CÁC BẬC NHÂN TÀI KHOA HỌC 30
(ĐC sưu tầm trên NET)
-88: Immanuel Kant

1724-1804
Đức
Triết Lý, địa Lý
-89:Aristarchus of Samos
-310-230
Hy Lạp
Vật Lý, Thiên Văn Học

Những tính toán của Aristarchus về kích thước so sánh của Trái Đất, Mặt Trời và Mặt Trăng ở thế kỷ thứ 2 TCN
Mô hình nhật tâm của Aristarchus được Archimedes đề cập tới trong cuốn Người đếm cát. Mục đích của cuốn sách này là chứng minh rằng những con số cực lớn, thậm chí số lượng những hạt cát đủ để lấp đầy vũ trụ, cũng có thể được thể hiện bằng toán học và không nên biểu diễn chúng một cách ước lượng là "vô vàn". Ông đã lấy mô hình vũ trụ rộng lớn nhất từng có, mô hình vũ trụ Aristarchus, để tính toán số lượng cát cần thiết đổ đầy vào đó. Chỉ ra rằng về mặt toán học, sẽ không có ý nghĩa gì khi nói về một tỷ lệ giữa bề mặt của một mặt cầu và tâm của nó, bởi vì nó không có độ rộng lớn, Archimedes kết luận rằng khoảng cách giữa các định tinh có cùng quan hệ với bán kính của quỹ đạo Trái Đất bởi vì quỹ đạo đó cũng có quan hệ với chính Trái Đất. Theo những điều kiện đó, chúng ta có thể chứng minh rằng thị sai sao đã vượt quá khả năng quan sát để phát hiện thấy của thời kỳ đó, đúng như thực tế. [1] Tuy nhiên, không có dấu hiệu cho thấy cả Aristarchus hay Archimedes đã thực sự tranh luận vấn đề thị sai sao và coi đó là cách để xác định việc liệu Trái Đất có thực sự chuyển động không.
Tuy nhiên, cùng với thời gian, Nhà thờ Công giáo bắt đầu tỏ thái độ cứng rắn hơn trong việc bảo vệ quan điểm địa tâm. Giáo hoàng Urban VIII, người từng đồng ý cho Galileo xuất bản một cuốn sách về hai lý thuyết thế giới, đã trở thành thù địch với Galileo; có ý kiến cho rằng Giáo hoàng nghĩ Galileo đã nhạo báng ông trong cuốn Đối thoại về hai hệ thống chính của thế giới, dù không có nhiều bằng chứng về điều đó. (Nhân vật đại diện cho các quan điểm truyền thống trong cuộc đối thoại được đặt tên là "Simplicio", theo tên nhà triết học cổ điển Simplicius, người thời ấy được những tín đồ chủ nghĩa Plato mới kính trọng.) Cuối cùng, Nhà thờ Cơ đốc trở thành phái đối chọi chủ chốt của quan điểm nhật tâm.
Hệ thống được ưa chuộng là hệ Ptolemy, trong đó Trái Đất nằm ở trung tâm vũ trụ và mọi thiên thể đều quay quanh nó. (Không nên lẫn lộn việc Cơ đốc giáo ủng hộ thuyết địa tâm với ý tưởng về một Trái Đất phẳng, là cái chưa từng được nhà thờ ủng hộ.) Hệ Tycho đã sắp đặt ổn thỏa các vị trí của mô hình địa tâm, trong đó Mặt Trời quay quanh Trái Đất, trong khi các hành tinh quay quanh Mặt Trời giống như mô hình của Copernicus. Những nhà thiên văn học dòng Tên tại Roma ba đầu không đồng ý với hệ thống của Tycho; người nổi bật nhất là Clavius, ông đã bình luận rằng Tycho đã "lẫn lộn mọi thứ trong thiên văn học, bởi vì ông muốn đặt Sao Hỏa thấp hơn Mặt Trời." (Fantoli, 2003, p. 109) Nhưng khi cuộc tranh cãi ngày càng phát triển và Nhà thờ có quan điểm cứng rắn hơn về các ý tưởng của Copernicus sau năm 1616, phái dòng Tên quay sang ủng hộ việc giảng dạy ý tưởng của Tycho; sau năm 1633, việc sử dụng hệ thống này hầu như đã trở thành bắt buộc. Vì tội đã đề xuất thuyết nhật tâm, Galileo đã bị quản thúc tại gia trong nhiều năm.
Tuy nhiên, nhà thần học đồng thời cũng là một mục sư Thomas Schirrmacher, đã biện hộ:
Vì thế ông ủng hộ lệnh cấm giảng dạy ý tưởng đó dưới bất cứ tên gọi nào mà chỉ được coi là giả thuyết. Năm 1616 ông chuyển cho Galileo một mệnh lệnh của giáo hoàng không được "ủng hộ hay bảo vệ" ý tưởng nhật tâm. Trong những cuộc tranh luận trước khi có lệnh cấm, ông giữ lập trường ôn hoà, bởi vì nhóm Dominic muốn cấm iệc giảng dạy thuyết nhật tâm ở mọi hình thức. Phiên toà xử tội dị giáo của Galileo diễn ra năm 1633, đưa ra những sự phân biệt rõ ràng giữa "giảng dạy" và "ủng hộ và bảo vệ coi đó là đúng".
Sự phản đối chính thức thuyết nhật tâm của nhà thờ không phải là sự phản đối với toàn bộ ngành thiên văn học; quả vậy, họ cần các dữ liệu quan sát thiên văn để điều chỉnh bộ lịch của mình. Để ủng hộ các nỗ lực quan sát đó, họ cho phép sử dụng chính các giáo đường làm đài quan sát thiên văn.
Từ bỏ toàn bộ quan điểm "đứng yên" có liên quan tới nguyên lý tương đối. Trong khi, thừa nhận một vũ trụ không biên giới, rõ ràng rằng không có vị trí ưu tiên trong vũ trụ, cho tới khi sự thừa nhận thuyết tương đối hẹp của Albert Einstein, ít nhất sự tồn tại của một lớp ưu tiên trong các hệ quán tính tuyệt đối "đứng yên" được công nhận, đặc biệt ở hình thức các lý thuyết aether truyền ánh sáng. Một số hình thức Mach's principle coi hệ quy chiếu là đứng yên và có xem xét tới các khối lượng trong vũ trụ có các đặc tính đặc biệt.
Fred Hoyle đã viết:
Tham khảo:
-90:Konstantin Novoselov
1974-
Nga
Vật Lý, Thiên Văn Học
-88: Immanuel Kant
1724-1804
Đức
Triết Lý, địa Lý
Immanuel Kant từ triết học phê phán đến nghiên cứu con người
Hồ Sĩ Quý
08:22' CH - Thứ tư, 12/04/2006
Mặc
dù ở giai đoạn tiền phê phán (trước 1770), I. Kant đã xuất hiện như một
học giả lỗi lạc trong các lĩnh vực thiên văn học, địa chất học, vật lý
học, v.v..., song về triết học, mà trong đó có nhân học triết học, thì
phải tới giai đoạn sau - giai đoạn thường được gọi là phê phán, I. Kant
mới xuất hiện như là một nhân vật "khổng lồ". Với ba tác phẩm có tựa đề
"phê phán"... ("Phê phán lý tính thuần tuý" - 1781, "Phê phán lý tính
thực tiễn" - 1788, và "phê phán năng lực phán đoán" - 1790), triết học
I. Kant - một kiểu triết học có tư duy độc đáo trong văn hoá Tây Âu, đã
trở thành điểm khởi đầu của một dòng triết học ảnh hưởng to lớn đến lịch
sử văn hoá nhân loại - triết học cổ điển Đức.
Và, I. Kant là thuỷ tổ của dòng triết học này.
Khi nghiên cứu kho tàng tư tưởng đồ sộ của I. Kant, người ta đã nhận thấy, gần như ở tất cả các lĩnh vực thuộc phạm vi mà ông đã từng quan tâm, I. Kant đều để lại những di sản quý giá mà đến nay hậu thế vẫn tiếp tục khai thác. Chẳng những thế, cũng gần như ở tất cả các lĩnh vực vực đó, I. Kant đều có những phát kiến tầm cỡ mở đường cho sự phát triển tiếp theo của khoa học. Trong lĩnh vực triết học, đó là triết học phê phán với học thuyết về vật tự nó, về các hình thức tiên thiên của nhận thức, về tính khách quan của tri thức…
Trong lĩnh vực đạo đức học, đó là học thuyết về đạo đức học tiên nghiệm với hệ thống các phạm trù đạo đức tiên nghiệm. Trong lĩnh vực tâm lý học, đó là học thuyết về cái tôi đang tư duy, về sự thống nhất siêu nghiệm của tri giác… Trong lĩnh vực thiên văn học, đó là giả thuyết Kant-Laplace về nguồn gốc vũ trụ, một giả thuyết rất gần với quan niệm về vụ nổ Bigbang sau này, v.v… Điều thú vị là, logic trong sáng tạo của I. Kant ở tất cả các lĩnh vực đó đều bắt nguồn từ việc phê phán cách tiếp cận giáo điều đương thời, chỉ ra sự mâu thuẫn giữa cái duy lý và cái kinh nghiệm trong nhận thức truyền thống; từ đó, I. Kant triển khai quan niệm của mình về triết học phê phán, về nhận thức tiên nghiệm. Cuối cùng, mọi bàn luận đều được lý giải theo quỹ đạo của vấn đề con người và nhận thức con người. Con người với tất cả những khía cạnh phong phú của nó, từ tồn tại sinh học đến ý chí tự do, từ lý tính thuần túy đến lý tính thực tiễn, từ logic tiên thiên đến đạo đức tiên nghiệm, từ cá nhân hữu hạn đến tộc loại siêu cá nhân… - tất cả đều được mổ xẻ ở mức độ rất sâu và thấm đượm tinh thần nhân đạo. (Dĩ nhiên, theo cách của I. Kant). Với I. Kant, con người, đặc biệt con người nhân loại đã chiếm một khối lượng đáng kể trong các luận bàn của ông. "ý niệm nhân loại", theo I. Kant, cái đã bị đánh mất ở nhiều người, phải một lần nữa trở nên thiêng liêng đối với con người - "Tuyên bố vừa kỳ lạ vừa chói tai" này không phải được phát đi từ thế kỷ XX, mà từ Immanuel Kant . Nhưng có lẽ đó vẫn chưa phải là điều thú vị nhất. Khi nghiên cứu I. Kant, với chúng tôi, điều thú vị nhất là vai trò của I. Kant đối với ngành nhân học (anthropology).
Thời gian gần đây, khi nhân học được chú ý như một khoa học hiện đại (và có phần thời thượng nữa) về con người, các nhà nghiên cứu nhân học mới giật mình nhận ra rằng, mặc dù vẫn coi M. Scheler là ông tổ của nhân học, song từ rất sớm trước M. Scheler, chính I. Kant chứ không phải ai khác, là người đầu tiên đã đề xuất và "bảo vệ một cách quyết liệt nhất" việc phân chia nhân học thành một khoa học độc lập . I. Kant coi nhân học là một ngành có đối tượng riêng, có phương thức nghiên cứu riêng, phương thức vượt ra khỏi khuôn khổ của các phương thức nhận thức đã biết. Cũng chính là từ triết học phê phán, khi phân loại các vấn đề nhận thức cơ bản mà con người buộc phải giải đáp, I. Kant đã đi đến khẳng định vị trí của nhân học, ngành khoa học phải trả lời câu hỏi muôn thuở - con người là gì. Và, không biết lúc đó I. Kant có hình dung nhân học lại phát triển một cách mạnh mẽ và thu hút sự quan tâm của con người đến như hiện nay hay không.
1. Sự ra đời của triết học phê phán
Thực ra, không phải chỉ vì các tác phẩm cơ bản của I. Kant ở giai đoạn thứ hai trong cuộc đời sáng tạo của ông có tựa đề là "phê phán" mà giai đoạn này được gọi là giai đoạn phê phán. (Đây là điểm chưa thật chính xác mà một số tài liệu viết về I. Kantơ hiện vẫn còn lý giải như thế). Vấn đề là ở chỗ, triết học I. Kant mang tinh thần phê phán hết sức rõ rệt. I. Kant đã phê phán một cách trực diện và không thương tiếc toàn bộ "linh hồn" của triết học tiền bối, bao gồm cả triết học kinh nghiệm luận của J. Loke, G. Berkeley, D. Hume và cả triết học duy lý của R. Descartes, B. Spinoza, G. Leibniz. Sự phê phán của ông được dựa vào một hệ thống tư tưởng riêng biệt và hết sức độc đáo. Hơn thế nữa, sự phê phán đó cũng phải coi là thật sự có hiệu quả, nếu so với những phê phán đã từng tồn tại trong lịch sử triết học.
Như đã biết, trước I. Kant, chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm thống trị trong triết học. I. Kant nhìn thấy rất rõ những điểm hợp lý trong các triết học đó, song ông còn thấy rõ hơn tính chất giáo điều của triết học duy lý và tính chất hoài nghi thiếu cơ sở trong triết học theo kinh nghiệm luận. Những hạn chế này, theo I. Kant, đã trở thành căn bệnh "trầm kha" trong lĩnh vực tư tưởng ở thời đại của ông, làm cho triết học lúc đó rơi vào tình trạng phiến diện và què quặt. Trước thực trạng ấy, I. Kant đặt cho mình nhiệm vụ phân tích có phê phán năng lực nhận thức của con người, giải phóng khỏi nhận thức luận cách tiếp cận đang thống trị lúc đó, mà theo I. Kant là cách tiếp cận giáo điều. Với chủ trương xây dựng một triết học mới thông qua con đường phê phán bằng vũ khí mới của sự phê phán, ở triết học I. Kant đã nảy sinh một cách tiếp cận riêng mà ít lâu sau người ta gọi là cách tiếp cận phê phán. Cũng chính vì thế mà triết học I. Kant còn được gọi là triết học phê phán (Critical philosophy). Đây chính là một nét độc đáo của triết học I. Kant; bởi lẽ, triết học nào cũng ít nhiều sử dụng vũ khí phê phán, nhưng phê phán được nâng thành một phương thức xây dựng tư tưởng, được hệ thống hóa thành một cách tiếp cận riêng thì chỉ có ở I. Kant.
Nguyên tắc cơ bản của cách tiếp cận phê phán và cũng là của toàn bộ triết học phê phán đã được I. Kant nêu trong phần mở đầu xuất bản lần thứ hai tác phẩm "Phê phán lý tính thuần tuý" (The Critique of Pure Reason). I. Kant viết: "Cho đến nay, người ta thường cho rằng hiểu biết của ta cần phải phù hợp với đối tượng. Tuy nhiên, mọi cố gắng thông qua khái niệm để hiểu biết một cái gì đó tiên thiên về đối tượng đều đã kết thúc một cách không thành công. Bởi vì, tri thức của chúng ta về đối tượng đã không được mở rộng. Do đó, cần phải giải thích: phải chăng chúng ta sẽ không giải quyết được một cách tốt hơn nhiệm vụ của siêu hình học, nếu như ta xuất phát từ giả định rằng, đối tượng cần phải phù hợp với nhận thức của ta. Mà điều này lại đáp ứng tốt hơn những đòi hỏi về khả năng hiểu biết một cách tiên thiên về đối tượng - tri thức cần phải xác lập về đối tượng một cái gì đó sớm hơn là nó đem lại cho ta" .
Rõ ràng, tính chất duy tâm của nguyên tắc mà I. Kant nêu ra là điều không phải bàn cãi. Chẳng những cách đặt vấn đề của I. Kant là duy tâm, mà hơn thế nữa, I. Kant còn cố tình duy tâm tới mức cực đoan để diễn đạt một điều nan giải có thật trong nhận thức: cô lập quá trình nhận thức ở bất cứ điểm nào của nó, chúng ta cũng đều có thể rơi vào sai lầm; và (theo I. Kant) không có quá trình nhận thức nào bắt đầu từ con số không. Bởi vậy, để nhận thức được đối tượng, phải giả định rằng "đối tượng cần phải phù hợp với nhận thức" chứ không phải ngược lại. Bằng cách đó, tri thức buộc phải "xác lập về đối tượng một cái gì đó" (hình ảnh giả định về đối tượng) trước khi đối tượng được phản ánh trong nhận thức ("sớm hơn là nó đem lại cho ta"). Nói thế mới thấy được rằng, lối nhận thức có trước kinh nghiệm (a priori) này quả là có hạt nhân hợp lý của nó.
Cái lộ ra ở đây là cách đặt vấn đề của I. Kant là hết sức độc đáo. Bởi lẽ, như đã biết, vào thời của I. Kant, hai khuynh hướng cơ bản của triết học Châu Âu (chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm) mâu thuẫn gay gắt với nhau và thể hiện ra ở chính mâu thuẫn giữa cái duy lý và cái kinh nghiệm. I. Kant muốn khám phá thực chất của mâu thuẫn này để chỉ ra nguyên nhân sâu xa của tình trạng phiến diện và giáo điều của triết học đương đại. Trong triết học I. Kant, sự đối lập giữa cái duy lý và cái kinh nghiệm là đối tượng được ông chú tâm giải quyết trong mọi vấn đề, từ nhận thức vũ trụ đến nhận thức con người, từ logic học đến đạo đức học, từ khái niệm tiên thiên đến khái niệm nảy sinh sau kinh nghiệm (a posteriori).
Điều vĩ đại ở I. Kant là ông đã hoàn toàn vượt lên trên và không bị lôi cuốn vào cách giải quyết mâu thuẫn nói trên theo lối tranh cãi kinh viện hoặc thuần túy kinh nghiệm như các nhà triết học đương thời. I. Kant đã bằng chính tư duy phê phán để lập cho mình một hệ thống tư tưởng riêng, với cách hiểu rất dị thường và đúng là có một không hai về các phạm trù: Với I. Kant, không gian, thời gian, nhân quả, các phạm trù logic, các phạm trù đạo đức… hóa ra đều là những "hình thức" có sẵn trong nhận thức, con người sử dụng chúng để làm ra kinh nghiệm chứ không phải chúng được tạo ra từ kinh nghiệm. Vật tự nó (Thing in Itself) là một sáng tạo kiệt xuất của nhận thức loài người thông qua một bộ óc uyên bác cụ thể là Immanuel Kant .
Như chúng ta đã biết, trong triết học Trung cổ và triết học Phục hưng, tâm điểm của hầu hết các luận thuyết triết học là học thuyết về tồn tại. Người ta chú ý đặc biệt đến khía cạnh bản thể luận trong nghiên cứu triết học. Chỉ bắt đầu từ thời kỳ Cận đại, các nhà triết học duy vật Anh, Pháp,... mà tiêu biểu là F. Bacon, R. Descartes, G. Berkeley, D. Hume... mới chuyển trọng tâm của triết học vào những vấn đề nhận thức luận. Tuy vậy, trong số các vấn đề quan trọng của lý luận nhận thức, vấn đề về mối tương quan, sự tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể nhận thức vẫn chưa được chú ý nhiều trong triết học trước I. Kant. Lúc đó, người ta hướng sự phân tích và khám phá vào khách thể của nhận thức.
ở triết học Cận đại thời kỳ trước I. Kant, tính chủ quan trong nhận thức thường được xem như cái ngăn trở, hoặc lực kìm hãm ... đối với khả năng nhận thức của con người trên con đường kiếm tìm chân lý. Người ta cho rằng chính cái chủ quan đã xuyên tạc và làm mờ đi trạng thái hiện thực của thế giới vật thể xung quanh con người (chẳng hạn, nếu ta nhớ lại quan niệm về các Idole trong triết học F. Bacon). I. Kant, cố nhiên cũng tôn trọng những đặc thù của khách thể nhận thức và thấy rõ tác động tiêu cực của tính chủ quan đối với sự nghiên cứu. Nhưng theo I. Kant, đặc thù khách quan của khách thể nhận thức, không chỉ có khả năng quy định cách thức nhận thức mà đồng thời, nó còn có thể kiểm tra năng lực nhận thức của con người. I. Kant không thoả mãn với những quan niệm đã có về tính quy định của khách thể nhận thức. Ông tự đặt ra cho mình nhiệm vụ phải phân biệt các thành phần khách quan với các thành phần chủ quan trong cấu trúc của tri thức ở chính chủ thể theo các trình độ khác nhau của nhận thức. Xuất phát từ đó, một lần nữa I. Kant đã giải thích lại khái niệm chủ thể nhằm tìm ra cách hiểu sâu sắc hơn và cũng độc đáo hơn về nó.
I. Kant đề xuất sự khác nhau giữa hai trình độ của sự nhận thức ở ngay bản thân chủ thể nhận thức: trình độ kinh nghiệm và trình độ siêu nghiệm (transcendent). ở trình độ kinh nghiệm, I. Kant xem xét những đặc thù trong tâm sinh lý cá nhân của con người và sự tác động của chúng đến nhận thức, đến kết quả nhận thức. ở trình độ siêu nghiệm, I. Kant cho rằng nhận thức của con người đã vượt qua sự quy định của những đặc thù cá nhân để hướng tới một bản nguyên siêu cá nhân (transperson - trên cá nhân) nào đó. Với trình độ này, chủ thể nhận thức hiện ra là đại biểu và đại diện cho loài của mình - con người với tính cách là đại biểu của loài. Như vậy, ngay ở mỗi cá nhân, quá trình nhận thức cũng bị quy định và luôn tự phát hướng tới cái siêu nghiệm. Đặc điểm này không phụ thuộc vào đặc điểm tâm sinh lý riêng biệt của từng cá nhân, mặc dù nó thể hiện ở từng cá nhân; đặc điểm này mang tính khách quan và là biểu hiện của tính tộc loại của con người.
Bằng cách đó, lần đầu tiên trong lịch sử triết học, I. Kant đã đặt ra vấn đề về tính khách quan ở chủ thể nhận thức.
Trong tác phẩm "Phê phán lý tính thuần tuý", một trong những nội dung cơ bản của triết học lý luận được I. Kant nêu ra là: tri thức khoa học chân chính có khả năng đến đâu? Hay, nói theo cách nói của ông là "các mệnh đề tổng hợp tiên nghiệm xuất hiện như thế nào?" . Với cách đặt vấn đề này, I. Kant muốn tìm xem tư duy khoa học duy lý có những hạn chế của nó hay không? Và để trả lời, I. Kant cụ thể hoá vấn đề này thành ba nội dung riêng biệt: Khả năng của toán học? Khả năng của vật lý học (khoa học tự nhiên)? và, khả năng của siêu hình học (triết học)?
Với ba lĩnh vực tri thức này, I. Kant đã nêu ra ba định hướng quan niệm khác nhau về khả năng của chúng. Ông trình bày quan niệm của mình về tính đặc thù trong khả năng phản ánh, trong cách thức thể hiện thế giới của các khoa học này. I. Kant tin tưởng sâu sắc vào tính chất khoa học của toán học và các khoa học tự nhiên. Ông tìm cách giải thích tính khoa học của các khoa học đó trong sự chi phối và quy định của tư duy kinh nghiệm và của nhận thức ở trình độ kinh nghiệm. Nhưng với siêu hình học, tức là với triết học thì I. Kant đặt câu hỏi liệu siêu hình học nói chung có khả năng tồn tại như là một khoa học hay không? Và, điều thú vị là ông đã trả lời phủ định đối với câu hỏi này. I. Kant viết: "Siêu hình học từ trước tới giờ luôn ở trong tình trạng bấp bênh không đáng tin cậy và mâu thuẫn chỉ bởi một nguyên do là nhiệm vụ (xác định khả năng của tri thức khoa học - HSQ), và thậm chí cả việc tìm ra sự khác biệt giữa các suy lý phân tích và tổng hợp cũng vẫn chưa được ai bàn đến. Sự bền vững hay bấp bênh của siêu hình học là tuỳ thuộc vào sự giải quyết nhiệm vụ này hay ở việc chứng minh rằng trên thực tế, nói chung không thể nào làm rõ được nhiệm vụ trên".
Về tính xác thực của tri thức khoa học, I. Kant cho rằng, xác thực nghĩa là có thể tin cậy được và đó chỉ có thể là tri thức khách quan, tức là mang tính khách quan. Tính khách quan, theo I. Kant, đồng nhất với tính phổ quát và tính tất yếu. Do vậy, tri thức nếu muốn đạt tới sự xác thực thì nó cần phải đạt tới trình độ tất yếu và phổ quát, có giá trị chung mang tính phổ biến (I. Kant đồng nhất cái khách quan với cái có giá trị chung mang tính phổ biến).
Tính khách quan của tri thức, theo I. Kant, được quy định bởi cấu trúc của chủ thể siêu nghiệm, bởi những thuộc tính và phẩm chất siêu cá nhân của chủ thể nhận thức. I. Kant lý giải, mỗi chủ thể đang nhận thức, trong bản tính của mình, luôn vốn có một trình độ nhất định của nhận thức thiên bẩm (tiền kinh nghiệm) thể hiện trong các hình thức thiên bẩm của nhận thức. Các hình thức nhận thức thiên bẩm này chính là trình độ đầu tiên của quá trình nhận thức tiếp cận đến hiện thực (I. Kant đã phân tích rất kỹ về điều này thông qua các khái niệm không gian, thời gian, v.v... - mà ông coi là những hình thức chủ quan, tiền kinh nghiệm của nhận thức cảm tính. I. Kant phân biệt, không gian là hình thức bên ngoài, còn thời gian là hình thức bên trong của kinh nghiệm cảm tính. Các biểu tượng không gian, theo ông, là cơ sở của các tri thức hình học, thời gian - của các tri thức số học và đại số.
Vấn đề là ở chỗ, những tiền đề làm nên tính xác thực của tri thức, theo I. Kant, được tạo ra bởi những hình thức tiền kinh nghiệm của nhận thức cảm tính. Đó là trình độ thứ nhất của nhận thức. Trong quá trình nhận thức, việc hiện thực hoá những tiền đề đó lại được thực hiện nhờ khả năng nhận thức ở trình độ thứ hai - trình độ nhận thức lý tính. ở trình độ này, lý trí - đó chính là tư duy với hệ thống các khái niệm và các phạm trù của mình - đã thực hiện các phán đoán để xây dựng đối tượng nhận thức. Đối tượng không phải là nguồn gốc của tri thức về nó dưới dạng các khái niệm, phạm trù. Mà ngược lại, chính các hình thức của lý trí, tức là các khái niệm và các phạm trù đã tạo nên, đã kiến tạo nên đối tượng của nhận thức. Theo lập luận của I. Kant thì đó chính là cơ sở khiến cho chúng ta có thể đồng ý hay phản đối ý kiến của người khác về đối tượng của sự nhận thức. Hơn thế nữa, đó còn là lý do giải thích tại sao con người lại chỉ có thể hiểu được những gì do nó sáng tạo ra, tức là hiểu được những gì nằm trong phạm vi bao quát của hệ thống phạm trù tiên nghiệm vốn có ở con người. Vượt ra khỏi giới hạn đó, hiện thực thuộc về "thế giới vật tự nó". Với I. Kant, khái niệm và phạm trù sở dĩ mang tính phổ quát và tất yếu, trước hết là vì chúng không phụ thuộc vào ý thức cá nhân (được hình thành bởi kinh nghiệm). Chúng chính là những hình thức siêu nghiệm của nhận thức. Tri thức, vì vậy, theo I. Kant, luôn luôn là cơ sở (là chỗ dựa) cho chính nó. Nó có sẵn dưới dạng các tri thức siêu nghiệm, nó được làm giàu thêm, được phát triển thêm cũng nhờ chính bản thân các tri thức kinh nghiệm và siêu nghiệm. Toàn bộ quá trình đó nằm ngoài và không phụ thuộc vào ý thức cá nhân, cá thể. Theo nghĩa ấy, I. Kant cho rằng tri thức có tính khách quan.
Trong quan niệm của I. Kant, lý tính điều chỉnh tri giác của con người trong suốt quá trình nhận thức, dẫn dắt tri giác vào khuôn khổ của các hình thức tất yếu và phổ quát của nhận thức. Bằng cách đó, lý tính quy định tính khách quan của tri thức. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là, cái gì đã tạo ra khả năng đó của lý tính? Tại sao lý tính lại có thể đưa tri giác vào các hình thức tiên nghiệm như vậy? Và, cuối cùng thì cái gì đã gắn kết các phạm trù và các khái niệm vào một chỉnh thể trong hiện thực? I. Kant đã trả lời các câu hỏi này theo quan điểm hết sức nhất quán của riêng mình: tất cả những thao tác đó là do đặc thù của chủ thể quy định. Theo I. Kant, cơ sở sâu xa tạo nên sự thống nhất trong nhận thức luận, mà nếu thiếu sự thống nhất đó thì lý tính không thể thực hiện được chức năng của nó - đó là hành vi tự nhận thức của chủ thể: cái tôi đang tư duy. I. Kant gọi hành vi này là sự thống nhất siêu nghiệm của tri giác hay, sự kết hợp của các tri giác nằm ở ngoài giới hạn của kinh nghiệm.
Như vậy, lý tính, theo I. Kant, cũng là khả năng của chủ thể nhưng ở trình độ rất cao. Khả năng này quy định và điều khiển mọi hoạt động tư duy của con người, thậm chí còn đặt ra mục đích nhận thức cho con người. Còn tư tưởng, trong quan niệm của I. Kant, đó là bản chất siêu cảm giác của sự tồn tại hiện thực của lý tính. Trong nhận thức, dạng sơ đẳng của tư tưởng được hiện hình bằng những quan niệm về mục đích, về nhiệm vụ mà nhận thức của ta tự đặt cho nó và hướng tới nó. Thông qua tư tưởng, lý tính thực hiện chức năng điều chỉnh đối với hoạt động nhận thức và đánh thức chủ thể vượt ra ngoài giới hạn của kinh nghiệm, vươn tới tri thức tuyệt đối.
Điều cần suy nghĩ ở đây là, có lẽ trong tâm tưởng sâu xa của mình, I. Kant hoàn toàn không hề đánh giá thấp khả năng nhận thức của con người, mặc dù ông cho rằng các khái niệm và các phạm trù, tức là những hình thức của tư duy không có khả năng làm cho chủ thể vượt ra ngoài giới hạn của kinh nghiệm. Về hình thức thì quan niệm này dường như hạ thấp sức mạnh của tư duy con người, nhưng về thực chất thì quan niệm này lại cho phép nhìn thẳng vào những nan giải to lớn của nhận thức và làm lộ ra mâu thuẫn vốn có thuộc về bản chất của tư duy: trong tư duy, mọi quá trình, mọi vận động… bên ngoài đều được phản ánh dưới dạng các hình thức logic đứng im, chết cứng. Dĩ nhiên, I. Kant là một đại biểu lỗi lạc của chủ nghĩa bất khả tri, nhưng bất khả tri của I. Kant, theo chúng tôi, là bất khả tri ở điểm tận cùng của nhận thức, là bất khả tri của những tham vọng nhận thức và cải tạo không có điểm dừng, không có giới hạn đối với thế giới (những người theo thuyết anthropocentrism ở châu Âu, từ thời cổ đại đến tận ngày nay, vẫn chủ trương coi con người là trung tâm, không thừa nhận giới hạn của sự nhận thức và cải tạo thế giới ). Có thể coi đây cũng là một antinomie thú vị, nếu tính đến những thành tựu vĩ đại trong nhận thức mà chính I. Kant đã đạt được trong cuộc đời khoa học của mình. Một người được xếp vào hàng ít ỏi những cây đại thụ của thuyết bất khả tri, nhà triết học sáng tạo ra khái niệm "vật tự nó" làm cho thuyết bất khả tri bị đẩy đến tận cùng của sự cực đoan, nhưng lại có những phát kiến tầm cỡ "dẫn đường cho nhân loại" cả trong triết học, trong khoa học tự nhiên và trong khoa học về con người.
Bởi thế, những quan niệm của I. Kant về ảo ảnh và về mâu thuẫn mà lý trí mắc phải, về một phương diện nhất định, phải được hiểu là cách thể hiện độc đáo những ước mơ, khao khát của ông hướng tới trình độ sâu sắc hơn nữa của nhận thức con người. Theo chúng tôi, rõ ràng I. Kant quá nhạy cảm và ý thức quá rõ về những giới hạn có thật đối với tư duy và nhận thức. Tuy nhiên, dù chân thành bao nhiêu với việc vạch ra giới hạn nhận thức của con người I. Kant cũng đã từng bị đánh giá là chơi trò "mập mờ nước đôi" (chữ dùng của Albrecht Rau, 1882): dung hoà, thoả hiệp trong nhận thức. Sự phê phán gay gắt (những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX) đối với I. Kant từ cả hai phía tả và hữu (duy vật và duy tâm) rõ ràng chẳng phải là chuyện khó hiểu. Hoá ra là, càng muốn vượt lên trên cả hai đường lối triết học bao nhiêu, I. Kant lại càng nhận được kết quả trái với mong muốn của mình bấy nhiêu.
█2. Nhân học với khách thể bí ẩn và hấp dẫn tột cùng của sự tư biện
Về lĩnh vực nhận thức con người, khi nghiên cứu triết học I. Kant, người ta cũng có thể thấy rất rõ thái độ trân trọng của ông đối với con người và lý trí con người. Chỉ có điều, là một nhà triết học độc đáo nên việc đề cao con người ở I. Kant cũng rất khác biệt so với các nhà tư tưởng khác. Theo I. Kant, "thế giới vật tự nó" là thế giới dành cho cảm giác.
Do vậy, thế giới đó đóng kín đối với lý tính và đối với khoa học. Tuy thế, theo cách giải thích của I. Kant, đối với "thế giới vật tự nó", con người không phải là tuyệt nhiên không thể vươn tới được. Bởi lẽ, con người, trong quan niệm của I. Kant, luôn sống trong cả hai thế giới - thế giới mà cảm giác có thể đạt tới và thế giới mà trí tuệ có thể đạt tới (còn gọi là thế giới khả giác và thế giới khả niệm).
Thế giới mà cảm giác có thể đạt tới, theo I. Kant, đó là giới tự nhiên. Còn thế giới mà trí tuệ đạt tới - đó là thế giới của tự do. Tự do trong quan niệm của I. Kant là một trạng thái mà ở đó, con người hoàn toàn không bị lệ thuộc vào những nguyên nhân tiền định nào đó vốn có trong thế giới có thể cảm giác được. Tự do là khả năng tiên nghiệm đặc biệt cho phép giác tính con người hoạt động độc lập với các quy luật tất yếu của tự nhiên trong lĩnh vực hiện tượng luận, nó tồn tại một cách tương đối trong lĩnh vực hiện tượng luận. Trong biên giới của tự do, hành động và hành vi của con người không bị chi phối bởi lý tính lý luận mà bị chi phối bởi tính thực tiễn. Lý tính được gọi là thực tiễn, theo I. Kant, là lý tính mà ý nghĩa chủ yếu của nó là điều chỉnh hành vi con người. Động lực của lý tính thực tiễn không phải là tư duy, mà là ý chí của con người. I. Kant gọi ý chí của con người là vương quốc của sự tự trị. ở đây, ý chí của con người được quy định không phải bởi các nguyên nhân bên ngoài, tức là những nguyên nhân thuộc về tính tất yếu của giới tự nhiên hoặc những nguyên nhân thuộc về Thượng đế. Theo I. Kant, ý chí của con người được quy định bởi những quy luật, luật lệ vốn có của riêng nó. Đó là những quy luật, luật lệ mà ý chí tự đặt ra cho bản thân mình.
Như đã nói ở trên, chính I. Kant chứ không phải ai khác, là người đầu tiên đã đề xuất và "bảo vệ một cách quyết liệt nhất" việc phân chia nhân học thành một khoa học độc lập. Trong so sánh với các lĩnh vực tri thức đã được xác lập, I. Kant coi nhân học, mà trước hết là nhân học triết học (philosophical anthropology) là một ngành có đối tượng riêng của mình, có phương thức nghiên cứu riêng của mình. Theo P.S. Gurevich, “nhà nghiên cứu sâu sắc hơn cả trong tư tưởng Nga hiện đại về vấn đề con người” , thì "I. Kant là người đầu tiên của nền triết học châu Âu khẳng định rằng, con người là một thực thể độc nhất vô nhị có khả năng suy tư một cách riêng biệt và độc đáo. Con người - là khách thể bí ẩn và hấp dẫn tột cùng của sự tư biện triết học. Để khám phá bí ẩn của con người, cần phải có những công cụ không tầm thường và độc lập. Trong ý nghĩa đó, nhân học triết học đối lập với khu vực tri thức triết học truyền thống - bản thể luận (học thuyết về tồn tại), logic học, lý luận nhận thức, lịch sử triết học, đạo đức học, thầm mỹ học, triết học tự nhiên, triết học xã hội, triết học lịch sử”.
Tư tưởng đề cao tính đặc thù của con người, coi con người là một thực thể bí ẩn, độc nhất vô nhị, vượt ra ngoài khả năng khám phá của các công cụ nhận thức truyền thống, kể cả bản thể luận và nhận thức luận, kể cả logic học, đạo đức học và thẩm mỹ học, kể cả triết học tự nhiên, triết học xã hội và triết học lịch sử… là một tư tưởng rất độc đáo, trước I. Kant chưa từng được phát biểu một cách tường minh trong kho tàng tri thức nhân loại (Diogiene và Socrate tuy dường như cũng có nói đến sự bí ẩn của đời sống con người, song các ông hướng tới khám phá sự bí ẩn đó bằng các công cụ duy lý của tư duy trừu tượng). Với I. Kant, tính bí ẩn và độc nhất vô nhị của sự tồn tại người được khẳng định là vượt ra ngoài khuôn khổ của nhận thức duy lý; bởi vậy, nhận thức con người là nhằm luận giải những hiện tượng cá nhân đầy bản sắc, những hành vi và hoạt động phức tạp của con người trong các thiết chế xã hội đã từng tồn tại trong lịch sử. Tư tưởng này về sau được S. Kierkegaard, F. Dostoievski, M. Heidegger, H. Rickert, M. Scheler, J. Sartre cùng một số nhà triết học hiện sinh khác khai thác và phát triển thêm làm lộ ra rõ hơn tính hợp lý của nó. Với sự ứng dụng ngày càng sâu hơn của thông diễn học (heurmernetics), tư tưởng này càng được thể hiện và được chứng minh là một hướng đi rất chủ yếu trong nhận thức con người với tất cả tính phức tạp của đối tượng này - con người, một thực thể vừa sinh học vừa xã hội, vừa cá nhân vừa tộc loại, vừa vật chất trần tục vừa tinh thần thiêng liêng…
Vấn đề là ở chỗ, với I. Kant, nhận thức con người cũng có nghĩa là nhận thức thế giới; chỉ có thông qua con người, các vấn đề của nhận thức thế giới mới được giải quyết. I. Kant viết: "Mục tiêu của tất cả những thành tựu văn hoá mà con người học được là ứng dụng những tri thức và những kinh nghiệm đã thu nhận được vào thế giới. Nhưng đối tượng quan trọng nhất trong thế giới mà những tri thức này có thể ứng dụng được - đó là con người, chừng nào con người còn là mục đích tự thân cuối cùng" . Khi xác định nhiệm vụ cho triết học, I. Kant tự đặt cho riêng mình 4 câu hỏi mà về sau người ta hiểu đó là 4 nội dung cơ bản của toàn bộ nhận thức con người:
1) Xem: V..E. Đaviđôvich (2002). Dưới lăng kính triết học. Nxb CTQG. Hà Nội. tr. 308.
2) Xem: М. Бубер (1995). Два образа веры. Москва. стр. 195. [M. Buber (1878-1965) nhà triết học tôn giáo nổi tiếng châu Âu, nhà tư tưởng của các dân tộc Arâp. Xem: M. Buber (1995) Hai mô hình của niềm tin. Mátxcơva. tr. 159].
3) Иммануил Кант (1964). Сочинение в шести томах, т. 3, Москва. стр. 87. [I. Kant (1964). Tác phẩm gồm 6 tập, t.3. Matxcơva. tr.87].
4) Xem: Т.И. Ойзерман (1982). Проблемы историко-философской науки. Издание второе. Мысль. Москва. [T.I. Oizerman (1982). Những vấn đề của khoa học lịch sử triết học. Xuất bản lần thứ hai. Nxb, Tư tưởng. Mátxcơva].// П.С. Гуревич (2001). Философская Антропология. Изд. Nota bene. Москва. (Гл. IV. Кант: Человек… есть последная цель. стр. 84-91). [P.S. Gurevich (2001). Nhân học triết học. Nxb. Nota bene. Mátxcơva. chương IV. Kant: Con người… là mục đích cuối cùng. tr. 94-91].// Xem thêm về I. Kant tại Website Encyclopedia of Philosophy (http://www.iep.utm.edu).
5) Xem: А.ГСпиркин (2001). Философия. (Гл. VI: И. Кант. стр. 135-144). Изд. Гардарики. Москва. [A.G. Xpirkin (2001). Triết học. Chương VI: I. Kant. tr. 135-144. Nxb. Cận vệ. M.].
6) I.Kant (1964). Sđd, t.3. tr.117.
7) I. Kant (1964). Sđd., t.3. tr.117
8) Xem: Современный Философский словарь (1998). Nxb. Панприн. Moscow, Minsk, London, Franfurt/ Main, Paris, Luckcemburg, tr. 68. [Từ điển triết học hiện đại (1998). Nxb. Panprin xuất bản đồng thời ở 8 nước châu Âu. tr. 68].
9) Xem: V.I.Lênin (1980). Toàn tập, t.18. Nxb Tiến Bộ, Matxcơva, tr. 247 - 248.
10) V.E. Đaviđôvich (2002). Sđd. tr. 336.
11) П.С. Гуревич (1999). (1999). Sđd. tr. 84 (người trích nhấn mạnh).
12) Xem: Trần Văn Đoàn (2004). Tổng quan về thông diễn học. T/c Nghiên cứu con người số 3.// Trần Văn Toàn (2004). Mấy nguyên tắc khoa học về con người. T/C Nghiên cứu con người số 1.
13) И. Кант (1987), Собр. Соч. в 8 томах. Под. об. ред. А.В. Гулыги. Москва. стр. 138. [I. Kant (1987). Tuyển tập gồm 8 tập. A.V. Gunlygi chủ biên. Mátxcơva. tr. 138].
14) И. Кант (1994). Соч. т. 8. Москва. стр.280. [ I. Kant. Toàn tập. t.8. Mátxcơva. tr. 280].
15) Xem: T.I. Oizerman (1982). Sđd.
16) Stephen W. Hawking (2000). Lược sử thời gian. Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội. tr. 214-215.
Tài liệu
1. Иммануил Кант (1964). Сочинение в шести томах, т. 3, Москва. [I. Kant (1964). Tác phẩm gồm 6 tập, t.3. Matxcơva].
2. Иммануил Кант (1987), Собр. Соч. в 8 томах. Под. об. ред. А.В. Гулыги. Москва. [I. Kant (1987). Tuyển tập gồm 8 tập. A.V. Gunlygi chủ biên. Mátxcơva].
3. Иммануил Кант (1994). Соч. т. 8. Москва. [I. Kant. Toàn tập. t.8. Mátxcơva].
4. Immanuel Kant. Encyclopedia of Philosophy (http://www.iep.utm.edu).
5. М. Бубер (1995). Два образа веры. Москва. [M. Buber (1995) Hai mô hình của niềm tin. Mátxcơva].
6. П.С. Гуревич (2001). Философская Антропология. Изд. Nota bene. Москва. [P.S. Gurevich (2001). Nhân học triết học. Nxb. Nota bene. Mátxcơva].
7. Т.И. Ойзерман (1982). Проблемы историко-философской науки. Изд. второе. Мысль. Москва. [T.I. Oizerman (1982). Những vấn đề của khoa học lịch sử triết học. Xuất bản lần thứ hai. Nxb. Tư tưởng. Mátxcơva].
8. Современный Философский словарь (1998). Nxb. Панприн. Moscow, Minsk, London, Franfurt/ Main, Paris, Luckcemburg. [Từ điển triết học hiện đại (1998). Nxb. Panprin xuất bản đồng thời ở 8 nước châu Âu].
9. А.Г. Спиркин (2001). Философия. (Гл. VI: И. Кант). Изд. Гардарики. Москва. [A.G. Xpirkin (2001). Triết học. Chương VI: I. Kant. Nxb. Cận vệ. Mátxcơva].
10. V.E. Đaviđôvich (2002). Dưới lăng kính triết học. Nxb CTQG. Hà Nội.
11. Trần Văn Đoàn (2004). Tổng quan về thông diễn học. T/c Nghiên cứu con người số 3.
12. Stephen W. Hawking (2000). Lược sử thời gian. Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
13. V.I. Lênin (1980). Toàn tập, t.18. Nxb Tiến Bộ, Matxcơva.
14. Trần Văn Toàn (2004). Mấy nguyên tắc khoa học về con người. T/C Nghiên cứu con người số 1.
Và, I. Kant là thuỷ tổ của dòng triết học này.
Khi nghiên cứu kho tàng tư tưởng đồ sộ của I. Kant, người ta đã nhận thấy, gần như ở tất cả các lĩnh vực thuộc phạm vi mà ông đã từng quan tâm, I. Kant đều để lại những di sản quý giá mà đến nay hậu thế vẫn tiếp tục khai thác. Chẳng những thế, cũng gần như ở tất cả các lĩnh vực vực đó, I. Kant đều có những phát kiến tầm cỡ mở đường cho sự phát triển tiếp theo của khoa học. Trong lĩnh vực triết học, đó là triết học phê phán với học thuyết về vật tự nó, về các hình thức tiên thiên của nhận thức, về tính khách quan của tri thức…
Trong lĩnh vực đạo đức học, đó là học thuyết về đạo đức học tiên nghiệm với hệ thống các phạm trù đạo đức tiên nghiệm. Trong lĩnh vực tâm lý học, đó là học thuyết về cái tôi đang tư duy, về sự thống nhất siêu nghiệm của tri giác… Trong lĩnh vực thiên văn học, đó là giả thuyết Kant-Laplace về nguồn gốc vũ trụ, một giả thuyết rất gần với quan niệm về vụ nổ Bigbang sau này, v.v… Điều thú vị là, logic trong sáng tạo của I. Kant ở tất cả các lĩnh vực đó đều bắt nguồn từ việc phê phán cách tiếp cận giáo điều đương thời, chỉ ra sự mâu thuẫn giữa cái duy lý và cái kinh nghiệm trong nhận thức truyền thống; từ đó, I. Kant triển khai quan niệm của mình về triết học phê phán, về nhận thức tiên nghiệm. Cuối cùng, mọi bàn luận đều được lý giải theo quỹ đạo của vấn đề con người và nhận thức con người. Con người với tất cả những khía cạnh phong phú của nó, từ tồn tại sinh học đến ý chí tự do, từ lý tính thuần túy đến lý tính thực tiễn, từ logic tiên thiên đến đạo đức tiên nghiệm, từ cá nhân hữu hạn đến tộc loại siêu cá nhân… - tất cả đều được mổ xẻ ở mức độ rất sâu và thấm đượm tinh thần nhân đạo. (Dĩ nhiên, theo cách của I. Kant). Với I. Kant, con người, đặc biệt con người nhân loại đã chiếm một khối lượng đáng kể trong các luận bàn của ông. "ý niệm nhân loại", theo I. Kant, cái đã bị đánh mất ở nhiều người, phải một lần nữa trở nên thiêng liêng đối với con người - "Tuyên bố vừa kỳ lạ vừa chói tai" này không phải được phát đi từ thế kỷ XX, mà từ Immanuel Kant . Nhưng có lẽ đó vẫn chưa phải là điều thú vị nhất. Khi nghiên cứu I. Kant, với chúng tôi, điều thú vị nhất là vai trò của I. Kant đối với ngành nhân học (anthropology).
Thời gian gần đây, khi nhân học được chú ý như một khoa học hiện đại (và có phần thời thượng nữa) về con người, các nhà nghiên cứu nhân học mới giật mình nhận ra rằng, mặc dù vẫn coi M. Scheler là ông tổ của nhân học, song từ rất sớm trước M. Scheler, chính I. Kant chứ không phải ai khác, là người đầu tiên đã đề xuất và "bảo vệ một cách quyết liệt nhất" việc phân chia nhân học thành một khoa học độc lập . I. Kant coi nhân học là một ngành có đối tượng riêng, có phương thức nghiên cứu riêng, phương thức vượt ra khỏi khuôn khổ của các phương thức nhận thức đã biết. Cũng chính là từ triết học phê phán, khi phân loại các vấn đề nhận thức cơ bản mà con người buộc phải giải đáp, I. Kant đã đi đến khẳng định vị trí của nhân học, ngành khoa học phải trả lời câu hỏi muôn thuở - con người là gì. Và, không biết lúc đó I. Kant có hình dung nhân học lại phát triển một cách mạnh mẽ và thu hút sự quan tâm của con người đến như hiện nay hay không.
1. Sự ra đời của triết học phê phán
Thực ra, không phải chỉ vì các tác phẩm cơ bản của I. Kant ở giai đoạn thứ hai trong cuộc đời sáng tạo của ông có tựa đề là "phê phán" mà giai đoạn này được gọi là giai đoạn phê phán. (Đây là điểm chưa thật chính xác mà một số tài liệu viết về I. Kantơ hiện vẫn còn lý giải như thế). Vấn đề là ở chỗ, triết học I. Kant mang tinh thần phê phán hết sức rõ rệt. I. Kant đã phê phán một cách trực diện và không thương tiếc toàn bộ "linh hồn" của triết học tiền bối, bao gồm cả triết học kinh nghiệm luận của J. Loke, G. Berkeley, D. Hume và cả triết học duy lý của R. Descartes, B. Spinoza, G. Leibniz. Sự phê phán của ông được dựa vào một hệ thống tư tưởng riêng biệt và hết sức độc đáo. Hơn thế nữa, sự phê phán đó cũng phải coi là thật sự có hiệu quả, nếu so với những phê phán đã từng tồn tại trong lịch sử triết học.
Như đã biết, trước I. Kant, chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm thống trị trong triết học. I. Kant nhìn thấy rất rõ những điểm hợp lý trong các triết học đó, song ông còn thấy rõ hơn tính chất giáo điều của triết học duy lý và tính chất hoài nghi thiếu cơ sở trong triết học theo kinh nghiệm luận. Những hạn chế này, theo I. Kant, đã trở thành căn bệnh "trầm kha" trong lĩnh vực tư tưởng ở thời đại của ông, làm cho triết học lúc đó rơi vào tình trạng phiến diện và què quặt. Trước thực trạng ấy, I. Kant đặt cho mình nhiệm vụ phân tích có phê phán năng lực nhận thức của con người, giải phóng khỏi nhận thức luận cách tiếp cận đang thống trị lúc đó, mà theo I. Kant là cách tiếp cận giáo điều. Với chủ trương xây dựng một triết học mới thông qua con đường phê phán bằng vũ khí mới của sự phê phán, ở triết học I. Kant đã nảy sinh một cách tiếp cận riêng mà ít lâu sau người ta gọi là cách tiếp cận phê phán. Cũng chính vì thế mà triết học I. Kant còn được gọi là triết học phê phán (Critical philosophy). Đây chính là một nét độc đáo của triết học I. Kant; bởi lẽ, triết học nào cũng ít nhiều sử dụng vũ khí phê phán, nhưng phê phán được nâng thành một phương thức xây dựng tư tưởng, được hệ thống hóa thành một cách tiếp cận riêng thì chỉ có ở I. Kant.
Nguyên tắc cơ bản của cách tiếp cận phê phán và cũng là của toàn bộ triết học phê phán đã được I. Kant nêu trong phần mở đầu xuất bản lần thứ hai tác phẩm "Phê phán lý tính thuần tuý" (The Critique of Pure Reason). I. Kant viết: "Cho đến nay, người ta thường cho rằng hiểu biết của ta cần phải phù hợp với đối tượng. Tuy nhiên, mọi cố gắng thông qua khái niệm để hiểu biết một cái gì đó tiên thiên về đối tượng đều đã kết thúc một cách không thành công. Bởi vì, tri thức của chúng ta về đối tượng đã không được mở rộng. Do đó, cần phải giải thích: phải chăng chúng ta sẽ không giải quyết được một cách tốt hơn nhiệm vụ của siêu hình học, nếu như ta xuất phát từ giả định rằng, đối tượng cần phải phù hợp với nhận thức của ta. Mà điều này lại đáp ứng tốt hơn những đòi hỏi về khả năng hiểu biết một cách tiên thiên về đối tượng - tri thức cần phải xác lập về đối tượng một cái gì đó sớm hơn là nó đem lại cho ta" .
Rõ ràng, tính chất duy tâm của nguyên tắc mà I. Kant nêu ra là điều không phải bàn cãi. Chẳng những cách đặt vấn đề của I. Kant là duy tâm, mà hơn thế nữa, I. Kant còn cố tình duy tâm tới mức cực đoan để diễn đạt một điều nan giải có thật trong nhận thức: cô lập quá trình nhận thức ở bất cứ điểm nào của nó, chúng ta cũng đều có thể rơi vào sai lầm; và (theo I. Kant) không có quá trình nhận thức nào bắt đầu từ con số không. Bởi vậy, để nhận thức được đối tượng, phải giả định rằng "đối tượng cần phải phù hợp với nhận thức" chứ không phải ngược lại. Bằng cách đó, tri thức buộc phải "xác lập về đối tượng một cái gì đó" (hình ảnh giả định về đối tượng) trước khi đối tượng được phản ánh trong nhận thức ("sớm hơn là nó đem lại cho ta"). Nói thế mới thấy được rằng, lối nhận thức có trước kinh nghiệm (a priori) này quả là có hạt nhân hợp lý của nó.
Cái lộ ra ở đây là cách đặt vấn đề của I. Kant là hết sức độc đáo. Bởi lẽ, như đã biết, vào thời của I. Kant, hai khuynh hướng cơ bản của triết học Châu Âu (chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm) mâu thuẫn gay gắt với nhau và thể hiện ra ở chính mâu thuẫn giữa cái duy lý và cái kinh nghiệm. I. Kant muốn khám phá thực chất của mâu thuẫn này để chỉ ra nguyên nhân sâu xa của tình trạng phiến diện và giáo điều của triết học đương đại. Trong triết học I. Kant, sự đối lập giữa cái duy lý và cái kinh nghiệm là đối tượng được ông chú tâm giải quyết trong mọi vấn đề, từ nhận thức vũ trụ đến nhận thức con người, từ logic học đến đạo đức học, từ khái niệm tiên thiên đến khái niệm nảy sinh sau kinh nghiệm (a posteriori).
Điều vĩ đại ở I. Kant là ông đã hoàn toàn vượt lên trên và không bị lôi cuốn vào cách giải quyết mâu thuẫn nói trên theo lối tranh cãi kinh viện hoặc thuần túy kinh nghiệm như các nhà triết học đương thời. I. Kant đã bằng chính tư duy phê phán để lập cho mình một hệ thống tư tưởng riêng, với cách hiểu rất dị thường và đúng là có một không hai về các phạm trù: Với I. Kant, không gian, thời gian, nhân quả, các phạm trù logic, các phạm trù đạo đức… hóa ra đều là những "hình thức" có sẵn trong nhận thức, con người sử dụng chúng để làm ra kinh nghiệm chứ không phải chúng được tạo ra từ kinh nghiệm. Vật tự nó (Thing in Itself) là một sáng tạo kiệt xuất của nhận thức loài người thông qua một bộ óc uyên bác cụ thể là Immanuel Kant .
Như chúng ta đã biết, trong triết học Trung cổ và triết học Phục hưng, tâm điểm của hầu hết các luận thuyết triết học là học thuyết về tồn tại. Người ta chú ý đặc biệt đến khía cạnh bản thể luận trong nghiên cứu triết học. Chỉ bắt đầu từ thời kỳ Cận đại, các nhà triết học duy vật Anh, Pháp,... mà tiêu biểu là F. Bacon, R. Descartes, G. Berkeley, D. Hume... mới chuyển trọng tâm của triết học vào những vấn đề nhận thức luận. Tuy vậy, trong số các vấn đề quan trọng của lý luận nhận thức, vấn đề về mối tương quan, sự tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể nhận thức vẫn chưa được chú ý nhiều trong triết học trước I. Kant. Lúc đó, người ta hướng sự phân tích và khám phá vào khách thể của nhận thức.
ở triết học Cận đại thời kỳ trước I. Kant, tính chủ quan trong nhận thức thường được xem như cái ngăn trở, hoặc lực kìm hãm ... đối với khả năng nhận thức của con người trên con đường kiếm tìm chân lý. Người ta cho rằng chính cái chủ quan đã xuyên tạc và làm mờ đi trạng thái hiện thực của thế giới vật thể xung quanh con người (chẳng hạn, nếu ta nhớ lại quan niệm về các Idole trong triết học F. Bacon). I. Kant, cố nhiên cũng tôn trọng những đặc thù của khách thể nhận thức và thấy rõ tác động tiêu cực của tính chủ quan đối với sự nghiên cứu. Nhưng theo I. Kant, đặc thù khách quan của khách thể nhận thức, không chỉ có khả năng quy định cách thức nhận thức mà đồng thời, nó còn có thể kiểm tra năng lực nhận thức của con người. I. Kant không thoả mãn với những quan niệm đã có về tính quy định của khách thể nhận thức. Ông tự đặt ra cho mình nhiệm vụ phải phân biệt các thành phần khách quan với các thành phần chủ quan trong cấu trúc của tri thức ở chính chủ thể theo các trình độ khác nhau của nhận thức. Xuất phát từ đó, một lần nữa I. Kant đã giải thích lại khái niệm chủ thể nhằm tìm ra cách hiểu sâu sắc hơn và cũng độc đáo hơn về nó.
I. Kant đề xuất sự khác nhau giữa hai trình độ của sự nhận thức ở ngay bản thân chủ thể nhận thức: trình độ kinh nghiệm và trình độ siêu nghiệm (transcendent). ở trình độ kinh nghiệm, I. Kant xem xét những đặc thù trong tâm sinh lý cá nhân của con người và sự tác động của chúng đến nhận thức, đến kết quả nhận thức. ở trình độ siêu nghiệm, I. Kant cho rằng nhận thức của con người đã vượt qua sự quy định của những đặc thù cá nhân để hướng tới một bản nguyên siêu cá nhân (transperson - trên cá nhân) nào đó. Với trình độ này, chủ thể nhận thức hiện ra là đại biểu và đại diện cho loài của mình - con người với tính cách là đại biểu của loài. Như vậy, ngay ở mỗi cá nhân, quá trình nhận thức cũng bị quy định và luôn tự phát hướng tới cái siêu nghiệm. Đặc điểm này không phụ thuộc vào đặc điểm tâm sinh lý riêng biệt của từng cá nhân, mặc dù nó thể hiện ở từng cá nhân; đặc điểm này mang tính khách quan và là biểu hiện của tính tộc loại của con người.
Bằng cách đó, lần đầu tiên trong lịch sử triết học, I. Kant đã đặt ra vấn đề về tính khách quan ở chủ thể nhận thức.
Trong tác phẩm "Phê phán lý tính thuần tuý", một trong những nội dung cơ bản của triết học lý luận được I. Kant nêu ra là: tri thức khoa học chân chính có khả năng đến đâu? Hay, nói theo cách nói của ông là "các mệnh đề tổng hợp tiên nghiệm xuất hiện như thế nào?" . Với cách đặt vấn đề này, I. Kant muốn tìm xem tư duy khoa học duy lý có những hạn chế của nó hay không? Và để trả lời, I. Kant cụ thể hoá vấn đề này thành ba nội dung riêng biệt: Khả năng của toán học? Khả năng của vật lý học (khoa học tự nhiên)? và, khả năng của siêu hình học (triết học)?
Với ba lĩnh vực tri thức này, I. Kant đã nêu ra ba định hướng quan niệm khác nhau về khả năng của chúng. Ông trình bày quan niệm của mình về tính đặc thù trong khả năng phản ánh, trong cách thức thể hiện thế giới của các khoa học này. I. Kant tin tưởng sâu sắc vào tính chất khoa học của toán học và các khoa học tự nhiên. Ông tìm cách giải thích tính khoa học của các khoa học đó trong sự chi phối và quy định của tư duy kinh nghiệm và của nhận thức ở trình độ kinh nghiệm. Nhưng với siêu hình học, tức là với triết học thì I. Kant đặt câu hỏi liệu siêu hình học nói chung có khả năng tồn tại như là một khoa học hay không? Và, điều thú vị là ông đã trả lời phủ định đối với câu hỏi này. I. Kant viết: "Siêu hình học từ trước tới giờ luôn ở trong tình trạng bấp bênh không đáng tin cậy và mâu thuẫn chỉ bởi một nguyên do là nhiệm vụ (xác định khả năng của tri thức khoa học - HSQ), và thậm chí cả việc tìm ra sự khác biệt giữa các suy lý phân tích và tổng hợp cũng vẫn chưa được ai bàn đến. Sự bền vững hay bấp bênh của siêu hình học là tuỳ thuộc vào sự giải quyết nhiệm vụ này hay ở việc chứng minh rằng trên thực tế, nói chung không thể nào làm rõ được nhiệm vụ trên".
Về tính xác thực của tri thức khoa học, I. Kant cho rằng, xác thực nghĩa là có thể tin cậy được và đó chỉ có thể là tri thức khách quan, tức là mang tính khách quan. Tính khách quan, theo I. Kant, đồng nhất với tính phổ quát và tính tất yếu. Do vậy, tri thức nếu muốn đạt tới sự xác thực thì nó cần phải đạt tới trình độ tất yếu và phổ quát, có giá trị chung mang tính phổ biến (I. Kant đồng nhất cái khách quan với cái có giá trị chung mang tính phổ biến).
Tính khách quan của tri thức, theo I. Kant, được quy định bởi cấu trúc của chủ thể siêu nghiệm, bởi những thuộc tính và phẩm chất siêu cá nhân của chủ thể nhận thức. I. Kant lý giải, mỗi chủ thể đang nhận thức, trong bản tính của mình, luôn vốn có một trình độ nhất định của nhận thức thiên bẩm (tiền kinh nghiệm) thể hiện trong các hình thức thiên bẩm của nhận thức. Các hình thức nhận thức thiên bẩm này chính là trình độ đầu tiên của quá trình nhận thức tiếp cận đến hiện thực (I. Kant đã phân tích rất kỹ về điều này thông qua các khái niệm không gian, thời gian, v.v... - mà ông coi là những hình thức chủ quan, tiền kinh nghiệm của nhận thức cảm tính. I. Kant phân biệt, không gian là hình thức bên ngoài, còn thời gian là hình thức bên trong của kinh nghiệm cảm tính. Các biểu tượng không gian, theo ông, là cơ sở của các tri thức hình học, thời gian - của các tri thức số học và đại số.
Vấn đề là ở chỗ, những tiền đề làm nên tính xác thực của tri thức, theo I. Kant, được tạo ra bởi những hình thức tiền kinh nghiệm của nhận thức cảm tính. Đó là trình độ thứ nhất của nhận thức. Trong quá trình nhận thức, việc hiện thực hoá những tiền đề đó lại được thực hiện nhờ khả năng nhận thức ở trình độ thứ hai - trình độ nhận thức lý tính. ở trình độ này, lý trí - đó chính là tư duy với hệ thống các khái niệm và các phạm trù của mình - đã thực hiện các phán đoán để xây dựng đối tượng nhận thức. Đối tượng không phải là nguồn gốc của tri thức về nó dưới dạng các khái niệm, phạm trù. Mà ngược lại, chính các hình thức của lý trí, tức là các khái niệm và các phạm trù đã tạo nên, đã kiến tạo nên đối tượng của nhận thức. Theo lập luận của I. Kant thì đó chính là cơ sở khiến cho chúng ta có thể đồng ý hay phản đối ý kiến của người khác về đối tượng của sự nhận thức. Hơn thế nữa, đó còn là lý do giải thích tại sao con người lại chỉ có thể hiểu được những gì do nó sáng tạo ra, tức là hiểu được những gì nằm trong phạm vi bao quát của hệ thống phạm trù tiên nghiệm vốn có ở con người. Vượt ra khỏi giới hạn đó, hiện thực thuộc về "thế giới vật tự nó". Với I. Kant, khái niệm và phạm trù sở dĩ mang tính phổ quát và tất yếu, trước hết là vì chúng không phụ thuộc vào ý thức cá nhân (được hình thành bởi kinh nghiệm). Chúng chính là những hình thức siêu nghiệm của nhận thức. Tri thức, vì vậy, theo I. Kant, luôn luôn là cơ sở (là chỗ dựa) cho chính nó. Nó có sẵn dưới dạng các tri thức siêu nghiệm, nó được làm giàu thêm, được phát triển thêm cũng nhờ chính bản thân các tri thức kinh nghiệm và siêu nghiệm. Toàn bộ quá trình đó nằm ngoài và không phụ thuộc vào ý thức cá nhân, cá thể. Theo nghĩa ấy, I. Kant cho rằng tri thức có tính khách quan.
Trong quan niệm của I. Kant, lý tính điều chỉnh tri giác của con người trong suốt quá trình nhận thức, dẫn dắt tri giác vào khuôn khổ của các hình thức tất yếu và phổ quát của nhận thức. Bằng cách đó, lý tính quy định tính khách quan của tri thức. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là, cái gì đã tạo ra khả năng đó của lý tính? Tại sao lý tính lại có thể đưa tri giác vào các hình thức tiên nghiệm như vậy? Và, cuối cùng thì cái gì đã gắn kết các phạm trù và các khái niệm vào một chỉnh thể trong hiện thực? I. Kant đã trả lời các câu hỏi này theo quan điểm hết sức nhất quán của riêng mình: tất cả những thao tác đó là do đặc thù của chủ thể quy định. Theo I. Kant, cơ sở sâu xa tạo nên sự thống nhất trong nhận thức luận, mà nếu thiếu sự thống nhất đó thì lý tính không thể thực hiện được chức năng của nó - đó là hành vi tự nhận thức của chủ thể: cái tôi đang tư duy. I. Kant gọi hành vi này là sự thống nhất siêu nghiệm của tri giác hay, sự kết hợp của các tri giác nằm ở ngoài giới hạn của kinh nghiệm.
Như vậy, lý tính, theo I. Kant, cũng là khả năng của chủ thể nhưng ở trình độ rất cao. Khả năng này quy định và điều khiển mọi hoạt động tư duy của con người, thậm chí còn đặt ra mục đích nhận thức cho con người. Còn tư tưởng, trong quan niệm của I. Kant, đó là bản chất siêu cảm giác của sự tồn tại hiện thực của lý tính. Trong nhận thức, dạng sơ đẳng của tư tưởng được hiện hình bằng những quan niệm về mục đích, về nhiệm vụ mà nhận thức của ta tự đặt cho nó và hướng tới nó. Thông qua tư tưởng, lý tính thực hiện chức năng điều chỉnh đối với hoạt động nhận thức và đánh thức chủ thể vượt ra ngoài giới hạn của kinh nghiệm, vươn tới tri thức tuyệt đối.
Điều cần suy nghĩ ở đây là, có lẽ trong tâm tưởng sâu xa của mình, I. Kant hoàn toàn không hề đánh giá thấp khả năng nhận thức của con người, mặc dù ông cho rằng các khái niệm và các phạm trù, tức là những hình thức của tư duy không có khả năng làm cho chủ thể vượt ra ngoài giới hạn của kinh nghiệm. Về hình thức thì quan niệm này dường như hạ thấp sức mạnh của tư duy con người, nhưng về thực chất thì quan niệm này lại cho phép nhìn thẳng vào những nan giải to lớn của nhận thức và làm lộ ra mâu thuẫn vốn có thuộc về bản chất của tư duy: trong tư duy, mọi quá trình, mọi vận động… bên ngoài đều được phản ánh dưới dạng các hình thức logic đứng im, chết cứng. Dĩ nhiên, I. Kant là một đại biểu lỗi lạc của chủ nghĩa bất khả tri, nhưng bất khả tri của I. Kant, theo chúng tôi, là bất khả tri ở điểm tận cùng của nhận thức, là bất khả tri của những tham vọng nhận thức và cải tạo không có điểm dừng, không có giới hạn đối với thế giới (những người theo thuyết anthropocentrism ở châu Âu, từ thời cổ đại đến tận ngày nay, vẫn chủ trương coi con người là trung tâm, không thừa nhận giới hạn của sự nhận thức và cải tạo thế giới ). Có thể coi đây cũng là một antinomie thú vị, nếu tính đến những thành tựu vĩ đại trong nhận thức mà chính I. Kant đã đạt được trong cuộc đời khoa học của mình. Một người được xếp vào hàng ít ỏi những cây đại thụ của thuyết bất khả tri, nhà triết học sáng tạo ra khái niệm "vật tự nó" làm cho thuyết bất khả tri bị đẩy đến tận cùng của sự cực đoan, nhưng lại có những phát kiến tầm cỡ "dẫn đường cho nhân loại" cả trong triết học, trong khoa học tự nhiên và trong khoa học về con người.
Bởi thế, những quan niệm của I. Kant về ảo ảnh và về mâu thuẫn mà lý trí mắc phải, về một phương diện nhất định, phải được hiểu là cách thể hiện độc đáo những ước mơ, khao khát của ông hướng tới trình độ sâu sắc hơn nữa của nhận thức con người. Theo chúng tôi, rõ ràng I. Kant quá nhạy cảm và ý thức quá rõ về những giới hạn có thật đối với tư duy và nhận thức. Tuy nhiên, dù chân thành bao nhiêu với việc vạch ra giới hạn nhận thức của con người I. Kant cũng đã từng bị đánh giá là chơi trò "mập mờ nước đôi" (chữ dùng của Albrecht Rau, 1882): dung hoà, thoả hiệp trong nhận thức. Sự phê phán gay gắt (những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX) đối với I. Kant từ cả hai phía tả và hữu (duy vật và duy tâm) rõ ràng chẳng phải là chuyện khó hiểu. Hoá ra là, càng muốn vượt lên trên cả hai đường lối triết học bao nhiêu, I. Kant lại càng nhận được kết quả trái với mong muốn của mình bấy nhiêu.
█2. Nhân học với khách thể bí ẩn và hấp dẫn tột cùng của sự tư biện
Về lĩnh vực nhận thức con người, khi nghiên cứu triết học I. Kant, người ta cũng có thể thấy rất rõ thái độ trân trọng của ông đối với con người và lý trí con người. Chỉ có điều, là một nhà triết học độc đáo nên việc đề cao con người ở I. Kant cũng rất khác biệt so với các nhà tư tưởng khác. Theo I. Kant, "thế giới vật tự nó" là thế giới dành cho cảm giác.
Do vậy, thế giới đó đóng kín đối với lý tính và đối với khoa học. Tuy thế, theo cách giải thích của I. Kant, đối với "thế giới vật tự nó", con người không phải là tuyệt nhiên không thể vươn tới được. Bởi lẽ, con người, trong quan niệm của I. Kant, luôn sống trong cả hai thế giới - thế giới mà cảm giác có thể đạt tới và thế giới mà trí tuệ có thể đạt tới (còn gọi là thế giới khả giác và thế giới khả niệm).
Thế giới mà cảm giác có thể đạt tới, theo I. Kant, đó là giới tự nhiên. Còn thế giới mà trí tuệ đạt tới - đó là thế giới của tự do. Tự do trong quan niệm của I. Kant là một trạng thái mà ở đó, con người hoàn toàn không bị lệ thuộc vào những nguyên nhân tiền định nào đó vốn có trong thế giới có thể cảm giác được. Tự do là khả năng tiên nghiệm đặc biệt cho phép giác tính con người hoạt động độc lập với các quy luật tất yếu của tự nhiên trong lĩnh vực hiện tượng luận, nó tồn tại một cách tương đối trong lĩnh vực hiện tượng luận. Trong biên giới của tự do, hành động và hành vi của con người không bị chi phối bởi lý tính lý luận mà bị chi phối bởi tính thực tiễn. Lý tính được gọi là thực tiễn, theo I. Kant, là lý tính mà ý nghĩa chủ yếu của nó là điều chỉnh hành vi con người. Động lực của lý tính thực tiễn không phải là tư duy, mà là ý chí của con người. I. Kant gọi ý chí của con người là vương quốc của sự tự trị. ở đây, ý chí của con người được quy định không phải bởi các nguyên nhân bên ngoài, tức là những nguyên nhân thuộc về tính tất yếu của giới tự nhiên hoặc những nguyên nhân thuộc về Thượng đế. Theo I. Kant, ý chí của con người được quy định bởi những quy luật, luật lệ vốn có của riêng nó. Đó là những quy luật, luật lệ mà ý chí tự đặt ra cho bản thân mình.
Như đã nói ở trên, chính I. Kant chứ không phải ai khác, là người đầu tiên đã đề xuất và "bảo vệ một cách quyết liệt nhất" việc phân chia nhân học thành một khoa học độc lập. Trong so sánh với các lĩnh vực tri thức đã được xác lập, I. Kant coi nhân học, mà trước hết là nhân học triết học (philosophical anthropology) là một ngành có đối tượng riêng của mình, có phương thức nghiên cứu riêng của mình. Theo P.S. Gurevich, “nhà nghiên cứu sâu sắc hơn cả trong tư tưởng Nga hiện đại về vấn đề con người” , thì "I. Kant là người đầu tiên của nền triết học châu Âu khẳng định rằng, con người là một thực thể độc nhất vô nhị có khả năng suy tư một cách riêng biệt và độc đáo. Con người - là khách thể bí ẩn và hấp dẫn tột cùng của sự tư biện triết học. Để khám phá bí ẩn của con người, cần phải có những công cụ không tầm thường và độc lập. Trong ý nghĩa đó, nhân học triết học đối lập với khu vực tri thức triết học truyền thống - bản thể luận (học thuyết về tồn tại), logic học, lý luận nhận thức, lịch sử triết học, đạo đức học, thầm mỹ học, triết học tự nhiên, triết học xã hội, triết học lịch sử”.
Tư tưởng đề cao tính đặc thù của con người, coi con người là một thực thể bí ẩn, độc nhất vô nhị, vượt ra ngoài khả năng khám phá của các công cụ nhận thức truyền thống, kể cả bản thể luận và nhận thức luận, kể cả logic học, đạo đức học và thẩm mỹ học, kể cả triết học tự nhiên, triết học xã hội và triết học lịch sử… là một tư tưởng rất độc đáo, trước I. Kant chưa từng được phát biểu một cách tường minh trong kho tàng tri thức nhân loại (Diogiene và Socrate tuy dường như cũng có nói đến sự bí ẩn của đời sống con người, song các ông hướng tới khám phá sự bí ẩn đó bằng các công cụ duy lý của tư duy trừu tượng). Với I. Kant, tính bí ẩn và độc nhất vô nhị của sự tồn tại người được khẳng định là vượt ra ngoài khuôn khổ của nhận thức duy lý; bởi vậy, nhận thức con người là nhằm luận giải những hiện tượng cá nhân đầy bản sắc, những hành vi và hoạt động phức tạp của con người trong các thiết chế xã hội đã từng tồn tại trong lịch sử. Tư tưởng này về sau được S. Kierkegaard, F. Dostoievski, M. Heidegger, H. Rickert, M. Scheler, J. Sartre cùng một số nhà triết học hiện sinh khác khai thác và phát triển thêm làm lộ ra rõ hơn tính hợp lý của nó. Với sự ứng dụng ngày càng sâu hơn của thông diễn học (heurmernetics), tư tưởng này càng được thể hiện và được chứng minh là một hướng đi rất chủ yếu trong nhận thức con người với tất cả tính phức tạp của đối tượng này - con người, một thực thể vừa sinh học vừa xã hội, vừa cá nhân vừa tộc loại, vừa vật chất trần tục vừa tinh thần thiêng liêng…
Vấn đề là ở chỗ, với I. Kant, nhận thức con người cũng có nghĩa là nhận thức thế giới; chỉ có thông qua con người, các vấn đề của nhận thức thế giới mới được giải quyết. I. Kant viết: "Mục tiêu của tất cả những thành tựu văn hoá mà con người học được là ứng dụng những tri thức và những kinh nghiệm đã thu nhận được vào thế giới. Nhưng đối tượng quan trọng nhất trong thế giới mà những tri thức này có thể ứng dụng được - đó là con người, chừng nào con người còn là mục đích tự thân cuối cùng" . Khi xác định nhiệm vụ cho triết học, I. Kant tự đặt cho riêng mình 4 câu hỏi mà về sau người ta hiểu đó là 4 nội dung cơ bản của toàn bộ nhận thức con người:
1. Tôi có thể biết gì?Theo I. Kant, nhiệm vụ trả lời câu hỏi thứ nhất thuộc về nhận thức luận. Câu hỏi thứ hai dành cho đạo đức học. Câu hỏi thứ ba dành cho tôn giáo và thần học, đòi hỏi tôn giáo phải cắt nghĩa những hy vọng thực tế và phi thực tế của con người. Và cuối cùng, nhiệm vụ trả lời câu hỏi thứ tư thuộc về nhân học - nhân học, mà ngay trong cách đặt vấn đề của I. Kant cũng đã được phân biệt rạch ròi với nhận thức luận, với đạo đức học và với tôn giáo. Rõ ràng, đây là một kiểu phân loại hết sức độc đáo mà trước đó, khoa học, tôn giáo và triết học thường có thái độ loại trừ nhau, không thừa nhận tiếng nói và vị thế của nhau trong đời sống tinh thần con người. Cách phân loại của I. Kant đặt lại vấn đề về ý nghĩa của sự tồn tại người trong chính nhận thức. Hơn thế nữa, I. Kant còn chỉ rõ thực chất của sự nhận thức thế giới nói chung đối với con người, hoá ra lại chính là, nhận thức con người; I. Kant viết: "Về thực chất, toàn bộ điều đó (4 câu hỏi và sứ mệnh trả lời 4 câu hỏi ấy) có thể quy giản về nhân học. Bởi vì, ba vấn đề đầu tiên thuộc về vấn đề cuối cùng".
2. Tôi có thể làm gì?
3. Tôi có thể hy vọng gì?
4. Con người là gì?
Kể
từ I. Kant, nhân học triết học nói riêng và đặc biệt, các ngành nhân
học thực nghiệm khác đã có những bước tiến rất dài trong nhận thức về
con người và đời sống con người. Ngày nay, nhắc đến nhân học người ta
rất ít nói về I. Kant, nhưng quả thực công lao của ông đối với ngành
khoa học này thì khó có thể phủ nhận.
*
* *
* *
Nói
tóm lại, với tất cả những gì vừa trình bày ở trên, chúng tôi muốn nói
rằng, triết học I. Kant hoàn toàn có thể được coi là điển hình cho triết
học của những nét đặc thù và độc đáo. Cố nhiên, nói triết học I. Kant
là độc đáo thì cũng cần phải nói thêm là, khi đã ở tầm một nhà triết học
của nhân loại, hầu như nhà triết học nào cũng đều có những nét đặc thù
và độc đáo trong hệ thống triết thuyết của riêng mình. Tuy vậy, trong
lịch sử triết học, khó có nhà triết học nào lại độc đáo và đặc thù đến
như I. Kant.
Tính độc đáo của triết học I. Kant,
trước hết được thể hiện ở hệ thống tư tưởng của ông. Tuy thế, ngoài hệ
thống tư tưởng với các học thuyết về "vật tự nó", về hệ thống các phạm
trù logic, hệ thống các phạm trù đạo đức học, về vai trò và vị trí của
nhân học, và về bản thân các phạm trù mà chính I. Kant đã xây dựng nên,
v.v... triết học I. Kant còn độc đáo ngay cả ở cách đặt vấn đề, cách
thức trình bày, và thậm chí cả ở tên gọi các tác phẩm của ông... Sự độc
đáo của triết học I. Kant trên thực tế đã từng khiến cho việc xếp loại,
đánh giá những tư tưởng của ông trở nên đặc biệt khó khăn.
Để
kết thúc bài viết này, chúng tôi muốn nhắc đến một đánh giá mới nhất về
I. Kant - đánh giá của Stephen W. Hawking, nhà vật lý học nổi tiếng
đương đại. S. Hawking cho rằng I. Kant là người đứng ở đỉnh cao nhất
trong số các nhà triết học vĩ đại của nhân loại - những người coi "toàn
bộ kiến thức của loài người trong đó có khoa học tự nhiên là thuộc lĩnh
vực của họ". S. Hawking phàn nàn: "thế kỷ XIX và XX, khoa học trở nên
quá kỹ thuật và quá toán học đối với các nhà triết học nói riêng và nói
chung là đối với nhiều người trừ một số ít chuyên gia rất sâu". Điều đó
đã làm cho các nhà triết học giới hạn các câu hỏi của mình lại đến mức
triết học chỉ còn là "phân tích ngôn ngữ". Và, S. Hawking nhận xét:
"thật là một thoái trào lớn khỏi truyền thống lớn lao của triết học từ
Aristote đến I. Kant".
Chúng tôi không hoàn toàn tán
thành nhận xét của S. Hawking. Song, những đánh giá của ông về I. Kant
thì lại rất đáng phải suy nghĩ.
1) Xem: V..E. Đaviđôvich (2002). Dưới lăng kính triết học. Nxb CTQG. Hà Nội. tr. 308.
2) Xem: М. Бубер (1995). Два образа веры. Москва. стр. 195. [M. Buber (1878-1965) nhà triết học tôn giáo nổi tiếng châu Âu, nhà tư tưởng của các dân tộc Arâp. Xem: M. Buber (1995) Hai mô hình của niềm tin. Mátxcơva. tr. 159].
3) Иммануил Кант (1964). Сочинение в шести томах, т. 3, Москва. стр. 87. [I. Kant (1964). Tác phẩm gồm 6 tập, t.3. Matxcơva. tr.87].
4) Xem: Т.И. Ойзерман (1982). Проблемы историко-философской науки. Издание второе. Мысль. Москва. [T.I. Oizerman (1982). Những vấn đề của khoa học lịch sử triết học. Xuất bản lần thứ hai. Nxb, Tư tưởng. Mátxcơva].// П.С. Гуревич (2001). Философская Антропология. Изд. Nota bene. Москва. (Гл. IV. Кант: Человек… есть последная цель. стр. 84-91). [P.S. Gurevich (2001). Nhân học triết học. Nxb. Nota bene. Mátxcơva. chương IV. Kant: Con người… là mục đích cuối cùng. tr. 94-91].// Xem thêm về I. Kant tại Website Encyclopedia of Philosophy (http://www.iep.utm.edu).
5) Xem: А.ГСпиркин (2001). Философия. (Гл. VI: И. Кант. стр. 135-144). Изд. Гардарики. Москва. [A.G. Xpirkin (2001). Triết học. Chương VI: I. Kant. tr. 135-144. Nxb. Cận vệ. M.].
6) I.Kant (1964). Sđd, t.3. tr.117.
7) I. Kant (1964). Sđd., t.3. tr.117
8) Xem: Современный Философский словарь (1998). Nxb. Панприн. Moscow, Minsk, London, Franfurt/ Main, Paris, Luckcemburg, tr. 68. [Từ điển triết học hiện đại (1998). Nxb. Panprin xuất bản đồng thời ở 8 nước châu Âu. tr. 68].
9) Xem: V.I.Lênin (1980). Toàn tập, t.18. Nxb Tiến Bộ, Matxcơva, tr. 247 - 248.
10) V.E. Đaviđôvich (2002). Sđd. tr. 336.
11) П.С. Гуревич (1999). (1999). Sđd. tr. 84 (người trích nhấn mạnh).
12) Xem: Trần Văn Đoàn (2004). Tổng quan về thông diễn học. T/c Nghiên cứu con người số 3.// Trần Văn Toàn (2004). Mấy nguyên tắc khoa học về con người. T/C Nghiên cứu con người số 1.
13) И. Кант (1987), Собр. Соч. в 8 томах. Под. об. ред. А.В. Гулыги. Москва. стр. 138. [I. Kant (1987). Tuyển tập gồm 8 tập. A.V. Gunlygi chủ biên. Mátxcơva. tr. 138].
14) И. Кант (1994). Соч. т. 8. Москва. стр.280. [ I. Kant. Toàn tập. t.8. Mátxcơva. tr. 280].
15) Xem: T.I. Oizerman (1982). Sđd.
16) Stephen W. Hawking (2000). Lược sử thời gian. Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội. tr. 214-215.
Tài liệu
1. Иммануил Кант (1964). Сочинение в шести томах, т. 3, Москва. [I. Kant (1964). Tác phẩm gồm 6 tập, t.3. Matxcơva].
2. Иммануил Кант (1987), Собр. Соч. в 8 томах. Под. об. ред. А.В. Гулыги. Москва. [I. Kant (1987). Tuyển tập gồm 8 tập. A.V. Gunlygi chủ biên. Mátxcơva].
3. Иммануил Кант (1994). Соч. т. 8. Москва. [I. Kant. Toàn tập. t.8. Mátxcơva].
4. Immanuel Kant. Encyclopedia of Philosophy (http://www.iep.utm.edu).
5. М. Бубер (1995). Два образа веры. Москва. [M. Buber (1995) Hai mô hình của niềm tin. Mátxcơva].
6. П.С. Гуревич (2001). Философская Антропология. Изд. Nota bene. Москва. [P.S. Gurevich (2001). Nhân học triết học. Nxb. Nota bene. Mátxcơva].
7. Т.И. Ойзерман (1982). Проблемы историко-философской науки. Изд. второе. Мысль. Москва. [T.I. Oizerman (1982). Những vấn đề của khoa học lịch sử triết học. Xuất bản lần thứ hai. Nxb. Tư tưởng. Mátxcơva].
8. Современный Философский словарь (1998). Nxb. Панприн. Moscow, Minsk, London, Franfurt/ Main, Paris, Luckcemburg. [Từ điển triết học hiện đại (1998). Nxb. Panprin xuất bản đồng thời ở 8 nước châu Âu].
9. А.Г. Спиркин (2001). Философия. (Гл. VI: И. Кант). Изд. Гардарики. Москва. [A.G. Xpirkin (2001). Triết học. Chương VI: I. Kant. Nxb. Cận vệ. Mátxcơva].
10. V.E. Đaviđôvich (2002). Dưới lăng kính triết học. Nxb CTQG. Hà Nội.
11. Trần Văn Đoàn (2004). Tổng quan về thông diễn học. T/c Nghiên cứu con người số 3.
12. Stephen W. Hawking (2000). Lược sử thời gian. Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
13. V.I. Lênin (1980). Toàn tập, t.18. Nxb Tiến Bộ, Matxcơva.
14. Trần Văn Toàn (2004). Mấy nguyên tắc khoa học về con người. T/C Nghiên cứu con người số 1.
| Triết học Immanuel Kant ( 1724-1804 ) |
| Thứ hai, 19 Tháng 10 2015 12:32 |
| Triết gia Đức danh tiếng ( 1724-1804 ) sinh tại tại Koenigsberrg
thuộc Phổ ngày trước trong một gia đình trung lưu gốc Scoland. Theo Will
Durant hệ triết học Kant đã thống trị cả thế kỹ 19. Kant đã đánh thức
cả thế giới ra khỏi "cơn mê ngũ trong giáo điều" từ năm 1781 với tác
phẩm thời danh "Phê bình lý tính thuần túy". Cùng thời gian có nhiều trường phái triết học khác cũng phát triển đầy uy lực và nổi lên trên bề mặt như sóng cồn như triết học Schopenhauer (1788- 1860 ),triết học Các Mác ( 1818-1883 ), triết học Nietzsche (1844-1900). nhưng bên dưới là mạch ngầm vững mạnh vẩn là triết học Kant vẩn tiếp tục chảy, luôn sâu hơn và rộng hơn. Nếu như Các Mác là người tìm ra quy luật phương thức sản xuất tư bản thời tiền tư bản và từ đó chỉ dẩn nguyên nhân sự nghèo đói là sự tham lam bóc lột của người giàu, kêu gọi người nghèo dùng sức mạnh để thóat khỏi sự nghèo đói thì Kant chỉ dẩn cho con người tổ chức các cảm giác thành tri giác, tổ chức các tri giác thành tri thức, tổ chức các tri thức thành sự minh triết và lý tưởng cho một cuộc đời may mắn được làm người. Kant dạy con người phải sống làm sao để tránh những lằn roi quất vào lương tâm của chính mình. Vì vậy với Các Mác :" Hạnh phúc là đấu tranh" nhưng với Kant "Ta hảy tìm hạnh phúc cho kẻ khác, nhưng cho chính ta, thì hảy tìm sự hòan thiện, dù nó đem lại cho ta hạnh phúc hay đau khổ.". Với một đòan quân chiến thắng bằng bạo lực, nếu quên đi lời dặn trên của Kant mà tiếp tục "đấu tranh" cướp đọat những gì kẻ khác có thì hậu họa sẽ khôn lường. Chính Kant dạy chúng ta phải tự hòan thiện chính mình về trí tuệ và năng lực để có thể giúp người khác sống tốt hơn, sống giàu hơn, sống tự do hơn, sống hạnh phúc hơn. Với những minh triết trên, khi con người biết lắng nghe lời dặn của Kant thì cuộc đời sẽ hạnh phúc hơn và thật sự thanh thản hơn khi phải "nhắm mắt xuôi tay" từ biệt cuộc sống này. Với tư tưởng của Kant, xã hội sẽ từng bước trở nên một thiên đường.Người Việt rất quý trọng nhân cách và tư duy của người Nhật. Người Nhật tôn trọng Kant là một trong bốn nhà minh triết của nhân loại, tại sao chúng ta lại ít nghiên cứu triết học Kant ? Ks Doãn Mạnh Dũng Ghi chú của tác giả bài viết : Các Mác là người tìm ra quy luật phương thức sản xuất tư bản thời tiền tư bản vào đầu thế kỹ 19, khi đó công nghệ còn rất đơn sơ. Các xí nghiệp khai khoáng của các nhà tư bản là những đại công trường dựa vào hai yếu tố cơ bản của người công nhân : lao động cơ bắp và thời gian. Nhưng cả hai yếu tố trên đều có giới hạn, không thể tăng mãi. Vì vậy thời gian này Các Mác đưa ra công thức chiếm hữu giá trị thặng dư của nhà tư bản như sau : V = c + v + m (1) Trong đó V: giá trị hàng hóa. c: là cố định - phần máy móc và vật tư đưa vào hàng hóa. v: lương mà nhà tư bản trả cho người công nhân. m : giá trị thặng dư mà nhà tư bản chiếm hữu. Với công thức (1),nhà tư bản giàu vì chiếm "m" - là lao độ ng của người công nhân. Từ công thức trên Các Mác cho rằng kẻ giàu là ăn cướp lao động của kẻ nghèo. Thực ra, trong máy móc và vật tư bao gồm lao động giản đơn, lao động trí tuệ và tài nguyên trong quá khứ và trong quá trình sản xuất. Hai con người khác nhau tích lủy trí tuệ khác nhau nên tạo ra hiệu suất cổ máy khác nhau. Hai vị trí khác nhau trên trái đất có nguồn tài nguyên khác nhau nên tạo ra giá trị hàng hóa khác nhau. Vì sự cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường, công nghệ càng phát triển thì lao động trí tuệ càng có hàm lượng cao trong hàng hóa và dịch vụ. Nhờ vậy khi khoa học và công nghệ càng phát triển thì giá trị "m" càng cao, nhà tư bản càng giàu. Khi đó, cái bánh chia cho người công nhân có nguồn để cung thêm vì vậy không thể có chuyện : giai cấp công nhân là người đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản như Các Mác dự báo. Nhờ nền kinh tế thị trường, con người Việt Nam hôm nay không cần đi học cũng biết muốn làm ông chủ doanh nghiệp phải có trí tuệ từ thực tiển hay từ ghế nhà trường. Như vậy bản chất công thức (1) là sai, gần đúng trong thời tiền tư bản và khi công nghệ phát triển thì nó càng xa cái đúng hơn. Nhưng công thức (1) được sử dụng để kích thích và gây mâu thuẩn giữa người nghèo và người giàu. Đó là nguyên nhân chính gây ra nhiều bạo lực trong thế kỹ 19, 20 và hôm nay. Lịch sử đã dạy rằng, sự phủ nhận lẩn nhau bằng bạo lực chỉ tạo ra vòng xóay bạo lực ngày càng sâu sắc hơn. Lối thóat duy nhất là phải chấp nhận sự tồn tại đa dạng và sự khoan dung từ những con người văn minh. Rất tiếc công thức (1) vẩn còn được đưa vào dạy cho thế hệ trẻ Việt Nam ở thế kỹ 21 ! Một nền giáo dục lạc hậu như vậy thì đất nước phải hướng đến sự nghèo nàn và lạc hậu. Doãn Mạnh Dũng |
-310-230
Hy Lạp
Vật Lý, Thiên Văn Học
Thuyết nhật tâm
Phần 1: Sự phát triển của thuyết nhật tâm
Trong thiên văn học, mô hình nhật tâm là lý thuyết
cho rằng Mặt Trời nằm ở trung tâm của vũ trụ và/hay của Hệ Mặt Trời. Từ
này (heliocentrism) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp (helios = "Mặt Trời" và
kentron = "trung tâm"). Về mặt lịch sử, hệ nhật tâm đối lập với hệ địa
tâm và hiện nay là với thuyết địa tâm hiện đại, cho rằng Trái Đất nằm ở
trung tâm. (Sự phân biệt giữa Hệ Mặt Trời và Vũ trụ là không rõ ràng cho
tới tận thời hiện đại, nhưng đặc biệt quan trọng cho sự tranh cãi về
vấn đề vũ trụ học và tôn giáo.) Trong thế kỷ 16 và 17, khi lý thuyết này
được Copernicus, Galileo và Kepler đưa ra và ủng hộ, nó trở thành trung
tâm của một cuộc tranh cãi lớn.
Hệ Mặt Trời với Mặt Trời ở trung tâm
Đối với bất kỳ một người nào đứng nhìn lên bầu trời, có vẻ rõ ràng rằng
Trái Đất đứng yên vị trong khi mọi vật trên bầu trời mọc và lặn hay
quay quanh nó hàng ngày. Quan sát trong một thời gian lâu hơn, họ sẽ
thấy nhiều chuyển động phức tạp hơn. Mặt Trời chuyển động chậm chạp theo
hình tròn trong năm; các hành tinh có các chuyển động tương tự nhau,
nhưng thỉnh thoảng chúng quay vòng và di chuyển ngược lại trong một
khoảng thời gian (chuyển động lùi). Khi các chuyển động đó ngày càng
được tìm hiểu kỹ hơn, càng ngày càng cần có những miêu tả tỉ mỉ hơn,
cách miêu tả nổi tiếng nhất là hệ Ptolemy, được hình thành từ thế kỷ thứ
2.
Những dấu vết sớm nhất về một ý tưởng đi ngược trực giác cho rằng Trái
Đất trên thực tế đang quay quanh Mặt Trời và Mặt Trời là trung tâm của
Hệ Mặt Trời (và đó chính là khái niệm của thuyết nhật tâm) đã được tìm
thấy trong nhiều văn bản kinh Vệ Đà tiếng Phạn được viết trong thời Ấn
Độ cổ đại. Yajnavalkya (khoảng thế kỷ 9–thế kỷ 8 TCN) ghi nhận rằng Trái
Đất có hình cầu và rằng Mặt Trời là "trung tâm của vũ trụ" như được
miêu tả trong kinh Vệ đà ở thời ấy. Trong bài viết về thiên văn học của
mình Shatapatha Brahmana (8.7.3.10) cho rằng: "Mặt Trời treo các thế
giới - Trái Đất, các hành tinh, khí quyển - vào mình bằng một sợi chỉ."
Ông nhận rằng Mặt Trời lớn hơn nhiều so với Trái Đất, và đây là điều ảnh
hưởng tới khái niệm thuyết nhật tâm sơ khai này. Ông cũng đã đo chính
xác các khoảng cách từ Trái Đất đến Mặt Trời và Mặt Trăng bằng 108 lần
đường kính các thiên thể đó, khá gần với con số ngày nay là 107.6 với
Mặt Trời và 110.6 với Mặt Trăng. Ông cũng đã miêu tả một loại lịch trong
cuốn Shatapatha Brahmana.
Văn bản Vệ Đà tiếng Phạn Aitareya Brahmana
(2.7) (khoảng thế kỷ 9–8 TCN) cũng nói rằng: "Mặt Trời không lặn cũng
không mọc. Khi con người nghĩ rằng Mặt Trời đang lặn, nó không làm như
vậy; vì thế đó là sự hiểu lầm." Văn bản này chỉ ra rằng Mặt Trời đứng
yên (vì thế Trái Đất di chuyển quanh nó), điều này đã được trình bày chi
tiết hơn trong một bản bình luận thời sau Vishnu Purana (2.8)
(khoảng thế kỷ thứ 1), nói rằng: "Mặt Trời luôn đứng yên, trong ngày.
[...] Vì Mặt Trời, luôn đứng yên tại chỗ, nên nó không lặn cũng không
mọc."
Ở thế kỷ thứ 4 TCN, trong Chương 13 Quyển hai bộ Về bầu trời
(On the heavens), Aristotle đã viết rằng "Ở trung tâm, họ [những người
theo trường phái Pytago] nói, là ngọn lửa, và Trái Đất là một trong
những ngôi sao, tạo nên ngày và đêm bởi các chuyển động hình tròn của
chúng quanh trung tâm." Những lý do của sự sắp đặt này là vì triết học
dựa trên các nguyên tố cổ điển chứ không phải khoa học; ngọn lửa có tầm
quan trọng lớn hơn Trái Đất theo quan điểm của trường phái Pytago, và vì
lý do này ngọn lửa phải nằm ở trung tâm. Tuy nhiên ngọn lửa trung tâm
không phải là Mặt Trời. Những người theo Pytago tin rằng Mặt Trời cũng
như toàn bộ các vật thể khác đều quay quanh ngọn lửa trung tâm.
Aristotle đã từ bỏ lý thuyết này và ủng hộ thuyết địa tâm.
Những tính toán của Aristarchus về kích thước so sánh của Trái Đất, Mặt Trời và Mặt Trăng ở thế kỷ thứ 2 TCN
Heraclides xứ Pontus (thế kỷ thứ 4 TCN) đã giải thích chuyển động biểu
kiến hàng ngày cảu các thiên thể thông qua sự tự quay của Trái Đất, và
có lẽ cũng đã nhận ra rằng Sao Thủy và Sao Kim quay quanh Mặt Trời. Tuy
nhiên, người đầu tiên đề xuất hệ nhật tâm là Aristarchus xứ Samos
(khoảng 270 TCN). Không may thay những ghi chép của ông về hệ nhật tâm
không còn nữa, nhưng chúng ta có được một số thông tin chủ chốt của hệ
thống nay thông qua các tác giả khác (người quan trọng nhất là
Archimedes, ông sống ở thế kỷ thứ 3 TCN và vì thế có được kiến thức trực
tiếp từ các tác phẩm của Aristarchus). Khi Aristarchus viết các tác
phẩm của mình, kích thước Trái Đất đã được Eratosthenes tính toán khá
chính xác. Aristarchus cũng đo đạc kích thước Trái Đất, và kích thước
cũng như khoảng cách của Mặt Trăng và Mặt Trời, chúng được ghi lại trong
một bản luận văn may mắn còn tồn tại. Phương pháp hình học của ông là
chính xác, nhưng nó đòi hỏi phải vượt qua khó khăn khi đo góc giữa Mặt
Trời và Mặt Trăng khi Mặt Trăng nằm ở góc một phần tư thứ nhất và cuối
cùng, hơi nhỏ hơn 90 độ. Aristarchus đã ước tính góc quá rộng và vì thế
ước tính kích thước cũng như khoảng cách của Mặt Trời nhỏ hơn thực tế
(dù các con số của ông về Mặt Trăng khá chính xác). Tuy nhiên, điều quan
trọng là cách tiếp cận khoa học của Aristarchus, và kết luận rằng Mặt
Trời lớn hơn nhiều so với Trái Đất. Có lẽ, như nhiều người đã từng đề
xuất, khi xem xét những con số đó Aristarchus đã cho rằng có lẽ cho Trái
Đất đang chuyển động thì đúng hơn là Mặt Trời vĩ đại chuyển động quanh
Trái Đất.
Công trình đầu tiên của Aristarchus về hệ nhật tâm không còn nữa và chỉ
được biết tới thông qua ghi chép của những người khác; vì thế ta không
chắc chắn được về sự lý luận của ông với vấn đề đó. Dù có lẽ rằng ông đã
hiểu vấn đề thị sai của các ngôi sao: nếu Trái Đất chuyển động qua
những khoảng cách lớn khi quay quanh Mặt Trời, thì ở khoảng cách gần hơn
các định tinh phải có khác biệt so với khoảng cách xa, tương tự như
những quả đồi ở gần sẽ có vị trí sai khác so với các ngọn núi ở xa khi
ta di chuyển. Aristarchus đã giải thích hiện tượng không quan sát thấy
thị sai đó bằng cách cho rằng các ngôi sao ở những khoảng cách quá xa:
khoảng cách mặt cầu của các định tinh so với quỹ đạo Trái Đất tương tự
với bề mặt của một mặt cầu so với tâm của nó. (Archimedes đã miêu tả và
cho rằng lý lẽ này do Aristachus đưa ra ở lời mở đầu cuốn Người đếm cát
(The Sand Reckoner).) Điều này khiến các ngôi sao nằm ở khoảng cách rất
lớn; dù ông muốn dùng đúng nghĩa đen, hay chỉ muốn thể hiện một tỷ lệ
khoảng cách cực lớn, thì hiện nay ta cũng không thể xác định chắc chắn
điều đó. (Vì cách giải thích của ông tỏ ra chính xác, dù các khoảng cách
là có hạn; thị sai sao chỉ được quan sát thấy ở thế kỷ 19.)
Mô hình nhật tâm của Aristarchus được Archimedes đề cập tới trong cuốn Người đếm cát. Mục đích của cuốn sách này là chứng minh rằng những con số cực lớn, thậm chí số lượng những hạt cát đủ để lấp đầy vũ trụ, cũng có thể được thể hiện bằng toán học và không nên biểu diễn chúng một cách ước lượng là "vô vàn". Ông đã lấy mô hình vũ trụ rộng lớn nhất từng có, mô hình vũ trụ Aristarchus, để tính toán số lượng cát cần thiết đổ đầy vào đó. Chỉ ra rằng về mặt toán học, sẽ không có ý nghĩa gì khi nói về một tỷ lệ giữa bề mặt của một mặt cầu và tâm của nó, bởi vì nó không có độ rộng lớn, Archimedes kết luận rằng khoảng cách giữa các định tinh có cùng quan hệ với bán kính của quỹ đạo Trái Đất bởi vì quỹ đạo đó cũng có quan hệ với chính Trái Đất. Theo những điều kiện đó, chúng ta có thể chứng minh rằng thị sai sao đã vượt quá khả năng quan sát để phát hiện thấy của thời kỳ đó, đúng như thực tế. [1] Tuy nhiên, không có dấu hiệu cho thấy cả Aristarchus hay Archimedes đã thực sự tranh luận vấn đề thị sai sao và coi đó là cách để xác định việc liệu Trái Đất có thực sự chuyển động không.
Một
nhà thiên văn Hy Lạp khác, Seleucus xứ Seleucia, đã chấp nhận mô hình
nhật tâm của Aristarchus, và theo Plutarch ông đã chứng minh nó.
Nhà thiên văn học-toán học người Ấn Độ Aryabhata (476–550), trong kiệt tác Aryabhatiya
của mình đã đề xuất một mô hình nhật tâm theo đó Trái Đất quay quanh
trục của nó và các chu kỳ [quỹ đạo] của các hành tinh cũng được tính
toán dựa trên mô hình Mặt Trời đứng yên. Ông cũng là người đầu tiên khám
phá ra rằng ánh sáng từ Mặt Trăng và các hành tinh là sự phản xạ ánh
sáng từ Mặt Trời, và rằng cách hành tinh chuyển động theo một quỹ đạo
hình elíp quanh Mặt Trời, và vì thế đề xuất một mô hình [quỹ đạo] elíp
lệch tâm của các hành tinh, dựa theo đó ông đã tính toán chính xác nhiều
hằng số thiên văn học, như những khoảng thời gian nhật thực và nguyệt
thực, và chuyển động ở một thời điểm nào đó của Mặt Trăng (được thể hiện
như một phương trình vi phân). Bhaskara (1114–1185) đã mở rộng mô hình
nhật tâm của Aryabhata trong bản luận thiên văn học Siddhanta-Shiromani
của mình, trong đó ông đã đề cập tới định luật hấp dẫn, khám phá ra
rằng các hành tinh không quay quanh Mặt Trời với một tốc độ đồng nhất,
và tính toán chính xác nhiều hằng số thiên văn học dựa trên mô hình đó,
như nhật thực và nguyệt thực, các tốc độ và các chuyển động ở một thời
điểm nào đó của các hành tinh. Bản dịch tiếng Ả Rập cuốn Aryabhatiya của
Aryabhata đã có từ thế kỷ thứ 8, trong khi các bản dịch tiếng Latin mãi
tới thế kỷ 13 mới xuất hiện, trước khi Copernicus viết cuốn Về chuyển động quay của các thiên thể, vì thế có lẽ tác phẩm của Aryabhata đã có ảnh hưởng trên ý tưởng của Copernicus.
Nasir al-Din Tusi, thế kỷ 13, đã phát triển hệ thống hành tinh tiến bộ nhất thời ấy
|
Kinh Qur'an (Surah 36. Yaseen) nói rằng:
38. Mặt Trời chạy tới điểm ngừng cố định của nó; đó là lệnh của Đấng toàn năng và Nhà tiên tri.
39. Và Mặt Trăng, chúng ta đã xác định nó trong những pha cho tới khi nó quay trở lại như một cành cọ khô.
40. Mặt Trời không chạy nhanh hơn Mặt Trăng, cũng như ngày không nhanh hơn đêm. Mỗi cái đều trôi nổi trên một quỹ đạo.
Nhà khoa học Hồi giáo Ba Tư Nasir al-Din Tusi (1201–1274) đã giải quyết các vấn để chủ yếu trong hệ thống Ptolemy bằng cách phát triển Tusi-couple thành thứ thay thế cho tâm sai khó hiểu về vật lý của Ptolemy. Nhà khoa học Hồi giáo Mu'ayyad al-Din al-'Urdi (khoảng 1250) đã phát triển bổ đề Urdi (Urdi lemma). Nhà thiên văn học Hồi giáo Ả Rập ibn al-Shatir (1304–1375), trong tác phẩm Kitab Nihayat as-Sul fi Tashih al-Usul (Tìm hiểu lần cuối về sự sửa chữa Lý thuyết hành tinh) của mình đã loại bỏ tâm sai bằng cách đưa ra một ngoại luân nữa, thoát khỏi hệ thống của Ptolemy theo cách sau này Copernicus cũng đã thực hiện. Ibn al-Shatir đề xuất một hệ chỉ tương tự với mô hình địa tâm, chứ không hoàn toàn chính xác như vậy, khi đã chứng minh theo lượng giác rằng Trái Đất thực sự không phải là trung tâm vũ trụ. Sự sửa đổi của ông sau này đã được dùng lại trong mô hình Copernicus, cùng với Tusi-couple và bổ đề Urdi.
38. Mặt Trời chạy tới điểm ngừng cố định của nó; đó là lệnh của Đấng toàn năng và Nhà tiên tri.
39. Và Mặt Trăng, chúng ta đã xác định nó trong những pha cho tới khi nó quay trở lại như một cành cọ khô.
40. Mặt Trời không chạy nhanh hơn Mặt Trăng, cũng như ngày không nhanh hơn đêm. Mỗi cái đều trôi nổi trên một quỹ đạo.
Nhà khoa học Hồi giáo Ba Tư Nasir al-Din Tusi (1201–1274) đã giải quyết các vấn để chủ yếu trong hệ thống Ptolemy bằng cách phát triển Tusi-couple thành thứ thay thế cho tâm sai khó hiểu về vật lý của Ptolemy. Nhà khoa học Hồi giáo Mu'ayyad al-Din al-'Urdi (khoảng 1250) đã phát triển bổ đề Urdi (Urdi lemma). Nhà thiên văn học Hồi giáo Ả Rập ibn al-Shatir (1304–1375), trong tác phẩm Kitab Nihayat as-Sul fi Tashih al-Usul (Tìm hiểu lần cuối về sự sửa chữa Lý thuyết hành tinh) của mình đã loại bỏ tâm sai bằng cách đưa ra một ngoại luân nữa, thoát khỏi hệ thống của Ptolemy theo cách sau này Copernicus cũng đã thực hiện. Ibn al-Shatir đề xuất một hệ chỉ tương tự với mô hình địa tâm, chứ không hoàn toàn chính xác như vậy, khi đã chứng minh theo lượng giác rằng Trái Đất thực sự không phải là trung tâm vũ trụ. Sự sửa đổi của ông sau này đã được dùng lại trong mô hình Copernicus, cùng với Tusi-couple và bổ đề Urdi.
Những bản ghi chép còn sót lại về Tusi, al-Urdi và Ibn al-Shatir đều
thuộc mô hình địa tâm, theo chiều hướng cho rằng Trái Đất đứng yên (thậm
chí nếu nó không ở chính trung tâm của mọi chuyển động). Vai trò của
những lý thuyết này đối với sự phát triển thuyết nhật tâm sau này hiện
vẫn chưa được hiểu rõ.
Nicolaus Copernicus, thế kỷ 16, đã mang lại những bước tiến bộ lớn cho mô hình nhật tâm
|
Cần
lưu ý quan niệm thông thường ở phương Tây cho rằng trước Copernicus
khái niệm hệ nhật tâm chưa bao giờ xuất hiện, hay không được biết tới ở
Châu Âu là sai lầm. Không chỉ vì những văn bản tiếng Ả Rập ngày càng
được dịch nhiều sang tiếng Latin sau thế kỷ 11 (nhờ ngày càng có nhiều
sự tiếp xúc với thế giới Ả Rập/Hồi giáo do những chiến binh thập tự
chinh mang lại), mà còn bởi những nhà thám hiểm, các thương gia xuất
hiện nhiều hơn ở Châu Âu (có điều kiện thuật lợi hơn nhờ Pax Mongolica)
khiến phương Tây biết được về truyền thống ủng hộ thuyết nhật tâm ở Ấn
Độ với chi tiết như được trình bày ở trên. Và tất nhiên các học giả biết
rõ về những cuộc tranh luận của Aristarchus và Philolaus, cũng việc như
nhiều nhà tư tưởng cổ đại khác đã đề xuất (hay được cho là đã đề xuất)
mô hình nhật tâm hay các quan điểm gần thuyết nhật tâm, như Hicetas và
Heraclides Ponticus (Copernicus tất nhiên cũng biết điều này). Hơn nữa,
một số nhà tư tưởng Châu Âu cũng đã tranh luận về thuyết nhật tâm từ
thời Trung Cổ: ví dụ Nicolas Oresme và Nicholas of Cusa. Tuy nhiên, đối
với đa số các học giả ở giai đoạn này, thuyết nhật tâm có một vấn đề lớn
và dễ nhận thấy: theo trực giác thông thường, nếu Trái Đất quay quanh
trục và chuyển động quanh Mặt Trời, con người và đồ vật ở trên đó sẽ có
xu hướng rơi hay bay vào vũ trụ; một vật thể rơi xuống từ trên tháp sẽ
chạm đất ở đằng tây xa phía sau tháp bởi vì tháp đã quay đi cùng Trái
Đất; và các ví dụ tương tự. Một câu trả lời cho những vấn đề đó đòi hỏi
con người phải có hiểu biết sâu hơn về vật lý.
Dù có những vấn đề như vậy, ở thế kỷ 16 lý thuyết nhật tâm được
Nicolaus Copernicus làm sống lại, ở hình thức thích hợp với những quan
sát thực tế thời đó. Lý thuyết này đã giải quyết các vấn đề về chuyển
động lùi của hành tinh bằng cách lập luận rằng chuyển động đó chỉ là cái
quan sát thấy bên ngoài và là chuyển động biểu kiến, chứ không phải
chuyển động thực tế: đó là một hiệu ứng thị sai, giống như khi ta vượt
qua một chiếc xe thì ta có cảm giác chiếc xe đó đang chuyển động lùi về
phía chân trời. Vấn đề này cũng đã được giải quyết trong hệ thống địa
tâm của Tycho; tuy nhiên, trong khi tìm cách bỏ đi các ngoại luân ông
vẫn giữ lại và coi chuyển động tiến lùi của các hành tinh là chuyển động
thực tế, chuyển động này được Kepler cho rằng có đặc điểm giống một
"hình xoắn". Trong khi phát triển các lý thuyết của mình về chuyển động
hành tinh, có lẽ Copernicus đã lấy ý tưởng từ trong các công trình của
nhà thiên văn học người Ấn Độ là Aryabhata cho về thuyết nhật tâm của
mình, và các nhà khoa học/thiên văn học Hồi giáo Nasir al-Din Tusi,
Mu'ayyad al-Din al-'Urdi và ibn al-Shatir để giải quyết các vấn đề quan
trọng trong hệ thống Ptolemy.
Ngay từ thời Aristarchus, ở Châu Âu ý
tưởng nhật tâm đã bị chối bỏ vì bị coi là phản tôn giáo. Tuy vậy, vấn đề
này không mang bất kỳ ý nghĩa quan trọng nào trong gần 2000 năm.
Nicolaus Copernicus đã xuất bản cuốn De Revolutionibus
mang ý nghĩa quyết định về hệ thống của ông năm 1543. Copernicus đã bắt
đầu viết nó năm 1506 và hoàn thành năm 1530, nhưng không cho xuất bản
tới tận khi ông sắp qua đời. Dù ông có danh tiếng tốt với nhà thờ và đã
đề tặng cuốn sách cho Giáo hoàng Paul III, cuốn sách được in ra vẫn có
phần lời nói đầu không ký tên của Osiander cho rằng hệ thống này chỉ đơn
giản là một cách thức toán học và không có ý định phủ định cho thực tế.
Có lẽ vì phần lời nói đầu này, tác phẩm của Copernicus gây ra ít cuộc
tranh luận về việc nó có phải là một cuốn sách dị giáo hay không trong
60 năm sau đó.
Thuật ngữ thời ấy cho một cách thức tính toán hoàn toàn hư cấu như vậy
là giả thuyết. Để hiểu được các cuộc tranh cãi trong vòng 100 năm sau,
cần nhớ rằng ý nghĩa hiện đại, một ý tưởng cần được xác nhận hay phủ
nhận bởi thực nghiệm, đã chưa xuất hiện cho tới mãi về sau này.
Từ sớm trong những tín đồ Dòng tu Dominic đã có đề xuất cần cấm giảng
dạy cuốn sách đó, nhưng dù sao việc này vẫn không xảy ra. Tuy nhiên
trong thế kỷ 16, một số người Tin lành đã kịch liệt phản đối nó. Martin
Luther từng nói:
"Đã có những
lời nói về một nhà chiêm tinh mới, người muốn chứng minh rằng Trái Đất
chuyển động và tự xoay quanh trục chứ không phải bầu trời, Mặt Trời, Mặt
Trăng, cũng như nếu có một người đang ngồi trong một toa xe hay trên
một chiếc tàu chuyển động sẽ thấy rằng anh ta đang đứng yên trong khi
Trái Đất và cây cối chuyển động quanh mình. Nhưng đó là cách mọi thứ
đang diễn ra ngày nay: khi một người muốn trở nên thông minh, anh ta sẽ
cần phải phát minh ra một thứ gì đó đặc biệt, và cách thức thực hiện
điều đó cũng phải là tốt nhất! Kẻ ngu muốn đảo lộn toàn bộ trật tự thiên
văn học. Tuy nhiên, như Kinh Thánh linh thiêng đã dạy chúng ta, cũng
như Joshua đã ra lệnh cho Mặt Trời đứng yên chứ không phải Trái Đất."
Những câu này được nói ra trong bối cảnh một cuộc tranh luận ở bữa ăn
tối và không phải là một tuyên bố chính thức về đức tin. Tuy nhiên,
Melanchthon đã phản đối học thuyết ấy trong nhiều năm.
Tuy nhiên, cùng với thời gian, Nhà thờ Công giáo bắt đầu tỏ thái độ cứng rắn hơn trong việc bảo vệ quan điểm địa tâm. Giáo hoàng Urban VIII, người từng đồng ý cho Galileo xuất bản một cuốn sách về hai lý thuyết thế giới, đã trở thành thù địch với Galileo; có ý kiến cho rằng Giáo hoàng nghĩ Galileo đã nhạo báng ông trong cuốn Đối thoại về hai hệ thống chính của thế giới, dù không có nhiều bằng chứng về điều đó. (Nhân vật đại diện cho các quan điểm truyền thống trong cuộc đối thoại được đặt tên là "Simplicio", theo tên nhà triết học cổ điển Simplicius, người thời ấy được những tín đồ chủ nghĩa Plato mới kính trọng.) Cuối cùng, Nhà thờ Cơ đốc trở thành phái đối chọi chủ chốt của quan điểm nhật tâm.
Hệ thống được ưa chuộng là hệ Ptolemy, trong đó Trái Đất nằm ở trung tâm vũ trụ và mọi thiên thể đều quay quanh nó. (Không nên lẫn lộn việc Cơ đốc giáo ủng hộ thuyết địa tâm với ý tưởng về một Trái Đất phẳng, là cái chưa từng được nhà thờ ủng hộ.) Hệ Tycho đã sắp đặt ổn thỏa các vị trí của mô hình địa tâm, trong đó Mặt Trời quay quanh Trái Đất, trong khi các hành tinh quay quanh Mặt Trời giống như mô hình của Copernicus. Những nhà thiên văn học dòng Tên tại Roma ba đầu không đồng ý với hệ thống của Tycho; người nổi bật nhất là Clavius, ông đã bình luận rằng Tycho đã "lẫn lộn mọi thứ trong thiên văn học, bởi vì ông muốn đặt Sao Hỏa thấp hơn Mặt Trời." (Fantoli, 2003, p. 109) Nhưng khi cuộc tranh cãi ngày càng phát triển và Nhà thờ có quan điểm cứng rắn hơn về các ý tưởng của Copernicus sau năm 1616, phái dòng Tên quay sang ủng hộ việc giảng dạy ý tưởng của Tycho; sau năm 1633, việc sử dụng hệ thống này hầu như đã trở thành bắt buộc. Vì tội đã đề xuất thuyết nhật tâm, Galileo đã bị quản thúc tại gia trong nhiều năm.
Tuy nhiên, nhà thần học đồng thời cũng là một mục sư Thomas Schirrmacher, đã biện hộ:
"Trái với truyền thuyết, hệ thống của Galileo và Copernican đã được các
quan chức nhà thờ rất quan tâm. Galileo là nạn nhân của chính tính kiêu
ngạo của mình, sự đố kị của các bạn đồng nghiệp và quan điểm chính trị
của Giáo hoàng Urban VIII. Ông bị buộc tội không phải vì đã chỉ trích
Kinh thánh, mà vì đã bất tuân lệnh của giáo hoàng."[2]
Các nhà khoa học Cơ đốc cũng nói:
"Rõ ràng rằng việc đánh giá Galileo hay Copernicus là dị giáo không hề
có ý nghĩa gì về mặt thần học hay tổng quát", (Heilbron 1999).
Ở thế kỷ 17 Galileo Galilei đã phản đối Nhà thờ Cơ đốc giáo La Mã khi mạnh mẽ ủng hộ thuyết nhật tâm
|
Những
cách giải thích về thần học này dù thực sự có xuất hiện hay không bên
trong Nhà thờ ở thời Galileo có thể sẽ được xác định từ đoạn văn về Cuộc
điều tra khi Nhà thờ tìm cách buộc tội Galileo năm 1633. Trong những
lời buộc tội chính thức từ Cuộc điều tra ông không bị kết tội vi phạm
mệnh lệnh của giáo hoàng; thay vào đó, họ buộc tội ông đã tin vào "một
học thuyết sai trái do nhiều người giảng dạy, nói rõ ra là Mặt Trời bất
động ở trung tâm thế giới và Trái Đất chuyển động". Trong khi thẩm vấn,
Galileo đã bị đặt câu hỏi (ngày đầu tiên) ông đã nhận được những mệnh
lệnh gì trong năm 1616 (rõ ràng ám chỉ tới cái mệnh lệnh được kể tới ở
trên); nhưng ông cũng phải trả lời (ngày thứ tư) về những niềm tin vào
hệ thống Copernicus của mình. Lời tuyên án cuối cùng hoàn toàn trùng hợp
với bản cáo trạng: ông phải tự "hoài nghi mãnh liệt về sự dị giáo",
nhưng không hề có lời đề cập tới sự bất tuân với một mệnh lệnh đặc biệt
nào đó.
Chính Hồng y
Robert Bellarmine đã coi mô hình của Galileo có "ý nghĩa tuyệt vời"
trong việc làm đơn giản hoá toán học; có nghĩa là, như một "giả thuyết"
(xem bên trên). Và ông nói:
"Nếu có một bằng chứng thực sự cho thấy Mặt Trời nằm ở trung tâm vũ
trụ, rằng Trái Đất nằm trên mặt cầu [tầng trời] thứ ba, thì chúng ta cần
rất thận trọng khi giải thích các trích đoạn trong Kinh thánh, với lời
dạy trái ngược, và vì thế chúng ta nên nói rằng ta không hiểu được chúng
chứ không nên tuyên bố đó là ý kiến sai lầm khi nó đã được chứng minh
là đúng. Nhưng tôi không nghĩ có bất kỳ một bằng chứng nào như vậy bởi
vì chưa có ai cho tôi thấy được nó." (Koestler 1959, pp. 447–448)
Vì thế ông ủng hộ lệnh cấm giảng dạy ý tưởng đó dưới bất cứ tên gọi nào mà chỉ được coi là giả thuyết. Năm 1616 ông chuyển cho Galileo một mệnh lệnh của giáo hoàng không được "ủng hộ hay bảo vệ" ý tưởng nhật tâm. Trong những cuộc tranh luận trước khi có lệnh cấm, ông giữ lập trường ôn hoà, bởi vì nhóm Dominic muốn cấm iệc giảng dạy thuyết nhật tâm ở mọi hình thức. Phiên toà xử tội dị giáo của Galileo diễn ra năm 1633, đưa ra những sự phân biệt rõ ràng giữa "giảng dạy" và "ủng hộ và bảo vệ coi đó là đúng".
Sự phản đối chính thức thuyết nhật tâm của nhà thờ không phải là sự phản đối với toàn bộ ngành thiên văn học; quả vậy, họ cần các dữ liệu quan sát thiên văn để điều chỉnh bộ lịch của mình. Để ủng hộ các nỗ lực quan sát đó, họ cho phép sử dụng chính các giáo đường làm đài quan sát thiên văn.
Năm 1664, Giáo hoàng Alexander VII đã xuất bản cuốn Index Librorum Prohibitorum Alexandri VII Pontificis Maximi jussu editus
gồm toàn bộ những lời chỉ trích từ trước với các cuốn sách về hệ địa
tâm. Một bản copy có chú giải cuốn Principia của Isaac Newton đã được
hai linh mục le Seur và Jacquier của dòng Franciscan Minims, hai nhà
toán học Cơ đốc giáo với lời nói đầu cho rằng công trình của tác giả có
vẻ ủng hộ thuyết nhật tâm và không thể được giải thích nếu không có giả
thuyết. Giáo hoàng Benedict XIV ngừng lệnh cấm các tác phẩm viết về hệ
nhật tâm ngày 16 tháng 4 năm 1757 dựa trên công trình của Issac Newton.
Giáo hoàng Pius VII đã đồng ý với nghị định năm 1822 của Giáo đoàn điều
tra linh thiêng cho phép in các cuốn sách về lý thuyết nhật tâm tại
Roma.
Phần 3: Quan điểm của khoa học hiện đại
Sự nhận thức rằng, theo một nghĩa chặt chẽ,
quan điểm nhật tâm cũng không hoàn toàn chính xác đã được từng bước hoàn
thành. Rằng Mặt Trời không phải là trung tâm của vũ trụ, mà chỉ là một
trong vô số những ngôi sao, đã được Giordano Bruno, một người theo chủ
nghĩa thần bí tán thành; Galileo cũng có cùng quan điểm, nhưng ông hiếm
khi đề cập tới vấn đề này, có lẽ vì không muốn gây gổ với nhà thờ. Trong
thế kỷ 18 và 19, địa vị Mặt Trời chỉ là một trong số nhiều ngôi sao
khác dần trở nên rõ rệt. Tới thế kỷ 20, thậm chí trước khi con người
khám phá ra rằng có nhiều hệ ngân hà, đây không còn là một vấn đề gây
tranh cãi nữa.
Hệ nhật tâm trong tác phẩm De Revolutionibus Orbium Coelestium của Nicolaus Copernicus
Thậm chí nếu cuộc tranh luận chỉ giới hạn trong Hệ Mặt Trời, Mặt Trời
không nằm ở trung tâm hình học của bất cứ quỹ đạo của hành tinh nào, mà
nói chính xác hơn, nó nằm ở một tiêu điểm của quỹ đạo hình elíp. Hơn
nữa, khi mở rộng ra rằng khối lượng của một hành tinh không thể bị bỏ
qua khi so sánh với khối lượng của Mặt Trời, tâm hấp dẫn của Hệ Mặt Trời
hơi dịch chỗ ra khỏi tâm Mặt Trời. (Các khối lượng của các hành tinh,
chủ yếu là Sao Mộc, bằng khoảng 0,14% so với khối lượng Mặt Trời.) Vì
thế một nhà thiên văn học lý thuyết trên một ngoại hành tinh sẽ quan sát
thấy hiện tượng "lắc lư".
Từ bỏ toàn bộ quan điểm "đứng yên" có liên quan tới nguyên lý tương đối. Trong khi, thừa nhận một vũ trụ không biên giới, rõ ràng rằng không có vị trí ưu tiên trong vũ trụ, cho tới khi sự thừa nhận thuyết tương đối hẹp của Albert Einstein, ít nhất sự tồn tại của một lớp ưu tiên trong các hệ quán tính tuyệt đối "đứng yên" được công nhận, đặc biệt ở hình thức các lý thuyết aether truyền ánh sáng. Một số hình thức Mach's principle coi hệ quy chiếu là đứng yên và có xem xét tới các khối lượng trong vũ trụ có các đặc tính đặc biệt.
Trong cách thức tính toán hiện đại, gốc và hướng của một hệ tọa độ
thường phải được lựa chọn. Vì các lý do thực tiễn, các hệ tọa độ có gốc
tại trung tâm khối lượng Trái Đất, khối lượng Mặt Trời hay trung tâm
khối lượng của Hệ Mặt Trời thường được sử dụng. Tính từ "địa tâm" hay
"nhật tâm" có thể được sử dụng trong ngữ cảnh này. Tuy nhiên, sự lựa
chọn các hệ tọa độ như vậy không hề có những liên quan triết học hay vật
lý.
Fred Hoyle đã viết:
"Mối quan hệ giữa hai mô hình [địa tâm và nhật tâm] được đơn giản hóa
thành một sự chuyển đổi hệ tọa độ bình thường và đó chính là nguyên tắc
cơ bản lý thuyết của Einstein cho rằng bất kỳ hai cách tiếp cận nào đối
với thế giới có quan hệ với nhau bởi một sự chuyển đổi hệ quy chiếu thì
hoàn toàn tương tự với nhau từ quan điểm vật lý." (Hoyle, 1973, trang
78)
Tham khảo:
*
Fantoli, Annibale (2003). Galileo—For Copernicanism and the Church, 3rd
English edition, tr. George V. Coyne, SJ. Vatican Observatory
Publications, Notre Dame, IN. ISBN 88-209-7427-4
* Haug, Martin and Basu, Major B. D. (1974). The Aitareya Brahmanam of the Rigveda, Containing the Earliest Speculations of the Brahmans on the Meaning of the Sacrifical Prayers. ISBN 0404578489
* Heath, T.L. (1913). Aristarchus of Samos, the ancient Copernicus: a history of Greek astronomy to Aristarchus, Oxford, Clarendon; reprinted New York, Dover, 1981
* Heilbron, J. L. (1999). The Mặt trời in the Church: Cathedrals as Solar Observatories. Harvard University Press, Cambridge, MA. ISBN 0674854330
* Hoyle, Sir Fred (1973). Nicolaus Copernicus. Heinemann Educational Books Ltd., London. ISBN 043554425X
* Joseph, George G. (2000). The Crest of the Peacock: Non-European Roots of Mathematics, 2nd edition. Penguin Books, London. ISBN 0-14-021118-1
* Kak, Subhash C. (2000). 'Birth and Early Development of Indian Astronomy'. In Selin, Helaine (2000). Astronomy Across Cultures: The History of Non-Western Astronomy (303-340). Kluwer, Boston. ISBN 0792363639
* Koestler, Arthur (1959). The Sleepwalkers: a history of man's changing vision of the vũ trụ. Hutchinson, London. ISBN 0140209727 (1977 Penguin reprint)
* Teresi, Dick (2002). Lost Discoveries: The Ancient Roots of Modern Science - from the Babylonians to the Maya. Simon & Schuster, New York. ISBN 0684837188
* Thurston, Hugh (1994). Early Astronomy. Springer-Verlag, New York. ISBN 038794107X
* Haug, Martin and Basu, Major B. D. (1974). The Aitareya Brahmanam of the Rigveda, Containing the Earliest Speculations of the Brahmans on the Meaning of the Sacrifical Prayers. ISBN 0404578489
* Heath, T.L. (1913). Aristarchus of Samos, the ancient Copernicus: a history of Greek astronomy to Aristarchus, Oxford, Clarendon; reprinted New York, Dover, 1981
* Heilbron, J. L. (1999). The Mặt trời in the Church: Cathedrals as Solar Observatories. Harvard University Press, Cambridge, MA. ISBN 0674854330
* Hoyle, Sir Fred (1973). Nicolaus Copernicus. Heinemann Educational Books Ltd., London. ISBN 043554425X
* Joseph, George G. (2000). The Crest of the Peacock: Non-European Roots of Mathematics, 2nd edition. Penguin Books, London. ISBN 0-14-021118-1
* Kak, Subhash C. (2000). 'Birth and Early Development of Indian Astronomy'. In Selin, Helaine (2000). Astronomy Across Cultures: The History of Non-Western Astronomy (303-340). Kluwer, Boston. ISBN 0792363639
* Koestler, Arthur (1959). The Sleepwalkers: a history of man's changing vision of the vũ trụ. Hutchinson, London. ISBN 0140209727 (1977 Penguin reprint)
* Teresi, Dick (2002). Lost Discoveries: The Ancient Roots of Modern Science - from the Babylonians to the Maya. Simon & Schuster, New York. ISBN 0684837188
* Thurston, Hugh (1994). Early Astronomy. Springer-Verlag, New York. ISBN 038794107X
(Nguồn Wikipedia)
-90:Konstantin Novoselov
1974-
Nga
Vật Lý, Thiên Văn Học
Hai nhà khoa học gốc Nga chia Nobel Vật lý
TTO - Trang web của Viện Hàn lâm khoa học Thụy Điển vừa cho biết 2 nhà khoa học gốc Nga là Andre Geim và Konstantin Novoselov hiện đang nghiên cứu tại đại học Manchester (Anh) đã cùng đoạt giải Nobel Vật lý 2010.
Họ được vinh danh vì những thí nghiệm tiên phong mang tính đột phá liên quan tới vật liệu graphene 2 chiều.
![]() |
| Andre Geim. Ảnh: nobelprize.org |
Viện Hàn lâm khoa học Thụy Điển gọi graphene là "hàng rào mắt cáo nguyên tử hoàn hảo".
Geim, 51 tuổi, sinh ở Sochi và Novoselov, 36 tuổi, sinh
ở Nizhny Tagil. Graphene được đánh giá là một chất liệu "mỏng" nhất
hiện nay.
Mạng
thông tin khoa học và công nghệ Việt Nam cho biết: "Graphene được hình
dung như là một ống nano (nanotube) dàn mỏng, do cùng một nguyên liệu
chính là các phân tử carbon, chiều dày của lớp phân tử này có thể là 1
nguyên tử (one-atom-thickness sheet). Dưới kính hiển vi điện tử, lớp
phân tử carbon này có hình dáng của một màng lưới."
![]() |
| Konstantin S. Novoselov - Ảnh: nobelprize.org |
"Nó
có nhiều đặc tính của ống nano, nhưng dễ chế tạo và dễ thay đổi hơn; vì
thế nó có thể được sử dụng nhiều hơn trong việc chế tạo các vật dụng
cần các chất liệu tinh vi, dẻo, dễ uốn nắn. Các nhà vật lý đã bắt đầu sử
dụng graphene trong phòng thí nghiệm để chế tạo chất dẫn và để thử
nghiệm các hiện tượng lượng tử."
Giải Nobel có trị giá giải thưởng là 1,5 triệu USD, 1 giấy chứng nhận và 1 huy chương.
"Tôi khỏe, ngủ ngon. Tôi không hy vọng đoạt giải Nobel
năm nay", Tiến sĩ Geim nói khi biết ông đoạt giải. Ông cho biết kế hoạch
làm việc của ông trong 1 ngày sẽ không thay đổi. Ông vẫn tiếp tục đi
làm và theo đuổi các nghiên cứu của mình.
Phát minh của hai Nobel-gia mới nhất
Hai nhà vật lý gốc Nga được giải Nobel năm nay vừa
công bố phát minh ra một chất mới là fluorographen, có thể thay silic
trong điện tử học và các ứng dụng khác.
Trên
cơ sở graphen - vật liệu kỳ diệu đã mang cho Andrei Geim và Konstantin
Novoselov giải Nobel Vật lý năm 2010, được trao ngày 10-12, các nhà khoa
học đã tổng hợp được nhiều vật liệu mới khác.
Báo Izvestia đưa tin, vừa qua, hai ông Geim và Novoselov đã hợp tác cũng các nhà nghiên cứu khác của Anh, Trung Quốc, Hà Lan, Ba Lan và Nga tổng hợp được một hợp chất mới từ graphen là fluorographen. Đây là một hợp chất rất bền và có tính bán dẫn, song nó lại chịu được nhiệt độ cao và chịu hoá chất. Về độ bền cơ học nó chỉ thua graphen.
Thừa hưởng độ bền của graphen, fluorographen có nhiều ưu điểm hơn hẳn các chất khác. Nó rất thuận tiện để chế tạo ra những linh kiện bán dẫn, có độ truyền dẫn nhanh và kích thước cực nhỏ, dùng trong các sản phẩm vi điện tử.
Để chuyển từ silic đến graphen, cần phải tìm các dẫn xuất của graphen có tính chất truyền dẫn điện tử với mức năng lượng tối thiểu. Cho đến nay, người ta chỉ mới tìm ra 2 chất là oxit và hydrua của graphen. Hai chất này đều có nhược điểm vì việc đưa chúng vào các thiết bị vi điện tử là quá phức tạp: chúng không bền và có cấu tạo không đồng nhất. Các nhà khoa học đang cố gằng tìm các chất trên cơ sở graphen không có hai nhược điểm trầm trọng này. Và dường như hợp chất đó đã được tìm ra: fluorographen.
Từ lâu người ta đã biết khá rõ về các hợp chất của cácbon với fluo, ví dụ như politetrafluoetilen (thường được biết đến dưới cái tên Teflon) dùng rộng rãi trong công nghiệp thực phẩm và trong các thiết bị sinh hoạt. Lần này, các nhà các nhà khoa học đã tạo ra một công nghệ mới để kết hợp graphen với fluo và thu được một chất bền nhiệt và bền hoá học đồng thời có tính bán dẫn tuyệt vời và về độ bền cơ học lại cao hơn thép đến 1,5 lần.
Theo ý kiến của những tác giả đã tạo ra fluorographen, đây là một chất mở ra khả năng ứng dụng đầy triển vọng không chỉ trong công nghiệp vi điện tử mà cả còn có thể thay thế Teflon để làm loại sơn bảo vệ có nhiều tính năng ưu việt.
Báo Izvestia đưa tin, vừa qua, hai ông Geim và Novoselov đã hợp tác cũng các nhà nghiên cứu khác của Anh, Trung Quốc, Hà Lan, Ba Lan và Nga tổng hợp được một hợp chất mới từ graphen là fluorographen. Đây là một hợp chất rất bền và có tính bán dẫn, song nó lại chịu được nhiệt độ cao và chịu hoá chất. Về độ bền cơ học nó chỉ thua graphen.
Thừa hưởng độ bền của graphen, fluorographen có nhiều ưu điểm hơn hẳn các chất khác. Nó rất thuận tiện để chế tạo ra những linh kiện bán dẫn, có độ truyền dẫn nhanh và kích thước cực nhỏ, dùng trong các sản phẩm vi điện tử.
Để chuyển từ silic đến graphen, cần phải tìm các dẫn xuất của graphen có tính chất truyền dẫn điện tử với mức năng lượng tối thiểu. Cho đến nay, người ta chỉ mới tìm ra 2 chất là oxit và hydrua của graphen. Hai chất này đều có nhược điểm vì việc đưa chúng vào các thiết bị vi điện tử là quá phức tạp: chúng không bền và có cấu tạo không đồng nhất. Các nhà khoa học đang cố gằng tìm các chất trên cơ sở graphen không có hai nhược điểm trầm trọng này. Và dường như hợp chất đó đã được tìm ra: fluorographen.
Từ lâu người ta đã biết khá rõ về các hợp chất của cácbon với fluo, ví dụ như politetrafluoetilen (thường được biết đến dưới cái tên Teflon) dùng rộng rãi trong công nghiệp thực phẩm và trong các thiết bị sinh hoạt. Lần này, các nhà các nhà khoa học đã tạo ra một công nghệ mới để kết hợp graphen với fluo và thu được một chất bền nhiệt và bền hoá học đồng thời có tính bán dẫn tuyệt vời và về độ bền cơ học lại cao hơn thép đến 1,5 lần.
Theo ý kiến của những tác giả đã tạo ra fluorographen, đây là một chất mở ra khả năng ứng dụng đầy triển vọng không chỉ trong công nghiệp vi điện tử mà cả còn có thể thay thế Teflon để làm loại sơn bảo vệ có nhiều tính năng ưu việt.


Nhận xét
Đăng nhận xét