KÝ ỨC CHÓI LỌI 4
(ĐC sưu tâm trên NET)
Bức thư kỳ lạ của một liệt sỹ

Biết trước cái chết
Đợt vào thăm thành cổ Quảng Trị, tôi nhớ lời dặn của những người lính: Hãy bước nhẹ trên từng vạt cỏ, bởi nơi ấy có xương máu thân thể của những người lính đã ngã xuống. Như sợ các anh đau, chúng tôi luôn bước thật nhẹ. Nhưng xúc động hơn, khi chúng tôi vào thăm khu di tích thành cổ Quảng Trị được đọc một bức thư. Bức thư đã khiến tôi và bao nhiêu người khác rơi lệ. Bức thư của một người lính đã hy sinh được anh viết trước khi mất 3 tháng giữa những ngày bom đạn khốc liệt nhất ở Quảng Trị.
Anh là liệt sỹ Lê Văn Huỳnh, ở xã Lê Lợi (Kiến Xương - Thái Bình). Bức thư đó anh viết để gửi cho người mẹ già đang mong ngóng đợi anh và cho người vợ cưới được 7 ngày đã phải xa chồng. Nội dung thư viết:
Hôm nay con ngồi đây biên vài dòng chữ cuối cùng, phòng khi đã “đi nghiên cứu bí mật trong lòng đất”, thì gia đình khỏi thấy đó là điều đột ngột.
Mẹ kính mến! Thư này tới mẹ là con đã đi xa rồi. Chắc mẹ đau buồn lắm. Lớn lên trong vòng tay mẹ từ khi còn trứng nước, chưa kịp báo đáp công ơn sinh thành, giờ con đi xa là để lại cho mẹ nỗi buồn nhất trên đời.
Con rất hiểu đời mẹ đã đau khổ nhiều, nhưng mẹ hãy lau nước mắt để sống đến ngày đón mừng chiến thắng. Con đi, mẹ ở lại trăm tuổi bạc đầu. Coi như con lúc nào cũng nằm bên mẹ. Coi như con đã sống trọn đời cho Tổ quốc mai sau…
Em yêu thương. Mọi lá thư đến với em đều là nguồn động viên em khi xa anh. Song, lá thư này đến tay em sẽ là nỗi buồn lớn nhất. Chúng ta sống với nhau chưa được bao lâu, thì chiến tranh đã cướp đi của em biết bao yêu thương, trìu mến. Người ta lấy chồng thì được chiều chuộng mọi điều. Em chưa được hưởng diễm phúc ấy đã phải xa anh….
Anh biết em sẽ không đọc nổi lá thư này, nhưng em hãy gạt nước mắt cho đời trẻ lại. Anh chỉ mong em khỏe, yêu đời, nếu có điều kiện, hãy cứ đi bước nữa, vì em còn trẻ lắm. Anh chỉ mong em sẽ luôn nhớ đến anh và hãy thắp hương cho anh vào ngày giỗ anh. Hãy là người con dâu hiếu thảo của mẹ, là người em ngoan của các anh chị anh…
Sau này hòa bình lập lại, nếu có điều kiện vào Nam, hãy mang hài cốt anh về. Đường đi như sau: Đi tàu vào thị xã Quảng Trị, qua sông Thạch Hãn là nơi anh đã hy sinh khi đưa hàng qua sông vào ngày 2-1-1973. Từ thị xã qua cầu, ngược trở lại, hỏi thăm thôn Nhan Biều. Em cứ đi đến đó, tính xuôi theo dòng nước thì ở cuối làng. Đến đó sẽ tìm thấy tấm bia ghi tên anh đục trên mảnh tôn. Mộ anh ở đó… Em sẽ đọc lá thư này cho mọi người trong gia đình nghe trong buổi lễ truy điệu anh. Cho anh gửi lời chúc sức khỏe tất cả những người quen thuộc trên quê hương trong buổi truy điệu lịch sử này….
Chào mẹ, chào em, chào tất cả gia đình và làng xóm quê hương.
Ký tên
Lê Văn Huỳnh…..”.
Lá thư này được liệt sỹ Lê Văn Huỳnh viết vào một ngày tháng 9-1972, trước ngày anh hy sinh hơn 3 tháng. Không ai hiểu tại sao anh biết trước cái chết của mình, biết tường tận nơi mình sẽ nằm xuống…

7 ngày làm vợ
Tôi quyết định tìm về Thái Bình để gặp “người phụ nữ đợi chờ” trong bức thư của người liệt sỹ. Bà vừa bước sang tuổi 65, tên là Đặng Thị Xơ - người cùng xã với liệt sỹ Huỳnh. Mối tình đẹp của hai người đã trở thành huyền thoại ở xã Lê Lợi cho đến hôm nay. Ngày ấy, chàng sinh viên ĐH Xây dựng vừa đẹp trai lại thông minh phải lòng một cô gái trẻ đẹp nhất làng. Trong những người đàn ông theo đuổi chị, chị chỉ yêu và chọn anh. Gia đình hai bên bao nhiêu lần giục cưới nhưng chị đều lần lữa vì sợ ảnh hưởng đến việc học hành của anh.
Tết dương lịch năm 1972, anh từ Hà Nội trở về thăm nhà và thông báo với chị: anh sắp lên đường nhập ngũ. Vậy là họ quyết định cưới nhau trong vài ngày nghỉ ngắn ngủi đó. Một đám cưới nho nhỏ nhưng ấm cúng diễn ra vào ngày 2-1-1972. Sau đám cưới, anh được ở nhà 3 ngày rồi tiếp tục lên trường. Tết Nguyên đán năm đó, anh được nghỉ và về nhà thêm 3 ngày nữa là 6. Trước ngày lên đường nhập ngũ, anh tranh thủ thăm nhà được 1 ngày rồi vĩnh viễn không bao giờ trở về. Tính từ ngày cưới cho đến lúc anh hy sinh, vợ chồng anh chị ở bên nhau trọn vẹn được 7 ngày, 7 đêm.
Những ngày 2-1
Lần cuối cùng gặp nhau, anh đã nắm tay chị dặn dò: “Mình là vợ chồng. Anh đi chiến đấu, sau này ngộ nhỡ anh trở về không lành lặn, xin em đừng hắt hủi anh, em nhé”. Chị nghe anh nói mà ứa nước mắt: “Dù anh có thế nào đi chăng nữa, em vẫn là vợ của anh trọn đời”.
Nhưng chị không bao giờ ngờ rằng, ngay cả việc được đón anh trở về, dù không lành lặn, cũng trở thành một ước mơ quá đỗi xa vời đối với cuộc đời chị. Sau ngày nhập ngũ, anh theo đơn vị vào chiến trường Quảng Trị, chiến trường khốc liệt nhất những năm 1972-1973. Và anh đã mãi mãi nằm lại nơi đó.
Trong những lá thư anh gửi về từ chiến trường, bao giờ cũng có một phần gửi mẹ, một phần gửi cho các anh chị trong nhà, một phần viết riêng cho chị. Chị nhận được thư anh đều đặn mỗi tháng. Nhưng sau lá thư tháng 12-1972, ông bưu tá vẫn đạp xe mang thư về làng không bao giờ dừng lại ở trước cửa nhà chị nữa. Từ đó, chị mất tin anh.
Trái tim người vợ mách bảo chị về những điều chẳng lành, những điều mà chị không dám nói ra với bất cứ ai nhưng vẫn hiểu nó đang ngày càng trở nên hiện thực đối với cuộc đời chị.
Sau Tết Nguyên đán năm đó, giấy báo tử của anh về đến địa phương. Sợ chị không chịu nổi cú sốc đó, người chị dâu khi đó đang làm ở xã, đã xin hoãn báo tử 3 tháng. Đến tháng 5-1973, giấy báo tử mới chính thức được gửi về nhà chị, cùng toàn bộ quân tư trang của anh. Anh hy sinh vào ngày 2-1-1973, đúng kỷ niệm tròn 1 năm ngày cưới. Và những ngày 2-1 sau này là những ngày chị buồn nhất, khóc nhiều nhất và cũng thương anh thật nhiều. Nhưng thương anh bao nhiêu, chị tự hào bấy nhiêu. Tự hào vì anh là người lính dũng cảm, tự hào vì anh đã chết vì lý tưởng cao đẹp.
Bức thư viết tháng 9-1972 nhận được như lời trăng trối. Nhưng mãi đến năm 2002, chị mới có thể lên đường và đúng như bức thư anh viết, mộ anh ở đó, ở thôn Nhan Biều, trên mộ có một tấm tôn ghi rõ tên anh: Liệt sỹ Lê Văn Huỳnh.

Bà Đặng Thị Xơ bảo: “Lúc này tôi nhớ đến lời anh viết trong bức thư “hãy
gạt nước mắt cho đời trẻ lại” và cảm nhận như thấy mình và anh trong
ngày mới cưới. Tôi ôm hài cốt anh, bao nhiêu năm xa cách, tôi lại được
ôm anh. Chỉ có điều, tôi khóc nhiều hơn, còn anh thì lặng lẽ. Tôi biết
rằng, yêu anh – yêu một người chiến sỹ, yêu một liệt sỹ là chấp nhận
sống cuộc đời chờ đợi”.
Đại đội 120 người, hết trận đánh chỉ còn 17
81 ngày đêm Thành cổ Quảng Trị rực lửa bắt đầu từ
ngày 28/6/1972. Con số hy sinh của quân ta trong chiến dịch giữ Thành Cổ
là vô cùng lớn và sự khốc liệt của nó thì đeo đẳng những người còn sống
đến tận hôm nay.
| ông Vũ Trung Thướng (Ảnh: Xuân Hải) |
Đại tá Vũ Trung Thướng, Anh hùng
lực lượng vũ trang nhân dân đã kể lại cho PV Infonet về cuộc chiến đấu
khốc liệt của quân ta khi bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972.
Nhiều người chưa kịp gửi thư cho gia đình đã hy sinh
Đôi tay xoa vào vết thương đã liền sẹo
sần sùi dưới bắp chân phải, Đại tá Vũ Trung Thướng, Anh hùng lực lượng
vũ trang nhân dân kể cho tôi nghe về sự khốc liệt, khó khăn, mất mát mà
ông và đồng đội đã trải qua trong suốt 81 ngày đêm giữ Thành cổ Quảng
Trị năm 1972, cách đây đã 42 năm.
Sinh ra ở vùng quê nghèo thôn Tảo Khê,
xã An Mỹ, Mỹ Đức, Hà Tây (nay là Hà Nội), chàng thanh niên Vũ Trung
Thướng nhập ngũ năm 1961 khi chưa đầy 18 tuổi. Ông đi bộ đội rồi được đi
học một thời gian và được cử về làm Chính trị viên Đại đội 5 bộ binh,
tiểu đoàn 2, trung đoàn 48, sư đoàn 320.
Ông Thướng nhớ lại trận chiến đấu với
địch để bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972: sau khi quân đội ta chiếm
được Thành Cổ Quảng Trị, địch điên cuồng, huy động lực lượng để chiếm
lại. Lúc này đại đội ông nhận được nhiệm vụ chốt ở ngã ba Long Hưng,
phía nam Thành cổ để đánh địch từ xa, đóng chốt không cho địch bước qua
ngã ba này vào Thành. Với cương vị là chính trị viên Đại đội 5 ông ra
lệnh cho đồng đội: “Chúng ta còn người còn đánh địch đến cùng, không để
địch tiến vào Thành cổ”.
“Khi đó việc bảo vệ được Thành cổ Quảng
Trị có ý nghĩa rất lớn đối với việc tạo ra thế mạnh trên bàn đàm phán
của ta tại Hội nghị Paris. Trận 81 ngày đêm từ ngày 28/6 đến ngày
16/9/1972, Đại đội 5 của tôi từ 120 quân, nhưng sau đó chỉ còn 17 người
sống sót, chúng tôi đã chiến đấu anh dũng, kiên cường để giữ Thành”, ông
Thướng nhớ lại.
Ông kể tiếp, ác liệt nhất trong trận giữ
Thành Cổ của đại đội ông là từ ngày 7/7 đến ngày 19/7/1972. Do trận
chiến đấu ác liệt nên việc vệ sinh đối với bộ đội rất vất vả, cứ mỗi khi
ngớt tiếng súng, nhìn ai cũng dính đầy bụi đất, khói súng, quần áo thì
nhàu nát, bị rách khắp nơi. Để chiến sỹ được tắm tranh thủ khi ngớt
tiếng súng, ông đã cho anh em đi tìm các sợi dây rồi buộc lại chắc chắn,
tìm những chiếc giếng bỏ hoang gần trận địa rồi bố trí từng người theo
dây xuống tắm.
Ông bảo: Trong trận chiến đấu khốc liệt
bảo vệ Thành cổ chúng tôi thực hiện phương châm bám sát địch để đánh,
nên sau mỗi đợt chống trả với sự tiến công của địch, chiến sỹ đơn vị lại
bò lên để thu súng ống AR15, kèm theo đồ hộp của quân địch để dùng đánh
lại chúng. Do đơn vị ngày càng có nhiều đồng đội hy sinh nên ông ra
lệnh cho anh em trước khi vào trận nạp sẵn đạn vào súng, mỗi người có
khoảng 5- 6 khẩu súng vừa AK và AR15 thu được để đánh địch, chính sáng
kiến này đã khiến cho quân ta không mất nhiều thời gian thay đạn mà
chiến đấu lại rất hiệu quả.
“Mỗi khi ngớt tiếng súng, lúc nghỉ ngơi
các anh em chúng tôi trong đơn vị lại tranh thủ mượn nhau cây bút, xin
nhau tờ giấy để viết thư gửi về gia đình, cho người yêu để động viên mọi
người yên tâm chờ đất nước thống nhất sẽ trở về, mùi súng đạn vương đầy
trên trang thư, qua những dòng chữ nguệch ngoạc, nhiều người còn chưa
kịp gửi thư về cho gia đình thì đã hy sinh rồi”, ông Thướng nhớ lại.
Mặc áo rách đi báo cáo thành tích
Trong trận đánh bảo vệ Thành Cổ từ ngày
7/7 đến 19/7/1972, đại đội ông đã tiêu diệt hơn 400 tên địch cùng 5 xe
tăng, tuy nhiên để giữ Thành không ít chiến sỹ của đơn vị ông đã hy
sinh.
Để tuyên dương những cán bộ, chiến sỹ có
thành tích xuất sắc trong trận chiến đấu bảo vệ Thành Cổ tại mặt trận
B5, trung đoàn 48 đã cử 5 người trong đó có: Vũ Trung Thướng, Mai Ngọc
Thoảng, Nguyễn Đức Khả, Nguyễn Văn Mạnh, Nguyễn Xuất Hiện đi báo cáo
thành tích vào tháng 8/1972.
“Khi đi báo cáo thành tích, do trận
chiến đấu bảo vệ Thành Cổ trong suốt 81 ngày đêm quá khốc liệt, hậu cần
chưa chuẩn bị kịp, nên cả 5 anh em chúng tôi quần áo đều rách te tua.
Thấy vậy, Tư lệnh Lê Trọng Tấn hỏi chúng tôi: “quần áo của các anh đâu
hết rồi”, tôi vội trả lời: “Thưa Tư lệnh, quần áo của anh em bộ đội bị
bom đạn xé rách hết rồi”. Nghe vậy, Tư lệnh đã ra lệnh hậu cần cấp mới
toàn bộ quân tư trang cho cả 5 anh em chúng tôi ngay tại buổi báo cáo
thành tích. Sau đó Tư lệnh còn thưởng cho mỗi người 2 cân gạo Hải Châu,
10 bao thuốc lá Điện Biên và Tam Đảo, 2 chai rượu cùng một ít sâm để đem
về làm quà cho anh em trong đơn vị”, ông Thướng nhớ lại.
Cũng trong trận chiến đấu 81 ngày đêm
bảo vệ Thành Cổ Quảng Trị, ông Thướng bị thương hạng 3/4, trong đó có 3
mảnh đạn M79 của địch hiện giờ vẫn ở trong người, 1 mảnh ở chân phải, 1
mảnh ở nách, 1 mảnh ở lưng. Ngày 23/9/1973 ông Vũ Văn Thướng vinh dự
được nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
khi mới 29 tuổi. Sau năm 1972, ông Thướng tiếp tục công tác trong sư
đoàn 320 tại Thanh Hóa và đón vợ con vào lập nghiệp tại đây, sinh sống
tại phường Bắc Sơn, Thị xã Bỉm Sơn, Tỉnh Thanh Hóa. Đến 1989 ông về nghỉ
hưu với quân hàm Đại tá.
Ông kể, đất nước hòa bình có lần tôi
được đi công tác nước ngoài, qua cửa kiểm tra an ninh của sân bay, sau
khi kiểm tra hết những đồ mang theo, trên người không để bất cứ vật gì
nhưng chiếc máy của an ninh kêu ầm lên, họ tiếp tục kiểm tra lại và hỏi
tôi: “Bác có mang theo vũ khí không?. Tôi bảo: “Có, nhưng đó là các mảnh
đạn của Mỹ ngụy đang găm trong người tôi chưa lấy ra được”.
“Mãi sau này tôi mới biết được chiếc áo
của tôi mặc trong 81 ngày đêm bảo vệ Thành Cổ Quảng Trị sau khi đi báo
cáo thành tích tại mặt trận B5 hiện đang được giữ lại và trưng bày tại
Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam, chiếc áo đó vẫn còn có 1 vết rách
trên vai do bị đạn địch bắn sượt qua”, ông Thướng nói.
81 ngày đêm - khúc tráng ca Thành cổ
Trở
lại Thành cổ Quảng Trị những ngày này, nhiều người đã không cầm được
nước mắt khi được nghe kể về sự chiến đấu anh dũng của các chiến sĩ quân
giải phóng trong 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ. Hơn 40 năm trước, thị xã
Quảng Trị đẹp như một bức tranh bên dòng sông Thạch Hãn, đã phải gồng
mình hứng chịu hàng ngàn tấn bom đạn của giặc Mỹ.
Có một thế hệ thanh niên đã lên đường dâng hiến cả tuổi thanh xuân đẹp nhất theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Đó là những chàng trai, cô gái từ nhiều miền quê yêu thương, có cả những sinh viên còn dang dở trên ghế trường đại học, cũng xếp bút nghiên ra trận, cùng với nhiều thế hệ cha anh, dấu chân của họ đã in trên khắp nẻo đường chiến dịch.
Gian
khó, hiểm nguy không ngăn nổi trái tim của những con người tuổi trẻ
tiến lên phía trước. Đạn bom, khốc liệt không làm nhụt ý chí chiến đấu
với quân thù. Họ đã đi tới những chiến công bằng sự kiên cường, dũng cảm
và sức chịu đựng phi thường giữa mưa bom, bão đạn. Họ đã làm nên chiến
thắng bằng cả máu đổ trên chiến trường. Nhiều người ngã xuống khi chưa
tròn 18, 20 tuổi; nhiều người hy sinh đến nay vẫn còn chưa xác định được
danh tính.
Nhưng tất cả ý chí, tâm hồn, công sức chiến đấu và sự cống hiến hy sinh của họ đã viết nên “Khúc tráng ca Thành cổ”, một trường đoạn bi tráng và hào hùng của bản anh hùng ca về cuộc kháng chiến chống Mỹ, giành độc lập, tự do cho dân tộc.
Thị xã và Thành cổ Quảng Trị nằm bên bờ phía đông (toàn bộ sông Thạch Hãn phân chia thành nam-bắc, nhưng ở đoạn chảy qua Thành cổ Quảng Trị, con sông này chảy theo hướng nam chếch lên bắc, nên thị xã và Thành cổ Quảng Trị nằm ở bờ đông của đoạn sông) tiếp giáp hai huyện Triệu Phong, Hải Lăng, diện tích khoảng 4km2; năm 1972 toàn thị xã có 14.000 dân đã được sơ tán. Đứng về mặt quân sự chỉ là một mục tiêu có tính chiến thuật. Nhưng để phục vụ nhiệm vụ chính trị và yêu cầu trực tiếp của cuộc đấu tranh ngoại giao lúc đó thì rất quan trọng.
Cuộc chiến đấu giữa ta và địch tại Quảng Trị trong 81 ngày đêm diễn ra vô cùng ác liệt, suốt cả ngày lẫn đêm. Các chốt quan trọng như Long Quang, nhà thờ Trí Bưu, ngã ba Long Hưng, ngã ba Cầu Ga… là những nơi mà quân giải phóng bất chấp hiểm nguy, gian khổ để đập tan các đợt phản kích của địch. Có ngày ta phải đương đầu với 5 đợt tấn công bằng bộ binh, xe tăng, phi pháo của địch. Đặc biệt, Thành cổ Quảng Trị là tiêu điểm ác liệt nhất và cũng là nơi thể hiện tinh thần anh dũng hy sinh, chiến đấu phi thường của quân và dân ta.
Báo Quân đội Nhân dân số ra ngày 9-8-1972 viết: “Mỗi mét vuông đất tại Thành cổ Quảng Trị là một mét máu và sự hy sinh của các anh đã trở thành bất tử. Trong 81 ngày đêm, từ ngày 28-6 đến 16-9-1972, Thành cổ Quảng Trị đã phải hứng chịu 328.000 tấn bom đạn. Trung bình mỗi chiến sĩ phải hứng lấy 100 quả bom, 200 quả đạn pháo. Mỗi ngày có 1 đại đội vượt dòng Thạch Hãn để tiếp viện quân số, nhưng đêm nay một đại đội tiến vào thì ngày mai chỉ còn lại vài người sống sót”.
Trong những ngày đó, quân và dân ta đã vượt qua muôn vàn khó khăn, ác liệt, mưa lũ triền miên để bám trụ và chiến đấu với các đối tượng sừng sỏ, thiện chiến của quân ngụy Sài Gòn với sự yểm trợ hỏa lực chưa từng thấy trong lịch sử chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Đông Dương. Một tờ báo của Mỹ đã viết: Kỷ luật, lý tưởng và tinh thần coi thường cái chết đã kết hợp với nhau như thế nào mà khiến các chiến sỹ Việt cộng vẫn xông lên dưới mưa bom B52? Không có một nhà phân tích nào ở Mỹ đi đến một giải thích đầy đủ.
Sau này, khi nghiên cứu về 81 ngày đêm diễn ra ở Thành cổ Quảng Trị, nhiều nhà nghiên cứu nghệ thuật quân sự đã đặt vấn đề: Không hiểu sức mạnh nào đã khiến cho hàng vạn người lính, bất chấp hiểm nguy của mưa bom bão đạn, sẵn sàng vượt sông bảo vệ Thành Cổ mà không tiếc thân mình? Điều này được những cựu chiến binh năm xưa lý giải, đó là lòng yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Khi lòng yêu nước đã lên đến tột cùng thì cái chết cũng nhẹ nhàng như hòa mình vào dòng nước chảy.
Cuộc chiến đấu ở đây đã diễn ra như một huyền thoại và cách đánh cũng vượt ra khỏi những quy ước thông thường: không kể bộ binh hay công binh thông tin, quân y… đều cầm súng bắn trả địch. Cuộc chiến đấu anh hùng 81 ngày đêm bảo vệ Thành Cổ Quảng Trị kết thúc, ghi dấu sức mạnh kiên cường, ý chí bền bỉ mạnh mẽ của quân và dân ta.
Đây là trận chiến đấu hào hùng oanh liệt nhất làm sáng ngời một chân lý: kẻ xâm lược có sức mạnh, vũ khí tối tân đã chịu thua những con người có ý chí thép gang vì độc lập tự do của Tổ quốc.
Ngày 1-5-1972, Quảng Trị được hoàn toàn giải phóng, đánh dấu mốc son vẻ vang trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc, là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng yêu nước và tinh thần bất khuất kiên cường của quân và dân ta. Những mốc son lịch sử đó sẽ mãi mãi ghi vào lịch sử trường tồn của dân tộc Việt Nam, là niềm tự hào của mỗi con người Quảng Trị nói riêng, của dân tộc Việt Nam nói chung.
Những người lính Thành Cổ, đa số tuổi đời còn rất trẻ, đã lấy gan vàng chọi với sắt thép để tạc nên một tượng đài sừng sững với khát vọng độc lập, thống nhất về lương tri và phẩm giá con người trước vận mệnh đất nước. Có thể nói rằng, cuộc chiến 81 ngày đêm chốt giữ Thành cổ Quảng Trị là một khúc tráng ca của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam được viết bằng máu đỏ, có biết bao chiến sĩ quân giải phóng đã ngã xuống mà nhiều người trong số họ thân xác vĩnh viễn tan hòa vào đất đai, cây cỏ…
Có một thế hệ thanh niên đã lên đường dâng hiến cả tuổi thanh xuân đẹp nhất theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Đó là những chàng trai, cô gái từ nhiều miền quê yêu thương, có cả những sinh viên còn dang dở trên ghế trường đại học, cũng xếp bút nghiên ra trận, cùng với nhiều thế hệ cha anh, dấu chân của họ đã in trên khắp nẻo đường chiến dịch.
Thanh niên, sinh viên nhập ngũ vào chiến đấu tại mặt trận Quảng Trị năm 1972. Ảnh: qdnd.vn
|
Nhưng tất cả ý chí, tâm hồn, công sức chiến đấu và sự cống hiến hy sinh của họ đã viết nên “Khúc tráng ca Thành cổ”, một trường đoạn bi tráng và hào hùng của bản anh hùng ca về cuộc kháng chiến chống Mỹ, giành độc lập, tự do cho dân tộc.
Thị xã và Thành cổ Quảng Trị nằm bên bờ phía đông (toàn bộ sông Thạch Hãn phân chia thành nam-bắc, nhưng ở đoạn chảy qua Thành cổ Quảng Trị, con sông này chảy theo hướng nam chếch lên bắc, nên thị xã và Thành cổ Quảng Trị nằm ở bờ đông của đoạn sông) tiếp giáp hai huyện Triệu Phong, Hải Lăng, diện tích khoảng 4km2; năm 1972 toàn thị xã có 14.000 dân đã được sơ tán. Đứng về mặt quân sự chỉ là một mục tiêu có tính chiến thuật. Nhưng để phục vụ nhiệm vụ chính trị và yêu cầu trực tiếp của cuộc đấu tranh ngoại giao lúc đó thì rất quan trọng.
Cuộc chiến đấu giữa ta và địch tại Quảng Trị trong 81 ngày đêm diễn ra vô cùng ác liệt, suốt cả ngày lẫn đêm. Các chốt quan trọng như Long Quang, nhà thờ Trí Bưu, ngã ba Long Hưng, ngã ba Cầu Ga… là những nơi mà quân giải phóng bất chấp hiểm nguy, gian khổ để đập tan các đợt phản kích của địch. Có ngày ta phải đương đầu với 5 đợt tấn công bằng bộ binh, xe tăng, phi pháo của địch. Đặc biệt, Thành cổ Quảng Trị là tiêu điểm ác liệt nhất và cũng là nơi thể hiện tinh thần anh dũng hy sinh, chiến đấu phi thường của quân và dân ta.
Báo Quân đội Nhân dân số ra ngày 9-8-1972 viết: “Mỗi mét vuông đất tại Thành cổ Quảng Trị là một mét máu và sự hy sinh của các anh đã trở thành bất tử. Trong 81 ngày đêm, từ ngày 28-6 đến 16-9-1972, Thành cổ Quảng Trị đã phải hứng chịu 328.000 tấn bom đạn. Trung bình mỗi chiến sĩ phải hứng lấy 100 quả bom, 200 quả đạn pháo. Mỗi ngày có 1 đại đội vượt dòng Thạch Hãn để tiếp viện quân số, nhưng đêm nay một đại đội tiến vào thì ngày mai chỉ còn lại vài người sống sót”.
Thành cổ Quảng Trị năm 1972. Ảnh: Tư liệu
Trong những ngày đó, quân và dân ta đã vượt qua muôn vàn khó khăn, ác liệt, mưa lũ triền miên để bám trụ và chiến đấu với các đối tượng sừng sỏ, thiện chiến của quân ngụy Sài Gòn với sự yểm trợ hỏa lực chưa từng thấy trong lịch sử chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Đông Dương. Một tờ báo của Mỹ đã viết: Kỷ luật, lý tưởng và tinh thần coi thường cái chết đã kết hợp với nhau như thế nào mà khiến các chiến sỹ Việt cộng vẫn xông lên dưới mưa bom B52? Không có một nhà phân tích nào ở Mỹ đi đến một giải thích đầy đủ.
Sau này, khi nghiên cứu về 81 ngày đêm diễn ra ở Thành cổ Quảng Trị, nhiều nhà nghiên cứu nghệ thuật quân sự đã đặt vấn đề: Không hiểu sức mạnh nào đã khiến cho hàng vạn người lính, bất chấp hiểm nguy của mưa bom bão đạn, sẵn sàng vượt sông bảo vệ Thành Cổ mà không tiếc thân mình? Điều này được những cựu chiến binh năm xưa lý giải, đó là lòng yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Khi lòng yêu nước đã lên đến tột cùng thì cái chết cũng nhẹ nhàng như hòa mình vào dòng nước chảy.
Cuộc chiến đấu ở đây đã diễn ra như một huyền thoại và cách đánh cũng vượt ra khỏi những quy ước thông thường: không kể bộ binh hay công binh thông tin, quân y… đều cầm súng bắn trả địch. Cuộc chiến đấu anh hùng 81 ngày đêm bảo vệ Thành Cổ Quảng Trị kết thúc, ghi dấu sức mạnh kiên cường, ý chí bền bỉ mạnh mẽ của quân và dân ta.
Đây là trận chiến đấu hào hùng oanh liệt nhất làm sáng ngời một chân lý: kẻ xâm lược có sức mạnh, vũ khí tối tân đã chịu thua những con người có ý chí thép gang vì độc lập tự do của Tổ quốc.
Ngày 1-5-1972, Quảng Trị được hoàn toàn giải phóng, đánh dấu mốc son vẻ vang trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc, là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng yêu nước và tinh thần bất khuất kiên cường của quân và dân ta. Những mốc son lịch sử đó sẽ mãi mãi ghi vào lịch sử trường tồn của dân tộc Việt Nam, là niềm tự hào của mỗi con người Quảng Trị nói riêng, của dân tộc Việt Nam nói chung.
Những người lính Thành Cổ, đa số tuổi đời còn rất trẻ, đã lấy gan vàng chọi với sắt thép để tạc nên một tượng đài sừng sững với khát vọng độc lập, thống nhất về lương tri và phẩm giá con người trước vận mệnh đất nước. Có thể nói rằng, cuộc chiến 81 ngày đêm chốt giữ Thành cổ Quảng Trị là một khúc tráng ca của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam được viết bằng máu đỏ, có biết bao chiến sĩ quân giải phóng đã ngã xuống mà nhiều người trong số họ thân xác vĩnh viễn tan hòa vào đất đai, cây cỏ…
Nhật ký chiến trận của người cựu binh trên thành cổ Quảng Trị
08:11 01/06/2015Cuốn “Nhật ký chiến trận” quý giá anh Đinh Gia Công sẽ được Nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành trong thời gian tới đây. Chỉ tiếc rằng, anh đã mãi mãi đi xa vì bạo bệnh, khi chưa kịp cầm cuốn sách trên tay.
Chúng tôi đã nhiều lần đến thăm anh Đinh Gia Công (sinh 1948) ngụ
thôn Tân Hội, xã Liên Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, một cựu
chiến binh từng tham gia giữ chốt trong chiến dịch bảo vệ Thành cổ Quảng
Trị năm 1972, hội viên Phân ban Nhiếp ảnh, Hội Văn học nghệ thuật Quảng
Bình. Anh chính là tác giả cuốn “Nhật ký chiến trận” quý giá sẽ được
Nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành trong thời gian tới đây. Chỉ tiếc rằng,
anh đã mãi mãi đi xa vì bạo bệnh, khi chưa kịp cầm cuốn sách trên tay.
Người về từ đạn bom
Nhớ những lần đến thăm gia đình anh Đinh Gia Công trong căn nhà cấp bốn xập xệ, cửa ngõ đều “vá víu” bằng những miếng gỗ, thanh gỗ nhám xịt nhiều loại, nếu gió bấc kèm mưa rét thì khách và chủ không có chỗ trú chân, chúng tôi lại bùi ngùi. Người vợ của anh quanh năm lam lũ với ruộng đồng nên dường như chị già hơn so với tuổi 60. Sức khỏe của chị cũng giảm sút nhiều do bệnh khớp hành hạ, đi lại khó khăn.
26 năm chung sống, vợ chồng anh chị có năm người con, ba trai, hai gái. Chắt chiu đồng lương hưu và trợ cấp thương binh của chồng cộng với số tiền thu được từ củ khoai, cân thóc, con gà, con lợn nuôi trong nhà, vợ chồng anh gắng nuôi năm con khôn lớn. Hiện nay, con anh có người đã có nghề nghiệp ổn định, nhưng có người chưa nên vợ chồng nên anh chị vẫn canh cánh trong lòng.
Đồng đội cũ và bạn bè anh Đinh Gia Công rất khâm phục, mến mộ anh, không những vì tính tình vui vẻ, hòa nhã, hết lòng vì bạn mà vì anh có một bề dày thành tích chiến đấu trước, trong và sau những ngày tham gia chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị (1972).
Cuốn nhật ký chiến trận được ghi từ những ngày trong quân ngũ đã ghi lại những ngày tháng lịch sử oai hùng ấy của anh, một thanh niên, học sinh miền Bắc xã hội chủ nghĩa say mê lý tưởng cách mạng và sẵn sàng xả thân nơi hòn tên mũi đạn để bảo vệ Tổ quốc. Đó là cuốn sổ tay cỡ 12x16cm bằng giấy đào lâm màu sẫm, được bọc bằng vải đỏ. Cuốn nhật ký không còn nguyên vẹn bởi trên mình nó mang thương tích của một mảnh bom xén ngọt một góc ngày 5/8/1972 tại chiến hào Thành cổ Quảng Trị. Cuốn nhật ký là “người bạn đời yêu quý sau mẹ” như lời anh đã viết trong đó. Nó đã theo anh bên mình mấy chục năm nay.
Được Hội Văn học nghệ thuật Quảng Bình hỗ trợ, tác giả cuốn nhật ký
đã đánh máy, nhà xuất bản Thuận Hóa đã biên tập lại và cấp giấy phép để
có thể ấn hành vào thời gian tới. Ông Phan Đình Tiến, chủ tịch Hội Văn
học nghệ thuật Quảng Bình đã đánh giá cao cuốn nhật kí: “Nó sẽ là ấn
phẩm góp phần giáo dục tư tưởng, tình cảm cho mọi người, nhất là tầng
lớp thanh thiếu niên, học sinh”.
Những ngày làm công binh
Anh là con trai thứ hai của một gia đình đông con. Năm 1970, khi còn một tháng nữa là kết thúc năm học lớp 10 (hệ 10 năm) Trường cấp 3 Bố Trạch, Quảng Bình, chàng thanh niên Đinh Gia Công cùng 11 nam sinh đã được gọi đi khám tuyển cấp tốc và lên đường bảo vệ Tổ quốc.
Sau 3 tháng huấn luyện cơ bản, anh được sung vào Đại đội Công binh 363 huyện Bố Trạch thuộc tỉnh đội Quảng Bình. Công việc của Đại đội anh là chuyên đúc trụ, đúc dầm bằng ximăng cốt sắt để vận chuyển đến các đơn vị khác xây công sự, hầm hào, kho tàng. Những ngày nắng đổ lửa hay rét mướt dầm dề, chiến sĩ vẫn lội xuống sông vớt sạn, rồi chèo thuyền về bến, chặt sắt, néo sắt, trộn ximăng và đổ bêtông. Công việc tưởng như đơn giản nhưng vô cùng phức tạp và vất vả.
Trong môi trường sống, học tập, lao động và rèn luyện đó, để không ngừng tiến bộ và trưởng thành, từ ngày 23/8/1971, anh Đinh Gia Công đã tự đóng sổ tay để viết nhật ký đời lính của mình. Trong lời mở đầu tập nhật ký, anh đã viết: “Paven Coocsaghin trong cuốn “Thép đã tôi thế đấy” đã giúp tôi rất nhiều trong cuộc sống hàng ngày và trong đấu tranh cách mạng. Mình phải sống như thế nào cho xứng đáng trong thời đại hiện nay, thời đại Hồ Chí Minh rực rỡ, thời đại chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản đang đi tới… Bản thân tôi sống và lớn lên trong giai đoạn này phải làm thế nào cho thật có ích, để đóng góp một phần nhỏ vào cuộc chống Mỹ cứu nước mau thắng lợi…”.
Những trang nhật ký đã ghi lại hình ảnh anh và các chiến sĩ vào rừng lấy lá mây về củng cố doanh trại. Vất vả, nặng nhọc trong công việc, anh cho đó là hạnh phúc. Nhật ký ngày 19/12/1971 anh đã ghi rõ quan niệm về hạnh phúc ấy của mình: “…Có người chỉ biết nhu cầu hạnh phúc riêng cá nhân. Nếu chỉ biết quanh quẩn trong cái hố cá nhân thì không bao giờ có hạnh phúc cả. Con người phải luôn luôn lao vào chỗ khó khăn nguy hiểm để hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc, đưa lại lợi ích chung cho toàn Đảng, toàn dân. Đó mới chính là hạnh phúc chính đáng”.
Một lần vận chuyển cột bêtông lên ôtô cho một đơn vị đến nhận hàng, do vác quá nặng nên sống lưng anh trật khớp. Lại do anh uống nước khe, suối, khi đi rừng lấy củi, chặt cây làm hầm mà anh sinh ra đau bụng. Hai loại bệnh đó âm ỉ trong người, khiến nước da anh tái xanh, nhìn vào ai cũng ái ngại. Nhưng Đinh Gia Công vẫn im lặng, nhất quyết không hề van vỉ, kêu ca. Nhật ký ngày 31/12/1971 anh đã viết: “…Bề ngoài vẫn bình thường với công việc, nhưng bên trong, bệnh tật hoành hành dữ dội, nhưng tôi quyết tâm chiến đấu với bệnh tật để hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng của Đảng giao cho”.
Binh nhất Đinh Gia Công say mê tác phẩm Ruồi trâu của nữ nhà văn Anh Lilian Vôinitxơ, một cuốn sách “gối đầu giường” của thanh niên thời kỳ đó. Nhật ký 15/1/1972 có đoạn: “Công việc thường lệ, bệnh tình trong người tôi vẫn âm ỉ, nhưng những ý nghĩ về Ruồi trâu không làm sao mà phai nhạt trong đầu óc. Ruồi trâu đã tỏ ra hết sức dũng cảm, bất khuất trước kẻ thù nguy hiểm nhất, tôi lặng người trong giây phút vì cái chết của Ruồi trâu…”.
Đại đội trưởng biết chuyện Đinh Gia Công bị bệnh nhưng vẫn cố gắng trong công việc đã bắt buộc anh phải đi nằm viện. Thời kỳ này, bệnh viện không đủ phương tiện khám chữa. Gần 20 ngày điều trị, nhưng bệnh tình của Đinh Gia Công không hề thuyên giảm. Anh quyết định xin ra viện, trở về tham gia lao động đúc bêtông với anh em trong đơn vị. Trở về với tiểu đội như cá về với nước, anh sung sướng hân hoan khôn tả. Nhưng công việc nặng nề khiến cột sống lại nhức nhối. Tuy vậy, anh vẫn nghiến răng chịu đựng.
Tình cờ, một lần xin đơn vị về nhà nghỉ chủ nhật, anh được gia đình đưa đến một thầy lang chuyên nắn lưng, sửa khớp. Và hiệu nghiệm ngay, bệnh thuyên giảm. Niềm vui sướng được anh ghi lại trong nhật kí ngày 14/6/1972: “Ta đang buồn da diết với bao nỗi dằn vặt lương tâm bởi ốm đau, thì hôm nay bệnh có đỡ. Ta nở nụ cười viễn hướng tương lai. Chân trời rạng sáng, mơ ước tuổi trẻ đang chờ ta…”.
Chiến đấu ở Thành cổ Quảng Trị
Chiến trường hai miền Nam - Bắc lúc này đang sôi động bởi những chiến thắng lớn. Quảng Trị giải phóng, nhưng địch quyết tâm chiếm lại, tạo nên không khí quyết liệt đôi bên. Một đơn vị đặc biệt của Tỉnh đội Quảng Bình được thành lập nhằm cung ứng cho chiến trường B5. Binh nhất Đinh Gia Công là một trong những chiến sĩ được vinh dự triệu tập đứng trong đoàn quân của Tiểu đoàn này. Mùa huấn luyện mới bắt đầu. Bắn đạn thật AK và B41, anh đạt loại giỏi và được tuyên dương toàn Tiểu đoàn.
Ngày 27/6/1972, chiến dịch bảo vệ Thành Cổ Quảng Trị bắt đầu. Đinh Gia Công được sung vào Đại đội 11, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 48. Cả đơn vị được lệnh hành quân cấp tốc vào mặt trận. Anh lính Đinh Gia Công rạo rực, hân hoan trước nhiệm vụ mới của mình.
Ngày 21/7/1972: “Tối hôm nay sinh hoạt đơn vị. Thủ trưởng Tiểu đoàn trực tiếp giao nhiệm vụ và quán triệt tình hình. Tôi hiểu rằng, đó là lời kêu gọi của non sông đất nước. Ước mơ lâu nay của bản thân là được ra tiền tuyến, nay đã thành sự thật. Lời thề cứu nước giục lòng tôi. Cấp tốc chuẩn bị ba lô đến khuya. Đêm nay tôi không sao ngủ được”.
Ngày 22/7/1972: “…10 giờ, lệnh xuất phát hành quân bắt đầu. Lời dặn cuối cùng của Thủ trưởng chính trị Tiểu đoàn là lời hịch cứu nước của non sông, làm rạo rực, phơi phới lòng tôi, ước gì bước vào cuộc chiến đấu ngay sau đó”.
Ngày 1/8/1972, đơn vị Trung đoàn 48 thuộc Sư đoàn 320B của anh chính thức tham gia chiến dịch bảo vệ Thành cổ Quảng Trị. Ngày 05/8/1972, sau 4 ngày đánh nhau với địch, anh cùng chiến sĩ Nguyễn Hồng Quảng quê ở Phúc Trạch, Bố Trạch được phân công ở lại trong hầm chữ A cùng hai tổ chiến đấu khác tại ngã tư Đệ Ngũ để giữ đất, không cho địch lấn chiếm. Cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra vô cùng ác liệt khi hai bên chỉ cách nhau vài ba chục mét, có cơ hội là dội lửa đạn tiêu diệt nhau. Sau hai lần bị ngất do đạn pháo địch nổ gần, tại trạm phẫu, anh đã tìm lại được cuốn nhật ký của mình và ghi lại diễn biến cuộc chiến đấu đó.
11/8/1972: “Hơn 10 ngày lao vào chiến đấu với quân thù, tôi không có điều kiện để ghi vào cuốn sổ được. Quyển sổ (Nhật ký - TG) giờ đây đã bị bom thù xéo nát, nhưng những dòng nhật ký vẫn tươi mát và hùng tráng vẫn giữ lại bên mình”.
Ngày 15/8/1972, Đại đội 11, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 48, Sư đoàn 320B của Đinh Gia Công được lui về tuyến sau để củng cố, chuẩn bị cho những cuộc chiến đấu tiếp diễn. Sau mười ngày chiến đấu, lúc này đơn vị chỉ còn lại 14 người đầy thương tích, trong đó có anh.
Đơn vị được bổ sung lính mới của Hà Nội, Hải Phòng mới vào, Đinh Gia Công được thăng chức B phó. 5 ngày sau thay cho B trưởng đi nhận nhiệm vụ. Trong lần dẫn Đại đội của mình sau khi vượt sông Thạch Hãn, băng qua trảng cát thì B52 đến dội bom. Anh bị sức ép của bom làm ngất đi. Một tuần sau tỉnh dậy thì anh thấy mình nằm lại bệnh viện dã chiến mặt trận B5 ở miền Tây Quảng Trị.
Nhật ký của Đinh Gia Công sau đó còn ghi lại những ngày nằm viện và ra miền Bắc điều dưỡng khi ở Quảng Bình, khi ở Nghệ An rồi Thanh Hóa cho đến ngày ra quân (1986). Lúc nào trong anh cũng nung nấu ý chí muốn trở lại đơn vị và anh đã một lần trốn trại điều dưỡng trở về đơn vị cũ của mình.
Tiễn biệt tác giả “Nhật ký chiến trận”
Anh Đinh Gia Công bị đau tim gần hai năm nay. Gia đình đưa anh chạy chữa hết bệnh viện Việt Nam - Cuba Đồng Hới, đến Bệnh viện Trung ương Huế, rồi đến Bệnh viện Việt Đức (Hà Nội). Nhưng cuối cùng, anh bị nhồi máu cơ tim cấp rồi đột ngột qua đời ngày 12/12/2014 khi ca mổ tim chuẩn bị diễn ra.
Trong tang lễ người cựu chiến binh chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị (1972) Đinh Gia Công, một số anh em văn nghệ sĩ Quảng Bình có mặt đã “hóa vàng” bản đánh máy và nhân bản tập “Nhật ký chiến trận” của người quá cố. Trong giây phút xúc động, mỗi người cầm một cốc rượu tưới lên tàn lửa như đang chia sẻ với người dưới mộ những vui buồn như những ngày còn sống.
Hải Thanh
Người về từ đạn bom
Nhớ những lần đến thăm gia đình anh Đinh Gia Công trong căn nhà cấp bốn xập xệ, cửa ngõ đều “vá víu” bằng những miếng gỗ, thanh gỗ nhám xịt nhiều loại, nếu gió bấc kèm mưa rét thì khách và chủ không có chỗ trú chân, chúng tôi lại bùi ngùi. Người vợ của anh quanh năm lam lũ với ruộng đồng nên dường như chị già hơn so với tuổi 60. Sức khỏe của chị cũng giảm sút nhiều do bệnh khớp hành hạ, đi lại khó khăn.
26 năm chung sống, vợ chồng anh chị có năm người con, ba trai, hai gái. Chắt chiu đồng lương hưu và trợ cấp thương binh của chồng cộng với số tiền thu được từ củ khoai, cân thóc, con gà, con lợn nuôi trong nhà, vợ chồng anh gắng nuôi năm con khôn lớn. Hiện nay, con anh có người đã có nghề nghiệp ổn định, nhưng có người chưa nên vợ chồng nên anh chị vẫn canh cánh trong lòng.
Đồng đội cũ và bạn bè anh Đinh Gia Công rất khâm phục, mến mộ anh, không những vì tính tình vui vẻ, hòa nhã, hết lòng vì bạn mà vì anh có một bề dày thành tích chiến đấu trước, trong và sau những ngày tham gia chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị (1972).
Cuốn nhật ký chiến trận được ghi từ những ngày trong quân ngũ đã ghi lại những ngày tháng lịch sử oai hùng ấy của anh, một thanh niên, học sinh miền Bắc xã hội chủ nghĩa say mê lý tưởng cách mạng và sẵn sàng xả thân nơi hòn tên mũi đạn để bảo vệ Tổ quốc. Đó là cuốn sổ tay cỡ 12x16cm bằng giấy đào lâm màu sẫm, được bọc bằng vải đỏ. Cuốn nhật ký không còn nguyên vẹn bởi trên mình nó mang thương tích của một mảnh bom xén ngọt một góc ngày 5/8/1972 tại chiến hào Thành cổ Quảng Trị. Cuốn nhật ký là “người bạn đời yêu quý sau mẹ” như lời anh đã viết trong đó. Nó đã theo anh bên mình mấy chục năm nay.
| Anh Đinh Gia Công (thứ hai từ trái sang) cùng những đồng đội năm xưa gặp nhau trong dịp Kỷ niệm 40 năm chiến đấu giữ Thành cổ Quảng Trị (2012). |
Những ngày làm công binh
Anh là con trai thứ hai của một gia đình đông con. Năm 1970, khi còn một tháng nữa là kết thúc năm học lớp 10 (hệ 10 năm) Trường cấp 3 Bố Trạch, Quảng Bình, chàng thanh niên Đinh Gia Công cùng 11 nam sinh đã được gọi đi khám tuyển cấp tốc và lên đường bảo vệ Tổ quốc.
Sau 3 tháng huấn luyện cơ bản, anh được sung vào Đại đội Công binh 363 huyện Bố Trạch thuộc tỉnh đội Quảng Bình. Công việc của Đại đội anh là chuyên đúc trụ, đúc dầm bằng ximăng cốt sắt để vận chuyển đến các đơn vị khác xây công sự, hầm hào, kho tàng. Những ngày nắng đổ lửa hay rét mướt dầm dề, chiến sĩ vẫn lội xuống sông vớt sạn, rồi chèo thuyền về bến, chặt sắt, néo sắt, trộn ximăng và đổ bêtông. Công việc tưởng như đơn giản nhưng vô cùng phức tạp và vất vả.
Trong môi trường sống, học tập, lao động và rèn luyện đó, để không ngừng tiến bộ và trưởng thành, từ ngày 23/8/1971, anh Đinh Gia Công đã tự đóng sổ tay để viết nhật ký đời lính của mình. Trong lời mở đầu tập nhật ký, anh đã viết: “Paven Coocsaghin trong cuốn “Thép đã tôi thế đấy” đã giúp tôi rất nhiều trong cuộc sống hàng ngày và trong đấu tranh cách mạng. Mình phải sống như thế nào cho xứng đáng trong thời đại hiện nay, thời đại Hồ Chí Minh rực rỡ, thời đại chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản đang đi tới… Bản thân tôi sống và lớn lên trong giai đoạn này phải làm thế nào cho thật có ích, để đóng góp một phần nhỏ vào cuộc chống Mỹ cứu nước mau thắng lợi…”.
Những trang nhật ký đã ghi lại hình ảnh anh và các chiến sĩ vào rừng lấy lá mây về củng cố doanh trại. Vất vả, nặng nhọc trong công việc, anh cho đó là hạnh phúc. Nhật ký ngày 19/12/1971 anh đã ghi rõ quan niệm về hạnh phúc ấy của mình: “…Có người chỉ biết nhu cầu hạnh phúc riêng cá nhân. Nếu chỉ biết quanh quẩn trong cái hố cá nhân thì không bao giờ có hạnh phúc cả. Con người phải luôn luôn lao vào chỗ khó khăn nguy hiểm để hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc, đưa lại lợi ích chung cho toàn Đảng, toàn dân. Đó mới chính là hạnh phúc chính đáng”.
Một lần vận chuyển cột bêtông lên ôtô cho một đơn vị đến nhận hàng, do vác quá nặng nên sống lưng anh trật khớp. Lại do anh uống nước khe, suối, khi đi rừng lấy củi, chặt cây làm hầm mà anh sinh ra đau bụng. Hai loại bệnh đó âm ỉ trong người, khiến nước da anh tái xanh, nhìn vào ai cũng ái ngại. Nhưng Đinh Gia Công vẫn im lặng, nhất quyết không hề van vỉ, kêu ca. Nhật ký ngày 31/12/1971 anh đã viết: “…Bề ngoài vẫn bình thường với công việc, nhưng bên trong, bệnh tật hoành hành dữ dội, nhưng tôi quyết tâm chiến đấu với bệnh tật để hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng của Đảng giao cho”.
Binh nhất Đinh Gia Công say mê tác phẩm Ruồi trâu của nữ nhà văn Anh Lilian Vôinitxơ, một cuốn sách “gối đầu giường” của thanh niên thời kỳ đó. Nhật ký 15/1/1972 có đoạn: “Công việc thường lệ, bệnh tình trong người tôi vẫn âm ỉ, nhưng những ý nghĩ về Ruồi trâu không làm sao mà phai nhạt trong đầu óc. Ruồi trâu đã tỏ ra hết sức dũng cảm, bất khuất trước kẻ thù nguy hiểm nhất, tôi lặng người trong giây phút vì cái chết của Ruồi trâu…”.
Đại đội trưởng biết chuyện Đinh Gia Công bị bệnh nhưng vẫn cố gắng trong công việc đã bắt buộc anh phải đi nằm viện. Thời kỳ này, bệnh viện không đủ phương tiện khám chữa. Gần 20 ngày điều trị, nhưng bệnh tình của Đinh Gia Công không hề thuyên giảm. Anh quyết định xin ra viện, trở về tham gia lao động đúc bêtông với anh em trong đơn vị. Trở về với tiểu đội như cá về với nước, anh sung sướng hân hoan khôn tả. Nhưng công việc nặng nề khiến cột sống lại nhức nhối. Tuy vậy, anh vẫn nghiến răng chịu đựng.
Tình cờ, một lần xin đơn vị về nhà nghỉ chủ nhật, anh được gia đình đưa đến một thầy lang chuyên nắn lưng, sửa khớp. Và hiệu nghiệm ngay, bệnh thuyên giảm. Niềm vui sướng được anh ghi lại trong nhật kí ngày 14/6/1972: “Ta đang buồn da diết với bao nỗi dằn vặt lương tâm bởi ốm đau, thì hôm nay bệnh có đỡ. Ta nở nụ cười viễn hướng tương lai. Chân trời rạng sáng, mơ ước tuổi trẻ đang chờ ta…”.
Chiến đấu ở Thành cổ Quảng Trị
Chiến trường hai miền Nam - Bắc lúc này đang sôi động bởi những chiến thắng lớn. Quảng Trị giải phóng, nhưng địch quyết tâm chiếm lại, tạo nên không khí quyết liệt đôi bên. Một đơn vị đặc biệt của Tỉnh đội Quảng Bình được thành lập nhằm cung ứng cho chiến trường B5. Binh nhất Đinh Gia Công là một trong những chiến sĩ được vinh dự triệu tập đứng trong đoàn quân của Tiểu đoàn này. Mùa huấn luyện mới bắt đầu. Bắn đạn thật AK và B41, anh đạt loại giỏi và được tuyên dương toàn Tiểu đoàn.
Ngày 27/6/1972, chiến dịch bảo vệ Thành Cổ Quảng Trị bắt đầu. Đinh Gia Công được sung vào Đại đội 11, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 48. Cả đơn vị được lệnh hành quân cấp tốc vào mặt trận. Anh lính Đinh Gia Công rạo rực, hân hoan trước nhiệm vụ mới của mình.
Ngày 21/7/1972: “Tối hôm nay sinh hoạt đơn vị. Thủ trưởng Tiểu đoàn trực tiếp giao nhiệm vụ và quán triệt tình hình. Tôi hiểu rằng, đó là lời kêu gọi của non sông đất nước. Ước mơ lâu nay của bản thân là được ra tiền tuyến, nay đã thành sự thật. Lời thề cứu nước giục lòng tôi. Cấp tốc chuẩn bị ba lô đến khuya. Đêm nay tôi không sao ngủ được”.
Ngày 22/7/1972: “…10 giờ, lệnh xuất phát hành quân bắt đầu. Lời dặn cuối cùng của Thủ trưởng chính trị Tiểu đoàn là lời hịch cứu nước của non sông, làm rạo rực, phơi phới lòng tôi, ước gì bước vào cuộc chiến đấu ngay sau đó”.
Ngày 1/8/1972, đơn vị Trung đoàn 48 thuộc Sư đoàn 320B của anh chính thức tham gia chiến dịch bảo vệ Thành cổ Quảng Trị. Ngày 05/8/1972, sau 4 ngày đánh nhau với địch, anh cùng chiến sĩ Nguyễn Hồng Quảng quê ở Phúc Trạch, Bố Trạch được phân công ở lại trong hầm chữ A cùng hai tổ chiến đấu khác tại ngã tư Đệ Ngũ để giữ đất, không cho địch lấn chiếm. Cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra vô cùng ác liệt khi hai bên chỉ cách nhau vài ba chục mét, có cơ hội là dội lửa đạn tiêu diệt nhau. Sau hai lần bị ngất do đạn pháo địch nổ gần, tại trạm phẫu, anh đã tìm lại được cuốn nhật ký của mình và ghi lại diễn biến cuộc chiến đấu đó.
11/8/1972: “Hơn 10 ngày lao vào chiến đấu với quân thù, tôi không có điều kiện để ghi vào cuốn sổ được. Quyển sổ (Nhật ký - TG) giờ đây đã bị bom thù xéo nát, nhưng những dòng nhật ký vẫn tươi mát và hùng tráng vẫn giữ lại bên mình”.
Ngày 15/8/1972, Đại đội 11, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 48, Sư đoàn 320B của Đinh Gia Công được lui về tuyến sau để củng cố, chuẩn bị cho những cuộc chiến đấu tiếp diễn. Sau mười ngày chiến đấu, lúc này đơn vị chỉ còn lại 14 người đầy thương tích, trong đó có anh.
Đơn vị được bổ sung lính mới của Hà Nội, Hải Phòng mới vào, Đinh Gia Công được thăng chức B phó. 5 ngày sau thay cho B trưởng đi nhận nhiệm vụ. Trong lần dẫn Đại đội của mình sau khi vượt sông Thạch Hãn, băng qua trảng cát thì B52 đến dội bom. Anh bị sức ép của bom làm ngất đi. Một tuần sau tỉnh dậy thì anh thấy mình nằm lại bệnh viện dã chiến mặt trận B5 ở miền Tây Quảng Trị.
Nhật ký của Đinh Gia Công sau đó còn ghi lại những ngày nằm viện và ra miền Bắc điều dưỡng khi ở Quảng Bình, khi ở Nghệ An rồi Thanh Hóa cho đến ngày ra quân (1986). Lúc nào trong anh cũng nung nấu ý chí muốn trở lại đơn vị và anh đã một lần trốn trại điều dưỡng trở về đơn vị cũ của mình.
Tiễn biệt tác giả “Nhật ký chiến trận”
Anh Đinh Gia Công bị đau tim gần hai năm nay. Gia đình đưa anh chạy chữa hết bệnh viện Việt Nam - Cuba Đồng Hới, đến Bệnh viện Trung ương Huế, rồi đến Bệnh viện Việt Đức (Hà Nội). Nhưng cuối cùng, anh bị nhồi máu cơ tim cấp rồi đột ngột qua đời ngày 12/12/2014 khi ca mổ tim chuẩn bị diễn ra.
Trong tang lễ người cựu chiến binh chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị (1972) Đinh Gia Công, một số anh em văn nghệ sĩ Quảng Bình có mặt đã “hóa vàng” bản đánh máy và nhân bản tập “Nhật ký chiến trận” của người quá cố. Trong giây phút xúc động, mỗi người cầm một cốc rượu tưới lên tàn lửa như đang chia sẻ với người dưới mộ những vui buồn như những ngày còn sống.
Hải Thanh
ANTĐ - Như linh tính, biết mình sẽ hy sinh, người lính
đó đã gửi về gia đình một bức thư nói rõ nơi chôn cất. Sau bao nhiêu
năm, lần theo thông tin ấy, gia đình đã tìm được hài cốt của anh.
Đợt vào thăm thành cổ Quảng Trị, tôi nhớ lời dặn của những người lính: Hãy bước nhẹ trên từng vạt cỏ, bởi nơi ấy có xương máu thân thể của những người lính đã ngã xuống. Như sợ các anh đau, chúng tôi luôn bước thật nhẹ. Nhưng xúc động hơn, khi chúng tôi vào thăm khu di tích thành cổ Quảng Trị được đọc một bức thư. Bức thư đã khiến tôi và bao nhiêu người khác rơi lệ. Bức thư của một người lính đã hy sinh được anh viết trước khi mất 3 tháng giữa những ngày bom đạn khốc liệt nhất ở Quảng Trị.
Anh là liệt sỹ Lê Văn Huỳnh, ở xã Lê Lợi (Kiến Xương - Thái Bình). Bức thư đó anh viết để gửi cho người mẹ già đang mong ngóng đợi anh và cho người vợ cưới được 7 ngày đã phải xa chồng. Nội dung thư viết:
“Quảng Trị, ngày 11-9-1972
Toàn gia đình kính thương!
Hôm nay con ngồi đây biên vài dòng chữ cuối cùng, phòng khi đã “đi nghiên cứu bí mật trong lòng đất”, thì gia đình khỏi thấy đó là điều đột ngột.
Mẹ kính mến! Thư này tới mẹ là con đã đi xa rồi. Chắc mẹ đau buồn lắm. Lớn lên trong vòng tay mẹ từ khi còn trứng nước, chưa kịp báo đáp công ơn sinh thành, giờ con đi xa là để lại cho mẹ nỗi buồn nhất trên đời.
Con rất hiểu đời mẹ đã đau khổ nhiều, nhưng mẹ hãy lau nước mắt để sống đến ngày đón mừng chiến thắng. Con đi, mẹ ở lại trăm tuổi bạc đầu. Coi như con lúc nào cũng nằm bên mẹ. Coi như con đã sống trọn đời cho Tổ quốc mai sau…
Em yêu thương. Mọi lá thư đến với em đều là nguồn động viên em khi xa anh. Song, lá thư này đến tay em sẽ là nỗi buồn lớn nhất. Chúng ta sống với nhau chưa được bao lâu, thì chiến tranh đã cướp đi của em biết bao yêu thương, trìu mến. Người ta lấy chồng thì được chiều chuộng mọi điều. Em chưa được hưởng diễm phúc ấy đã phải xa anh….
Anh biết em sẽ không đọc nổi lá thư này, nhưng em hãy gạt nước mắt cho đời trẻ lại. Anh chỉ mong em khỏe, yêu đời, nếu có điều kiện, hãy cứ đi bước nữa, vì em còn trẻ lắm. Anh chỉ mong em sẽ luôn nhớ đến anh và hãy thắp hương cho anh vào ngày giỗ anh. Hãy là người con dâu hiếu thảo của mẹ, là người em ngoan của các anh chị anh…
Sau này hòa bình lập lại, nếu có điều kiện vào Nam, hãy mang hài cốt anh về. Đường đi như sau: Đi tàu vào thị xã Quảng Trị, qua sông Thạch Hãn là nơi anh đã hy sinh khi đưa hàng qua sông vào ngày 2-1-1973. Từ thị xã qua cầu, ngược trở lại, hỏi thăm thôn Nhan Biều. Em cứ đi đến đó, tính xuôi theo dòng nước thì ở cuối làng. Đến đó sẽ tìm thấy tấm bia ghi tên anh đục trên mảnh tôn. Mộ anh ở đó… Em sẽ đọc lá thư này cho mọi người trong gia đình nghe trong buổi lễ truy điệu anh. Cho anh gửi lời chúc sức khỏe tất cả những người quen thuộc trên quê hương trong buổi truy điệu lịch sử này….
Chào mẹ, chào em, chào tất cả gia đình và làng xóm quê hương.
Ký tên
Lê Văn Huỳnh…..”.
Lá thư này được liệt sỹ Lê Văn Huỳnh viết vào một ngày tháng 9-1972, trước ngày anh hy sinh hơn 3 tháng. Không ai hiểu tại sao anh biết trước cái chết của mình, biết tường tận nơi mình sẽ nằm xuống…
7 ngày làm vợ
Tôi quyết định tìm về Thái Bình để gặp “người phụ nữ đợi chờ” trong bức thư của người liệt sỹ. Bà vừa bước sang tuổi 65, tên là Đặng Thị Xơ - người cùng xã với liệt sỹ Huỳnh. Mối tình đẹp của hai người đã trở thành huyền thoại ở xã Lê Lợi cho đến hôm nay. Ngày ấy, chàng sinh viên ĐH Xây dựng vừa đẹp trai lại thông minh phải lòng một cô gái trẻ đẹp nhất làng. Trong những người đàn ông theo đuổi chị, chị chỉ yêu và chọn anh. Gia đình hai bên bao nhiêu lần giục cưới nhưng chị đều lần lữa vì sợ ảnh hưởng đến việc học hành của anh.
Tết dương lịch năm 1972, anh từ Hà Nội trở về thăm nhà và thông báo với chị: anh sắp lên đường nhập ngũ. Vậy là họ quyết định cưới nhau trong vài ngày nghỉ ngắn ngủi đó. Một đám cưới nho nhỏ nhưng ấm cúng diễn ra vào ngày 2-1-1972. Sau đám cưới, anh được ở nhà 3 ngày rồi tiếp tục lên trường. Tết Nguyên đán năm đó, anh được nghỉ và về nhà thêm 3 ngày nữa là 6. Trước ngày lên đường nhập ngũ, anh tranh thủ thăm nhà được 1 ngày rồi vĩnh viễn không bao giờ trở về. Tính từ ngày cưới cho đến lúc anh hy sinh, vợ chồng anh chị ở bên nhau trọn vẹn được 7 ngày, 7 đêm.
Những ngày 2-1
Lần cuối cùng gặp nhau, anh đã nắm tay chị dặn dò: “Mình là vợ chồng. Anh đi chiến đấu, sau này ngộ nhỡ anh trở về không lành lặn, xin em đừng hắt hủi anh, em nhé”. Chị nghe anh nói mà ứa nước mắt: “Dù anh có thế nào đi chăng nữa, em vẫn là vợ của anh trọn đời”.
Nhưng chị không bao giờ ngờ rằng, ngay cả việc được đón anh trở về, dù không lành lặn, cũng trở thành một ước mơ quá đỗi xa vời đối với cuộc đời chị. Sau ngày nhập ngũ, anh theo đơn vị vào chiến trường Quảng Trị, chiến trường khốc liệt nhất những năm 1972-1973. Và anh đã mãi mãi nằm lại nơi đó.
Trong những lá thư anh gửi về từ chiến trường, bao giờ cũng có một phần gửi mẹ, một phần gửi cho các anh chị trong nhà, một phần viết riêng cho chị. Chị nhận được thư anh đều đặn mỗi tháng. Nhưng sau lá thư tháng 12-1972, ông bưu tá vẫn đạp xe mang thư về làng không bao giờ dừng lại ở trước cửa nhà chị nữa. Từ đó, chị mất tin anh.
Trái tim người vợ mách bảo chị về những điều chẳng lành, những điều mà chị không dám nói ra với bất cứ ai nhưng vẫn hiểu nó đang ngày càng trở nên hiện thực đối với cuộc đời chị.
Sau Tết Nguyên đán năm đó, giấy báo tử của anh về đến địa phương. Sợ chị không chịu nổi cú sốc đó, người chị dâu khi đó đang làm ở xã, đã xin hoãn báo tử 3 tháng. Đến tháng 5-1973, giấy báo tử mới chính thức được gửi về nhà chị, cùng toàn bộ quân tư trang của anh. Anh hy sinh vào ngày 2-1-1973, đúng kỷ niệm tròn 1 năm ngày cưới. Và những ngày 2-1 sau này là những ngày chị buồn nhất, khóc nhiều nhất và cũng thương anh thật nhiều. Nhưng thương anh bao nhiêu, chị tự hào bấy nhiêu. Tự hào vì anh là người lính dũng cảm, tự hào vì anh đã chết vì lý tưởng cao đẹp.
Bức thư viết tháng 9-1972 nhận được như lời trăng trối. Nhưng mãi đến năm 2002, chị mới có thể lên đường và đúng như bức thư anh viết, mộ anh ở đó, ở thôn Nhan Biều, trên mộ có một tấm tôn ghi rõ tên anh: Liệt sỹ Lê Văn Huỳnh.
Nhận xét
Đăng nhận xét