BÍ ẨN DƯỜNG ĐỜI 144 (Trần Bá Lộc)
(ĐC sưu tầm trên NET)
Trần Bá Lộc
GIAI THOẠI VỀ TỔNG ĐỐC TRẦN BÁ LỘC
(1838-1900)
Các bạn có biết trong tỉnh Mỹ Tho có hai ngôi mộ chôn đứng là của ai không ? Xin thưa rằng ngôi mộ thứ nhất của một người con bất hiếu bị "trời trồng" chôn trong xã Khánh Hậu, sau này thuộc tỉnh Long An. Ngôi mộ thứ hai là của Trần Bá Lộc, đi tàu gần tới Mỹ Tho thấy ngôi mộ sừng sững ở đầu ngã ba sông.
Trần Bá Lộc là một trong những người oán hận triều đình Huế chỉ vì gia đình ông có đạo, đã bị ngược đãi. Thân phụ Lộc là Trần Bá Phước, người Quảng Bình, đổ Tú Tài vào Nam lập nghiệp với tư cách một thầy đồ. Ban đầu cụ Phước dạy học tại Cái Nhum Rau Má (Vĩnh Long) sau đó đổi lên cù lao Giêng (Châu Đốc). Đây là các xứ đạo lâu đời nhờ vào vị trí khuất lấp với bên ngoài, nên các giáo sĩ vẫn lén lút truyền đạo. Trần Bá Lộc chào đời tại đây năm 1838, cuối đời vua Minh Mạng. Lớn lên nhằm lúc triều đình cho thi hành một chánh sách cấm đạo khắt khe vì sự khiêu khích của người Pháp. Nhiều cố đạo bị bắt giam, có vị bị hành quyết như Thánh Minh bị giết năm 1854 tại bến đò Đình Khao (Vĩnh Long). Nhiều tín đồ bị đánh đập tàn nhẫn buộc phải bỏ đạo. Có kẻ bị lưu đày. Thân phụ Lộc, cụ Trần Bá Phước bị bắt giam tại Châu Đốc một thời gian rồi đày đi Bình Định. Năm đó Lộc 16 tuổi. Bao nhiêu thù hận Lộc đổ trút lên đầu quan lại địa phương và triều đình Huế. Càng thương cha bao nhiêu, Lộc càng căm thù bấy nhiêu.
Theo nhận xét của người Pháp lúc còn học ở trường nhà dòng, người Pháp nhìn nhận rằng Lộc tỏ ra thông minh, có chí khí, học hành tiến bộ. Trong thời gian cha bị phát lưu tại Bình Định, giáo hội tiếp tục nuôi nấng và dạy dỗ Lộc. Mối cảm tình với thực dân phát sinh từ đó. Sau khi cưới vợ, một người có đạo Công giáo, được hơn một năm Lộc bị quan lại địa phương bắt bớ, đánh đập rồi giam luôn. Nhưng sau đó Lộc trốn thoát được. Lúc đó Pháp cũng vừa làm chủ tình thế ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, cần mua chuộc người bản xứ ra hợp tác. Khai thác hận thù trong tâm của Lộc, giáo hội khuyên Lộc nên gia nhập hàng ngũ Pháp để tránh bị trả thù. Lộc âm thầm đem gia đình lên Mỹ Tho, rồi nhờ một ông cố đạo gọi là cha Marc che chở để sống trong lãnh thổ của Pháp.
Cũng do sự tiến dẫn và giới thiệu của Marc, Lộc xin vào làm lính mã tà. Lộc lập nhiều thành tích nhờ dọ thám, điềm chỉ cho Pháp bắt các thân hào nhân sĩ ủng hộ nghĩa quân, nên Lộc được thăng Cai, rồi lên Đội rất nhanh. Năm sau, Lộc đã lập nghiệp vững chắc ở đây rồi, Pháp cấp cho Lộc một căn nhà lá, vợ thì nuôi heo kiếm thêm tiền. Từ đó, tiền bạc và địa vị của Lộc thăng tiến nhanh như diều gặp gió. Vốn có ác cảm với quan quân của triều đình, Lộc đàn áp các nghĩa quân không nới tay. Nhờ biểu lộ lòng trung thành với thực dân qua các vụ đánh dẹp, chém giết, lại biết chữ quốc ngữ, chữ Hán, cho nên mới 26 tuổi, Lộc được bổ làm tri huyện, tức chủ quận Cái Bè năm 1865. Lộc là người Việt Nam đầu tiên được Pháp bổ làm chủ quận Nam Kỳ. Hai năm sau, Lộc được thăng Đốc Phủ Sứ. Lúc nầy Lộc vừa đóng vai trò võ quan để bình định các cuộc khởi nghĩa cho Pháp, vừa giữ vai trò cố vấn cho Pháp về vấn đề an ninh lãnh thổ, hành chánh và chánh sách cai trị nữa.
Kinh nghiệm cho biết rằng hễ kẻ có tài hay tự phụ. Lộc không thoát khỏi thông lệ đó. Khi đã thăng phủ, vẫn còn ngồi ở quận Cái Bè, Lộc lấn quyền cả người Pháp. Lộc coi như mình có quyền hành trên những người Pháp đang phục vụ tại đây. Ông ta viết đơn gởi cho Giám Đốc Nội Vụ đề nghị thăng cấp cho người Pháp trong quận, và coi đó như nhiệm vụ của mình. Ngồi quận Cái Bè trong 30 năm, công lao hãn mã đã nhiều, mà vẫn không còn tiến thân được nữa, điều đó chứng tỏ người Pháp không thích ông và dùng người có giai đoạn. Những cuộc đánh dẹp trong Đồng Tháp Mười, Vũng Liêm, Cầu Ngang, Rạch Giá, Phú Quốc...có thể nói bất cứ cuộc khởi nghĩa nào ở Nam Kỳ cũng có Lộc dẫn quân đi đàn áp dã man.
Có một lần Lộc họp cùng Phủ Đức, ruồng bắt cuộc khởi nghĩa của Thủ Khoa Huân ở vùng Gò Công lên đến Chợ Gạo, khiến cho cọp, chồn, nai chạy tán loạn vào các thôn xóm. Khi ngồi chủ quận Cái Bè, mỗi lần báo cáo điều gì lên Thống Đốc Nam Kỳ, Lộc luôn luôn dùng chữ "Phụng lệnh quan lớn Nguyên Soái", nịnh bợ cấp trên hết lòng. Theo Lộc, nhà cầm quyền cần dạy dân chúng về luân lý, đạo đức của Pháp. Lộc nói người Công Giáo luôn luôn trung thành với Pháp, chỉ có các phần tử theo Nho giáo mới làm loạn.
Ông Durrwell nhận xét về Trần Bá Lộc như sau:"Lộc đàn áp dã man các cuộc khởi nghĩa, và thẳng tay dùng bạo lực để dẹp các cuộc bạo động. Dưới con mắt của người Pháp, Lộc là một trong những viên chức Việt Nam ra hợp tác đáng tín nhiệm nhứt, và là một thí dụ điển hình để những người Việt khác noi gương!"
Lộc chém giết các nghĩa quân dã man hơn cả người Pháp rất nhiều, nên dân chúng oán hận mà không làm gì được. Có một lần Lộc đi dự lễ khánh thành một nhà việc làng ở Mỹ Tho, bị ám sát, nhưng thoát chết. Để dẹp tan các cuộc khởi nghĩa và dụ hàng, Lộc bắt cha mẹ, vợ con các lãnh tụ phải chỉ chỗ họ ẩn núp, kêu họ ra đầu thú, nếu không đạt mục đích, Lộc sẵn sàng hạ sát họ. Đối với Lộc, phương tiện nào cũng tốt miễn đạt tới mục tiêu thì thôi.
Nhìn về nông thôn, theo báo cáo của Lộc với Thống Đốc Nam Kỳ, thì đó là một bức tranh ảm đạm:"Các viên chức làng xã thường thụt két, biển thủ tiền bạc để ăn xài riêng, hút á phiện và lạm dụng quyền hành. Mỗi khi bắt dân chúng làm sưu thì họ hàng với những người ấy được miễn, không ai dám kêu ca. Tiền bạc thâu góp trong các dịp lễ lạc, họ bỏ túi xài riêng". Lộc nói thêm:"Các món tiền trợ cấp cho dân quê đều vô túi mấy ông làng (Nên nhớ đây là tiền trợ cấp tử tuất cho gia đình những người lính đã theo Pháp bị tử trận). Khi trả lương cho họ, phải làm sổ sách hẳn hòi. Mỗi lần có lễ lạc như cúng đình là đóng góp tự nguyện, không bắt buộc. Sau cùng , làm sưu phải đồng đều". Với báo cáo đó, Lộc tỏ ra nắm vững tình hình ở thôn quê và am hiểu luật lệ hành chánh, vì lẽ đó nên Pháp rất tin cậy.
Ngôi Mộ Chôn Đứng
Năm 1886, Lộc được Pháp điều động ra Bình Định để đánh dẹp cuộc khởi nghĩa của Mai Xuân Thưởng. Xong việc, Lộc được thưởng Bắc Đẩu Bội Tinh và thăng hàm Tổng Đốc Thuận Khánh, nên dân chúng gọi ông là Tổng Đốc Lộc. Sau đó, Lộc về quê tại Cái Bè và Mỹ Tho. Lộc rất tự phụ, chê cả người Pháp là bất lực, kém hiểu biết tình hình địa phương. Cũng chính vì thế người Pháp không ưa ông ta, nhưng phải nhìn nhận rằng:"Lộc là người dùng phương tiện cẩu thả, nhưng đạt mục đích chắc chắn". Tham Biện Mỹ Tho phê bình Lộc như sau:"người ta có thể phàn nàn lão già nầy về hành động dã man lúc trước nhưng tôi nghĩ trong hàng ngũ viên chức bản xứ hiện nay, khó tìm được người biết kính bề trên và tận tụy với quyền lợi của nước Pháp như hắn". (Hồ sơ Trần Bá Lộc của Durrwell, năm 1931)
Toàn quyền Paul Doumer vào Nam nhiều lần. Lần nào ông ta cũng có xuống nhà thăm Lộc. Theo P.Doumer vào những năm cuối đời của ông ta, Lộc là một trong những người giàu nhứt ở Nam Kỳ. Trước khi chết, Lộc còn hơn hai ngàn mẫu ruộng và làm chủ cả cù lao Qưới Thiện. Để tưởng thưởng công lao hãn mã của Lộc, năm 1899, P.Doumer cho Lộc làm thành viên của phái đoàn, tháp tùng với P.Doumer viếng thăm Bangkok. Ân huệ đó làm cho Lộc rất hãnh diện. Ngoài ra P.Doumer còn cất nhắc Lộc trước khi chết được vào Hội Đồng Tối Cao Đông Dương, có nhiệm vụ lo về an ninh lãnh thổ.
