NỖI NIỀM OAN KHUẤT 49
(ĐC sưu tầm trên NET)
Con gái là Cửa hàng trưởng Viettel qua đời,người Cha đau khổ muốn phát điên,khắc hình Con lên ngực!
Câu chuyện người Cha Vĩ Đại ! Vì sao con rể bị khởi tố ?
Nỗi oan của nguyên soái Liên Xô Tukhachevsky
28/02/2020
06:10
GMT+7
Hai mươi ngày sau, khi đứng trước đội hành hình, Mikhail Nikolayevich chợt nhớ lại khoảnh khắc buổi sáng đẹp trời đầu hè ấy.
Rảo
bước tiến về chiếc ôtô đang chờ đưa ông đến cơ quan, vị Phó Dân ủy (Thứ
trưởng) Quốc phòng Liên Xô bất chợt trượt chân ngã. Viên sỹ quan tùy
tùng vội chạy đến đỡ thủ trưởng dậy. Đầu giờ chiều, ông được lệnh bàn
giao công việc và từ đó, không trở về nhà nữa.
Mikhail
Nikolayevich (1893-1937) là một trong những tư lệnh và chiến lược gia
lỗi lạc của nền nghệ thuật quân sự Xô-viết, người đặt nền móng cho các
thắng lợi vĩ đại của quân đội Liên Xô, một trong 5 vị nguyên soái đầu
tiên của Hồng quân Liên Xô.
Được đào tạo bài bản tại
Trường quân sự Aleksandrovskoe nổi tiếng và từng phục vụ tại Trung đoàn
Cận vệ Semyenovsky danh giá của quân đội Sa hoàng, Tukhachevsky sớm thể
hiện tài năng quân sự cả trong Thế chiến thứ nhất và Nội chiến sau Cách
mạng Tháng Mười.
![]() |
| Nguyên soái Mikhail Tukhachevsky. Ảnh: Wikipedia |
Sau
khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trấn áp cuộc nổi loạn của một nhóm
lính thủy tại cảng Kronstadt gần Leningrad và bảo vệ Moscow năm 1918,
ông được Dân ủy (Bộ trưởng) Quốc phòng Trotsky cử làm tư lệnh Tập đoàn
quân số 5 Hồng quân chiến đấu đánh đuổi tướng Bạch vệ Kolchak, giải
phóng vùng Siberia năm 1919, tiếp sau đó tham gia đánh bại đội quân của
tướng Denikin ở Crưm năm 1920.
Năm 1921, Tukhachevsky
được bổ nhiệm làm Giám đốc Học viện quân sự Hồng quân. Từ năm 1925 đến
năm 1928, ông là Tổng Tham mưu trưởng Hồng quân, Phó Dân ủy Quốc phòng.
Trên cương vị này, ông đã có những đóng góp to lớn trong việc cải tổ
Hồng quân từ một lực lượng vũ trang không chính quy trở thành một đội
quân chuyên nghiệp và kỷ luật.
Đặc biệt, Tukhachevsky
rất chú trọng việc hiện đại hóa Hồng quân, thay thế lực lượng kỵ binh
truyền thống bằng lực lượng tăng-thiết giáp. Tukhachevsky cũng đưa ra
nhiều ý tưởng tiên tiến về nghệ thuật quân sự, đặc biệt là về sự phối
hợp máy bay và xe tăng trong các chiến dịch. Ông là cha đẻ của học
thuyết “Tác chiến thọc sâu”, sử dụng các lực lượng phối hợp tấn công sâu
vào phòng tuyến của đối phương để tiêu diệt hậu phương và hậu cần của
chúng.
Học thuyết của Tukhachevsky ban đầu bị một số
tướng lĩnh phản đối, nhưng sau được áp dụng thành công mang lại chiến
thắng của Hồng quân do tướng Zhukov chỉ huy trước quân đội Nhật trong
trận Khalkhin Gol năm 1939.
Trong Chiến tranh Vệ quốc,
học thuyết của Tukhachevsky đã phát huy hiệu quả to lớn dẫn đến nhiều
chiến thắng quan trọng của Hồng quân, trong đó phải kể đến thắng lợi của
trận Stalingrad và chiến dịch Bagration.
