Ảnh minh họa từ trang 16 trong cuốn sách ‘The Boy's King Arthur’ (Ảnh: Internet)Theo truyền thuyết, Vua Arthur,
sau trận chiến với kẻ thù Mordred, đã được chuyển đến đảo Avalon để
dưỡng thương. Hiện nay, kết quả nghiên cứu mới cho thấy địa điểm này có
thể nằm trên một cánh đồng ở hạt Shropshire, Anh.
Ông Graham Phillips đã nghiên cứu cuộc đời của Vua Arthur trong nhiều năm. Theo tờ Daily Mail,
ông Phillips tin rằng ông đã phát hiện được bằng chứng cho thấy vị
thống lĩnh thời Trung Cổ này đã được mai táng bên ngoài làng Baschurch ở
hạt Shropshire. Trong quyển sách mới nhất của mình với tựa đề Ngôi mộ thất lạc của Vua Arthur (The Lost Tomb of King Arthur),
ông cho rằng vị trí tọa lạc tiềm năng nhất của ngôi mộ này là ở bên
ngoài ngôi làng trong pháo đài cổ, với tên gọi “The Berth”, hoặc tại di
chỉ nhà nguyện trước đây.
Khoảng khắc băng hà của Vua Arthur trên Đảo Avalon. (Ảnh: Wikimedia)
Ông
Phillips đang hỏi xin Cục Di sản Anh (English Heritage) cấp phép tiến
hành công tác khảo cổ tại The Berth, và tại vị trí tọa lạc của nhà
nguyện trước đây gần làng Baschurch. Ông Phillips đã xác định được một
cái hố chứa một mảnh kim loại lớn, mà ông tin rằng có thể là bộ phận còn
sót lại của chiếc khiên của Vua Arthur.
“Trong
thư viện của trường Đại học Oxford có lưu trữ một bài thơ từ Thời kỳ
Tăm tối đề cập đến các vị vua từ Wroxeter, những người được chôn cất tại
quần thể nhà thờ Bassa (Churches of Bassa) – và khi bạn thử nghĩ đến
bất kỳ nơi nào khác ở Shropshire nghe có vẻ tương đồng, bạn sẽ nghĩ đến
làng Baschurch. Có một khu vực ăn khớp với các miêu tả nằm ngay bên
ngoài làng, một công trình đắp đất gọi là The Berth, vốn là hai hòn đảo
trong một cái hồ, tuy rằng cái hồ hiện tại rõ ràng đã biến mất”.
Liệu
nơi an nghỉ cuối cùng của Vua Arthur có nằm ở khu vực trong hình, tại
The Berth, hạt Shropshire này hay không? (Ảnh: Internet)Ảnh chụp The Berth, được cho là nơi an nghỉ cuối cùng của Vua Arthur, từ trên không. (Ảnh: Graham Phillips)
Theo
cuốn sách trước đó của ông Phillips, Vua Arthur từng sống trong pháo đài
La Mã tại Wroxeter, một ngôi làng nhỏ ở hạt Shropshire. Các thư tịch
lịch sử nói rằng Vua Arthur chào đời tại Lâu đài Tintagel ở hạt
Cornwall, và sau này đã trở thành một nhân vật nổi tiếng xuất hiện trong
rất nhiều truyền thuyết, có liên hệ với ví dụ như thanh kiếm của ông –
thanh Excalibur. Tuy nhiên, ông Phillips tin rằng rất nhiều truyền
thuyết về Vua Arthur là sai, bao gồm nơi sinh của nhân vật này, vì ông
cho rằng nơi đó là Shropshire, chứ không phải khu vực tây nam South West
như được ghi chép trong một số văn tịch.
Ngoài
các di tích gần ngôi làng Baschurch, ông Phillips tuyên bố rằng Vua
Arthur cũng có thể đã được mai táng bên trong một con đường mòn ở làng Birch Grove.
Vào những năm 1930, các nhà khảo cổ học đã phát hiện được một phần của
một bia mộ ở đó với dòng chữ khắc bằng tiếng La tinh như sau: “Hic jacet … (Đây là nơi an nghỉ của …)”.
Cùng lúc
ông Phillips tìm kiếm ngôi mộ của Vua Arthur, nhà khảo cổ học, TS
Richard Brunning, từ Tổ chức Bảo tồn Di sản vùng South West (South West
Heritage Trust), đã triển khai các
cuộc khai quật tại nhà nguyện Beckery, gần thị trấn Glastonbury ở hạt
Somerset. Mục đích của việc này là xác định niên đại chính xác của một
nhà nguyện Công giáo thời kỳ đầu. Người ta hy vọng rằng các cuộc điều
tra sẽ có thể đem lại những hiểu biết mới về cuộc đời Vua Arthur, người
được cho là đã từng ghé thăm địa điểm này, và theo truyền thuyết đã từng
nhìn thấy cảnh tượng Đức mẹ ẵm Chúa Con ở đó.
Đây là
lần đầu tiên các nhà khảo cổ tiến hành điều tra di tích này kể từ năm
1968. Ngoài ra, khu vực này cũng nổi tiếng như một phần của các câu
chuyện có liên hệ với vị thánh người Ireland Bridget, người đã ghé thăm
di tích này vào năm 488 SCN. Kết quả của các công tác điều tra trước đó
cho thấy rằng trước nhà nguyện, có một tu viện của người Saxon từng tọa
lạc ở đây. Các cuộc khai quật mới nhất sẽ cho phép xác định niên đại
chính xác của nghĩa trang tu viện.
Lịch sử
của Vua Arthur cũng có liên hệ với tu viện Glastonbury, vốn được cho là
địa điểm an táng ông và người vợ Guinevere từ thế kỷ 12. Theo một bài
viết của nghiên cứu sinh Jason Urbanus và nhà khảo cổ học Roberta
Gilchrist, người dẫn đầu Dự án lưu trữ Khảo cổ Glastonbury,
di tích này có thể thật sự có niên đại từ thế kỷ 5, thời của Vua
Arthur, nhưng họ nói rằng không có bằng chứng về bất kỳ mối liên hệ nào
với vị vua này. Ngoài ra, trên tạp chí Khảo cổ,
anh Urbanus cũng đã giải thích rằng ngôi mộ này thực ra thuộc về các
thầy tu vào thế kỷ 12. Dường như truyền thuyết về việc ngôi mộ của Vua
Arthur nằm tại Tu viện Glastonbury đã được ngụy tạo để hấp dẫn khách du
lịch.
Tác giả: Natalia Klimczak, Ancient Origins. Đăng tải với sự cho phép. Đọc bản gốc ở đây. Quý Khải biên dịch
Vương quốc Lyonnesse trong huyền thoại vua Arthur nay ở đâu?
Vũ trụ chứa đầy những điều bí ẩn thách đố tri thức của nhân loại. Bộ
sưu tập những câu chuyện “Khoa học Huyền bí” của Thời báo Đại Kỷ Nguyên
về những hiện tượng lạ thường đã kích thích trí tưởng tượng và mở ra
những khả năng chưa từng mơ tới. Chúng có thật hay không? Điều đó tùy
bạn quyết định!
Nằm ngoài khơi hạt Cornwall, ở
mũi nhọn phía nam nước Anh, trong một ngày quang đãng, Quần đảo Scilly
có thể được nhìn thấy ở khoảng cách xa. Một số người nói rằng những hòn
đảo đó là đỉnh của một vùng đất bị nhấn chìm mà trong một thời kỳ xa xưa
từng là một vương quốc trù phú.
Số khác nói rằng vương quốc huyền thoại
này, được gọi là Lyonnesse, không nằm ở vị trí Quần đảo Scilly, mà nằm
giữa quần đảo đó và đại lục – một dải đất kết nối hai khu vực này với
nhau. Dù vậy số khác nói rằng Lyonnesse thực ra là một địa điểm ở Pháp,
nằm trực tiếp phía bên kia eo biển Manchu từ hạt Cornwall, được gọi là
Saint-Pol-de-Léon ở Brittany, Pháp.
Một số người cho rằng Lyonnesse là một khu vực đất đai rộng lớn, hiện
nay bị chia ra làm nhiều đảo nhỏ (Quần đảo Scilly nằm cách bờ biển hạt
Cornwall 48,3 km) do sự dâng trào của mực nước biển. Nhưng một số người
lại cho rằng Lyonnesse là một cây cầu đất liền kết nối St Michael’s
Mount ở hạt Cornwall và Quần đảo Scilly. Một số cho rằng “Lyonnesse” ám
chỉ vùng đất Saint-Pol-de-Léon ở Pháp. (Bản đồ: Google Maps)
Lyonnesse được đề cập đến lần đầu tiên
trong tác phẩm vào thế kỷ thứ 15 “Le Morte d’Arthur” của Sir Thomas
Mallory. . Trong phiên bản tập hợp các truyền thuyết vua Arthur đầy ảnh
hưởng và rất tiếng tăm này, Mallory đã nhắc đến Lyonnesse như quê nhà
của Tristan. Chìm đắm trong mối tình bi kịch với Iseult, vợ của người họ
hàng và cũng chính là vua của anh, Mark, Tristian chưa bao giờ được
hưởng những năm tháng cuối cùng của mình ở Lyonnesse, ngay cả nếu hòn
đảo này không chìm xuống biển. Bởi vì theo phiên bản câu chuyện của
Mallory, vua Mark đã sát hại Tristian sau đó.
Vào thế kỷ 19, bá tước Alfred Tennyson,
trong bộ sưu tập thơ tường thuật “những chuyện tình của nhà Vua” đã gọi
Lyonnesse là nơi an nghỉ cuối cùng của Vua Arthur. Ông đã viết về cuộc
chiến giữa Vua Arthur và Hiệp sĩ Mordred như sau:
Vị vua đứng dậy và chiến đấu với vị khách đến đêm Và trường kỳ đưa đẩy Hiệp sĩ Mordred, hết trận này đến trận khác, Lại trở về với ranh giới hoàng hôn của Lyonnesse- Vùng đất cổ xưa được nâng lên từ vực thẳm Cùng với lửa, lại chìm sâu vào vực thẳm lần nữa; Nơi mảnh vỡ của các dân tộc đã bị lãng quên, Và những ngọn núi dài kết thúc nơi bờ biển Của dòng cát không ngừng luân chuyển, ngày càng xa dần Cùng với lửa, lại chìm sâu vào vực thẳm lần nữa; Nơi mảnh vỡ của các dân tộc đã bị lãng quên, Và những ngọn núi dài kết thúc nơi bờ biển Của dòng cát không ngừng luân chuyển, ngày càng xa dần Những vòng tròn ma quái của biển cả đang rền rĩ kia.
Bức tranh minh họa của N.C. Wyeth về Vua
Arthur và Mordred trong một cuốn sách năm 1922, “Đức Vua Arthur của cậu
bé: Những câu chuyện lịch sử về Vua Athur và các Hiệp sĩ bàn tròn của
Hiệp sĩ Thomas Malory” (Nguồn: Wikimedia Commons)
Trường hợp Lyonnesse là lục địa ngoài khơi hạt Cornwall
Trong tác phẩm “Britannia” năm 1586,
William Camden đã nhìn nhận Lyonnesse là một vùng đất bị nhấn chìm dưới
biển kéo dài từ St. Michael’s Mount (trên khu vực đất liền của hạt
Cornwall) ra đến tận quần đảo Scilly. Theo Bách khoa toàn thư Britannica, Camden đã lấy cái tên Lyonnesse từ một bản thảo của một nhà khảo cổ sống ở hạt Cornwall có tên là Richard Carew.
Theo Adrian David Hugh Bivar thuộc
trường Đại học London, có thể Carew đã đúc kết lại từ nhiều câu chuyện
khác nhau. Trong một bài báo có tựa đề “Lyonnesse: Sự phát triển của một
truyền thuyết”, Bivar viết : “Niềm tin không mấy chắc chắn của những
người Cornwall về sự tồn tại của một vùng đất nhỏ bé thất lạc đã bị
phóng đại lên bởi các thêm thắt ‘thông thái’ từ những câu chuyện phổ
biến tương tự ở vùng Normandy và Brittany, và cách thức mà cái tên
‘Lyonnesse’ được gán ghép, có thể là do nhà khảo cổ Richard Carew, trong
giai đoạn trị vì của Nữ hoàng Elizabeth, tạo ra”.
Một ghi chép vào thế kỷ 15 về cuộc hành
trình của William xứ Worcester cũng đề cập đến một vùng đất bị nhấn chìm
kéo dài đến tận quần đảo Scilly. Trên vùng đất Lyonnesse này có đến 140
tháp nhà thờ, đất canh tác khá màu mỡ, và dân chúng thì được hưởng một
cuộc sống sung túc.
Cuốn “Bách khoa Penny của Hiệp hội Phổ
cập Kiến thức” xuất bản năm 1841 của Charles Knight đã tuyên bố rằng nếu
đã từng có sự định cư trên vùng đất bị nhấn chìm nằm giữa Cornwall và
quần đảo Scilly, thì hẳn nó đã bị nhấn chìm trước khi Kitô giáo và nhà
thờ tiếp cận khu vực này.
Một địa điểm trên quần đảo Scilly được gọi là Bục giảng Kinh của Thánh Mary. (Nguồn: Wikimedia Commons)
Cuốn sách cho biết Strabo, nhà nghiên
cứu lịch sử và địa lý người Hy Lạp từ thế kỷ thứ Nhất, đã từng đề cập
đến Quần đảo Scilly nhưng không nói đến một vùng đất như vậy. Điều này
cho thấy Lyonnesse có thể đã bị chìm xuống đáy biển nếu nó từng tồn tại,
và như vậy báo cáo của các nhà thờ ở Lyonnesse chắc hẳn đã có sai sót.
Những người La Mã cổ đạị từng chiếm đóng
Quần đảo Scilly đã miêu tả về nó như một bản khối lục địa trọn vẹn chứ
không phải một quần thể gồm nhiều hòn đảo rời rạc, khi ủng hộ giả thuyết
cho rằng lục địa này đã chìm xuống đáy biển sau đó. Trong bài viết “Các cuộc khai quật trên Nor’nour trong quần đảo Scilly, 1962-6,”được xuất bản trên tạp chí Khảo cổ học
vào năm 1967, Dorothy Dudley cho rằng thực sự có tồn tại bằng chứng cho
thấy các quần đảo đang dần dần trầm xuống biển. Các đồng tiền La Mã có
niên đại từ thế kỷ thứ 4 TCN đã được phát hiện trên quần đảo này trong
những cuộc khai quật vào những năm 60. Cũng có bằng chứng cho thấy rằng
quần đảo này đã từng có người định cư thuộc nhiều chủng tộc khác nhau
bao gồm một số dân di cư đến từ khu vực Brittany thuộc miền bắc nước
Pháp từ những năm 1200 TCN.
Trường hợp Lyonnesse là lục địa ngoài khơi nước Pháp
Theo Bách khoa toàn thư Britannica,
Lyonnesse có thể là vùng đất xung quanh xã Saint-Pol-de-Léon thuộc địa
phận Brittany, nước Pháp.
Điều thú vị là Thời báo Đại Kỷ Nguyên
cũng có biết về một câu chuyện tương tự về một vùng đất bị nhấn chìm ở
Brittany. Thành phố này được biết đến với cái tên Ys hay là Ker Ys. Cũng
như các câu chuyện khác thuộc cùng thể loại, nó ít nhiều đã bị thay đổi
qua các phiên bản, nhưng nhìn chung câu chuyện này chủ yếu kể về việc
nhà Vua Gradlon xứ Brittany xây dựng một thành phố lộng lẫy bên bờ biển
cho con gái của mình là công chúa Dahut.
Tuy nhiên, sự thoái hóa đạo đức của công
chúa Dahut đã khiến thành phố này bị diệt vong. Câu chuyện này cũng
giống với câu chuyện của Sodom và Gomorrah trong Kinh Thánh và nhiều câu
chuyện khác trong lịch sử về những lục địa bị nhấn chìm hay bị xóa sổ
bởi sức mạnh của thần thánh do sự suy đồi và thoái hóa đạo đức của con
người.
Đêm nào công chúa Dahut cũng lên giường
với một tình nhân mới rồi sát hại từng người và ném thi thể của họ xuống
biển vào sáng hôm sau. Sau đó trong kinh thành xuất hiện một người đàn
ông trong trang phục màu đỏ đến tán tỉnh cô, và cô đã phải lòng người
đàn ông đó. Cô đã bị người đàn ông dụ dỗ giao lại chìa khóa của những
cánh cửa xả lũ bằng đồng vốn có vai trò chặn nước biển ở vịnh, để tránh
làm ngập thành phố. Người đàn ông bí ẩn này sau đó đã mở các cánh cửa xả
lũ để nước biển ập vào phá hủy thành phố và nhấn chìm nó vĩnh viễn.
Vì là một người đức độ nên Đức Vua là
người duy nhất thoát được kiếp nạn khi được hỗ trợ bởi một vị Thánh và
một con ngựa huyền diệu.
Một truyền thuyết khác cũng có liên quan
đến Lyonnesse kể rằng Trevilian (hay là Trevelyan), người sống sót duy
nhất trong cơn đại hồng thủy đã được một con ngựa trắng đưa đến nơi an
toàn. Cơ quan Quan trắc Bờ biển Quốc gia (NCI), một tổ chức tự nguyện có
chức năng giám sát các bờ biển của Anh, đã viết trên trang web của mình
như sau: “Một mối liên hệ thú vị với thực tế là gia đình Vyvyans, một
trong những gia đình người Cornwall và địa chủ nổi tiếng nhất ở vùng
Penwith trong nhiều thế kỷ qua, vẫn mang gia huy là một con ngựa trắng
được thắng yên … như một hình tượng nghệ thuật gợi tưởng đến hình ảnh
con ngựa trắng nổi tiếng xứ Lyonnesse. Người ta cũng đồn rằng nhà
Vyvyans luôn giữ một con ngựa trắng trong chuồng ngựa của họ tại
Trelowarren trong trạng thái đã thắng sẵn yên cương để chuẩn bị cho bất
kỳ tai họa nào như vậy.”
Mặc dù NCI báo cáo rằng vào cuối những
thập niên 90, có nhiều người nói rằng họ đã thoáng nhìn thấy những tàn
tích của thành phố dưới biển, và một số còn nói rằng các mảnh bộ phận
của nhiều kiến trúc đã được các ngư dân kéo lên bờ, nhưng có vẻ như
không có một bằng chứng chắc chắn nào về vùng đất bị thất lạc từng được
thu thập và nghiên cứu.
Đáng tiếc thay, phần lớn những gì chúng
ta có thể thu thập được về vùng đất bị nhấn chìm ở Quần đảo Scilly hay
bất kỳ một mảnh đất nào khác trong khu vực này lại phụ thuộc vào những
truyền thuyết mâu thuẫn và chồng chéo lẫn nhau. Sự thật đặt nền tảng cho
các truyền thuyết về Vua Arthur hiện đang được tranh luận rộng rãi. Có
vẻ như nhiều tác giả đã kể lại câu chuyện về Vua Arthur (và các thân tín
của ông, chẳng hạn như Tristan và Lancelot) từ nhiều góc nhìn khác nhau
xuyên suốt trong lịch sử, có lẽ họ đã đưa ra những sự kiện thực tế
trong quá khứ và diễn tả chúng lại theo một kiểu cách và bối cảnh phù
hợp hơn với những tác giả đương thời.
(Ảnh: Internet)Các nhà khảo cổ học Hy Lạp đã có một
tuyên bố đáng kinh ngạc vào hôm thứ 5 (26/5) vừa qua tại Hội thảo Quốc
tế ‘Aristotle 2400 năm’ – họ đã phát hiện được lăng mộ thất lạc của ông.
Theo sau một cuộc khai quật kéo dài 20
năm tại thành phố cổ Stagira của người Macedonia, các nhà nghiên cứu
hiện đã đi đến kết luận rằng lăng mộ quan trọng này thuộc về vị triết
gia nổi tiếng người Hy Lạp, người được sinh ra trong cùng thành phố vào
năm 384 TCN.
Nhà khảo
cổ học Kostas Sismanidis cho biết rằng, dựa trên lối kiến trúc và vị
trí của lăng mộ, cũng như các bằng chứng xác minh khác, ông hiện đã có
thể kết luận với một “độ chắc chắn gần như tuyệt đối” rằng lăng mộ có
niên đại 2.400 năm tuổi này thuộc về Aristotle. Các thư tịch lịch sử
cũng chỉ ra rằng tro cốt của Aristotle đã được chuyển đến Stagira, nơi
ông chào đời.
Làng Olymbiada, Chalkidiki, Hy Lạp. Toàn cảnh khu mộ quan sát từ phía tây bắc, bao gồm di chỉ thành cổ Stagira.
“Lăng mộ mái vòm tạo hình gò đất có một sàn đá cẩm thạch có niên đại từ thời kỳ Hy Lạp hóa”, tờ Greek Reporter
cho biết. “Nó nằm ở trung tâm của Stagira, gần Agora, với các góc nhìn
360 độ. Khía cạnh phổ thông của lăng mộ chỉ được thể hiện qua địa điểm
của nó, tuy nhiên các nhà khảo cổ cũng đã đề cập đến một công trình được
xây một cách vội vàng và sau đó được hoàn thiện phần chóp bằng các chất
liệu có chất lượng. Có một bệ thờ bên ngoài lăng mộ và một cái sàn hình
vuông. Phần đỉnh của mái vòm cách mặt đất 10 m và có một cái sàn hình
vuông bao xung quanh một cái tháp Byzantine. Một bức tường hình bán
nguyệt cao 2m. Một con đường dẫn đến lối vào lăng mộ cho những ai muốn
bày tỏ lòng thành kính của họ. Các phát hiện khác bao gồm các mảnh gốm
từ xưởng gốm hoàng gia và 50 đồng xu từ thời Alexander Đại đế”.
Trang The Guardian
cho biết tàn tích của khu phức hợp cổ đại này đã được khai quật lần đầu
vào năm 1996 khi chúng tình cờ được phát hiện trong quá trình thi công
sơ một dự án bảo tàng nghệ thuật hiện đại, và các cuộc khai quật ở đây
đã được tiếp tục kể từ đó.
Natalia Klimczak, một tác giả trên Ancient Origins, đã chia sẻ sơ lược về thân thế vị triết gia nổi tiếng này như sau:
“Aristotle
sinh ra vào năm 384 TCN tại thành phố Stagira, Chalkidice, ở vùng ngoại
biên phía bắc của Hy Lạp cổ đại. Cha ông là Nicomachus, một bác sĩ, và
mẹ ông là Phaestia, một người có lẽ cũng hành nghề y (tuy rằng các chi
tiết không được biết rõ). Ngoài Aristotle, họ còn có một người con trai
tên là Arimnestus và một người con gái tên là Arimneste. Cha mẹ của
Aristotle đã qua đời khi ông còn rất trẻ, nhưng ông đã được một người
giám hộ chăm sóc. Proxenus xứ Atarneus đã chịu trách nhiệm dạy dỗ
Aristotle trong một vài năm trước khi gửi ông đến Athens để nhập học tại
Học viện Plato.
Tượng
triết gia Aristotle. Bản sao bức tượng điêu khắc bằng đồng bị thất lạc
từ thời kỳ hoàng gia (Imperial era – thế kỷ 1 hoặc 2) của nhà điêu khắc
Lysippos. (Ảnh: Wikimedia)
Khi
Aristotle lên 8, ông đã nhập học tại Học viện Plato ở Athens và ở đó cho
tới khi lên 17. Khi ông rời nơi này vào năm 347 TCN, ông đã trở nên cực
kỳ nổi tiếng tại thủ đô Pella và là một người thuộc tầng lớp quý tộc.
Lúc ban
đầu, Aristotle đã xây dựng quan điểm của bản thân xoay quanh học thuyết
Plato, nhưng sau cái chết của Plato, ông đã đắm mình vào các nghiên cứu
thực nghiệm và chuyển từ học thuyết Plato sang chủ nghĩa duy nghiệm.
Tác phẩm Trường học Athens, một bức tranh tường của danh họa Raphael. (Ảnh: Wikimedia)
Aristotle
tin vào các khái niệm và rằng kiến thức rốt cục đã được dựa trên nhận
thức (hoặc trải nghiệm). Những quan điểm của ông về các ngành khoa học
tự nhiên đã thiết lập nên nền tảng cho rất nhiều triết lý của ông. Các
tác phẩm của Aristotle bao hàm nhiều môn học, bao gồm: sinh học, động
vật học, siêu hình học, tâm lý học, vật lý, lô-gích học, đạo đức học, mỹ
học, thơ văn, nghệ thuật sân khấu, âm nhạc, thuật hùng biện, ngôn ngữ
học, và khoa học chính trị. Các kết quả phân tích của ông đã tạo ra một
cái nhìn về các ngành khoa học tự nhiên vốn đã định hình mạnh mẽ kho
tàng kiến thức uyên thâm thời Trung Cổ, với tầm ảnh hưởng kéo dài đến
tận thời kỳ Phục Hưng.
Triết
gia Plato (Trái) và triết gia Aristotle (Phải), một góc chi tiết của
tác phẩm Trường học Athens, một bức tranh tường của danh họa Raphael.
Aristotle làm điệu bộ hướng xuống phía dưới, thể hiện niềm tin của ông
về vốn kiến thức thu thập được thông qua các quan sát thực nghiệm và
kinh nghiệm, trong tay cầm cuốn sách Nicomachean Ethics (Ðạo đức học
viết tặng Nicomachea), trong khi Plato chỉ tay lên trời, thể hiện niềm
tin của ông về thuyết về ý niệm, trong khi cầm cuốn sách Timaeus. (Ảnh: Wikipedia)
Ngoài
ra, các môn học này đã không được thay thế một cách hệ thống cho tới
Thời kỳ Khai sáng cùng sự xuất hiện của các lý thuyết như cơ học cổ
điển. Rất nhiều các quan sát trong ngành động vật học của Aristotle, ví
như khả năng tái sinh của xúc tu bạch tuộc, thậm chí đã không được công
nhận hoặc bác bỏ cho tới thế kỷ 19. Một số những công trình của ông cũng
bao hàm nghiên cứu chính quy sớm nhất được biết đến về phạm trù logic,
mà vào thế kỷ 19 đã trở thành nền tảng cho lĩnh vực logic chính quy hiện
đại”.
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét