Cơ thể con người phát xạ các
quang tử sinh học, còn được gọi là những sự phát xạ quang tử cực yếu
(ultraweak photon emissions - UPE). (Ảnh: agsandrew/iStock)
Khoa học đang ngày càng hòa
hợp với tính thi vị của các trải nghiệm chủ quan của con người: Chúng ta
không chỉ có một cơ thể được cấu tạo đơn thuần bởi các nguyên tử và
phân tử, mà còn được hợp thành từ ánh sáng. Các quang tử sinh học có thể
được phát xuất ra từ cơ thể con người thông qua ý niệm hay ý định, với
khả năng điều tiết các chức năng cơ bản trong tương tác giữa các tế
bào và ADN.
Chúng ta đang sống, và không có điều gì đáng kinh ngạc hơn cái hiện thực vốn quá bất khả ấy. Chúng ta thường bỏ qua hiện thực này, vì quên mất rằng vũ trụ này hoàn toàn có thể trở nên trống rỗng. Tại
sao lại có một vũ trụ (với khả năng cảm nhận sâu sắc về tự thân nó
thông qua chúng ta), chứ không phải là một khoảng chân không vốn hoàn
toàn không nhận thức được sự tồn tại của bản thân mình?
Từ ánh
sáng, không khí, nước, các khoáng chất cơ bản trong lớp vỏ Trái Đất, và
các thông tin cổ xưa với niên đại lên đến ít nhất 3 tỷ năm tuổi chứa bên
trong hạt nhân của một tế bào hợp tử lưỡng bội, cơ thể con người đã
được tạo thành, và bên trong cơ thể đó có tồn tại một linh hồn ít nhất
có khả năng cố gắng thấu hiểu được cái nguồn gốc tâm linh và thân thể
của chính mình.
Sự tồn tại của chúng ta được hình
thành, một phần từ ánh sáng Mặt Trời, và do đó đòi hỏi sự hấp thụ liên
tục ánh sáng Mặt Trời cô đặc như một loại đồ ăn.
Trước sự
điên rồ của điều kiện sinh tồn của chúng ta, cùng với hiện thân của thể
xác như một tổng thể, và sự tồn tại của chúng ta được hình thành, một
phần từ ánh sáng Mặt Trời, và do đó đòi hỏi sự hấp thụ liên tục ánh sáng
Mặt Trời cô đặc dưới dạng thức đồ ăn, dường như sẽ không quá cường điệu
khi nói rằng cơ thể chúng ta phát xuất ra ánh sáng.
Chúng
ta không chỉ có một cơ thể được cấu tạo từ những nguyên tử và phân tử
đơn thuần, mà chúng ta còn là các sinh mệnh phát ra, tương tác và được
tạo thành từ ánh sáng. (Ảnh: pashyksv/iStock)
Thật vậy, cơ thể con người phát xạ các quang tử sinh học,
hay còn được gọi là sự phát xạ quang tử cực yếu (ultraweak photon
emissions – UPE), thấp hơn 1.000 lần so với khả năng quan sát của con
mắt thịt chúng ta. Tuy vô hình trước mắt người, nhưng các hạt ánh sáng
này (hay các sóng này, phụ thuộc vào phương pháp đo lường) là một phần
trong quang phổ nhìn thấy được (380-780 nm) và có thể được phát hiện thông qua các thiết bị đo lường hiện đại.
Con mắt vật lý và con mắt “tinh thần” phát xuất ánh sáng
Bản thân
con mắt, vốn không ngừng tiếp xúc với những quang tử mạnh mẽ từ môi
trường – đi xuyên qua các mô thị giác khác nhau, sẽ phát xuất các quang
tử cực yếu tự phát và được kích hoạt bởi ánh sáng có thể nhìn thấy được.
Thậm chí có giả thuyết cho rằng, ánh sáng khả kiến (trong quang phổ khả
kiến) sẽ làm trì hoãn quá trình phát quang sinh học bên trong mô mắt bị
phơi sáng, cung cấp một cách giải thích tiềm năng cho nguồn gốc của
hiện tượng dư ảnh âm bản.
Bản thân con mắt sẽ phát xuất các quang tử cực yếu tự phát và được kích hoạt bởi ánh sáng khả kiến. (Ảnh: vitor costa/iStock)
Những sự
phát quang này cũng có liên hệ với sự chuyển hoá năng lượng trong não
bộ và những căng thẳng do quá trình ôxy hoá diễn ra bên trong não bộ của
những loài động vật có vú. Tuy vậy, sự phát xạ quang tử không nhất
thiết là một loại hiện tượng phụ (epiphenomenal).
Giả
thuyết của GS. Bokkon cho rằng các quang tử được giải phóng trong các
quá trình hoá học bên trong não bộ sẽ tạo ra các hình ảnh lý sinh trong
quá trình tưởng tượng (visual imagery, hay mental image), và một nghiên
cứu gần đây đã chỉ ra rằng khi các đối tượng nghiên cứu chủ động tưởng
tượng ra ánh sáng trong một môi trường cực tối, ý định của họ
đã làm gia tăng đáng kể hoạt động phát xạ quang tử cực yếu. Điều này
nhất quán với một quan điểm mới phổ biến rằng các quang tử sinh học
không phải chỉ là những sản phẩm phụ của quá trình trao đổi chất trong
tế bào. Thay vào đó, do cường độ quang tử sinh học có thể sẽ cao hơn
đáng kể ở bên trong so với bên ngoài tế bào, nên tâm trí sẽ có khả năng
tiếp cận sự biến chuyển năng lượng này để tạo ra các hình ảnh lý-sinh
nội tại trong quá trình tưởng tượng và phân tích thông tin thị giác
(imagery and visual perception).
Các tế bào và ADN của chúng ta sử dụng quang tử sinh học để lưu trữ và trao đổi thông tin
Hiển
nhiên các quang tử sinh học được những tế bào của nhiều sinh vật sống sử
dụng để giao tiếp, từ đó hỗ trợ quá trình truyền dẫn năng lượng/thông
tin với tốc độ nhanh hơn vài phần so với quá trình khuếch tán hoá học
thông thường. Theo kết quả một nghiên cứu vào năm 2010, “Sự giao tiếp
giữa tế bào với tế bào nhờ các quang tử sinh học đã được minh chứng trên
các loài thực vật, vi khuẩn, các tế bào thận và bạch cầu trung tính của
động vật”.
Các nhà
nghiên cứu đã có thể chứng minh rằng “… việc kích thích bằng các ánh
sáng có quang phổ khác nhau (hồng ngoại, đỏ, vàng, xanh dương, lục và
trắng) tại một đầu của đường dẫn truyền cảm giác hoặc đường dẫn truyền
vận động của tủy sống, sẽ có thể dẫn đến gia tăng đáng kể các hoạt động
quang tử sinh học tại đầu bên kia”. Các nhà nghiên cứu đã diễn giải phát
hiện của họ như sau: “… việc kích thích bằng ánh sáng có thể sản sinh
ra các quang tử sinh học hoạt động dọc theo các dây thần kinh, có lẽ
đóng vai trò như các tín hiệu liên lạc thần kinh.”
Ngay cả
khi chúng ta xem xét bộ gien của chúng ta sâu hơn ở cấp độ phân tử, ADN
cũng có thể được xác định là một nguồn phát xạ quang tử sinh học. Một
tác giả đề xuất rằng ADN phụ thuộc nhiều vào quang tử sinh học đến mức
nó có các đặc tính giống tia laser excimer
(loại laser làm nền tảng cho phẫu thuật khúc xạ mắt), cho phép nó tồn
tại trong một trạng thái ổn định khác xa với trạng thái cân bằng nhiệt
tại ngưỡng nhiệt độ.
Về mặt
kỹ thuật, quang tử sinh học là một hạt cơ bản hay một lượng tử ánh sáng
có nguồn gốc phi nhiệt trong quang phổ khả kiến và quang phổ tia cực tím
được một hệ sinh học phát xuất ra. Chúng thường được cho là sản phẩm
của quá trình chuyển hoá năng lượng bên trong các tế bào của chúng ta,
hay nói một cách chính quy hơn là một “… phó phẩm của các phản ứng hoá
sinh: các phân tử hoạt năng sản sinh từ các quá trình năng lượng sinh
học bao gồm các chất có tính oxy hóa mạnh”,
Quang phổ nhìn thấy được và quang phổ tia cực tím (ultraviolet). (Ảnh: Internet)
Hiệu suất phát xạ quang tử sinh học theo chu kỳ 24 giờ của cơ thể người
Vì quá
trình trao đổi chất trong cơ thể thay đổi theo chu kỳ 24 giờ, nên hoạt
động phát xạ quang tử sinh học cũng thay đổi theo trục thời gian ban
ngày. Các nhà nghiên cứu đã lập bản đồ các vị trí giải phẫu chuyên biệt
trong cơ thể, nơi hoạt động phát xạ quang tử sinh học được ghi nhận mạnh
mẽ hơn và yếu hơn, phụ thuộc vào các mốc thời gian trong ngày:
Nhìn
chung, sự dao động số lượng các quang tử phát xạ trên cơ thể thường
thấp hơn vào buổi sáng so với vào buổi chiều. Khu vực ngực-bụng phát xạ
với cường độ thấp nhất và liên tục nhất. Hai bàn tay và vùng đầu phát xạ
nhiều nhất và tăng dần trong ngày. Kết quả phân tích quang phổ đối với
các mức phát xạ thấp, trung bình và cao ở các vùng phía trên trước mặt
của chân phải, trán và hai lòng bàn tay trong dải độ nhạy của bộ nhân
quang đã cho thấy hoạt động phát xạ tự phát chủ yếu tại dải sóng 470-570
nm. Hoạt động phát xạ quang tử ở vùng chính giữa lòng bàn tay đã đóng
góp phần lớn vào dải sóng 420-470 nm trong dải quang phổ của hoạt động
phát xạ tự phát từ cánh tay vào mùa thu/đông. Quang phổ của hoạt động
phát xạ quang tử sinh học bị trì hoãn từ bàn tay đã cho thấy hoạt động
phát xạ chủ yếu trong cùng dải với hoạt động phát xạ tự phát.
Cơ thể người phát xuất ra các quang tử sinh học, cũng được gọi là hoạt động phát xạ quang tử cực yếu (UPE).
Các nhà
nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng “Theo các số liệu quang phổ, các phép
đo đạc có thể cũng cung cấp các số liệu định lượng về mô thức riêng
biệt của các quá trình ôxy già (peroxidative) và chống ôxy hoá diễn ra
trong cơ thể sống”.
Thiền định có thể tác động đến hoạt động của các gốc tự do. (Ảnh: brickrena/iStock)
Thiền định và các thảo dược tác động đến hiệu suất phát xạ quang tử sinh học
Kết quả
nghiên cứu đã cho thấy sự thuyên giảm tình trạng mất cân bằng oxy hoá
(hay stress oxy hóa) nhờ hoạt động phát xạ quang tử sinh học giữa những
người tập thiền và không tập thiền. Những người tập thiền thường xuyên
có thiên hướng phát xạ các quang tử cực yếu (sự phát xạ quang tử sinh
học – UPE) ở mức thấp hơn, được cho là vì các phản ứng gốc tự do xuất
hiện ở mức độ thấp hơn trong cơ thể họ. Trong một nghiên cứu lâm sàng
đối với những người tập môn thiền siêu việt (transcendental meditation –
TM), các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng:
Các
mức cường độ UPE thấp nhất đã được quan sát ghi nhận ở hai đối tượng
nghiên cứu thường xuyên tập thiền. Kết quả phân tích quang phổ UPE ở
người đã cho thấy hoạt động phát xạ cực yếu có lẽ, ít nhất một phần, là
sự phản ánh của các phản ứng gốc tự do trong một cơ thể sống. Người ta
đã ghi nhận được nhiều sự biến đổi khác nhau về mặt sinh hoá và sinh lý
theo sau một quá trình tập thiền lâu năm và điều này ám chỉ rằng tập
thiền có thể tác động đến hoạt động của các gốc tự do [trong cơ thể].
Điều thú
vị là, một thảo mộc nổi tiếng với công dụng làm giảm căng thẳng (bao
gồm việc kích hoạt suy giảm đáng kể hóc-môn cortisol), và tình trạng mất
cân bằng ôxy hoá tăng cường có liên quan, đã được thử nghiệm lâm sàng
để kiểm định khả năng giảm thiểu mức độ phát quang sinh học trên người.
Được biết đến với tên gọi rhodiola, một nghiên cứu được công bố vào năm 2009 trên tạp chí Nghiên cứu Liệu pháp Thực vật (Phytotherapeutic Research)
đã cho thấy những người dùng thảo dược này trong một tuần có thể giảm
thiểu đáng kể tình trạng phát xạ quang tử so với nhóm dùng giả dược
(placebo).
Da người có thể hấp thu năng lượng và thông tin từ ánh sáng Mặt Trời
Có lẽ
điều kỳ diệu nhất là, lớp da bề mặt con người có chứa những tế bào có
khả năng thu hút năng lượng và thông tin một cách hiệu quả từ bức xạ tia
cực tím. Theo một nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Quang hoá và Quang sinh (Journal of Photochemistry and Photobiology)
vào năm 1993, với tiêu đề “Bức xạ ánh nắng nhân tạo kích thích phát xạ
quang tử cực yếu trong các nguyên bào sợi của da người (Artificial
sunlight irradiation induces ultraweak photon emission in human skin
fibroblasts)”, khi ánh sáng từ một nguồn ánh nắng nhân tạo được chiếu
vào các nguyên bào sợi của các đối tượng nghiên cứu bình thường hay các
đối tượng có triệu chứng khô da sắc tố (xeroderma pigmentosum), một
chứng bệnh đặc trưng bởi tình trạng khiếm khuyết các cơ chế sửa chữa
ADN, nó đã kích hoạt hoạt động phát xạ quang tử cực yếu cao hơn gấp
nhiều lần (10-20 lần) trong nhóm đối tượng mắc chứng khô da sắc tố.
Từ kết
quả thí nghiệm này, các nhà nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng “Các số
liệu này cho thấy các tế bào khô da sắc tố có thiên hướng đánh mất khả
năng lưu giữ hiệu quả các quang tử cực yếu, cho thấy có tồn tại của một hệ thống lưu giữ quang tử nội bào hiệu quả bên trong các tế bào của con người”.
Các nghiên cứu gần đây hơn cũng đã nhận diện được sự khác biệt tương
đối trong hoạt động phát xạ quang tử sinh học giữa các tế bào thường và
các tế bào ác tính.
Hắc
tố melanin có khả năng chuyển đổi năng lượng ánh sáng tia cực tím thành
nhiệt lượng trong một quá trình gọi là “chuyển đổi nội bộ siêu tốc”;
hơn 99,9% bức xạ tia cực tím được hấp thụ sẽ được chuyển đổi từ ánh sáng
tia cực tím có nguy cơ lỗi gien (tổn thương ADN) thành nhiệt lượng vô
hại.
Nếu hắc
tố melanin có thể chuyển đổi ánh sáng thành nhiệt lượng, thì tại sao nó
không thể chuyển đổi bức xạ tia cực tím thành các dạng thức năng lượng
hữu ích khác trên phương diện sinh học và trao đổi chất? Ý tưởng này
dường như không quá xa vời khi xét đến việc thậm chí bức xạ tia gamma,
vốn có độc tính cao đối với hầu hết các dạng thức sống, lại là một nguồn
cung dinh dưỡng ổn định cho một số chủng loại vi khuẩn và nấm mốc.
Gerald Pollack, tác giả bài viết Pha thứ tư của nước,
đã xác định được các phân tử nước, vốn cấu thành nên 99% số lượng các
phân tử trong cơ thể chúng ta, với khả năng lưu giữ năng lượng Mặt Trời
tương tự các cục pin và điều khiển phần lớn các chức năng trong cơ thể
như một nguồn năng lượng cơ bản, không phụ thuộc vào các phân tử mang
năng lượng ATP (adenosine triphosphate).
Hiệu suất phát xạ quang tử sinh học trong cơ thể được chi phối bởi lực hấp dẫn từ Mặt Trăng và Mặt Trời
Dường
như khoa học hiện đại hiện mới chỉ công nhận khả năng của cơ thể người
trong việc tiếp nhận và phát phóng năng lượng và thông tin trực tiếp từ
ánh sáng Mặt Trời.
Một quan
điểm đang dần được công nhận nhiều hơn là: Mặt Trời và Mặt Trăng tác
động đến hoạt động phát xạ quang tử sinh học thông qua các tương tác hấp
dẫn. Gần đây, hoạt động phát xạ quang tử sinh học của các cây lúa mỳ ở
Đức và Brazil được phát hiện có sự đồng điệu xuyên lục địa dựa theo các
nhịp độ có liên hệ đến thủy triều gây nên do Mặt Trăng và Mặt Trời.
Trên
thực tế, lực tạo triều của Mặt Trăng và Mặt Trời, trong đó Mặt Trời và
Mặt Trăng lần lượt đóng góp 30% và 60% vào gia tốc trọng trường kết hợp,
được phát hiện có khả năng điều tiết một số đặc tính sinh trưởng của
thực vật trên Trái Đất.
Quang tử sinh học – bí mật của trường năng lượng xung quanh cơ thể người:
Ý định là một loại năng lượng sống trong sinh lý học
Ngay cả
bản thân ý định của con người, cái được gọi là “hồn ma trong cỗ máy”
trong thuyết linh hồn – cơ thể của René Descartes, có thể có một nền
tảng thực nghiệm dựa trên các quang tử sinh học.
Một bài bình luận mới đây trên tạp chí Điều tra lâm sàng (Investigacion clinica) với tiêu đề “Bằng chứng về sức mạnh của ý định” (Evidence about the power of intention) đã đề cập đến mối liên hệ này như sau:
Ý
định được định nghĩa là một ý nghĩ chỉ đạo để thực hiện một hành động
xác định. Các ý nghĩ có mục đích có thể tác động đến những vật thể vô
tri vô giác và, trên thực tế, đến tất cả các sinh vật sống, từ các sinh
vật đơn bào cho đến con người. Sự phát xạ các hạt phần tử ánh sáng (các
hạt quang tử sinh học) dường như là cơ chế giúp cho ý định
tạo ra sự ảnh hưởng. Tất cả các sinh vật sống đều phát xuất một dòng
quang tử trường kỳ như một phương tiện dẫn đường cho các tín hiệu lan
toả tức thời từ một bộ phận của cơ thể đến một bộ phận khác và hướng ra
thế giới bên ngoài.
Các quang
tử sinh học được lưu giữ trong ADN nội bào. Khi sinh vật phát bệnh,
những sự thay đổi sẽ xuất hiện trong hoạt động phát xạ quang tử sinh
học. Ý định trực tiếp hiện diện dưới dạng thức một loại năng lượng điện
từ sản sinh ra một dòng quang tử có trật tự. Các ý định của chúng ta
dường như hoạt động dưới dạng thức các tần số có tính nhất quán cao, có
khả năng thay đổi cấu trúc phân tử của vật chất. Để ý định khởi tác
dụng, cần lựa chọn một thời điểm phù hợp. Trên thực tế, các sinh vật
sống đang đồng bộ hóa lẫn nhau, cũng như với Trái Đất và với các sự thay
đổi năng lượng từ tính liên tục.
Người ta đã chứng minh được rằng năng lượng của ý định còn có thể thay đổi môi trường xung quanh. Hiện tượng thôi miên, Dấu Thánh
và hiệu ứng giả dược (placebo) có thể được xem là các dạng thức của ý
định, như các chỉ lệnh cho bộ não trong một trạng thái ý thức chuyên
biệt.
Các trường
hợp hồi phục tự phát hay trị bệnh từ xa đối với những bệnh nhân ốm nặng
là những ví dụ điển hình về việc sử dụng một ý định mạnh phi thường để
kiểm soát các bệnh tật đang đe doạ đến cuộc sống chúng ta. Ý định trị
bệnh cũng như niềm tin của người bệnh vào việc trị liệu sẽ thúc đẩy
phương pháp điều trị này. Tóm lại, các nghiên cứu về ý định và ý thức
đang nổi lên như những khía cạnh căn bản chứ không chỉ đơn thuần là
những hiện tượng phụ, và điều này đang nhanh chóng dẫn tới một sự thay
đổi lớn trong các mô hình sinh học và y học.
Như vậy
bạn đã hiểu được điều này. Khoa học đang ngày càng đồng điệu với các
trải nghiệm tự thân (trực tiếp/chủ quan) của con người: Chúng ta không
chỉ có một cơ thể được cấu tạo từ những nguyên tử và phân tử đơn thuần,
mà chúng ta còn là các sinh mệnh phát ra, tương tác và được tạo thành từ
ánh sáng.
Tác giả: Sayer Ji Đăng tải với sự cho phép. Xem bài gốc ở đây Hoàng Sâm biên dịch
Những ‘linh cảm’ của bạn khi mới gặp ai đó: Chúng từ đâu đến?
Vũ trụ chứa đầy những điều bí ẩn
đang thách đố tri thức của nhân loại. Bộ sưu tập những câu chuyện “Khoa
học Huyền bí” của Thời báo Đại Kỷ Nguyên về những hiện tượng lạ thường
đã kích thích trí tưởng tượng và mở ra những khả năng chưa từng mơ tới.
Chúng có thật hay không? Điều đó tùy bạn quyết định!
Chúng ta bị vây quanh bởi
sóng điện từ và các dạng năng lượng khác mà không thể cảm
nhận được. Ví dụ, chúng ta chỉ biết sóng Wi-Fi hiện hữu trong
môi trường bởi vì thiết bị của chúng ta hiển thị kết nối, chứ
không phải vì chúng ta có thể cảm nhận được thông qua các giác
quan.
Tiến sĩ tâm thần học Bernard Beitman
cho biết, d ù không nhận ra, nhưng có lẽ chúng ta cảm nhận được
một loại năng lượng liên quan đến suy nghĩ và cảm xúc của con
người. Ông cho biết, cơ thể chúng ta có những thụ thể để tiếp
nhận loại năng lượng này. Ông xem xét các nghiên cứu về não bộ
và năng lượng phát ra từ cơ thể sống, nhằm đưa ra giả thuyết
về bản chất vật lý của “linh cảm” (vibes) này.
Tiến sĩ Beitman là giáo sư thỉnh giảng
tại đại học Virginia và cựu trưởng khoa tâm thần học của đại học
Missouri-Columbia. Ông cho biết, đôi khi ông cảm nhận được trạng
thái tinh thần của bệnh nhân, chính xác hơn nhiều so với những
quan sát chủ ý thông thường. Ông đã suy nghĩ về bản chất của những
linh cảm này.
Đây là một trải nghiệm mà nhiều
người có thể nhớ lại. Bạn đã từng có linh cảm về người nào đó
bạn gặp lần đầu? Bề ngoài và cách xử sự của người này rất lịch
thiệp, nhưng bạn lại có linh cảm không tốt, hoặc ngược lại.
Phải chăng trong hành động, cử chỉ
của họ có điều gì đó mà bạn chỉ có thể cảm nhận ở mức độ tiềm
thức. Hay người đó đang phát ra một loại năng lượng bạn có thể
cảm nhận được, tương tự như khi mũi bạn nhận ra mùi trong không
khí? Liệu có phải bạn “ngửi” được tính cách của một người?
Những bằng chứng trong tự nhiên hỗ trợ cho thuyết cảm nhận-linh cảm
Chim nhạn râu, một loài chim di trú. (Ảnh: Wiki)
Các nhà khoa học cho rằng, động vật
và thực vật phát ra và cảm nhận được năng lượng mà chúng ta
không thể làm được.
Cá mập có những cơ quan trên da
giúp phát hiện sự thay đổi nhẹ của điện từ ở trong nước. Chim
có thể cảm nhận được trường điện từ của Trái Đất nhờ đó
giúp chúng định hướng. Thuyết điện từ để giải thích khả năng
định hướng của chim chưa được xác nhận hoàn toàn ; những thuyết
khác cho rằng những con chim di trú sử dụng khứu giác phức tạp
để xác định mùi rất nhẹ của quê hương chúng.
Một nghiên cứu về sự phát ra những
photon sinh học, hay còn gọi là hào quang (aura), đã chứng minh
được rằng thực vật dường như phát ra và cảm nhận năng lượng
từ nhau – và có thể chúng giao tiếp với nhau thông qua năng
lượng này.
Hào quang: một loại năng lượng chúng ta phát ra?
“Hào quang” của cây (Ảnh: Mark D. Roberts, Wikimedia Commons)
Tiến sĩ Gary Schwartz và tiến sĩ
Katherine Creath đã xuất bản một nghiên cứu trên tạp chí Thuốc
Thay thế và Bổ sung (Alternative & Complementary Medicine) năm 2006
có tựa đề: Chụp ảnh “Hào quang” xung quanh và giữa những thực
vật: Một ứng dụng mới của hình ảnh photon sinh học.
Schwartz và Creath viết: “Khi nghiên
cứu hàng ngàn bức ảnh ghi lại được trong hai năm qua, chúng tôi
bắt đầu quan sát thấy rằng cũng có những mô thức trong ‘vùng
nhiễu’ xung quanh những bộ phận của cây. Dường như mô thức photon
sinh học không chỉ mở rộng ra ngoài cây mà còn được tăng cường
giữa những các cây khi chúng ở gần nhau. Phải chăng những mô
hình này đại diện cho “hào quang” xung quanh những bộ phận của
cây, và phải chăng những cái cây đang biểu lộ một dạng giao
tiếp hay cộng hưởng nào đó?”.
Sau đó họ trả lời một cách khẳng
định: “Dựa theo sự phức tạp của những mô thức photon sinh học
được chụp giữa các bộ phận của cây, cho thấy có sự ‘cộng
hưởng’ tiềm ẩn, hoặc chính là sự ‘giao tiếp’ giữa những cái cây,
theo như thuyết photon sinh học hiện nay tiên đoán”.
“Hào quang” của cây (Ảnh: Mark D. Roberts, Wikimedia Commons)
Beitman khuyến khích nghiên cứu thêm
về khả năng con người cũng có thể giao tiếp với nhau một cách
tương tự thông qua năng lượng. Ông biết rằng cộng đồng khoa học
có thể sẽ ngập ngừng khi tiến hành những nghiên cứu như vậy: “Trong
thế giới hiện nay của chúng ta, người ta phải đo đo đạc được thì
mới chấp nhận điều gì đó là ‘có thực’“. Mà có lẽ khó đo được loại
năng lượng này.
Chúng ta có thể chủ ý khuếch đại loại cảm nhận này?
Quan sát bệnh nhân của mình, ông đã
nhận thấy thái độ của họ đối với thuốc do ông kê, dường như
ảnh hưởng tới việc những thụ thể trong não họ tiếp nhận các
phân tử thuốc như thế nào.
Ông viết: “Cách suy nghĩ về thuốc
của mỗi chúng ta dường như có ảnh hưởng đến hoạt động của
các thụ thể. Có lẽ ý định và kì vọng của chúng ta cũng có
thể nặn ra các thụ thể mới hoặc thay đổi độ nhạy cảm của
những thụ thể đang có”.
Vũ trụ có đầy rẫy những bí ẩn đang
thách thức những hiểu biết của chúng ta hiện nay. Trong chuyên mục “Khoa
học siêu thường” Đại Kỷ Nguyên thu thập các câu chuyện về những hiện
tượng lạ thường để kích thích trí tưởng tượng và mở ra những khả năng
chưa từng nghĩ đến. Chúng có thật hay không? Bạn là người quyết định.
Khoa học thường phủ nhận những gì chưa
thể tiếp cận, cho tới khi công nghệ hoặc một phát minh đột phá tạo nên
bước ngoặt. Trước khi xuất hiện máy chụp cộng hưởng từ MRI, nếu ai đó
nói rằng họ có thể nếm vải (vóc) hay nghe được màu sắc của các từ phát
âm (hiện tượng cảm giác kèm:
các giác quan được pha trộn với nhau), trong thời xưa người ta sẽ cho
rằng đây là lối nói ẩn dụ, giống như cách nói “tôi cảm thấy đen quá hôm
nay.” Nhưng đây không phải là phép ẩn dụ, ảnh quét thần kinh cho thấy
não bộ của những người trong trạng thái cảm giác kèm sẽ lóe sáng tương
ứng với sự trùng lặp giác quan mà họ kể.
Hội chứng mệt mỏi kinh niên (Chronic
fatigue syndrome) cũng đã trải qua một quá trình chuyển biến tương tự,
chỉ là trong một khoảng thời gian lâu hơn. Bị chế nhạo là “chứng cúm
yuppie” vào thập niên 80 và 90, người ta từng nhìn nhận đây là triệu
chứng của những phụ nữ da trắng quá cầu kỳ thuộc tầng lớp trung-thượng
lưu (Khoảng 100 năm trước, loại bệnh này được xem là chứng suy nhược
thần kinh).
Nhưng vào năm 2006, Trung tâm Kiểm soát
và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ đã xác nhận rằng hội chứng này không chỉ
là một tình trạng sinh lý có thực, mà còn có tính di truyền. Những cá
nhân bị mắc phải thường có một bộ 12 gien di truyền phụ trách xử lý
stress đã bị thay đổi. Trên phương diện nuôi dưỡng (nurture), các nhà
nghiên cứu đã phát hiện rằng hội chứng này càng nặng thì người ta càng
chịu nhiều tác nhân gây stress trong đời. Để củng cố giả thuyết này, một
nghiên cứu độc lập đã đưa ra các bằng chứng đáng tin cậy rằng các tổn
thương thời thơ ấu—đặc biệt là bị lạm dụng tình dục hay và bị đánh
đập—sẽ tăng khả năng mắc hội chứng này trong tương lai từ 4 đến 8 lần.
Một chuyên gia dich tễ học ở Thụy Điển đã phát hiện rằng mức độ stress
cao—thậm chí xảy ra từ cả thập kỷ trước— sẽ tăng khả năng mắc hội chứng
này đến 64%.
Rõ ràng những người mắc hội chứng này
không chỉ đơn giản là những người giả ốm hoặc luôn lo sợ bị bệnh. Hóa ra
não bộ và cơ thể họ lại rất khác biệt so với người khác khi đối mặt với
các trường hợp stress cực độ. Phải chăng các cảm nhận về ma cũng có một
logic tương tự?
Phải chăng các cảm nhận về ma cũng có một logic tương tự?
Hãy xem xét những bước đột phá lớn của y
học trong những năm gần đây, từ đó giúp làm sáng tỏ các triệu chứng có
liên quan với khả năng nhận thức siêu thường, như: chứng đau nửa đầu,
viêm đại tràng co thắt, và chứng rối loạn căng thẳng sau chấn thương.
Càng xem xét kĩ những tình trạng này, thì càng cho thấy các cảm xúc mãnh
liệt ảnh hưởng lâu dài và rõ rệt lên các cơ quan nội tạng của con
người. Một lĩnh vực khoa học đang phát triển gọi là
psychoneuroimmunology nhằm nghiên cứutác động của cảm xúc lên sự tương
tác giữa hệ thần kinh, hệ nội tiết, và hệ miễn dịch.
Nhưng chỉ mới gần đây yếu tố cảm xúc mới
trở thành đối tượng được tập trung nghiên cứu. Trong hàng thế kỷ qua,
không có cách để giám sát hoặc đo lường các loại cảm xúc, nên khoa học
đã phớt lờ. Hiện nay tất cả đã thay đổi.
Nhưng chỉ mới gần đây yếu tố cảm xúc
mới trở thành đối tượng được tập trung nghiên cứu. Trong hàng thế kỷ
qua, không có cách để giám sát hoặc đo lường các loại cảm xúc, nên khoa
học đã phớt lờ. Hiện nay tất cả đã thay đổi.
Chúng ta không biết về những thứ chúng
ta không biết, câu nói này đúng. Nói theo cách của Bertrand Russell,
chúng ta không nên “tin tưởng” hay “không tin tưởng,” mà nên đặt sang
một bên các thiên hướng nhìn nhận để đi tìm chân lý. Nhà vật lý học John
Wheeler đã từng nói, “Trong tất cả các lĩnh vực, hãy chọn điều kỳ quái
nhất và nghiên cứu nó.”
Đó là bởi vì thành quả đạt được trong
những trường hợp như vậy sẽ là to lớn nhất. Nhưng để giải mã bí ẩn của
các nhà ngoại cảm, trước hết chúng ta cần nhìn nhận một cách nghiêm túc
những điều họ báo cáo. Không phải là dễ làm bởi vì bản chất của con
người: nếu chúng ta không tự mình trải nghiệm, thì chúng ta thường không
muốn tin. Nietzsche đã nói: “Người không nghe thấy tiếng nhạc sẽ nghĩ
những người đang nhảy múa bị thần kinh.” Tương tự, nếu bạn cảm thấy
“điệu nhảy” của những người cực kỳ nhạy cảm kia là kỳ quặc, thì sẽ rất
khó nhìn nhận họ.
Hơn nữa, James Alcock – nhà tâm lý học
tại trường Đại học York ở Canada, đã nói “Chính nghiên cứu về những hiện
tượng dị thường đã thúc đẩy khoa học tiến bộ. Qua các niên đại, người
ta đã báo cáo các trải nghiệm kỳ lạ và đáng tin cậy, từ đó cung cấp một
lĩnh vực nghiên cứu thú vị và quan trọng. Chúng ta chỉ có thể biết thêm
về sự vận hành của cơ thể, và mở rộng các giả thuyết về nhận thức, bằng
cách tìm hiểu nguyên nhân của những trải nghiệm như vậy.”
Đó là lý do nhận thức của những người
cực kỳ nhạy cảm lại quan trọng đến vậy. Chúng ta có thể học được rất
nhiều từ họ—như về lĩnh vực tiềm ý thức, về cảm xúc, về vai trò của tự
nhiên và nuôi dưỡng, về các mối liên kết giữa con người, và có thể cả về
tâm linh và vị trí của con người trong vạn vật. Thời điểm đã đến. Như
một độc giả đã viết cho biên tập viên tờ Newsweek rằng: “Tôi là một nhà
ngoại cảm… Đó không phải là điều tôi tìm kiếm. Tôi đã đè nén và phủ nhận
nó… và đã tranh cãi về nó rất nhiều lần, nhưng chỉ với bản thân tôi…
Tôi tin rằng nhiều nhà ngoại cảm đang im lặng trong nền văn hóa của
chúng ta, đang bị chế nhạo và hoang mang, thiếu các nguồn thông tin rộng
rãi và đang chờ đợi để được bước ra ánh sáng.”
Có lẽ những người đặc biệt nhạy cảm như
vậy đã kể về cảm giác bị ma ám ở một số địa điểm, một cách tự nhiên và
thường xuyên hơn những người còn lại. Có lẽ toàn bộ vấn đề không nên
được bỏ sang một bên hoặc nhìn nhận như thứ gì đó huyền bí. Vấn đề này
“nên được bước ra ánh sáng” thẳng thắn của khoa học.
Tác giả Michael Jawer. Bản gốc đăng trên tờ Psychology Today (Tâm lý học ngày nay).
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét