SỰ NGU XUẨN CỦA CUỘC SỐNG 31



-Xét được sống còn trong no đủ là mưu cầu cơ bản và ước nguyện chính đáng của mọi cuộc đời, thì sẽ phân biệt được chiến tranh phi nghĩa và chiến tranh chính nghĩa, sự phòng vệ chính đáng cũng như sự bắt buộc hạ sát lực lượng đối kháng. Và khi phải hành động xả thân vì lẽ phải, con người trở nên vô cùng cao quí.
-Nhưng xét trên bình diện đánh giá sự sống là thứ quí giá nhất trên đời, thì giết chóc lẫn nhau, dù là giết chóc bắt buộc, là hành động điên rồ tột bậc của con người và chiến tranh, dù là chiến tranh chính nghĩa, vẫn là sự ngu xuẩn vô hạn, dù là sự ngu xuẩn tự giác, nhân danh bảo vệ sự sống! 
-Đứng lên trên tất cả mà phán xét, thì:
trí tuệ siêu việt của con người thậm ngu ngốc!
-Chân lý là đây:
Chiến tranh là mệnh lệnh tối thượng của tự nhiên mù quáng đối với trí tuệ sáng suốt của loài người: hãy giết chóc lẫn nhau!
-Như vậy, muốn không còn chiến tranh nữa, con người hoặc không còn lòng tham và tính tư hữu hoặc trở lại suy nghĩ tăm tối như hươu, nai.
-Nhưng hết chiến tranh rồi, xã hội loài người có hết bạo tàn? 

-----------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
 
3D 1080p WW1 Assault - All Quiet on the Western Front 1930
                                    
                              Tri Thức Online -Trận đánh Tự sát, đẫm máu nhất Thế chiến thứ 2

Trận đánh chiếm đảo Guam đẫm máu trong Thế chiến 2

Thứ Ba, ngày 22/08/2017 00:30 AM (GMT+7)

Triều Tiên có thể sẽ lần đầu tiên phóng tên lửa vào đảo Guam, nhưng đối với cư dân đảo này, viễn cảnh đó chưa là gì so với lịch sử đẫm máu.

Chia sẻ trên Fanpage Chia sẻ bài viết này trên trên Facebook Chia sẻ bài viết này trên trên G+
Trận đánh chiếm đảo Guam đẫm máu trong Thế chiến 2 - 1
Súng phun lửa được coi là vũ khí hiệu quả để tiêu diệt quân Nhật trốn trong lô cốt và hầm trú ẩn.
Theo National Interest, thực dân Tây Ban Nha khai phá hòn đảo Guam đầu tiên. Năm 1898, Mỹ chiếm quyền kiểm soát đảo Guam từ tây Tây Ban Nha trong cuộc chiến Mỹ-Tây Ban Nha.
Trong Thế chiến 2, Guam trở thành một trong những điểm nóng chiến sự giữa Nhật Bản và Mỹ.
Sáng ngày 8.12.1941, theo giờ Guam, vài tiếng sau khi Trân Châu cảng bị tấn công. Đảo Guam trở thành mục tiêu oanh tạc của các máy bay Nhật.
Người Guam không hề bất ngờ với chiến tranh vì giống như Philippines hay các vùng lãnh thổ khác của Mỹ ở trung và tây Thái Bình Dương, Guam là căn cứ chiến lược trên bàn cờ quân sự.
Bên cạnh Trân Châu cảng, đảo Guam giúp Mỹ có thể tập trung lực lượng hải quân và không quân để đối đầu với đế quốc Nhật. Chỉ với 700 lính thủy đánh bộ canh gác trên đảo Guam cùng một vài máy bay phòng vệ, hòn đảo này nhanh chóng sụp đổ trước đợt tấn công của quân Nhật từ căn cứ ở Saipan.
Theo National Interest, Nhật Bản vốn đánh giá thấp kẻ thù trong Thế chiến 2, nhưng ở trận chiếm đảo Guam thì ngược lại. Đế quốc Nhật đem đến Guam một lực lượng đổ bộ hùng hậu, bao gồm 4 tàu khu trục hạng nặng và 5.900 binh sĩ.
Đêm ngày 10.12.1941, lực lượng này đổ bộ lên đảo Guam và đến 6 giờ sáng hôm sau, lực lượng Mỹ phòng thủ trên đảo Guam đầu hàng. 17 binh sĩ Mỹ và lính gốc Guam thiệt mạng cùng với 30 thường dân. Quân Nhật tổn thất duy nhất 1 người.
Trận đánh chiếm đảo Guam đẫm máu trong Thế chiến 2 - 2
Thương vong của quân đội Mỹ luôn lớn nhất khi bắt đầu chiến dịch đổ bộ chiếm đảo.
3 năm sau đó, khi cục diện Thế chiến 2 đảo chiều, đến lượt người Mỹ đem quân chiếm lại đảo Guam. Năm 1944, đế quốc Nhật thất bại trên nhiều mặt trận, và quân Nhật hòn đảo này đơn độc phòng thủ.
Nhưng lần này, lực lượng Nhật Bản phòng thủ trên đảo Guam đông đảo hơn nhiều. Nhật đặt tại Guam 19.000 binh sĩ thuộc sư đoàn bộ binh số 29 và trung đoàn gồm 40 xe tăng.
Trong Chiến dịch Forager chiếm đảo Guam, Mỹ huy động 60.000 binh sĩ thuộc sư đoàn thủy quân lục chiến thứ 3, sư đoàn bộ binh số 77.
Chiến dịch khởi động bằng một tháng trời máy bay Mỹ oanh tạc đảo Guam từ các tàu sân bay. Khi năng lực phòng thủ của Nhật suy yếu, Mỹ mới điều chiến hạm đến nã pháo và đưa các tàu cỡ nhỏ làm nhiệm vụ gỡ bỏ vật cản trên biển.
Sáng ngày 21.7.1944, quân đội Mỹ bắt đầu đổ bộ lên đảo từ hướng tây nam. Pháo binh và súng máy Nhật đánh chìm 20 tàu đổ bộ Mỹ, khiến các lính Mỹ đặt chân lên đảo Guam hứng chịu thương vong nặng nề.
Đến 9 giờ sáng, quân Mỹ cuối cùng cũng đưa được xe tăng lên bờ và thiết lập phòng tuyến sâu 2km vào đảo Guam.
Đợt đổ bộ thứ hai lên đảo Guam diễn ra từ ngày 23-24.7. Sư đoàn bộ binh số 77 của Mỹ gặp tổn thất lớn vì việc thiếu hụt tàu đổ bộ khiến binh sĩ Mỹ gần như phải tự bơi vào bờ.
Trận đánh chiếm đảo Guam đẫm máu trong Thế chiến 2 - 3
Quân đội Mỹ chiến đấu chống đế quốc Nhật trên mặt trận Thái Bình Dương.
Một khi thiết lập được phòng tuyến liên kết với nhau ở hai bờ biển, quân đội Mỹ không ngừng bổ sung thêm xe tăng Sherman và binh sĩ đến càn quét đảo Guam.
Lính Nhật chỉ mở cuộc phản công vào ban đêm còn ban ngày là thời điểm hai bên giao tranh ác liệt bằng xe tăng. Đến ngày 10.8, trận đánh trên đảo Guam gần như đã kết thúc.
Phía Mỹ ghi nhận hơn 8.000 người chết và bị thương. Các máy bay ném bom B-29 của Mỹ sớm được đưa đến Guam để yểm trợ trên không cho các mặt trận khác trên Thái Bình Dương.
Thương vong của quân Nhật gần như toàn bộ 19.000 lính cố thủ trên đảo. Ước tính chỉ có 300 người sống sót. Thiếu tướng chỉ huy Hideyoshi Obata mổ bụng tự sát sau khi gửi thông điệp nhận thất bại đến Nhật hoàng ở Tokyo.
Đáng chú ý là một người lính Nhật Bản đã lẩn trốn trong hang động trên đảo suốt 28 năm. Tháng 1.1972, người dân trên đảo Guam mới phát hiện ra Shoichi Yokoi và bắt sống người lính Nhật cuối cùng.
National Interest kết luận, trừ khi Triều Tiên dùng vũ khí hạt nhân tấn công Guam, một vài quả tên lửa đạn đạo sẽ không thể tạo nên con số thương vong khổng lồ trên hòn đảo này như trong Thế chiến 2.
Trận thua đau của Mỹ trước quân Triều Tiên
Trong những ngày đầu của cuộc Chiến tranh Triều Tiên, đơn vị quân đội Mỹ được giao nhiệm vụ chặn bước tiến của...
Theo Đăng Nguyễn - NI (Dân Việt)

Trận thảm bại ít người biết của quân Mỹ trên đất Nga

Chủ Nhật, ngày 15/10/2017 00:30 AM (GMT+7)

Quân đội Mỹ cùng đồng minh từng điều lực lượng đến Nga nhằm hỗ trợ phong trào nổi dậy chống lại chính quyền Bolshevik.

Chia sẻ trên Fanpage Chia sẻ bài viết này trên trên Facebook Chia sẻ bài viết này trên trên G+
Trận thảm bại ít người biết của quân Mỹ trên đất Nga - 1
Quân đồng minh can thiệp vào cuộc nội chiến ở Nga năm 1918.
Ngày nay, có lẽ không còn nhiều người Nga biết đến lần duy nhất Mỹ đưa hàng ngàn binh sĩ đến tham chiến trên đất Nga.
Trả lời phỏng vấn trên tờ La Times những năm 1980, người đàn ông tên Fyodor Kobuishev nhớ về những ngày tháng ban đầu Mỹ muốn can thiệp vào tình hình nội bộ ở Nga.
“Lính Mỹ rất thích Vodka”, ông Kobuishev nói. “Họ thường uống cho đến khi say mèm”.
Một người khác tên V. T. Pachetsky nhớ về thời điểm “cả trung đội Mỹ nhảy dù từ máy bay và đi bộ trên các con phố ở Vladivostok.
Đó là vào mùa hè năm 1918. Một năm sau khi Cách mạng tháng Mười Nga thành công, chính quyền Bolshevik mới được thành lập. Hồng quân Liên Xô thuở ban đầu vấp phải sự kháng cự mạnh mẽ của phong trào Bạch Vệ.
Phong trào này bao gồm những người theo trường phái bảo thủ, muốn khôi phục Sa Hoàng và Đế quốc Nga. Mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm kéo theo cuộc nội chiến bùng nổ không lâu sau đó.
Theo War History Online, lo sợ ảnh hưởng của Nga lan rộng khắp châu Âu, phe Hiệp ước với 4 nước chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp, Nhật quyết định hỗ trợ phong trào Bạch Vệ.
Thế chiến 1 khi đó đang dần đi đến hồi kết nên các nước đồng minh có thêm nguồn lực để tập trung giải quyết mâu thuẫn với Nga.
Trận thảm bại ít người biết của quân Mỹ trên đất Nga - 2
Lính Mỹ hành quân ở Vladivostok, Nga.
Tháng 8.1918, một trung đoàn bộ binh Anh đổ bộ lên Arkhangelsk ở phía bắc nước Nga, chiếm thành phố này, làm bàn đạp để mở rộng các chiến dịch quân sự.
Mỹ cũng đưa khoảng 10.000 lính thuộc “Đội viễn chinh Gấu Bắc Cực” đến đóng quân tại Murmansk, Arkhangelsk và Vladivostok.
Mục tiêu của "Đội viễn chinh Gấu Bắc Cực" Mỹ là hội quân với quân đoàn Tiệp Khắc 40.000 người đang kiểm soát tuyến đường sắt xuyên Siberia. Trong khi đó, hai trung đoàn Mỹ đóng quân thường trực ở Vladivostok.
Andrei I. Krushanov, một học giả người Nga nói Mỹ đã đem đến đây 800.000 khẩu súng và các vũ khí khác, cùng hàng triệu quân trang cho lực lượng phiến quân chống chính quyền Bolshevik.
Nhắc đến nhiệm vụ tham chiến ở Nga, Thiếu tướng William S. Graves, chỉ huy lực lượng viễn chinh Mỹ từng nói: “Tôi phải thừa nhận là mình không hiểu giới lãnh đạo Mỹ mong muốn điều gì khi can thiệp quân sự vào Nga”.
Tướng Graves ám chỉ chiến dịch quân sự ở Nga do Tổng thống Mỹ khi đó là Woodrow Wilson phát động.
Tại mặt trận phía bắc, đợt tiến công vào mùa thu của liên quân Anh-Mỹ trước Hồng quân ở Siberia khởi đầu với những chiến thắng vang đội. Cuộc chiến diễn ra trên hai mặt trận dọc sông Dvina và đường sắt Vologda khiến Hồng quân bị đẩy lùi.
Nhưng đội quân của chính quyền Bolshevik nhanh chóng củng cố lực lượng, chuyển sang chiến thuật đánh du kích, khiến quân Mỹ khó giữ vững được chiến tuyến.
Trận thảm bại ít người biết của quân Mỹ trên đất Nga - 3
Không chịu nổi giá lạnh, Mỹ đã rút quân khỏi Nga vào năm 1920.
Địa hình đồng bằng rộng lớn của Nga khác xa với chiến tranh chiến hào mà quân đồng minh vốn quen thuộc ở châu Âu.
Mùa đông khắc nghiệt đến cũng là lúc mà liên quân Mỹ-Anh bị đẩy vào thế phòng thủ, trong khi gần như không thể kết nối được với quân đoàn Tiệp Khắc.
Trong khi đó, Hồng quân tiếp tục phát động tiến công trong những tháng đầu mùa đông ở mặt trận sông Dvina, buộc liên quân Mỹ-Anh phải rút lui, củng cố lại lực lượng.
Vào thời điểm đó, tin tức về Thế chiến 1 kết thúc, Đức đầu hàng đồng minh lan rộng khiến các binh sĩ thuộc “Đội viễn chinh Gấu Bắc Cực” Mỹ cảm thấy nhớ nhà.
Trước tình trạng thương vong ngày càng lớn, tâm lý nổi loạn trong lực lượng viễn chinh bắt đầu diễn ra khi binh sĩ yêu cầu được trở về Mỹ. Cảng Arkhangelsk bị đóng băng trong những tháng mùa đông đầu năm 1919, khiến hầu hết lính Mỹ thuộc rơi vào cảnh tuyệt vọng.
Tháng 5.1919, Anh triển khai 4.000 quân tình nguyện giải nguy cho quân Mỹ ở Arkhangelsk. Lực lượng Mỹ được sơ tán cùng hầu hết quân đồng minh đồn trú ở miền bắc nước Nga. Binh sĩ Mỹ đóng quân tại Vladivostok và Murmansk cũng rời đi sau đó một năm.
Bản báo cáo tháng 10.1919 ghi nhận 210 lính Mỹ thương vong, bao gồm 110 người chết, 30 người mất tích và những người khác chết vì bệnh tật trong cuộc đối đầu duy nhất với Hồng quân Liên Xô ở vùng Sibera lạnh giá.
Trận thua đau của Mỹ trước quân Triều Tiên
Trong những ngày đầu của cuộc Chiến tranh Triều Tiên, đơn vị quân đội Mỹ được giao nhiệm vụ chặn bước tiến của...
Theo Đăng Nguyễn - War History Online (Dân Việt)

Trận đánh "nướng" gần 35.000 mạng người giữa Đức và Mỹ

Thứ Bảy, ngày 05/11/2016 00:30 AM (GMT+7)

Hơn 1 triệu quân tham chiến của cả hai phe Mỹ và phát xít Đức, 200.000 người thương vong đánh dấu một trong những trận chiến có thương vong lớn nhất trong Thế chiến 2.

Chia sẻ trên Fanpage Chia sẻ bài viết này trên trên Facebook Chia sẻ bài viết này trên trên G+
Trận đánh "nướng" gần 35.000 mạng người giữa Đức và Mỹ - 1
Xe tăng Đức tấn công cùng với sự yểm trợ  của máy bay ném bom (Ảnh minh họa)
Tuyệt vọng trước viễn cảnh thua cuộc trong Thế chiến 2, trùm phát xít Đức Adolf Hitler mở cuộc tấn công cuối cùng, gây sức ép để Mỹ và Anh phải ký hiệp định hòa bình riêng rẽ.
Kế hoạch táo bạo
Mùa thu năm 1944, cục diện chiến trường ở mặt trận phía tây phe phát xít Đức chuyển biến theo hướng bất lợi. Từ phía nam, phe Đồng minh tiến sát đến Italy. Từ phía đông, Liên Xô chiến thắng trong cuộc chiến tiêu hao và giờ chuyển sang thế tấn công.
Ở phía tây, cuộc đổ bộ D-Day hồi giữa năm 1944 lên bờ biển Normandie, đã mở mặt trận thứ ba với hàng trăm nghìn binh sĩ phe Đồng minh rầm rộ tiến quân hướng đến Rhine. Thời điểm đó, quân Đức cầm cự giữ được một cầu lớn phía tây sông Rhine.
Mặt trận thứ ba là nơi mà Hitler nhìn thấy hy vọng. Sự thù hận với Liên Xô khiến cho Hitler nghĩ rằng, nếu tấn công chớp nhoáng thành công, phe Đồng minh thậm chí còn có thể thay đổi quan điểm và đứng về phía Đức quốc xã.
Ngày 16.9, Hitler điều tổng cộng 450.000 quân, 1.500 xe tăng, xe chống tăng, 4.224 xe pháo rầm rộ tiến quân qua Ardennes để đánh chiếm cảng Antwerp, miền bắc nước Bỉ. Nếu thành công, phát xít Đức có thể chia cắt quân Anh và Mỹ trong khu vực, khiến Đồng minh mất một cảng hậu cần, tiếp tế cực kỳ quan trọng.
Chiến dịch được lên kế hoạch hoàn toàn bí mật. Thống chế Gerd Von Rundstedt, chỉ huy lực lượng Đức ở phía tây thậm chí còn tỏ ra sợ hãi với kế hoạch này. Von Rundstedt cho rằng, quân Đức quá mỏng trong khi kế hoạch quá tham vọng và vô nghĩa.
Trận đánh "nướng" gần 35.000 mạng người giữa Đức và Mỹ - 2
Hitler và các tướng lĩnh vạch chiến lược tấn công.
Hitler không quan tâm đến cảnh báo của Von Rundstedt bởi những thành công mà trùm phát xít gây dựng được đều phải đến từ kế hoạch tấn công mạo hiểm, chớp nhoáng.
Chiến dịch tấn công cuối cùng của Hitler
5 giờ 35 phút sáng ngày 16.12.1944, chiến dịch Herbstnebel bắt đầu. 2.000 khẩu súng đồng loạt nã đạn vào phòng tuyến quân Đồng minh. 1.420 xe tăng tấn công cùng với sự yểm trợ trên không của 1.000 máy bay ném bom.
Von Rundstedt tóm lược lại tình hình chiến sự bằng lời phát biểu trước các binh sĩ: “Quãng thời gian vĩ đại đã đến… Chúng ta đánh cược với tất cả”. Đây là cuộc tấn công táo bạo nhưng nó huy động toàn bộ lực lượng ở mặt trận phía tây. Nếu thất bại, quân Đức sẽ phải đối mặt với thảm họa rút quân.
Kế hoạch tập trung vào đợt tiến công của hai đơn vị xe tăng Panzer dọc theo mặt trận dài 144 km.
Quân Đức cũng chiêu mộ binh sĩ biết nói tiếng Anh, mặc trang phục, dùng vũ khí lính Mỹ để tấn công từ phía sau phòng tuyến phe Đồng minh. Chỉ huy bởi Đại tá Otto Skorzeny, đơn vị này được kỳ vọng sẽ khiến cho quân Đồng minh rơi vào hỗn loạn, tấn công lẫn nhau. Đích thân Hitler chỉ huy toàn cảnh cuộc tấn công.
Vận may trong trận đánh này thuộc về quân Đức. Lính Mỹ sau một quãng đường dài di chuyển không ngờ rằng phát xít Đức lại tấn công từ Ardennes. Lực lượng Mỹ đóng vai trò phòng thủ cũng không phải là đơn vị tinh nhuệ. Thời tiết xấu cũng khiến cho phe Đồng minh mất đi sự yểm trợ quan trọng trên không.
Trận đánh "nướng" gần 35.000 mạng người giữa Đức và Mỹ - 3
Lính Mỹ phòng thủ trong chiến hào tại rừng Ardennes.
Tiến sâu 80 km qua phòng tuyến quân Đồng minh, phát xít Đức nhanh chóng giành được thành công đầu tiên, đặc biệt là đơn vị xe tăng Panzer. Nhóm binh sĩ trà trộn của Skorzeny lại không may mắn như vậy, không ai tin đó là những người Mỹ. Đa số lính Đức cải trang đều bị bắn chết vì hoạt động gián điệp.
Bước tiến của phát xít Đức không duy trì được lâu sau những thất bại ở Nga và trên biển. Quân Đức không có nhiều nhiên liệu dự trữ và phải tăng cường thu thập từ các phương tiện di chuyển mà quân Đồng minh bỏ lại. Thiếu nhiên liệu cũng khiến cho đơn vị xe tăng Panzer tiếp tục tận dụng sức mạnh chênh lệch.
Thời tiết tốt hơn từ ngày 17.12 cũng tạo cơ hội để phe Đồng minh phản công, cắt đứt đường tiến công của quân Đức tới thị trấn Bastogne.
Trận đánh lớn nhất của Mỹ
Ngày 19.12, phe Đồng minh do tướng Dwight D. Eisenhower chỉ huy nhận thấy sức tấn công của quân Đức đã giảm sút đáng kể và đây là thời cơ cho phe Đồng minh. Đơn vị xe tăng Panzer chiếm St Vitth nhưng đà tấn công cũng tiêu tan kể từ đó.
Với hai phe, không nơi nào quan trọng hơn St Vitth và Bastogne, mọi con đường lớn giao nhau giữa hai thị trấn nhỏ ở Bỉ.
Ngày hôm sau, Von Rundstedt đề nghị được rút quân nhưng Hitler từ chối. Vào dịp Giáng sinh, quân Đồng minh đè bẹp đơn vị xe tăng Panzer và thị trấn Bastogne giải phóng trong ngày lễ tặng quà. Cuối cùng, Hitler phải ra lệnh rút quân sau khi lực lượng bị đẩy khỏi vùng Ardennes.
Trận đánh "nướng" gần 35.000 mạng người giữa Đức và Mỹ - 4
Xe tăng M4 Sherman Mỹ băng qua rừng Ardennes.
Lần lượt các binh sĩ rút lui dần về Berlin một cách có trật tự, chiến dịch tấn công của phát xít Đức phá sản.
Kết thúc trận đánh ở Ardennes, Mỹ thiệt hại tới 19.000 binh sĩ. Đây là con số thương vong nặng nề nhất mà quân Mỹ phải hứng chịu trong một trận đánh trong Thế chiến 2. Dù vậy, phe Đồng minh đã bảo vệ thành công phòng tuyến quan trọng trước quân Đức.
Đức tổn thất 15.652 lính, và lực lượng tăng thiết giáp của họ hứng chịu tổn thất nặng nề không thể khôi phục được. Sau thất bại, quân Đức không còn khả năng phát động tấn công ở mặt trận phía Tây dù phe Đồng minh cần thêm 6 tuần để củng cố lực lượng trước khi hướng đến Berlin.
Tính cả số người bị thương, con số thương vong của Mỹ là 89.500 người và phe Đức là khoảng 120.000 người.
"Đây là trận đánh lớn nhất, được xem như chiến thắng nổi tiếng nhất của Mỹ trong Thế chiến 2", cựu thủ tướng Anh Winston Churchill nói.
Theo Đăng Nguyễn - War History Online (Dân Việt)

Trận hải chiến đánh chìm chiến hạm “khủng” nhất của Đức

Thứ Bảy, ngày 24/12/2016 19:00 PM (GMT+7)

Hải quân Anh đã phải huy động 6 thiết giáp hạm, hàng chục tàu tuần dương, tàu khu trục cùng số lượng đông đảo máy bay ném ngư lôi mới có thể nhấn chìm gần 2.200 người trên chiến hạm mạnh nhất phát xít Đức.

Chia sẻ trên Fanpage Chia sẻ bài viết này trên trên Facebook Chia sẻ bài viết này trên trên G+
Trận hải chiến đánh chìm chiến hạm “khủng” nhất của Đức - 1
BIsmarck là niềm tự hào của hải quân phát xít Đức.
Theo National Interest, thiết giáp hạm Bismarck là niềm tự hào của hải quân phát xít Đức. Chế tạo từ năm 1936, chiến hạm này được hạ thủy vào tháng 4.1940. Bismarck và Tirpitz dài 250 mét, lượng giãn nước 50.000 tấn và là chiến hạm lớn nhất từng được nước Đức chế tạo.
Mặc dù có kích thước khổng lồ nhưng 12 nồi hơi giúp cho con tàu có thể di chuyển khá nhanh, tối đa 56 km/giờ. Giống như chiến hạm thời điểm đó, vũ khí chính của Bismarck chính là pháo cỡ nòng lớn. 8 nòng pháo 38 cm đặt trên 4 tháp pháo. Chiến hạm sử dụng đạn xuyên giáp 816 kg, tầm bắn tối đa 35 km.
Hải quân Đức trong Thế chiến 2 chỉ hoạt động với số lượng ít ỏi các tàu chiến, do đó khó có thể phong tỏa hải quân Anh. Nhiệm vụ chính của hải quân phát xít Đức chỉ nhằm hỗ trợ các chiến dịch đổ bộ và phá hủy các tàu vận tải đến Anh.
Ngày 18.5.1941, Bismarck và các tàu hộ tống, bao gồm tuần dương hạm hạng nặng Prinz Eugen mở đầu Chiến dịch Rheinübung, phá hủy các tàu Đồng minh ở phía Bắc Đại Tây Dương và “hất cẳng” người Anh ra khỏi cuộc chiến.
Sau 6 ngày ra khơi, Bismarck đụng độ với thiết giáp hạm Prince of Wales và tàu tuần dương hạng nặng HMS Hood của hải quân Anh ở phía tây nam Ailen. Phải hy sinh lớp giáp dày để đổi lấy tốc độ, HMS Hood gặp bất lợi trước tàu chiến Đức.
Trận hải chiến đánh chìm chiến hạm “khủng” nhất của Đức - 2
Sức mạnh của Bismarck luôn là nỗi khiếp sợ trên vùng biển châu Âu.
Trúng đạn pháo khiến cho khoang chứa đạn dược kích nổ, vụ nổ lớn khiến HMS Hood gãy làm đôi và chìm xuống biển. 1.418 thủy thủ Anh vĩnh viễn nằm lại cùng tàu tuần dương này.
Chiến thắng nhưng Bismarck cũng bị tàu Prince of Wales bắn trúng 3 phát đạn, khiến cho khoang chứa nhiên liệu bị rò rỉ, động cơ hơi nước gặp trục trặc còn tàu bị nghiêng 9 độ sang mạn trái.
Thuyền trưởng chiến hạm Bismarck lường trước khả năng hải quân Hoàng gia Anh sẽ phái hạm đội hùng hậu đến truy đuổi, từ chối cho chiến hạm chạy chậm lại để có thể sửa chữa thiệt hại.
Trên thực tế, ngay khi biết tin, hải quân Anh đã ra lệnh cho 6 thiết giáp hạm và tuần dương hạm hạng nặng, hai tàu sân bay, 13 tàu tuần dương, 21 tàu khu trục săn tìm Bismarck.  Nhiều tàu trong số này đều là “đồ cổ” từ Thế chiến 1 và do đó không thể bắt kịp tốc độ với chiến hạm Đức.
Mặc dù Bismarck có đủ sức mạnh đánh chìm bất cứ tàu chiến nào dám cản đường, vấn đề phòng không lại luôn là ác mộng với các chiến hạm lớn. Vị trí tàu chiến Đức bị lộ do tàu sân bay Anh điều các máy bay mang theo ngư lôi truy đuổi.
6 máy bay Fairey Fulmar và 9 máy bay Fairey Swordfish mang theo ngư lôi tấn công chiến hạm Đức nhưng chỉ có một ngư lôi đánh trúng mục tiêu. Vụ nổ lớn khiến cho niềm kiêu hãnh hải quân Đức chịu hư hại nhất định.
Trận hải chiến đánh chìm chiến hạm “khủng” nhất của Đức - 3
Bismarck chỉ hoạt động trong biên chế hải quân phát xít Đức vỏn vẹn hơn 1 năm.
Nhưng đáng chú ý nhất là Bismarck đã phải giảm tốc độ xuống còn khoảng 30 km/giờ để tránh ngư lôi của máy bay Anh. Dù sau đó, con tàu tăng tốc trở lại, các tàu Anh đã tận dụng  khoảnh khắc hiếm hoi để bắt kịp mục tiêu.
Cùng thời điểm, cơ quan tình báo Anh giải mã được thông điệp từ hải quân Đức và biết được Bismarck sẽ hướng đến Brest, thành phố của Pháp để sửa chữa. Một khi đến được Brest, không quân Đức sẽ huy động lượng lớn máy bay quần thảo trên bầu trời để bảo vệ.
Hải quân Anh biết được điều này và dùng tất cả các máy bay có thể để oanh tạc trước khi quá muộn. Đợt tấn công của các máy bay Swordfish một lần nữa đánh trúng thiết giáp hạm Đức, khiến cho bánh lái của Bismarck bị kẹt.
Chiếm hạm Đức chỉ có thể di chuyển vòng tròn ở phía Bắc Đại Tây Dương mà không thể hướng về Brest. Tình hình càng trở nên tồi tệ hơn khi các tàu khu trục Anh và Ba Lan liên tục rải thủy lôi, làm kiệt sức thủy thủ Đức.
Không thể sửa chữa bánh lái, thủy thủ trên tàu Bismarck gửi thông điệp: “Con tàu không thể điều khiển được nữa. Chúng tôi sẽ chiến đấu đến viên đạn cuối cùng”. Ngày 27.5.1941, thiết giáp hạm HMS Rodney và HMS King George V khai hỏa, bắn trúng tàu Đức nhiều lần.
Trận hải chiến đánh chìm chiến hạm “khủng” nhất của Đức - 4
Máy bay ném ngư lôi của hải quân Anh cất cánh từ tàu sân bay Ark Royal. 
Bismarck bắn trả nhưng việc không thể di chuyển thẳng hướng khiến cho con tàu gần như không thể bắn trúng mục tiêu. Chỉ sau 1 giờ 30 phút giao chiến, tháp pháo của chiến hạm Đức bị vô hiệu hóa hoàn toàn.
Con tàu với lượng giãn nước 50.000 tấn vẫn chưa có dấu hiệu bị chìm. Các tàu chiến Anh áp sát ở cự ly chỉ 2,4 km và nã toàn cơ số đạn có thể. Chỉ trong một buổi sáng, hai tàu chiến Anh đã nã tổng cộng 380 viên đạn cỡ 40 cm, 339 đạn pháo cỡ 35 cm cùng 2.156 viên đạn cỡ 14 cm và nhiều ngư lôi.
10 giờ 39 phút sáng ngày 27.5.1941, sau khi trúng thêm 2 loạt ngư lôi từ trên không và trên biển, Bismarck cuối cùng cũng bị đánh chìm. Trong số 2.200 sỹ quan và thủy thủ trên chiến hạm Bismarck, chỉ có 116 người sống sót.
Việc chiến hạm cỡ lớn như Bismarck bị đánh chìm là ví dụ rõ nhất do hoạt động kết hợp hải-không quân trước đối phương mạnh mẽ hơn nhiều lần. Không một tàu chiến hay máy bay Anh nào đủ sức đánh chìm Bismarck.
Nhưng một nhóm tác chiến bao gồm hàng chục máy bay, tàu chiến đảm bảo rằng niềm kiêu hãnh của phát xít Đức sẽ không bao giờ có thể chạy trốn đến được Pháp.
Theo Đăng Nguyễn - NI (Dân Việt)

Trận tử thủ vĩ đại của 39 lính dù trước phiến quân Afghanistan

Thứ Tư, ngày 25/01/2017 07:00 AM (GMT+7)

Đại đội lính dù Liên Xô được giao nhiệm vụ tử thủ, giữ chặt điểm chốt trước đợt tấn công dữ dội vào Cao điểm 3234 của phiến quân trên chiến trường Afghanistan.

Chia sẻ trên Fanpage Chia sẻ bài viết này trên trên Facebook Chia sẻ bài viết này trên trên G+
Trận tử thủ vĩ đại của 39 lính dù trước phiến quân Afghanistan - 1
Phiến quân Afghanistan luôn có sẵn trong tay hệ thống tên lửa vác vai Stinger đáng gờm.
Theo War History Online, trận đánh tại Cao điểm 3234 được coi là một trong những biểu tượng vinh quang nhất của quân Liên Xô tại Afghanistan. Trên điểm cao này, một đại đội lính dù Liên Xô đã kiên cường chống cự, đẩy lùi phiến quân Afhganistan với quân số đông hơn gấp nhiều lần.
Chiến dịch Magistral
Thành phố Khost đã trở thành điểm nóng giao tranh giữa lực lượng Liên Xô với nhóm phiến quân Hồi giáo cực đoan do Jalaluddin Haqqani cầm đầu trong suốt 8 năm. Trong giai đoạn cuối năm 1987, thành phố bị cô lập hoàn toàn, Hồng quân Liên Xô đồn trú tại đây chỉ có thể nhận tiếp tế qua đường hàng không.
Các cuộc đàm phán với thủ lĩnh Haqqani không đem lại kết quả. Haqqani muốn kiểm soát thành phố Khost để làm thủ phủ của quốc gia riêng mà hắn lập nên, cũng như làm căn cứ cho các trận đánh vào sâu trong lãnh thổ Afghanistan.
Trận tử thủ vĩ đại của 39 lính dù trước phiến quân Afghanistan - 2
Hình ảnh thành phố Khost năm 2010.
Cuối năm 1987, Tập đoàn quân số 40 Liên Xô dưới quyền tướng Boris Gromov khởi động chiến dịch Magistral. Chiến dịch được đề ra nhằm phá vỡ vòng vây quanh Khost, mở tuyến đường tiếp viện cho thành phố này.
Lực lượng Liên Xô tham gia gồm Sư đoàn Bộ binh cơ giới số 108 và 201, Sư đoàn Đổ bộ đường Không thuộc lực lượng Cận vệ số 103 và Lữ đoàn số 56. Họ được yểm trợ bởi 5 sư đoàn bộ binh và một sư đoàn tăng thiết giáp của chính phủ Afghanistan.
Thông tin tình báo cho biết phiến quân đóng giữ nhiều khu vực kiên cố trên tuyến đường cao tốc nối thành phố với thủ đô Kabul, trong đó có các bãi mìn dài 3 km, 10 bệ pháo phản lực phóng loạt BM-21, nhiều loại pháo cao xạ, súng chống tăng, pháo cối, khiến khu vực quanh Khost gần như bất khả xâm phạm.
Trận tử thủ vĩ đại của 39 lính dù trước phiến quân Afghanistan - 3
Trưc thăng vận tải IL-76 của Liên Xô nhận nhiệm vụ chở quân.
Lợi thế của phiến quân là việc sử dụng tên lửa vác vai Stinger, do CIA cung cấp, với hệ thống dẫn đường bằng hống ngoại. Loại vũ khí nhỏ gọn nhưng hiệu quả này khiến cho quân Liên Xô không thể gọi yểm trợ trên không.
Hồng quân hiểu rằng một cuộc tấn công trực diện sẽ là tự sát. Họ quyết định đánh lừa phiến quân để chúng lộ vị trí. Ngày 28.10.1987, một cuộc đổ bộ giả được thực hiện ở khu vực do phiến quân kiểm soát.
Chiếc Il-76 thả dù các hình nộm, khiến nhiều ổ hỏa lực của phiến quân khai hỏa tiêu diệt "lính dù Liên Xô". Ở tầm cao hơn là một máy bay trinh sát, âm thầm chụp ảnh và định vị mục tiêu. Thông tin này được gửi về cho lực lượng pháo binh Liên Xô gần đó nã đạn suốt 4 giờ đồng hồ.
Đây là bước đầu tiên trong Chiến dịch Magistral. Bộ chỉ huy tác chiến Liên Xô cũng cần một chiến thắng sau hàng loạt những thất bại trên chiến trường Afghanistan.
Trận đánh Cao điểm 3234
Trận tử thủ vĩ đại của 39 lính dù trước phiến quân Afghanistan - 4
Phiến quân Afghanistan.
Trong chiến dịch này, các chỉ huy Liên Xô muốn bảo vệ đoạn đường dài 100 km từ Gardez tới Khost hay còn gọi là “Đường cao tốc của Thần chết”.
Một trong những vị trí quan trọng nhất là ngọn đồi không tên có độ cao 3.234 m, được gọi là "Cao điểm 3234". Đại đội 9, Trung đoàn Đổ bộ đường không, thuộc lực lượng Cận vệ Độc lập số 345 được giao trọng trách trấn giữ điểm cao này.
Đơn vị với quân số 39 người, gồm những lính dù thiện chiến nhất, hiểu rõ chiến thuật của đối phương.
Đại đội do Đại tá Valery Vostrotin chỉ huy đổ bộ xuống đỉnh đồi ngày 7.1.1988 Nhiệm vụ của họ là xây dựng cứ điểm kiên cố để theo dõi và kiểm soát tuyến đường dài bên dưới, bảo đảm an toàn cho các đoàn xe hướng tới Khost.
Khu vực này nằm giữa lãnh thổ do Jalaluddin Haqqani kiểm soát với sự trợ giúp của cơ quan tình báo quân sự Pakistan.
Trận tử thủ vĩ đại của 39 lính dù trước phiến quân Afghanistan - 5
Cao điểm 3234, phía nam Afghanistan.
Vành đai phòng thủ vừa được thiết lập cũng là lúc phiến quân Afghanistan phát động cuộc tấn công đầu tiên. Đại đội 9 không được trang bị vũ khí hạng nặng, phải dựa vào yểm trợ pháo binh để đối mặt với nhiều loại hỏa lực mạnh của quân địch.
Phiến quân mở đợt tấn công bằng pháo kích dữ dội, tiếp sau đó là hai mũi tấn công bao gồm khoảng 250 tay súng. Một số nguồn tin nói, phiến quân điều tới khu vực 500 lính thiện chiến.
Trên chiến hào, trung úy Viktor Gagarin, chỉ huy Trung đội 1 đóng vai trò quan sát vị trí kẻ địch để gọi pháo binh yểm trợ.
Phiến quân tấn công điểm cao 3234 bằng chiến thuật rất bài bản, chứng tỏ chúng là đơn vị lính có tổ chức, được huấn luyện kỹ càng. Chúng tổ chức tấn công theo từng lượt, mỗi khi bị đánh bật xuống, phiến quân tổ chức lại đội hình, phát động cuộc xung phong tiếp theo.
Trong suốt quãng thời gian giao tranh, lực lượng lính dù Liên Xô luôn giữ tín hiệu liên lạc với trung tâm chỉ huy. Họ nhận được mọi sự hỗ trợ cần thiết như pháo kích, tiếp tế đạn dược và sơ tán người bị thương bằng trực thăng.
Trận tử thủ vĩ đại của 39 lính dù trước phiến quân Afghanistan - 6
Lính đặc nhiệm Spetsnaz chuẩn bị cho nhiệm vụ ở Afghanistan.
Đại đội 9 đã đánh bật tổng cộng 12 đợt tấn công của đối phương. Trong những đợt tấn công cuối cùng, đại đội 9 rơi vào tình trạng thiếu thốn đạn dược trầm trọng. Quân địch tiếp cận quá gần trong đêm nên giao tranh biến thành những cuộc cận chiến bằng dao găm, lưỡi lê và mọi thứ người lính có thể tìm thấy xung quanh.
Trận đánh kết thúc trước bình minh ngày hôm sau, khi phiến quân rút lui vì thương vong nặng nề. Hầu hết những người lính dù Liên Xô đều kiệt sức. Trong tay mỗi người không còn đủ 30 viên đạn tiêu chuẩn, đạn súng ngắn và lựu đạn đều hết sạch. Những người lính dù sau này kê lại rằng, nếu như phiến quân tiếp tục tấn công thì có lẽ cả đại đội sẽ không còn có thể trụ vững.
Liên Xô kiểm soát cao điểm này cho đến khi toàn xe tiếp tế cuối cùng đi qua con đường phía bên dưới.
Kết thúc trận chiến, đại đội lính dù Liên Xô tổn thất 6 người, 28 người khác bị thương trong tổng số 39 thành viên. Tất cả binh sĩ của Đại đội 9 đều được tặng thưởng Huân chương Cờ đỏ và Huân chương Sao đỏ. Hai người thiệt mạng được truy tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô vì sự dũng cảm và hy sinh trong khi chiến đấu.
Phía Liên Xô ước tính có khoảng 200 phiến quân bị tiêu diệt, trong đó có nhiều xác tay súng mặc trang phục rằn ri đen - đỏ - vàng, màu đặc trưng của lính đặc nhiệm Pakistan.
Liên Xô đưa các bằng chứng này ra trước Liên Hiệp Quốc để phản đối sự can thiệp của Pakistan, nhưng lời cáo buộc bị làm ngơ.
Quan hệ Liên Xô-Pakistan vốn đã căng thẳng khi chiến tranh Afghanistan nổ ra, đạt đến mức thấp nhất trong lịch sử sau trận đánh tại Cao điểm 3234.
Theo Đăng Nguyễn - War History Online (Dân Việt)

Trận đánh 1,9 triệu người chết khủng khiếp nhất lịch sử thế giới

Chủ Nhật, ngày 29/10/2017 10:30 AM (GMT+7)

Trận đánh quyết định ở Stalingrad khiến 1,9 triệu người thiệt mạng trong Thế chiến 2 cho đến nay được ghi nhận là “địa ngục trần gian”, nơi người lính bằng mọi giá phải đấu tranh để sinh tồn.

Chia sẻ trên Fanpage Chia sẻ bài viết này trên trên Facebook Chia sẻ bài viết này trên trên G+
Trận đánh 1,9 triệu người chết khủng khiếp nhất lịch sử thế giới - 1
Ảnh minh họa.
Theo National Interest, kể từ tháng 7.2012, thế giới phải chứng kiến đất nước Syria, với những thành phố Aleppo, Raqqa chìm trong đống đổ nát vì chiến tranh. Con số người chết trong cuộc nội chiến Syria tính đến năm 2016 ước tính lên tới 300.000 người.
Trong chiến tranh Iraq kéo dài từ năm 2003-2011, một thống kê cho biết có 405.000 người Iraq thiệt mạng do giao tranh. Kể từ khi Mỹ can thiệp vào Afghanistan giai đoạn năm 2001-2015, ước tính 91.991 người mất mạng.
Tỉnh tổng cả 3 quốc gia này trong giai đoạn 15 năm, con số người chết vì chiến tranh là 796.991.
Nhưng những thống kê trên vẫn còn khá khiêm tốn so với trận Stalingrad, trận đánh đẫm máu và tồi tệ nhất lịch sử nhân loại với 1,9 triệu binh sĩ Đức, Liên Xô và dân thường thiệt mạng chỉ trong 6 tháng.
Tháng 6.1941, trùm phát xít Adolf Hitler bất ngờ ra lệnh xâm lược Liên Xô. Trong vòng một năm sau, đội quân Đức chiếm một khu vực rộng lớn hàng ngàn km2. Tất cả những gì quân Đức cần khi đó chỉ là thành phố Stalingrad để làm bàn đạp.
Dân số Stalingrad trước chiến tranh vào khoảng 400.000 người. Đây là thành phố chiến lược với cảng biển và nhiều khu công nghiệp quan trọng.
Trận đánh 1,9 triệu người chết khủng khiếp nhất lịch sử thế giới - 2
Quân Đức chiến đấu trong trận Stalingrad.
Lãnh tụ Liên Xô Stalin khi đó chủ trương bảo vệ Stalingrad bằng mọi giá còn Hitler cũng sẵn sàng đổ 1 triệu người vào trận đánh lịch sử này.
Ban đầu, quân Đức đạt bước tiến nhanh chóng, chiếm nhiều khu vực bên trong Stalingrad. Đến tháng 11, quân Đức đẩy phòng tuyến Liên Xô về phía bờ sông Volga. Cả hai bên đều ghi nhận con số thương vong hàng trăm ngàn người.
Nhưng đó chỉ mới là sự bắt đầu của trận đánh đẫm máu nhất lịch sử thế giới hiện đại. Đúng và sai, đạo lý và danh dự của những người lính đều được gác lại cho một lý do duy nhất, chiến đấu vì sự sống còn.
Năm 2001, bộ phim Hollywood mang tên “Enemy at the Gates” phác họa cảnh đối đầu giữa hai lính bắn tỉa Liên Xô và Đức. Đây được coi là vũ khí đáng sợ nhất của cả 2 phe. Bởi nó có thể cướp đi sinh mạng người khác từ xa, khiến không một ai cảm thấy an toàn.
Một lính bắn tỉa Liên Xô, tên Anatoly Chechov kể lại lần đầu tiên cướp đi mạng sống của người khác: “Tôi cảm thấy tồi tệ. Tôi  đã giết người. Nhưng sau khi nhận ra quân Đức đã tàn sát nhiều người khác, tôi chỉ còn biết xả đạn không ngừng vào họ”.
Đây là những lời nói của Chechov ngay tại chiến trường đẫm máu này, phác họa phần nào cảnh tượng “địa ngục trần gian” ở Stalingrad.
Trong bối cảnh Hồng quân Liên Xô đứng trước khả năng thua trận, không thể phòng ngự được cho đến đêm, tướng lĩnh Liên Xô Alexander Rodimtsev đưa ra quyết định can đảm.
Trận đánh 1,9 triệu người chết khủng khiếp nhất lịch sử thế giới - 3
Giao tranh ở Stalingrad diễn ra trên từng ngôi nhà, con phố.
Tướng Rodimtsev dẫn đội quân do mình chỉ huy vượt sông, bất chấp máy bay Đức quần thảo trên bầu trời. Một nhân chứng cho biết, chiếc thuyền chở tướng Rodimtsev và bị trúng bom Đức trước khi cập bờ, khiến hầu hết binh lính thiệt mạng.
Bản thân Rodimtsev bằng một cách nào đó đã sống sót. Nhưng những người đồng đội thì lại không may mắn như vậy.
Albert Burkovski, một trong những người lính Liên Xô làm nhiệm vụ cố thủ bên kia sông, mô tả lại cảnh tượng thảm khốc đối với quân đoàn số 13. “Họ cố gắng vượt sông, xác người chết rải rác khắp nơi. Những con thuyền chở binh sĩ, đạn dược, súng máy nổ tung ngay trước mắt tôi”.
Quân Đức khi đó chiếm ưu thế ở bên kia sông nhờ các cao điểm, liên tục xả đạn súng máy không ngừng về phía Hồng quân Liên Xô. “Tưởng chừng như đợt phản công của Liên Xô là tự sát nhưng họ đã thành công”, Michael Jones, tác giả cuốn sách viết về trận đánh Stalingrad nói.
Quân đoàn 13 do tướng Rodimtsev chỉ huy cận chiến với quân Đức, đánh chiếm các tòa nhà quan trọng và làm chủ khu vực bờ bên kia sông.
Cảnh tượng ở bên kia chiến tuyến còn khốc liệt hơn. Theo trang WW2History., một người sống sót tên Helmut Walz mô tả lại cảnh chiến đấu trên từng con phố, căn nhà ở Stalingrad.
Bất ngờ, Walz đụng độ với binh sĩ Liên Xô, hứng trọn đòn đánh trời giáng vào mặt, khiến máu trào ra từ miệng. Walz chợt nghĩ đó là dấu chấm hết nhưng một đồng đội lao đến trợ giúp, không ngừng lấy báng súng đánh vào đầu người lính Liên Xô.
Trận đánh 1,9 triệu người chết khủng khiếp nhất lịch sử thế giới - 4
Xác quân Đức nằm la liệt ở Stalingrad.
Cảnh tượng kinh hoàng đó chưa chấm dứt, khi Walz đang được đồng đội băng bó, một người lính Liên Xô khác tiến đến bắn thẳng vào đầu đồng đội của Walz từ phía sau. Walz kể rằng đó là lần đầu tiên nhìn thấy đầu người vỡ làm đôi còn não bộ rơi ra ngoài.
Những cảnh tượng mà người lính Liên Xô thuộc quân đoàn 13 phải trải qua và Helmut Walz ở bên kia chiến tuyến đã lặp đi lặp lại nhiều lần trong suốt 6 tháng giao tranh đẫm máu.
Chiến sự cuối cùng cũng kết thúc vào tháng 2.1943, khi tập đoàn quân số 6 của Đức Quốc xã, do tướng Friedrich Paulus chỉ huy ra hàng. Quân Đức từ hàng triệu người, nay chỉ còn 90.000 lính.
Thất bại trên sông Volga đánh dấu bước ngoặt trên chiến trường, khiến quân Đức không ngừng thua trận và thất bại ngay tại thủ đô Berlin hai năm sau đó, cùng với cái chết của trùm phát xít Hitler.
Trong số 90.000 tù binh Đức, chỉ có khoảng 6.000 người là còn có thể quay trở về quê nhà, trong giai đoạn những năm 1950.
Có thể nói, 1,9 triệu người chết, với những trải nghiệm kinh hoàng, cận chiến trong những tháng ngày mùa đông rét thấu xương ở Liên Xô đưa Stalingrad trở thành nơi diễn ra trận đánh tồi tệ nhất lịch sử thế giới.
Đại chiến xe tăng thảm khốc nhất lịch sử chiến tranh
Với hơn 1.500 xe tăng lao vào nhau bắn giết tơi bời trong vùng đất chật hẹp, trận chiến vòng cung Kursk cho đến nay được...
Theo Đăng Nguyễn - NI (Dân Việt)

Chiếc xe tăng khiến Liên Xô suýt giáng đòn hạt nhân vào TQ

Thứ Ba, ngày 31/10/2017 00:30 AM (GMT+7)

Xung đột biên giới Liên Xô-Trung Quốc từng khiến Mocsow huy động khí tài quân sự mạnh nhất, cùng lời đe dọa dùng vũ khí hạt nhân.

XEM THÊM CÁC KỲ: Kỳ đầu tiênKỳ trước ... 19 20 21 22[23]
Chia sẻ trên Fanpage Chia sẻ bài viết này trên trên Facebook Chia sẻ bài viết này trên trên G+
Chiếc xe tăng khiến Liên Xô suýt giáng đòn hạt nhân vào TQ - 1
Xe tăng chiến đấu chủ lực T-62.
Theo National Interest, để chiếm lại đảo Trân Bảo rơi vào tay Trung Quốc, Liên Xô ngày 15.3.1969, mở cuộc phản công quy mô với sự xuất hiện của 4 xe tăng chiến đấu chủ lực T-62.
Đợt tấn công Liên Xô đáp trả TQ chiếm đảo
Đây là khí tài mới nhất và vẫn được Moscow giữ bí mật quân sự vào thời điểm đó. Tuy nhiên khi vượt qua khúc sông hẹp bị đóng băng nối liền với đảo Trân Bảo, một chiếc T-62 trúng phải mìn, đứt xích bị loại khỏi vòng chiến đấu. Ba chiếc còn lại rút về phía Liên Xô không lâu sau đó.
Lính Trung Quốc ném lựu đạn vào xe tăng, khiến toàn bộ kíp lái thiệt mạng. Lính Trung Quốc sau đó nhận lệnh kéo chiếc xe tăng tối tân này về phòng tuyến nhưng không thành công vì hỏa lực bắn tỉa từ bên kia chiến tuyến.
Ngày hôm sau, binh sĩ Liên Xô quay trở lại để thu thập xác người tử nạn sau khi nhận được phản hồi chấp thuận từ phía Trung Quốc. Nhưng khi họ tìm cách kéo chiếc xe tăng về thì Trung Quốc lại nã pháo dồn dập.
Gần một tuần sau khi chiếc xe tăng nằm lại, đội công binh Liên Xô được lệnh tiếp cận để biến chiếc T-62 thành đống sắt vụn, nhưng chịu nhiều thương vong và phải rút lui.
Ngày 28.3.1969, đến lượt phía Trung Quốc đưa lực lượng đến kéo xác xe tăng về phía mình. Công binh Trung Quốc tháo dỡ từng phần của xe tăng trong khi lính bắn tỉa cùng pháo binh tung hỏa lực yểm trợ.
Vài ngày sau đó, khối băng bao quanh xe tăng bắt đầu tan chảy, dẫn đến việc Liên Xô nã đạn vào xung quanh, nhấn chìm những gì còn lại của xe tăng T-62 tối tân.
Chiếc xe tăng khiến Liên Xô suýt giáng đòn hạt nhân vào TQ - 2
Lính Trung Quốc ngồi trên xác xe tăng T-62 của Liên Xô.
Tuy nhiên, sau khi Liên Xô rút đi, quân Trung Quốc vẫn không bỏ cuộc khi cố gắng trục vớt xe tăng bằng các thiết bị thô sơ. Nhiều người đã chết cóng vì ở dưới nước đóng băng quá lâu.
Đến ngày 29.4, Trung Quốc mới kéo được chiếc T-62 lên khỏi mặt nước và chuyển tới nhà máy chế tạo xe tăng. Giữa tháng 5, một người Trung Quốc mang theo thuốc nổ bí mật tiếp cận nhà máy chế tạo xe tăng ở Lyshuen nhưng chưa kịp cài bom thì bị bắt giữ.
Người này thừa nhận làm việc cho Liên Xô với ý định biến khu nhà máy và cả chiếc T-62 chìm trong biển lửa.
Nguy cơ chiến tranh hạt nhân
Một chiếc xe tăng T-62 không giúp làm thay đổi vị thế của Trung Quốc ở thời điểm đó. Trái lại, nhà lãnh đạo Trung Quốc Mao Trạch Đông nhận ra Liên Xô nghiêm túc đến mức nào trong cuộc tranh chấp chủ quyền biên giới.
Để trả đũa cuộc xung đột trên đảo Trân Bảo cũng như việc Trung Quốc đánh cắp chiếc xe tăng T-62, ban lãnh đạo Liên Xô khi đó đã lên kế hoạch dùng đến vũ khí hạt nhân.
Chuyên gia quân sự Kyle Mizokami của tờ National Interest cho biết, Liên Xô khi đó có hai lựa chọn. Một là dùng đơn vị cơ giới đánh thẳng vào Mãn Châu, kết hợp với việc sử dụng vũ khí hạt nhân hạn chế nhằm vào các cơ sở nghiên cứu và lực lượng hạt nhân Trung Quốc.
Ước tính Liên Xô cần tới 750.000 quân, lực lượng tăng thiết giáp, không quân và cả vũ khí hạt nhân chiến lược để hoàn thành mục tiêu này.
Lựa chọn thứ hai là chỉ sử dụng vũ khí hạt nhân để vô hiệu hóa năng lực hạt nhân của Trung Quốc cũng như tấn công thủ đô Bắc Kinh và nơi tập trung giới lãnh đạo Trung Quốc.
Chiếc xe tăng khiến Liên Xô suýt giáng đòn hạt nhân vào TQ - 3
Binh sĩ Liên Xô xô xát với lính Trung Quốc ở biên giới.
Năm 1964, Trung Quốc lần đầu tiên thử bom hạt nhân và nếu Liên Xô càng kéo dài thời gian, Bắc Kinh càng có thời gian gắn vũ khí hạt nhân vào đầu đạn tên lửa.
Các chuyên gia nhận định, một tên lửa đạn đạo liên lục địa SS-8 của Liên Xô, trang bị đầu đạn nhiệt hạch 2,3 megaton được cho là đủ để xóa sổ thành phố và một nửa số dân 7,6 triệu người.
Sau khi suy tính kỹ, lãnh đạo Liên Xô tỏ ra thận trọng, họ hiểu rằng không thể tấn công hạt nhân Trung Quốc mà không phải trả giá. Leo thang chiến tranh với Trung Quốc sẽ làm suy yếu lực lượng Liên Xô đóng quân ở châu Âu.
Ngược lại, nhà lãnh đạo Trung Quốc Mao Trạch Đông tin rằng lãnh thổ rộng lớn và quân số đông đảo đủ sức bảo vệ đất nước trước mọi đòn tấn công hạt nhân từ quốc gia láng giềng.
Có thể nói, sự xuất hiện của chiếc xe tăng T-62 cùng lời dọa giáng đòn hạt nhân khiến Trung Quốc ngừng xung đột biên giới. Nhưng lại mở ra cơ hội để Bắc Kinh tăng cường hợp tác với Washington.
Hai năm sau đó, Mỹ bí mật đưa Henry Kissinger đến Trung Quốc gặp Thủ tướng Chu Ân Lai, dọn đường cho chuyến thăm của Tổng Thống Richard Nixon năm 1972.
Về hòn đảo tranh chấp Trân Bảo, năm 1991, Liên Xô đã ký quyết định trao trả lại cho Trung Quốc. Mãi đến năm 2003, Nga và Trung Quốc mới hoàn thành việc phân định biên giới.
_____________________
Sau cuộc đụng độ trên đảo Trân Bảo/Damansky, Liên Xô và Trung Quốc còn giao tranh ở một khu vực khác và đây cũng là lần cuối cùng Trung Quốc leo thang xung đột ở biên giới phía bắc. Bài viết kỳ tới sẽ nhìn lại cuộc đụng độ ít người biết đến này.
Trận TQ đánh úp chiếm đảo khiến Liên Xô không kịp trở tay
Căng thẳng Liên Xô-Trung Quốc trong những năm 1960 dẫn đến cuộc xung đột biên giới, tranh chấp ở hòn đảo Trân Bảo/Damansky...
Theo Đăng Nguyễn - Tổng hợp (Dân Việt)

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32