Lộc mất năm 1900 trong sự lãnh đạm của Pháp lẫn Việt. Trước khi chết, Lộc dặn con phải chôn đứng. Đám ma của Lộc quàn đủ 100 ngày để khách khứa xa gần viếng thăm. Mỗi ngày đều có làm heo , bò đãi khách khứa rần rần. Lễ động quan có binh lính bắt súng chào và đưa tới huyệt. Lộc chết không ai tưởng nhớ, nhưng người Pháp cho lấy tên Lộc để đặt tên cho một con kinh từ Bà Bèo tới Rạch Ruộng do chính Lộc chỉ huy dân phu đào. Công việc đào kinh rất nặng nhọc, giữa đồng nhiều muỗi, vắt, đĩa và thiếu nước uống, khiến cho nhiều người chết vì bệnh sốt rét và dịch tả. Kinh Tổng Đốc Lộc đã góp phần làm cho vùng hai bên bờ kinh được phong phú.
GIAI THOẠI VỀ TRẦN BÁ THỌ
Phải chăng cây độc không trái, hay ít trái, nên Trần Bá Lộc chỉ có một người con duy nhứt là Trần Bá Thọ. Theo cuốn"Sự có mặt của người Pháp ở Nam Kỳ và Cam Bốt" thì từ năm 1886 trở đi Nam Kỳ đã bắt đầu gởi người du học qua Pháp. Bốn năm sau số du học sinh lên đến 90 người . Thọ là một trong những người du học đầu tiên đó, cùng với Huỳnh Công Miêng con Lãnh Binh Huỳnh Công Tấn (1). Thọ và người chú ruột là Trần Bá Hữu theo học trường Laseyne ở Pháp. Những người đi Pháp học trong buổi đầu không phải để lấy bằng cấp, mà chỉ học chữ Pháp đủ sức làm thông ngôn, giao dịch với Pháp mà thôi.
Cầu Rạch Miểu
Sau khi ở Pháp về, Trần Bá Thọ vừa làm Hội Đồng Quản Hạt Nam Kỳ, vừa lo quản lý ruộng đất khổng lồ của cha để lại. Cũng giống như cha, khi ra làm việc với Pháp, Thọ vẫn nóng tánh, hay có những ý kiến trái ngược với quyền lợi của Pháp. Trần Bá Thọ có một người con gái gả cho con trai út của cụ Trương Vĩnh Ký là Trương Vĩnh Tống. Trong thời gian làm hội đồng, Trần Bá Thọ có nhiều hoạt động đáng lưu ý.
Trước hết, trong các phiên họp hội đồng, Thọ đưa ra nhận xét:"Vai trò cai tổng trong mỗi quận rất quan trọng, nhờ họ làm trung gian truyền lệnh từ quận xuống xã, và đốc xuất việc thâu thuế. Cai tổng do các làng bầu ra, nhưng phải được nhà cầm quyền cấp tỉnh hợp thức hóa. Mỗi cai tổng có phó tổng phụ tá. Thọ nói tìm và bổ nhiệm một cai tổng có khả năng không phải dễ, và Thọ cũng phàn nàn lương cai tổng quá thấp, nên khó kiếm người có khả năng, mà còn làm cho họ tham nhũng, hối lộ. Còn các ông làng, mỗi lần đi công tác lên tỉnh, lên quận mất nhiều ngày mà không có công tác phí, khiến họ phải ăn hối lộ".
Bến Mỹ Tho
Trong một phiên họp hội đồng, Thọ nêu ý kiến báo chí sẽ tường thuật các phiên họp ấy cho dân chúng biết. Viên Thống Đốc Nam Kỳ chủ tọa trả lời rằng:
"Me-sừ Thọ rất thông minh, nhưng không hiểu biết nội bộ. Nếu cho dân chúng biết mọi cuộc thảo luận của Hội Đồng Quản Hạt, chúng ta sẽ khó đạt mục đích. Cần phải giấu họ."
Đã từng nghe dân chúng phàn nàn về việc làm của cha trước đây nên vào năm 1908, Trần Bá Thọ cho xuất bản quyển:"Nhị Thập Tứ Hiếu" bằng Pháp văn và Quốc ngữ để giáo dục dân chúng về luân lý, đạo đức của Nho giáo. Trong lời tựa sách, Thọ viết:
"người Việt không kính trọng các kẻ hợp tác với Pháp và nói tiếng Pháp vì họ bị cô lập không nói được tiếng ấy và cũng không được giáo dục nữa."
Trước kia, Lộc đã từng chủ trương dạy chữ Quốc ngữ cho người Công giáo . Thọ nói rằng vì thiếu sách nên ông phải soạn ra. Lập luận này bị ông Diệp Văn Cương không tán thành bằng cách nói rằng không có lý do gì mà không dạy Nho giáo bằng Pháp văn, trong khi tiếng Pháp chính là công cụ để khai hoá. Còn Hội Đồng Lê Văn Phát thì cho rằng cần duy trì tiếng Pháp để người Pháp hiểu sinh hoạt, lịch sử Nam Kỳ mà họ đang cai trị. Trong khi đó, Giám Mục Mossand phàn nàn nhờ hấp thụ văn hoá Pháp do nhu cầu cai trị, mà một số người tỏ ra ít trung thành với Pháp. Ông Diệp Văn Cương, du học Pháp, đổ Tú Tài 2, về làm Hội Đồng đã phản đối:
"Lời tuyên bố xuất phát từ một vị đứng đầu Giáo Hội Truyền Giáo Nam Kỳ như một sự tố cáo tất cả người Việt du học bên Pháp đều chống lại Pháp, trong đó có tôi chẳng hạn. Điều đó không đúng."
Dư luận Nam Kỳ cho rằng Trần Bá Thọ giống cha, lúc làm Hội Đồng dám ăn nói, tỏ ra cứng đầu, không nể nang ai hết. Về sau Thọ quy dân lập ấp, xây chợ, cất nhà ở Sa Đéc, lúc ấy thuộc phủ Tân Thành, nơi Lộc từng trấn nhậm và có rất nhiều đất đai. Dân chúng Sa Đéc còn nhắc đến Trần Bá Thọ bằng hai câu liễn đối:
Tân thị Mỹ Thành, chánh bổ Lục na sáng tạo
Quy dân lạc lợi, Hùng đường, Trần Bá Thọ kinh dinh
Về sau, không biết buồn việc gia đình ra sao, Thọ dùng súng lục tự tử.
Chùa Vĩnh Tràng
Trần Bá Lộc còn hai người em trai khác là Trần Bá Tường và Trần Bá Hựu. Cả hai đều ra cộng tác với Pháp rất sớm, vì nhờ lập được nhiều thành tích đàn áp, bắn giết các nghĩa quân, nên được Pháp rất tin cậy. Trần Bá Hựu làm chủ quận Long Thành, còn Trần Bá Tường ngồi quận tại Long Xuyên. Năm 1875, Trần Bá Tường tham gia vào cuộc càn quét nghĩa quân trong cuộc khởi nghĩa Làng Linh do Phó Quản Cơ Trần Văn Thành lãnh đạo. Pháp nhiều lần dụ hàng, đem quan chức ra làm mồi câu nhử, mua chuộc nhưng Trần Văn Thành khẳng khái:
Thà thua xuống láng, xuống bưng
Bỏ ra đầu giặc, lỗi chủng quân thần
Mỹ Tho Xưa
Trong trận nầy, Trần Bá Tường có người dọ thám trước, rồi tự mình dẫn một cánh quân, phối hợp với quân của Quản Hiếm (một người Việt theo Pháp) đánh úp đồn Bảy Thưa là bản doanh của lãnh tụ Trần Văn Thành. Khu vực này được tổ chức phòng thủ kiên cố, và tinh thần chiến đấu của binh sĩ rất cao. Từ đó về sau người ta không còn nghe nhắc tới Trần Bá Tường nữa.
Có một giai thoại về Trần Bá Thọ như sau:
"Tại Gia Định có một sĩ phu tên Nguyễn Văn Thạnh quê quán ở Định Tường, đậu khoá thi Hương (cử nhân) làm quan tại Bình Thuận. Ông Thạnh là một nhà Nho có khí tiết. Khi Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ , Cử Thạnh từ quan trở về tìm cách liên lạc với nghĩa quân để tham gia. Ghe bầu của ông vừa vào cửa Cần Giờ thì bị quân Pháp khám xét. Sau khi lục soát, chúng tìm được nhiều mã tấu, gươm giáo giấu dưới khoang hầm. Âm mưu bại lộ , Cử Thạnh bị bắt giải về Sài Gòn . Nghe tin, Tôn Thọ Tường tới xin bảo lãnh, mời về nhà đãi tiệc để dụ dỗ. Thạnh khẳng khái từ chối. Tường không dám ép mà chỉ nói:
- Nhân các hữu kỳ chí (Ai có chí hướng của người nấy)
Mấy tháng sau, Cử Thạnh về quê sống ẩn dật. Lúc nầy Trần Bá Lộc đã ngồi chủ quận Cái Bè, nghe danh Cử Thạnh nên mời ông ta về nhà làm gia khách dạy con là Trần Bá Thọ. Cha nào con nấy, Trần Bá Thọ tuy còn là học trò, nhưng cũng bộc lộ nhiều cử chỉ ngang ngạnh. Một hôm thấy thầy đồ Nguyễn Văn Thạnh rậm râu, hay hút thuốc, Trần Bá Tọ liền tới gần và nói:
- Thưa thầy, thầy có thể cho phép con ra một câu đối?
- Được, trò cứ làm trước .- Cử Thạnh trả lời.
Trần Bá Thọ liền đọc:
"Râu ba chòm lém dém, miệng hút thuốc phì phèo".
Nhìn lại thấy Thọ tuy còn nhỏ tuổi, nhưng đầu hói, tóc thưa, đi đâu cũng cầm ba-ton ra vẻ hống hách, nên Cử Thạnh ứng khẩu đối ngay:
"Tóc vài sợi le the, tay cầm gậy ngúc ngắc."
Chưa thoả mãn, Thọ xin thầy đối một câu nữa của hắn:
"Phụ từ, tử hiếu, sanh con thế ấy là vàng"
Bực mình, thấy đứa học trò ngạo mạn, Cử Thạnh liền đáp:
"Tham phú, phụ bần, đụ mẹ thằng nào ở bạc!"
Xấu hổ, từ đó Trần Bá Thọ không còn xấc láo với thầy học nữa.
Thành Phố Mỹ Tho
HUỲNH CÔNG TẤN
(1837-1874)
Trước năm 1945, phía trước nhà lồng chợ Gò Công có một tấm bia đá lớn của Pháp dựng lên để kỷ niệm một người Việt có công tận tụy với nước Pháp :"À la mémoire de Lãnh Binh Huỳnh Công Tấn, Chevalier de Légion d'honneur, fidèle serviteur de la France" (Tưởng nhớ Huỳnh Công Tấn, Lãnh Binh, Bắc Ðẩu Bội Tinh, công bộc trung thành với nước Pháp).

Ngày 9 tháng Ba năm 1945, Nhật đảo chánh Pháp. Dân chúng Gò Công phẩn uất, kéo tới đập phá tấm bia ấy để xoá tan dấu vết của thực dân.
Huỳnh Công Tấn là người quê quán tại Gò Công, sinh năm 1837 trong một gia đình nông dân ít học. Năm 1859 thành Gia Định thất thủ, Tấn mới 22 tuổi. Theo bức ảnh minh hoạ trong quyển sách :"Sự có mặt của người Pháp ở Nam Kỳ và Cam Bốt" nói trên thì Tấn có một dáng dấp rất khác biệt với Đỗ Hữu Phương hồi trai trẻ. Nếu Phương có dáng dấp một thư sinh thì Tấn là con người cục mịch, gương mặt thô, vuông, hằn lên nét đanh ác. Tấn mặc bộ đồ đen . Lúc Gia Định mới thất thủ, Tấn gia nhập hàng ngũ nghĩa quân chống Pháp, dưới quyền chủ tướng Trương Công Định. Ba năm sau, phòng tuyến Chí Hoà bị hạ, triều đình Huế ký Hàng Ước 1862 nhường 3 tỉnh Biên Hoà, Gia Định, Định Tường cho Pháp. Mất địa bàn kháng chiến, Trương Công Định dẫn quân về Gò Công, dựa vào địa thế hiểm trở vùng Vàm Láng ("đám lá tối trời") để tiếp tục kháng Pháp. Trong một cuộc hành quân vùng Gò Công, Tấn gạt binh sĩ, rồi bỏ trốn qua Tân An. May mắn cho Tấn, ở đây hắn gặp một người bạn cũ tên Nguyễn Hữu Nguơn, đã đầu thú Pháp, hướng dẫn Tấn về Sài Gòn trình diện.

Còn theo lời kể của cụ Nguyễn Văn Vực cho biết:"Tấn vốn đam mê đàn bà con gái, hay chọc ghẹo, nên bị chủ tướng Định cảnh cáo. Có lần Định tát tai Tấn về việc nầy, nên Tấn sanh tâm thù oán. Từ đó Tấn tìm dịp trốn đi ra hàng giặc". Một tài liệu khác nữa nói rằng:"Trong lúc hai bên giao chiến, Tấn bị Pháp bắt. Để đoái công chuộc tội, Tấn xin cung khai đầy đủ mọi việc quân thư của Trương Công Định". Tài liệu nầy do Vial, Giám Đốc Nội vụ ghi lại trong tập hồ sơ "Lãnh Binh Tấn ngày 31 tháng bảy 1869".
Để được Pháp tin cậy, Tấn ra tay dọ thám, chỉ điểm cho Pháp ruồng bố nghĩa quân. Chỉ một năm sau, Tấn lập được nhiều thành tích, Pháp cho Tấn làm đội trưởng.
Quê dốt, không tham vọng nhưng rất tàn ác, Tấn không từ bỏ một dịp may nào để tiến thân và làm giàu. Có quyền trong tay, Tấn bắt người tình nghi, đánh đập để khảo của. Tấn làm giàu bằng cách tổ chức sòng bạc, chiếm đất của các điền chủ bỏ chạy qua miền Tây lánh nạn. Đồng thời, Tấn bắt thường dân làm sưu cho mình. Chỉ trong 10 năm, Tấn trở thành một người giàu có nhứt Gò Công. Bằng cách cướp đoạt, Tấn có hàng ngàn mẫu ruộng. Tấn lập công với Pháp bằng cách đem quân qua Cần Giuộc bao vây, bắt được lãnh tụ nghĩa quân Bùi Duy Nhứt. Với thành công mới, Pháp phong cho Tấn chức Lãnh Binh, là chức quan đàng cựu, coi tất cả binh lính trong một tỉnh.
Có lẽ do lòng căm thù cá nhơn, Tấn coi nghĩa quân còn hơn kẻ thù, mặc tình bắt bớ, tra khảo, bắn giết không nương tay. Tấn làm nô bộc cho chủ Pháp rất hăng hái. Có lần Tấn dám chê bai Tham Biện Pháp là người bất tài vô dụng:"Bởi quan Tham Biện chúng tôi xưa nay là qua coi binh, chưa từng biết việc dân (hành chánh) cho nên việc quan làm thì làm bậy, nói thì chẳng thông lý sự, dường như kẻ ngu si dốt nát".
Giám Đốc Nội Vụ thấy Tấn lạm quyền quá đáng, muốn tìm cách đổi Tấn đi miền Đông, nhưng Tấn lại lập thêm nhiều công trạng mới, nên được giữ lại.
Người Pháp dùng Tấn như một tay sai đắc lực chớ không ưa Tấn. Trong một chuyến từ Gò Công về Sài Gòn bằng ghe bầu, Tấn bị bịnh và chết trên ghe, lúc mới 37 tuổi. Tấn có hai người con trai là Huỳnh Công Miêng và Huỳnh Công Viễn. Để nuôi dưỡng tay sai trung thành, Pháp cho Huỳnh Công Miêng qua pháp du học. Lúc về nước, Miêng theo Trần Bá Lộc đánh dẹp nhiều nơi. Sau đó Miêng chán nản, bỏ quan, trở thành một công tử ăn chơi khét tiếng miền Nam. Dân chúng gọi bằng "Cậu Hai Miêng". Cậu Hai sống theo kiểu giang hồ hảo hán, lưu linh miễn tử khắp Nam Kỳ. Mỗi lần hết tiền, Cậu Hai vào thăm các tham biện, chủ quận để hỏi tiền xài. Pháp nhớ công ơn cha cậu, nên cũng nể mặt, cho cậu ít nhiều. Cậu sống ngang tàng, không ai dám làm gì dù có phạm tội chút ít (Xin xem thêm "Nam Kỳ Lục Tỉnh" tập I).
Cậu Hai mất năm 1895, chôn ở Sài Gòn. Cuộc đời Cậu Hai Miêng được dân chúng thán phục, truyền tụng sâu rộng bằng nhiều tập thơ "Cậu Hai Miêng".
Trong quyển "Quốc Âm Hiệp Tuyển" của Lê Quang Chiếu (người Cần thơ) có bài thơ điếu Cậu Hai Miêng như sau:
"Số hệ ai làm hỡi cậu Miêng?
"Ba mươi tám tuổi, dõi huỳnh tuyền,
"Sao lờ Bến Nghé, xiêu người ngó,
"Khói toả Cầu Kho, thảm vợ hiền'
"Đứng bực phong lưu trời vội dứt,
"Những trang hào kiệt đất không kiêng
"Nhựt báo đòi nơi đã khắp truyền"
-Đi
dọc theo bờ sông một đoạn, chúng tôi rẽ trái hướng về nghĩa trang nằm
trong phạm vi đất thánh của nhà thờ thị trấn Cái Bè (Tiền Giang). Lọt
thỏm trong khu dân cư nhưng nghĩa trang buồn và hiu quạnh. Bên trong,
những ngôi mộ xếp thành hàng dài đầy rêu phong và hương tàn khói lạnh...
Ngôi mộ chôn đứng
Ở giữa những hàng mộ thẳng tắp đó, còn một bãi đất trống có 4 ngôi mộ được chôn liền kề. Hai mộ nằm sát nhau trên nền đất cao có rào sắt xung quanh. Tiếp đến, một ngôi mộ được xây dựng kiên cố có tấm bia bằng đá cẩm thạch. Duy chỉ có ngôi mộ còn lại chôn một cách khác thường, chôn đứng.
Những người dân ở thị trấn Cái Bè kể, theo lời ông bà truyền lại, ở miền Tây sông nước có 2 ngôi mộ chôn đứng. Ngôi mộ thứ nhất của một người con bất hiếu bị "trời trồng" giữa cánh đồng thuộc xã Khánh Hậu, tỉnh Long An.
Ngôi
mộ thứ 2 được chôn đứng theo lời trăng trối của người chết "chôn đứng
để chống mắt nhìn đời" đang sừng sững trước mắt chúng tôi - ngay trong
nghĩa trang này. Đó là mộ ông Trần Bá Lộc.
Sự thật về giai thoại này chưa được làm rõ chỉ có điều bia miệng về sự gian ác của Trần Bá Lộc để lại đến nay vẫn chưa hề mai một.
Trần Bá Lộc mất năm 1899. Thi hài người chết được quàn đúng 100 ngày để hàng ngày có người đến viếng, được đãi tiệc heo bò rôm rả. Lúc động quan có lính bồng súng dàn chào đưa tới huyệt.
Người dân Cái Bè không mặn mà với đám tang này bởi khi còn sống Trần Bá Lộc là tay sai cho Pháp và có quá nhiều tội ác với dân mình.
Trải
qua hàng trăm năm, những ngôi mộ trong nghĩa trang này trong đó đều là
những người thuộc dòng tộc của Trần Bá Lộc vẫn còn nguyên vẹn. Đôi mộ
trong hàng rào là của vợ chồng ông Trần Bá Phước - thân sinh thân mẫu
của Trần Bá Lộc.
Ngôi mộ nằm kế cận là của Trần Bá Thọ, con trai ông. Nhiều người dân xung quanh kể lại, hiện dòng họ tại Việt Nam không còn ai. Có năm vào dịp Tết, có người ở tận Mỹ Tho về thuê người quét dọn. Vì thế, mộ thì còn đó nhưng người dân không ai màng tới bởi những gì mà họ đã gây ra cho người dân nơi này mãi mãi không thể nào quên được.
Mộ Trần Bá Lộc chôn theo hình tháp. Bốn phía có 4 tấm bia đá ghi bằng chữ Pháp và chữ quốc ngữ. Trên tấm bia chính có dòng chữ: "Emmanuel Trần Bá Lộc, Tổng đốc Thuận Khánh, membre du Conseil Superieur de l'Indochine, Commandeur de la Legion d'Honneur. Sinh ở cù lao Giêng, tháng 2 năm 1839, mất ở Cái Bè, ngày 20 tháng 10, 1899".
Ở các tấm bia khác có ghi các chiến dịch ông đã tham gia như Mỹ Tho, Tháp Mười, Vĩnh Long, Cambodge, Sa Đéc, Cần Lố, Rạch Giá, Cai Lậy... Qua các chiến dịch này, Trần Bá Lộc tham gia hầu hết các cuộc đàn áp nghĩa binh ở miền Nam.
Ngoài ra, trên bia còn ghi các chức vụ ông đã trải qua trong đó có cao nhất là Tổng Đốc Thuận Khánh và các huy chương mà Pháp đã trao tặng ông mà nổi bậc nhất là Chevalier de la Legion d'Honneur (Bắc đẩu bội tinh).
Trần Bá Lộc - công và tội
Những năm đầu khi Pháp chiếm đóng miền Nam, phong trào Cần Vương nổi lên khắp nơi. Một trong những người theo chân giặc Pháp tàn sát dân tộc mình không ai khác hơn là Trần Bá Lộc.
Trần Bá Lộc (1839-1899) sinh tại Cù Lao Giêng (huyện Chợ Mới, An Giang) trong gia đình công giáo. Năm 1859, thời điểm Pháp tấn công Sài Gòn, ông tròn 20 tuổi. Hàng ngày ông chèo ghe từ cù lao Giêng đến Mỹ Tho bán cá cho Pháp.
Trong khoảng thời gian này, ông kết thân với giáo sĩ Marc rồi 2 năm sau ông chính thức làm việc cho Pháp với chức vụ cai mã tà đóng tại Chợ Gạo (Mỹ Tho).
Cuộc đời làm tay sai cho Pháp của Trần Bá Lộc hanh thông. Tháng 7/1865, ông được cử làm Tri huyện Kiến Phong và quận Cái Bè thuộc tỉnh Mỹ Tho. Nhờ đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa ở Nam Kỳ, Trần Bá Lộc được thăng các chức: Tri phủ (1867), Đốc phủ sứ (1868), Thuận Khánh tổng đốc (24/7/1886).
Trong Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim biên soạn năm 1919 có đoạn: "Trong khi thống đốc Paul Bert xếp đặt mọi việc ở Bắc Kỳ, thì ở Trung Kỳ quân Cần Vương ở các tỉnh vẫn đánh phá. Quân Pháp phải tìm cách mà đánh dẹp cho yên.
Ở mạn Bình Thuận, Phú Yên thì thiếu tá De Lorme và viên công sứ Aymonier cùng với Trần Bá Lộc đem lính Tây và lính ở Nam Kỳ ra đánh dẹp. Trần Bá Lộc dùng cách dữ dội, chém giết rất nhiều bởi vậy đất Bình Thuận không bao lâu mà yên.
Sau đó, Trần Bá Lộc đem quân ra dẹp đảng Văn Thân ở Phú Yên và Bình Định, bắt được cử nhân Mai Xuân Thưởng, Bùi Điền, Nguyễn Đức Nhuận đem chém. Từ tháng 6 năm Bính Tuất (1886) đến tháng 6 năm Đinh Hợi (1887), thì những tỉnh ở phía Nam đất Kinh kỳ đã dẹp yên".
Ông
Durrwell, một quan chức người Pháp, nhận xét về Trần Bá Lộc như sau:
"Lộc đàn áp dã man các cuộc khởi nghĩa, và thẳng tay dùng bạo lực để dẹp
các cuộc bạo động.
Dưới con mắt của người Pháp, Lộc là một trong những viên chức Việt Nam ra hợp tác đáng tín nhiệm nhất và là một thí dụ điển hình để những người Việt khác noi gương!".
Những năm cuối đời, Trần Bá Lộc mở thêm mấy con đường ở Cái Bè, đào 103 km kênh trong đó có con kênh dài 47 km nay trở thành ranh giới Vĩnh Long - Sa Đéc và nghiễm nhiêm mang tên kênh Tổng đốc Lộc (nay là kênh Dương Văn Dương).
Người Pháp đã thưởng công cấp cho ông 1.000 ha đất ở cù lao Năm Thôn và cù lao Rồng. Ông cũng đã tự khẩn hoang thêm được 750 ha đất và trở thành điền chủ lớn nhất của tỉnh Mỹ Tho.
Bên
cạnh những tội ác mà Trần Bá Lộc đã gây ra cho người dân Việt Nam, công
việc đào kênh và hệ thống kênh đào do ông tạo dựng đã đem lại lợi ích
to lớn cho cả vùng Đồng Tháp Mười.
Cũng chính nhờ vào hệ thống kênh đào này gồm con kênh chính giúp cho thuận lợi trong giao thương, 10 con kênh phụ dẫn nước tưới tiêu, xả phèn đã khiến cho người Pháp thay đổi quan điểm với Đồng Tháp Mười.
Từ đó, kênh được tiếp tục đào đem nhiều nguồn lợi đến cho bà con trong vùng.
Trần Chánh Nghĩa
Tổng Đốc TRẦN BÁ LỘC, Cánh Tay Phải Của Pháp
Trần Bá Lộc là một nhân vật lịch sử ít được ghi chép trong các tài liệu
chính sử, tuy nhiên ông ta lại là một nhân vật mấu chốt điển hình cho
vai trò một tay sai của Pháp, mà những việc làm của Trần Bá Lộc khiến
lịch sử chẳng thể dung tha
Phú Hộ Lừng Danh Đất Nam Kỳ - Giai thoại về Trần Bá Lộc
Trần Bá LộcGIAI THOẠI VỀ TỔNG ĐỐC TRẦN BÁ LỘC
(1838-1900)
Các bạn có biết trong tỉnh Mỹ Tho có hai ngôi mộ chôn đứng là của ai không ? Xin thưa rằng ngôi mộ thứ nhất của một người con bất hiếu bị "trời trồng" chôn trong xã Khánh Hậu, sau này thuộc tỉnh Long An. Ngôi mộ thứ hai là của Trần Bá Lộc, đi tàu gần tới Mỹ Tho thấy ngôi mộ sừng sững ở đầu ngã ba sông.
Trần Bá Lộc là một trong những người oán hận triều đình Huế chỉ vì gia đình ông có đạo, đã bị ngược đãi. Thân phụ Lộc là Trần Bá Phước, người Quảng Bình, đổ Tú Tài vào Nam lập nghiệp với tư cách một thầy đồ. Ban đầu cụ Phước dạy học tại Cái Nhum Rau Má (Vĩnh Long) sau đó đổi lên cù lao Giêng (Châu Đốc). Đây là các xứ đạo lâu đời nhờ vào vị trí khuất lấp với bên ngoài, nên các giáo sĩ vẫn lén lút truyền đạo. Trần Bá Lộc chào đời tại đây năm 1838, cuối đời vua Minh Mạng. Lớn lên nhằm lúc triều đình cho thi hành một chánh sách cấm đạo khắt khe vì sự khiêu khích của người Pháp. Nhiều cố đạo bị bắt giam, có vị bị hành quyết như Thánh Minh bị giết năm 1854 tại bến đò Đình Khao (Vĩnh Long). Nhiều tín đồ bị đánh đập tàn nhẫn buộc phải bỏ đạo. Có kẻ bị lưu đày. Thân phụ Lộc, cụ Trần Bá Phước bị bắt giam tại Châu Đốc một thời gian rồi đày đi Bình Định. Năm đó Lộc 16 tuổi. Bao nhiêu thù hận Lộc đổ trút lên đầu quan lại địa phương và triều đình Huế. Càng thương cha bao nhiêu, Lộc càng căm thù bấy nhiêu.
Theo nhận xét của người Pháp lúc còn học ở trường nhà dòng, người Pháp nhìn nhận rằng Lộc tỏ ra thông minh, có chí khí, học hành tiến bộ. Trong thời gian cha bị phát lưu tại Bình Định, giáo hội tiếp tục nuôi nấng và dạy dỗ Lộc. Mối cảm tình với thực dân phát sinh từ đó. Sau khi cưới vợ, một người có đạo Công giáo, được hơn một năm Lộc bị quan lại địa phương bắt bớ, đánh đập rồi giam luôn. Nhưng sau đó Lộc trốn thoát được. Lúc đó Pháp cũng vừa làm chủ tình thế ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, cần mua chuộc người bản xứ ra hợp tác. Khai thác hận thù trong tâm của Lộc, giáo hội khuyên Lộc nên gia nhập hàng ngũ Pháp để tránh bị trả thù. Lộc âm thầm đem gia đình lên Mỹ Tho, rồi nhờ một ông cố đạo gọi là cha Marc che chở để sống trong lãnh thổ của Pháp.
Cũng do sự tiến dẫn và giới thiệu của Marc, Lộc xin vào làm lính mã tà. Lộc lập nhiều thành tích nhờ dọ thám, điềm chỉ cho Pháp bắt các thân hào nhân sĩ ủng hộ nghĩa quân, nên Lộc được thăng Cai, rồi lên Đội rất nhanh. Năm sau, Lộc đã lập nghiệp vững chắc ở đây rồi, Pháp cấp cho Lộc một căn nhà lá, vợ thì nuôi heo kiếm thêm tiền. Từ đó, tiền bạc và địa vị của Lộc thăng tiến nhanh như diều gặp gió. Vốn có ác cảm với quan quân của triều đình, Lộc đàn áp các nghĩa quân không nới tay. Nhờ biểu lộ lòng trung thành với thực dân qua các vụ đánh dẹp, chém giết, lại biết chữ quốc ngữ, chữ Hán, cho nên mới 26 tuổi, Lộc được bổ làm tri huyện, tức chủ quận Cái Bè năm 1865. Lộc là người Việt Nam đầu tiên được Pháp bổ làm chủ quận Nam Kỳ. Hai năm sau, Lộc được thăng Đốc Phủ Sứ. Lúc nầy Lộc vừa đóng vai trò võ quan để bình định các cuộc khởi nghĩa cho Pháp, vừa giữ vai trò cố vấn cho Pháp về vấn đề an ninh lãnh thổ, hành chánh và chánh sách cai trị nữa.
Kinh nghiệm cho biết rằng hễ kẻ có tài hay tự phụ. Lộc không thoát khỏi thông lệ đó. Khi đã thăng phủ, vẫn còn ngồi ở quận Cái Bè, Lộc lấn quyền cả người Pháp. Lộc coi như mình có quyền hành trên những người Pháp đang phục vụ tại đây. Ông ta viết đơn gởi cho Giám Đốc Nội Vụ đề nghị thăng cấp cho người Pháp trong quận, và coi đó như nhiệm vụ của mình. Ngồi quận Cái Bè trong 30 năm, công lao hãn mã đã nhiều, mà vẫn không còn tiến thân được nữa, điều đó chứng tỏ người Pháp không thích ông và dùng người có giai đoạn. Những cuộc đánh dẹp trong Đồng Tháp Mười, Vũng Liêm, Cầu Ngang, Rạch Giá, Phú Quốc...có thể nói bất cứ cuộc khởi nghĩa nào ở Nam Kỳ cũng có Lộc dẫn quân đi đàn áp dã man.
Có một lần Lộc họp cùng Phủ Đức, ruồng bắt cuộc khởi nghĩa của Thủ Khoa Huân ở vùng Gò Công lên đến Chợ Gạo, khiến cho cọp, chồn, nai chạy tán loạn vào các thôn xóm. Khi ngồi chủ quận Cái Bè, mỗi lần báo cáo điều gì lên Thống Đốc Nam Kỳ, Lộc luôn luôn dùng chữ "Phụng lệnh quan lớn Nguyên Soái", nịnh bợ cấp trên hết lòng. Theo Lộc, nhà cầm quyền cần dạy dân chúng về luân lý, đạo đức của Pháp. Lộc nói người Công Giáo luôn luôn trung thành với Pháp, chỉ có các phần tử theo Nho giáo mới làm loạn.
Ông Durrwell nhận xét về Trần Bá Lộc như sau:"Lộc đàn áp dã man các cuộc khởi nghĩa, và thẳng tay dùng bạo lực để dẹp các cuộc bạo động. Dưới con mắt của người Pháp, Lộc là một trong những viên chức Việt Nam ra hợp tác đáng tín nhiệm nhứt, và là một thí dụ điển hình để những người Việt khác noi gương!"
Lộc chém giết các nghĩa quân dã man hơn cả người Pháp rất nhiều, nên dân chúng oán hận mà không làm gì được. Có một lần Lộc đi dự lễ khánh thành một nhà việc làng ở Mỹ Tho, bị ám sát, nhưng thoát chết. Để dẹp tan các cuộc khởi nghĩa và dụ hàng, Lộc bắt cha mẹ, vợ con các lãnh tụ phải chỉ chỗ họ ẩn núp, kêu họ ra đầu thú, nếu không đạt mục đích, Lộc sẵn sàng hạ sát họ. Đối với Lộc, phương tiện nào cũng tốt miễn đạt tới mục tiêu thì thôi.
Nhìn về nông thôn, theo báo cáo của Lộc với Thống Đốc Nam Kỳ, thì đó là một bức tranh ảm đạm:"Các viên chức làng xã thường thụt két, biển thủ tiền bạc để ăn xài riêng, hút á phiện và lạm dụng quyền hành. Mỗi khi bắt dân chúng làm sưu thì họ hàng với những người ấy được miễn, không ai dám kêu ca. Tiền bạc thâu góp trong các dịp lễ lạc, họ bỏ túi xài riêng". Lộc nói thêm:"Các món tiền trợ cấp cho dân quê đều vô túi mấy ông làng (Nên nhớ đây là tiền trợ cấp tử tuất cho gia đình những người lính đã theo Pháp bị tử trận). Khi trả lương cho họ, phải làm sổ sách hẳn hòi. Mỗi lần có lễ lạc như cúng đình là đóng góp tự nguyện, không bắt buộc. Sau cùng , làm sưu phải đồng đều". Với báo cáo đó, Lộc tỏ ra nắm vững tình hình ở thôn quê và am hiểu luật lệ hành chánh, vì lẽ đó nên Pháp rất tin cậy.
Ngôi Mộ Chôn ĐứngNăm 1886, Lộc được Pháp điều động ra Bình Định để đánh dẹp cuộc khởi nghĩa của Mai Xuân Thưởng. Xong việc, Lộc được thưởng Bắc Đẩu Bội Tinh và thăng hàm Tổng Đốc Thuận Khánh, nên dân chúng gọi ông là Tổng Đốc Lộc. Sau đó, Lộc về quê tại Cái Bè và Mỹ Tho. Lộc rất tự phụ, chê cả người Pháp là bất lực, kém hiểu biết tình hình địa phương. Cũng chính vì thế người Pháp không ưa ông ta, nhưng phải nhìn nhận rằng:"Lộc là người dùng phương tiện cẩu thả, nhưng đạt mục đích chắc chắn". Tham Biện Mỹ Tho phê bình Lộc như sau:"người ta có thể phàn nàn lão già nầy về hành động dã man lúc trước nhưng tôi nghĩ trong hàng ngũ viên chức bản xứ hiện nay, khó tìm được người biết kính bề trên và tận tụy với quyền lợi của nước Pháp như hắn". (Hồ sơ Trần Bá Lộc của Durrwell, năm 1931)
Toàn quyền Paul Doumer vào Nam nhiều lần. Lần nào ông ta cũng có xuống nhà thăm Lộc. Theo P.Doumer vào những năm cuối đời của ông ta, Lộc là một trong những người giàu nhứt ở Nam Kỳ. Trước khi chết, Lộc còn hơn hai ngàn mẫu ruộng và làm chủ cả cù lao Qưới Thiện. Để tưởng thưởng công lao hãn mã của Lộc, năm 1899, P.Doumer cho Lộc làm thành viên của phái đoàn, tháp tùng với P.Doumer viếng thăm Bangkok. Ân huệ đó làm cho Lộc rất hãnh diện. Ngoài ra P.Doumer còn cất nhắc Lộc trước khi chết được vào Hội Đồng Tối Cao Đông Dương, có nhiệm vụ lo về an ninh lãnh thổ.
Lộc mất năm 1900 trong sự lãnh đạm của Pháp lẫn Việt. Trước khi chết, Lộc dặn con phải chôn đứng. Đám ma của Lộc quàn đủ 100 ngày để khách khứa xa gần viếng thăm. Mỗi ngày đều có làm heo , bò đãi khách khứa rần rần. Lễ động quan có binh lính bắt súng chào và đưa tới huyệt. Lộc chết không ai tưởng nhớ, nhưng người Pháp cho lấy tên Lộc để đặt tên cho một con kinh từ Bà Bèo tới Rạch Ruộng do chính Lộc chỉ huy dân phu đào. Công việc đào kinh rất nặng nhọc, giữa đồng nhiều muỗi, vắt, đĩa và thiếu nước uống, khiến cho nhiều người chết vì bệnh sốt rét và dịch tả. Kinh Tổng Đốc Lộc đã góp phần làm cho vùng hai bên bờ kinh được phong phú.
GIAI THOẠI VỀ TRẦN BÁ THỌ
Phải chăng cây độc không trái, hay ít trái, nên Trần Bá Lộc chỉ có một người con duy nhứt là Trần Bá Thọ. Theo cuốn"Sự có mặt của người Pháp ở Nam Kỳ và Cam Bốt" thì từ năm 1886 trở đi Nam Kỳ đã bắt đầu gởi người du học qua Pháp. Bốn năm sau số du học sinh lên đến 90 người . Thọ là một trong những người du học đầu tiên đó, cùng với Huỳnh Công Miêng con Lãnh Binh Huỳnh Công Tấn (1). Thọ và người chú ruột là Trần Bá Hữu theo học trường Laseyne ở Pháp. Những người đi Pháp học trong buổi đầu không phải để lấy bằng cấp, mà chỉ học chữ Pháp đủ sức làm thông ngôn, giao dịch với Pháp mà thôi.
Cầu Rạch MiểuSau khi ở Pháp về, Trần Bá Thọ vừa làm Hội Đồng Quản Hạt Nam Kỳ, vừa lo quản lý ruộng đất khổng lồ của cha để lại. Cũng giống như cha, khi ra làm việc với Pháp, Thọ vẫn nóng tánh, hay có những ý kiến trái ngược với quyền lợi của Pháp. Trần Bá Thọ có một người con gái gả cho con trai út của cụ Trương Vĩnh Ký là Trương Vĩnh Tống. Trong thời gian làm hội đồng, Trần Bá Thọ có nhiều hoạt động đáng lưu ý.
Trước hết, trong các phiên họp hội đồng, Thọ đưa ra nhận xét:"Vai trò cai tổng trong mỗi quận rất quan trọng, nhờ họ làm trung gian truyền lệnh từ quận xuống xã, và đốc xuất việc thâu thuế. Cai tổng do các làng bầu ra, nhưng phải được nhà cầm quyền cấp tỉnh hợp thức hóa. Mỗi cai tổng có phó tổng phụ tá. Thọ nói tìm và bổ nhiệm một cai tổng có khả năng không phải dễ, và Thọ cũng phàn nàn lương cai tổng quá thấp, nên khó kiếm người có khả năng, mà còn làm cho họ tham nhũng, hối lộ. Còn các ông làng, mỗi lần đi công tác lên tỉnh, lên quận mất nhiều ngày mà không có công tác phí, khiến họ phải ăn hối lộ".
Bến Mỹ ThoTrong một phiên họp hội đồng, Thọ nêu ý kiến báo chí sẽ tường thuật các phiên họp ấy cho dân chúng biết. Viên Thống Đốc Nam Kỳ chủ tọa trả lời rằng:
"Me-sừ Thọ rất thông minh, nhưng không hiểu biết nội bộ. Nếu cho dân chúng biết mọi cuộc thảo luận của Hội Đồng Quản Hạt, chúng ta sẽ khó đạt mục đích. Cần phải giấu họ."
Đã từng nghe dân chúng phàn nàn về việc làm của cha trước đây nên vào năm 1908, Trần Bá Thọ cho xuất bản quyển:"Nhị Thập Tứ Hiếu" bằng Pháp văn và Quốc ngữ để giáo dục dân chúng về luân lý, đạo đức của Nho giáo. Trong lời tựa sách, Thọ viết:
"người Việt không kính trọng các kẻ hợp tác với Pháp và nói tiếng Pháp vì họ bị cô lập không nói được tiếng ấy và cũng không được giáo dục nữa."
Trước kia, Lộc đã từng chủ trương dạy chữ Quốc ngữ cho người Công giáo . Thọ nói rằng vì thiếu sách nên ông phải soạn ra. Lập luận này bị ông Diệp Văn Cương không tán thành bằng cách nói rằng không có lý do gì mà không dạy Nho giáo bằng Pháp văn, trong khi tiếng Pháp chính là công cụ để khai hoá. Còn Hội Đồng Lê Văn Phát thì cho rằng cần duy trì tiếng Pháp để người Pháp hiểu sinh hoạt, lịch sử Nam Kỳ mà họ đang cai trị. Trong khi đó, Giám Mục Mossand phàn nàn nhờ hấp thụ văn hoá Pháp do nhu cầu cai trị, mà một số người tỏ ra ít trung thành với Pháp. Ông Diệp Văn Cương, du học Pháp, đổ Tú Tài 2, về làm Hội Đồng đã phản đối:
"Lời tuyên bố xuất phát từ một vị đứng đầu Giáo Hội Truyền Giáo Nam Kỳ như một sự tố cáo tất cả người Việt du học bên Pháp đều chống lại Pháp, trong đó có tôi chẳng hạn. Điều đó không đúng."
Dư luận Nam Kỳ cho rằng Trần Bá Thọ giống cha, lúc làm Hội Đồng dám ăn nói, tỏ ra cứng đầu, không nể nang ai hết. Về sau Thọ quy dân lập ấp, xây chợ, cất nhà ở Sa Đéc, lúc ấy thuộc phủ Tân Thành, nơi Lộc từng trấn nhậm và có rất nhiều đất đai. Dân chúng Sa Đéc còn nhắc đến Trần Bá Thọ bằng hai câu liễn đối:
Tân thị Mỹ Thành, chánh bổ Lục na sáng tạo
Quy dân lạc lợi, Hùng đường, Trần Bá Thọ kinh dinh
Về sau, không biết buồn việc gia đình ra sao, Thọ dùng súng lục tự tử.
Chùa Vĩnh TràngTrần Bá Lộc còn hai người em trai khác là Trần Bá Tường và Trần Bá Hựu. Cả hai đều ra cộng tác với Pháp rất sớm, vì nhờ lập được nhiều thành tích đàn áp, bắn giết các nghĩa quân, nên được Pháp rất tin cậy. Trần Bá Hựu làm chủ quận Long Thành, còn Trần Bá Tường ngồi quận tại Long Xuyên. Năm 1875, Trần Bá Tường tham gia vào cuộc càn quét nghĩa quân trong cuộc khởi nghĩa Làng Linh do Phó Quản Cơ Trần Văn Thành lãnh đạo. Pháp nhiều lần dụ hàng, đem quan chức ra làm mồi câu nhử, mua chuộc nhưng Trần Văn Thành khẳng khái:
Thà thua xuống láng, xuống bưng
Bỏ ra đầu giặc, lỗi chủng quân thần
Mỹ Tho Xưa Trong trận nầy, Trần Bá Tường có người dọ thám trước, rồi tự mình dẫn một cánh quân, phối hợp với quân của Quản Hiếm (một người Việt theo Pháp) đánh úp đồn Bảy Thưa là bản doanh của lãnh tụ Trần Văn Thành. Khu vực này được tổ chức phòng thủ kiên cố, và tinh thần chiến đấu của binh sĩ rất cao. Từ đó về sau người ta không còn nghe nhắc tới Trần Bá Tường nữa.
Có một giai thoại về Trần Bá Thọ như sau:
"Tại Gia Định có một sĩ phu tên Nguyễn Văn Thạnh quê quán ở Định Tường, đậu khoá thi Hương (cử nhân) làm quan tại Bình Thuận. Ông Thạnh là một nhà Nho có khí tiết. Khi Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ , Cử Thạnh từ quan trở về tìm cách liên lạc với nghĩa quân để tham gia. Ghe bầu của ông vừa vào cửa Cần Giờ thì bị quân Pháp khám xét. Sau khi lục soát, chúng tìm được nhiều mã tấu, gươm giáo giấu dưới khoang hầm. Âm mưu bại lộ , Cử Thạnh bị bắt giải về Sài Gòn . Nghe tin, Tôn Thọ Tường tới xin bảo lãnh, mời về nhà đãi tiệc để dụ dỗ. Thạnh khẳng khái từ chối. Tường không dám ép mà chỉ nói:
- Nhân các hữu kỳ chí (Ai có chí hướng của người nấy)
Mấy tháng sau, Cử Thạnh về quê sống ẩn dật. Lúc nầy Trần Bá Lộc đã ngồi chủ quận Cái Bè, nghe danh Cử Thạnh nên mời ông ta về nhà làm gia khách dạy con là Trần Bá Thọ. Cha nào con nấy, Trần Bá Thọ tuy còn là học trò, nhưng cũng bộc lộ nhiều cử chỉ ngang ngạnh. Một hôm thấy thầy đồ Nguyễn Văn Thạnh rậm râu, hay hút thuốc, Trần Bá Tọ liền tới gần và nói:
- Thưa thầy, thầy có thể cho phép con ra một câu đối?
- Được, trò cứ làm trước .- Cử Thạnh trả lời.
Trần Bá Thọ liền đọc:
"Râu ba chòm lém dém, miệng hút thuốc phì phèo".
Nhìn lại thấy Thọ tuy còn nhỏ tuổi, nhưng đầu hói, tóc thưa, đi đâu cũng cầm ba-ton ra vẻ hống hách, nên Cử Thạnh ứng khẩu đối ngay:
"Tóc vài sợi le the, tay cầm gậy ngúc ngắc."
Chưa thoả mãn, Thọ xin thầy đối một câu nữa của hắn:
"Phụ từ, tử hiếu, sanh con thế ấy là vàng"
Bực mình, thấy đứa học trò ngạo mạn, Cử Thạnh liền đáp:
"Tham phú, phụ bần, đụ mẹ thằng nào ở bạc!"
Xấu hổ, từ đó Trần Bá Thọ không còn xấc láo với thầy học nữa.
Thành Phố Mỹ ThoHUỲNH CÔNG TẤN
(1837-1874)
Trước năm 1945, phía trước nhà lồng chợ Gò Công có một tấm bia đá lớn của Pháp dựng lên để kỷ niệm một người Việt có công tận tụy với nước Pháp :"À la mémoire de Lãnh Binh Huỳnh Công Tấn, Chevalier de Légion d'honneur, fidèle serviteur de la France" (Tưởng nhớ Huỳnh Công Tấn, Lãnh Binh, Bắc Ðẩu Bội Tinh, công bộc trung thành với nước Pháp).

Ngày 9 tháng Ba năm 1945, Nhật đảo chánh Pháp. Dân chúng Gò Công phẩn uất, kéo tới đập phá tấm bia ấy để xoá tan dấu vết của thực dân.
Huỳnh Công Tấn là người quê quán tại Gò Công, sinh năm 1837 trong một gia đình nông dân ít học. Năm 1859 thành Gia Định thất thủ, Tấn mới 22 tuổi. Theo bức ảnh minh hoạ trong quyển sách :"Sự có mặt của người Pháp ở Nam Kỳ và Cam Bốt" nói trên thì Tấn có một dáng dấp rất khác biệt với Đỗ Hữu Phương hồi trai trẻ. Nếu Phương có dáng dấp một thư sinh thì Tấn là con người cục mịch, gương mặt thô, vuông, hằn lên nét đanh ác. Tấn mặc bộ đồ đen . Lúc Gia Định mới thất thủ, Tấn gia nhập hàng ngũ nghĩa quân chống Pháp, dưới quyền chủ tướng Trương Công Định. Ba năm sau, phòng tuyến Chí Hoà bị hạ, triều đình Huế ký Hàng Ước 1862 nhường 3 tỉnh Biên Hoà, Gia Định, Định Tường cho Pháp. Mất địa bàn kháng chiến, Trương Công Định dẫn quân về Gò Công, dựa vào địa thế hiểm trở vùng Vàm Láng ("đám lá tối trời") để tiếp tục kháng Pháp. Trong một cuộc hành quân vùng Gò Công, Tấn gạt binh sĩ, rồi bỏ trốn qua Tân An. May mắn cho Tấn, ở đây hắn gặp một người bạn cũ tên Nguyễn Hữu Nguơn, đã đầu thú Pháp, hướng dẫn Tấn về Sài Gòn trình diện.

Còn theo lời kể của cụ Nguyễn Văn Vực cho biết:"Tấn vốn đam mê đàn bà con gái, hay chọc ghẹo, nên bị chủ tướng Định cảnh cáo. Có lần Định tát tai Tấn về việc nầy, nên Tấn sanh tâm thù oán. Từ đó Tấn tìm dịp trốn đi ra hàng giặc". Một tài liệu khác nữa nói rằng:"Trong lúc hai bên giao chiến, Tấn bị Pháp bắt. Để đoái công chuộc tội, Tấn xin cung khai đầy đủ mọi việc quân thư của Trương Công Định". Tài liệu nầy do Vial, Giám Đốc Nội vụ ghi lại trong tập hồ sơ "Lãnh Binh Tấn ngày 31 tháng bảy 1869".
Để được Pháp tin cậy, Tấn ra tay dọ thám, chỉ điểm cho Pháp ruồng bố nghĩa quân. Chỉ một năm sau, Tấn lập được nhiều thành tích, Pháp cho Tấn làm đội trưởng.
Quê dốt, không tham vọng nhưng rất tàn ác, Tấn không từ bỏ một dịp may nào để tiến thân và làm giàu. Có quyền trong tay, Tấn bắt người tình nghi, đánh đập để khảo của. Tấn làm giàu bằng cách tổ chức sòng bạc, chiếm đất của các điền chủ bỏ chạy qua miền Tây lánh nạn. Đồng thời, Tấn bắt thường dân làm sưu cho mình. Chỉ trong 10 năm, Tấn trở thành một người giàu có nhứt Gò Công. Bằng cách cướp đoạt, Tấn có hàng ngàn mẫu ruộng. Tấn lập công với Pháp bằng cách đem quân qua Cần Giuộc bao vây, bắt được lãnh tụ nghĩa quân Bùi Duy Nhứt. Với thành công mới, Pháp phong cho Tấn chức Lãnh Binh, là chức quan đàng cựu, coi tất cả binh lính trong một tỉnh.
Có lẽ do lòng căm thù cá nhơn, Tấn coi nghĩa quân còn hơn kẻ thù, mặc tình bắt bớ, tra khảo, bắn giết không nương tay. Tấn làm nô bộc cho chủ Pháp rất hăng hái. Có lần Tấn dám chê bai Tham Biện Pháp là người bất tài vô dụng:"Bởi quan Tham Biện chúng tôi xưa nay là qua coi binh, chưa từng biết việc dân (hành chánh) cho nên việc quan làm thì làm bậy, nói thì chẳng thông lý sự, dường như kẻ ngu si dốt nát".
Giám Đốc Nội Vụ thấy Tấn lạm quyền quá đáng, muốn tìm cách đổi Tấn đi miền Đông, nhưng Tấn lại lập thêm nhiều công trạng mới, nên được giữ lại.
Người Pháp dùng Tấn như một tay sai đắc lực chớ không ưa Tấn. Trong một chuyến từ Gò Công về Sài Gòn bằng ghe bầu, Tấn bị bịnh và chết trên ghe, lúc mới 37 tuổi. Tấn có hai người con trai là Huỳnh Công Miêng và Huỳnh Công Viễn. Để nuôi dưỡng tay sai trung thành, Pháp cho Huỳnh Công Miêng qua pháp du học. Lúc về nước, Miêng theo Trần Bá Lộc đánh dẹp nhiều nơi. Sau đó Miêng chán nản, bỏ quan, trở thành một công tử ăn chơi khét tiếng miền Nam. Dân chúng gọi bằng "Cậu Hai Miêng". Cậu Hai sống theo kiểu giang hồ hảo hán, lưu linh miễn tử khắp Nam Kỳ. Mỗi lần hết tiền, Cậu Hai vào thăm các tham biện, chủ quận để hỏi tiền xài. Pháp nhớ công ơn cha cậu, nên cũng nể mặt, cho cậu ít nhiều. Cậu sống ngang tàng, không ai dám làm gì dù có phạm tội chút ít (Xin xem thêm "Nam Kỳ Lục Tỉnh" tập I).
Cậu Hai mất năm 1895, chôn ở Sài Gòn. Cuộc đời Cậu Hai Miêng được dân chúng thán phục, truyền tụng sâu rộng bằng nhiều tập thơ "Cậu Hai Miêng".
Trong quyển "Quốc Âm Hiệp Tuyển" của Lê Quang Chiếu (người Cần thơ) có bài thơ điếu Cậu Hai Miêng như sau:
"Số hệ ai làm hỡi cậu Miêng?
"Ba mươi tám tuổi, dõi huỳnh tuyền,
"Sao lờ Bến Nghé, xiêu người ngó,
"Khói toả Cầu Kho, thảm vợ hiền'
"Đứng bực phong lưu trời vội dứt,
"Những trang hào kiệt đất không kiêng
"Nhựt báo đòi nơi đã khắp truyền"

Bí ẩn giai thoại 'ngôi mộ chôn đứng' của Tổng đốc khét tiếng Nam bộ
26/08/2017 04:00 GMT+7
Ngôi mộ chôn đứng
Ở giữa những hàng mộ thẳng tắp đó, còn một bãi đất trống có 4 ngôi mộ được chôn liền kề. Hai mộ nằm sát nhau trên nền đất cao có rào sắt xung quanh. Tiếp đến, một ngôi mộ được xây dựng kiên cố có tấm bia bằng đá cẩm thạch. Duy chỉ có ngôi mộ còn lại chôn một cách khác thường, chôn đứng.
Những người dân ở thị trấn Cái Bè kể, theo lời ông bà truyền lại, ở miền Tây sông nước có 2 ngôi mộ chôn đứng. Ngôi mộ thứ nhất của một người con bất hiếu bị "trời trồng" giữa cánh đồng thuộc xã Khánh Hậu, tỉnh Long An.
| Mộ đứng của Trần Bá Lộc |
Sự thật về giai thoại này chưa được làm rõ chỉ có điều bia miệng về sự gian ác của Trần Bá Lộc để lại đến nay vẫn chưa hề mai một.
Trần Bá Lộc mất năm 1899. Thi hài người chết được quàn đúng 100 ngày để hàng ngày có người đến viếng, được đãi tiệc heo bò rôm rả. Lúc động quan có lính bồng súng dàn chào đưa tới huyệt.
Người dân Cái Bè không mặn mà với đám tang này bởi khi còn sống Trần Bá Lộc là tay sai cho Pháp và có quá nhiều tội ác với dân mình.
| Tấm bia chính ở mặt trước ngôi mộ. |
Ngôi mộ nằm kế cận là của Trần Bá Thọ, con trai ông. Nhiều người dân xung quanh kể lại, hiện dòng họ tại Việt Nam không còn ai. Có năm vào dịp Tết, có người ở tận Mỹ Tho về thuê người quét dọn. Vì thế, mộ thì còn đó nhưng người dân không ai màng tới bởi những gì mà họ đã gây ra cho người dân nơi này mãi mãi không thể nào quên được.
Mộ Trần Bá Lộc chôn theo hình tháp. Bốn phía có 4 tấm bia đá ghi bằng chữ Pháp và chữ quốc ngữ. Trên tấm bia chính có dòng chữ: "Emmanuel Trần Bá Lộc, Tổng đốc Thuận Khánh, membre du Conseil Superieur de l'Indochine, Commandeur de la Legion d'Honneur. Sinh ở cù lao Giêng, tháng 2 năm 1839, mất ở Cái Bè, ngày 20 tháng 10, 1899".
Ở các tấm bia khác có ghi các chiến dịch ông đã tham gia như Mỹ Tho, Tháp Mười, Vĩnh Long, Cambodge, Sa Đéc, Cần Lố, Rạch Giá, Cai Lậy... Qua các chiến dịch này, Trần Bá Lộc tham gia hầu hết các cuộc đàn áp nghĩa binh ở miền Nam.
Ngoài ra, trên bia còn ghi các chức vụ ông đã trải qua trong đó có cao nhất là Tổng Đốc Thuận Khánh và các huy chương mà Pháp đã trao tặng ông mà nổi bậc nhất là Chevalier de la Legion d'Honneur (Bắc đẩu bội tinh).
Trần Bá Lộc - công và tội
Những năm đầu khi Pháp chiếm đóng miền Nam, phong trào Cần Vương nổi lên khắp nơi. Một trong những người theo chân giặc Pháp tàn sát dân tộc mình không ai khác hơn là Trần Bá Lộc.
Trần Bá Lộc (1839-1899) sinh tại Cù Lao Giêng (huyện Chợ Mới, An Giang) trong gia đình công giáo. Năm 1859, thời điểm Pháp tấn công Sài Gòn, ông tròn 20 tuổi. Hàng ngày ông chèo ghe từ cù lao Giêng đến Mỹ Tho bán cá cho Pháp.
Trong khoảng thời gian này, ông kết thân với giáo sĩ Marc rồi 2 năm sau ông chính thức làm việc cho Pháp với chức vụ cai mã tà đóng tại Chợ Gạo (Mỹ Tho).
Cuộc đời làm tay sai cho Pháp của Trần Bá Lộc hanh thông. Tháng 7/1865, ông được cử làm Tri huyện Kiến Phong và quận Cái Bè thuộc tỉnh Mỹ Tho. Nhờ đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa ở Nam Kỳ, Trần Bá Lộc được thăng các chức: Tri phủ (1867), Đốc phủ sứ (1868), Thuận Khánh tổng đốc (24/7/1886).
Trong Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim biên soạn năm 1919 có đoạn: "Trong khi thống đốc Paul Bert xếp đặt mọi việc ở Bắc Kỳ, thì ở Trung Kỳ quân Cần Vương ở các tỉnh vẫn đánh phá. Quân Pháp phải tìm cách mà đánh dẹp cho yên.
Ở mạn Bình Thuận, Phú Yên thì thiếu tá De Lorme và viên công sứ Aymonier cùng với Trần Bá Lộc đem lính Tây và lính ở Nam Kỳ ra đánh dẹp. Trần Bá Lộc dùng cách dữ dội, chém giết rất nhiều bởi vậy đất Bình Thuận không bao lâu mà yên.
Sau đó, Trần Bá Lộc đem quân ra dẹp đảng Văn Thân ở Phú Yên và Bình Định, bắt được cử nhân Mai Xuân Thưởng, Bùi Điền, Nguyễn Đức Nhuận đem chém. Từ tháng 6 năm Bính Tuất (1886) đến tháng 6 năm Đinh Hợi (1887), thì những tỉnh ở phía Nam đất Kinh kỳ đã dẹp yên".
| Trần Bá Lộc (ảnh tư liệu) |
Dưới con mắt của người Pháp, Lộc là một trong những viên chức Việt Nam ra hợp tác đáng tín nhiệm nhất và là một thí dụ điển hình để những người Việt khác noi gương!".
Những năm cuối đời, Trần Bá Lộc mở thêm mấy con đường ở Cái Bè, đào 103 km kênh trong đó có con kênh dài 47 km nay trở thành ranh giới Vĩnh Long - Sa Đéc và nghiễm nhiêm mang tên kênh Tổng đốc Lộc (nay là kênh Dương Văn Dương).
Người Pháp đã thưởng công cấp cho ông 1.000 ha đất ở cù lao Năm Thôn và cù lao Rồng. Ông cũng đã tự khẩn hoang thêm được 750 ha đất và trở thành điền chủ lớn nhất của tỉnh Mỹ Tho.
| Dãy mộ ở giữa nghĩa trang theo thứ tự mộ Trần Bá Lộc, mộ Trần Bá Thọ và vợ chồng Trần Bá Phước (trong hàng rào sắt). |
Cũng chính nhờ vào hệ thống kênh đào này gồm con kênh chính giúp cho thuận lợi trong giao thương, 10 con kênh phụ dẫn nước tưới tiêu, xả phèn đã khiến cho người Pháp thay đổi quan điểm với Đồng Tháp Mười.
Từ đó, kênh được tiếp tục đào đem nhiều nguồn lợi đến cho bà con trong vùng.
Trần Chánh Nghĩa
Nghiệt ngã đời hậu duệ chủ ngôi mộ chôn đứng
Thứ Tư, 26/6/2013 06:56 GMT+7
Về đường quan lộ, dù cũng nối gót
cha nhiều năm làm quận trưởng Cái Bè, theo dõi tố cáo làm tan
rã phong trào Minh Tân đang phát triển rầm rộ ở Nam Kỳ, nhưng do
thói hoang dâm vô độ, ỷ thế cậy quyền bắt cướp và hiếp cô dâu
ngay trong ngày cưới, con trai Trần Bá Lộc là Trần Bá Thọ đã
bị tước hết chức quyền, bị bắt còng như một tên vô lại. Tủi
hổ, khi được tại ngoại, Thọ đã bắn vào đầu tự sát.
[links()]Trần Bá Lộc
cao ngạo đòi chôn đứng để “chống mắt nhìn đời”. Theo luật nhân
quả, Lộc sẽ "nhìn thấy" được gì?. 10 năm sau khi chết, Lộc
"nhìn thấy" đứa con duy nhất của mình thừa kế bản tính tàn
ác, cao ngạo của cha, dù không ăn chơi hoang phí nhưng tính toán
sai lầm và đã phá tan gia gia sản hơn 2.000 mẫu đất và cả cù
lao Ngũ Hiệp...
Về đường quan lộ,
dù cũng nối gót cha nhiều năm làm quận trưởng Cái Bè, theo dõi
tố cáo làm tan rã phong trào Minh Tân đang phát triển rầm rộ ở
Nam Kỳ, nhưng do thói hoang dâm vô độ, ỷ thế cậy quyền bắt cướp
và hiếp cô dâu ngay trong ngày cưới, con trai Trần Bá Lộc là
Trần Bá Thọ đã bị tước hết chức quyền, bị bắt còng như một
tên vô lại. Tủi hổ, khi được tại ngoại, Thọ đã bắn vào đầu
tự sát.
| Ngôi mộ Trần Bá Thọ (thấp) bên cạnh ngôi mộ chôn đứng của Trần Bá Lộc. |
Cây độc sinh trái độc
Trần Bá Lộc chỉ có một
người con duy nhứt là Trần Bá Thọ. Ngay từ nhỏ tính tình Thọ đã
cao ngạo hống hách và chính tính cách này đã phá nát cơ
nghiệp và cuộc đời của Thọ. Có một giai thoại về Thọ lúc
còn nhỏ như sau:
Một nhà nho khí tiết
tên Nguyễn Văn Thạnh, quê quán ở Định Tường, đậu khoá thi Hương (cử
nhân) ở Gia Định làm quan tại Bình Thuận. Khi Pháp chiếm 3 tỉnh miền
Đông Nam Kỳ , Cử Thạnh từ quan, về quê sống ẩn dật.
Lúc nầy Trần Bá Lộc là
chủ quận Cái Bè, nghe danh Cử Thạnh nên mời ông ta về nhà làm gia khách
dạy chữ nho cho Trần Bá Thọ. Một hôm thấy thầy Cử Thạnh rậm râu, hay
hút thuốc, Trần Bá Thọ ra câu đối châm chọc:
"Râu ba chòm lém dém, miệng hút thuốc phì phèo".
Nhìn lại thấy Thọ tuy
còn nhỏ tuổi, nhưng đầu hói, tóc thưa, đi đâu cũng cầm ba - ton ra vẻ
hống hách, nên thầy giáo ứng khẩu đối ngay:
"Tóc vài sợi le the, tay cầm gậy ngúc ngắc".
Câu đối của thầy cử
Thạnh rất hiểm, nghĩa đen chỉ hình dáng của Thọ, nhưng nghĩa
bóng có thể hình dung là bộ sinh dục của đàn ông. Bị một vố
đau nhưng Thọ chưa thoả mãn, ra thêm một câu đối nữa mang thâm ý khoe
khoang thân thế quan chức của cha mình:
"Phụ từ, tử hiếu, sanh con thế ấy là vàng"
Bực mình, thấy đứa học trò ngạo mạn, thầy giáo đốp thẳng vô mặt Thọ:
"Tham phú, phụ bần, đụ mẹ thằng nào ở bạc!"
Độc ác không thua
cha, nhưng Thọ thâm hiểm hơn, một mặt y rình mò theo dõi các
hoạt động yêu nước của người Việt ở Nam Kỳ, một mặt lại giả
danh những hoạt động văn hóa.
Để thể hiện mình
cũng có văn hóa, Thọ mướn người dịch và đứng tên xuất bản quyển
“Nhị thập tứ hiếu" bằng Pháp văn và Quốc ngữ để giáo dục dân chúng về
luân lý, đạo đức của Nho giáo.
Trong lời tựa sách, Thọ
viết "người Việt không kính trọng các kẻ hợp tác với Pháp và nói tiếng
Pháp vì họ bị cô lập không nói được tiếng ấy và cũng không được giáo dục
nữa".
Nhưng thực ra đây là
một quyển sách cổ hủ, cổ súy cho quan niệm hiếu thảo man rợ
như Quách Cự chôn con để bớt miệng ăn nhường cơm cho mẹ, Vương
Tường nằm trên băng chờ bắt cá chép cho vui lòng mẹ ghẻ… Trần
Chánh Chiếu khinh bỉ Thọ, gọi mỉa mai là "Phước Tân" (Phước Tân có
nghĩa là cháu ông Phước con ông Lộc, nhưng lại có nghĩa theo diện số đề
36 hoặc 40 thì là "con chó") và nói thẳng là hãy bán hết tài sản
làm từ thiện để chuộc lại tội ác.
Sự nghiệp tan tành vì cưỡng hiếp cô dâu trong đám cưới
Cũng giả dạng theo
nghiệp Minh Tân, Trần Bá Thọ quy dân lập ấp, xây chợ, cất nhà ở Sa
Đéc, nơi cha con Thọ có rất nhiều đất đai để kiếm thêm tư lợi xây
dựng cơ ngơi điền sản rất lớn. Dân chúng Sa Đéc vạch trần việc
lợi dụng chuyện nhân danh công ích để làm giàu riêng bằng hai
câu đối:
“Tân thị Mỹ Thành, chánh bổ Lục na sáng tạo
Quy dân lạc lợi, Hùng đường, Trần Bá Thọ kinh dinh”
Phẫn uất trước sự
bóc lột tàn nhẩn của Thọ, nông dân, tá điền Sa Đéc đã nổi
dậy đốt cháy toàn bộ dinh cơ và lúa thóc dự trữ ở đây.
Khi làm tri phủ quận
Tân Bình, Sa Đéc, quen thói tàn bạo và đa dâm, Thọ hay bắt con gái mà
cưỡng bức. Lúc này chí sĩ Đặng Thúc Liêng, một thành viên tích
cực của nhóm Minh Tân, là bạn chí thân của Trần Chánh Chiếu
vừa ra tù (bị bắt trong vụ Minh Tân) về quê vợ ở tại làng Tân Qui
Đông tỉnh Sa Đéc mở phòng mạch đông y trị bệnh.
Ông Liêng là học trò
của hai ông Phan Tôn, Phan Liêm (con cụ Phan Thanh Giản) vốn nổi
tiếng giỏi cả chữ nho, tiếng Pháp nên được chủ tỉnh Sa Đéc là
André Mast mời dạy chữ nho và được chủ tỉnh tin cậy, nể trọng.
Ngày nọ, nghe tin Trần
Bá Thọ cưỡng đoạt cô dâu giữa tiệc cưới ở làng Tân Dương, ông Đặng
Thúc Liêng yêu cầu tham biện Mast gởi công điện về phủ Thống đốc Nam Kỳ
mời một thanh tra Pháp xuống điều tra.
Vừa hỏi xong khẩu cung
của Thọ, thanh tra ra lệnh ngưng chức và giam Thọ như một tên tội phạm
hèn mạt. Những Việt gian bạn bè Trần Bá Lộc kể lể công lao của
Lộc trước đây để xin cứu Thọ nhưng André Mast và các quan chức
Pháp thuộc phái Xã hội đã quyết liệt yêu cầu phải xử nghiêm
để làm trong sạch bộ máy. Thọ bị giải về Sài Gòn, giam vài tháng
rồi bị cách chức.
Tan tành tham vọng làm lãnh chúa Cù Lao Ngũ Hiệp
Một bài báo gần đây
có bài viết về Trần Bá Thọ, trong đó có câu chuyện giành gái với
quan tham biện Vĩnh Long như sau: “Trong một cuộc đua trâu với gã Tây
chủ cù lao 5 thôn, Thọ chợt nhìn thấy một cô gái con thầy thuốc bắc, và
mê.
Nhưng ở vùng đất của Ta
Lơ Feo thì làm sao có chuyện An Nam Mít mà chọn thứ chỉ để dành cúng
quan Tây. Thọ đưa lời thách thức. Bạn của Ta Lơ Feo là quan tham biện
bèn tham chiến. Thọ hơi chùng vì gặp phải quan Tây. Về thỏ thẻ với đốc
phủ Lộc, Thọ nhận được sự đồng ý của cha.
Chỉ vài tháng sau, toàn
bộ gần 5.000 mẫu vườn cây ăn trái của Ta Lơ Feo đã được mua lại với giá
hời. Đương nhiên, như thời thuộc địa, những thứ đi kèm với vùng đất,
đại thể là cô gái đẹp cũng được xem là vật đi kèm. Và chủ nhân mới của
cù lao 5 thôn, lại chính là gia đình đốc phủ Lộc”.
Câu chuyện này chỉ
đúng về tính chất háo sắc của Trần Bá Thọ nhưng không chính
xác về chuyện làm lãnh chúa cù lao Ngũ Hiệp, hay còn gọi là
cù lao Năm thôn.
Trần Bá Thọ đã
không mua mắc mà mua cù lao này rất rẻ. Mua không phải nịnh nọt
ai mà là nhân cơ hội túng cùng của chủ cũ. Và chính cù lao
này là nơi kết thúc số phận của y.
Năm 1871, cù lao Năm
Thôn bị đem ra phát mại. Trần Bá Lộc lúc đó đang là chủ huyện
Cái Bè nhân cơ hội này mua lại cù lao Năm Thôn với tham vọng
làm lãnh chúa. Trần Bá Lộc đầu tư mở rộng đất canh tác tại
đây lên tới 750 ha.
Trần Bá Lộc chết,
Trần Bá Thọ kế thừa di sản, trong đó có cù lao Năm Thôn, tiếp
tục giấc mơ làm lảnh chúa ở cù lao này và cũng đi theo vết xe
đổ của chủ cũ. Do tham lam, đầu tư quá lớn, bóc lột người dân
nặng nề nên nông dân đồng loạt bỏ trốn công cuộc làm ăn thất
bại.
Bị mất chức sau vụ
cưỡng đoạt cô dâu, công cuộc làm ăn bị thất bại, nợ nần chồng
chất, dinh cơ đồ sộ ở Sa Đéc bị dân đốt cháy, đất đai bị ngân
hàng tịch biên phát mại, Trần Bá Thọ đã bắn vào đầu tự sát
năm 1909.
Nhà sử học Tạ Chí Đại
Trường đánh giá về Trần Bá Thọ như sau: "Trần Bá Thọ, tuy có leo
đến chức Tổng đốc Danh dự (chức hàm), nhưng vẫn lẹt đẹt ở thuộc địa làm
một loại địa chủ cường hào của vùng Cái Bè, bắt chước thực dân vụng về
khai thác cù lao Năm Thôn đưa đến thất bại phải tự tử thảm thương”.
Theo Xa lộ pháp luật
Nhận xét
Đăng nhận xét