Dai Chung la su suy ngam cua toi ve cuoc doi, xa hoi, nhan sinh
CHUYỆN ÍT BIẾT 47
Nhận đường liên kết
Facebook
X
Pinterest
Email
Ứng dụng khác
-
(ĐC sưu tầm trên NET)
Bí mật phi thuyền Apolo 13
Tàu con thoi Challenger - Nguyên nhân dẫn đến thất bại
Thảm kịch đen tối nhất lịch sử NASA: Cả phi hành đoàn nổ tung trước mắt hàng triệu dân Mỹ
Trang Ly |
13
"Trong lịch sử, chúng ta chưa bao giờ phải trải qua thảm kịch
nào đau đớn thế này. Tôi xin chia buồn với gia đình, người thân của 7
phi hành gia tài năng..." - Ronald Reagan.
Tất cả kết thúc trong một buổi sáng lạnh lẽo cuối tháng Một năm 1986... Bảy phi hành gia tử nạn trong sự chứng kiến ngỡ ngàng của gia đình, bạn bè và hàng triệu người xem truyền hình trực tiếp ở Mỹ khi tàu con thoi đưa họ ra không gian phát nổ chỉ sau 73 giây rời khỏi bệ phóng.
Ngày
28/1/1986 mãi trở thành ký ức đau thương và đầy ám ảnh của những người
còn sống và đang dõi theo sứ mệnh lịch sử của phi hành đoàn trên tàu con
thoi Challenger.
Hai triệu lít nhiên liệu bị đốt cháy
trong vài giây tạo thành đám mây khí độc khổng lồ trên bầu trời mãi là
hình ảnh gợi nhắc thảm họa không gian thảm khốc nhất trong lịch sử nước
Mỹ.
______Trước khi ghi
danh mình là quốc gia đầu tiên trên thế giới đưa người lên Mặt Trăng
trên phi thuyền Apollo (vào năm 1969), NASA đã có những nghiên cứu sơ
khởi về thiết kế của tàu con thoi (còn gọi là hệ thống chuyên chở vào
không gian - STS).
Tháng 1/1972, Tổng thống Mỹ
Richard Nixon chính thức tuyên bố NASA sẽ là cơ quan tiến hành phát
triển hệ thống tàu con thoi có khả năng tái sử dụng. Tiêu tốn hàng tỷ
USD cùng bao tâm huyết của các nhà khoa học, cuối cùng, ngành hành không
Mỹ cũng đến ngày "hái quả ngọt": Ngày 12/4/1981, đúng 20 năm sau khi
Liên Xô đưa người bay vào vũ trụ đầu tiên trong lịch sử, tàu con thoi Columbia hoàn thành sứ mệnh bay thử thành công đầu tiên trên thế giới.
Trong
vòng 30 năm (1981 - 2011), NASA và người Mỹ đã chế tạo và sử dụng rất
nhiều thế hệ tàu con thoi có người lái, bao gồm, Columbia, Challenger,
Discovery, Atlantis, Endeavour... Trong số đó, tàu con thoi Challenger
gặp nạn lần đầu tiên trong chuỗi chương trình không gian đầy tự hào của
Mỹ vào năm 1986 trở thành thảm họa cay đắng và khiến NASA thay đổi mãi
mãi về sau...______
Vì sao Challenger được xem là thảm họa hàng không
thảm khốc nhất trong lịch sử nước Mỹ? Đó là bởi, đây là thảm họa đầu
tiên trong lịch sử phát triển của NASA và nước Mỹ; và cũng bởi lần đầu
tiên trong chương trình không gian đưa người vào vũ trụ của NASA có sự
góp mặt của một phi hành gia dân sự - Nữ phi hành gia Christa McAuliffe.
Christa
McAuliffe là một giáo viên trung học 37 tuổi đến từ thành phố Concord,
bang New Hampshire. Năm 1985, một năm trước khi thảm họa đau lòng xảy
ra, Christa McAuliffe vượt qua 11.000 ứng viên trong cuộc thi Giáo viên đầu tiên trong vũ trụ
của NASA (NASA’s Teacher in Space Program) và được cơ quan này chọn là
một trong 7 phi hành gia lên đường thực hiện sứ mệnh không gian trên tàu
con thoi Challenger.
Sau nhiều tháng huấn luyện,
Christa McAuliffe hội đủ mọi điều kiện bay và trở thành phi hành gia dân
sự đầu tiên của Mỹ bay vào vũ trụ (Những phi hành gia khác từng thực
hiện các sứ mệnh không gian của Mỹ phần lớn là những nhà khoa học vũ trụ).
Phi hành đoàn 7 người, bao gồm:
Phi hành đoàn trên tàu con thoi Challenger là nhóm phi hành gia đa dạng nhất mà NASA từng thực hiện.
Giới
phân tích đánh giá, xét riêng cá nhân Christa McAuliffe, cô chính là
biểu tượng của sự lạc quan, tiến bộ trong bối cảnh những căng thẳng của Chiến tranh Lạnh (giữa Mỹ và Liên Xô) chưa có dấu hiệu kết thúc.
Tựu
trung lại, phi hành đoàn năm 1986 hội tụ những nhân tài của nước Mỹ, họ
chính là niềm tự hào, là đại diện của sức mạnh không gian Mỹ. Đội phi
hành gia 7 người lên đường làm nhiệm vụ trên tàu con thoi Challenger
ngày 28/1/1986 mang trong mình khí thế của quốc gia.
Họ đã sẵn sàng!... Tất cả đã sẵn sàng!
Trung tâm vũ trụ Kennedy, đảo Merritt, bang Florida, Mỹ...
Những
ngày cuối tháng Một, thời tiết biến chuyển xấu cộng với những vấn đề về
kỹ thuật khiến cho kế hoạch phóng tàu con thoi Challenger bị hoãn 5 lần
so với dự kiến.
Sáng ngày 28/1/1986 là ngày NASA nhấn
định thời điểm Challenger lên đường thực hiện sứ mệnh của mình. Hôm ấy
trời lạnh bất thường. Nhiệt độ hạ xuống mức đóng băng.
Đội
kỹ sư hàng không cảnh báo cấp trên vấn đề kỹ thuật liên quan đến việc
vòng đệm cao su chịu nhiệt có thể gặp rắc rối khi nhiệt độ xuống thấp
bất thường như vậy. Tuy nhiên, những cảnh báo này đã bị phớt lờ, và vào
lúc 11:38 sáng ngày 28/1/1986, tàu con thoi Challenger rời khỏi
bệ phóng trước sự chứng kiến đầy tự hào và kiêu hãnh từ người thân của
phi hành đoàn, từ hàng nghìn người xem trực tiếp cùng hàng triệu dân Mỹ
xem tường thuật qua truyền hình.
Đoàn phi hành gia 7
người khấp khởi lên đường thực hiện sứ mệnh to lớn cho người Mỹ. Phi
hành gia Christa McAuliffe nghe tim mình dâng lên niềm vui khôn tả khi
chỉ một thời gian ngắn thôi cô sẽ ở ngoài vũ trụ và lần đầu tiên trong
lịch sử truyền tải những kiến thức của mình cho các em học sinh ở Trái
Đất.
Một phút trôi qua... Challenger khi đó đang di chuyển với vận tốc hơn 2.370 km/giờ.
Những
dự định tốt đẹp đó không bao giờ có cơ hội được phi hành đoàn tàu
Challenger thực hiện. Thêm 13 giây ngắn ngủi định mệnh nữa, Challenger
nổ tung tựa như quả cầu lửa khổng lồ trên bầu trời.
73 giây sau khi rời khỏi bệ phóng...
Con
tàu Challenger mang theo niềm kiêu hãnh của người Mỹ, mang theo cả
những ấp ủ to lớn của 7 phi hành gia tài giỏi, nơi gửi gắm những ước mơ
của những người ở nhà bỗng nhiên nổ tung và lao vô định xuống Đại Tây Dương sâu thẳm.
Thảm
kịch không thể ngờ này xảy ra trước hàng triệu đôi mắt, mà chỉ một phút
trước thôi còn đong đầy hy vọng, giờ đã biến thành hố sâu của sự kinh
hãi, đau đớn và ám ảnh khôn nguôi.
Tàu con thoi Challenger nổ tung chỉ sau 73 giây rời khỏi bệ phóng. Nguồn: AP/Bruce Weaver
Người
thân của phi hành đoàn gục ngã! Hàng triệu đồng bào của 7 tài năng vũ
trụ gục ngã! Cả NASA và nước Mỹ cũng choáng váng không đứng vững trên
đôi chân sau những gì đã chứng kiến.
Challenger nổ tung!
Lập tức giết chết tất cả phi hành đoàn. Hàng nghìn mảnh vụn còn nóng lao
nhanh xuống đại dương. Kết thúc luôn cả giấc mơ mới chớm của những anh
hùng trong lòng dân Mỹ.
Vài giờ sau bi kịch ngày 28/1/1986...
Tổng thống Ronald Reagan chia buồn với người thân và toàn nước Mỹ về vụ tai nạn hàng không thảm khốc. Ông nói: "Trong
lịch sử, chúng ta chưa bao giờ mất đi tài năng vũ trụ nào. Chúng ta
cũng chưa bao giờ phải trải qua thảm kịch nào đau đớn như thế này. Tôi
xin chia buồn với gia đình, người thân của 7 phi hành gia tài năng!
Đồng
bào của tôi, đau thương không đồng nghĩa với việc chúng ta dừng lại và
thất bại. Nước Mỹ sẽ tiếp tục triển khai những chương trình không gian
khác. Sẽ còn nhiều chuyến đi mang theo những tài năng vũ trụ, những công
dân, những giáo viên... khác nữa vào không gian. Hy vọng của chúng ta;
Hành trình của chúng ta sẽ còn tiếp mãi về sau!"
Một ngày sau bi kịch ngày 28/1/1986...
Hơn 4.000 người tập trung tại Trung tâm vũ trụ Kennedy để tưởng niệm 7 người hùng trong lòng họ.
Bốn ngày sau bi kịch ngày 28/1/1986...
Hơn 5.000 người dân thắp nến tại bờ biển đảo Merritt để cầu nguyện cho phi hành đoàn đã tử nạn vào ngày Đông giá rét.
Vài tuần sau bi kịch ngày 28/1/1986...
Đội
cứu hộ mới có thể thu thập hết những gì còn sót lại sau tấn bi kịch
không gian thảm khốc này. Tất cả chỉ còn là những mảnh thân tàu cháy xém
và phần thi thể còn lại của 7 phi hành gia.
Nhiều tháng sau bi kịch ngày 28/1/1986...
Người
dân cả nước Mỹ vẫn chìm trong tang thương. Họ tiếc thương cho 7 nhân
tài vũ trụ, họ khóc vì những gì phải chứng kiến quá đỗi đau lòng. Phi
hành đoàn vĩnh viễn ra đi, chắc có lẽ khi môi họ vẫn đang nở nụ cười...
Nước Mỹ mãi không bao giờ quên những người hùng của phi hành đoàn 7 người trên tàu con thoi Challenger. Nguồn: NASA
Vụ
nổ cay đắng đến nỗi, chỉ một vài phần thi thể là còn được nhận dạng và
được người thân mang về mai táng. Những phần thi thể cháy không thể nhận
dạng còn lại được chôn cất tại nghĩa trang Arlington ngày 20/5/1986.
11:40 ngày 28/1/1986 - thời điểm Challenger nổ tung - mãi trở thành thời khắc đen tối trong lịch sử của Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Mỹ (NASA).
Bởi,
NASA chịu trách nhiệm hoàn toàn cho tấn bi kịch tháng Một năm 1986.
Chưa kể đến sự phớt lờ từ cảnh báo của đội kỹ sư, nguyên nhân chính
khiến tàu nổ tung đến từ sự cố kỹ thuật của con tàu.
Báo
cáo điều tra về sau cho thấy, bộ phận giữ khí trong động cơ của tên lửa
đẩy phụ của Challenger không hoạt động làm cho khí nóng áp suất cao
thoát ra ngoài, thổi thẳng vào thùng nhiên liệu hàng triệu lít. Vài chục
giây sau, khí nóng xuyên thủng vỏ thùng nhiên liệu, tiếp tục làm nóng
hỗn hợp hydro và oxy lỏng, kết quả là gây nên vụ nổ kinh hoàng của
khoảng 2 triệu lít nhiên liệu, biến Challenger thành quả cầu lửa khổng
lồ trên không.
Sau thảm họa tàu con thoi Challenger, NASA
bị cấm không cho triển khai các chương trình đưa người vào không gian
gần 3 năm. Một phần để cơ quan này thiết kế lại những kỹ thuật có khả
năng gặp sự cố của tàu con thoi. Một phần để lắng dịu những đau thương
mà người dân Mỹ dành nhiều cho phi hành đoàn tàu Challenger.
Nhiều chương trình của NASA đã bị thay đổi sau thảm kịch ngày 28/1/1986: Kế
hoạch đưa phi hành gia dân sự vào không gian đã bị xếp lại sau 21 năm
(cho đến khi nữ phi hành gia dân sự Barbara Morgan thực hiện sứ mệnh mới
trên tàu con thoi Endeavour năm 2007); Tàu con thoi không còn đảm nhận
trọng trách phóng vệ tinh, thay vào đó, tên lửa tái sử dụng làm nhiệm vụ
này;
Ngoài ra, các phi hành gia không còn phải
chịu trách nhiệm sửa chữa vệ tinh như trước kia nữa (điều này nhằm giảm
tải lượng kiến thức chuyên môn họ phải nắm khi thực hiện sứ mệnh vũ trụ,
để tập trung cho các kỹ năng thoát hiểm đảm bảo an tối đa trong mọi
tình huống).
Chưa hết, cho đến nay, tháng Một hàng
năm, NASA đều phải dành riêng một ngày tưởng niệm, để nhớ về 7 phi hành
gia tàu con thoi Challenger thiệt mạng.
10 năm sau
thảm họa Challenger, hai mảnh lớn từ tàu con thoi dạt vào bờ biển
Florida. Các mảnh vụn còn lại hiện được lưu trữ tại thành phố Cape
Canaveral, bang Florida.
Bài viết sử dụng nguồn: Space, Popular Mechanics, History
Sứ mệnh "điên rồ" của anh hùng Liên Xô cuối cùng: Chưa từng có tiền lệ trong lịch sử!
Trang Ly |
13
"Chỉ có lòng quả cảm cao độ và lý trí của một người anh hùng
thời bình mới có thể giúp anh ấy hoàn thành nhiệm vụ bất khả thi này!" -
Mikhail Gorbachev.
Những ngày Đông cách đây gần 3 thập kỷ, thế giới chứng kiến một trong những sự kiện chấn động trong lịch sử: Liên Xô sụp đổ.
Ngày 25/12/1991, lá cờ của Liên Xô tung bay lần cuối cùng tại Điện
Kremlin. Trước đó một ngày, Mikhail Gorbachev từ chức vị trí Tổng thống
Liên Xô, đồng thời bàn giao mật mã kích hoạt vũ khí hạt nhân của Liên Xô cho Tổng thống Nga Boris Yeltsin...
Tạm gác những câu chuyện chính trị liên quan đến loạt sự kiện diễn ra cuối năm 1991 ấy sang một bên, xét dưới góc độ đời sống, nếu như phi hành gia Sergei Krikalev là công dân Liên Xô cuối cùng nhìn cảnh đất nước tan rã khi anh đang làm nhiệm vụ trên Trạm Vũ trụ Hòa Bình, cách mặt đất hơn 300km (đọc tại đây) thì Leonid Mikhailovich Solodkov chính là công dân được phong tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô cuối cùng của Liên bang Xô Viết.
Một
ngày trước khi Liên Xô chính thức tan rã, tổng thống đã trao tặng danh
hiệu cao quý cuối cùng này cho Đại úy Hải quân hạng nhì Leonid
Mikhailovich Solodkov, người có công thực hiện sứ mệnh chưa từng có tiền
lệ trong lịch sử, và chưa một ai trên thế giới dám làm!
Ngày 16/4/1934,
Đoàn
chủ tịch Xô Viết tối cao Liên Xô ra sắc lệnh trao tặng danh hiệu cao
quý "Anh hùng Liên Xô" cho bất cứ cá nhân nào có thành tích đặc biệt
xuất sắc, đóng góp cho sự phát triển của Liên bang Xô Viết.
Sau
57 năm (1934 - 1991), tổng cộng có 12.772 người được trao tặng danh
hiệu này (bao gồm cả những cá nhân nhận được phong 2 lần trở lên và gồm
cả những cá nhân bị tước danh hiệu vì nhiều lý do khác nhau).
Người hùng được trao tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô cuối cùng trước khi Liên Xô tan rã đã thực hiện sứ mệnh vô cùng khó khăn. Vì chưa một ai trên thế giới dám làm nên để dấn thân vào sứ mệnh này, anh đã phải đánh cược cả mạng sống của mình vì đất nước!
Leonid Mikhailovich Solodkov.
Trước khi tìm hiểu sứ mệnh quả cảm của Solodkov, hãy cùng tìm hiểu xem thứ gì đã tôi luyện chàng thanh niên có khuôn mặt hiền lành trở thành một "chiến binh thép" quả cảm dưới biển sâu!
Leonid Mikhailovich Solodkov sinh ngày 10/4/1958 trong một gia đình thuần nông ở làng Chornukhyne bình dị, miền Đông Ukraine.
Sau
khi cả gia đình chuyển đến vùng Volgograd sinh sống, Solodkov trải qua
thời thơ ấu yên bình như bao chúng bạn trong căn nhà nhỏ.
Sau khi tốt nghiệp trung học, anh theo học tại Viện Vật lý Kỹ thuật Moscow (MEPhI) cơ sở tại thành phố Obninsk.
Một
năm sau, cuộc đời Solodkov rẽ sang trang hoàn toàn khác khi anh quyết
định thôi học tại MEPhI và chuyển đến thành phố Leningrad, nhập học
tại trường Cao đẳng Kỹ thuật Hải quân.
Năm 1981, khi là chàng thanh niên 23 tuổi căng tràn sức trẻ...
...
sau thời gian chuyên tâm học tập, anh tốt nghiệp. Mang trên vai trọng
trách của một trung úy, chàng thanh niên trẻ được bổ nhiệm làm chỉ huy
đội lặn của Hạm đội Biển Đen (Hạm đội Biển Đen là đơn vị thuộc Hải quân
Nga, chuyên hoạt động ở Biển Đen và Địa Trung Hải kể từ thế kỷ 18).
Với
tài năng và sự cống hiến không ngừng nghỉ của sức trẻ, Solodkov tiếp
tục đến Algeria (một quốc gia ở Bắc Phi) để làm nhiệm vụ giảng dạy kỹ
thuật cứu hộ tàu ngầm cho các tình huống khẩn cấp.
Thời gian và những nhiệm vụ khó khăn bất kể ngày đêm đã tôi luyện Solodkov
trở thành thợ lặn đặc nhiệm của Hải quân Liên Xô. Không chỉ sở hữu khả
năng lặn phi thường ở các vùng biển sâu, Solodkov còn là chuyên gia đào
tạo hơn 1.000 lính thợ lặn.
Bộ Quốc phòng Liên Xô lập tức
chú ý đến anh! Năm 1986, Solodkov được gọi vào làm việc tại Viện nghiên
cứu chiến lược chuyên triển khai các nhiệm vụ Cứu hộ, Lặn và Tác chiến
biển sâu của Bộ Quốc phòng.
Tại đây, người lính Hải quân quả cảm với sức trẻ cống hiến cho đất nước không ngừng chảy trong huyết mạch bắt đầu thực hiện các sứ mệnh lịch sử tiên phong, không một ai trên thế giới dám làm, để rồi một mai đất nước vinh danh anh là Anh hùng Liên Xô, còn đồng đội thì ngưỡng mộ gọi anh là "chiến binh thép" của biển sâu!
Ảnh minh họa.
Năm 1988,
Để kiểm tra tính khả dụng của công nghệ lặn mới, Solodkov nhận nhiệm vụ giam mình trong buồng áp suất kín và lặn xuống độ sâu 450mtrong
lòng biển. Ở độ sâu này, cơ thể người phải chịu những thay đổi và tác
động khủng khiếp từ áp lực cực lớn của nước và không khí cộng lại. Bất
kể chuyện động nào của cơ thể cũng gây nên những cơn đau đớn dữ dội; Vị
giác hoàn toàn biến mất; Mọi giao tiếp phải thực hiện bằng cách ra dấu
tay hoặc chữ viết.
Sứ mệnh "điên rồ" chưa từng triển khai trong lịch sử này được Solodkov thực hiện trong gần một tháng trời!
Nếu như
giới phi hành gia trước khi thực hiện sứ mệnh ngoài vũ trụ có cơ hội
"làm quen" với vũ trụ qua các thiết bị mô phỏng môi trường phi trọng lực
thì đối với giới thợ lặn đặc nhiệm, việc thực hiện thí nghiệm ở
độ sâu khủng khiếp này không chỉ đòi hỏi sức bền và khả năng chịu đựng
áp lực cao của cơ thể mà sau mỗi cuộc lặn mạo hiểm này, khi trở lên mặt
đất, họ phải trải qua quá trình phục hồi chức năng (bao gồm việc giao
tiếp và đi lại bình thường).
Và Solodkov đã phải trải qua
quá trình phục hồi chức năng dài như thế sau sứ mệnh lặn sâu 450m dưới
lòng biển của anh thành công năm 1988.
Năm 1991,
Người
ta lại thấy anh thực hiện tiếp một sứ mệnh lặn mạo hiểm khác. Lẽ dĩ
nhiên, độ sâu và độ khó của lần thí nghiệm này tăng lên: Solodkov lại
giam mình trong buồng áp suất kín ở độsâu 500m trong lòng biển, độ sâu mà lần thí nghiệm năm 1988 chạm được trong thời gian rất ngắn.
Nhiệm
vụ lần này anh tình nguyện tham gia và được bổ nhiệm làm chỉ huy trưởng
của nhóm tham gia thí nghiệm. Tuyệt vời thay, sứ mệnh lịch sử vô cùng
khắc nghiệt kéo dài 15 ngày này đã thành công và thành công ngoài sự
mong đợi của Bộ Quốc phòng Liên Xô.
Trong quá trình lặn,
nhiều thí nghiệm độc đáo đã được thực hiện, nhiều thiết bị, dụng cụ và
dụng cụ đặc biệt đã được thử nghiệm.
Kết quả chứng minh rằng, một "chiến binh" biển sâu được tôi luyện trong hoàn cảnh khắc nghiệt không những có thể tồn tại tốt ở độ sâu 500m dưới lòng biển trong một thời gian dài, mà họ còn thực hiện những công việc phức tạp khác nhau ở đó.
Vào ngày cuối cùng trước khi từ chức, Tổng thống Liên Xô Mikhail Gorbachev xúc động nói rằng: "Chỉ
có lòng quả cảm cao độ và lý trí của một người anh hùng thời bình mới
có thể giúp anh ấy (Leonid Mikhailovich Solodkov) hoàn thành nhiệm vụ
bất khả thi này!"
Sau chiến tích chưa hề có tiền lệ
trong lịch sử thế giới, Leonid Mikhailovich Solodkov được phong tặng
danh hiệu Anh hùng Liên Xô và được ghim Huân chương Cờ Đỏ lên ngực, minh
chứng cho những cống hiến và lòng can đảm của anh dành cho đất nước
thời bình.
Từ những nhiệm vụ lặn dài tổng 3.000 giờ đến
sứ mệnh có 1-0-2 trong các năm 1988 và 1991, thì người Liên Xô sẽ không
bao giờ quên những cống hiến chưa bao giờ ngừng nghỉ của anh. Năm 1994,
anh được phong hàm Đại úy Hải quân hạng 3. Năm năm sau, anh tiếp tục
vinh dự nhận hàm Đại úy Hải quân hạng nhì.
Trong lịch sử
danh hiệu danh giá nhất của Liên Xô, Leonid Mikhailovich Solodkov mãi
được nhớ đến với những cống hiến tuyệt vời của anh cách đây gần 3 thập
kỷ. Anh cũng là người hùng cuối cùng của Liên Xô vinh dự nhân danh hiệu
này (bởi, sau khi Liên Xô tan rã, danh hiệu này được tiếp nối bằng các danh hiệu Anh hùng Liên bang Nga ở Nga).
Nước mắt phi hành gia: Nỗi đau của công dân Liên Xô cuối cùng nhìn cảnh đất nước tan rã
Trang Ly |
14
Người anh hùng từng được đất nước vinh danh hai lần ấy đã phải
trải qua cơn "sang chấn tâm lý" không thể nào quên ở vị trí cách Trái
Đất 322km.
Cuối tháng 4/2015, phi hành gia Sergei Krikalev ghi tên mình vào Sách Kỷ lục Guinness khi là người sinh sống ngoài vũ trụ lâu nhất trên thế giới, hơn bất cứ nhà du hành nào trên Trái Đất, với tổng thời gian có mặt ngoài vũ trụ là 803 ngày, 9 giờ, 39 phút*.
Trong
sự nghiệp cống hiến sức mình cho nghiên cứu vũ trụ, Sergei Krikalev hai
lần được đất nước vinh danh là anh hùng dân tộc. Ít ai biết rằng, khi
còn là một phi hành gia mang trong mình đầy sức trẻ, Sergei Krikalev đã
phải trải qua một cơn "sang chấn tâm lý" to lớn.
"Sang
chấn tâm lý" ấy là gì? Anh đã vượt qua nó như thế nào để giờ đây trở
thành người sánh ngang với phi hành gia huyền thoại trong lịch sử Liên
Xô - Yuri Gagarin?
Bài viết tựa đề "The Last Soviet Citizen" (tạm dịch: Công dân Liên Xô cuối cùng) của cây bút Eric Betz trên chuyên san của Tạp chí TIME
danh tiếng Mỹ, sẽ đưa ta đến câu chuyện đáng khâm phục về Sergei
Krikalev, lồng ghép với nó là dấu mốc trong thời kỳ Liên Xô sụp đổ, mời
độc giả theo dõi.
Bức ảnh chụp phi hành gia Sergei Krikalev trước khi thực hiện chuyến bay vào vũ trụ năm 1998. Nguồn: NASA
Ba thập kỷ sau chuyến bay đầu tiên vào vũ trụ của loài người
do phi hành gia Yuri Gagarin (1934 – 1968) thực hiện ngày 12/4/1961
trên con tàu Phương Đông, Sergei Krikalev và Anatoly Artsebarsky tiếp
bước dấu chân của cha anh.
Bóng hai phi hành gia người
Liên Xô đổ lên nền đất của sân bay vũ trụ Baykonur khi họ bước ra khỏi
chiếc xe bus chuyên dụng tiến bước về Soyuz, tên lửa 10 tầng duy nhất
của Liên Xô chuyên dùng để đưa con người ra vũ trụ, từng có trong "tay"
25 năm thâm niên đưa rất nhiều thế hệ phi hành gia quốc tế rời khỏi quỹ
đạo xa xôi của Trái Đất, để thực hiện những sứ mệnh to lớn ngoài không
gian.
Đối với thế giới những năm cuối thế kỷ 20, khám phá vũ trụ
không còn quá xa lạ với loài người. Khi người Mỹ "siêng năng" thực hiện
hàng chục chuyến thám hiểm bằng tàu con thoi thì người Liên Xô lại chưa
bao giờ xây dựng nhiều trạm vũ trụ đến thế. Trong đó, tất nhiên phải
nhắc đến Mir - Trạm vũ trụ Hòa Bình (Mir space station) được Liên Xô
phóng năm 1986, chuyên thực hiện các thí nghiệm khoa học ngoài không
gian, phục vụ cho hòa bình và sự phát triển của con người.
Sau
khoảnh khắc tên lửa Soyuz rời khỏi bệ phóng, Sergei Krikalev biết mình
sẽ không hít thở nguồn không khí tự nhiên của Trái Đất trong 312 ngày
tới. Nhưng chàng kỹ sư cơ khí tốt nghiệp Học viện Cơ khí Leningrad 33
tuổi khi ấy lại không hề nghĩ mình phải chứng kiến cảnh đất nước (Liên
Xô) sụp đổ ở một khoảng cách xa mặt đất đến 322km.Và rằng thành phố quê
hương anh Leningrad sẽ được đổi thành St. Petersburg. Và còn rất nhiều
đổi thay khác kể từ ngày Liên Xô trở thành nước Nga của ngày nay.
Cứ
như thế, vào cái ngày anh trở về sau 312 ngày sống trong vũ trụ, Sergei
Krikalev chính là công dân Liên Xô cuối cùng, một đối trọng hùng mạnh
của Mỹ trong cuộc Chiến tranh Lạnh kéo dài 45 năm đằng đẵng.
Nhưng thôi...
Vượt
lên tất cả những sự đổ vỡ, những căng thẳng chính trị và những cuộc đua
không ngừng của vũ khí, công nghệ và không gian, người Mỹ và người Nga
lại bắt tay nhau cùng thực hiện dự án nghiên cứu vũ trụ chưa từng có
tiền lệ trong lịch sử: Xây dựng Trạm Vũ trụ Quốc tế (ISS). (Đọc bài chi tiết, tại đây).
Không
giống như Yuri Gagarin, Sergei Krikalev chẳng phải anh hùng dân tộc.
Hồi ấy, phần lớn người dân nước anh không biết anh là ai! Cũng đúng
thôi, một phi hành gia kiệm lời và khiêm tốn như anh thì đâu mong kiếm
tìm những hào quang sân khấu hào nhoáng bên ngoài. Nói vậy, không có
nghĩa là phủ nhận những cống hiến tuyệt vời của Yuri Gagarin cho Liên Xô
nói riêng và thế giới nói chung. Bởi ta đang "nhìn" Sergei Krikalev ở
một góc độ khác, dưới vầng ánh sáng khác.
Ở thủa đôi
mươi, Sergei Krikalev đã gom cho mình những thành tích đáng nể. Năm 23
tuổi, anh nhận bằng kỹ sư cơ khí và vào làm việc ngay cho Tập đoàn tên
lửa vũ trụ Energia. Hai năm sau, khi trạm vũ trụ Salyut 7 của Liên Xô
gặp sự cố, Sergei Krikalev là thành viên của trung tâm chỉ huy dưới mặt
đất nhằm xử lý sự cố của Salyut 7.
Với
tài năng và những cống hiến không ngừng cho ngành vũ trụ Liên Xô, năm
1988, khi Sergei Krikalev 30 tuổi, anh chính thức trở thành phi hành gia
và hoàn thành sứ mệnh bay vào vũ trụ đầu tiên của mình lên Trạm Vũ trụ
Hòa bình. Sau khi quay về Trái Đất vào tháng 4/1989, Sergei Krikalev
được vinh danh là anh hùng Liên Xô.
Chuyến bay thứ hai
của anh vào vũ trụ được thực hiện vào ngày 18/5/1991. Khi đó, anh cùng
Helen Sharman, phi hành gia người Anh đầu tiên bay vào vũ trụ, và người
đồng hương Anatoly Artsebarsky tiếp tục lên đường thực hiện những sứ
mệnh to lớn trên Trạm Vũ trụ Hòa Bình.
Tất nhiên, Mir
space station là một trạm nghiên cứu khoa học ngoài không gian, hàng
năm, Liên Xô phải bỏ ra rất nhiều tiền để đưa con người lên Mir làm việc
và sinh sống. Một "hiện thực" không thể chối bỏ trên Mir mà chỉ giới
phi hành gia mới thấu đó là Mir không hề sạch sẽ, trừ những phòng thí
nghiệm được vô trùng hoàn toàn, thì đội ngũ các kỹ sư và giới khoa học
phải sống trong một "lồng sắt" ồn ào, nhiều vi khuẩn và mùi của những
con người sống hàng trăm ngày trong lồng kín.
Nhưng đối
với Sergei Krikalev, tất cả những điều đó chưa bao giờ là vấn đề với
anh. "Anh ấy luôn nói với chúng tôi rằng, cứ khi nào lên Trạm Hòa Bình
là anh ấy cảm thấy như được trở về nhà. Sergei yêu cái cảm giác cơ thể
không có trọng lượng và luôn học để bay như một loài chim. Trong khi
nhiều đồng nghiệp trên Trạm đọc sách để giết thời gian thì anh ấy lại
dành hàng giờ trong quỹ thời gian rảnh hiếm hoi để nhìn ra ngoài ô cửa,
hướng về nơi ấy xa xăm.", nữ phi hành gia người Anh Helen Sharman chia
sẻ trong một cuộc phỏng vấn sau khi về Trái Đất.
"Tôi
thường tranh thủ những lúc thảnh thơi để ngắm nhìn Trái Đất. Khối tinh
cầu ấy chưa bao giờ nhỏ bé, đầy sức sống và đáng yêu đến vậy khi được
ngắm nhìn ở một khoảng cách hàng trăm km.", Sergei Krikalev tâm sự.
Kết
thúc nhiệm vụ 8 ngày ngắn ngủi ngoài không gian, nữ phi hành gia Helen
Sharman trở về Trái Đất, tạm biệt hai đồng nghiệp bay cùng chuyến khởi
hành và chúc họ thực hiện sứ mệnh kéo dài nhiều tháng thành công ở Mir.
Ngày 25/12/1991
Chiến tranh Lạnh kết thúc! Liên Xô giải thể, 15 quốc gia (bao gồm cả Nga) tuyên bố độc lập.
"Chúng
ta đứng đây trong đêm linh thiêng này để hướng về một thế giới ngập
tràn hy vọng và trách nhiệm về một tương lai tốt đẹp hơn cho con cháu
chúng ta. Thách thức lớn nhất với đất nước chúng ta là đoàn kết tất cả
các bang và xây dựng một tương lai thịnh vượng mãi về sau.", Tổng thống
Mỹ thời bấy giới là George H.W. Bush phát biểu trước toàn thể người dân
Mỹ vào đêm Giáng Sinh năm 1991, sau khi hay tin Tổng thống Liên bang Xô
Viết Mikhail Gorbachyov từ chức.
Những giây phút ấy....
Sergei
Krikalev không được chứng kiến. Anh không có mặt tại quê hương để có cơ
hội lưu giữ những kỷ niệm cuối cùng về một Liên Xô hào hùng. Để đến khi
trở về, thành phố quê hương anh cũng thay tên đổi dáng. Tất cả chỉ còn
là quá khứ khi người anh hùng Liên Xô ấy đang mạo hiểm tính mạng ra bên
ngoài Trạm Vũ trụ Hòa Bình để sữa chữa những phần hỏng hóc của con tàu.
Phi hành gia Aleksandr Volkov và Sergei Krikalev (phải) đang làm việc trên Trạm Vũ trụ Hòa Bình. Nguồn: TASS/Sovfoto/Eastfoto
"Đối
với chúng tôi, sự kiện này không hề được báo trước, tất cả xảy ra quá
bất ngờ. Chúng tôi chẳng thể hiểu chuyện gì đang xảy ra với đất nước
mình. Chúng tôi nói nhiều về sự kiện này và rồi cố gắng hình dung ra các
chương trình không gian sẽ bị sự kiện ấy tác động về sau như thế nào.
Chưa
bao giờ Sergei Krikalev hướng mắt về Trái Đất với nỗi buồn khôn nguôi
đến vậy. Trong khoảng thời gian khó khăn đó, Sergei Krikalev nhận điện
từ vợ anh, Elena, người hiện đang làm việc tại trung tâm chỉ huy mặt
đất.
Họ nói đủ thứ chuyện từ sứ mệnh vũ trụ của chồng
trên Mir đến những khủng hoảng chính trị khiến giá nhà tăng lên đáng kể.
Sergei Krikalev buồn vì thời thế đất nước một thì anh lại lo cho vợ và cô con gái 9 tháng tuổi mười.
Những
biến động của đất nước tác động mạnh mẽ lên gia đình anh nói riêng và
nhiều gia đình và đồng bào anh nói chung càng khiến anh "nóng ruột".
Trong lúc khó khăn nhất, anh không bên cạnh vợ và con gái mình, điều này
tác động tâm lý rất lớn đến Sergei Krikalev.
"Để giữ
vững tâm lý cho chồng thực hiện sứ mệnh trong những ngày xa nhà, tôi
luôn tránh nói về những điều không mong muốn. Vì tôi biết, khi tôi ở nhà
lo những chuyện khó khăn của một người vợ, thì anh ấy cũng đang đánh
đổi tính mạng để thực hiện những nhiệm vụ khó khăn hơn ngoài kia. Để anh
ấy buồn lo chuyện ở nhà quả thực tôi không cam tâm.", Elena tâm sự.
Nhờ
tình yêu của vợ, và vì sứ mệnh phải tuyệt đối đảm bảo an toàn cho đồng
nghiệp trên Trạm Hòa Bình, người kỹ sư hàng không Sergei Krikalev đã tạm
quên đi nỗi đau của một người con phải chứng kiến cảnh đất nước mình
tan rã để hoàn thành nhiệm vụ sửa chữa và nâng cấp vỏ tàu Mir.
Ngày 25/3/1992
Sau
sứ mệnh nhiều tháng trên Trạm Vũ trụ Hòa Bình, Sergei Krikalev quay về
Trái Đất, quay về quê hương đã phần nào "thay da đổi thịt" khi anh đi.
Người công dân cuối cùng của Liên Xô được Soyuz đáp xuống khu vực gần
thành phố Arkalyk, thuộc Cộng hòa Kazakhstan.
Sứ mệnh
bay vào vũ trụ lần thứ hai của Sergei Krikalev đem lại cho anh quá nhiều
cảm xúc. Sau 312 ngày sinh sống và làm việc ngoài không gian đã cho anh
(cùng Mir) bay vòng quanh Trái Đất 5.000 lần. Đã bao nhiêu lần anh cùng
đồng nghiệp trên tàu được ngắm nhìn bình minh và hoàng hôn tuyệt diệu
từ Mir. Sau sứ mệnh to lớn này, lại một lần nữa đất nước vinh danh anh
là Anh hùng Liên bang Nga.
Nhận
những danh hiệu to lớn và kỷ lục thế giới là thế nhưng suy cho cùng
Sergei Krikalev khi trở về nhà, anh chỉ đơn giản là một người chồng của
Elena, người cha của cô con gái nhỏ đáng yêu. "Dù có hoàn thành sứ mệnh
to lớn ngoài vũ trụ, khi về nhà, tôi còn có cả một mái nhà cần chăm
chút!"
Câu
chuyện của Sergei Krikalev có lẽ khiến chính anh nhớ mãi về sau khi một
năm trước anh bay lên vũ trụ làm nhiệm vụ, anh là công dân Liên Xô,
nhưng khi anh trở về Trái Đất, anh đã mang quốc tịch khác.
Nhiều
năm về sau, người anh hùng Liên bang Nga ấy vẫn tiếp tục cống hiến cho
sự nghiệp khám phá vũ trụ. Tính đến tháng 4/2015, phi hành gia Sergei
Krikalev là người sinh sống ngoài vũ trụ lâu nhất trên thế giới với tổng
thời gian là 803 ngày, 9 giờ, 39 phút.
Nhà du hành kiệm
lời và khiêm tốn ấy cuối cùng đã khiến cả thế giới phải khâm phục bằng
chính niềm đam mê với sự nghiệp khám phá vũ trụ của mình. Không hào
nhoáng, không đình đám, anh chinh phục mình, chinh phục vũ trụ và thế
giới bằng những cống hiến đầy âm thầm, lặng lẽ.
Năm 2007,
Sergei Krikalev chính thức dừng các sứ mệnh bay vào vũ trụ. Hiện anh
đang làm phó chủ tịch Tập đoàn tên lửa vũ trụ Energia (Chuyên chế tạo và
sản xuất kỹ thuật không gian).
*Về
sau, kỷ lục này bị phá bởi phi hành gia người Nga Gennady Padalka, với
tổng 879 ngày ngoài vũ trụ - Nguồn: Guinnessworldrecords.
Bài viết sử dụng nguồn: Chuyên san của Tạp chí TIME (Mỹ)
Bí mật sứ mệnh tự sát của phi hành gia Liên Xô: Cái chết của anh làm nhiều người bật khóc!
Trang Ly |
35
Người anh hùng Liên Xô khóc đến tận phút cuối khi con tàu vũ trụ lao xuống Trái Đất, vỡ tan tành. Ảnh gốc: Motherboard
Cái chết của người anh hùng Vladimir Komarov khiến Thủ tướng Liên Xô thời ấy cũng phải bật khóc!
Cách đây gần 6 thập kỷ, thành công của chuyến bay đầu tiên đưa con người vào vũ trụ do phi hành gia Yuri Gagarin (1934 – 1968) thực hiện ngày 12/4/1961 trên con tàu Phương Đông 1 (Vostok 1), đã chính thức đưa Liên Xô lên vị trí dẫn đầu thế giới trong cuộc đua chinh phục không gian.
Liên Xô mở ra kỷ nguyên vũ trụ mới trong lịch sử loài người đúng vào lúc cuộc đối đầu không đổ máu giữa quốc gia này và Mỹ trong cuộc Chiến tranh Lạnh đang ở giai đoạn căng thẳng nhất.
Không
chỉ công nghệ, vũ khí, người Mỹ và người Liên Xô còn không ngừng cạnh
tranh nhau về không gian. Và tất nhiên, mặt trái cay đắng của cuộc đua
khốc liệt thời ấy chỉ có những người trong cuộc và lịch sử mới được
chứng kiến.
Sau
"cú đấm kép" của người Liên Xô, bao gồm: Chế tạo và phóng thành công
Sputnik 1 - vệ tinh nhân tạo đầu tiên trong lịch sử vào ngày 4/10/1957 (1); và việc đưa con người lần đầu tiên bay vào vũ trụ (2), quốc gia này bắt đầu tụt lại phía sau trong cuộc chạy đua không gian với Mỹ.
Nước
Mỹ lúc bấy giờ thúc đẩy chương trình khai phá vũ trụ của mình mạnh hơn
bao giờ hết. Điều tất yếu xảy ra, lãnh đạo Liên Xô cần những thành tựu
mới để kìm lực người Mỹ. Không ai chịu lép vế hay thụt lùi trước ai.
Và
tất nhiên, cũng không người Liên Xô nào biết rằng, vì nóng lòng vượt
mặt Mỹ, lịch sử Liên Xô phải một lần ghi lại những ký ức đau thương từ
thảm họa không gian từng lấy đi biết bao nước mắt của người trong cuộc.
Vladimir Komarov,
phi hành gia được phong tặng danh hiệu anh hùng Liên Xô ngay trong giấy
phút đối mặt với cái chết ấy, đã mãi mãi ra đi ở độ tuổi đẹp nhất của
cuộc đời. Người ta khóc vì anh, nhớ đến anh bởi sự hi sinh vô cùng anh
dũng, bởi những cống hiến tốt đẹp cho đất nước, và cũng bởi những giây
phút cuối cùng đầy ám ảnh trước khi con tàu của anh lao xuống mặt đất
rồi vỡ tan tành....
1. Sứ mệnh tự sát
Sau
khi triển khai Chương trình Mercury (dự án đưa người vào vũ trụ đầu
tiên của Mỹ, diễn ra từ năm 1959 - 1963), Tổng thống Mỹ thời bấy giờ là
John F. Kennedy hạ lệnh cho thực hiện Chương trình Apollo dài hơi trong
suốt thập niên 1960, nhằm khám phá và đưa con người lên Mặt Trăng. Về
sau, chương trình tiêu tốn hàng tỷ USD này của Mỹ đã mang lại kết quả
khi vào ngày 20/7/1969, tàu Apollo 11 đã đưa những phi hành gia đầu tiên
trong lịch sử đặt chân lên Mặt Trăng, là Neil Armstrong và Edwin "Buzz"
Aldrin.
Trong bối cảnh đó, Liên Xô tức tốc xây
dựng con tàu vũ trụ có người lái mới mang tên Soyuz, nhằm thay thế
Phương Đông 1, và cũng để khởi động chương trình đưa người lên Mặt
Trăng, giống Mỹ!
Năm 1960, Vladimir Komarov, một
kỹ sư hàng không kiêm phi công bay thử nghiệm người Liên Xô, được chọn
làm thành viên trong nhóm phi hành gia tham gia huấn luyện cho chuyến
bay nhiều người đầu tiên ra ngoài không gian. Cùng nhóm huấn luyện với
Vladimir Komarov là phi hành gia Yuri Gagarin.
Vladimir Komarov (1927 - 1967) - Người anh hùng dân tộc của Liên Xô.
Sau
khi hay tin tình báo về chương trình chinh phục Mặt Trăng của Mỹ, Liên
Xô đánh bạo thực hiện một nước cờ mạo hiểm: Họ muốn thực hiện dự án phức
hợp tàu vũ trụ kết nối trên quỹ đạo Trái Đất – Soyuz của hai con tàu vũ
trụ trong không gian.
Một trong hai con tàu vũ trụ
đó là Soyuz 1. Soyuz 1 có nhiệm vụ chở một phi hành gia tiến đến quỹ đạo
Trái Đất tầm thấp. Tàu vũ trụ còn lại là Soyuz 2 chuyên trách chở các
phi hành gia khác.
Theo kế hoạch, khi hai con tàu phóng
ra ngoài không gian thành công, hai con tàu sẽ tiến hành kết nối với
nhau, các phi hành gia tàu này sẽ sang con tàu vũ trụ kia. Sau đó, một
con tàu sẽ quay trở lại Trái Đất.
Kế hoạch nghe thì có vẻ
đơn giản nhưng nó đã sớm bị các kỹ sư xây dựng tàu Soyuz bác bỏ ngay từ
khi còn trong trứng nước! Bởi có quá nhiều trở ngại cho thấy, kế hoạch
này chẳng khác gì một nhiệm vụ tự sát.
Bất chấp những lời
cảnh báo của giới khoa học, bất chấp cả những phản đối của các kỹ sư
trong đội phát triển tàu vũ trụ có người lái Soyuz (vì họ biết Soyuz
chưa sẵn sàng cho một chuyến bay có người lái), giới lãnh đạo chương
trình không gian vẫn một mực tiến hành theo kế hoạch. Họ ném bản thảo 10
trang, trong đó nói về những nguy hiểm cũng như sự bất khả thi của dự
án phức hợp tàu vũ trụ trong không gian, vào sọt rác.
Thật không may, một trong những người phải tham dự nhiệm vụ tự sát này chính là Vladimir Komarov.
Về
sau, theo một nguồn tin mật của Ủy ban An ninh Quốc gia (KGB), bản thân
Vladimir Komarov biết rằng nhiệm vụ này sẽ thất bại nhưng lãnh đạo Liên
Xô, vì nóng lòng chạy đua với Mỹ, đã phớt lờ tất cả.
Bị
cấp trên ra nhiệm vụ, Vladimir Komarov ý thức được tình hình. Nhưng thay
vì trốn tránh hay lên tiếng biện minh, người phi công bay thử nghiệm ấy
đã chấp nhận nhiệm vụ. Anh chọn bay trên con tàu Soyuz 1.
Đôi bạn thân Yuri Gagarin (trái) và Vladimir Komarov. Ảnh: Motherboard
Nhiều
người không hiểu vì sao anh lại chọn bay "đơn thương độc mã" trên Soyuz
1. Sau rồi người ta mới biết rằng, nếu anh từ chối nhiệm vụ, người ta
sẽ thay thế anh bằng một phi hành gia khác. Người đó không ai khác chính
là bạn thân của anh - phi hành gia Yuri Gagarin!
Ba phi hành gia tham gia bay sau Vladimir Komarov trên Soyuz 2 là Valery Bykovsky, Aleksei Yeliseev, và Yevgeny Khrunov.
2. Ngày anh bay - 23/4/1967 - cũng là ngày mất của anh
Đôi bạn thân ấy đều có mặt trong cái ngày định mệnh ấy: Ngày 23/4/1967.
Người
ta nhớ lại rằng, trước khi bay, Vladimir Komarov có những yêu cầu khác
lạ về bộ đồ bay của mình. Anh mong muốn được mặc đồ bảo hộ Pressure suit
(có khả năng chống chịu được ở nơi có áp suất không khí cực thấp).
Người ta tin rằng, khi ấy Vladimir Komarov hiểu con đường mình sắp đi sẽ
khốc liệt và nguy hiểm tới tính mạng như thế nào.
3 tháng
...
sau thảm kịch tàu Apollo 1 (một vụ hỏa hoạn xảy ra trong ngày phóng tàu
27/1/1967 giết chết 3 phi hành gia Mỹ), giờ đây Đại tá Vladimir Komarov
lên đường thực hiện nhiệm vụ bay đầu tiên trên con tàu Soyuz lịch sử.
9 phút
...
sau khi cất cánh, tàu vũ trụ Soyuz tiến vào vùng quỹ đạo Trái Đất tầm
thấp. Ngay lập tức, những sai sót trên biên bản 10 trang trình lên giới
lãnh đạo đã thành hiện thực. Thậm chí, ở mức độ nghiêm trọng hơn rất
nhiều.
Những
sai sót kỹ thuật liên tiếp xảy ra: Ăng-ten của con tàu không hoạt động.
Hệ thống năng lượng và điều hướng cũng không hiệu quả. Bảng điều khiển
con tàu (bán tự động, chạy bằng năng lượng Mặt trời, cung cấp nhiên liệu
cho con tàu) không hoạt động. Con tàu không thể chạy với nguồn nhiên
liệu đang dần cạn kiệt.
Ở dưới mặt đất, trạm chỉ huy
ra quyết định phóng tàu Soyuz 2 với một đội gồm ba phi hành gia để thực
hiện nhiệm vụ giải cứu Vladimir Komarov.
Không may thay,
một tia sét đánh vào bệ phóng khiến cho kế hoạch phóng Soyuz 2 phải hủy
bỏ. Soyuz 1 và người phi hành gia của nó phải tự xoay sở để bảo vệ lấy
mình!
Khi nhiên liệu cạn kiệt, Soyuz 1 trở thành khối sắt "vô dụng", nó lao tự do trở về mặt đất với vận tốc khủng khiếp.
Trong
cơn tuyệt vọng cực cùng, Vladimir Komarov quyết định khởi động lại bảng
điều khiển. Trong lúc này, Vladimir Komarov kích hoạt chiếc dù chính
nhằm bảo vệ tính mạng trong trường hợp bảng điều khiển vẫn bị vô hiệu
hóa.
Chiếc phao cứu sinh cuối cùng của anh cũng không thể
vận hành theo mong muốn. Vladimir Komarov cuống cuồng mở chiếc dù dự
bị. Nhưng không hiểu vì lý do gì, nó cũng không hoạt động!
Sáng ngày 24/4/1967
...
một vài dân làng sinh sống ở phía nam dãy núi Ural chứng kiến một vật
thể khổng lồ lao xuống đất. Họ không biết rằng, vật thể khổng lồ đó
chính là Soyuz 1 chở phi hành gia, đại tá Vladimir Komarov và đâm xuống
mặt đất với vận tốc 140km/giờ.
Đống vụn vỡ từ con tàu Soyuz 1.
Khoảnh khắc, chiếc dù dự bị không thể mở được, Vladimir Komarov ý thức hoàn toàn được điều gì sẽ xảy tiếp theo.
Những
giây phút cuối cùng trong cuộc đời người phi hành gia 40 tuổi ấy là
cuộc đàm thoại với sở chỉ huy mặt đất. Nhưng đoạn hội thoại ấy bị giấu
nhẹm và trở thành một trong những sự kiện bí ẩn và gây nhiều tranh cãi
nhất của thế kỷ 20.
Những gì người trong cuộc và
người đời biết chỉ là những tiếng thét đầy đau đớn của một con người đối
mặt rất gần với Thần Chết. Qua bộ đàm, những người dưới mặt đất vẫn còn
nhớ như in "tiếng khóc, tiếng thét trong cơn tuyệt vọng cùng cực".
3. Tiếng nấc của người vợ và lời tiễn biệt cuối cùng
Liên
Xô luôn có những bí mật quốc gia được bảo toàn tuyệt mật trước dư luận
và thế giới. Không ai biết rõ sự thật trong cuộc hội thoại cuối cùng của
Vladimir Komarov. Chỉ biết rằng, trong trạng thái cuồng loạn đó,
Vladimir Komarov đã nói chuyện với Alexsei Kosygin, Thủ tướng của Liên
Xô, người đã khóc cùng Vladimir Komarov. Câu cuối cùng Alexsei Kosygin
nói chính là"Vladimir Komarov, anh là người hùng của dân tộc!"
Sau
giây phút ngắn ngủi trò chuyện với vợ về những đứa trẻ đáng yêu của hai
người, Soyuz 1 và anh đâm sầm xuống mặt đất với một lực của một thiên
thạch nặng 2,8 tấn.
"Chúng tôi tìm thấy phần thi
thể còn sót lại của Vladimir Komarov một giờ sau khi tiến hành thu thập
các mảnh vụn của con tàu Soyuz 1. Ban đầu, chúng tôi chẳng thể phân biệt
đâu là đầu, tay hay chân của anh ấy. Anh ấy đã... bị thiêu cháy ngay cả
khi con tàu chưa kịp lao xuống mắt đất. Ngọn lửa đã biến cơ thể người
anh hùng ấy chỉ còn là một phần cháy đen, có kích thước 30 x 80cm.", đồng đội của anh xót xa kể lại.
Phần thi thể cháy đen còn lại của người anh hùng Liên Xô Vladimir Komarov.
Người anh hùng Liên Xô Vladimir Komarov mãi mãi ra đi, để lại sự nuối tiếc của nhiều người.
Đã 51 năm trôi qua kể từ thảm họa tàu vũ trụ đau lòng ấy, người ta vẫn không hiểu tại sao, cả hai chiếc dù đều không mở.
Cái chết thương tâm của Vladimir Komarov trở thành sự mất mát về người khi bay trong vũ trụ đầu tiên trong lịch sử.
Bài viết sử dụng nguồn: Futurism, Space, Listverse
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét