Dưới: Một vật thể giống bóng đèn
điện được khắc trong hầm mộ dưới đền thờ thần Hathor ở Ai Cập. (Lasse
Jensen/Wikimedia Commons) Trên: Các kim tự tháp Ai Cập (Shutterstock)
Phông nền: Minh họa điện. (Shutterstock)
Vũ trụ chứa đầy những điều bí ẩn
đang thách đố tri thức của nhân loại. Bộ sưu tập những câu chuyện “Khoa
học Huyền bí” của Thời báo Đại Kỷ Nguyên về những hiện tượng lạ thường
đã kích thích trí tưởng tượng và mở ra những khả năng chưa từng mơ tới.
Chúng có thật hay không? Điều đó tùy bạn quyết định!
Ngày nay, chúng ta thấy rất đỗi
bình thường với những đường chân trời thành phố về đêm, các ánh đèn phố,
và nguồn năng lượng thúc đẩy những tiện ích hiện đại của chúng ta.
Nhưng, phải chăng những người thông thái ở Ai Cập và Lưỡng Hà thời cổ
đại cũng sở hữu kiến thức về điện, không chỉ để thắp sáng mà còn có các
công nghệ vận hành bằng điện năng? Trong khuôn khổ của các bằng chứng
khảo cổ khai quật được, câu trả lời dường như đã được khẳng định.
Hình khắc nổi bên dưới Đền thờ thần
Hathor ở Dendera, Ai Cập là bằng chứng được nhắc đến nhiều nhất, cho
chúng ta thấy những người Ai Cập cổ đại đã từng sử dụng điện. Trên đó
miêu tả các hình người đang đứng xung quanh một vật thể giống bóng đèn
cỡ lớn.
Bóng đèn thời cổ đại?
Vật thể giống bóng đèn được chạm khắc trong một hầm mộ bên dưới Đền thờ Hathor ở Ai Cập. (Lasse Jensen/Wikimedia Commons)
Đui đèn được tượng trưng bằng một vật
trông giống như bông hoa sen với thân như dây cáp chạy dọc theo phần
dưới của “thiết bị”. Bên trong “bóng đèn” là một sợi dây như con rắn uốn
khúc ra bên ngoài “đui đèn” hình hoa sen. Theo những người ủng hộ giả
thuyết rằng hình vẽ này miêu tả ánh sáng đèn điện, như Erich Von Däniken
đã từng viết cuốn “Chariot of the Gods” (tạm dịch: Xe ngựa của Thần),
thì con rắn này biểu thị cho dây tóc bóng đèn.
Von Däniken đã tạo ra một mô hình bóng đèn này trong phòng thí nghiệm và nó đã hoạt động, phát ra ánh sáng tím kỳ dị.
Ông đã sử dụng cùng loại thông số về
kích thước, bao gồm hai chùm kim loại giống như cánh tay kéo dài đến đầu
to của bóng đèn, và một sợi dây kết nối những chùm đó với “đui đèn” ở
đầu bên kia.
Nhưng lấy đâu ra nguồn năng lượng để thắp sáng bóng đèn vào thời Ai Cập cổ đại?
Pin cổ đại?
Phải: Hình minh họa cục pin Bát-Đa từ ảnh cổ vật ở bảo tàng.
(Ironie/Wikimedia Commons) Nền: Bản đồ khu vực bao quanh thành phố Bát
Đa, I-rắc ngày nay. (Cmcderm1/iStock/Thinkstock)
Một món cổ vật được phát hiện ngoài Ai
Cập, bên ngoài thành phố Bát-đa ngày nay, cho thấy rằng hoạt động sản
xuất điện đã từng được tiến hành ở khu vực Trung Đông hàng nghìn năm về
trước. Cổ vật này được gọi là Pin Bát-đa.
Pin Bát-đa khá là thô sơ so với các loại
pin của chúng ta ngày nay. Nó gồm một bình đất sét nung với nắp làm từ
nhựa đường. Một thanh sắt xuyên qua nắp bình được bao quanh bởi trụ
đồng. Người ta tin rằng chiếc bình này đã được đổ đầy một chất có tính
axit như dấm, giúp nó sản sinh ra một nguồn điện khoảng 1,1 vôn. Mô hình
phỏng chế của loại pin này cho thấy nó thật sự có thể hoạt động.
1,1 vôn có thể không nhiều lắm, nhưng
nếu buộc một vài pin loại này với nhau, thì điện áp sẽ gia tăng. Chiếc
pin này có niên đại từ 250 TCN đến 250 SCN. Hiện nay, người ta cho rằng
những cái pin này đã được sử dụng trong kỹ thuật mạ điện thời xưa (mạ
một lớp kim loại lên trên bề mặt một kim loại khác).
Những chiếc pin này không chỉ là nguồn năng lượng trên lý thuyết.
Một số người tuyên bố rằng một trong
những công trình biểu tượng nhất của Ai Cập trên thực tế lại bị hiểu lầm
nhiều nhất. Cụ thể, những người ủng hộ giả thuyết tồn tại điện ở Ai Cập
cổ đại nói rằng Đại Kim tự tháp Giza trên thực tế đã được sử dụng như
một nhà máy điện.
Nhà máy điện cổ đại?
(Shutterstock*; hiệu ứng thêm bởi Epoch Times)
Ý tưởng này đã được khởi xướng bởi tác
giả và nhà nghiên cứu Christopher Dunn trong quyển sách “The Giza Power
Plant” (tạm dịch: Nhà máy điện Giza) và “Lost Technologies of Ancient
Eqypt” (Những công nghệ bị lãng quên của Ai Cập cổ đại).
Dunn nói rằng King Chambers-tức “Căn
phòng của vua” nằm ngay trung tâm của Đại Kim tự tháp thực chất chính là
bộ máy phát điện trung tâm của siêu công trình này. Nó được xây dựng
chủ yếu bằng đá granit hồng, một chất liệu giàu hàm lượng thạch anh vi
tinh thể.
Trên thực tế, Đại kim tự tháp chủ yếu
làm từ đá granit, và đá granit được cấu thành từ rất nhiều tinh thể
thạch anh cỡ nhỏ, mà khi áp lực và/hoặc dao động năng lượng, thì sẽ sản
sinh ra điện năng. Trong giới khoa học điều này được biết đến là hiệu
ứng áp điện. Hiệu ứng này được ứng dụng trong rất nhiều công nghệ hiện
đại, như loa phóng thanh, máy biến năng, bộ chuyển đổi tín hiệu, và một
số ứng dụng trong ngành công nghiệp ô tô.
Theo Dunn và những người khác cũng ủng
hộ lý thuyết này, quan tài bằng đá granit trong Phòng Vua (cũng được
chạm khắc một cách tinh vi trên đá granit cứng màu hồng) cũng có thể là
phương tiện chuyến đổi các rung động tần số thấp được Trái Đất phát ra
thành nguồn năng lượng điện. Hơn nữa, Dunn nói, những xà chống đỡ trên
trần phòng Vua có vẻ như đều được điều chỉnh một cách chính xác, hay cắt
theo kích cỡ để cộng hưởng hoàn hảo với tần số này.
Galileo đối mặt với Tòa án Dị giáo La Mã. Tranh vẽ bởi Cristiano Banti vào năm 1857.
Một trong những ví dụ nổi tiếng nhất
về cuộc xung đột giữa tôn giáo và khoa học là vụ xét xử Galileo
Galilei. Galileo ủng hộ quan điểm của Copernicus cho rằng Trái đất quay
xung quanh Mặt trời, một lí thuyết “nhật tâm” [1] vốn bị nhà thờ tuyên
bố là trái ngược với Kinh thánh. Galileo bị cảnh báo không được phép ủng
hộ lí thuyết này, thay vào đó nên tán thành quan điểm “địa tâm” [2]
truyền thống, trong đó Trái đất là một điểm cố định ở trung tâm mà vạn
vật xoay xung quanh.
Bức tranh nghệ thuật thể hiện hệ địa tâm có các dấu hiệu của Hoàng đạo và Hệ Mặt trời với Trái đất ở trung tâm.
Bức tranh nghệ thuật thể hiện thuyết nhật tâm, với Hệ Mặt trời có Mặt trời nằm ở vị trí trung tâm.
Câu chuyện của Galileo: rốt cuộc vì sao ông bị kết tội?
Thay vì thế, năm 1632, Galileo xuất bản
cuốn “Đối thoại về hai hệ thống thế giới trọng yếu”. Cuốn sách được xây
dựng dưới dạng một cuộc đối thoại giữa Salviati, một nhà triết học nhật
tâm, Simplicio, một nhà triết học địa tâm, và Sagredo, một thường dân
trung lập. Thực ra, giáo hoàng Urban VIII đã cho phép Galileo viết quyển
sách miễn là ông không cho quan điểm nào thắng thế. Tuy nhiên, Salviati
đã tranh luận một cách gay gắt các luận điểm của Galileo, còn Simplicio
lại thường bị chế nhạo như một tên ngốc.
Một câu chuyện thường được người ta kể
lại là, sau khi quyển sách của Galileo được xuất bản, Đức Giáo hoàng cảm
thấy bị lăng mạ khi những lời lẽ của ông được truyền tải qua lời
Simplicio.
Galileo giải thích địa thế Mặt trăng với hai vị Hồng y. Tranh vẽ của Jean Leon Huens.
Không những hình tượng Giáo hoàng được
xây dựng theo một cách rất lố bịch, mà ngay chính cái tên tác giả đã
mang ý nghĩa nước đôi (Simplicio/simple-minded/semplice có nghĩa là “đầu
óc đơn giản” theo tiếng Ý). Tuy nhiên, nhà thiên văn học của tòa thánh
Vatican Brother Guy Consolmagno lại bác bỏ cách phân tích này.
“Thứ nhất, ‘Simplicio’ là một cái tên đã
có từ lâu trong các bài thuyết giảng triết học, chứ không phải cái gì
mới mẻ do Galileo phát minh ra, để ám chỉ một người có thể nhìn xuyên
qua màn sương tạo dựng bởi những nhà triết học tinh tế và hiểu biết hơn
vốn có thể phát minh ra những lý thuyết tinh vi nhưng lại mất đi khả
năng nhìn thấy những sự thật đơn giản hiển nhiên, kiểu như đứa trẻ sáng
dạ có thể nhận ra rằng hoàng đế cũng ở truồng vậy”, Consolmagno nói.
“Theo ngữ cảnh này thì việc sử dụng nó có thể được xem là một sự tán
dương. Thứ hai, kiểu chơi chữ này là tương đối phổ biến trong tiếng Anh
nhưng tôi không nghĩ rằng nó không nhất định phổ dụng như vậy trong
tiếng Ý; tôi không biết liệu có ai vào thời ấy cũng hiểu nó như cách dân
nói tiếng Anh hiểu hay không. Và cuối cùng, ngay từ ban đầu quyển sách
đã được các kiểm duyệt viên của giáo hoàng thông qua; nên nếu Giáo hoàng
cảm thấy cái tên mang ý nghĩa gièm pha, thì hẳn ông đã lưu ý đến nó
ngay từ trước khi quyển sách được in ra rồi”.
Tuy nhiên, ảnh hưởng trái ngược của nó
cuối cùng đã khiến nhà thờ buộc phải rút lại quyền xuất bản. Galileo đối
mặt với một ủy ban được triệu tập đặc biệt gồm mười quan tòa, và họ đã
kết ông tội dị giáo. Bằng cách nguyện bỏ – tuyên bố rằng ông chưa bao
giờ tin vào quan điểm nhật tâm được trình bày trong quyển sách – bản án
của Galileo đã được giảm nhẹ thành giam lỏng tại nhà.
“Bản án dành cho ông là ông phải làm
khách danh dự của giám mục Siena trước khi trở lại nhà riêng của mình,
nơi ông sinh sống thêm một thập kỷ nữa, được nhiều khách thăm viếng
thường xuyên, và viết thêm một quyển sách khác”, Consolmagno nói. “Tôi
không muốn bào chữa cho những sai lầm mà giáo hội đã phạm phải trong vấn
đề của Galileo, nhưng… chắc chắn đó không phải là một lối hành xử đơn
giản chỉ để bài xích khoa học thôi đâu”.
Consolmagno cho rằng để thật sự hiểu rõ
chuyện gì đã xảy ra, chúng ta cần xét đến tư duy triết học thời ấy và
các sự kiện xảy ra trong Giáo hội lẫn trong quy mô toàn cảnh của xã hội.
Ngữ cảnh này có thể được phản ánh từ những tư liệu gốc về vụ xét xử, mà
đã được dịch sang tiếng Anh trong nhiều ấn phẩm khác nhau, ví dụ như ấn
phẩm “Vụ án Galileo” của tác giả Maurice Finocchiaro (Nhà xuất bản Đại
học California, 1989).
Năm 1992, Giáo hoàng John Paul II đã ra lời tuyên bố thừa nhận những sai lầm trong vụ án Galileo.
“Họ xét xử Galileo dựa trên một vấn đề
chuyên môn, và ông đã phạm tội dựa trên vấn đề chuyên môn đó; nhưng tại
sao họ quyết định kết tội ông, theo cách đó, vào lúc đó, vẫn chưa được
giải đáp”, Consolmagno nói. “Ngày nay, chúng ta có thể thấy rằng đáng ra
ngay từ lúc đầu ông đã không nên bị đem ra xét xử”.
Năm 1992, Giáo hoàng John Paul II đã ra
lời tuyên bố thừa nhận những sai lầm trong vụ án Galileo. Nhưng chưa có
một lời phát biểu xin lỗi nào như vậy dành cho Giordano Bruno, vốn đã bị
Giáo hội đưa lên giàn thiêu sống vào năm 1600.
Tượng
chân dung bằng đồng của Giordano Bruno trước quảng trường de Fiori ở
Rome, nơi ông bị hành hình vào năm 1600. (Ảnh: Jastrow)
Câu chuyện của Bruno: đạo văn, nổi loạn hay là gián điệp?
Bruno không những chỉ ủng hộ quan niệm nhật tâm, mà ông còn khẳng định rằng có tồn tại nhiều thế giới hơn nữa bên ngoài Trái đất,
mỗi thế giới quay xung quanh mặt trời riêng của chúng. Consolmagno và
đồng sự của ông, nhà thiên văn học Vatican Cha Paul Pavel Gabor, cho
rằng bản án tử của Bruno không phải vì ông đã xúc tiến những quan điểm
này.
“Có một câu nói đùa ngày xưa, là nếu ông
bị thiêu sống vì bất cứ lý do nào đó, thì hẳn là vì ông là kẻ đạo văn”,
Consolmagno nói. “Nicholas xứ Cusa đã công bố những ý tưởng đó trước đó
200 năm, và ông ta là một Hồng y”.
Cửa sổ kính vũ trụ trong sảnh đường của nhà thờ Santa Maria degli Angelo ở Rome, Ý. (Ảnh: Herlihym)
Quyển sách của Nicholas xứ Cusa, “On
Learned Ignorance“ (Tạm dịch: Về sự ngu dốt có học), trong đó ông trình
bày khả năng tồn tại nhiều thế giới khác nhau, đã được xuất bản vào năm
1440. Ông còn viết rằng người ngoài hành tinh có thể tồn tại trên mặt trăng và mặt trời.
“Ông được sắc phong Hồng y vào năm 1440,
cho nên khá hiển nhiên là nó không làm ảnh hưởng đến sự nghiệp của
ông”, nhà thiên văn của Vatican, Đức Cha Paul Pavel Gabor lưu ý.
Consolmagno cho biết lí do có khả năng
nhất lý giải cho sự thù hằn của Giáo hội là ở chỗ Bruno phủ nhận sự thần
thánh của Chúa, cũng như một số học thuyết cơ bản khác của Cơ Đốc giáo.
“Tôi nghĩ vấn đề thật sự với Bruno là
ông bị cáo buộc là gián điệp của người Anh”, Gabor bổ sung thêm. Ông cho
biết Bruno đã bị bỏ tù ở nhiều nơi khác nhau trên khắp Châu Âu trước
khi vào ngục ở Venice, sau đó đã dẫn tới cái chết của ông ở Rome. Gabor
nói tư liệu về phiên tòa xử án 7 năm của ông đã bị thất lạc, vì Napoleon
đã cướp phá toàn bộ tư liệu của Vatican.
“Mọi người tiếp tục viết về nó như thể những gì đã xảy ra chỉ là chuyện viễn tưởng”, Gabor nói.
Mặc dù có vẻ như bức ảnh này được chụp vào ban ngày, nhưng trên
thực tế nó được chụp vào ban đêm. Những đường sọc màu da cam này là các
cụm mây mỏng được rọi sáng bởi Mặt trăng khi chúng di chuyển rất nhanh
đến đường chân trời phía xa. Chuỗi hình ảnh time-lapse, chụp ở trong khu
vực một nhà thờ bỏ hoang ở Sounio, Hy Lạp, cho thấy các vệt ngôi sao
dài xoay tròn xung quanh ngôi sao Bắc Đẩu ở trung tâm. (Ảnh: Chris
Kotsiopoulos)
Giáo hội: không bài xích sự tồn tại của người ngoài hành tinh và nhiều thế giới khác
Cả Consolmagno lẫn Gabor đều nhấn mạnh
rằng sự tồn tại của người ngoài hành tinh và nhiều thế giới không phải
là ý tưởng gì mới đối với Giáo hội, và nó không thách thức hay đe dọa
các niềm tin trọng yếu của tôn giáo của họ. Tòa thánh Vatican còn tài
trợ cho một hội thảo sinh vật học vũ trụ hồi năm 2009 vừa qua. Theo
Consolmagno, Giáo hội làm như thế là để tạo lập một diễn đàn thảo luận
cho các nhà khoa học hàng đầu trong lĩnh vực này.
“Không phải giống như cách người ta đưa
tin trên kênh CNN, trong đó giáo hội Công giáo khá lo lắng khi ai đó đề
cập người ngoài hành tinh đâu”, ông nói.
Họ cho biết chẳng có việc thảo luận tín
ngưỡng nào diễn ra trong hội thảo này; thay vào đó, đề tài trọng điểm
thuần túy lại là khoa sinh vật học vũ trụ. Sự giao thoa triết lí giữa
tôn giáo và khoa học chỉ được thảo luận không chính thức, trong giờ nghỉ
giải lao và các buổi tụ họp xã hội khác.
Sự tồn tại của người ngoài hành tinh và
nhiều thế giới không phải là ý tưởng gì mới đối với Giáo hội, và nó
không thách thức hay đe dọa các niềm tin trọng yếu của tôn giáo của họ.
Các nhà triết học đã và đang cố thâu tóm
các hàm ý của sự sống ngoài địa cầu trong hàng trăm năm qua, nếu không
muốn nói là lâu hơn. Nhưng cho đến khi người ngoài hành tinh được tìm
thấy, những vấn đề này sẽ vẫn thuộc về phạm vi của khoa học viễn tưởng
chứ không phải tôn giáo hay khoa học.
“Tôi nghĩ ngành khoa học viễn tưởng phải
diễn vai trò rất quan trọng đó, bởi vì hiện tại chúng ta chỉ mới đang
chơi đùa với các ý tưởng,” Consolmagno nói. “Chúng ta chỉ mới bắt đầu
khám phá không gian vũ trụ trong đó những ý tưởng này có thể tồn tại.
Chúng ta không biết – chúng ta chẳng có câu trả lời nào. Đó là lí do
khiến nó thú vị đến vậy!”
Tác giả: Leslie Mullen, Astrobiology Magazine Tham khảo bản dịch trên thuvienvatly.com. Tái bản với sự cho phép. Đọc bản gốc ở đây. Trần Nghiêm biên dịch Anh-Việt, Phan A biên tập
Chú thích của người dịch:
[1] Thuyết nhật tâm là lý thuyết cho
rằng Mặt Trời nằm ở trung tâm của vũ trụ và/hay của Hệ Mặt Trời. Từ này
(heliocentrism) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp (helios = “Mặt Trời” và
kentron = “trung tâm”).
[2] Thuyết địa tâm (geocentric model)
(trong tiếng Hy Lạp: geo = Trái Đất kentron = trung tâm) là lý thuyếtcho
rằng Trái Đất là trung tâm của vũ trụ và Mặt trời cùng các thiên thể
khác quay quanh nó.
Bí ẩn ly kỳ về cái chết của 9 người leo núi Ural năm 1959
Đoàn người leo núi Ural lúc đang dựng trại (Ảnh: Internet)
Trong lịch sử tồn tại rất nhiều
vụ án khiến người đời nghi hoặc mãi không tìm ra lời giải đáp. Vụ án ly
kỳ xảy ra trên dãy núi Ural của Nga vào ngày 2.2.1959 chính là một trong
những sự kiện ly kỳ và thần bí như vậy.
Trong cuộc leo núi này không những cả 9
thành viên của đoàn đều chết mà nguyên nhân cái chết của cả 9 người họ
cũng hết sức ly kỳ, khiến nhiều người “sởn gai ốc”. Cho đến nay các nhà
nghiên cứu cũng chưa thể tìm ra lời giải cho câu hỏi: Rốt cuộc đã xảy ra
điều gì với họ?
Núi chết (Ảnh: Internet)
Ngày 27.1.1959, một nhóm 10 người đã
xuất phát từ ngôi làng Vizhai và leo lên núi Kholat Syakhl, nằm ở phía
đông của dãy núi Ural. Ngọn núi này được người dân địa phương gọi là núi
Tử Thần. Ngày hôm sau, một thành viên trong đoàn là Yuri Yudin vì sức
khỏe yếu nên đã rời khỏi cuộc hành trình. Vì vậy, đoàn gồm 10 người lên
núi còn lại 9 người. Trong đó người lớn tuổi nhất là 37 tuổi, nhỏ tuổi
nhất là 12 tuổi, 9 người họ tiếp tục cuộc hành trình leo núi.
Ngày 31.1, khi đến một rừng cây trong
thung lũng, chỗ tiếp giáp với chân núi, họ chặt cây và dựng lập
kho để dự trữ thực phẩm và dụng cụ để sử dụng khi quay trở lại. Cả đoàn 9
người mang theo những đồ đạc nhẹ leo núi.
Yuri Yudin (ở giữa) thành viên duy nhất may mắn thoát chết lúc rời cuộc hành trình (Ảnh: Internet)
Đoàn người tiếp tục leo núi và gặp phải
bão tuyết vào ngày 1.2. Bão tuyết đã che phủ toàn bộ tầm nhìn khiến họ
không còn nhận ra con đường để leo lên núi.
Từ đây, họ bắt đầu bị lạc hướng, vốn là
phải đi lên hướng đông nhưng họ lại đi về hướng tây. Khi nhận ra điều
này, họ cũng không lập tức quay ngược trở lại mà dừng ở đó và cắm trại.
Cả nhóm 9 người không khác gì “đánh cược” mạng sống của mình với tử
thần. Bởi vì cắm trại trên núi lúc này cũng tương đương với việc chấp
nhận có thể bị chìm ngập bởi lở tuyết. Tại sao một đoàn người dày dặn
kinh nghiệm leo núi mà lại có một quyết định kỳ quái như vậy? Đây vẫn
còn là một điều bí ẩn chưa ai hiểu rõ nguyên nhân.
Đêm hôm đó, cứ như vậy họ mất liên lạc…
Bức ảnh lúc dựng trại vào đêm gặp nạn do một thành viên chụp lại (Ảnh: Internet)
Cứ như vậy đến ngày 12.2, mọi người đã
không còn nhận được một tin tức nào của cả đoàn 9 người họ. Lúc ấy, mọi
người còn phỏng đoán rằng 9 người họ chắc còn muốn chơi nhiều hơn một
chút rồi mới trở về. Nhưng đến ngày 20.2, người thân của các thành viên
không thể chờ đợi được nữa nên đã nhờ tới đội cứu nạn. Những hình ảnh
“đập” vào mắt khiến đội cứu nạn khiến họ “sởn gai ốc” và không thể lý
giải nổi.
Bởi vì, lều vải mà họ cắm trại đã bị phá
hủy hoàn toàn mà bên trong cũng không có một bóng người. Nhưng bên
trong, quần áo, đồ ăn vẫn còn và lều vải bị mở ra từ bên trong bởi vết
cắt của dao găm. Trên mặt tuyết, đội cứu hộ có thể nhìn rõ dấu chân của 9
người. Điều kỳ lạ chính là, từ dấu chân của 9 người, đoàn cứu nạn phát
hiện, 9 người họ lúc đi ra khỏi lều người thì đi tất, người thì đi một
chiếc giày và có người chỉ đi chân trần. Vì sao họ lại vội vàng chạy
thoát ra khỏi căn lều như vậy? Ngay cả giày cũng không kịp đi? Đây là
điều người ta cho là bí ẩn thứ 2.
Chiếc lều bị cắt từ bên trong và vết mở đủ lớn cho một người chui qua và bị phá hủy khi đoàn cứu nạn phát hiện (Ảnh: Internet)
Đội tìm kiếm cứu nạn tiếp tục tìm kiếm,
trong rừng rậm cách chiếc lều khoảng 1 km, người ta phát hiện ra thi thể
người chết. Hình dáng thi thể cũng rất kỳ quái. Từ tư thế xem xét người
ta phát hiện, những người này trước khi chết đều đang cố gắng bò lết về
trại. Kỳ lạ hơn là 3 thi thể trong đó dường như bị va đập rất mạnh.
Khám nghiệm tử thi thấy rằng, lực va chạm mà họ phải chịu không khác gì
lực của chiếc ô tô đâm chính diện. Trong 3 thi thể, có 1 thi thể bị vỡ
hộp sọ, 2 thi thể còn lại bị gãy xương sườn, nhưng bên trong thì hoàn
toàn không bị thương. Đây là bí ẩn thứ 3.
Liệu có phải đoàn người đã gặp lở tuyết
nên chạy ra khỏi lều vải? Đây là phỏng đoán của người bình thường sẽ xử
lý lúc gặp tình huống này. Nhưng sau khi điều tra, họ phát hiện rằng
ngọn núi này sườn núi không quá dốc, đồng thời đội cứu nạn còn tìm được
dấu chân nên đoàn leo núi chắc chắn không gặp lở tuyết. Ngoài ra khi đo
lường, người ta phát hiện ra quần áo trên thân của một số người bị nạn
có chứa chất phóng xạ. Điều này có thể phỏng đoán rằng, 9 người này đã
đụng phải một vật “không tầm thường”. Vì vậy, họ bất đắc dĩ phải chạy
vội ra khỏi lều, sau đó thì chết không rõ ràng.
Thi thể người gặp nạn (Ảnh: Internet)
Các nhà nghiên cứu sau nhiều năm đã đưa ra những điểm nghi ngờ:
1. Vì sao đang đêm ngủ mà họ phải dùng
dao găm cắt lều để chạy thoát ra ngoài? Chắc chắn họ đã gặp tình trạng
nào đó rất khẩn cấp, phải vội vàng chạy khỏi lều để thoát chết, nên mới
phải dùng dao cắt lều mà không ra theo cách thông thường. Thậm chí ngay
cả áo khoác chống lạnh và chăn lông họ cũng không kịp mang theo. Có
người còn đi chân đất, đi tất hoặc đi vội một chiếc giày? Mặc dù họ biết
rằng họ đang ở nơi có nhiệt độ âm 25 – 30 độ, nếu không mang theo những
thứ này họ sẽ không còn cách để sống sót.
2. Ngay sau đó, liên bang Nga đã chính
thức điều tra và tuyên bố 9 người trong đoàn leo núi đều chết vì nhiệt
độ quá thấp. Hơn nữa, cuối cùng các nhà điều tra còn kết luận về nguyên
nhân gây ra cái chết cho 9 người họ rằng: Không biết lực lượng nào đã
gây ra! Họ cũng lập tức tuyên bố kết thúc vụ án và xếp hồ sơ vụ án vào
loại lưu trữ tuyệt mật. Nhưng điều khiến người ta băn khoăn là 3
người trong 9 người đó đã bị va đập mạnh, bị gẫy xương sườn và sọ não
chứ không phải do nhiệt độ quá lạnh mà chết.
Liên quan đến vụ án này, nhiều người
cũng đưa ra một số giả thuyết rằng: Có thể đã xuất hiện người ngoài hành
tinh điều khiển phi thuyền công kích, người tuyết hay hỏa cầu xuất
hiện…
Câu chuyện có thật này đã được đạo diễn người Mỹ – Renny Harlin dựng thành bộ phim mang tên “Mật mã Dyatlov” vào năm 2013.
Rốt cuộc vì sao đoàn leo núi lại có
những hành động kỳ lạ như vậy? Cho đến nay chưa có một đáp án nào cho
câu hỏi này. Chân tướng của vụ án ly kỳ cứ như vậy vĩnh viễn được chôn
dấu trên núi Tử Thần suốt hơn nửa thế kỷ qua!
Ngọc tỷ của vua Càn Long triều nhà Thanh. (Ảnh: Internet)
Ngọc tỷ truyền quốc của Tần Thủy Hoàng hiện nay ở đâu? Chúng ta đều biết, Ngọc tỷ là bảo ấn của vua chúa thời phong kiến Trung Quốc
xưa, còn Ngọc tỷ truyền quốc không nghi ngờ gì là vật quý giá nhất
trong tất cả các loại bảo ấn, hàng ngàn năm qua chuyện kể liên quan đến
nó mang đầy màu sắc huyền bí.
Sở dĩ gọi Ngọc tỷ là Ngọc tỷ truyền quốc
vì lịch sử hiển hách của nó có liên quan đến Tần Thủy Hoàng. Chúng ta
thử nhìn lại toàn bộ câu chuyện này.
Biện Hòa người nước Sở thời Xuân Thu
nhặt được một tảng đá ngọc ở trong núi và biết đây là vật báu hiếm thấy
nên đã tặng cho Sở Lệ Vương (757 – 741 TCN). Sở Lệ Vương không biết là
vật gì, liền cho mời ngọc công (chuyên gia về ngọc) đến để phân biệt.
Không ngờ vì đá ngọc này thuộc loại không lộ nên người ngọc công này
không nhận ra được chỗ quý của ngọc, cho rằng đây là đá bình thường. Kết
quả là Biện Hòa mắc tội lừa vua, bị xử chặt chân trái, thành người tàn
phế. Sau này Sở Võ Vương lên ngôi, Biện Hòa lại tiếp tục dâng đá ngọc
lên tặng vua, nhưng lại thêm một lần nữa hàm oan và bị chặt tiếp chân
phải. Sau khi Sở Văn Vương lên ngôi, Biện Hòa tuổi già ngồi ôm hòn đá
quý dưới chân ngọn Kinh Sơn gào khóc thảm thiết. Sở Văn Vương thấy lạ
liền cho người tới hỏi. Biện Hòa trả lời: “Tôi không than thở cho số
phận của mình, tôi than khi thấy đau xót vì vật báu lại bị người đời
xem là thứ bình thường. Mong ngày nào đó có người chứng minh tôi không
lừa dối.” Sở Văn Vương liền cho người tới tìm hiểu thật kỹ lại hòn
đá của Biện Hòa, lần này mới phát hiện ra đây là đá quý hiếm thấy. Từ đó
mới có tên ngọc bích họ Hòa.
Sau khi ngọc bích họ Hòa ra đời, những
sự tích xung quanh nó liên tục lưu truyền. Đến đời Sở Thành Vương (? –
626 TCN), Chiêu Dương diệt nước Việt và lập công to với nước Sở, được
ban thưởng ngọc bích họ Hòa, và từ đây ngọc tỷ bắt đầu “con đường bôn
ba.” Sau này khi Chiêu Dương đi du ngoạn Xích Sơn. Ngay dưới chân Xích
Sơn có cái đầm nước rất sâu. Chiêu Dương là người thích khoe khoang, ông
ta liền mở tiệc ở cái cao lâu bên đầm nước và lấy ngọc bích họ Hòa ra
cho mọi người thưởng thức. Theo kể lại, khi đó bất ngờ có con cá to nhảy
từ dưới đầm lên và kéo theo một đám cá nhỏ đủ loại. Mọi người thấy lạ
liền chạy tới bờ đầm xem cá. Nhưng sau khi mọi người xem xong và quay
trở lại thì không thấy ngọc bích họ Hòa đâu nữa! Dĩ nhiên Chiêu Dương là
người chán nản nhất. Ông ta nghi người học trò Trương Nghĩa đã ăn trộm
nên tra tấn vô cùng độc ác, hy vọng có thể tìm thấy ngọc bích. Kết quả
là Trương Nghĩa sau khi bị hành hạ thì quay lưng lại với nước Sở, vào
nước Ngụy, cuối cùng lại làm quan nước Tần và chống lại nước Sở. Ngọc họ
Hòa thì vẫn không tìm thấy được, còn nước Sở ngày càng có nhiều kẻ thù
không đội trời chung.
Thực ra là có người đã cố tình ăn trộm
ngọc bích họ Hòa. Chiêu Dương nhân thời nước Sở đang có thế lực, sau khi
bị mất trộm đã treo thưởng ngàn vàng để tìm lại ngọc bị mất. Trong tình
hình căng thẳng, kẻ ăn trộm càng phải cất giữ vật báu cẩn thận. Sau đến
thời Triệu Huệ Văn Vương, ngọc bích họ Hòa bất ngờ xuất hiện tại Hàm
Đan, thủ phủ nước Triệu. Quan Nội thị là Mậu Hiền chỉ dùng năm trăm đồng
vàng để mua lại vật báu này. Sau khi Triệu Huệ Văn Vương biết tin đã
nhiều lần ám chỉ muốn Mậu Hiền mang ngọc tặng lại cho mình, nhưng Mậu
Hiền tiếc vật báu nên không đưa ra. Triệu Vương tức tối sai lính đến nhà
Mậu Hiền cướp ngọc. Tiếng dữ đồn xa, câu chuyện đến tai Tần Chiêu Tương
Vương. Tần Vương viết phong thư cho Triệu Vương, yêu cầu dùng mười lăm
tòa thành để đổi lấy ngọc bích họ Hòa. Thời đó nước Tần đang mạnh, nước
Triệu đang yếu, Triệu Huệ Văn Vương tiếc báu vật, không biết phải xử trí
như thế nào. Trong cảnh nguy nan, viên quan Lận Tương Như đã hiến kế
“hoàn ngọc về Triệu.” Sau đó ngọc họ Hòa đã được cất trong cung đình
nước Triệu một thời gian dài. Năm 228 TCN, nước Tần đánh nước Triệu và
cướp được ngọc họ Hòa.
Sau khi lấy được ngọc họ Hòa, Tần Thủy
Hoàng xướng danh ngọc bích họ Hòa là Quốc tỷ, lệnh cho Thừa tướng Lý Tư
khắc trên Ngọc tỷ chữ: “Thụ mệnh vu thiên, ký thọ vĩnh ca” (受命于天,既寿永昌).
Lời khắc mong muốn ngọc được truyền lại đời đời, nhưng không ngờ đến đời
Tần Nhị Thế thì nước Tần sụp đổ. Sau khi Lưu Bang vào Hàm Dương, Tần Tử
Anh (240 – 206 TCN) đã giao lại ngọc bích họ Hòa cho Lưu Bang. Đến cuối
thời Tây Hán, khi ngoại thích Vương Mãng cướp ngôi trong lúc Hoàng đế
Nhũ Tử Anh mới hai tuổi, Quốc tỷ lại rơi vào tay Thái hậu Hán Hiếu
Nguyên.
Tranh vẽ Tần Thủy Hoàng
Theo «Hán thư – Nguyên Hậu truyện», khi
Vương Mãng cho người em Vương Thuấn đến Thái hậu Hán Hiếu Nguyên đòi
ngọc, bà Thái hậu quá tức giận đã mang ngọc tỷ ném mạnh xuống thềm làm
ngọc tỷ bị bể một góc. Cho dù sau này chỗ bể được dùng vàng khảm lại
nhưng cũng từ đó mà nó có tì vết.
Được biết, vào cuối thời Đông Hán, Quốc
tỷ lại bị mất tích. Thời đó cục diện chính trị hỗn loạn, Hán Thiếu Đế
(176 – 190 TCN) khi chạy trốn đã mang giấu Ngọc tỷ truyền quốc vào cung,
nhưng khi trở về thì không thấy đâu nữa. Không lâu sau, khi Thái thú
Tôn Hiền đánh dẹp được Đổng Trác đã tìm lại được Ngọc tỷ truyền quốc ở
phía nam thành Lạc Dương.
Từ đó cho đến thời nhà Đường, cùng những
biến động chính trị, Ngọc tỷ truyền quốc không ngừng đổi chủ. Từ thời
Tống Thái Tổ thì không còn ai được thấy nó nữa.
Nhưng những ghi chép về Ngọc tỷ truyền
quốc vẫn không ngừng xuất hiện trong các thư tịch. Vào năm thứ 3 Triệu
Thánh thời Bắc Tống, một người tên Đoàn Nghĩa ở Hà Nam khi đào móng nhà
đã đào được một cái Ngọc ấn. Qua hơn mười vị học sĩ hàn lâm giám định,
mọi người đã cho là Ngọc tỷ truyền quốc thời đế chế nhà Tần. Năm thứ 13
Minh Hoằng Trị lại có người phát hiện được Ngọc tỷ, nhưng Hoàng đế cho
rằng không phải đồ thật, nghe nói vào đầu triều Thanh, trong cung có
giấu một Ngọc tỷ có khắc chữ “Thụ mệnh vu thiên, Ký thọ vĩnh xương.”
Nhưng theo ghi chép lại, Hoàng đế Càn
Long không mấy quan tâm đến Ngọc tỷ truyền quốc này vì cho là đồ giả.
Vậy thì Ngọc tỷ truyền quốc thật hiện đang ở đâu? Câu hỏi này cho đến
nay vẫn chưa có lời giải.
Thanh kiếm được khai quật từ ngôi mộ cổ của Hoàng đế Càn Long .(Ảnh: Headlines)
Bốn người đầu tiên tiếp xúc với
thanh Cửu long bảo kiếm trộm được từ mộ vua Càn Long đều không có kết
cục tốt đẹp. Câu chuyện càng tô vẽ thêm những bí ẩn trong các lăng mộ
vua chúa thời xưa.
Tôn Điện Anh
là một nhân vật được biết đến rất có tiếng trong nghề đào trộm mộ. Ngôi
mộ của vua Càn Long và Từ Hy Thái hậu đều đã bị đánh cắp bởi người đàn
ông này. Người ta nói rằng vào thời điểm cuối đời, Hoàng đế nhà Thanh –
Phụ Nghi đã thề rằng nếu không chính tay bắt được Tôn Điện Anh thì nhất
định sẽ không bỏ cuộc.
Những tên trộm thường nhắm vào các ngôi
mộ có chứa những vật phẩm quý giá để trộm đi. Nếu đào được một kho báu
có giá trị, thì sẽ đủ cho họ ăn tiêu cả một đời. Tuy nhiên, không phải
lần trộm nào cũng tìm thấy những đồ quý giá, có nhiều lúc những tên trộm
mộ cũng đào phải những vật phẩm đáng sợ.
Không một người nào sống sót khi chạm vào thanh kiếm được khai quật từ ngôi mộ cổ của Hoàng đế Càn Long .(Ảnh: Headlines)
Cửu long
bảo kiếm chính là một vật phẩm như vậy. Người ta nói rằng thanh kiếm
này là đồ vật tà môn đáng sợ nhất trong lịch sử đào trộm mộ ở Trung
Quốc. Cho đến nay tất cả những ai chạm vào thanh kiếm này đều bị chết mà
không rõ nguyên nhân, không có trường hợp nào ngoại lệ.
Cửu long
bảo kiếm bị đào trộm từ ngôi mộ cổ của vua Càn Long. Bởi vì trên thân
của thanh bảo kiếm có khắc 9 con thần long (rồng). Về lịch sử của thanh
bảo kiếm này, cho đến nay vẫn không có ai biết được nguồn gốc của nó.
Người ta chỉ biết rằng đây là một vũ khí rất đáng sợ, những ai mà tiếp
xúc với nó gần như đều có kết cục bi thảm.
Khi
những binh sĩ của Tôn Điện Anh mở nắp quan tài của Từ Hy Thái Hậu, được
biết toàn cơ thể của bà vẫn không hề bị thối nát. (Ảnh: Headlines)
Lúc đó, Tôn Điện Anh nhằm kiếm rào chắn
để hòng thoát tội, đã lần lượt đem các báu vật mà đánh cắp được từ các
ngôi mộ để tặng cho các “chức sắc quốc đảng”. Trong đó thanh kiếm này đã
được coi là chiếc gươm báu đem tặng cho Tưởng Giới Thạch. Một người tên
Đái Lạp đã được cử mang đi tặng.
Đái Lạp khi mang thanh bảo kiếm này theo trên máy bay, chiếc máy bay này liền bị rơi mà không hề có nguyên do. (Ảnh: Headlines)
Tuy
nhiên, khi Đái Lạp mang thanh kiếm này trên máy bay, máy bay đã bị rơi
mà không có bất cứ lý do gì. Do đó, thanh bảo kiếm đã không được đưa đến
tận tay Tưởng Giới Thạch. Dựa vào cái chết của cá nhân này không thể
nói lên điều gì. Nhưng tại thời điểm đó, Đái Lạp nhận được thanh kiếm
này cũng rất lo sợ, khiếp vía. Ông ta đã gọi cho Mã Hán Tam, chủ nhiệm
văn phòng Bình Tân thuộc văn phòng Quốc Dân Đảng nhờ bảo quản hộ.
Mã Hán
Tam sau khi nhìn thấy bảo vật đã khởi tư tâm, nghĩ cách chiếm dụng.
Nhưng sau đó vì để bảo vệ tính mạng của mình, ông ta đã đem bảo kiếm
hiến tặng cho thủ lĩnh cơ quan đặc vụ của Nhật Bản. Cuối cùng đã rơi vào
tay một điệp viên nữ Kawashima nổi tiếng. Mã Hán Tam sau đó cũng không
thoát khỏi số phận bị bắn chết.
Điệp
viên Kawashima cũng tương tự, không thoát khỏi định mệnh bị tử hình. Một
cái nhìn khác, Tôn Điện Anh kể từ khi đem thanh bảo kiếm đáng sợ tà môn
này ra, cũng đã trở thành một tù nhân và chết trong tay Quân đội Giải
phóng Nhân dân.
Tôn Điện Anh. (Ảnh: Headlines)
Thanh
kiếm này từ khi ra khỏi ngôi mộ của vua Càn Long đã tiếp xúc với tổng
cộng 4 người: Tôn Điện Anh – đã chết trong nhà tù; Đái Lạp – chết do máy
bay đâm vào một ngọn núi mà không có lý do; Mã Hán Tam – bị bắn chết;
Kawashima – hình phạt tử hình. Không thể không thừa nhận, đây quả là một
thanh kiếm đáng sợ!
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét