HIỆN THỰC KỲ ẢO 130

(ĐC sưu tầm trên NET)

Quang tử sinh học: Cơ thể người phát ra, tương tác và được tạo thành từ ánh sáng


quang tử sinh học
Cơ thể con người phát xạ các quang tử sinh học, còn được gọi là những sự phát xạ quang tử cực yếu (ultraweak photon emissions - UPE). (Ảnh: agsandrew/iStock)
Khoa học đang ngày càng hòa hợp với tính thi vị của các trải nghiệm chủ quan của con người: Chúng ta không chỉ có một cơ thể được cấu tạo đơn thuần bởi các nguyên tử và phân tử, mà còn được hợp thành từ ánh sáng. Các quang tử sinh học có thể được phát xuất ra từ cơ thể con người thông qua ý niệm hay ý định, với khả năng điều tiết các chức năng cơ bản trong tương tác giữa các tế bào và ADN.
Chúng ta đang sống, và không có điều gì đáng kinh ngạc hơn cái hiện thực vốn quá bất khả ấy. Chúng ta thường bỏ qua hiện thực này, vì quên mất rằng vũ trụ này hoàn toàn có thể trở nên trống rỗng. Tại sao lại có một vũ trụ (với khả năng cảm nhận sâu sắc về tự thân nó thông qua chúng ta), chứ không phải là một khoảng chân không vốn hoàn toàn không nhận thức được sự tồn tại của bản thân mình?
Từ ánh sáng, không khí, nước, các khoáng chất cơ bản trong lớp vỏ Trái Đất, và các thông tin cổ xưa với niên đại lên đến ít nhất 3 tỷ năm tuổi chứa bên trong hạt nhân của một tế bào hợp tử lưỡng bội, cơ thể con người đã được tạo thành, và bên trong cơ thể đó có tồn tại một linh hồn ít nhất có khả năng cố gắng thấu hiểu được cái nguồn gốc tâm linh và thân thể của chính mình.

Sự tồn tại của chúng ta được hình thành, một phần từ ánh sáng Mặt Trời, và do đó đòi hỏi sự hấp thụ liên tục ánh sáng Mặt Trời cô đặc như một loại đồ ăn.

Trước sự điên rồ của điều kiện sinh tồn của chúng ta, cùng với hiện thân của thể xác như một tổng thể, và sự tồn tại của chúng ta được hình thành, một phần từ ánh sáng Mặt Trời, và do đó đòi hỏi sự hấp thụ liên tục ánh sáng Mặt Trời cô đặc dưới dạng thức đồ ăn, dường như sẽ không quá cường điệu khi nói rằng cơ thể chúng ta phát xuất ra ánh sáng.
we are more than the atoms and molecules of which we are composed, but beings that emit, communicate with, and are formed from light. (pashyksv/iStock) Chúng ta không chỉ có một cơ thể được cấu tạo từ những nguyên tử và phân tử đơn thuần, mà chúng ta còn là các sinh mệnh phát ra, tương tác và được tạo thành từ ánh sáng. (Ảnh: pashyksv/iStock)
Chúng ta không chỉ có một cơ thể được cấu tạo từ những nguyên tử và phân tử đơn thuần, mà chúng ta còn là các sinh mệnh phát ra, tương tác và được tạo thành từ ánh sáng. (Ảnh: pashyksv/iStock)
Thật vậy, cơ thể con người phát xạ các quang tử sinh học, hay còn được gọi là sự phát xạ quang tử cực yếu (ultraweak photon emissions – UPE), thấp hơn 1.000 lần so với khả năng quan sát của con mắt thịt chúng ta. Tuy vô hình trước mắt người, nhưng các hạt ánh sáng này (hay các sóng này, phụ thuộc vào phương pháp đo lường) là một phần trong quang phổ nhìn thấy được (380-780 nm) và có thể được phát hiện thông qua các thiết bị đo lường hiện đại.

Con mắt vật lý và con mắt “tinh thần” phát xuất ánh sáng

Bản thân con mắt, vốn không ngừng tiếp xúc với những quang tử mạnh mẽ từ môi trường – đi xuyên qua các mô thị giác khác nhau, sẽ phát xuất các quang tử cực yếu tự phát và được kích hoạt bởi ánh sáng có thể nhìn thấy được. Thậm chí có giả thuyết cho rằng, ánh sáng khả kiến (trong quang phổ khả kiến) sẽ làm trì hoãn quá trình phát quang sinh học bên trong mô mắt bị phơi sáng, cung cấp một cách giải thích tiềm năng cho nguồn gốc của hiện tượng dư ảnh âm bản.
The eye itself emit spontaneous and visible light-induced ultraweak photon emissions. (vitor costa/iStock) Bản thân con mắt sẽ phát xuất các quang tử cực yếu được kích phát bởi ánh sáng một cách tự phát và có thể nhìn thấy được. (Ảnh: vitor costa/iStock)
Bản thân con mắt sẽ phát xuất các quang tử cực yếu tự phát và được kích hoạt bởi ánh sáng khả kiến. (Ảnh: vitor costa/iStock)
Những sự phát quang này cũng có liên hệ với sự chuyển hoá năng lượng trong não bộ và những căng thẳng do quá trình ôxy hoá diễn ra bên trong não bộ của những loài động vật có vú. Tuy vậy, sự phát xạ quang tử không nhất thiết là một loại hiện tượng phụ (epiphenomenal).
Giả thuyết của GS. Bokkon cho rằng các quang tử được giải phóng trong các quá trình hoá học bên trong não bộ sẽ tạo ra các hình ảnh lý sinh trong quá trình tưởng tượng (visual imagery, hay mental image), và một nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng khi các đối tượng nghiên cứu chủ động tưởng tượng ra ánh sáng trong một môi trường cực tối, ý định của họ đã làm gia tăng đáng kể hoạt động phát xạ quang tử cực yếu. Điều này nhất quán với một quan điểm mới phổ biến rằng các quang tử sinh học không phải chỉ là những sản phẩm phụ của quá trình trao đổi chất trong tế bào. Thay vào đó, do cường độ quang tử sinh học có thể sẽ cao hơn đáng kể ở bên trong so với bên ngoài tế bào, nên tâm trí sẽ có khả năng tiếp cận sự biến chuyển năng lượng này để tạo ra các hình ảnh lý-sinh nội tại trong quá trình tưởng tượng và phân tích thông tin thị giác (imagery and visual perception).

Các tế bào và ADN của chúng ta sử dụng quang tử sinh học để lưu trữ và trao đổi thông tin

Hiển nhiên các quang tử sinh học được những tế bào của nhiều sinh vật sống sử dụng để giao tiếp, từ đó hỗ trợ quá trình truyền dẫn năng lượng/thông tin với tốc độ nhanh hơn vài phần so với quá trình khuếch tán hoá học thông thường. Theo kết quả một nghiên cứu vào năm 2010, “Sự giao tiếp giữa tế bào với tế bào nhờ các quang tử sinh học đã được minh chứng trên các loài thực vật, vi khuẩn, các tế bào thận và bạch cầu trung tính của động vật”.
Các nhà nghiên cứu đã có thể chứng minh rằng “… việc kích thích bằng các ánh sáng có quang phổ khác nhau (hồng ngoại, đỏ, vàng, xanh dương, lục và trắng) tại một đầu của đường dẫn truyền cảm giác hoặc đường dẫn truyền vận động của tủy sống, sẽ có thể dẫn đến gia tăng đáng kể các hoạt động quang tử sinh học tại đầu bên kia”. Các nhà nghiên cứu đã diễn giải phát hiện của họ như sau: “… việc kích thích bằng ánh sáng có thể sản sinh ra các quang tử sinh học hoạt động dọc theo các dây thần kinh, có lẽ đóng vai trò như các tín hiệu liên lạc thần kinh.”
Ngay cả khi chúng ta xem xét bộ gien của chúng ta sâu hơn ở cấp độ phân tử, ADN cũng có thể được xác định là một nguồn phát xạ quang tử sinh học. Một tác giả đề xuất rằng ADN phụ thuộc nhiều vào quang tử sinh học đến mức nó có các đặc tính giống tia laser excimer (loại laser làm nền tảng cho phẫu thuật khúc xạ mắt), cho phép nó tồn tại trong một trạng thái ổn định khác xa với trạng thái cân bằng nhiệt tại ngưỡng nhiệt độ.
Về mặt kỹ thuật, quang tử sinh học là một hạt cơ bản hay một lượng tử ánh sáng có nguồn gốc phi nhiệt trong quang phổ khả kiến và quang phổ tia cực tím được một hệ sinh học phát xuất ra. Chúng thường được cho là sản phẩm của quá trình chuyển hoá năng lượng bên trong các tế bào của chúng ta, hay nói một cách chính quy hơn là một “… phó phẩm của các phản ứng hoá sinh: các phân tử hoạt năng sản sinh từ các quá trình năng lượng sinh học bao gồm các chất có tính oxy hóa mạnh”,
Quang phổ nhìn thấy được và quang phổ tia cực tím (ultraviolet). (Ảnh: Internet)
Quang phổ nhìn thấy được và quang phổ tia cực tím (ultraviolet). (Ảnh: Internet)

Hiệu suất phát xạ quang tử sinh học theo chu kỳ 24 giờ của cơ thể người

Vì quá trình trao đổi chất trong cơ thể thay đổi theo chu kỳ 24 giờ, nên hoạt động phát xạ quang tử sinh học cũng thay đổi theo trục thời gian ban ngày. Các nhà nghiên cứu đã lập bản đồ các vị trí giải phẫu chuyên biệt trong cơ thể, nơi hoạt động phát xạ quang tử sinh học được ghi nhận mạnh mẽ hơn và yếu hơn, phụ thuộc vào các mốc thời gian trong ngày:
Nhìn chung, sự dao động số lượng các quang tử phát xạ trên cơ thể thường thấp hơn vào buổi sáng so với vào buổi chiều. Khu vực ngực-bụng phát xạ với cường độ thấp nhất và liên tục nhất. Hai bàn tay và vùng đầu phát xạ nhiều nhất và tăng dần trong ngày. Kết quả phân tích quang phổ đối với các mức phát xạ thấp, trung bình và cao ở các vùng phía trên trước mặt của chân phải, trán và hai lòng bàn tay trong dải độ nhạy của bộ nhân quang đã cho thấy hoạt động phát xạ tự phát chủ yếu tại dải sóng 470-570 nm. Hoạt động phát xạ quang tử ở vùng chính giữa lòng bàn tay đã đóng góp phần lớn vào dải sóng 420-470 nm trong dải quang phổ của hoạt động phát xạ tự phát từ cánh tay vào mùa thu/đông. Quang phổ của hoạt động phát xạ quang tử sinh học bị trì hoãn từ bàn tay đã cho thấy hoạt động phát xạ chủ yếu trong cùng dải với hoạt động phát xạ tự phát.

Cơ thể người phát xuất ra các quang tử sinh học, cũng được gọi là hoạt động phát xạ quang tử cực yếu (UPE).

Các nhà nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng “Theo các số liệu quang phổ, các phép đo đạc có thể cũng cung cấp các số liệu định lượng về mô thức riêng biệt của các quá trình ôxy già (peroxidative) và chống ôxy hoá diễn ra trong cơ thể sống”.
Meditation may impact free radical activity. (brickrena/iStock) Thiền định có thể tác động đến hoạt động của các gốc tự do. (Ảnh: brickrena/iStock)
Thiền định có thể tác động đến hoạt động của các gốc tự do. (Ảnh: brickrena/iStock)

Thiền định và các thảo dược tác động đến hiệu suất phát xạ quang tử sinh học

Kết quả nghiên cứu đã cho thấy sự thuyên giảm tình trạng mất cân bằng oxy hoá (hay stress oxy hóa) nhờ hoạt động phát xạ quang tử sinh học giữa những người tập thiền và không tập thiền. Những người tập thiền thường xuyên có thiên hướng phát xạ các quang tử cực yếu (sự phát xạ quang tử sinh học – UPE) ở mức thấp hơn, được cho là vì các phản ứng gốc tự do xuất hiện ở mức độ thấp hơn trong cơ thể họ. Trong một nghiên cứu lâm sàng đối với những người tập môn thiền siêu việt (transcendental meditation – TM), các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng:
Các mức cường độ UPE thấp nhất đã được quan sát ghi nhận ở hai đối tượng nghiên cứu thường xuyên tập thiền. Kết quả phân tích quang phổ UPE ở người đã cho thấy hoạt động phát xạ cực yếu có lẽ, ít nhất một phần, là sự phản ánh của các phản ứng gốc tự do trong một cơ thể sống. Người ta đã ghi nhận được nhiều sự biến đổi khác nhau về mặt sinh hoá và sinh lý theo sau một quá trình tập thiền lâu năm và điều này ám chỉ rằng tập thiền có thể tác động đến hoạt động của các gốc tự do [trong cơ thể].
Điều thú vị là, một thảo mộc nổi tiếng với công dụng làm giảm căng thẳng (bao gồm việc kích hoạt suy giảm đáng kể hóc-môn cortisol), và tình trạng mất cân bằng ôxy hoá tăng cường có liên quan, đã được thử nghiệm lâm sàng để kiểm định khả năng giảm thiểu mức độ phát quang sinh học trên người. Được biết đến với tên gọi rhodiola, một nghiên cứu được công bố vào năm 2009 trên tạp chí Nghiên cứu Liệu pháp Thực vật (Phytotherapeutic Research) đã cho thấy những người dùng thảo dược này trong một tuần có thể giảm thiểu đáng kể tình trạng phát xạ quang tử so với nhóm dùng giả dược (placebo).

Da người có thể hấp thu năng lượng và thông tin từ ánh sáng Mặt Trời

Có lẽ điều kỳ diệu nhất là, lớp da bề mặt con người có chứa những tế bào có khả năng thu hút năng lượng và thông tin một cách hiệu quả từ bức xạ tia cực tím. Theo một nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Quang hoá và Quang sinh (Journal of Photochemistry and Photobiology) vào năm 1993, với tiêu đề “Bức xạ ánh nắng nhân tạo kích thích phát xạ quang tử cực yếu trong các nguyên bào sợi của da người (Artificial sunlight irradiation induces ultraweak photon emission in human skin fibroblasts)”, khi ánh sáng từ một nguồn ánh nắng nhân tạo được chiếu vào các nguyên bào sợi của các đối tượng nghiên cứu bình thường hay các đối tượng có triệu chứng khô da sắc tố (xeroderma pigmentosum), một chứng bệnh đặc trưng bởi tình trạng khiếm khuyết các cơ chế sửa chữa ADN, nó đã kích hoạt hoạt động phát xạ quang tử cực yếu cao hơn gấp nhiều lần (10-20 lần) trong nhóm đối tượng mắc chứng khô da sắc tố.
Từ kết quả thí nghiệm này, các nhà nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng “Các số liệu này cho thấy các tế bào khô da sắc tố có thiên hướng đánh mất khả năng lưu giữ hiệu quả các quang tử cực yếu, cho thấy có tồn tại của một hệ thống lưu giữ quang tử nội bào hiệu quả bên trong các tế bào của con người”. Các nghiên cứu gần đây hơn cũng đã nhận diện được sự khác biệt tương đối trong hoạt động phát xạ quang tử sinh học giữa các tế bào thường và các tế bào ác tính.
(Ảnh: NexTser/iStock)
(Ảnh: NexTser/iStock)
Trong một bài viết trước đây với tiêu đề “Liệu sắc tố da có đóng vai trò như một tấm pin năng lượng Mặt Trời tự nhiên“, chúng ta đã khám phá vai trò của hắc tố melanin trong việc chuyển đổi ánh sáng tia cực tím thành năng lượng chuyển hoá:
Hắc tố melanin có khả năng chuyển đổi năng lượng ánh sáng tia cực tím thành nhiệt lượng trong một quá trình gọi là “chuyển đổi nội bộ siêu tốc”; hơn 99,9% bức xạ tia cực tím được hấp thụ sẽ được chuyển đổi từ ánh sáng tia cực tím có nguy cơ lỗi gien (tổn thương ADN) thành nhiệt lượng vô hại.
Nếu hắc tố melanin có thể chuyển đổi ánh sáng thành nhiệt lượng, thì tại sao nó không thể chuyển đổi bức xạ tia cực tím thành các dạng thức năng lượng hữu ích khác trên phương diện sinh học và trao đổi chất? Ý tưởng này dường như không quá xa vời khi xét đến việc thậm chí bức xạ tia gamma, vốn có độc tính cao đối với hầu hết các dạng thức sống, lại là một nguồn cung dinh dưỡng ổn định cho một số chủng loại vi khuẩn và nấm mốc.     
Gerald Pollack, tác giả bài viết Pha thứ tư của nước, đã xác định được các phân tử nước, vốn cấu thành nên 99% số lượng các phân tử trong cơ thể chúng ta, với khả năng lưu giữ năng lượng Mặt Trời tương tự các cục pin và điều khiển phần lớn các chức năng trong cơ thể như một nguồn năng lượng cơ bản, không phụ thuộc vào các phân tử mang năng lượng ATP (adenosine triphosphate).

Hiệu suất phát xạ quang tử sinh học trong cơ thể được chi phối bởi lực hấp dẫn từ Mặt Trăng và Mặt Trời

Dường như khoa học hiện đại hiện mới chỉ công nhận khả năng của cơ thể người trong việc tiếp nhận và phát phóng năng lượng và thông tin trực tiếp từ ánh sáng Mặt Trời.
Một quan điểm đang dần được công nhận nhiều hơn là: Mặt Trời và Mặt Trăng tác động đến hoạt động phát xạ quang tử sinh học thông qua các tương tác hấp dẫn. Gần đây, hoạt động phát xạ quang tử sinh học của các cây lúa mỳ ở Đức và Brazil được phát hiện có sự đồng điệu xuyên lục địa dựa theo các nhịp độ có liên hệ đến thủy triều gây nên do Mặt Trăng và Mặt Trời.
Trên thực tế, lực tạo triều của Mặt Trăng và Mặt Trời, trong đó Mặt Trời và Mặt Trăng lần lượt đóng góp 30% và 60% vào gia tốc trọng trường kết hợp, được phát hiện có khả năng điều tiết một số đặc tính sinh trưởng của thực vật trên Trái Đất.
Quang tử sinh học – bí mật của trường năng lượng xung quanh cơ thể người:

Ý định là một loại năng lượng sống trong sinh lý học

Ngay cả bản thân ý định của con người, cái được gọi là “hồn ma trong cỗ máy” trong thuyết linh hồn – cơ thể của René Descartes, có thể có một nền tảng thực nghiệm dựa trên các quang tử sinh học.
Một bài bình luận mới đây trên tạp chí Điều tra lâm sàng (Investigacion clinica) với tiêu đề “Bằng chứng về sức mạnh của ý định” (Evidence about the power of intention) đã đề cập đến mối liên hệ này như sau:
Ý định được định nghĩa là một ý nghĩ chỉ đạo để thực hiện một hành động xác định. Các ý nghĩ có mục đích có thể tác động đến những vật thể vô tri vô giác và, trên thực tế, đến tất cả các sinh vật sống, từ các sinh vật đơn bào cho đến con người. Sự phát xạ các hạt phần tử ánh sáng (các hạt quang tử sinh học) dường như là cơ chế giúp cho ý định tạo ra sự ảnh hưởng. Tất cả các sinh vật sống đều phát xuất một dòng quang tử trường kỳ như một phương tiện dẫn đường cho các tín hiệu lan toả tức thời từ một bộ phận của cơ thể đến một bộ phận khác và hướng ra thế giới bên ngoài.
Các quang tử sinh học được lưu giữ trong ADN nội bào. Khi sinh vật phát bệnh, những sự thay đổi sẽ xuất hiện trong hoạt động phát xạ quang tử sinh học. Ý định trực tiếp hiện diện dưới dạng thức một loại năng lượng điện từ sản sinh ra một dòng quang tử có trật tự. Các ý định của chúng ta dường như hoạt động dưới dạng thức các tần số có tính nhất quán cao, có khả năng thay đổi cấu trúc phân tử của vật chất. Để ý định khởi tác dụng, cần lựa chọn một thời điểm phù hợp. Trên thực tế, các sinh vật sống đang đồng bộ hóa lẫn nhau, cũng như với Trái Đất và với các sự thay đổi năng lượng từ tính liên tục.
Người ta đã chứng minh được rằng năng lượng của ý định còn có thể thay đổi môi trường xung quanh. Hiện tượng thôi miên, Dấu Thánh và hiệu ứng giả dược (placebo) có thể được xem là các dạng thức của ý định, như các chỉ lệnh cho bộ não trong một trạng thái ý thức chuyên biệt.
Các trường hợp hồi phục tự phát hay trị bệnh từ xa đối với những bệnh nhân ốm nặng là những ví dụ điển hình về việc sử dụng một ý định mạnh phi thường để kiểm soát các bệnh tật đang đe doạ đến cuộc sống chúng ta. Ý định trị bệnh cũng như niềm tin của người bệnh vào việc trị liệu sẽ thúc đẩy phương pháp điều trị này. Tóm lại, các nghiên cứu về ý định và ý thức đang nổi lên như những khía cạnh căn bản chứ không chỉ đơn thuần là những hiện tượng phụ, và điều này đang nhanh chóng dẫn tới một sự thay đổi lớn trong các mô hình sinh học và y học.
Như vậy bạn đã hiểu được điều này. Khoa học đang ngày càng đồng điệu với các trải nghiệm tự thân (trực tiếp/chủ quan) của con người: Chúng ta không chỉ có một cơ thể được cấu tạo từ những nguyên tử và phân tử đơn thuần, mà chúng ta còn là các sinh mệnh phát ra, tương tác và được tạo thành từ ánh sáng.
Tác giả: Sayer Ji
Đăng tải với sự cho phép. Xem bài gốc ở đây
Hoàng Sâm biên dịch

Những ‘linh cảm’ của bạn khi mới gặp ai đó: Chúng từ đâu đến?

(Ảnh minh họa: flickr)
(Ảnh minh họa: flickr)
Vũ trụ chứa đầy những điều bí ẩn đang thách đố tri thức của nhân loại. Bộ sưu tập những câu chuyện “Khoa học Huyền bí” của Thời báo Đại Kỷ Nguyên về những hiện tượng lạ thường đã kích thích trí tưởng tượng và mở ra những khả năng chưa từng mơ tới. Chúng có thật hay không? Điều đó tùy bạn quyết định!
Chúng ta bị vây quanh bởi sóng điện từ và các dạng năng lượng khác mà không thể cảm nhận được. Ví dụ, chúng ta chỉ biết sóng Wi-Fi hiện hữu trong môi trường bởi vì thiết bị của chúng ta hiển thị kết nối, chứ không phải vì chúng ta có thể cảm nhận được thông qua các giác quan. 
Tiến sĩ tâm thần học Bernard Beitman cho biết, d ù không nhận ra, nhưng có lẽ chúng ta cảm nhận được một loại năng lượng liên quan đến suy nghĩ và cảm xúc của con người. Ông cho biết, cơ thể chúng ta có những thụ thể để tiếp nhận loại năng lượng này. Ông xem xét các nghiên cứu về não bộ và năng lượng phát ra từ cơ thể sống, nhằm đưa ra giả thuyết về bản chất vật lý của “linh cảm” (vibes) này.
Tiến sĩ Beitman là giáo sư thỉnh giảng tại đại học Virginia và cựu trưởng khoa tâm thần học của đại học Missouri-Columbia. Ông cho biết, đôi khi ông cảm nhận được trạng thái tinh thần của bệnh nhân, chính xác hơn nhiều so với những quan sát chủ ý thông thường. Ông đã suy nghĩ về bản chất của những linh cảm này.
Đây là một trải nghiệm mà nhiều người có thể nhớ lại. Bạn đã từng có linh cảm về người nào đó bạn gặp lần đầu? Bề ngoài và cách xử sự của người này rất lịch thiệp, nhưng bạn lại có linh cảm không tốt, hoặc ngược lại.
Phải chăng trong hành động, cử chỉ của họ có điều gì đó mà bạn chỉ có thể cảm nhận ở mức độ tiềm thức. Hay người đó đang phát ra một loại năng lượng bạn có thể cảm nhận được, tương tự như khi mũi bạn nhận ra mùi trong không khí? Liệu có phải bạn “ngửi” được tính cách của một người?
Những bằng chứng trong tự nhiên hỗ trợ cho thuyết cảm nhận-linh cảm
Chim nhạn râu, một loài chim di trú. (Ảnh: Wiki)
Các nhà khoa học cho rằng, động vật và thực vật phát ra và cảm nhận được năng lượng mà chúng ta không thể làm được.
Cá mập có những cơ quan trên da giúp phát hiện sự thay đổi nhẹ của điện từ ở trong nước. Chim có thể cảm nhận được trường điện từ của Trái Đất nhờ đó giúp chúng định hướng. Thuyết điện từ để giải thích khả năng định hướng của chim chưa được xác nhận hoàn toàn ; những thuyết khác cho rằng những con chim di trú sử dụng khứu giác phức tạp để xác định mùi rất nhẹ của quê hương chúng.
Một nghiên cứu về sự phát ra những photon sinh học, hay còn gọi là hào quang (aura), đã chứng minh được rằng thực vật dường như phát ra và cảm nhận năng lượng từ nhau – và có thể chúng giao tiếp với nhau thông qua năng lượng này.
Hào quang: một loại năng lượng chúng ta phát ra?
aura-shutterstock-119122729-webonly.jpg“Hào quang” của cây (Ảnh: Mark D. Roberts, Wikimedia Commons)
Tiến sĩ Gary Schwartz và tiến sĩ Katherine Creath đã xuất bản một nghiên cứu trên tạp chí Thuốc Thay thế và Bổ sung (Alternative & Complementary Medicine) năm 2006 có tựa đề: Chụp ảnh “Hào quang” xung quanh và giữa những thực vật: Một ứng dụng mới của hình ảnh photon sinh học.
Tiến sĩ Schwartz nhận học vị tiến sĩ từ trường đại học Harvard, đã giảng dạy tâm thần học và tâm lý học tại đại học Yale, và hiện là giáo sư trường đại học Arizona. Tiến sĩ Creath là một giáo sư quang học tại trường đại học Arizona.
Schwartz và Creath viết: “Khi nghiên cứu hàng ngàn bức ảnh ghi lại được trong hai năm qua, chúng tôi bắt đầu quan sát thấy rằng cũng có những mô thức trong ‘vùng nhiễu’ xung quanh những bộ phận của cây. Dường như mô thức photon sinh học không chỉ mở rộng ra ngoài cây mà còn được tăng cường giữa những các cây khi chúng ở gần nhau. Phải chăng những mô hình này đại diện cho “hào quang” xung quanh những bộ phận của cây, và phải chăng những cái cây đang biểu lộ một dạng giao tiếp hay cộng hưởng nào đó?”.
Sau đó họ trả lời một cách khẳng định: “Dựa theo sự phức tạp của những mô thức photon sinh học được chụp giữa các bộ phận của cây, cho thấy có sự ‘cộng hưởng’ tiềm ẩn, hoặc chính là sự ‘giao tiếp’ giữa những cái cây, theo như thuyết photon sinh học hiện nay tiên đoán”.
Aura
“Hào quang” của cây (Ảnh: Mark D. Roberts, Wikimedia Commons)
Beitman khuyến khích nghiên cứu thêm về khả năng con người cũng có thể giao tiếp với nhau một cách tương tự thông qua năng lượng. Ông biết rằng cộng đồng khoa học có thể sẽ ngập ngừng khi tiến hành những nghiên cứu như vậy: “Trong thế giới hiện nay của chúng ta, người ta phải đo đo đạc được thì mới chấp nhận điều gì đó là ‘có thực’“. Mà có lẽ khó đo được loại năng lượng này.
Chúng ta có thể chủ ý khuếch đại loại cảm nhận này?
Quan sát bệnh nhân của mình, ông đã nhận thấy thái độ của họ đối với thuốc do ông kê, dường như ảnh hưởng tới việc những thụ thể trong não họ tiếp nhận các phân tử thuốc như thế nào.
Ông viết: “Cách suy nghĩ về thuốc của mỗi chúng ta dường như có ảnh hưởng đến hoạt động của các thụ thể. Có lẽ ý định và kì vọng của chúng ta cũng có thể nặn ra các thụ thể mới hoặc thay đổi độ nhạy cảm của những thụ thể đang có”.
Tara MacIsaac, Epoch Times
Đại Hải biên dịch

Phải chăng một số người có thể cảm nhận được những thứ vô hình? (P3)

(Ảnh: shutterstock, chỉnh sửa bởi Đại Kỷ Nguyên)
(Ảnh: shutterstock, chỉnh sửa bởi Đại Kỷ Nguyên)
Vũ trụ có đầy rẫy những bí ẩn đang thách thức những hiểu biết của chúng ta hiện nay. Trong chuyên mục “Khoa học siêu thường” Đại Kỷ Nguyên thu thập các câu chuyện về những hiện tượng lạ thường để kích thích trí tưởng tượng và mở ra những khả năng chưa từng nghĩ đến. Chúng có thật hay không? Bạn là người quyết định.
Khoa học thường phủ nhận những gì chưa thể tiếp cận, cho tới khi công nghệ hoặc một phát minh đột phá tạo nên bước ngoặt. Trước khi xuất hiện máy chụp cộng hưởng từ MRI, nếu ai đó nói rằng họ có thể nếm vải (vóc) hay nghe được màu sắc của các từ phát âm (hiện tượng cảm giác kèm: các giác quan được pha trộn với nhau), trong thời xưa người ta sẽ cho rằng đây là lối nói ẩn dụ, giống như cách nói “tôi cảm thấy đen quá hôm nay.” Nhưng đây không phải là phép ẩn dụ, ảnh quét thần kinh cho thấy não bộ của những người trong trạng thái cảm giác kèm sẽ lóe sáng tương ứng với sự trùng lặp giác quan mà họ kể.
XEM THÊM: Phần 1 và Phần 2
Hội chứng mệt mỏi kinh niên (Chronic fatigue syndrome) cũng đã trải qua một quá trình chuyển biến tương tự, chỉ là trong một khoảng thời gian lâu hơn. Bị chế nhạo là “chứng cúm yuppie” vào thập niên 80 và 90, người ta từng nhìn nhận đây là triệu chứng của những phụ nữ da trắng quá cầu kỳ thuộc tầng lớp trung-thượng lưu (Khoảng 100 năm trước, loại bệnh này được xem là chứng suy nhược thần kinh).
Nhưng vào năm 2006, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ đã xác nhận rằng hội chứng này không chỉ là một tình trạng sinh lý có thực, mà còn có tính di truyền. Những cá nhân bị mắc phải thường có một bộ 12 gien di truyền phụ trách xử lý stress đã bị thay đổi. Trên phương diện nuôi dưỡng (nurture), các nhà nghiên cứu đã phát hiện rằng hội chứng này càng nặng thì người ta càng chịu nhiều tác nhân gây stress trong đời. Để củng cố giả thuyết này, một nghiên cứu độc lập đã đưa ra các bằng chứng đáng tin cậy rằng các tổn thương thời thơ ấu—đặc biệt là bị lạm dụng tình dục hay và bị đánh đập—sẽ tăng khả năng mắc hội chứng này trong tương lai từ 4 đến 8 lần. Một chuyên gia dich tễ học ở Thụy Điển đã phát hiện rằng mức độ stress cao—thậm chí xảy ra từ cả thập kỷ trước— sẽ tăng khả năng mắc hội chứng này đến 64%.
Rõ ràng những người mắc hội chứng này không chỉ đơn giản là những người giả ốm hoặc luôn lo sợ bị bệnh. Hóa ra não bộ và cơ thể họ lại rất khác biệt so với người khác khi đối mặt với các trường hợp stress cực độ. Phải chăng các cảm nhận về ma cũng có một logic tương tự?

Phải chăng các cảm nhận về ma cũng có một logic tương tự?

Hãy xem xét những bước đột phá lớn của y học trong những năm gần đây, từ đó giúp làm sáng tỏ các triệu chứng có liên quan với khả năng nhận thức siêu thường, như: chứng đau nửa đầu, viêm đại tràng co thắt, và chứng rối loạn căng thẳng sau chấn thương. Càng xem xét kĩ những tình trạng này, thì càng cho thấy các cảm xúc mãnh liệt ảnh hưởng lâu dài và rõ rệt lên các cơ quan nội tạng của con người. Một lĩnh vực khoa học đang phát triển gọi là psychoneuroimmunology nhằm nghiên cứutác động của cảm xúc lên sự tương tác giữa hệ thần kinh, hệ nội tiết, và hệ miễn dịch.
Nhưng chỉ mới gần đây yếu tố cảm xúc mới trở thành đối tượng được tập trung nghiên cứu. Trong hàng thế kỷ qua, không có cách để giám sát hoặc đo lường các loại cảm xúc, nên khoa học đã phớt lờ. Hiện nay tất cả đã thay đổi.

Nhưng chỉ mới gần đây yếu tố cảm xúc mới trở thành đối tượng được tập trung nghiên cứu. Trong hàng thế kỷ qua, không có cách để giám sát hoặc đo lường các loại cảm xúc, nên khoa học đã phớt lờ. Hiện nay tất cả đã thay đổi.

Chúng ta không biết về những thứ chúng ta không biết, câu nói này đúng. Nói theo cách của Bertrand Russell, chúng ta không nên “tin tưởng” hay “không tin tưởng,” mà nên đặt sang một bên các thiên hướng nhìn nhận để đi tìm chân lý. Nhà vật lý học John Wheeler đã từng nói, “Trong tất cả các lĩnh vực, hãy chọn điều kỳ quái nhất và nghiên cứu nó.”
Đó là bởi vì thành quả đạt được trong những trường hợp như vậy sẽ là to lớn nhất. Nhưng để giải mã bí ẩn của các nhà ngoại cảm, trước hết chúng ta cần nhìn nhận một cách nghiêm túc những điều họ báo cáo. Không phải là dễ làm bởi vì bản chất của con người: nếu chúng ta không tự mình trải nghiệm, thì chúng ta thường không muốn tin. Nietzsche đã nói: “Người không nghe thấy tiếng nhạc sẽ nghĩ những người đang nhảy múa bị thần kinh.” Tương tự, nếu bạn cảm thấy “điệu nhảy” của những người cực kỳ nhạy cảm kia là kỳ quặc, thì sẽ rất khó nhìn nhận họ.
Hơn nữa, James Alcock – nhà tâm lý học tại trường Đại học York ở Canada, đã nói “Chính nghiên cứu về những hiện tượng dị thường đã thúc đẩy khoa học tiến bộ. Qua các niên đại, người ta đã báo cáo các trải nghiệm kỳ lạ và đáng tin cậy, từ đó cung cấp một lĩnh vực nghiên cứu thú vị và quan trọng. Chúng ta chỉ có thể biết thêm về sự vận hành của cơ thể, và mở rộng các giả thuyết về nhận thức, bằng cách tìm hiểu nguyên nhân của những trải nghiệm như vậy.”
Đó là lý do nhận thức của những người cực kỳ nhạy cảm lại quan trọng đến vậy. Chúng ta có thể học được rất nhiều từ họ—như về lĩnh vực tiềm ý thức, về cảm xúc, về vai trò của tự nhiên và nuôi dưỡng, về các mối liên kết giữa con người, và có thể cả về tâm linh và vị trí của con người trong vạn vật. Thời điểm đã đến. Như một độc giả đã viết cho biên tập viên tờ Newsweek rằng: “Tôi là một nhà ngoại cảm… Đó không phải là điều tôi tìm kiếm. Tôi đã đè nén và phủ nhận nó… và đã tranh cãi về nó rất nhiều lần, nhưng chỉ với bản thân tôi… Tôi tin rằng nhiều nhà ngoại cảm đang im lặng trong nền văn hóa của chúng ta, đang bị chế nhạo và hoang mang, thiếu các nguồn thông tin rộng rãi và đang chờ đợi để được bước ra ánh sáng.”
Có lẽ những người đặc biệt nhạy cảm như vậy đã kể về cảm giác bị ma ám ở một số địa điểm, một cách tự nhiên và thường xuyên hơn những người còn lại. Có lẽ toàn bộ vấn đề không nên được bỏ sang một bên hoặc nhìn nhận như thứ gì đó huyền bí. Vấn đề này “nên được bước ra ánh sáng” thẳng thắn của khoa học.
Tác giả Michael Jawer. Bản gốc đăng trên tờ Psychology Today (Tâm lý học ngày nay).
 

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32