bất ngờ, địch không xác định được mục tiêu nên phản ứng bằng cách bắn
xối xả vào 2 bên đường. Định thần lại, chúng xác định đúng chỗ phục kích
của chúng tôi và tập trung hoả lực. Cây cối đổ ngổn ngang, mọi vật
trong rừng coi như bình địa. Nhưng chúng không ngờ lúc đó chúng tôi phục
kích cách mặt đường chỉ khoảng 6-7m, còn chúng bắn huỷ diệt từ khoảng
cách 10-15m trở ra. May mắn nữa là pháo xe tăng bắn vào những gốc cây, ụ
mối nghi có quân ta ẩn nấp, nên lá cây phủ kín cả người chúng tôi. Thấy
làn đạn địch chuyển ra phía sau, tôi ôm khẩu B40 bò ra mặt đường tìm
bắn tiếp, nhưng số xe tăng còn lại đã "lủi" sang bên kia rừng, chỉ còn
chiếc xe bị bắn đang bốc cháy ngùn ngụt. Tổ chiến đấu vẫn nằm phục kích
tại chỗ, đợi xe của địch tiến lên sẽ bắn tiếp. Nhưng khoảng hơn 1 giờ
sau, cả đoàn xe tăng địch cũng ầm ầm rút chạy theo đường cũ. Chẳng những
không vào được căn cứ, mà bọn chúng còn bỏ lại tại trận xác chiếc xe
tăng đã bị cháy đen".
Qua gần 2 tháng tham gia đánh trận càn Junction
City của quân Mỹ, ông Đoàn Phước Truyền tham gia chiến đấu hàng chục
trận, bắn cháy 2 xe tăng, tiêu diệt 8 tên Mỹ và gài mìn phá huỷ 2 xe
tăng khác. Với những thành tích trên, ông được Bộ Chỉ huy Miền tặng Huân
chương Chiến công Giải phóng hạng 3, danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ và Dũng
sĩ diệt cơ giới.
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét