VÕ THUẬT TINH HOA 39
(ĐC sưutầm trên NET)
Sự biến thái của một khái niệm đẹp
Chàng lãng tử Yến Thanh (trong phim Tân Thuỷ Hử)
Nhất là vào thời nhà Thanh nổi lên nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân như Thái bình Thiên quốc, Nghĩa Hoà Đoàn… giương cao khẩu hiệu “phản Thanh phục Minh”, cùng với đó là rất nhiều bang hội kín ra đời như Thiên Địa hội, Tam Hoàng hội, Bạch Liên giáo… với tôn chỉ hoạt động bất tuân triều đình nhà Thanh. Khi thời cuộc, lịch sử xoay vần, đặc biệt sau cácch mạng Tân Hợi (1911), các bang hội không còn mục tiêu chính trị để phấn đấu, dẫn đến phương hướng hoạt động bị lệch lạc, quay sang những phương thức tiêu cực, ngầm chống đối những quy định, luật pháp của chính thể mới.
Các bang phái, hội đoàn rút vào bí mật, dần mở rộng tầm
ảnh hưởng đến khắp các châu lục trên thế giới, tham gia vào tất cả những
hình thức kinh doanh phạm pháp trong thế giới ngầm như: Buôn bán người,
ma tuý, vũ khí hay kinh doanh mại dâm, bảo kê khách sạn, nhà hàng, khu
công nghiệp, thậm chí nắm giữ quyền lực ngầm do hối lộ quan chức…
Như vậy, theo thời gian, hai tiếng “giang hồ” đã bị biến thái hẳn. Đến nay, “giang hồ” được hiểu như một sự định danh về thế giới ngầm, gồm toàn những người sống ngoài vòng pháp luật, nhất nhất tìm lợi ích bằng nhiều con đường mang tính phạm pháp, tội lỗi, duy trì cái ác...
Trở lại với một người bôn tẩu giang hồ, hành hiệp trượng nghĩa như thủa ban đầu hay tham gia vào các bang hội về sau hầu như đều có vốn võ thuật tương đối dù ở môn phái nào. Nhất là sau khi phong trào Bảo tiêu nở rộ từ đời Đường, đời Tống (hay còn gọi là Phiêu sư- do các Tiêu cục đứng ra chuyên nhận bảo vệ, áp tải các chuyến hàng buôn), khi thực hiện hợp đồng cũng là lúc Tiêu sư đặt tính mạng của mình vào hàng hoá. Di chuyển qua những vùng nguy hiểm, nhiều băng đảng cướp bóc, thú dữ… họ phải sử dụng tất cả các tuyệt kỹ võ nghệ cũng như kinh nghiệm bôn ba để hoàn thành hợp đồng, bởi uy danh của Tiêu cục cũng như việc xem trọng lễ giáo, tính quân tử trong võ lâm luôn được đặt lên hàng đầu.
Và như vậy, họ phải nắm bắt được những yếu quyết nếu muốn tồn tại trong xã hội đầy những bất trắc đó. Bao gồm những nguyên tắc “bất di bất dịch”, “luật bất thành văn” tự cổ chí kim trong giao tiếp hay trong quá trình lang bạt giang hồ mà những người ngoài cuộc khó có thể lĩnh hội như: Sử dụng tiếng lóng, trà trận, ôm quyền thi lễ, sử dụng phù hiệu, cờ hiệu… trong giao tiếp hay thuật sử dụng ám khí, sử dụng quyền cước, vũ khí… trong chiến đấu mà tạo nên thanh danh, uy tín trong môi trường toàn những nguy hiểm, cạm bẫy này
Theo Chu Hồng Châu (tổng hợp) (Chu Hồng Châu (tổng hợp))
Võ thuật với giang hồ: "Xuân điển" hay bí hiểm tiếng lóng trong giang hồ
Xuân điển (hay thần điểm) tức là tiếng lóng của giang hồ. Các phái võ xưa nay coi “xuân điển” như bảo vật môn phái, không truyền ra ngoài.
Trên giang hồ vẫn có câu “Thà cho mười lạng vàng, chẳng dạy một câu
xuân”, hoặc “Thà truyền mười tay, chẳng truyền một miệng”. Người luyện
võ phần lớn thích ngao du thiên hạ, trao đổi quyền cước, công phu lại
càng phải học tập, nắm bắt tiếng lóng giang hồ.
Căn cứ vào những giai thoại ghi chép về “xuân điển” ở thời kỳ Minh- Thanh, thì thời đó có 3 anh em vì cuộc sống xô đẩy mà phải phiêu bạt giang hồ sau khi đều thụ giáo cùng một môn phái.
Một người làm tiêu sư bảo vệ, một người vì đường cùng nên theo nghề trộm cắp, một người vẫn theo nghề võ. Để tránh sau này anh em khỏi tàn hại lẫn nhau, khi chia tay họ định ra những lời nói lóng (dạng như mật khẩu): Gọi bảo tiêu (hay phiêu sư) là “hưởng quải”, xưng là “chiếm đất một dải”, thầy võ gọi là “Nội quải” xưng là “chiếm đất một tháp”, còn tướng trộm cướp thì gọi là “Bằng hữu”. Sau này con cháu, đệ tử gặp nhau, chỉ xưng tiếng lóng sẽ nhận ra người một nhà.
Các tiếng lóng đó đời truyền đời không ngừng cải tiến, bổ sung và phát triển thành một thứ ngôn ngữ được hệ thống hoá theo những quy chuẩn bí mật. Đời sau gọi là “xuân điển” (điển tích mùa xuân) hay “thần điểm” (điểm ở môi miệng).
Ngay từ cách gọi tên đã thấy sự bí hiểm của tiếng lóng. Những môn phái, bang hội khác theo đó sáng tạo ra những hệ tiếng lóng của riêng mình, lưu hành nội bộ theo những quy định nghiêm ngặt, coi như bảo bối, ai tiết lộ là phạm quy môn và kết cục thì không cần nói, chắc ai cũng hiểu. Bởi đã tham gia vào giới này, mọi người đều phải tuân thủ một thứ luật bất thành văn mà không có trong bộ luật của bất cứ triều đình nào, chế độ nào: “Luật giang hồ”.
Tiếng lóng thời bấy giờ cũng được phân hạng riêng theo từng thứ bậc trong xã hội. Tam giáo Cửu lưu (Tam giáo là ba đạo Nho, Thích (Phật), Đạo (Lão); còn Cửu lưu chỉ các dòng Nho gia, đạo gia (đạo sĩ), âm dương gia, pháp gia, danh gia, mặc gia, tung hoành gia, tạp gia và nông gia- chỉ chung các tôn giáo và các nghề trong xã hội xưa) tập hợp và hình thành nên giang hồ bí hiểm và phức tạp.
Trừ Tam giáo ra, Cửu lưu lại chia làm 3 cấp Thượng, Trung, Hạ. Thượng Cửu lưu gồm: 1. Tể tướng, 2. Thượng thư, 3. Đô đốc, 4. Phiên niết (phán quan), 5. Đề đài (trông coi đài ở triều đình như Ngự sử đài), 6. Trấn đài, 7. Đạo (đạo doãn, phủ doãn), 8. Phủ (tri phủ), 9. Tri châu.
