CHUYỆN ÍT BIẾT 46

(ĐC sưu tầm trên NET)


Tấn bi kịch ẩn sau thời khắc Mỹ đổ bộ Mặt Trăng: Thi thể phi hành gia không thể nhận diện!

Trang Li |
Tấn bi kịch ẩn sau thời khắc Mỹ đổ bộ Mặt Trăng: Thi thể phi hành gia không thể nhận diện!

Trước khi lịch sử ghi danh sự kiện người Mỹ đặt chân đầu tiên lên Mặt Trăng năm 1969, NASA đã trải qua tấn bi kịch hàng không tàn khốc!


Không ít lần, trong cuộc chạy đua vào không gian giữa Mỹ và Liên Xô - hai cường quốc đối địch nhau trong cuộc Chiến tranh Lạnh (1946 - 1989) - lịch sử phải cay đắng chứng kiến những tấn bi kịch hàng không thảm khốc của cả hai quốc gia này.
Nếu như người Liên Xô mở ra buổi bình minh khai phá vũ trụ với sự kiện đưa người lần đầu tiên bay ra ngoài quỹ đạo Trái Đất năm 1961 thì người Mỹ lại thành công vang dội với chương trình đưa người lên Mặt Trăng Apollo lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại năm 1969.
Cứ thế, năm nối tiếp năm, sự kiện nối tiếp sự kiện, những "Christopher Columbus" của vũ trụ không ngừng xuất hiện khiến cho ước mơ ngàn đời của nhân loại (bay ra vũ trụ, sinh sống và làm việc ngoài không gian) dần hiện thực hơn rất nhiều. Hào quang của những chiến thắng trên "mặt trận" không gian vũ trụ giữa Mỹ và Liên Xô khiến dư luận quốc tế vui mừng, tự hào khôn xiết.
Lẽ dĩ nhiên, khi dư luận đổ xô khen ngợi các phát kiến vũ trụ vĩ đại của cả người Mỹ và người Liên Xô, thì những thảm họa hàng không tất yếu được chính phủ hai nước bưng bít. Họ không muốn đưa mình vào thế yếu trước một địch thủ mạnh và trước những lời tung hô không ngừng của thế giới.
Tấn bi kịch ẩn sau thời khắc Mỹ đổ bộ Mặt Trăng: Thi thể phi hành gia không thể nhận diện! - Ảnh 1.
Trong suốt hơn 4 thập kỷ dài của cuộc chiến không đổ máu, rất nhiều tài năng vũ trụ của Mỹ (và Liên Xô) phải âm thầm hy sinh để những ánh hào quang sau này được tỏa sáng.
Trước khi chứng kiến hai tấn bi kịch hàng không đau đớn bậc nhất trong lịch sử khai phá vũ trụ của NASA - tàu con thoi Challenger nổ tung sau 73 giây rời bệ phóng khiến toàn bộ phi hành đoàn 7 người tử nạn năm 1986 (đọc chi tiết), và số phận bi thảm của tàu con thoi Columbia nổ tung trước khi trở về mặt đất khiến 7 phi hành gia thiệt mạng năm 2003 (đọc chi tiết) - thì lịch sử NASA nói riêng và lịch sử Mỹ nói chung đã phải đối mặt với thảm kịch hàng không cay đắng đúng vào lúc người Liên Xô đang ở đỉnh cao của người tiên phong.
Vụ tai nạn của tàu Apollo 1 năm 1967 là nỗi đau còn day dứt mãi trong ký ức của những người tham dự chương trình Apollo những năm 1960.
Một trong những sự kiện "thức tỉnh" người Mỹ trong cuộc chạy đua vào không gian diễn ra vào ngày 4/10/1957: Khi đó, Liên Xô phóng thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên của thế giới có tên Sputnik 1 lên thẳng quỹ đạo Trái Đất.
Người Mỹ bất ngờ!
Chưa hết, ngày 12/4/1961: Phi hành gia Liên Xô Yuri Gagarin lái con tàu Phương Đông 1 ra ngoài không gian. Chuyến bay lần đầu tiên của nhân loại ra ngoài vũ trụ kéo dài 108 phút ấy trở thành "cú hích" đánh mạnh vào niềm kiêu hãnh của người Mỹ.
Người Mỹ lo sợ!
Bắt đầu từ đó, hàng loạt các chương trình đưa người ra vũ trụ (Project Mercury), đưa người lên Mặt Trăng (Apollo Program)... được Mỹ tức tốc thực hiện.
Dưới áp lực từ giới lãnh đạo, NASA cũng vì thế mà nôn nóng với các chương trình không gian của mình. Để rồi, trong lúc người Liên Xô còn hân hoan với sự kiện trọng đại ngày 12/4/1961 cùng "huyền thoại vũ trụ" mang tên Yuri Gagarin thì người Mỹ đã không "hái được quả ngọt" nào lại còn phải chịu nỗi đau mang tên Apollo 1.
Ngày 27/1/2017 đánh dấu thời điểm tròn 50 năm sau thảm kịch hàng không tồi tệ bậc nhất trong lịch sử khám phá vũ trụ của Mỹ.
Phi thuyền Apollo 1, ban đầu có tên AS-204, theo kế hoạch là con tàu thực hiện sứ mệnh bay vào vũ trụ có người đầu tiên thuộc Chương trình đổ bộ Mặt Trăng có người (Apollo) của NASA, dự kiến phóng vào ngày 21/2/1967.
Nhưng ngày 21/2 cách đây 51 năm đã không bao giờ trở thành một phần quan trọng trọng lịch sử của NASA và nước Mỹ, bởi trước đó, Apollo đã "tử nạn" ngay trước khi thực hiện sứ mệnh đổ bộ Mặt Trăng.
Tấn bi kịch ẩn sau thời khắc Mỹ đổ bộ Mặt Trăng: Thi thể phi hành gia không thể nhận diện! - Ảnh 2.
Ngày 27/1/1967
Phi hành đoàn gồm 3 tài năng vũ trụ Mỹ là Trung tá Gus Grissom, phi công chính Ed White - người Mỹ đầu tiên bước ra vũ trụ, và phi công Roger B. Chaffee nhận nhiệm vụ tiến hành buổi phóng thử tàu Apollo 1 mô phỏng tại bãi phóng thuộc Trung tâm vũ trụ Kennedy.
Nếu thử nghiệm này thành công, Apollo 1 sẽ chính thức được phóng vào không gian theo lịch dự kiến vào ngày 21/2/1967.
Tấn bi kịch ẩn sau thời khắc Mỹ đổ bộ Mặt Trăng: Thi thể phi hành gia không thể nhận diện! - Ảnh 3.
Phi hành đoàn Apollo 1 năm 1967.
Thử nghiệm được nhận định là không nguy hiểm bởi vì cả chiếc xe phóng cũng như tàu vũ trụ Apollo 1 đều không được nạp nhiên liệu, và tất cả các hệ thống tên lửa đều bị vô hiệu hóa.
13 giờ cùng ngày,
Phi hành đoàn sau khi được trang bị bộ đồ phi hành gia đầy đủ, họ bước vào khoang chỉ huy của Apollo 1. Mô-đun này được thiết kế không gian vừa vặn cho 3 chiếc ghế. Điều này đồng nghĩa với việc các phi hành gia như "bị trói" khi ngồi xuống ghế trang bị đầy đủ hệ thống kết nối thông tin với chỉ huy mặt đất và hệ thống oxy của Apollo 1.
Ba phút sau khi đếm ngược, quá trình khởi động bắt đầu. Tất cả các cửa khoang đóng kín, không khí bên trong mô-đun được thay thế bằng oxy tinh khiết 16,7psi, cao hơn 2psi so với áp suất khí quyển.
Khi tiến hành liên lạc với trạm chỉ huy mặt đất, hệ thống microphone gặp trục trặc. Chỉ huy tàu Gus Grissom nói rằng: "Làm sao chúng ta có thể đổ bộ Mặt Trăng nếu như không thể liên lạc với thành viên phi hành đoàn cũng như với trạm chỉ huy!?"
Tấn bi kịch ẩn sau thời khắc Mỹ đổ bộ Mặt Trăng: Thi thể phi hành gia không thể nhận diện! - Ảnh 4.
Ba phi hành gia trong mô-đun chỉ huy của Apollo 1. Nguồn: NASA
17:40 chiều cùng ngày,
Quá trình phóng thử Apollo 1 được thực hiện lại sau khi đội kỹ thuật khắc phục sự cố liên quan đến microphone. Buổi phóng thử đếm ngược diễn ra thuận lợi cho đến 18:30 phút - khi phi hành đoàn đang hoàn tất việc kiểm tra cuối cùng trước khi rời khỏi mô-đun.
9 giây sau,
Trạm chỉ huy bỗng nghe thấy tiếng kêu thất thanh từ một phi hành gia: "Lửa. Ở đây có lửa!"
Tiếp theo đó là tiếng ồn ào từ phía bên kia. Chỉ huy tàu Gus Grissom nói vội: "Báo cáo... có một đám cháy lớn...Chúng tôi đang cố thoát ra... tút.... tút... tút..."
Người ta không còn nghe thấy bất cứ âm thanh nào ngoài tiếng kêu đau đớn của phi hành đoàn Apollo 1. Từng giây trôi qua khiến cho những người liên lạc hoang mang.
Lập tức, đội cứu hộ chạy đến khoang chỉ huy của con tàu. Họ hy vọng mọi chuyện vẫn nằm trong tầm kiểm soát.
Thế nhưng, tất cả đã quá muộn màng!
Nhờ oxy tinh khiết mà ngọn lửa bùng cháy nhanh và dữ dội hơn bao giờ hết. Nhiệt độ cao, khói dày đặc, các cánh cửa tàu nóng rãy và mặt nạ không khí hoạt động không hiệu quả... tất cả cản trở nỗ lực cứu hộ của những người bên ngoài khoang chỉ huy.
Đồng đội của 3 phi hành gia như điên cuồng tìm mọi cách đưa các anh ra ngoài, bất chấp cả việc mô-đun chỉ huy có thể phát nổ, gián tiếp gây vụ nổ cho quả tên lửa dùng để phóng tàu cách đó không xa.
Khi oxy tinh khiết trong khoang bị đốt cháy gần hết, ngọn lửa tàn dần. Nhưng bên trong nó là nồng độ khí CO2 đậm đặc. Phải mất 5 phút, người ta mới có thể mở cửa khoang của mô-đun chỉ huy. Khung cảnh trước mắt những người có mặt hôm đó trở thành ký ức đau thương, ám ảnh vô cùng:
Tất cả... 3 phi hành gia tài năng của Apollo 1 không còn chút sinh khí. Tồi tệ hơn nữa. Ngọn lửa nghiệt ngã đã thiêu đốt họ biến dạng đến nỗi người ta không thể nhận ra ai với ai. Ba thi thể bị cháy đen. Quần áo phi hành dính chặt vào những phần còn lại của thi thể các anh. Pháp y về sau gặp khó khăn trong việc tách quần áo với phần xương thịt còn lại của phi hành đoàn.
Tấn bi kịch ẩn sau thời khắc Mỹ đổ bộ Mặt Trăng: Thi thể phi hành gia không thể nhận diện! - Ảnh 5.
Thi thể còn lại của phi hành đoàn Apollo 1. Nguồn: NASA
Ngay sau vụ cháy tàn khốc của Apollo 1 xảy ra, giám đốc NASA khẩn thiết xin Tổng thống Mỹ thời đó là Lyndon B. Johnson cho phép cơ quan này "bí mật" điều tra nguyên nhân vụ việc và hứa sẽ báo cáo trung thực toàn bộ sự việc trước khi cho công chúng biết.
Ngày 5/4/1967, NASA đệ trình bản báo cáo nguyên nhân sự cố tàu Apollo 1 lên Tổng thống.
Giới pháp y khám nghiệm tử thi xác định, nguyên nhân chính gây tử vong cho cả ba phi hành gia là tim ngừng đập do nồng độ CO2 cao. Các mức độ bỏng khác nhau của phi hành đoàn không phải là nguyên nhân chính dẫn đến cái chết của họ. Các cấp độ bỏng đều được xác định là xảy ra sau khi 3 phi hành gia tử nạn.
Cũng theo khám nghiệm tử thi, chỉ huy Gus Grissom bị bỏng cấp độ 3. Bộ độ phi hành bị phá hủy hoàn toàn; Phi công chính Ed White bị bỏng cấp độ 2. Bộ quần áo bị cháy hoàn toàn; Phi công Roger B. Chaffee bị bỏng cấp độ 3, một phần quần áo bị cháy nặng.
Về nguyên nhân gây nên vụ hỏa hoạn, NASA báo cáo:
Thứ nhất, nguồn đánh lửa có thể liên quan đến "hệ thống dây điện nguồn của Apollo 1" hoặc có thể do "ống dẫn nước mang theo chất làm mát dễ cháy và ăn mòn trên tàu".
Thứ hai, nguồn oxy trong khoang ở mức tinh khiết cao nhiều so với áp suất khí quyển.
Thứ ba, cabin (môn-đun chỉ huy) kín không dễ dàng đóng-mở khiến cho quá trình thoát hiểm trong tình huống nguy cấp gặp khó khăn.
Thứ tư, trong cabin chỉ huy có quá nhiều vật liệu gây cháy.
Thứ năm, công tác cứu hộ bên trong và bên ngoài cabin chưa đầy đủ và hiệu quả.
Tấn bi kịch ẩn sau thời khắc Mỹ đổ bộ Mặt Trăng: Thi thể phi hành gia không thể nhận diện! - Ảnh 6.
Sứ mệnh Apollo sau sự kiện tàn khốc của tàu Apollo 1 ngày 27/1/1967 đã thay đổi hoàn toàn về sau. 18 tháng sau vụ tai nạn khiến 3 phi hành gia Mỹ hy sinh, NASA mới lại thực hiện sứ mệnh đưa người lên Mặt Trăng. Và họ đã thành công.
Ngày 20/7/1969, hai năm sau cái chết của phi hành đoàn Apollo 1, người Mỹ đổ bộ Mặt Trăng thành công. Họ chính thức trở thành quốc gia đi tiên phong trong cuộc chạy đua lên vệ tinh tự nhiên của Trái Đất. Tạm thời bỏ xa người Liên Xô trong sứ mệnh thăm dò Mặt Trăng tiêu tốn hàng tỷ đô.
Quay lại thập niên 1960, một cựu phi hành gia của NASA từng thú nhận: "Khi giới lãnh đạo đặt mục tiêu đổ bộ Mặt Trăng trong vòng chưa đầy 10 năm là một tham vọng quá sức!"
Bởi có lẽ, bi kịch của Apollo 1 có thể chấm dứt mọi nỗ lực tiếp cận Mặt Trăng của người Mỹ nếu như chính nước Mỹ không bị cuốn vào cuộc chạy đua khổng lồ vào không gian với người Liên Xô thời Chiến tranh Lạnh.
    Áp lực trước một Liên Xô hùng cường trong vũ trụ khiến giới lãnh đạo Mỹ đứng ngồi không yên.
    Trước những toan tính chính trị và tham vọng muốn vượt mặt Liên Xô đã khiến Mỹ gây áp lực lên NASA. Công thức cho thảm họa hàng không được giải khi NASA phải thực hiện một trong những sứ mệnh tham vọng và khó khăn nhất trong lịch sử của mình.
    Thực tế cho thấy, Apollo 1 không phải là một phiên bản sửa đổi của tàu vũ trụ Gemini, nó là một tàu vũ trụ hoàn toàn mới và Apollo 1 có khoảng năm năm phát triển, nhưng nó chưa sẵn sàng bay vào tháng 1 năm 1967 định mệnh đó.
    Khi sự thúc giục bất chấp những nguyên tắc an toàn bay cộng với những mưu toan chính trị thì thảm họa xảy ra là điều dễ hiểu. Bài học này có lẽ chính NASA thấm nhuần hơn cả.
    Dưới góc độ nhân văn, sự hy sinh của 3 tài năng vũ trụ Mỹ trên con tàu Apollo 1 khi chưa kịp cất cánh bay vào vũ trụ phần nào đã giúp NASA có được kinh nghiệm cho các chuyến bay về sau an toàn hơn.
    Neil Armstrong cùng Buzz Aldrin và Michael Collins đã trở thành những người đầu tiên trong lịch sử thế giới đổ bộ lên Mặt Trăng trên con tàu Apollo 11 ngày 20/7/1969.
    Chúng ta hẳn còn mãi nhớ câu nói trong thời khắc phi hành gia Neil Armstrong đặt dấu chân đầu tiên lên Mặt Trăng: "Đây là bước đi nhỏ bé của một người, nhưng là bước tiến khổng lồ của nhân loại".
    Tấn bi kịch ẩn sau thời khắc Mỹ đổ bộ Mặt Trăng: Thi thể phi hành gia không thể nhận diện! - Ảnh 8.
    Phi hành đoàn Apollo 1 (trái sang phải): Gus Grissom, Ed White, Roger B. Chaffee. Nguồn: NASA
    Để ghi nhớ công lao của ba phi hành gia tàu Apollo 1, người Mỹ trang trọng đặt thi thể của chỉ huy Gus Grissom và phi công Roger Chaffee tại Nghĩa trang Quốc gia Arlington. Phi công Ed White được chôn cất tại nghĩa trang West Point trên khuôn viên của Học viện Quân sự Mỹ ở West Point, New York.
    Tên của họ nằm trong danh sách những phi hành gia đã chết trong nhiệm vụ, được khắc trên Đài tưởng niệm Space Mirror tại Trung tâm vũ trụ Kennedy ở đảo Merritt, Florida.
    Tổng thống Mỹ Jimmy Carter đã trao tặng Huân chương danh dự cho Gus Grissom vào ngày 1/10/1978. Tổng thống Bill Clinton trao tặng huân chương cùng loại cho Ed White và Roger Chaffee vào ngày 17/12/1997.
    NASA dành riêng "Ngày Tưởng niệm - Day of Remembrance" để tưởng nhớ 3 thảm kịch đáng nhớ trong lịch sử cơ quan này, gồm: Apollo 1 - Challenger - và Columbia.
    Lịch sử mãi khắc ghi những cống hiến to lớn của các anh hùng vũ trụ, nhờ họ, không chỉ người Mỹ, mà cả nhân loại có những bước tiến lớn trong công cuộc khai phá không gian.
    Bài viết sử dụng nguồn: NASA, Space.com
    theo Helino

    Bí mật đen tối thời Chiến tranh Lạnh: Bi kịch chết chóc nhất trong lịch sử tên lửa Liên Xô

    Trang Li |
    Bí mật đen tối thời Chiến tranh Lạnh: Bi kịch chết chóc nhất trong lịch sử tên lửa Liên Xô
    Ảnh mang tính minh họa.

    Ngày 24/10/1960 mãi trở thành ký ức đẫm máu đầy ám ảnh trong lịch sử hàng không Liên Xô.


    Trước khi người Liên Xô mở ra kỷ nguyên khai phá vũ trụ vào năm 1961 với sự kiện phi hành gia Yuri Gagarin cùng con tàu vũ trụ Phương Đông 1 thực hiện chuyến bay lần đầu tiên ra ngoài không gian kéo dài 108 phút ngày 12/4 cách đây 57 năm thì vào năm 1960 lịch sử hàng không Liên Xô phải chứng kiến một thảm kịch chết chóc nhất trong ngành tên lửa hàng không tính cho đến năm 2018.
    Lịch sử Liên Xô ghi nhận, mỗi một quyết định phóng tên lửa hay tàu vũ trụ đều ít nhiều bị chi phối bởi các quyết định mang yếu tố chính trị cũng như công nghệ bấy giờ.
    Một trong những quyết định sai lầm khiến Liên Xô mất đi một tài năng vũ trụ đáng buồn nhất trong lịch sử là trường hợp của kỹ sư hàng không kiêm phi công bay thử nghiệm Vladimir Komarov (bạn thân của "huyền thoại vũ trụ" Yuri Gagarin") người phải thực hiện "sứ mệnh tự sát" - lái thử trên con tàu vũ trụ Soyuz 1 bất chấp những phản đối của các kỹ sư (đọc chi tiết, tại đây).
    Thế nhưng...
    Lịch sử hàng không Liên Xô cũng phải cay đắng ghi nhận, chưa có một thảm kịch nào xảy ra do quyết định sai lầm của giới lãnh đạo mà cái giá phải trả lại quá thảm khốc, đau đớn đến vậy!
    Bí mật đen tối thời Chiến tranh Lạnh: Bi kịch chết chóc nhất trong lịch sử tên lửa Liên Xô - Ảnh 1.
    Một năm sau khi Chiến tranh Thế giới thứ 2 (1939 - 1945) kết thúc, Mỹ và Liên Xô bước vào cuộc chiến tranh mới. Không đổ máu trên chiến trường, không có súng đạn khiến bao gia đình ly tán, cuộc Chiến tranh Lạnh của hai cường quốc diễn ra giữa những cuộc chạy đua không ngừng nghỉ suốt hơn 4 thập kỷ về vũ khí (hạt nhân), công nghệ hiện đại và các sứ mệnh không gian khiến thế giới đi từ bất ngờ này đến ngỡ ngàng khác.
    Không chỉ thế, Chiến tranh Lạnh cũng là cuộc "cân não" của những bí mật mà đôi bên đều muốn giấu nhẹm đi trước địch thủ cũng như trước dư luận của người dân và thế giới. Bởi vậy mới có chuyện, khi tất cả mọi chuyện đã ngã ngũ, khi cuộc chiến đó tạm thời đỡ nhức nhối thì người ta mới đưa những bí mật đó ra ánh sáng.
    Nedelin Catastrophe (hay Nedelin Disaster - Thảm kịch Nedelin) là một câu chuyện như thế!
    "Nọc độc của Quỷ"
    Trước khi mở ra kỷ nguyên khai phá vũ trụ cho loài người, Liên Xô đã khởi xướng chương trình phát triển tên lửa xuyên lục địa đầu tiên trên thế giới từ trước khi Chiến tranh Thế giới thứ hai nổ ra.
    Khoảng hai thập kỷ sau, dưới sự chỉ đạo tài ba của nhà khoa học, kỹ sư kiêm nhà thiết kế tên lửa hàng đầu của Liên Xô là Sergey Korolev, R-7 Semyorka, thế hệ tên lửa xuyên lục địa đầu tiên trên thế giới của Liên Xô ra đời. R-7 Semyorka phóng thử thành công vào tháng 8/1957.
    Vốn say mê với lý tưởng du hành vũ trụ bằng tên lửa, tổng công trình sư Sergey Korolev đã đệ trình ý tưởng của mình lên Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô với mong muốn sử dụng tên lửa R-7 đưa vệ tinh lên quỹ đạo Trái Đất.
    Ý tưởng được tán thành nhanh chóng. Kết quả, ngày 4/10/1957, vệ tinh nhân tạo đầu tiên trên thế giới do Liên Xô chế tạo là Sputnik 1 được tên lửa R-7 phóng thẳng lên quỹ đạo. Thế giới bất ngờ! Người Mỹ lo sợ! Kể từ đó, thay vì mải miết sản xuất vũ khí hạt nhân, người Mỹ bắt đầu mở cuộc chạy đua vào không gian với người Liên Xô.
    Đôi ba năm sau, những cải tiến trong chế tạo tên lửa được các tài năng Liên Xô không ngừng thực hiện. Lần này, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của tổng công trình sư Mikhail Yangel, tên lửa xuyên lục địa R-16 ra đời với cải tiến trong sử dụng nhiên liệu động lạnh.
    Bí mật đen tối thời Chiến tranh Lạnh: Bi kịch chết chóc nhất trong lịch sử tên lửa Liên Xô - Ảnh 2.
    Tên lửa xuyên lục địa R-16 của Liên Xô: Dài 30,4m, đường kính 3m, nặng 141 tấn.
    Dự định thay thế tên lửa R-7, R-16 được giới kỹ sư Liên Xô đánh giá là "thực tế hơn" vì một tên lửa có thể được chuẩn bị nhanh hơn nhiều nhờ các cơ chế tiếp nhiên liệu đơn giản.
    Loại nhiên liệu được lựa chọn là hợp chất hóa học UDMH [Công thức hóa học: H2NN(CH3)2] bị oxy hóa với tỉ lệ 73% axit nitric / 27% hỗn hợp nitơ tetroxit. Axit UDMH-nitric là một hợp chất độc hại, gây ung thư, ăn mòn cực cao ở dạng lỏng, khi bị đốt cháy chúng ta ra khí độc chết người, đó là lý do, giới khoa học tên lửa Liên Xô gọi nó với biệt danh "Nọc độc của Quỷ" (Devil's Venom).
    Tuy vậy, vì sử dụng với mục đích khoa học nên "Nọc độc của Quỷ" được giới chuyên môn ủng hộ.
    NEDELIN: Cái tên khởi nguồn và kết thúc của thảm kịch
    Bí mật đen tối thời Chiến tranh Lạnh: Bi kịch chết chóc nhất trong lịch sử tên lửa Liên Xô - Ảnh 3.
    Nguyên soái Mitrofan Nedelin, Tư lệnh các lực lượng tên lửa chiến lược Liên Xô.
    Nguyên soái Mitrofan Nedelin, Tư lệnh các lực lượng tên lửa chiến lược Liên Xô, được giao trọng trách phát triển R-16.
    Vì nôn nóng muốn "lấy lòng" giới lãnh đạo bằng cách ra đời R-16 đúng dịp kỷ niệm ngày lễ Cách mạng tháng Mười Nga (Bolshevik Revolution), Nguyên soái Mitrofan Nedelin đã gây áp lực về thời gian với đội kỹ thuật của tổng công trình sư Mikhail Yangel.
    Vì phải chế tạo tên lửa cho kịp tiến độ, đội kỹ sư đã bỏ qua tất cả các biện pháp an toàn cần thiết vào thời điểm đó. Vì áp lực từ Moskva, đội kỹ sư có lúc đã phải làm việc liên tục trong 72 giờ đồng hồ.
    Một điều trớ trêu nữa, do những đấu đá nội bộ trong cộng đồng những nhà khoa học tên lửa Liên Xô, nên tổng công trình sư Mikhail Yangel không được làm việc với những kỹ sư tài năng nhất cho dự án phát triển R-16, trong đó có kỹ sư Nikolay Pilyugin, người đã thiết kế phần lớn các hỏa tiễn hướng dẫn thời đó.
    Thay vì thế, Mikhail Yangel phải làm việc với Boris Konoplev, một nhà phát minh xuất sắc và chuyên gia hàng đầu về kỹ thuật vô tuyến, nhưng ông này không phải là người có quy củ. Hệ quả, mọi công tác kiểm tra đều được làm qua loa trước khi cài đặt vào hệ thống R-16.
    Mặc cho thực tế là R-16 còn quá nhiều thiếu sót về kỹ thuật, cuối tháng 9/1960, quả tên lửa xuyên lục địa R-16 nặng hơm 140 tấn - "quân bài chiến lược" mà lãnh đạo nhà nước Xô Viết Nikita Khrushchev nóng lòng chờ đợi - được chuyển đến bãi thử Tyuratam Launch Complex, tiền thân của sân bay vũ trụ Baikonur, để chờ ngày phóng.
    Đến ngày 21/10/1960, tên lửa R-16 được đưa lên bệ phóng. Một ngày trước khi thảm kịch xảy ra, người ta tiến hành bơm nhiên liệu "Nọc độc của Quỷ" cho R-16.
    Quá trình bơm nhiên liệu không diễn ra suôn sẻ như Nguyên soái Mitrofan Nedelin mong ngóng, bởi, sau khi bơm xong, đội kỹ thuật phát hiện dấu hiệu thùng chứa nhiên liệu bị rò rỉ, ước tính với tốc độ khoảng 145 giọt/phút.
    Sự cố này càng khiến Mitrofan Nedelin đi từ sai lầm này đến sai lầm khác. Thay vì ra lệnh cho đội kỹ thuật rút cạn nhiên liệu để bịt kín chỗ rò rỉ thì Nedelin ra lệnh cho họ sữa chữa tên lửa trong khi nhiện liệu chết người vẫn còn đầy trong thùng chứa khổng lồ, nhằm tiết kiệm thời gian.
    Sai lầm tiếp theo của vị Nguyên soái này là thay vì giám sát đội kỹ sư từ xa, ông lại bất chấp quy định an toàn, tự cho phép mình và khoảng hơn 100 nhân vật có tiếng nữa đến bãi phóng nơi đặt quả tên lửa để trực tiếp giám sát mọi việc.
    24/10/1960 - Ngày đen tối trong lịch sử hàng không Liên Xô
    Sau khi chỗ rò rỉ được hàn. Áp lực từ giới lãnh đạo Liên Xô khiến cho Nguyên soái Mitrofan Nedelin thêm bồn chồn. Để rồi ngày 24/10/1960 mãi trở thành ngày đen tối với tất cả những nhân vật có mặt tại bãi thử Tyuratam.
    Ngày hôm đó, khoảng hơn 200 người có mặt tại Tyuratam để chứng kiến sự kiện phóng thử tên lửa R-16. Trước khi tiến hành phóng, động cơ tầng 2 đột nhiên phát hỏa do lỗi kỹ thuật. Ngọn lửa nhanh chóng bao trùm xuống khoang chứa nhiên liệu khổng lồ ở tầng 1.
    Tất yếu, "Nọc độc của Quỷ" phát huy "tác dụng": Một quả cầu lửa khổng lồ đường kính 120m bao trùm cả quả R-16 dài 30,4m. Quả cầu lửa lớn đến mức người ta vẫn có thể quan sát được nó ở vị trí cách bãi thử 50km.
    Bí mật đen tối thời Chiến tranh Lạnh: Bi kịch chết chóc nhất trong lịch sử tên lửa Liên Xô - Ảnh 4.
    Vụ nổ tạo nên một quả cầu lửa khổng lồ đường kính 120m. Ảnh minh họa.
    Những người quan sát việc phóng ở gần biển lửa bị chết ngay lập tức do sức nóng hàng nghìn độ C. Những người khác chết do bị bỏng nặng. Số khác chết cho ngạt khí độc do Axit UDMH-nitric tạo ra. Trong số đó, có Nguyên soái Mitrofan Nedelin - thi thể của ông bị ngọn lửa làm biến dạng đến mức không thể nhận diện!
    Tổng công trình sư Mikhail Yangel may mắn thoát nạn vì khi đó ông đang ở bãi thử xa hàng trăm mét để hút thuốc!
    Hãng thông tấn của Liên Xô giật tít: Nguyên soái Mitrofan Nedelin tử nạn trong một vụ tai nạn máy bay!
    ...Vì một lẽ: Lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev hạ lệnh giấu nhẹm sự việc và coi đó là bí mật quốc gia hàng đầu.
    Khi "quân bài" R-16, nếu thành công sẽ đóng vai trò rất lớn làm thay đổi cán cân trong cuộc chạy đua không gian với Mỹ, bị thất bại, tất yếu, lãnh đạo Liên Xô buộc phải che đậy lại. Mãi đến năm 1989, khi Chiến tranh Lạnh đi vào hồi kết, sự thật về cái chết của Nguyên soái Mitrofan Nedelin cùng hàng trăm người khác mới được đưa ra ánh sáng.
    Người Liên Xô gọi Nedelin Catastrophe, thảm họa mang tên Nguyên soái Mitrofan Nedelin, là bi kịch đẫm máu nhất trong lịch sử tên lửa của nước này.
    Một lần nữa, họ vinh danh Mitrofan Nedelin là anh hùng Sô Viết, trang trọng đặt thi thể của ông tại Nghĩa trang tường Điện Kremlin ở Quảng trường Đỏ, thủ đô Moskva.
    Cho đến nay, Nedelin biến ngày 24/10/1960 mãi trở thành ký ức đẫm máu đầy ám ảnh trong lịch sử hàng không Liên Xô nói riêng và lịch sử hàng không thế giới nói chung.
    Bài viết sử dụng nguồn: Space Safety Magazine
    theo Helino

    Bí mật "vùng tử thần" dưới đáy đại dương: Nghìn năm không có sinh vật sống, NASA cố lờ đi!

    Trang Ly |
    Bí mật "vùng tử thần" dưới đáy đại dương: Nghìn năm không có sinh vật sống, NASA cố lờ đi!

    48 năm sau sứ mệnh bất thành của con tàu Apollo 13 (của NASA), hệ lụy "chết chóc" mà nó để lại kéo dài hàng nghìn năm!

    Bao phủ 71% bề mặt Trái Đất, đại dương là một thế giới rộng lớn ẩn chứa nhiều bí mật khiến nhân loại không ngừng khám phá, giải mã.
    Tuy có mặt ngay trên hành tinh chúng ta nhưng những điều con người biết về đại dương còn ít hơn vũ trụ. Con người có thể nắm rõ địa hình sao Hỏa, sao Kim dễ dàng hơn đáy biển. Ước tính, giới khoa học chỉ mới phát hiện và định danh cho 230.000 trong khoảng 2 triệu loài sinh vật sống dưới đại dương!
    Trên Trái Đất tồn tại một vùng đáy đại dương không chỉ bí ẩn mà còn là "vùng tử thần", không một sinh vật nào có thể sinh sống. 
    Kỳ 12 trong series Những Khu Vực Nguy Hiểm Nhất Hành Tinh kể về Vực thẳm Tonga và sứ mệnh thất bại của tàu Apollo 13 - "thủ phạm" khiến cho Tonga trở thành vùng chết chóc nguy hiểm bậc nhất hành tinh.
    Bí mật vùng tử thần dưới đáy đại dương: Nghìn năm không có sinh vật sống, NASA cố lờ đi! - Ảnh 1.
    Ngày 20/2/1962, chuyến bay Mercury-Atlas 6 đầu tiên thuộc sứ mệnh Mercury (Project Mercury tiêu tốn 1,5 tỷ USD) đưa con người lên quỹ đạo Trái Đất của Mỹ được phi hành gia John Glenn thực hiện thành công.
    Ngay sau sứ mệnh hoàn thành của John Glenn - phi hành gia đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ bay ra ngoài Trái Đất, Tổng thống thời bấy giờ là John F. Kennedy lập tức hạ lệnh cho NASA khởi động chương trình đưa người lên Mặt Trăng. Chương trình Apollo (Project Apollo) ra đời.
    Gần 10 năm sau, nếu như người Liên Xô "có công" đưa người bay ra vũ trụ đầu tiên trong lịch sử nhân loại (đọc thêm) thì người Mỹ "hái quả ngọt" với thời khắc ngày 20/7/1969: Con tàu Apollo 11 đưa các phi hành gia Neil Armstrong và Edwin "Buzz" Aldrin đặt dấu chân của loài người đầu tiên lên Mặt Trăng.
    Để có được thành quả "vô tiền khoáng hậu" này, ngành vũ trụ nước Mỹ đã phải trải qua rất nhiều thăng trầm, mất mát. Nhiều vụ nổ tàu vũ trụ gây thiệt hại về người và tiền bạc khiến NASA không ít lần lao đao. Sứ mệnh không thành công của phi thuyền Apollo 13 là một ví dụ như thế.
    13 giờ 13 phút, ngày 11/4/1970...
    Phi thuyền Apollo 13 được phóng đi từ Trung tâm Vũ trụ Kennedy, Florida, mang theo ba phi hành gia tài năng của Mỹ là Jim Lovell (42 tuổi, chỉ huy tàu), Jack Swigert (38 tuổi, phi công mô-đun chỉ hủy), và Fred Haise (36 tuổi, phi công mô-đun Mặt Trăng) tiến thẳng vào không gian rộng lớn của vũ trụ.
    Bí mật vùng tử thần dưới đáy đại dương: Nghìn năm không có sinh vật sống, NASA cố lờ đi! - Ảnh 2.
    Tên lửa đưa phi thuyền Apollo 13 ra ngoài không gian, ngày 11/4/1970, từ Trung tâm Vũ trụ Kennedy, Florida, Mỹ. Nguồn: NASA
    Trong Chương trình Apollo, Apollo 13 là chuyến tàu không gian có người lái thứ 7 của Mỹ và là sứ mệnh thứ 3 đáp xuống bề mặt Mặt Trăng.
    Tối cùng ngày,
    Khi phi hành đoàn cách Trái Đất 321.868 km và đang tiến dần về phía Mặt Trăng, thì con tàu Apollo 13 gặp sự cố: Một bồn chứa oxy trên con tàu phát nổ. Lập tức các mô-đun phụ thuộc (mô-đun dịch vụ và mô-đun chỉ huy) bị ảnh hưởng ngay lập tức. Oxy đang mất dần! Phi hành đoàn ở cách mặt đất hơn 300.000km trong tình huống đó thật khó mà bình tĩnh được.
    Sau sự cố, phi hành đoàn phải sống trong điều kiện oxy khan hiếm, thiếu nước uống, nhiệt độ giảm mạnh khiến thực phẩm như hóa đông và điện chập chờn. Lượng pin dữ trữ chỉ còn dùng được trong 40 giờ, trong khi để về được Trái Đất, họ phải cần 70 giờ!
    Thời gian là điều sống còn của phi hành đoàn lúc này. Phi hành gia lão luyện Jim Lovell nhận định: Nếu không tìm cách quay về Trái Đất càng sớm càng tốt thì cả 3 người cùng Apollo 13 sẽ trôi lạc mãi mãi trong không gian, tất nhiên là không còn sinh khí để thở!
    Bí mật vùng tử thần dưới đáy đại dương: Nghìn năm không có sinh vật sống, NASA cố lờ đi! - Ảnh 3.
    Phi hành đoàn của Apollo 13 trước giờ bay: Nhìn từ trái sang - Fred Haise, Jack Swigert, và Jim Lovell. Nguồn: NASA
    Phi hành đoàn đã tự giải cứu mình bằng cách nghiên cứu cấu tạo tỉ mỉ của Apollo 13, để rồi, cuối cùng quyết định dùng hệ thống điều khiển và khoang đổ bộ (hay mô-đun đổ bộ) dự định đáp xuống Mặt Trăng của con tàu làm "phao cứu hộ" quay trở về Trái Đất.
    Điều đáng nói là, khoang đổ bộ chỉ có không gian và oxy dành cho hai người. Điều này có nghĩa, phi hành đoàn 3 người đang hít thở và ngồi trong mô-đun dành cho hai người. Oxy ngày càng giảm trong khi nồng độ CO2 ngày càng tăng.
    Không những thế, phi hành đoàn còn phải tiết kiệm pin để hướng tàu bay đúng hướng về Trái Đất. Họ phải tắt hết hệ thống chỉ dẫn và máy tính, chỉ bật radio để liên lạc với Trái Đất.
    Bí mật vùng tử thần dưới đáy đại dương: Nghìn năm không có sinh vật sống, NASA cố lờ đi! - Ảnh 4.
    Hình ảnh con tàu Apollo thiệt hại 1/4 sau vụ nổ. Nguồn: NASA.
    Khi sắp đến khí quyến Trái Đất, Apollo 13 đối mặt với một vấn đề sống còn: Vụ nổ bồn chứa oxy khiến 1/4 con tàu bị hư hỏng nặng. Sự hư hỏng lan sang cả hệ thống chịu nhiệt của tàu - đây là lớp giúp cho phi hành đoàn không bị chết cháy vì nhiệt độ khi hạ cánh lên đến 3.000 độ C.
    Sau 6 ngày bay trong vũ trụ, phi hành đoàn đã rời khỏi khoang đổ bộ để sang khoang chỉ huy. Đội tách hoàn toàn với con tàu, chỉ giữ lại khoang chỉ huy cùng 3 phi hành gia trở đáp về Trái Đất.
    Ngày 17/4/1970 - Thời khắc huy hoàng của người Mỹ...
    Sau hơn 3 phút mất liên lạc với sở chỉ huy mặt đất, khoang chỉ huy xuất hiện với 3 chiếc dù khổng lồ.
    Phi hành đoàn trở về Trái Đất an toàn! Những gì họ đã trải qua trong không gian thực sự rất đáng sợ. Cả phi hành đoàn đều bị sụt cân. Riêng Fred Haise bị nhiễm trùng thận. Tất cả những người hùng ấy đều kiệt sức. Bởi họ đã chiến đấu và trở về một cách ngoạn mục.
    Đó là câu chuyện thoát hiểm khó ngờ của ba phi hành gia tàu Apollo 13 năm 1970. NASA như thở phào nhẹ nhõm trước cái cách mà phi hành đoàn tài năng cùng sở chỉ huy mặt đất phối hợp cùng nhau để giành giật lại sự sống cho các tài năng vũ trụ Mỹ của họ. 
    Mặc dù sứ mệnh đặt ra của Apollo 13 không thành nhưng việc phi hành đoàn sống sót trở về đã khiến NASA "nở mày nở mặt" vì đã tôi luyện nên những tài năng vũ trụ biết thể hiện tinh thần đồng đội cũng kỹ năng thoát hiểm cao nhất trong lịch sử. 
    Nhờ thế mà báo chí ít chú ý đến mặt trái của "thảm họa huy hoàng" mang tên Apollo 13 đó là sự cố kỹ thuật. Song, có một thảm họa ngoài ý muốn của phi hành đoàn và NASA đã xảy ra...
    Bí mật vùng tử thần dưới đáy đại dương: Nghìn năm không có sinh vật sống, NASA cố lờ đi! - Ảnh 6.
    Xếp sau vực thẳm Mariana, vực thẳm Tonga ở tây nam Thái Bình Dương là vực thẳm sâu thứ hai trên Trái Đất. Điểm sâu nhất của Tonga là Horizon Deep, sâu khoảng 10.800m. Các nhà khoa học nhận định, vực thẳm Tonga có lớp vỏ địa chất hoạt động mạnh nhất trên hành tinh.
    Năm 1970 khi đó,
    Sau khi phi hành đoàn xoay sở để trở về Trái Đất, người ta nhìn thấy khoang chỉ huy của Apollo 13 lao nhanh xuống đại dương. Ba phi hành gia rơi xuống vùng biển cách tàu sân bay USS Iwo Jima của Mỹ (có sẵn đội cứu hộ) hơn 6km.
    Người ở lại nhưng một "vật thể cực kỳ nguy hiểm" đã tách khỏi khoang chỉ huy và lao thẳng xuống vùng tây nam Thái Bình Dương: Một thùng chất phóng xạ plutonium nặng 3,9kg!
    Đáng buồn thay, số phận của thùng chất phóng xạ plutonium-238 đã bị lu mờ trước sự trở về ngoạn mục của ba phi hành gia NASA.
    Chất phóng xạ plutonium được NASA mang theo nhằm cung cấp năng lượng cho Hệ thống phụ trợ hạt nhân, hoặc Máy phát điện nhiệt phát quang SNAP-27 (RTG), được thiết kế để cung cấp năng lượng cho một bộ thí nghiệm trên bề mặt Mặt Trăng. Tuy nhiên, sự cố bồn chứa oxy trên Apollo 13 phát nổ đã khiến kế hoạch không được thực hiện như mong đợi.
    Trái ngược với lo ngại của dư luận, các quan chức NASA tự tin nói trên tờ The New York Times rằng rủi ro lớn nhất là SNAP-27 nặng 18kg (chứa thùng plutonium) rơi trúng người dân vô tội nào đó trong quá trình khoang chỉ huy trở về Trái Đất. Mặt khác, Ủy ban Năng lượng Nguyên tử thừa nhận khả năng nhỏ nó có thể trở thành bụi và đã phân tán.
    Trên thực tế, thùng nhiên liệu chất phóng xạ cho SNAP-27 của Apollo 13 đã rơi ra ngoài trong quá trình mô-đun chỉ huy chứa 3 phi hành gia đáp xuống vùng biển tây nam Thái Bình Dương.
    Thùng chất phóng xạ này được cho là đang ở độ sâu từ 6.000m đến 9.000m ở Vực thẳm Tonga - một trong những điểm sâu nhất trên hành tinh.
    Bí mật vùng tử thần dưới đáy đại dương: Nghìn năm không có sinh vật sống, NASA cố lờ đi! - Ảnh 7.
    Vực thẳm Tonga là điểm sâu thứ hai trên hành tinh. Ảnh minh họa.
    Bộ Năng lượng Mỹ cho biết, khu vực này không thấy xuất hiện sự tăng đột biến về nhiễm phóng xạ. Đó là những báo cáo trên giấy tờ của Mỹ. Thực tế thì, NASA không muốn có bất cứ phản ứng dư luận trái chiều nào về việc sử dụng thêm plutonium 238 cho các nhiệm vụ không gian sâu trong tương lai. Lẽ dĩ nhiên, họ phải đưa ra những kết luận có lợi cho mình.
    Còn thực tế thì sao?
    Tại khu vực sâu 6.000m đến 9.000m, thùng chứa chất phóng xạ plutonium-238 đã gây nhiễm phóng xạ cho nước và hệ động-thực vật nơi đây.
    Tệ hại là thế nhưng người ta chỉ biết rằng, 3,9kg chất phóng xạ plutonium-238 sẽ không được trục vớt lên trong khoảng 800 năm nữa.
    Nếu kịch bản là vậy thì ước tính, tại khu vực này còn nhiễm phóng xạ độc hại trong vài nghìn năm nữa!
    Vực thẳm Tonga không chỉ là nơi bí ẩn bậc nhất trên Trái Đất, nó còn là "vùng tử thần" sâu gần 10.000m dưới đại dương.
    Để đắp xây những "đôi cánh" bay xa vào vũ trụ, con người, đôi khi đã đánh đổi sự an toàn ngay trên chính hành tinh của mình!
    Bài viết sử dụng nguồn: Space.com, Spacesafetymagazine, Sciencefocus
    theo Helino

    Nhận xét

    Bài đăng phổ biến từ blog này

    NHÂN TÍNH 37

    BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

    ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32