BÍ ẨN LỊCH SỬ 131

(ĐC sưu tầm trên NET)

Ai Cập cổ đại từng được chiếu sáng bằng điện?


Dưới: Một vật thể giống bóng đèn điện được khắc trong hầm mộ dưới đền thờ thần Hathor ở Ai Cập. (Lasse Jensen/Wikimedia Commons) Trên: Các kim tự tháp Ai Cập (Shutterstock) Phông nền: Minh họa điện. (Shutterstock)
Dưới: Một vật thể giống bóng đèn điện được khắc trong hầm mộ dưới đền thờ thần Hathor ở Ai Cập. (Lasse Jensen/Wikimedia Commons) Trên: Các kim tự tháp Ai Cập (Shutterstock) Phông nền: Minh họa điện. (Shutterstock)

Vũ trụ chứa đầy những điều bí ẩn đang thách đố tri thức của nhân loại. Bộ sưu tập những câu chuyện “Khoa học Huyền bí” của Thời báo Đại Kỷ Nguyên về những hiện tượng lạ thường đã kích thích trí tưởng tượng và mở ra những khả năng chưa từng mơ tới. Chúng có thật hay không? Điều đó tùy bạn quyết định!
Ngày nay, chúng ta thấy rất đỗi bình thường với những đường chân trời thành phố về đêm, các ánh đèn phố, và nguồn năng lượng thúc đẩy những tiện ích hiện đại của chúng ta. Nhưng, phải chăng những người thông thái ở Ai Cập và Lưỡng Hà thời cổ đại cũng sở hữu kiến thức về điện, không chỉ để thắp sáng mà còn có các công nghệ vận hành bằng điện năng? Trong khuôn khổ của các bằng chứng khảo cổ khai quật được, câu trả lời dường như đã được khẳng định.
Hình khắc nổi bên dưới Đền thờ thần Hathor ở Dendera, Ai Cập là bằng chứng được nhắc đến nhiều nhất, cho chúng ta thấy những người Ai Cập cổ đại đã từng sử dụng điện. Trên đó miêu tả các hình người đang đứng xung quanh một vật thể giống bóng đèn cỡ lớn.
Bóng đèn thời cổ đại?

Vật thể giống bóng đèn được chạm khắc trong một hầm mộ bên dưới Đền thờ Hathor ở Ai Cập. (Lasse Jensen/Wikimedia Commons)
Đui đèn được tượng trưng bằng một vật trông giống như bông hoa sen với thân như dây cáp chạy dọc theo phần dưới của “thiết bị”. Bên trong “bóng đèn” là một sợi dây như con rắn uốn khúc ra bên ngoài “đui đèn” hình hoa sen. Theo những người ủng hộ giả thuyết rằng hình vẽ này miêu tả ánh sáng đèn điện, như Erich Von Däniken đã từng viết cuốn “Chariot of the Gods” (tạm dịch: Xe ngựa của Thần), thì con rắn này biểu thị cho dây tóc bóng đèn.
Von Däniken đã tạo ra một mô hình bóng đèn này trong phòng thí nghiệm và nó đã hoạt động, phát ra ánh sáng tím kỳ dị.
Ông đã sử dụng cùng loại thông số về kích thước, bao gồm hai chùm kim loại giống như cánh tay kéo dài đến đầu to của bóng đèn, và một sợi dây kết nối những chùm đó với “đui đèn” ở đầu bên kia.
Nhưng lấy đâu ra nguồn năng lượng để thắp sáng bóng đèn vào thời Ai Cập cổ đại?
Pin cổ đại?

Phải: Hình minh họa cục pin Bát-Đa từ ảnh cổ vật ở bảo tàng. (Ironie/Wikimedia Commons) Nền: Bản đồ khu vực bao quanh thành phố Bát Đa, I-rắc ngày nay. (Cmcderm1/iStock/Thinkstock)
Một món cổ vật được phát hiện ngoài Ai Cập, bên ngoài thành phố Bát-đa ngày nay, cho thấy rằng hoạt động sản xuất điện đã từng được tiến hành ở khu vực Trung Đông hàng nghìn năm về trước. Cổ vật này được gọi là Pin Bát-đa.
Pin Bát-đa khá là thô sơ so với các loại pin của chúng ta ngày nay. Nó gồm một bình đất sét nung với nắp làm từ nhựa đường. Một thanh sắt xuyên qua nắp bình được bao quanh bởi trụ đồng. Người ta tin rằng chiếc bình này đã được đổ đầy một chất có tính axit như dấm, giúp nó sản sinh ra một nguồn điện khoảng 1,1 vôn. Mô hình phỏng chế của loại pin này cho thấy nó thật sự có thể hoạt động.
1,1 vôn có thể không nhiều lắm, nhưng nếu buộc một vài pin loại này với nhau, thì điện áp sẽ gia tăng. Chiếc pin này có niên đại từ 250 TCN đến 250 SCN. Hiện nay, người ta cho rằng những cái pin này đã được sử dụng trong kỹ thuật mạ điện thời xưa (mạ một lớp kim loại lên trên bề mặt một kim loại khác).
Những chiếc pin này không chỉ là nguồn năng lượng trên lý thuyết.
Một số người tuyên bố rằng một trong những công trình biểu tượng nhất của Ai Cập trên thực tế lại bị hiểu lầm nhiều nhất. Cụ thể, những người ủng hộ giả thuyết tồn tại điện ở Ai Cập cổ đại nói rằng Đại Kim tự tháp Giza trên thực tế đã được sử dụng như một nhà máy điện.
Nhà máy điện cổ đại?

(Shutterstock*; hiệu ứng thêm bởi Epoch Times)
Ý tưởng này đã được khởi xướng bởi tác giả và nhà nghiên cứu Christopher Dunn trong quyển sách “The Giza Power Plant” (tạm dịch: Nhà máy điện Giza) và “Lost Technologies of Ancient Eqypt” (Những công nghệ bị lãng quên của Ai Cập cổ đại).
Dunn nói rằng King Chambers-tức “Căn phòng của vua” nằm ngay trung tâm của Đại Kim tự tháp thực chất chính là bộ máy phát điện trung tâm của siêu công trình này. Nó được xây dựng chủ yếu bằng đá granit hồng, một chất liệu giàu hàm lượng thạch anh vi tinh thể.
Trên thực tế, Đại kim tự tháp chủ yếu làm từ đá granit, và đá granit được cấu thành từ rất nhiều tinh thể thạch anh cỡ nhỏ, mà khi áp lực và/hoặc dao động năng lượng, thì sẽ sản sinh ra điện năng. Trong giới khoa học điều này được biết đến là hiệu ứng áp điện. Hiệu ứng này được ứng dụng trong rất nhiều công nghệ hiện đại, như loa phóng thanh, máy biến năng, bộ chuyển đổi tín hiệu, và một số ứng dụng trong ngành công nghiệp ô tô.
Theo Dunn và những người khác cũng ủng hộ lý thuyết này, quan tài bằng đá granit trong Phòng Vua (cũng được chạm khắc một cách tinh vi trên đá granit cứng màu hồng) cũng có thể là phương tiện chuyến đổi các rung động tần số thấp được Trái Đất phát ra thành nguồn năng lượng điện. Hơn nữa, Dunn nói, những xà chống đỡ trên trần phòng Vua có vẻ như đều được điều chỉnh một cách chính xác, hay cắt theo kích cỡ để cộng hưởng hoàn hảo với tần số này.
Paul Darin, Epoch Times
Quý Khải biên dịch

Khoa học và tôn giáo: Từ Bruno, Galileo đến người ngoài hành tinh


Galileo đối mặt với Tòa án Dị giáo La Mã. Tranh vẽ bởi Cristiano Banti vào năm 1857.
Galileo đối mặt với Tòa án Dị giáo La Mã. Tranh vẽ bởi Cristiano Banti vào năm 1857.

Một trong những ví dụ nổi tiếng nhất về cuộc xung đột giữa tôn giáo và khoa học là vụ xét xử Galileo Galilei. Galileo ủng hộ quan điểm của Copernicus cho rằng Trái đất quay xung quanh Mặt trời, một lí thuyết “nhật tâm” [1] vốn bị nhà thờ tuyên bố là trái ngược với Kinh thánh. Galileo bị cảnh báo không được phép ủng hộ lí thuyết này, thay vào đó nên tán thành quan điểm “địa tâm” [2] truyền thống, trong đó Trái đất là một điểm cố định ở trung tâm mà vạn vật xoay xung quanh.

Bức tranh nghệ thuật thể hiện hệ địa tâm có các dấu hiệu của Hoàng đạo và Hệ Mặt trời với Trái đất ở trung tâm.

Bức tranh nghệ thuật thể hiện thuyết nhật tâm, với Hệ Mặt trời có Mặt trời nằm ở vị trí trung tâm.
Câu chuyện của Galileo: rốt cuộc vì sao ông bị kết tội? 
Thay vì thế, năm 1632, Galileo xuất bản cuốn “Đối thoại về hai hệ thống thế giới trọng yếu”. Cuốn sách được xây dựng dưới dạng một cuộc đối thoại giữa Salviati, một nhà triết học nhật tâm, Simplicio, một nhà triết học địa tâm, và Sagredo, một thường dân trung lập. Thực ra, giáo hoàng Urban VIII đã cho phép Galileo viết quyển sách miễn là ông không cho quan điểm nào thắng thế. Tuy nhiên, Salviati đã tranh luận một cách gay gắt các luận điểm của Galileo, còn Simplicio lại thường bị chế nhạo như một tên ngốc.
Một câu chuyện thường được người ta kể lại là, sau khi quyển sách của Galileo được xuất bản, Đức Giáo hoàng cảm thấy bị lăng mạ khi những lời lẽ của ông được truyền tải qua lời Simplicio.

Galileo giải thích địa thế Mặt trăng với hai vị Hồng y. Tranh vẽ của Jean Leon Huens.
Không những hình tượng Giáo hoàng được xây dựng theo một cách rất lố bịch, mà ngay chính cái tên tác giả đã mang ý nghĩa nước đôi (Simplicio/simple-minded/semplice có nghĩa là “đầu óc đơn giản” theo tiếng Ý). Tuy nhiên, nhà thiên văn học của tòa thánh Vatican Brother Guy Consolmagno lại bác bỏ cách phân tích này.
“Thứ nhất, ‘Simplicio’ là một cái tên đã có từ lâu trong các bài thuyết giảng triết học, chứ không phải cái gì mới mẻ do Galileo phát minh ra, để ám chỉ một người có thể nhìn xuyên qua màn sương tạo dựng bởi những nhà triết học tinh tế và hiểu biết hơn vốn có thể phát minh ra những lý thuyết tinh vi nhưng lại mất đi khả năng nhìn thấy những sự thật đơn giản hiển nhiên, kiểu như đứa trẻ sáng dạ có thể nhận ra rằng hoàng đế cũng ở truồng vậy”, Consolmagno nói. “Theo ngữ cảnh này thì việc sử dụng nó có thể được xem là một sự tán dương. Thứ hai, kiểu chơi chữ này là tương đối phổ biến trong tiếng Anh nhưng tôi không nghĩ rằng nó không nhất định phổ dụng như vậy trong tiếng Ý; tôi không biết liệu có ai vào thời ấy cũng hiểu nó như cách dân nói tiếng Anh hiểu hay không. Và cuối cùng, ngay từ ban đầu quyển sách đã được các kiểm duyệt viên của giáo hoàng thông qua; nên nếu Giáo hoàng cảm thấy cái tên mang ý nghĩa gièm pha, thì hẳn ông đã lưu ý đến nó ngay từ trước khi quyển sách được in ra rồi”.
Tuy nhiên, ảnh hưởng trái ngược của nó cuối cùng đã khiến nhà thờ buộc phải rút lại quyền xuất bản. Galileo đối mặt với một ủy ban được triệu tập đặc biệt gồm mười quan tòa, và họ đã kết ông tội dị giáo. Bằng cách nguyện bỏ – tuyên bố rằng ông chưa bao giờ tin vào quan điểm nhật tâm được trình bày trong quyển sách – bản án của Galileo đã được giảm nhẹ thành giam lỏng tại nhà.
“Bản án dành cho ông là ông phải làm khách danh dự của giám mục Siena trước khi trở lại nhà riêng của mình, nơi ông sinh sống thêm một thập kỷ nữa, được nhiều khách thăm viếng thường xuyên, và viết thêm một quyển sách khác”, Consolmagno nói. “Tôi không muốn bào chữa cho những sai lầm mà giáo hội đã phạm phải trong vấn đề của Galileo, nhưng… chắc chắn đó không phải là một lối hành xử đơn giản chỉ để bài xích khoa học thôi đâu”.
Consolmagno cho rằng để thật sự hiểu rõ chuyện gì đã xảy ra, chúng ta cần xét đến tư duy triết học thời ấy và các sự kiện xảy ra trong Giáo hội lẫn trong quy mô toàn cảnh của xã hội. Ngữ cảnh này có thể được phản ánh từ những tư liệu gốc về vụ xét xử, mà đã được dịch sang tiếng Anh trong nhiều ấn phẩm khác nhau, ví dụ như ấn phẩm “Vụ án Galileo” của tác giả Maurice Finocchiaro (Nhà xuất bản Đại học California, 1989).

Năm 1992, Giáo hoàng John Paul II đã ra lời tuyên bố thừa nhận những sai lầm trong vụ án Galileo.

“Họ xét xử Galileo dựa trên một vấn đề chuyên môn, và ông đã phạm tội dựa trên vấn đề chuyên môn đó; nhưng tại sao họ quyết định kết tội ông, theo cách đó, vào lúc đó, vẫn chưa được giải đáp”, Consolmagno nói. “Ngày nay, chúng ta có thể thấy rằng đáng ra ngay từ lúc đầu ông đã không nên bị đem ra xét xử”.
Năm 1992, Giáo hoàng John Paul II đã ra lời tuyên bố thừa nhận những sai lầm trong vụ án Galileo. Nhưng chưa có một lời phát biểu xin lỗi nào như vậy dành cho Giordano Bruno, vốn đã bị Giáo hội đưa lên giàn thiêu sống vào năm 1600.

Tượng chân dung bằng đồng của Giordano Bruno trước quảng trường de Fiori ở Rome, nơi ông bị hành hình vào năm 1600. (Ảnh: Jastrow)

Câu chuyện của Bruno: đạo văn, nổi loạn hay là gián điệp?
Bruno không những chỉ ủng hộ quan niệm nhật tâm, mà ông còn khẳng định rằng có tồn tại nhiều thế giới hơn nữa bên ngoài Trái đất, mỗi thế giới quay xung quanh mặt trời riêng của chúng. Consolmagno và đồng sự của ông, nhà thiên văn học Vatican Cha Paul Pavel Gabor, cho rằng bản án tử của Bruno không phải vì ông đã xúc tiến những quan điểm này.
“Có một câu nói đùa ngày xưa, là nếu ông bị thiêu sống vì bất cứ lý do nào đó, thì hẳn là vì ông là kẻ đạo văn”, Consolmagno nói. “Nicholas xứ Cusa đã công bố những ý tưởng đó trước đó 200 năm, và ông ta là một Hồng y”.

Cửa sổ kính vũ trụ trong sảnh đường của nhà thờ Santa Maria degli Angelo ở Rome, Ý. (Ảnh: Herlihym)
Quyển sách của Nicholas xứ Cusa, “On Learned Ignorance“ (Tạm dịch: Về sự ngu dốt có học), trong đó ông trình bày khả năng tồn tại nhiều thế giới khác nhau, đã được xuất bản vào năm 1440. Ông còn viết rằng người ngoài hành tinh có thể tồn tại trên mặt trăng và mặt trời.
“Ông được sắc phong Hồng y vào năm 1440, cho nên khá hiển nhiên là nó không làm ảnh hưởng đến sự nghiệp của ông”, nhà thiên văn của Vatican, Đức Cha Paul Pavel Gabor lưu ý.
Consolmagno cho biết lí do có khả năng nhất lý giải cho sự thù hằn của Giáo hội là ở chỗ Bruno phủ nhận sự thần thánh của Chúa, cũng như một số học thuyết cơ bản khác của Cơ Đốc giáo.
“Tôi nghĩ vấn đề thật sự với Bruno là ông bị cáo buộc là gián điệp của người Anh”, Gabor bổ sung thêm. Ông cho biết Bruno đã bị bỏ tù ở nhiều nơi khác nhau trên khắp Châu Âu trước khi vào ngục ở Venice, sau đó đã dẫn tới cái chết của ông ở Rome. Gabor nói tư liệu về phiên tòa xử án 7 năm của ông đã bị thất lạc, vì Napoleon đã cướp phá toàn bộ tư liệu của Vatican.
“Mọi người tiếp tục viết về nó như thể những gì đã xảy ra chỉ là chuyện viễn tưởng”, Gabor nói.

Mặc dù có vẻ như bức ảnh này được chụp vào ban ngày, nhưng trên thực tế nó được chụp vào ban đêm. Những đường sọc màu da cam này là các cụm mây mỏng được rọi sáng bởi Mặt trăng khi chúng di chuyển rất nhanh đến đường chân trời phía xa. Chuỗi hình ảnh time-lapse, chụp ở trong khu vực một nhà thờ bỏ hoang ở Sounio, Hy Lạp, cho thấy các vệt ngôi sao dài xoay tròn xung quanh ngôi sao Bắc Đẩu ở trung tâm. (Ảnh: Chris Kotsiopoulos)
Giáo hội: không bài xích sự tồn tại của người ngoài hành tinh và nhiều thế giới khác
Cả Consolmagno lẫn Gabor đều nhấn mạnh rằng sự tồn tại của người ngoài hành tinh và nhiều thế giới không phải là ý tưởng gì mới đối với Giáo hội, và nó không thách thức hay đe dọa các niềm tin trọng yếu của tôn giáo của họ. Tòa thánh Vatican còn tài trợ cho một hội thảo sinh vật học vũ trụ hồi năm 2009 vừa qua. Theo Consolmagno, Giáo hội làm như thế là để tạo lập một diễn đàn thảo luận cho các nhà khoa học hàng đầu trong lĩnh vực này.
“Không phải giống như cách người ta đưa tin trên kênh CNN, trong đó giáo hội Công giáo khá lo lắng khi ai đó đề cập người ngoài hành tinh đâu”, ông nói.
Họ cho biết chẳng có việc thảo luận tín ngưỡng nào diễn ra trong hội thảo này; thay vào đó, đề tài trọng điểm thuần túy lại là khoa sinh vật học vũ trụ. Sự giao thoa triết lí giữa tôn giáo và khoa học chỉ được thảo luận không chính thức, trong giờ nghỉ giải lao và các buổi tụ họp xã hội khác.

Sự tồn tại của người ngoài hành tinh và nhiều thế giới không phải là ý tưởng gì mới đối với Giáo hội, và nó không thách thức hay đe dọa các niềm tin trọng yếu của tôn giáo của họ.

Các nhà triết học đã và đang cố thâu tóm các hàm ý của sự sống ngoài địa cầu trong hàng trăm năm qua, nếu không muốn nói là lâu hơn. Nhưng cho đến khi người ngoài hành tinh được tìm thấy, những vấn đề này sẽ vẫn thuộc về phạm vi của khoa học viễn tưởng chứ không phải tôn giáo hay khoa học.
“Tôi nghĩ ngành khoa học viễn tưởng phải diễn vai trò rất quan trọng đó, bởi vì hiện tại chúng ta chỉ mới đang chơi đùa với các ý tưởng,” Consolmagno nói. “Chúng ta chỉ mới bắt đầu khám phá không gian vũ trụ trong đó những ý tưởng này có thể tồn tại. Chúng ta không biết – chúng ta chẳng có câu trả lời nào. Đó là lí do khiến nó thú vị đến vậy!”
Tác giả: Leslie Mullen, Astrobiology Magazine
Tham khảo bản dịch trên thuvienvatly.com. Tái bản với sự cho phép. Đọc bản gốc ở đây.
Trần Nghiêm biên dịch Anh-Việt, Phan A biên tập
Chú thích của người dịch:
[1] Thuyết nhật tâm là lý thuyết cho rằng Mặt Trời nằm ở trung tâm của vũ trụ và/hay của Hệ Mặt Trời. Từ này (heliocentrism) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp (helios = “Mặt Trời” và kentron = “trung tâm”).
[2] Thuyết địa tâm (geocentric model) (trong tiếng Hy Lạp: geo = Trái Đất kentron = trung tâm) là lý thuyếtcho rằng Trái Đất là trung tâm của vũ trụ và Mặt trời cùng các thiên thể khác quay quanh nó.

Bí ẩn ly kỳ về cái chết của 9 người leo núi Ural năm 1959


Đoàn người leo núi Ural lúc đang dựng trại (Ảnh: Internet)
Đoàn người leo núi Ural lúc đang dựng trại (Ảnh: Internet)

Trong lịch sử tồn tại rất nhiều vụ án khiến người đời nghi hoặc mãi không tìm ra lời giải đáp. Vụ án ly kỳ xảy ra trên dãy núi Ural của Nga vào ngày 2.2.1959 chính là một trong những sự kiện ly kỳ và thần bí như vậy.
Trong cuộc leo núi này không những cả 9 thành viên của đoàn đều chết mà nguyên nhân cái chết của cả 9 người họ cũng hết sức ly kỳ, khiến nhiều người “sởn gai ốc”. Cho đến nay các nhà nghiên cứu cũng chưa thể tìm ra lời giải cho câu hỏi: Rốt cuộc đã xảy ra điều gì với họ?

Núi chết (Ảnh: Internet)
Núi chết (Ảnh: Internet)

Ngày 27.1.1959, một nhóm 10 người đã xuất phát từ ngôi làng Vizhai và leo lên núi Kholat Syakhl, nằm ở phía đông của dãy núi Ural. Ngọn núi này được người dân địa phương gọi là núi Tử Thần. Ngày hôm sau, một thành viên trong đoàn là Yuri Yudin vì sức khỏe yếu nên đã rời khỏi cuộc hành trình. Vì vậy, đoàn gồm 10 người lên núi còn lại 9 người. Trong đó người lớn tuổi  nhất là 37 tuổi, nhỏ tuổi nhất là 12 tuổi, 9 người họ tiếp tục cuộc hành trình leo  núi.
Ngày 31.1, khi đến một rừng cây trong thung lũng, chỗ tiếp giáp với chân núi, họ chặt cây và dựng lập kho để dự trữ thực phẩm và dụng cụ để sử dụng khi quay trở lại. Cả đoàn 9 người mang theo những đồ đạc nhẹ leo núi.

Yuri Yudin (ở giữa) thành viên duy nhất may mắn thoát chết lúc rời cuộc hành trình (Ảnh: Internet)
Yuri Yudin (ở giữa) thành viên duy nhất may mắn thoát chết lúc rời cuộc hành trình (Ảnh: Internet)

Đoàn người tiếp tục leo núi và gặp phải bão tuyết vào ngày 1.2. Bão tuyết đã che phủ toàn bộ tầm nhìn khiến họ không còn nhận ra con đường để leo lên núi.
Từ đây, họ bắt đầu bị lạc hướng, vốn là phải đi lên hướng đông nhưng họ lại đi về hướng tây. Khi nhận ra điều này, họ cũng không lập tức quay ngược trở lại mà dừng ở đó và cắm trại. Cả nhóm 9 người không khác gì “đánh cược” mạng sống của mình với tử thần. Bởi vì cắm trại trên núi lúc này cũng tương đương với việc chấp nhận có thể bị chìm ngập bởi lở tuyết. Tại sao một đoàn người dày dặn kinh nghiệm leo núi mà lại có một quyết định kỳ quái như vậy? Đây vẫn còn là một điều bí ẩn chưa ai hiểu rõ nguyên nhân.
Đêm hôm đó, cứ như vậy họ mất liên lạc…

Bức ảnh lúc dựng trại vào đêm gặp nạn do một thành viên chụp lại (Ảnh: Internet)
Bức ảnh lúc dựng trại vào đêm gặp nạn do một thành viên chụp lại (Ảnh: Internet)

Cứ như vậy đến ngày 12.2, mọi người đã không còn nhận được một tin tức nào của cả đoàn 9 người họ. Lúc ấy, mọi người còn phỏng đoán rằng 9 người họ chắc còn muốn chơi nhiều hơn một chút rồi mới trở về. Nhưng đến ngày 20.2, người thân của các thành viên không thể chờ đợi được nữa nên đã nhờ tới đội cứu nạn. Những hình ảnh “đập” vào mắt khiến đội cứu nạn khiến họ “sởn gai ốc” và không thể lý giải nổi.
Bởi vì, lều vải mà họ cắm trại đã bị phá hủy hoàn toàn mà bên trong cũng không có một bóng người. Nhưng bên trong, quần áo, đồ ăn vẫn còn và lều vải bị mở ra từ bên trong bởi vết cắt của dao găm. Trên mặt tuyết, đội cứu hộ có thể nhìn rõ dấu chân của 9 người. Điều kỳ lạ chính là, từ dấu chân của 9 người, đoàn cứu nạn phát hiện, 9 người họ lúc đi ra khỏi lều người thì đi tất, người thì đi một chiếc giày và có người chỉ đi chân trần. Vì sao họ lại vội vàng chạy thoát ra khỏi căn lều như vậy? Ngay cả giày cũng không kịp đi? Đây là điều người ta cho là bí ẩn thứ 2.

Chiếc lều bị cắt từ bên trong và vết mở đủ lớn cho một người chui qua và bị phá hủy khi đoàn cứu nạn phát hiện (Ảnh: Internet)
Chiếc lều bị cắt từ bên trong và vết mở đủ lớn cho một người chui qua và bị phá hủy khi đoàn cứu nạn phát hiện (Ảnh: Internet)

Đội tìm kiếm cứu nạn tiếp tục tìm kiếm, trong rừng rậm cách chiếc lều khoảng 1 km, người ta phát hiện ra thi thể người chết. Hình dáng thi thể cũng rất kỳ quái. Từ tư thế xem xét người ta phát hiện, những người này trước khi chết đều đang cố gắng bò lết về trại. Kỳ lạ hơn là 3 thi thể trong đó dường như bị va đập rất mạnh. Khám nghiệm tử thi thấy rằng, lực va chạm mà họ phải chịu không khác gì lực của chiếc ô tô đâm chính diện. Trong 3 thi thể, có 1 thi thể bị vỡ hộp sọ, 2 thi thể còn lại bị gãy xương sườn, nhưng bên trong thì hoàn toàn không bị thương. Đây là bí ẩn thứ 3.
Liệu có phải đoàn người đã gặp lở tuyết nên chạy ra khỏi lều vải? Đây là phỏng đoán của người bình thường sẽ xử lý lúc gặp tình huống này. Nhưng sau khi điều tra, họ phát hiện rằng ngọn núi này sườn núi không quá dốc, đồng thời đội cứu nạn còn tìm được dấu chân nên đoàn leo núi chắc chắn không gặp lở tuyết. Ngoài ra khi đo lường, người ta phát hiện ra quần áo trên thân của một số người bị nạn có chứa chất phóng xạ. Điều này có thể phỏng đoán rằng, 9 người này đã đụng phải một vật “không tầm thường”. Vì vậy, họ bất đắc dĩ phải chạy vội ra khỏi lều, sau đó thì chết không rõ ràng.

Thi thể người gặp nạn (Ảnh: Internet)
Thi thể người gặp nạn (Ảnh: Internet)

Các nhà nghiên cứu sau nhiều năm đã đưa ra những điểm nghi ngờ:
1. Vì sao đang đêm ngủ mà họ phải dùng dao găm cắt lều để chạy thoát ra ngoài? Chắc chắn họ đã gặp tình trạng nào đó rất khẩn cấp, phải vội vàng chạy khỏi lều để thoát chết, nên mới phải dùng dao cắt lều mà không ra theo cách thông thường. Thậm chí ngay cả áo khoác chống lạnh và chăn lông họ cũng không kịp mang theo. Có người còn đi chân đất, đi tất hoặc đi vội một chiếc giày? Mặc dù họ biết rằng họ đang ở nơi có nhiệt độ âm 25 – 30 độ, nếu không mang theo những thứ này họ sẽ không còn cách để sống sót.
2. Ngay sau đó, liên bang Nga đã chính thức điều tra và tuyên bố 9 người trong đoàn leo núi đều chết vì nhiệt độ quá thấp. Hơn nữa, cuối cùng các nhà điều tra còn kết luận về nguyên nhân gây ra cái chết cho 9 người họ rằng: Không biết lực lượng nào đã gây ra! Họ cũng lập tức tuyên bố kết thúc vụ án và xếp hồ sơ vụ án vào loại lưu trữ tuyệt mật. Nhưng điều khiến người ta băn khoăn là 3 người trong 9 người đó đã bị va đập mạnh, bị gẫy xương sườn và sọ não chứ không phải do nhiệt độ quá lạnh mà chết.
Liên quan đến vụ án này, nhiều người cũng đưa ra một số giả thuyết rằng: Có thể đã xuất hiện người ngoài hành tinh điều khiển phi thuyền công kích, người tuyết hay hỏa cầu xuất hiện…
Câu chuyện có thật này đã được đạo diễn người Mỹ – Renny Harlin dựng thành bộ phim mang tên “Mật mã Dyatlov” vào năm 2013.
Rốt cuộc vì sao đoàn leo núi lại có những hành động kỳ lạ như vậy? Cho đến nay chưa có một đáp án nào cho câu hỏi này. Chân tướng của vụ án ly kỳ cứ như vậy vĩnh viễn được chôn dấu trên núi Tử Thần suốt hơn nửa thế kỷ qua!
Theo NTDTV
Mai Trà biên dịch

Câu chuyện ly kỳ về Ngọc tỷ truyền quốc của Tần Thủy Hoàng


Ngọc tỷ của vua Càn Long triều nhà Thanh. (Ảnh: Internet)
Ngọc tỷ của vua Càn Long triều nhà Thanh. (Ảnh: Internet)

Ngọc tỷ truyền quốc của Tần Thủy Hoàng hiện nay ở đâu? Chúng ta đều biết, Ngọc tỷ là bảo ấn của vua chúa thời phong kiến Trung Quốc xưa, còn Ngọc tỷ truyền quốc không nghi ngờ gì là vật quý giá nhất trong tất cả các loại bảo ấn, hàng ngàn năm qua chuyện kể liên quan đến nó mang đầy màu sắc huyền bí.
Sở dĩ gọi Ngọc tỷ là Ngọc tỷ truyền quốc vì lịch sử hiển hách của nó có liên quan đến Tần Thủy Hoàng. Chúng ta thử nhìn lại toàn bộ câu chuyện này.
Biện Hòa người nước Sở thời Xuân Thu nhặt được một tảng đá ngọc ở trong núi và biết đây là vật báu hiếm thấy nên đã tặng cho Sở Lệ Vương (757 – 741 TCN). Sở Lệ Vương không biết là vật gì, liền cho mời ngọc công (chuyên gia về ngọc) đến để phân biệt. Không ngờ vì đá ngọc này thuộc loại không lộ nên người ngọc công này không nhận ra được chỗ quý của ngọc, cho rằng đây là đá bình thường. Kết quả là Biện Hòa mắc tội lừa vua, bị xử chặt chân trái, thành người tàn phế. Sau này Sở Võ Vương lên ngôi, Biện Hòa lại tiếp tục dâng đá ngọc lên tặng vua, nhưng lại thêm một lần nữa hàm oan và bị chặt tiếp chân phải. Sau khi Sở Văn Vương lên ngôi, Biện Hòa tuổi già ngồi ôm hòn đá quý dưới chân ngọn Kinh Sơn gào khóc thảm thiết. Sở Văn Vương thấy lạ liền cho người tới hỏi. Biện Hòa trả lời: “Tôi không than thở cho số phận của mình, tôi than khi thấy đau xót vì vật báu lại bị người đời xem là thứ bình thường. Mong ngày nào đó có người chứng minh tôi không lừa dối.” Sở Văn Vương liền cho người tới tìm hiểu thật kỹ lại hòn đá của Biện Hòa, lần này mới phát hiện ra đây là đá quý hiếm thấy. Từ đó mới có tên ngọc bích họ Hòa.
Sau khi ngọc bích họ Hòa ra đời, những sự tích xung quanh nó liên tục lưu truyền. Đến đời Sở Thành Vương (? – 626 TCN), Chiêu Dương diệt nước Việt và lập công to với nước Sở, được ban thưởng ngọc bích họ Hòa, và từ đây ngọc tỷ bắt đầu “con đường bôn ba.” Sau này khi Chiêu Dương đi du ngoạn Xích Sơn. Ngay dưới chân Xích Sơn có cái đầm nước rất sâu. Chiêu Dương là người thích khoe khoang, ông ta liền mở tiệc ở cái cao lâu bên đầm nước và lấy ngọc bích họ Hòa ra cho mọi người thưởng thức. Theo kể lại, khi đó bất ngờ có con cá to nhảy từ dưới đầm lên và kéo theo một đám cá nhỏ đủ loại. Mọi người thấy lạ liền chạy tới bờ đầm xem cá. Nhưng sau khi mọi người xem xong và quay trở lại thì không thấy ngọc bích họ Hòa đâu nữa! Dĩ nhiên Chiêu Dương là người chán nản nhất. Ông ta nghi người học trò Trương Nghĩa đã ăn trộm nên tra tấn vô cùng độc ác, hy vọng có thể tìm thấy ngọc bích. Kết quả là Trương Nghĩa sau khi bị hành hạ thì quay lưng lại với nước Sở, vào nước Ngụy, cuối cùng lại làm quan nước Tần và chống lại nước Sở. Ngọc họ Hòa thì vẫn không tìm thấy được, còn nước Sở ngày càng có nhiều kẻ thù không đội trời chung.
Thực ra là có người đã cố tình ăn trộm ngọc bích họ Hòa. Chiêu Dương nhân thời nước Sở đang có thế lực, sau khi bị mất trộm đã treo thưởng ngàn vàng để tìm lại ngọc bị mất. Trong tình hình căng thẳng, kẻ ăn trộm càng phải cất giữ vật báu cẩn thận. Sau đến thời Triệu Huệ Văn Vương, ngọc bích họ Hòa bất ngờ xuất hiện tại Hàm Đan, thủ phủ nước Triệu. Quan Nội thị là Mậu Hiền chỉ dùng năm trăm đồng vàng để mua lại vật báu này. Sau khi Triệu Huệ Văn Vương biết tin đã nhiều lần ám chỉ muốn Mậu Hiền mang ngọc tặng lại cho mình, nhưng Mậu Hiền tiếc vật báu nên không đưa ra. Triệu Vương tức tối sai lính đến nhà Mậu Hiền cướp ngọc. Tiếng dữ đồn xa, câu chuyện đến tai Tần Chiêu Tương Vương. Tần Vương viết phong thư cho Triệu Vương, yêu cầu dùng mười lăm tòa thành để đổi lấy ngọc bích họ Hòa. Thời đó nước Tần đang mạnh, nước Triệu đang yếu, Triệu Huệ Văn Vương tiếc báu vật, không biết phải xử trí như thế nào. Trong cảnh nguy nan, viên quan Lận Tương Như đã hiến kế “hoàn ngọc về Triệu.” Sau đó ngọc họ Hòa đã được cất trong cung đình nước Triệu một thời gian dài. Năm 228 TCN, nước Tần đánh nước Triệu và cướp được ngọc họ Hòa.
Sau khi lấy được ngọc họ Hòa, Tần Thủy Hoàng xướng danh ngọc bích họ Hòa là Quốc tỷ, lệnh cho Thừa tướng Lý Tư khắc trên Ngọc tỷ chữ: “Thụ mệnh vu thiên, ký thọ vĩnh ca” (受命于天,既寿永昌). Lời khắc mong muốn ngọc được truyền lại đời đời, nhưng không ngờ đến đời Tần Nhị Thế thì nước Tần sụp đổ. Sau khi Lưu Bang vào Hàm Dương, Tần Tử Anh (240 – 206 TCN) đã giao lại ngọc bích họ Hòa cho Lưu Bang. Đến cuối thời Tây Hán, khi ngoại thích Vương Mãng cướp ngôi trong lúc Hoàng đế Nhũ Tử Anh mới hai tuổi, Quốc tỷ lại rơi vào tay Thái hậu Hán Hiếu Nguyên.

Tranh vẽ Tần Thủy Hoàng
Tranh vẽ Tần Thủy Hoàng

Theo «Hán thư – Nguyên Hậu truyện», khi Vương Mãng cho người em Vương Thuấn đến Thái hậu Hán Hiếu Nguyên đòi ngọc, bà Thái hậu quá tức giận đã mang ngọc tỷ ném mạnh xuống thềm làm ngọc tỷ bị bể một góc. Cho dù sau này chỗ bể được dùng vàng khảm lại nhưng cũng từ đó mà nó có tì vết.
Được biết, vào cuối thời Đông Hán, Quốc tỷ lại bị mất tích. Thời đó cục diện chính trị hỗn loạn, Hán Thiếu Đế (176 – 190 TCN) khi chạy trốn đã mang giấu Ngọc tỷ truyền quốc vào cung, nhưng khi trở về thì không thấy đâu nữa. Không lâu sau, khi Thái thú Tôn Hiền đánh dẹp được Đổng Trác đã tìm lại được Ngọc tỷ truyền quốc ở phía nam thành Lạc Dương.
Từ đó cho đến thời nhà Đường, cùng những biến động chính trị, Ngọc tỷ truyền quốc không ngừng đổi chủ. Từ thời Tống Thái Tổ thì không còn ai được thấy nó nữa.
Nhưng những ghi chép về Ngọc tỷ truyền quốc vẫn không ngừng xuất hiện trong các thư tịch. Vào năm thứ 3 Triệu Thánh thời Bắc Tống, một người tên Đoàn Nghĩa ở Hà Nam khi đào móng nhà đã đào được một cái Ngọc ấn. Qua hơn mười vị học sĩ hàn lâm giám định, mọi người đã cho là Ngọc tỷ truyền quốc thời đế chế nhà Tần. Năm thứ 13 Minh Hoằng Trị lại có người phát hiện được Ngọc tỷ, nhưng Hoàng đế cho rằng không phải đồ thật, nghe nói vào đầu triều Thanh, trong cung có giấu một Ngọc tỷ có khắc chữ “Thụ mệnh vu thiên, Ký thọ vĩnh xương.”
Nhưng theo ghi chép lại, Hoàng đế Càn Long không mấy quan tâm đến Ngọc tỷ truyền quốc này vì cho là đồ giả. Vậy thì Ngọc tỷ truyền quốc thật hiện đang ở đâu? Câu hỏi này cho đến nay vẫn chưa có lời giải.
Theo Secretchina
Tinh Vệ biên dịch

Thanh kiếm mộ vua Càn Long với những ẩn đố bí mật


Thanh kiếm được khai quật từ ngôi mộ cổ của Hoàng đế Càn Long .(Ảnh: Headlines)
Thanh kiếm được khai quật từ ngôi mộ cổ của Hoàng đế Càn Long .(Ảnh: Headlines)

Bốn người đầu tiên tiếp xúc với thanh Cửu long bảo kiếm trộm được từ mộ vua Càn Long đều không có kết cục tốt đẹp. Câu chuyện càng tô vẽ thêm những bí ẩn trong các lăng mộ vua chúa thời xưa.
Tôn Điện Anh là một nhân vật được biết đến rất có tiếng trong nghề đào trộm mộ. Ngôi mộ của vua Càn Long và Từ Hy Thái hậu đều đã bị đánh cắp bởi người đàn ông này. Người ta nói rằng vào thời điểm cuối đời, Hoàng đế nhà Thanh – Phụ Nghi đã thề rằng nếu không chính tay bắt được Tôn Điện Anh thì nhất định sẽ không bỏ cuộc.
Những tên trộm thường nhắm vào các ngôi mộ có chứa những vật phẩm quý giá để trộm đi. Nếu đào được một kho báu có giá trị, thì sẽ đủ cho họ ăn tiêu cả một đời. Tuy nhiên, không phải lần trộm nào cũng tìm thấy những đồ quý giá, có nhiều lúc những tên trộm mộ cũng đào phải những vật phẩm đáng sợ.

Không một người nào sống sót khi chạm vào thanh kiếm được khai quật từ ngôi mộ cổ của vua Càn Long .(Ảnh: Headlines)
Không một người nào sống sót khi chạm vào thanh kiếm được khai quật từ ngôi mộ cổ của Hoàng đế Càn Long .(Ảnh: Headlines)

Cửu long bảo kiếm chính là một vật phẩm như vậy. Người ta nói rằng thanh kiếm này là đồ vật tà môn đáng sợ nhất trong lịch sử đào trộm mộ ở Trung Quốc. Cho đến nay tất cả những ai chạm vào thanh kiếm này đều bị chết mà không rõ nguyên nhân, không có trường hợp nào ngoại lệ.
Cửu long bảo kiếm bị đào trộm từ ngôi mộ cổ của vua Càn Long. Bởi vì trên thân của thanh bảo kiếm có khắc 9 con thần long (rồng). Về lịch sử của thanh bảo kiếm này, cho đến nay vẫn không có ai biết được nguồn gốc của nó. Người ta chỉ biết rằng đây là một vũ khí rất đáng sợ, những ai mà tiếp xúc với nó gần như đều có kết cục bi thảm.

Khi những binh sĩ của Tôn Điện Anh mở nắp quan tài của Từ Hy Thái Hậu, được biết toàn cơ thể của bà vẫn không hề bị thối nát. (Ảnh: Headlines)
Khi những binh sĩ của Tôn Điện Anh mở nắp quan tài của Từ Hy Thái Hậu, được biết toàn cơ thể của bà vẫn không hề bị thối nát. (Ảnh: Headlines)

Lúc đó, Tôn Điện Anh nhằm kiếm rào chắn để hòng thoát tội, đã lần lượt đem các báu vật mà đánh cắp được từ các ngôi mộ để tặng cho các “chức sắc quốc đảng”. Trong đó thanh kiếm này đã được coi là chiếc gươm báu đem tặng cho Tưởng Giới Thạch. Một người tên Đái Lạp đã được cử mang đi tặng.

Đái Lạp khi mang thanh bảo kiếm này theo trên máy bay, chiếc máy bay này liền bị rơi mà không hề có nguyên do. (Ảnh: Headlines)
Đái Lạp khi mang thanh bảo kiếm này theo trên máy bay, chiếc máy bay này liền bị rơi mà không hề có nguyên do. (Ảnh: Headlines)

Tuy nhiên, khi Đái Lạp mang thanh kiếm này trên máy bay, máy bay đã bị rơi mà không có bất cứ lý do gì. Do đó, thanh bảo kiếm đã không được đưa đến tận tay Tưởng Giới Thạch. Dựa vào cái chết của cá nhân này không thể nói lên điều gì. Nhưng tại thời điểm đó, Đái Lạp nhận được thanh kiếm này cũng rất lo sợ, khiếp vía. Ông ta đã gọi cho Mã Hán Tam, chủ nhiệm văn phòng Bình Tân thuộc văn phòng Quốc Dân Đảng nhờ bảo quản hộ.
Mã Hán Tam sau khi nhìn thấy bảo vật đã khởi tư tâm, nghĩ cách chiếm dụng. Nhưng sau đó vì để bảo vệ tính mạng của mình, ông ta đã đem bảo kiếm hiến tặng cho thủ lĩnh cơ quan đặc vụ của Nhật Bản. Cuối cùng đã rơi vào tay một điệp viên nữ Kawashima nổi tiếng. Mã Hán Tam sau đó cũng không thoát khỏi số phận bị bắn chết.
Điệp viên Kawashima cũng tương tự, không thoát khỏi định mệnh bị tử hình. Một cái nhìn khác, Tôn Điện Anh kể từ khi đem thanh bảo kiếm đáng sợ tà môn này ra, cũng đã trở thành một tù nhân và chết trong tay Quân đội Giải phóng Nhân dân.

Ảnh Tôn Điện Anh. (Ảnh: Headlines) thanh kiem mộ vua Càn Long
Tôn Điện Anh. (Ảnh: Headlines)

Thanh kiếm này từ khi ra khỏi ngôi mộ của vua Càn Long đã tiếp xúc với tổng cộng 4 người: Tôn Điện Anh – đã chết trong nhà tù; Đái Lạp – chết do máy bay đâm vào một ngọn núi mà không có lý do; Mã Hán Tam – bị bắn chết; Kawashima – hình phạt tử hình. Không thể không thừa nhận, đây quả là một thanh kiếm đáng sợ!
Biên dịch My My
Theo Meirihaowen

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32