Đang
ở đỉnh cao vinh quang, ngày 22/5/1937, vị nguyên soái Liên Xô trẻ nhất
khi được thụ phong bất ngờ bị bắt và bị buộc tội làm gián điệp cho Đức
Quốc xã và tham gia “bè lũ phản cách mạng Trotsky trong quân đội”. Sau
một phiên tòa được xử kín, Tukhachevsky cùng 8 chỉ huy cao cấp khác bị
tuyên có tội và bị xử tử hình ngày 12/6/1937.
Theo
nhiều nhà nghiên cứu thì cơ quan tình báo Đức đã làm giả các tài liệu về
sự liên quan của Tukhachevsky với Bộ Tổng tham mưu Đức Quốc xã, nhằm
làm lãnh đạo nghi ngờ Tukhachevsky, loại bỏ ông, qua đó làm suy yếu khả
năng phòng thủ của Liên Xô. Cũng có một số học giả cho rằng, do
Tukhachevsky quá nổi tiếng và có tầm ảnh hưởng lớn nên những kẻ ghen
ghét đã dèm pha đố kị và tìm cách hãm hại ông.
Tuy còn
rất nhiều vấn đề cần làm rõ hơn để có kết luận xác đáng về cái chết oan
uổng của nhà chỉ huy quân sự tài ba một thời này của quân đội Xô-viết,
nhưng có một điều thuộc về lịch sử và sẽ không bao giờ có thể thay đổi
được là việc xử bắn Tukhachevsky và một số sĩ quan Hồng quân khác đã
chính thức mở màn cho một cuộc thanh trừng đẫm máu nhất trong lịch sử
quân đội Liên Xô, gây ra những tổn thất vô cùng khủng khiếp.
Đã
có 5 nghìn tướng lĩnh, sĩ quan bị xử bắn vì bị buộc tội liên quan đến
Tukhachevsky; khoảng 30 nghìn sĩ quan trong Bộ Tổng tham mưu bị tử hình
qua các vụ thanh trừng, chiếm khoảng 80% tổng số sĩ quan của Hồng quân
lúc đó.
Các cuộc thanh trừng này đã sát hại 3 trong số
5 nguyên soái đầu tiên, 13 trong số 15 tư lệnh phương diện quân, 57
trong số 85 tư lệnh tập đoàn quân, 110 trong số 195 sư đoàn trưởng, 220
trong số 406 lữ đoàn trưởng và tư lệnh tất cả các quân khu.
Đây
cũng chính là một trong những nguyên nhân chủ yếu đưa đến thất bại của
Hồng quân Liên Xô trong những ngày đầu Chiến tranh Thế giới thứ 2, khi
quân Đức tấn công Liên Xô.
Hai mươi năm sau, ngày
31/1/1957, Mikhail Tukhachevsky được minh oan, được phục hồi danh dự và
các chức vụ cũ. Tuy nhiên, việc đó không bù đắp được cho những mất mát,
đau thương mà gia đình ông và đất nước phải gánh chịu.
Nguyên Phong
Vụ án tru di tam tộc Lệ Chi Viên: Hàng trăm năm sau vẫn còn day dứt nỗi oan
Vụ án Lệ Chi Viên, tức vụ án vườn vải là vụ án mà Hành khiển Nguyễn Trãi và vợ là Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ bị triều đình quy tội giết vua Lê Thái Tông, dẫn tới tru di tam tộc.
Trong cả sách Lịch sử và Ngữ văn của Bộ GD&ĐT từng đề
cập đến một vụ án gây rất nhiều tranh cãi, dù đã hàng trăm
năm nhưng những sự thật xoay quanh vụ án này vẫn là một dấu
hỏi lớn với người đương thời: Vụ án Lệ Chi Viên.
576 năm trước, vào năm Nhâm Tuất (1442) tại Lệ Chi Viên (huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh ngày nay) đã xảy ra vụ án bi thảm tru di tam tộc đại công thần Nguyễn Trãi và người vợ Nguyễn Thị Lộ với tội danh: giết vua Lê Thái Tông. 22 năm sau vụ án, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan cho Nguyễn Trãi. Riêng với bà Nguyễn Thị Lộ, ông chỉ phê một câu: "Bà Lễ nghi học sĩ không can dự vào tội giết vua".
Tuy nhiên, trong Đại Việt sử ký toàn thư do tác giả Ngô Sĩ Liên biên soạn trong khi chép lại vụ án Lệ Chi Viên đã không hề nêu lên một nghi vấn hay phản biện nào và từ đó về sau sách sử cũng không hề có một công bố, một kết luận chính thức nào về sự vô tội của bà Nguyễn Thị Lộ. Chính vì thế một nỗi oan khuất lớn vẫn cứ treo lơ lửng trong lịch sử và nhân tâm đất Việt suốt 576 năm qua.
Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, ngày 27 tháng 7 (âm lịch) năm Nhâm Tuất (1442), vua Lê Thái Tông đi tuần ở miền Đông, duyệt quân ở thành Chí Linh, Hải Dương. Nguyễn Trãi đón vua ngự ở chùa Côn Sơn, nơi ở của Nguyễn Trãi. Ngày 4 tháng 8 (âm lịch) vua về đến Lệ chi viên thuộc huyện Gia Định (nay thuộc thôn Đại Lai, xã Đại Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh). Cùng đi với vua có Nguyễn Thị Lộ, một người thiếp của Nguyễn Trãi khi ấy đã vào tuổi 40 được vua Lê Thái Tông yêu quý vì sự xinh đẹp, có tài văn chương, luôn được vào hầu bên cạnh vua. Khi về đến Lệ Chi Viên, vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ rồi mất.
Các quan bí mật đưa về, ngày 6 tháng 8 (âm lịch) mới đến kinh sư, nửa đêm vào đến cung mới phát tang. Triều đình đã quy cho Nguyễn Thị Lộ tội giết vua. Ngay sau khi thái tử Bang Cơ mới 2 tuổi lên nối ngôi (tức là Lê Nhân Tông), triều đình bắt Nguyễn Trãi tru di tam tộc vào ngày 16 tháng 8 (âm lịch) năm này.
Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục, ngay khi Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc, nhiều người đã cho là ông bị oan. Lê Nhân Tông khi xem sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi từng có ý kiến rằng: "Nguyễn Trãi là người trung thành giúp đức Thái Tổ dẹp loạn tặc, giúp đức Thái Tông sửa sang thái bình... không may bị người đàn bà gây biến, để người lương thiện mắc tội rất là đáng thương".
Năm
1464, Lê Thánh Tông chính thức ban chiếu minh oan cho Nguyễn Trãi, truy
tặng ông tước Tán Trù bá, cho người con trai sống sót của ông là Nguyễn
Anh Vũ làm chức Đồng tri châu. Năm 1512, Lê Tương Dực truy tặng Nguyễn
Trãi làm Tế Văn hầu.
Trong giới sử học hiện nay, có ý kiến của các nhà chuyên môn như Vũ Khiêu , Phan Huy Lê , Hoàng Đạo Chúc, Phan Văn Các, Đinh Xuân Lâm cho rằng: còn một người nữa chịu oan khuất chưa từng được minh oan là Nguyễn Thị Lộ. Trong hội thảo khoa học về Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ năm 2005, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Nguyễn Thị Lộ đã bị triều đình nhà Lê đương thời (do thái hậu Nguyễn Thị Anh chấp chính cho vua nhỏ Lê Nhân Tông mới lên 2 tuổi) vu khống.
Nhóm tác giả nghiên cứu lịch sử đương đại Phan Duy Kha, Lã Duy Lan, Đinh Công Vĩ trong tác phẩm "Nhìn lại lịch sử", xuất bản năm 2003, cho rằng chủ mưu vụ án chính là Nguyễn Thị Anh, vợ thứ vua Lê Thái Tông.
Trong dân gian vẫn tương truyền một giai thoại về vụ án lịch sử này như sau:
Một hôm ông Nguyễn Phi Khanh (cha của Nguyễn Trãi) cho học trò phát cỏ trong vườn để cất lớp học. Đến đêm, ông nằm mộng thấy 1 người đàn bà dẫn bầy con nhỏ đến xin ông thư thả ít hôm, vì bận con mọn nên chưa kịp dời nhà, ông nhận lời. Đến khi học trò của ông phát cỏ đập chết 1 bầy rắn con, lúc ấy ông mới hiểu ra ý nghĩa của giấc mộng, nhưng muộn rồi . Đêm đó khi ông ngồi đọc sách thì có con rắn bò trên xà nhà, nhỏ xuống 1 giọt máu thấm ngay chữ "tộc" qua 3 lớp giấy, ứng với việc gia tộc của ông bị hại đến 3 họ. Ngày sau con rắn mẹ hóa kiếp là nàng Thị Lộ để làm hại 3 họ nhà ông. Đến đời Nguyễn, trong Lịch triều hiến chương loại chí lại có thêm chi tiết: Con rắn thành tinh ngầm mang thù oán, mới đầu thai thành Thị Lộ, nàng sinh ra dưới sườn có vảy… Mặc dù câu chuyện được truyền tụng, nhưng nhiều người tin rằng nó chỉ nhằm đổ tội cho Nguyễn Thị Lộ, giải thích nguyên nhân tiền định về cái chết của vua Thái Tông và Nguyễn Trãi.
Vụ
án Lệ chi viên từng được thể hiện trong nhiều tác phẩm văn học và nghệ
thuật trong đó có các tác phẩm được báo chí đánh giá cao như vở cải
lương Rạng ngọc Côn Sơn của Sân khấu đoàn cải lương Trần Hữu Trang, vở
chèo Oan khuất một thời của nhà hát chèo Hà Nội.
Vở kịch Bí mật Lệ Chi Viên của Công ty Thái Dương (sân khấu IDECAF) từng được báo chí hết lời ca ngợi đã giành được ba giải Mai Vàng (năm 2007) (giải Đạo diễn sân khấu cho Nghệ sĩ ưu tú Thành Lộc, giải Nam diễn viên kịch nói cho Hữu Châu (vai Nguyễn Trãi), giải Nữ diễn viên kịch nói cho Thanh Thủy (vai Nguyễn Thị Anh).
Phim tài liệu Bí mật vụ án Lệ chi viên cũng từng được chiếu trên VTV1. Bộ phim Thiên mệnh anh hùng của đạo diễn Victor Vũ cũng lấy bối cảnh là 12 năm sau khi Nguyễn Trãi chết, các thế lực vương tôn tranh giành nhau, trong đó có Tuyên Từ Thái Hậu.
576 năm trước, vào năm Nhâm Tuất (1442) tại Lệ Chi Viên (huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh ngày nay) đã xảy ra vụ án bi thảm tru di tam tộc đại công thần Nguyễn Trãi và người vợ Nguyễn Thị Lộ với tội danh: giết vua Lê Thái Tông. 22 năm sau vụ án, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan cho Nguyễn Trãi. Riêng với bà Nguyễn Thị Lộ, ông chỉ phê một câu: "Bà Lễ nghi học sĩ không can dự vào tội giết vua".
Tuy nhiên, trong Đại Việt sử ký toàn thư do tác giả Ngô Sĩ Liên biên soạn trong khi chép lại vụ án Lệ Chi Viên đã không hề nêu lên một nghi vấn hay phản biện nào và từ đó về sau sách sử cũng không hề có một công bố, một kết luận chính thức nào về sự vô tội của bà Nguyễn Thị Lộ. Chính vì thế một nỗi oan khuất lớn vẫn cứ treo lơ lửng trong lịch sử và nhân tâm đất Việt suốt 576 năm qua.
Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, ngày 27 tháng 7 (âm lịch) năm Nhâm Tuất (1442), vua Lê Thái Tông đi tuần ở miền Đông, duyệt quân ở thành Chí Linh, Hải Dương. Nguyễn Trãi đón vua ngự ở chùa Côn Sơn, nơi ở của Nguyễn Trãi. Ngày 4 tháng 8 (âm lịch) vua về đến Lệ chi viên thuộc huyện Gia Định (nay thuộc thôn Đại Lai, xã Đại Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh). Cùng đi với vua có Nguyễn Thị Lộ, một người thiếp của Nguyễn Trãi khi ấy đã vào tuổi 40 được vua Lê Thái Tông yêu quý vì sự xinh đẹp, có tài văn chương, luôn được vào hầu bên cạnh vua. Khi về đến Lệ Chi Viên, vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ rồi mất.
Các quan bí mật đưa về, ngày 6 tháng 8 (âm lịch) mới đến kinh sư, nửa đêm vào đến cung mới phát tang. Triều đình đã quy cho Nguyễn Thị Lộ tội giết vua. Ngay sau khi thái tử Bang Cơ mới 2 tuổi lên nối ngôi (tức là Lê Nhân Tông), triều đình bắt Nguyễn Trãi tru di tam tộc vào ngày 16 tháng 8 (âm lịch) năm này.
Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục, ngay khi Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc, nhiều người đã cho là ông bị oan. Lê Nhân Tông khi xem sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi từng có ý kiến rằng: "Nguyễn Trãi là người trung thành giúp đức Thái Tổ dẹp loạn tặc, giúp đức Thái Tông sửa sang thái bình... không may bị người đàn bà gây biến, để người lương thiện mắc tội rất là đáng thương".
Trong giới sử học hiện nay, có ý kiến của các nhà chuyên môn như Vũ Khiêu , Phan Huy Lê , Hoàng Đạo Chúc, Phan Văn Các, Đinh Xuân Lâm cho rằng: còn một người nữa chịu oan khuất chưa từng được minh oan là Nguyễn Thị Lộ. Trong hội thảo khoa học về Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ năm 2005, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Nguyễn Thị Lộ đã bị triều đình nhà Lê đương thời (do thái hậu Nguyễn Thị Anh chấp chính cho vua nhỏ Lê Nhân Tông mới lên 2 tuổi) vu khống.
Nhóm tác giả nghiên cứu lịch sử đương đại Phan Duy Kha, Lã Duy Lan, Đinh Công Vĩ trong tác phẩm "Nhìn lại lịch sử", xuất bản năm 2003, cho rằng chủ mưu vụ án chính là Nguyễn Thị Anh, vợ thứ vua Lê Thái Tông.
Trong dân gian vẫn tương truyền một giai thoại về vụ án lịch sử này như sau:
Một hôm ông Nguyễn Phi Khanh (cha của Nguyễn Trãi) cho học trò phát cỏ trong vườn để cất lớp học. Đến đêm, ông nằm mộng thấy 1 người đàn bà dẫn bầy con nhỏ đến xin ông thư thả ít hôm, vì bận con mọn nên chưa kịp dời nhà, ông nhận lời. Đến khi học trò của ông phát cỏ đập chết 1 bầy rắn con, lúc ấy ông mới hiểu ra ý nghĩa của giấc mộng, nhưng muộn rồi . Đêm đó khi ông ngồi đọc sách thì có con rắn bò trên xà nhà, nhỏ xuống 1 giọt máu thấm ngay chữ "tộc" qua 3 lớp giấy, ứng với việc gia tộc của ông bị hại đến 3 họ. Ngày sau con rắn mẹ hóa kiếp là nàng Thị Lộ để làm hại 3 họ nhà ông. Đến đời Nguyễn, trong Lịch triều hiến chương loại chí lại có thêm chi tiết: Con rắn thành tinh ngầm mang thù oán, mới đầu thai thành Thị Lộ, nàng sinh ra dưới sườn có vảy… Mặc dù câu chuyện được truyền tụng, nhưng nhiều người tin rằng nó chỉ nhằm đổ tội cho Nguyễn Thị Lộ, giải thích nguyên nhân tiền định về cái chết của vua Thái Tông và Nguyễn Trãi.
Phim
Thiên mệnh anh hùng lấy bối cảnh là 12 năm sau khi Nguyễn Trãi chết,
các thế lực vương tôn tranh giành nhau, trong đó có Tuyên Từ Thái Hậu
Vở kịch Bí mật Lệ Chi Viên của Công ty Thái Dương (sân khấu IDECAF) từng được báo chí hết lời ca ngợi đã giành được ba giải Mai Vàng (năm 2007) (giải Đạo diễn sân khấu cho Nghệ sĩ ưu tú Thành Lộc, giải Nam diễn viên kịch nói cho Hữu Châu (vai Nguyễn Trãi), giải Nữ diễn viên kịch nói cho Thanh Thủy (vai Nguyễn Thị Anh).
Phim tài liệu Bí mật vụ án Lệ chi viên cũng từng được chiếu trên VTV1. Bộ phim Thiên mệnh anh hùng của đạo diễn Victor Vũ cũng lấy bối cảnh là 12 năm sau khi Nguyễn Trãi chết, các thế lực vương tôn tranh giành nhau, trong đó có Tuyên Từ Thái Hậu.
Lý Chiêu Hoàng - nữ hoàng đầu tiên và duy nhất của Việt Nam: Cuộc đời thăng trầm đầy bi đát
Hiếm có một nhân vật lịch sử nào có cuộc đời sóng gió như bà Lý Chiêu Hoàng: Từ Hoàng đế trở thành Hoàng hậu, từ Hoàng hậu trở thành Công chúa chỉ vỏn vẹn trong mấy năm.
Lý Chiêu Hoàng còn gọi là Lý Phế hậu hay Chiêu Thánh hoàng hậu, vị
Hoàng đế thứ 9 và cuối cùng của triều đại nhà Lý từ năm 1224 đến năm
1225. Trong lịch sử Việt Nam, bà là vị Nữ hoàng đầu tiên và duy nhất,
đặc biệt hơn là được chính Phụ hoàng Lý Huệ Tông ra chỉ truyền ngôi, dù
bên trong là sự sắp đặt đầy cưỡng ép của Điện tiền chỉ huy sứ Trần Thủ
Độ, hiện đang nắm quyền lực trong triều.
Sau khi nhường ngôi, Lý Chiêu Hoàng được phong làm Hoàng hậu, trở thành vị Hoàng hậu trẻ tuổi nhất trong lịch sử - Lý Thiên Hinh, vì khi đó bà mới 7 tuổi. Bà chung sống với Thái Tông hoàng đế hơn 10 năm, tình cảm khá sâu sắc, được Thái Tông rất yêu thương và kính trọng.
Năm Đinh Dậu, Thiên Ứng Chính Bình thứ 6 (1237), Thái sư Trần Thủ Độ cùng Thiên Cực công chúa lo sợ huyết thống hoàng gia bị đứt đoạn, nên ép Thái Tông phải bỏ Lý Thiên Hinh để lấy chị dâu là Thuận Thiên công chúa đang có thai 3 tháng. Thái Tông hoàng đế phản đối, đang đêm trốn khỏi kinh thành để lên gặp sư Phù Vân ở Yên Tử nương nhờ. Thái sư vừa dỗ vừa gây sức ép, cuối cùng hoàng đế cũng phải chịu nghe theo.
Thuận Thiên công chúa được lập làm Hoàng hậu thay thế. Lý Thiên Hinh bị giáng làm Chiêu Thánh công chúa, không rõ hành trạng của bà trong thời gian sau khi bị giáng tước.
Vì chuyện này, Hoài Vương Trần Liễu nổi loạn ở sông Cái, nhiều năm nhiều tháng không ngừng. Cuối cùng, Trần Liễu đến xin Thái Tông tha tội, hai anh em ôm nhau khóc thảm thiết, tuy nhiên Trần Thủ Độ dựa vào tội trạng của Liễu mà giáng Liễu làm An Sinh vương, được ban các vùng Yên Sinh, Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Hưng, Yên Bang làm ấp thang mộc. Những tướng sĩ, quân lính đi theo làm loạn đều bị xử tử.
Đầu
năm Mậu Dần, niên hiệu Bảo Phù thứ 6 (1278), tháng 3, Chiêu Thánh công
chúa qua đời, thọ 61 tuổi. Bà qua đời sau gần 1 năm tròn so với Trần
Thái Tông (qua đời năm 1277).
Tương truyền, bà về thăm quê Cổ Pháp (Bắc Ninh) thì qua đời tại đó, tóc bà vẫn đen nhánh, môi vẫn đỏ như son, má vẫn tươi như hoa đào. Bà được táng ở bìa rừng Báng, phía tây Thọ Lăng Thiên Đức. Bà được người đời sau lập đền thờ, gọi là Long miếu (đền Rồng). Sở dĩ Chiêu Hoàng không được thờ chung tại đền Đô mà phải thờ riêng vì bà là người bị xem là có tội với dòng họ Lý khi để mất nhà Lý.
Sách Việt sử tiêu án có chép lại thuyết dân gian rằng bà đã nhảy hồ tự sát. Nguyên văn: "Bà Chiêu Thánh mất. Bà đã bị giáng là Công chúa, rồi gả cho Phụ Trần, khi ấy mất đã 61 tuổi. Hiện nay ở tỉnh Bắc Giang, có đầm Minh Châu, giữa đầm có phiến đá to, người ta truyền lại rằng: Bà Chiêu Thánh cắp hòn đá nhảy xuống đầm mà chết, trên bờ đầm có miếu Chiêu Hoàng. Đó là thổ dân nơi đó bênh vực hồi mộ cho bà Chiêu Hoàng mà đặt ra thuyết ấy."
Đền thờ của bà hiện nay tại Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, (tỉnh Bắc Ninh), còn gọi là Đền Rồng. Tháng 1 năm 2009, đền được nhà nước Việt Nam công nhận là di tích lịch sử cấp tỉnh.
Từ khi sinh ra cho đến khi từ biệt cõi đời, với bao biến cố đã khiến Lý Chiêu Hoàng trở thành một người có số phận lạ lùng nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam với 7 lần ở những danh vị khác nhau: Công chúa triều Lý, Hoàng Thái tử nhà Lý, Nữ Hoàng đế nhà Lý, Hoàng hậu nhà Trần, Công chúa nhà Trần, Sư cô (thời Trần) và Phu nhân tướng quân nhà Trần.
Nhà thơ Tản Đà có bài thơ Vịnh Lý Chiêu Hoàng như sau:
"Quả núi Tiên Sơn có nhớ công
Mà em đem nước để theo chồng
Ấy ai khôn khéo tài dan díu
Những chuyện hoa tình có biết không?
Một gốc mận già thôi cũng phải
Hai trăm năm lẻ thế là xong
Hỏi thăm sư cụ chùa Chân Giáo
Khách khứa nhà ai áo mũ đông"
Lên ngôi vua chỉ vỏn vẹn nửa năm đã phải nhường ngôi, trở thành Hoàng hậu
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Lý Chiêu Hoàng lên ngôi vào tháng 6 năm Ất Dậu (năm 1225) và nhường ngôi vào tháng 11, chỉ vỏn vẹn gần nửa năm trên ngai vàng.Sau khi nhường ngôi, Lý Chiêu Hoàng được phong làm Hoàng hậu, trở thành vị Hoàng hậu trẻ tuổi nhất trong lịch sử - Lý Thiên Hinh, vì khi đó bà mới 7 tuổi. Bà chung sống với Thái Tông hoàng đế hơn 10 năm, tình cảm khá sâu sắc, được Thái Tông rất yêu thương và kính trọng.
Số phận bi đát: Con trai đầu lòng mất, từ Hoàng hậu bị giáng xuống thành Công chúa
Năm Quý Tỵ, Thiên Ứng Chính Bình thứ 2 (1233), Lý hoàng hậu hạ sinh ra Thái tử Trần Trịnh, nhưng Thái tử chết ngay sau khi sinh không lâu.Năm Đinh Dậu, Thiên Ứng Chính Bình thứ 6 (1237), Thái sư Trần Thủ Độ cùng Thiên Cực công chúa lo sợ huyết thống hoàng gia bị đứt đoạn, nên ép Thái Tông phải bỏ Lý Thiên Hinh để lấy chị dâu là Thuận Thiên công chúa đang có thai 3 tháng. Thái Tông hoàng đế phản đối, đang đêm trốn khỏi kinh thành để lên gặp sư Phù Vân ở Yên Tử nương nhờ. Thái sư vừa dỗ vừa gây sức ép, cuối cùng hoàng đế cũng phải chịu nghe theo.
Thuận Thiên công chúa được lập làm Hoàng hậu thay thế. Lý Thiên Hinh bị giáng làm Chiêu Thánh công chúa, không rõ hành trạng của bà trong thời gian sau khi bị giáng tước.
Vì chuyện này, Hoài Vương Trần Liễu nổi loạn ở sông Cái, nhiều năm nhiều tháng không ngừng. Cuối cùng, Trần Liễu đến xin Thái Tông tha tội, hai anh em ôm nhau khóc thảm thiết, tuy nhiên Trần Thủ Độ dựa vào tội trạng của Liễu mà giáng Liễu làm An Sinh vương, được ban các vùng Yên Sinh, Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Hưng, Yên Bang làm ấp thang mộc. Những tướng sĩ, quân lính đi theo làm loạn đều bị xử tử.
Cái chết đầy bí ẩn
Tương truyền, bà về thăm quê Cổ Pháp (Bắc Ninh) thì qua đời tại đó, tóc bà vẫn đen nhánh, môi vẫn đỏ như son, má vẫn tươi như hoa đào. Bà được táng ở bìa rừng Báng, phía tây Thọ Lăng Thiên Đức. Bà được người đời sau lập đền thờ, gọi là Long miếu (đền Rồng). Sở dĩ Chiêu Hoàng không được thờ chung tại đền Đô mà phải thờ riêng vì bà là người bị xem là có tội với dòng họ Lý khi để mất nhà Lý.
Sách Việt sử tiêu án có chép lại thuyết dân gian rằng bà đã nhảy hồ tự sát. Nguyên văn: "Bà Chiêu Thánh mất. Bà đã bị giáng là Công chúa, rồi gả cho Phụ Trần, khi ấy mất đã 61 tuổi. Hiện nay ở tỉnh Bắc Giang, có đầm Minh Châu, giữa đầm có phiến đá to, người ta truyền lại rằng: Bà Chiêu Thánh cắp hòn đá nhảy xuống đầm mà chết, trên bờ đầm có miếu Chiêu Hoàng. Đó là thổ dân nơi đó bênh vực hồi mộ cho bà Chiêu Hoàng mà đặt ra thuyết ấy."
Đền thờ của bà hiện nay tại Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, (tỉnh Bắc Ninh), còn gọi là Đền Rồng. Tháng 1 năm 2009, đền được nhà nước Việt Nam công nhận là di tích lịch sử cấp tỉnh.
Từ khi sinh ra cho đến khi từ biệt cõi đời, với bao biến cố đã khiến Lý Chiêu Hoàng trở thành một người có số phận lạ lùng nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam với 7 lần ở những danh vị khác nhau: Công chúa triều Lý, Hoàng Thái tử nhà Lý, Nữ Hoàng đế nhà Lý, Hoàng hậu nhà Trần, Công chúa nhà Trần, Sư cô (thời Trần) và Phu nhân tướng quân nhà Trần.
Nhà thơ Tản Đà có bài thơ Vịnh Lý Chiêu Hoàng như sau:
"Quả núi Tiên Sơn có nhớ công
Mà em đem nước để theo chồng
Ấy ai khôn khéo tài dan díu
Những chuyện hoa tình có biết không?
Một gốc mận già thôi cũng phải
Hai trăm năm lẻ thế là xong
Hỏi thăm sư cụ chùa Chân Giáo
Khách khứa nhà ai áo mũ đông"

Nhận xét
Đăng nhận xét