Trung Cửu lưu gồm: 1. Thầy thuốc, 2. Bát tự (người xem tướng số theo Tử vi), 3. Phiêu hàng (người viết thuê), 4. Suy (người đoán chữ), 5. Cầm kỳ (người cầm cờ, chơi đàn), 6. Thư hoạ (Viết vẽ), 7. Tăng (sư), 8. Đạo (đạo sĩ), 9. Ma Y (người xem, đoán tướng).
Hạ Cửu lưu gồm: 1, Vương bát (người làm nghề lầu xanh), 2, Quy (người môi giới, mai mối), 3. Kịch tử (con hát), 4. Suy (thổi kèn, đánh trống), 5. Đại tài (người làm trò, làm xiếc, ảo thuật), 6. Tiểu tài (làm hề), 7. Sinh (thợ cắt tóc), 8. Kẻ cướp, 9. Người đốt lò (“ổi yên giả”-người thổi khói).
Xã hội phong kiến Trung Hoa phân biệt rõ ràng giai tầng với Thượng, Trung, Hạ Cửu lưu, tức là chín lần ba hai mươi bảy hạng người. Mỗi hạng lại có tiếng lóng riêng, ví dụ như gọi thầy thuốc là “tế băng công”, thợ mộc là “giáp ất sinh”… đủ cho thấy tính phức tạp cũng như ngôn ngữ vô cùng đa dạng của tiếng lóng trong xã hội.
Làm một võ sư hoặc tiêu sư đi lại trong giang hồ không chỉ thuộc nhiều tiếng lóng hành nghề các loại mà lại còn phải giỏi ở hạng của mình. Ra khỏi cửa nhà coi như đã bước chân vào xã hội, bất kể đến nơi nào cũng phải bái kiến người có địa vị cao trong làng võ địa phương, đồng thời phải dùng tiếng lóng giang hồ giới thiệu thân thế rõ ràng, không thế là sinh phiền ngay.
Xuân điển nói chung chia làm mật ngữ phi ngôn ngữ và mật ngữ ngôn ngữ, tức là tiếng lóng phát không ra tiếng và tiếng lóng phát thành tiếng, cả hai phương thức này đều vận dụng ví dụ hình tượng hoặc tính song nghĩa của hình tượng để thăm hỏi hay dò xét đối phương xem là đệ tử của môn phái nào, bang hội nào…
Do vậy xuân điển như một phương thức giao tiếp, môi giới cho hiệp khách, khách buôn, lâu la của làng võ xuôi Nam ngược Bắc và là ngôn ngữ đặc thù của giang hồ Trung Hoa một thủa.
Theo Chu Hồng Châu (tổng hợp) (Chu Hồng Châu (tổng hợp))Căn cứ vào những giai thoại ghi chép về “xuân điển” ở thời kỳ Minh- Thanh, thì thời đó có 3 anh em vì cuộc sống xô đẩy mà phải phiêu bạt giang hồ sau khi đều thụ giáo cùng một môn phái.
Một người làm tiêu sư bảo vệ, một người vì đường cùng nên theo nghề trộm cắp, một người vẫn theo nghề võ. Để tránh sau này anh em khỏi tàn hại lẫn nhau, khi chia tay họ định ra những lời nói lóng (dạng như mật khẩu): Gọi bảo tiêu (hay phiêu sư) là “hưởng quải”, xưng là “chiếm đất một dải”, thầy võ gọi là “Nội quải” xưng là “chiếm đất một tháp”, còn tướng trộm cướp thì gọi là “Bằng hữu”. Sau này con cháu, đệ tử gặp nhau, chỉ xưng tiếng lóng sẽ nhận ra người một nhà.
Nhân
vật Yến Thanh trong phim Thuỷ hử - một lãng tử giang hồ huyền thoại, đã
có cả một môn phái quyền thuật mang tên nhân vật này.
Các tiếng lóng đó đời truyền đời không ngừng cải tiến, bổ sung và phát triển thành một thứ ngôn ngữ được hệ thống hoá theo những quy chuẩn bí mật. Đời sau gọi là “xuân điển” (điển tích mùa xuân) hay “thần điểm” (điểm ở môi miệng).
Ngay từ cách gọi tên đã thấy sự bí hiểm của tiếng lóng. Những môn phái, bang hội khác theo đó sáng tạo ra những hệ tiếng lóng của riêng mình, lưu hành nội bộ theo những quy định nghiêm ngặt, coi như bảo bối, ai tiết lộ là phạm quy môn và kết cục thì không cần nói, chắc ai cũng hiểu. Bởi đã tham gia vào giới này, mọi người đều phải tuân thủ một thứ luật bất thành văn mà không có trong bộ luật của bất cứ triều đình nào, chế độ nào: “Luật giang hồ”.
Tiếng lóng thời bấy giờ cũng được phân hạng riêng theo từng thứ bậc trong xã hội. Tam giáo Cửu lưu (Tam giáo là ba đạo Nho, Thích (Phật), Đạo (Lão); còn Cửu lưu chỉ các dòng Nho gia, đạo gia (đạo sĩ), âm dương gia, pháp gia, danh gia, mặc gia, tung hoành gia, tạp gia và nông gia- chỉ chung các tôn giáo và các nghề trong xã hội xưa) tập hợp và hình thành nên giang hồ bí hiểm và phức tạp.
Trừ Tam giáo ra, Cửu lưu lại chia làm 3 cấp Thượng, Trung, Hạ. Thượng Cửu lưu gồm: 1. Tể tướng, 2. Thượng thư, 3. Đô đốc, 4. Phiên niết (phán quan), 5. Đề đài (trông coi đài ở triều đình như Ngự sử đài), 6. Trấn đài, 7. Đạo (đạo doãn, phủ doãn), 8. Phủ (tri phủ), 9. Tri châu.
Trung Cửu lưu gồm: 1. Thầy thuốc, 2. Bát tự (người xem tướng số theo Tử vi), 3. Phiêu hàng (người viết thuê), 4. Suy (người đoán chữ), 5. Cầm kỳ (người cầm cờ, chơi đàn), 6. Thư hoạ (Viết vẽ), 7. Tăng (sư), 8. Đạo (đạo sĩ), 9. Ma Y (người xem, đoán tướng).
Hạ Cửu lưu gồm: 1, Vương bát (người làm nghề lầu xanh), 2, Quy (người môi giới, mai mối), 3. Kịch tử (con hát), 4. Suy (thổi kèn, đánh trống), 5. Đại tài (người làm trò, làm xiếc, ảo thuật), 6. Tiểu tài (làm hề), 7. Sinh (thợ cắt tóc), 8. Kẻ cướp, 9. Người đốt lò (“ổi yên giả”-người thổi khói).
Xã hội phong kiến Trung Hoa phân biệt rõ ràng giai tầng với Thượng, Trung, Hạ Cửu lưu, tức là chín lần ba hai mươi bảy hạng người. Mỗi hạng lại có tiếng lóng riêng, ví dụ như gọi thầy thuốc là “tế băng công”, thợ mộc là “giáp ất sinh”… đủ cho thấy tính phức tạp cũng như ngôn ngữ vô cùng đa dạng của tiếng lóng trong xã hội.
Làm một võ sư hoặc tiêu sư đi lại trong giang hồ không chỉ thuộc nhiều tiếng lóng hành nghề các loại mà lại còn phải giỏi ở hạng của mình. Ra khỏi cửa nhà coi như đã bước chân vào xã hội, bất kể đến nơi nào cũng phải bái kiến người có địa vị cao trong làng võ địa phương, đồng thời phải dùng tiếng lóng giang hồ giới thiệu thân thế rõ ràng, không thế là sinh phiền ngay.
Xuân điển nói chung chia làm mật ngữ phi ngôn ngữ và mật ngữ ngôn ngữ, tức là tiếng lóng phát không ra tiếng và tiếng lóng phát thành tiếng, cả hai phương thức này đều vận dụng ví dụ hình tượng hoặc tính song nghĩa của hình tượng để thăm hỏi hay dò xét đối phương xem là đệ tử của môn phái nào, bang hội nào…
Do vậy xuân điển như một phương thức giao tiếp, môi giới cho hiệp khách, khách buôn, lâu la của làng võ xuôi Nam ngược Bắc và là ngôn ngữ đặc thù của giang hồ Trung Hoa một thủa.
Điểm những "tiếng lóng" lừng danh giới giang hồ
Nói chung, các phái võ thuật đều có tiếng lóng riêng của phái mình và được bảo mật nghiêm ngặt. Tuy nhiên theo thời gian, các môn phái và các tầng lớp trong xã hội tự ngầm công nhận với nhau những tiếng lóng lưu hành trong võ lâm rộng rãi khiến mọi người đều biết.
Ví dụ như:
Đao: gọi là “phiến tử”
Kích: “Nguyệt nha phong” (trăng mũi liềm)
Chuỷ thuỷ: “đình tử” (bậu cửa sổ)
Đại đao: “hải thanh tử”
Thương, giáo: “điều tử” (vật thon dài)
Thương: “hoa điều” (que hoa)
Súng tây: “con lừa đen”
Súng trường: “phún tử” (ống phun)
Mua súng: “xuyến mạn tử” (xâu dây)
Mua đạn: “xuyến phi tử” (xâu chuỗi hạt)
Ông già: “cao” (bánh bột)
Trai trẻ: “nha nhi” (răng nhỏ)
Cô gái: “đậu nhi” (đậu nhỏ)
Uống nước: “khâu chung” (khép chén)
Cầm đũa: “ban lương” (di dời xà nhà)
Hút thuốc: “bảng hoả” (nhảy lửa)
Sưởi lửa: “lĩnh giáp”
Nhảy qua cửa sổ: “lưu câu” (chuồn khỏi vòng)
Mũ đội: “đỉnh thiên” (đội trời)
Kính đeo mắt: “hộ kiểm” (che má)
Tất chân, xà cạp: “thuận thoái” (thuận chân)
Phía Nam: “dương” (ánh sáng)
Phía Bắc: “mạc” (lãnh đạm)
Phía Tây: “liệt” (bày ra)
Phía Đông: “đảo”
Kẻ thù đang xông tới chém giết: “thuỷ mạn liễu” (nước tràn rồi)
Chết rồi: “toái liễu” (đã nát rồi)
… và còn nhiều, rất nhiều nữa không thể nào kể cho xuể. Nhưng nhìn chung, tiếng lóng trong giang hồ hồi đó chủ yếu mang lối nói hình tượng, không đi kèm những từ ngữ tục tĩu hay văng tục, chửi thề như thời nay.
Theo Chu Hồng Châu (tổng hợp) (Chu Hồng Châu (tổng hợp))Đao: gọi là “phiến tử”
Kích: “Nguyệt nha phong” (trăng mũi liềm)
Chuỷ thuỷ: “đình tử” (bậu cửa sổ)
Đại đao: “hải thanh tử”
Thương, giáo: “điều tử” (vật thon dài)
Thương: “hoa điều” (que hoa)
Súng tây: “con lừa đen”
Súng trường: “phún tử” (ống phun)
Mua súng: “xuyến mạn tử” (xâu dây)
Mua đạn: “xuyến phi tử” (xâu chuỗi hạt)
Ông già: “cao” (bánh bột)
Trai trẻ: “nha nhi” (răng nhỏ)
Cô gái: “đậu nhi” (đậu nhỏ)
Uống nước: “khâu chung” (khép chén)
Cầm đũa: “ban lương” (di dời xà nhà)
Hút thuốc: “bảng hoả” (nhảy lửa)
Sưởi lửa: “lĩnh giáp”
Nhảy qua cửa sổ: “lưu câu” (chuồn khỏi vòng)
Mũ đội: “đỉnh thiên” (đội trời)
Kính đeo mắt: “hộ kiểm” (che má)
Tất chân, xà cạp: “thuận thoái” (thuận chân)
Phía Nam: “dương” (ánh sáng)
Phía Bắc: “mạc” (lãnh đạm)
Phía Tây: “liệt” (bày ra)
Phía Đông: “đảo”
Kẻ thù đang xông tới chém giết: “thuỷ mạn liễu” (nước tràn rồi)
Chết rồi: “toái liễu” (đã nát rồi)
… và còn nhiều, rất nhiều nữa không thể nào kể cho xuể. Nhưng nhìn chung, tiếng lóng trong giang hồ hồi đó chủ yếu mang lối nói hình tượng, không đi kèm những từ ngữ tục tĩu hay văng tục, chửi thề như thời nay.
Giới Võ lâm và những câu chuyện truyền kì: Võ thuật với giang hồ
Giang hồ là một khái niệm khá lâu đời, nghĩa của hai chữ này hiện vẫn còn nhiều cách hiểu. Tuy nhiên, theo nhiều sách vở, thì sơ khởi, hai tiếng “giang hồ” dùng để ẩn ý chỉ một lớp người thích phiêu bạt, sống phóng khoáng, ngao du sơn thuỷ, kết nghĩa bạn bè.
Giới Võ lâm và những câu chuyện truyền kì - Phần 3: Võ thuật với giang hồ
Giang hồ là một khái niệm khá lâu đời, nghĩa của hai chữ này hiện vẫn còn nhiều cách hiểu. Tuy nhiên, theo nhiều sách vở, thì sơ khởi, hai tiếng “giang hồ” dùng để ẩn ý chỉ một lớp người thích phiêu bạt, sống phóng khoáng, nay đây mai đó ngao du sơn thuỷ, kết nghĩa bạn bè. Lấy thơ ca, học vấn đề cao phong cảnh thiên nhiên, quê hương; lấy võ công để bôn tẩu, hành hiệp trượng nghĩa: “Giữa đường thấy sự bất bằng chẳng tha”; giúp kẻ thế yếu, người thế cô giành lại sự công bằng, lấy phô diễn tài năng, sức mạnh võ nghệ làm niềm vui, giao lưu chứ không ngó ngàng đến phân thua thắng bại...Sự biến thái của một khái niệm đẹp
Những người có máu phiêu lưu, bôn tẩu giang hồ thời xưa (còn được gọi là
“giang hồ lãng tử”) ngoài kiến thức về học thuật, văn thơ, thi hoạ… thì
ít nhiều họ cũng nắm được những tuyệt kỹ võ thuật, võ khí làm “vốn giắt
lưng”. Đi tới đâu kết bè bạn văn thơ, võ học tới đó, cùng nhau thăm thú
phong cảnh, ngao du danh thắng, “lấy trời làm màn, đất làm chiếu, bầu
rượu túi thơ làm bạn”.
Câu “Tứ hải giai huynh đệ” (Bốn biển là
anh em) để nói về những con người cùng chí hướng trong giới này. Lúc này
đã xuất hiện những khái niệm “giang hồ mã thượng”, “giang hồ đơn
thương, độc mã”, “giang hồ lữ khách”, “giang hồ lãng tử”… dọc ngang hành
hiệp.
Và cũng từ thủa sơ khởi đó, do tiếng tăm, do quan hệ nên danh tiếng của các cao thủ trong giang hồ được xã hội nể trọng. Ngoài ra còn có những gia chủ của những gia trang, thôn trang, những nhà buôn giàu có nặng lòng hào hiệp, lưu khách giang hồ trong nhà (môn khách) mà cùng đàm luận văn chương, dạy dỗ chữ nghĩa cũng như trao đổi võ thuật. Rồi các cao thủ giang hồ cũng nay đi, mai đến, miễn sao thoả chí tang bồng của họ.
Chuyện này được nhắc nhiều trong những giai thoại võ lâm trong dân gian kể về Lý Bạch (đời Đường), hay Tô Đông Pha, Âu Dương Tu (đời Tống) hoặc những nhân vật trong các tiểu thuyết dã sử hay võ hiệp như Tam Quốc chí, Thuỷ Hử truyện… của thời trước hay những tiểu thuyết võ hiệp lừng danh của Kim Dung, Cổ Long, Ưu Đàm Hoa… sau này. Với ý nghĩa đó, “giang hồ” được nhìn nhận như một lối sống, một phong cách, đẹp và quân tử mã thượng.
Từ thế kỷ XVI-XVII, phong trào lập ra các hội kín tại Trung Hoa bùng nổ, phục vụ cho các nhiệm vụ chính trị của một tầng lớp dân chúng trong xã hội hay tham gia vào những cuộc khởi nghĩa chống lại vương triều tại vị.
|
|
Và cũng từ thủa sơ khởi đó, do tiếng tăm, do quan hệ nên danh tiếng của các cao thủ trong giang hồ được xã hội nể trọng. Ngoài ra còn có những gia chủ của những gia trang, thôn trang, những nhà buôn giàu có nặng lòng hào hiệp, lưu khách giang hồ trong nhà (môn khách) mà cùng đàm luận văn chương, dạy dỗ chữ nghĩa cũng như trao đổi võ thuật. Rồi các cao thủ giang hồ cũng nay đi, mai đến, miễn sao thoả chí tang bồng của họ.
Chuyện này được nhắc nhiều trong những giai thoại võ lâm trong dân gian kể về Lý Bạch (đời Đường), hay Tô Đông Pha, Âu Dương Tu (đời Tống) hoặc những nhân vật trong các tiểu thuyết dã sử hay võ hiệp như Tam Quốc chí, Thuỷ Hử truyện… của thời trước hay những tiểu thuyết võ hiệp lừng danh của Kim Dung, Cổ Long, Ưu Đàm Hoa… sau này. Với ý nghĩa đó, “giang hồ” được nhìn nhận như một lối sống, một phong cách, đẹp và quân tử mã thượng.
Từ thế kỷ XVI-XVII, phong trào lập ra các hội kín tại Trung Hoa bùng nổ, phục vụ cho các nhiệm vụ chính trị của một tầng lớp dân chúng trong xã hội hay tham gia vào những cuộc khởi nghĩa chống lại vương triều tại vị.
Nhất là vào thời nhà Thanh nổi lên nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân như Thái bình Thiên quốc, Nghĩa Hoà Đoàn… giương cao khẩu hiệu “phản Thanh phục Minh”, cùng với đó là rất nhiều bang hội kín ra đời như Thiên Địa hội, Tam Hoàng hội, Bạch Liên giáo… với tôn chỉ hoạt động bất tuân triều đình nhà Thanh. Khi thời cuộc, lịch sử xoay vần, đặc biệt sau cácch mạng Tân Hợi (1911), các bang hội không còn mục tiêu chính trị để phấn đấu, dẫn đến phương hướng hoạt động bị lệch lạc, quay sang những phương thức tiêu cực, ngầm chống đối những quy định, luật pháp của chính thể mới.
Như vậy, theo thời gian, hai tiếng “giang hồ” đã bị biến thái hẳn. Đến nay, “giang hồ” được hiểu như một sự định danh về thế giới ngầm, gồm toàn những người sống ngoài vòng pháp luật, nhất nhất tìm lợi ích bằng nhiều con đường mang tính phạm pháp, tội lỗi, duy trì cái ác...
Trở lại với một người bôn tẩu giang hồ, hành hiệp trượng nghĩa như thủa ban đầu hay tham gia vào các bang hội về sau hầu như đều có vốn võ thuật tương đối dù ở môn phái nào. Nhất là sau khi phong trào Bảo tiêu nở rộ từ đời Đường, đời Tống (hay còn gọi là Phiêu sư- do các Tiêu cục đứng ra chuyên nhận bảo vệ, áp tải các chuyến hàng buôn), khi thực hiện hợp đồng cũng là lúc Tiêu sư đặt tính mạng của mình vào hàng hoá. Di chuyển qua những vùng nguy hiểm, nhiều băng đảng cướp bóc, thú dữ… họ phải sử dụng tất cả các tuyệt kỹ võ nghệ cũng như kinh nghiệm bôn ba để hoàn thành hợp đồng, bởi uy danh của Tiêu cục cũng như việc xem trọng lễ giáo, tính quân tử trong võ lâm luôn được đặt lên hàng đầu.
Và như vậy, họ phải nắm bắt được những yếu quyết nếu muốn tồn tại trong xã hội đầy những bất trắc đó. Bao gồm những nguyên tắc “bất di bất dịch”, “luật bất thành văn” tự cổ chí kim trong giao tiếp hay trong quá trình lang bạt giang hồ mà những người ngoài cuộc khó có thể lĩnh hội như: Sử dụng tiếng lóng, trà trận, ôm quyền thi lễ, sử dụng phù hiệu, cờ hiệu… trong giao tiếp hay thuật sử dụng ám khí, sử dụng quyền cước, vũ khí… trong chiến đấu mà tạo nên thanh danh, uy tín trong môi trường toàn những nguy hiểm, cạm bẫy này
Hoàng Phi Hồng - Mãnh hổ Quảng Đông và độc chiêu Vô Ảnh cước
Độc chiêu Vô Ảnh cước là do Hoàng Phi Hồng trao đổi với Hồng Đông Huy- bù lại, Hoàng Phi Hồng phải truyền lại cho Huy bài Hổ hạc song hình và Cung tự phục hổ quyền. Ông còn học võ từ người vợ cả- cũng là một cao thủ của một môn phái khác.
Hoàng Phi Hồng sinh ngày 9 tháng 7 năm Đạo Quang thứ hai mươi bảy
(1847) là một đại võ sư của nền võ thuật Trung Quốc thời Thanh mạt. Phi
Hồng sinh ở làng Lộc Đan, núi Tây Triều, thuộc phủ Nam Hải, tỉnh Quảng
Đông. Ông còn là một danh y với hiệu thuốc Bảo Chi Lâm nổi tiếng tại
Phật Sơn (Quảng Đông).
“Quảng Đông thập hổ” là mười vị anh hùng võ hiệp của Quảng Đông xuất hiện cuối thời Mãn Thanh. Theo một số sách vở xuất hiện trước năm 1975 tại Trung Quốc, Hong Kong cũng như tại miền Nam Việt Nam và nhất là qua nhiều loạt phim võ thuật của HongKong, người hâm mộ võ thuật Trung Hoa đều cho rằng: “Mười con hổ Quảng Đông” là: Vương Ẩn Lâm, Hoàng Trừng Khả, Tô Hắc Hổ, Hoàng Kỳ Anh (cha của Hoàng Phi Hồng), Đàm Tế Quân, Lê Nhân Siêu, Tô Xán, Lương Khôn, Trần Trường Thái, Châu Thái.
Lên 5 tuổi Phi Hồng đã được cha truyền dạy võ nghệ Nam Thiếu Lâm. Khi 13 tuổi, Hoàng Phi Hồng cùng cha đi đến Quảng Châu - Phật Sơn để biểu diễn võ thuật và bán thuốc. Trong thời gian này, Hoàng Phi Hồng đã học thêm nhiều danh sư các môn võ khác nhau. Tuyệt chiêu của Hoàng Phi Hồng sở hữư bao gồm: Hổ Hạc song hình quyền, Thiết tuyến quyền, Cung tự Phục Hổ quyền, Vô Ảnh cước, Tử Mẫu đao, Đơn song hổ trảo,Tứ Lượng Tiêu Long côn, Song phi đà, La Hán bào.
Độc chiêu Vô Ảnh cước là do Hoàng Phi Hồng trao đổi với Hồng Đông Huy - bù lại, Hoàng Phi Hồng phải truyền lại cho Huy bài Hổ hạc song hình và Cung tự phục hổ quyền. Ông còn học võ từ người vợ cả- cũng là một cao thủ của một môn phái khác.
Vô ảnh cước là tuyệt chiêu gắn liền với tên tuổi Hoàng Phi Hồng. Không phải như phim ảnh dùng kỹ xảo để ca tụng Vô ảnh cước mà độc chiêu Vô ảnh cước được tả nôm na thế này: Tung cú đá bằng một chân, uy lực, nhưng không hiểm để đối phương hóa giải không khó, nhưng rất mất lực. Khi vừa đỡ hoặc né xong, còn chưa định thần thì lĩnh ngay cú đá của chân kia, đó là cú đá mà đối phương không nhìn thấy được (thế nên gọi là Vô ảnh cước- cú đá vô hình).
Đòn đầu chỉ là đá “hư chiêu”, đòn hai mới là đá “thực chiêu”. Nói thì dễ như vậy nhưng thực hiện thì khó vô cùng vì cú đá quyết định phải được thực hiện bằng chân trụ, không có điểm dựa, không được sai sót, giống như phép lăng không (tung mình lên không cần điểm tựa của võ Thiếu Lâm). Muốn luyện tập được tuyệt chiêu này, người tập phải có căn cơ võ thuật vào hàng cao thủ.
Hoàng Phi Hồng mở hiệu thuốc Bảo Chi Lâm ở đường Nhân An bên dòng Châu Giang, chuyên bán thảo dược và trị thương. Mặc dù là võ sư dân gian nhưng cuộc đời Hoàng Phi Hồng vẫn gắn liền với lịch sử Trung Quốc cận đại, dấu chân của mãnh hổ này đã in lên nhiều nơi. Năm 1873, tướng quân Cờ đen Lưu Vĩnh Phúc tấn công quân Pháp ở Việt Nam trong đó có trận đánh giết chết Đại uý hải quân pháp Francis Garnier vào ngày 18 tháng 12 và sau đó phục kích tiêu diệt Đại tá hải quân Henri Riviere ngày 19 tháng 5 năm 1883, cả hai trận đánh nổi tiếng này đều diễn ra ở Cầu Giấy (ngoại thành Hà Nội).
Năm sau (1884), danh tướng Lưu Vĩnh Phúc được điều động về Phúc Kiến làm Tổng binh. Hoàng Phi Hồng được Lưu Vĩnh Phúc chọn làm trưởng ban huấn luyện võ thuật kiêm phụ trách trị thương cho binh lính. Năm 1895, chiến tranh Trung-Nhật nổ ra (chiến tranh Ất Mùi), Hoàng Phi Hồng theo tướng quân Lưu Vĩnh Phúc đến Đài Loan kháng Nhật. Quân Thanh đại bại, triều đình cắt Đài Loan cho Nhật. Sau này Cách mạng Tân Hợi (1911) bùng nổ, Tôn Trung Sơn lên làm Tổng thống lâm thời Trung Hoa Dân Quốc, Lưu Vĩnh Phúc khi đó mời Hoàng Phi Hồng làm "Giáo luyện dân đoàn tỉnh Quảng Đông". Thời gian làm việc với chính quyền Dân Quốc, ông mang hết nhiệt tâm phụng sự. Và đây cũng là lý do dẫn đến cái chết uất ức của Hoàng Phi Hồng sau này.
Trở về Quảng Đông, Hoàng Phi Hồng mở thêm một nhà thuốc nữa ở Phật Sơn, trở thành một trong 4 vị thầy thuốc lớn nhất Quảng Đông bấy giờ. Thời gian này ông gặp người vợ thứ 4, đây cũng là lúc ông sống sung túc nhất. Về chuyện tình cảm, ta thường thấy bên cạnh Hoàng Phi Hồng (trong các phim của Trung Quốc đại lục và Hong Kong) là dì Mười Ba. Sự thật Hoàng Phi Hồng có 4 người vợ, người vợ cả là một võ sư.
Riêng chuyện gặp người vợ thứ tư đã là một giai thoại thú vị: Năm đó Quế Lan 19 tuổi, một lần đi xem lễ Phật có Hoàng Phi Hồng trình diễn võ thuật, vô tình khi biểu diễn lại văng chiếc giày vào mặt Quế Lan. Cho là bị xúc phạm, Quế Lan liền leo lên khán đài tát vào mặt Hoàng Phi Hồng một cái, nói: "Một võ sư nổi tiếng như ông không thể phạm sai lầm như thế, đây là chiếc giày nếu là vũ khí thì sao".
Kính phục, Hoàng Phi Hồng xin cưới Quế Lan làm vợ ngay trên võ đài. Để rồi suốt 71 năm sau đó, dòng họ Hoàng có được một con người tài đức vẹn toàn chăm lo vun vén. Sau này bà lập nên Quỹ Hoàng Phi Hồng hiện vẫn đang hoạt động tại Bảo Chi Lâm.
Năm 1890, con trai cả Hoàng Phi Hồng đã bị các băng đảng bắn chết. Sau thảm kịch này, Hoàng Phi Hồng tuyên bố sẽ không bao giờ dạy 9 người con trai còn lại của mình võ thuật để bảo vệ họ khỏi các đối thủ tìm kiếm sự nổi tiếng.
Ngày 8 tháng 8 năm 1924, Thương đoàn tự vệ Quảng Đông (Bảo Chi Lâm cũng thuộc Thương đoàn này) bạo loạn chống Chính phủ Tôn Trung Sơn. Sau đó, có kẻ xúc xiểm Hoàng Phi Hồng là “tay trong” của Chính phủ, tự vệ Thương đoàn đã đốt phá Bảo Chi Lâm, Hoàng sư phụ uất ức mà lâm bệnh rồi qua đời. Trước khi mất, ông có câu nói nổi tiếng: “Tấm lòng tôi với quê hương có dòng Châu Giang làm chứng”… Sau khi ông mất, người dân Trung Quốc đã suy tôn ông là anh hùng dân tộc.
Theo Chu Hồng Châu (tổng hợp từ Ten Tigers of Canton, volam.net) (Chu Hồng Châu (tổng hợp từ Ten Tigers of Canton, volam.net))
Xuất thân là con nhà võ.
Cha của ông là Hoàng Kỳ Anh, từng theo học Thiếu Lâm Phúc Kiến (Nam
Thiếu Lâm) với thiền sư Lục A Thái. Theo nhiều ý kiến cho rằng Hoàng Phi
Hồng là một trong “Quảng Đông thập hổ”, nhưng cũng nhiều ý kiến nói là
cha ông- Hoàng Kỳ Anh mới là một trong Thập hổ, còn Phi Hồng được gọi là
Mãnh hổ Quảng Đông sau “thập hổ”.
“Quảng Đông thập hổ” là mười vị anh hùng võ hiệp của Quảng Đông xuất hiện cuối thời Mãn Thanh. Theo một số sách vở xuất hiện trước năm 1975 tại Trung Quốc, Hong Kong cũng như tại miền Nam Việt Nam và nhất là qua nhiều loạt phim võ thuật của HongKong, người hâm mộ võ thuật Trung Hoa đều cho rằng: “Mười con hổ Quảng Đông” là: Vương Ẩn Lâm, Hoàng Trừng Khả, Tô Hắc Hổ, Hoàng Kỳ Anh (cha của Hoàng Phi Hồng), Đàm Tế Quân, Lê Nhân Siêu, Tô Xán, Lương Khôn, Trần Trường Thái, Châu Thái.
Lên 5 tuổi Phi Hồng đã được cha truyền dạy võ nghệ Nam Thiếu Lâm. Khi 13 tuổi, Hoàng Phi Hồng cùng cha đi đến Quảng Châu - Phật Sơn để biểu diễn võ thuật và bán thuốc. Trong thời gian này, Hoàng Phi Hồng đã học thêm nhiều danh sư các môn võ khác nhau. Tuyệt chiêu của Hoàng Phi Hồng sở hữư bao gồm: Hổ Hạc song hình quyền, Thiết tuyến quyền, Cung tự Phục Hổ quyền, Vô Ảnh cước, Tử Mẫu đao, Đơn song hổ trảo,Tứ Lượng Tiêu Long côn, Song phi đà, La Hán bào.
Độc chiêu Vô Ảnh cước là do Hoàng Phi Hồng trao đổi với Hồng Đông Huy - bù lại, Hoàng Phi Hồng phải truyền lại cho Huy bài Hổ hạc song hình và Cung tự phục hổ quyền. Ông còn học võ từ người vợ cả- cũng là một cao thủ của một môn phái khác.
Vô ảnh cước là tuyệt chiêu gắn liền với tên tuổi Hoàng Phi Hồng. Không phải như phim ảnh dùng kỹ xảo để ca tụng Vô ảnh cước mà độc chiêu Vô ảnh cước được tả nôm na thế này: Tung cú đá bằng một chân, uy lực, nhưng không hiểm để đối phương hóa giải không khó, nhưng rất mất lực. Khi vừa đỡ hoặc né xong, còn chưa định thần thì lĩnh ngay cú đá của chân kia, đó là cú đá mà đối phương không nhìn thấy được (thế nên gọi là Vô ảnh cước- cú đá vô hình).
Đòn đầu chỉ là đá “hư chiêu”, đòn hai mới là đá “thực chiêu”. Nói thì dễ như vậy nhưng thực hiện thì khó vô cùng vì cú đá quyết định phải được thực hiện bằng chân trụ, không có điểm dựa, không được sai sót, giống như phép lăng không (tung mình lên không cần điểm tựa của võ Thiếu Lâm). Muốn luyện tập được tuyệt chiêu này, người tập phải có căn cơ võ thuật vào hàng cao thủ.
Hoàng Phi Hồng mở hiệu thuốc Bảo Chi Lâm ở đường Nhân An bên dòng Châu Giang, chuyên bán thảo dược và trị thương. Mặc dù là võ sư dân gian nhưng cuộc đời Hoàng Phi Hồng vẫn gắn liền với lịch sử Trung Quốc cận đại, dấu chân của mãnh hổ này đã in lên nhiều nơi. Năm 1873, tướng quân Cờ đen Lưu Vĩnh Phúc tấn công quân Pháp ở Việt Nam trong đó có trận đánh giết chết Đại uý hải quân pháp Francis Garnier vào ngày 18 tháng 12 và sau đó phục kích tiêu diệt Đại tá hải quân Henri Riviere ngày 19 tháng 5 năm 1883, cả hai trận đánh nổi tiếng này đều diễn ra ở Cầu Giấy (ngoại thành Hà Nội).
Năm sau (1884), danh tướng Lưu Vĩnh Phúc được điều động về Phúc Kiến làm Tổng binh. Hoàng Phi Hồng được Lưu Vĩnh Phúc chọn làm trưởng ban huấn luyện võ thuật kiêm phụ trách trị thương cho binh lính. Năm 1895, chiến tranh Trung-Nhật nổ ra (chiến tranh Ất Mùi), Hoàng Phi Hồng theo tướng quân Lưu Vĩnh Phúc đến Đài Loan kháng Nhật. Quân Thanh đại bại, triều đình cắt Đài Loan cho Nhật. Sau này Cách mạng Tân Hợi (1911) bùng nổ, Tôn Trung Sơn lên làm Tổng thống lâm thời Trung Hoa Dân Quốc, Lưu Vĩnh Phúc khi đó mời Hoàng Phi Hồng làm "Giáo luyện dân đoàn tỉnh Quảng Đông". Thời gian làm việc với chính quyền Dân Quốc, ông mang hết nhiệt tâm phụng sự. Và đây cũng là lý do dẫn đến cái chết uất ức của Hoàng Phi Hồng sau này.
Trở về Quảng Đông, Hoàng Phi Hồng mở thêm một nhà thuốc nữa ở Phật Sơn, trở thành một trong 4 vị thầy thuốc lớn nhất Quảng Đông bấy giờ. Thời gian này ông gặp người vợ thứ 4, đây cũng là lúc ông sống sung túc nhất. Về chuyện tình cảm, ta thường thấy bên cạnh Hoàng Phi Hồng (trong các phim của Trung Quốc đại lục và Hong Kong) là dì Mười Ba. Sự thật Hoàng Phi Hồng có 4 người vợ, người vợ cả là một võ sư.
Riêng chuyện gặp người vợ thứ tư đã là một giai thoại thú vị: Năm đó Quế Lan 19 tuổi, một lần đi xem lễ Phật có Hoàng Phi Hồng trình diễn võ thuật, vô tình khi biểu diễn lại văng chiếc giày vào mặt Quế Lan. Cho là bị xúc phạm, Quế Lan liền leo lên khán đài tát vào mặt Hoàng Phi Hồng một cái, nói: "Một võ sư nổi tiếng như ông không thể phạm sai lầm như thế, đây là chiếc giày nếu là vũ khí thì sao".
Kính phục, Hoàng Phi Hồng xin cưới Quế Lan làm vợ ngay trên võ đài. Để rồi suốt 71 năm sau đó, dòng họ Hoàng có được một con người tài đức vẹn toàn chăm lo vun vén. Sau này bà lập nên Quỹ Hoàng Phi Hồng hiện vẫn đang hoạt động tại Bảo Chi Lâm.
Năm 1890, con trai cả Hoàng Phi Hồng đã bị các băng đảng bắn chết. Sau thảm kịch này, Hoàng Phi Hồng tuyên bố sẽ không bao giờ dạy 9 người con trai còn lại của mình võ thuật để bảo vệ họ khỏi các đối thủ tìm kiếm sự nổi tiếng.
Ngày 8 tháng 8 năm 1924, Thương đoàn tự vệ Quảng Đông (Bảo Chi Lâm cũng thuộc Thương đoàn này) bạo loạn chống Chính phủ Tôn Trung Sơn. Sau đó, có kẻ xúc xiểm Hoàng Phi Hồng là “tay trong” của Chính phủ, tự vệ Thương đoàn đã đốt phá Bảo Chi Lâm, Hoàng sư phụ uất ức mà lâm bệnh rồi qua đời. Trước khi mất, ông có câu nói nổi tiếng: “Tấm lòng tôi với quê hương có dòng Châu Giang làm chứng”… Sau khi ông mất, người dân Trung Quốc đã suy tôn ông là anh hùng dân tộc.
Nam quyền - Quyền thuật tinh hoa, đa lưu phái
Nam quyền có lịch sử từ lâu đời, nguồn gốc đến hơn 400 năm lưu hành ở các tỉnh bờ nam sông Trường Giang. Nam quyền ở các nơi phát triển qua thời gian mà tự thành chỉnh thể và mang phong cách riêng.
Quyền thuật đa lưu
phái
Với nội dung vô cùng phong phú, có thể nói là thâu tóm phần lớn những tinh hoa võ học dân gian của Trung Hoa, các lưu phái Nam quyền trải dài suốt một dải bờ nam sông Trường Giang ở các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Giang Tây, Chiết Giang, Hồ Nam, Hồ Bắc, Tứ Xuyên, Giang Tô… đủ cho thấy sự đa dạng cũng như đặc thù riêng của mỗi lưu phái do hấp thụ văn hoá theo từng vùng miền, từng dòng họ.
Trong Nam quyền Quảng Đông trừ Hồng Gia quyền, Lưu gia quyền, Sái (Thái) gia quyền, Lý gia quyền, Mạc gia quyền hay còn được gọi là “Ngũ đại lưu phái”. Ngoài ra còn có Vịnh Xuân quyền, Côn Luân quyền, Hổ hạc song hình quyền (hai hình hổ hạc), Sái (Thái) Lý Phật quyền, Hiệp gia quyền, Bạch Mi quyền, Nam cực quyền, Nho quyền, Phật gia quyền, Điêu gia giáo, Chung gia giáo…
Nam quyền Quảng Tây có Chu gia quyền, Đồ long quyền, Hồng môn phục hổ quyền và Tiểu sách đả…
Nam quyền Phúc Kiến có Ngũ hình quyền (long, xà, hổ, báo, hạc quyền Nam Thiếu Lâm), Ngũ tổ quyền, La Hán quyền, Mai Hoa trang, Liên thành quyền, Địa thuật quyền pháp, Vĩnh gia pháp, Ngư pháp (Cá pháp), Kê pháp (Gà pháp), Sư quyền (Sư tử), Hầu quyền (Khỉ), Ngũ Mai quyền, Nho pháp, Phỏng điểu tích (theo dấu chim)… rất nhiều lưu phái.
Nam quyền Hồ Nam có Vu gia quyền,
Hồng gia quyền, Khổng Môn quyền, Nhạc gia quyền, Ngư Môn quyền, Tôn Môn quyền
là 5 phái lớn. Còn Vũ gia nghệ, Nại Môn, Phật Môn, Ẩn tiên Môn, Thuỷ Hử Môn,
Nghiêm Môn, Hùng Môn, Chưng Môn…
Nam quyền Tứ Xuyên có Tang, Nhạc, Triệu, Đỗ, Hồng, Hoá, Tự, Hội là 8 lưu phái lớn.
Nam quyền Chiết Giang có Hắc hổ quyền, Kim Cương quyền, Ôn Châu Nam quyền, Đài Châu Nam quyền.
Nam quyền Giang Tây có 36 lộ Tống Giang quyền, Hổ quyền…
Nam quyền Giang Tô cũng có sự khác biệt giữa quyền của Tô Châu, Vô Tích, Thượng Hải, Hàng Châu…
Liệt kê như vậy cho thấy sự đa dạng về tên gọi cũng như tính vùng miền ảnh hưởng rất lớn đến Nam quyền. Ngoài những tính chất chung, do đặc thù địa phương hay dòng họ mà Nam quyền lại mang những bản sắc riêng.
Đặc điểm chung của Nam quyền là lấy hình làm quyền,
lấy ý làm thần, lấy khí thúc lực, lấy quan phát khí (quan ở đây là đóng, tức bế
khí); động tác giản dị rõ ràng, thế quyền kịch liệt, giàu vẻ đẹp dương cương;
chi trên động tác tương đối nhiều.
Về thân pháp thì yêu cầu trầm vai hạ khuỷu, co ngực mở lưng; về thủ pháp thì chuyên đánh ngắn, cầm nã, điểm đánh các huyệt vị. Về bộ pháp phần lớn yêu cầu lấy tứ bình đại mã làm cơ sở, trọng tâm hạ tương đối thấp, bộ pháp ôrn định vững vàng, đồng thời yêu cầu hạ chân xuống đất bám chặt như mọc rễ.
Ngoài đặc điểm chung, các lưu phái Nam
quyền còn có những đặc điểm riêng. Như trong Tượng hình quyền, Long quyền lấy
luyện “thần” làm chính, đặc biệt coi trọng khí trầm Đan điền, hai cánh tay xuôi
lặng. Khi vận động lên thì hung hãn mau lẹ, toàn thân hoạt bát như thần long
lướt trên không, co rút nhưng có lực thế mà không nghiêng vẹo. Khi giao đấu thì
thường dùng “Long trảo” (Vuốt rồng) ngoài như sắt, trong như bông, trong lỏng
ngoài chặt.
Hổ quyền thì lấy luyện “cốt” (xương) là chính, khi luyện phải đẩy khí của toàn thân, tay cứng hông thực. Khi giao đấu thường dùng Hổ chưởng, lấy khí phát lực, thế quyền hung mãnh. Cổ, họng dùng kình lực cực kỳ mãnh liệt, phải nghiến răng mím miệng, mắt hổ hau háu, thể hiện đầy đủ cái oai của hổ mạnh. Hạc quyền lấy luyện tinh làm chủ.
Theo hình hạc thì tinh đủ, thần tĩnh, khi luyện phải ngưng tinh đúc thần, lỏng tay động khí, tâm thủ tương ứng. Kê quyền coi trọng kỹ xảo, giỏi dùng chỉ, trảo, đỉnh (ngón tay thẳng, ngón tay quắp như vuốt, húc) luyện sao cho hai tay bật vung như gà vỗ cánh hay dùng trửu pháp (cùi chỏ) đánh như “kê dực” (cánh gà). Ngoài các thứ kể trên ra còn Báo quyền, Xà quyền, Sư (tử) quyền… ở mỗi lưu phái đều có đặc điểm riêng cả.
Ngoài ra, các lưu phái Nam quyền còn khác nhau ở những phong cách độc đáo riêng. Như Nhạc gia quyền lấy “công làm chủ, thủ là phụ”, tay trái là tay hư, tay phải là tay thực, chú trọng thực dụng. Điêu gia quyền lại lấy “thủ làm chủ, công là thứ”, trong nhu có cương, trong cương có nhu, mượn sức đối phương mà thừa kế phản kích. Hay Địa đường quyền pháp yêu cầu chi trên linh hoạt đa biến, lại phải có tương đối nhiều động tác ngã, ngáng cắt, vặn xoắn, đá gạt… Các môn phái Hồng, Lưu, Lý, Sái, Hiệp gia, Sái Lý Phật gia… ngoài các đặc điểm chung của Nam quyền vốn có thì cũng mang trong mình những độc chiêu, bản sắc riêng.
Sau khi nhà nước Trung Quốc thành lập năm 1949 đã thống nhất nhiều lưu phái võ thuật trong dân gian gọi chung là Wushu. Từ đó, Nam quyền và các bộ môn võ khí như Nam đao, Nam côn… là những nội dung thi đấu bắt buộc của võ sinh Wushu.
Theo Chu Hồng Châu (tổng hợp từ Ten Tigers of Canton, volam.net) (Chu
Hồng Châu (tổng hợp từ Ten Tigers of Canton, volam.net))
Với nội dung vô cùng phong phú, có thể nói là thâu tóm phần lớn những tinh hoa võ học dân gian của Trung Hoa, các lưu phái Nam quyền trải dài suốt một dải bờ nam sông Trường Giang ở các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Giang Tây, Chiết Giang, Hồ Nam, Hồ Bắc, Tứ Xuyên, Giang Tô… đủ cho thấy sự đa dạng cũng như đặc thù riêng của mỗi lưu phái do hấp thụ văn hoá theo từng vùng miền, từng dòng họ.
Trong Nam quyền Quảng Đông trừ Hồng Gia quyền, Lưu gia quyền, Sái (Thái) gia quyền, Lý gia quyền, Mạc gia quyền hay còn được gọi là “Ngũ đại lưu phái”. Ngoài ra còn có Vịnh Xuân quyền, Côn Luân quyền, Hổ hạc song hình quyền (hai hình hổ hạc), Sái (Thái) Lý Phật quyền, Hiệp gia quyền, Bạch Mi quyền, Nam cực quyền, Nho quyền, Phật gia quyền, Điêu gia giáo, Chung gia giáo…
Nam quyền Quảng Tây có Chu gia quyền, Đồ long quyền, Hồng môn phục hổ quyền và Tiểu sách đả…
Nam quyền Phúc Kiến có Ngũ hình quyền (long, xà, hổ, báo, hạc quyền Nam Thiếu Lâm), Ngũ tổ quyền, La Hán quyền, Mai Hoa trang, Liên thành quyền, Địa thuật quyền pháp, Vĩnh gia pháp, Ngư pháp (Cá pháp), Kê pháp (Gà pháp), Sư quyền (Sư tử), Hầu quyền (Khỉ), Ngũ Mai quyền, Nho pháp, Phỏng điểu tích (theo dấu chim)… rất nhiều lưu phái.
Nam quyền Tứ Xuyên có Tang, Nhạc, Triệu, Đỗ, Hồng, Hoá, Tự, Hội là 8 lưu phái lớn.
Nam quyền Chiết Giang có Hắc hổ quyền, Kim Cương quyền, Ôn Châu Nam quyền, Đài Châu Nam quyền.
Nam quyền Giang Tây có 36 lộ Tống Giang quyền, Hổ quyền…
Nam quyền Giang Tô cũng có sự khác biệt giữa quyền của Tô Châu, Vô Tích, Thượng Hải, Hàng Châu…
Liệt kê như vậy cho thấy sự đa dạng về tên gọi cũng như tính vùng miền ảnh hưởng rất lớn đến Nam quyền. Ngoài những tính chất chung, do đặc thù địa phương hay dòng họ mà Nam quyền lại mang những bản sắc riêng.
Về thân pháp thì yêu cầu trầm vai hạ khuỷu, co ngực mở lưng; về thủ pháp thì chuyên đánh ngắn, cầm nã, điểm đánh các huyệt vị. Về bộ pháp phần lớn yêu cầu lấy tứ bình đại mã làm cơ sở, trọng tâm hạ tương đối thấp, bộ pháp ôrn định vững vàng, đồng thời yêu cầu hạ chân xuống đất bám chặt như mọc rễ.
|
|
Hổ quyền thì lấy luyện “cốt” (xương) là chính, khi luyện phải đẩy khí của toàn thân, tay cứng hông thực. Khi giao đấu thường dùng Hổ chưởng, lấy khí phát lực, thế quyền hung mãnh. Cổ, họng dùng kình lực cực kỳ mãnh liệt, phải nghiến răng mím miệng, mắt hổ hau háu, thể hiện đầy đủ cái oai của hổ mạnh. Hạc quyền lấy luyện tinh làm chủ.
Theo hình hạc thì tinh đủ, thần tĩnh, khi luyện phải ngưng tinh đúc thần, lỏng tay động khí, tâm thủ tương ứng. Kê quyền coi trọng kỹ xảo, giỏi dùng chỉ, trảo, đỉnh (ngón tay thẳng, ngón tay quắp như vuốt, húc) luyện sao cho hai tay bật vung như gà vỗ cánh hay dùng trửu pháp (cùi chỏ) đánh như “kê dực” (cánh gà). Ngoài các thứ kể trên ra còn Báo quyền, Xà quyền, Sư (tử) quyền… ở mỗi lưu phái đều có đặc điểm riêng cả.
Ngoài ra, các lưu phái Nam quyền còn khác nhau ở những phong cách độc đáo riêng. Như Nhạc gia quyền lấy “công làm chủ, thủ là phụ”, tay trái là tay hư, tay phải là tay thực, chú trọng thực dụng. Điêu gia quyền lại lấy “thủ làm chủ, công là thứ”, trong nhu có cương, trong cương có nhu, mượn sức đối phương mà thừa kế phản kích. Hay Địa đường quyền pháp yêu cầu chi trên linh hoạt đa biến, lại phải có tương đối nhiều động tác ngã, ngáng cắt, vặn xoắn, đá gạt… Các môn phái Hồng, Lưu, Lý, Sái, Hiệp gia, Sái Lý Phật gia… ngoài các đặc điểm chung của Nam quyền vốn có thì cũng mang trong mình những độc chiêu, bản sắc riêng.
Sau khi nhà nước Trung Quốc thành lập năm 1949 đã thống nhất nhiều lưu phái võ thuật trong dân gian gọi chung là Wushu. Từ đó, Nam quyền và các bộ môn võ khí như Nam đao, Nam côn… là những nội dung thi đấu bắt buộc của võ sinh Wushu.
Nhận xét
Đăng nhận xét