Dai Chung la su suy ngam cua toi ve cuoc doi, xa hoi, nhan sinh
CÂU CHUYỆN KHOA HỌC 162
Nhận đường liên kết
Facebook
X
Pinterest
Email
Ứng dụng khác
-
(ĐC sưu tầm trên NET)
Câu chuyện tiến hóa : CON MẮT | Phim khoa học (Thuyết Minh)
Đột phá: Các nhà khoa học vừa tạo ra một 'dạng sống' hoàn toàn mới trên Trái Đất
Zknight |
18
Họ cũng sợ rằng, nếu những con robot sinh học này phát triển đến
độ đủ tinh vi, chúng có thể chiếm quyền kiểm soát các sinh vật khác,
bao gồm cả con người chúng ta.
Trong một nghiên cứu mới công bố trên Kỷ yếu Viện Hàn lâm
Khoa học Hoa Kỳ, các nhà khoa học tuyên bố rằng họ đã tạo ra được một "robot sống" đầu tiên. Cỗ máy được tạo thành từ tế bào phôi ếch và có thể được lập trình để hoạt động.
Có thể nói đó là một dạng sống
hoàn toàn mới, một thứ gì đó vượt ra ngoài khái niệm robot lai sinh
học. Các tác giả nghiên cứu khẳng định đây là lần đầu tiên mà loài người
chế tạo được một cỗ máy 100% sinh học.
"Đó là những cỗ máy thực sự mới lạ", Joshua Bongard, tác giả nghiên cứu đến từ Đại học Vermont cho biết. "Chúng
không phải là một robot theo cách định nghĩa truyền thống, cũng chẳng
phải một loài động vật mới được khám phá. Những con robot này được phân
loại như một tạo tác mới: một sinh vật sống có thể được lập trình để
hoạt động".
Ban đầu, ý tưởng tạo nên dạng sinh vật này đã được
các nhà khoa học chạy trên các siêu máy tính. Sau đó, bản thiết kế của
nó được đưa tới cho các nhà sinh học để họ chế tạo ra sinh vật. Nó cũng
giống như một người vẽ ra một cỗ máy trên phần mềm AutoCAD, rồi các kỹ
sư sẽ đảm nhiệm việc đúc ra từng cái bánh răng, ốc vít lắp ráp ra nó.
Lĩnh
vực nghiên cứu này có thể mở đường cho rất nhiều ứng dụng thực tiễn.
Chẳng hạn như những con robot sinh học có thể được sử dụng để vận chuyển
thuốc bên trong cơ thể người. Hãy tưởng tượng bạn cần đưa thuốc hóa trị
đến đúng vị trí một khối u ung thư trong người bệnh nhân.
Ngoài
ra, những robot sinh học còn có thể được sử dụng để cạo sạch mảng bám
trong thành động mạch cho chúng ta. Nó cũng có thể thu gom các hạt vi
nhựa trong lòng đại dương, hoặc thậm chí là rác thải phóng xạ.
"Chúng
ta có thể tưởng tượng ra nhiều ứng dụng hữu ích từ những con robot sống
này, chúng có thể làm những việc mà máy móc thông thường không thể làm
được", Michael Levin, giám đốc Trung tâm Tái sinh và Phát triển Sinh học
tại Đại học Tufts, nơi con robot được tạo ra cho biết.
Tuy nhiên,
Levin thừa nhận việc con người tạo ra một dạng sống mới cũng tiềm ẩn
rất nhiều rủi ro. Hãy tưởng tượng, nếu một ngày những cỗ máy sinh học
này phát triển đủ tinh vi, chúng có thể tự nhân lên, sinh sản và trở
thành một loài sinh vật mới. Những con robot thậm chí có thể lọt vào hệ
thống thần kinh và chiếm quyền điều khiển não bộ của chúng ta.
Những con robot thậm chí có thể lọt vào hệ thống thần kinh và chiếm quyền điều khiển não bộ của chúng ta.
Một dạng sống, một tạo tác hoàn toàn mới
Có
thể thấy, kể từ khi loài người xuất hiện trên Trái Đất, chúng ta đã
liên tục tác động vào sự sống trên hành tinh. Việc sáng tạo ra các sự
sống mới cho thấy chúng ta thậm chí đã vượt ra bên ngoài chiếc hộp mà
Thượng Đế đã đặt chúng ta xuống.
Trong những năm gần đây, ngành
sinh học đã liên tục có những bước nhảy vọt, với công nghệ chỉnh sửa gen
và khả năng tạo ra các sinh vật hoàn toàn mới, chưa từng được phân
loại.
Nghiên cứu mới của Đại học Tufts và Đại học Vermont tiếp tục
đánh một dấu mốc mới, bởi đây là lần đầu tiên chúng ta tạo ra được một
cỗ máy sinh học hoàn toàn, nó không phải một sinh vật, không phải một
robot và cũng không phải một robot lai sinh học, nó là một robot sinh
học từ đầu tới cuối.
Để làm được điều này, các nhà sinh học đã
phải sử dụng một siêu máy tính để thiết kế và chạy trước cả ngàn mô hình
ảo tiềm năng của các dạng sống mới. Nó được ví như một môi trường tiến
hóa ảo, cho phép các nhà khoa học tăng tốc thời gian và tạo ra một cỗ
máy sinh học hoàn hảo nhất để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể.
Ví
dụ, khi các nhà khoa học muốn tạo ra một cỗ máy sinh học tối ưu cho các
nhiệm vụ đòi hỏi phải di chuyển nhiều, họ sẽ đưa các thông số vào siêu
máy tính để thử hàng trăm bản thiết kế sinh học khác nhau.
Các bản
thiết kế này sử dụng các tế bào làm nguyên liệu, và nó sẽ tạo ra các
con robot với hình dạng khác nhau, khả thi về mặt sinh học để có thể
chuyển giao cho các nhà khoa học làm việc trong lĩnh vực sinh hóa tạo ra
chúng ngoài đời thực.
Từ
các bản thiết kế khả thi về mặt sinh học mà siêu máy tính vẽ ra, chúng
ta có thể tạo ra các robot sinh học 100% ngoài đời thực.
Giống
như các kỹ sư cần phải chọn loại thép để tạo ra cỗ máy cơ khí của mình,
các nhà sinh học cũng phải chọn nguyên liệu để tạo ra cỗ máy sinh học.
Và trong nghiên cứu đầu tiên này, họ đã chọn các tế bào gốc của loài ếch
Châu Phi Xenopus laevis.
Các
tế nào được trích xuất trực tiếp từ phôi của những con ếch. Chúng sau
đó sẽ được ủ, trước khi các nhà sinh học dùng dụng cụ vi phẫu để cắt
ghép và sắp xếp 500-1.000 tế bào lại với nhau thành những chi tiết máy
tuân theo bản thiết kế mà siêu máy tính đã chọn ra.
Điều đó có
nghĩa là, các nhà khoa học đã gắn các vật liệu hữu cơ lại với nhau một
cách thực sự, để tạo ra một dạng sống chưa từng thấy trước đây trong tự
nhiên.
"Một khi bạn nhìn vào các tế bào chúng tôi đang sử dụng để
tạo ra những con robot sinh học, về mặt di truyền, bạn sẽ thấy chúng là
ếch. Nó có 100% là DNA ếch - nhưng chúng lại không phải là ếch", Levin
cho biết .
"Như chúng tôi đã chỉ ra, những tế bào ếch này có thể
được định hướng phát triển để tạo ra những dạng sống thú vị, hoàn toàn
với nền tảng giải phẫu của chúng ta ngày nay".
Và sau khi các cỗ
máy sinh học được tạo ra, chúng bắt đầu làm việc cùng nhau. Đúng như
những gì siêu máy tính đã dự đoán, các robot có thể tự di chuyển. Chúng
đã sống, khám phá và làm việc trong vài tuần, lấy năng lượng từ các chất
dinh dưỡng mà các nhà khoa học đã nạp sẵn bao gồm lipit và protein.
Công
việc ban đầu rất đơn giản, chỉ là đẩy một số mục tiêu xung quanh. Tuy
nhiên, các robot này phải tự tổ chức công việc với nhau, chẳng hạn như
chúng phải quyết định tự đẩy một mục tiêu hay phải góp sức đẩy cùng
nhau.
Các
robot này phải tự tổ chức công việc với nhau, chẳng hạn như chúng phải
quyết định tự đẩy một mục tiêu hay phải góp sức đẩy cùng nhau.
Sáng tạo mở đầu cho một thời đại mới
Từ
những thành công ban đầu này, các nhà khoa học nghĩ rằng họ sẽ còn có
thể tạo ra các phiên bản robot sinh học phức tạp hơn nữa. Mô phỏng máy
tính cho thấy một thiết kế khả thi cho các robot có một chiếc túi trên
mình.
Chiếc túi này có thể được sử dụng để mang một vật thể nào
đó, chẳng hạn như thuốc chữa bệnh và robot khi đó sẽ bơi được trong mạch
máu để đưa thuốc tới một khối u trong cơ thể chẳng hạn.
Các nhà
khoa học tin rằng robot sinh học được làm ra từ những vật liệu sống có
thể tạo ra những thay đổi lớn trong cách con người khai thác công nghệ.
Đó là bởi các robot sinh học có thể tái sinh, và phân hủy hoàn toàn sau
khi chúng chết.
Trong
thử nghiệm, các nhà khoa học đã thử phá hủy robot bằng cách cắt đôi nó,
nhưng những gì mà họ quan sát thấy là robot đã tự chữa lành hoàn toàn
vết thương của nó.
Sau khi lượng chất dinh dưỡng được sử dụng hết,
robot sẽ ngừng hoạt động và trở thành một cụm nhỏ tế bào chết. Chúng
bắt đầu phân hủy và không tạo ra rác thải công nghệ như những robot nhựa
hoặc kim loại.
Như tất cả các công nghệ đột phá khác trong lĩnh
vực sinh học, việc phát triển ra một dạng sự sống mới như những robot
sinh học này luôn tiềm ẩn những vấn đề đạo đức sinh học. Các nhà khoa
học tại Đại học Tufts không hề né tránh vấn đề này.
Họ thừa nhận
sáng tạo của mình có thể bắt đầu một thời đại khủng khiếp với các ứng
dụng robot sinh học không thể lường trước được.
Mô phỏng máy tính cho thấy một thiết kế khả thi cho các robot có một chiếc túi trên mình.
Các
robot hoàn toàn có thể được phát triển thành các dạng vũ khí sinh học.
Và nếu chúng phát triển các tương tác với hệ thần kinh, có một kịch bản
đáng sợ rằng chúng còn có thể chiếm quyền điều khiển các sinh vật khác
như chúng ta.
"Nghiên cứu của chúng tôi thực ra đang thúc đẩy
một giải pháp để giải quyết nỗi sợ hãi của mọi người, về những hậu quả
không lường trước được này", Levin nói. Ông cho biết rằng chúng ta nên
bắt đầu xây dựng các nền tảng và quy tắc pháp lý để kiểm soát lĩnh vực
công nghệ sinh học mới liên quan đến robot sinh học.
Nếu lĩnh vực
này phát triển đến độ tinh vi nhất định, con người sẽ không còn có thể
dự đoán được điều gì sẽ đến, và những con robot sống này sẽ hành xử như
thế nào.
May thay ở thời điểm hiện tại, những viên phôi ếch đang
quay tròn trong đĩa petri vẫn chưa quá phức tạp. Chúng không có cơ quan
sinh sản, không thể tự nhân lên hay tiến hóa. Những con robot được lập
trình để tự chết và phân hủy khi "quả pin" là những chất dinh dưỡng
trong chúng cạn kiệt.
Do đó, loài người chắc chắn sẽ có thêm một
khoảng thời gian để xem xét xem mình có thể làm gì, và cần đề phòng như
thế nào với dạng sự sống hoàn toàn mới mà chúng ta vừa tạo ra.
Những sự thật ít người biết về virus: Chúng đến từ đâu, lây lan và gây bệnh như thế nào?
ZKNIGHT |
5
Bên trong tế bào vật chủ, virus có thể tạo ra một số
lượng lớn các bản sao và tiếp tục lây nhiễm sang các tế bào khác. Ví dụ,
nếu bạn bị cúm, cơ thể bạn sẽ trở thành một cỗ máy sản sinh hàng trăm
nghìn tỷ virus chỉ sau vài ngày, nhiều hơn 10.000 lần số người có mặt
trên Trái Đất.
Virus là một thực thể có thể gây tò mò cho bất cứ
ai, ngay cả các nhà khoa học đã nghiên cứu rất kỹ về chúng. Virus làm
đau đầu mọi nhà sinh học, bởi một số người cho rằng virus không thể là
một sinh vật sống thực thụ, một số nói có thể.
Nhưng sự thật là
virus không thuộc vào bất kỳ một trong ba nhóm sinh vật sống nào: từ vi
khuẩn cổ đại, vi khuẩn cho đến sinh vật nhân chuẩn (thực vật, động vật,
nấm…). Chúng có kích thước cực kỳ nhỏ, chỉ dài từ vài chục cho tới vài
trăm nanomet.
Rõ ràng, virus nhỏ hơn rất nhiều so với vi khuẩn, và
chỉ bằng khoảng một phần mười kích thước của một tế bào máu người. Điều
đó có nghĩa là bạn thậm chí không thể phát hiện ra hầu hết các loại
virus bằng kính hiển vi quang học.
Chỉ có kích thước vài chục cho tới vài trăm nm, virus chỉ có thể được nhìn thấy dưới kính hiển vi điện tử.
Ở
kích thước cực kỳ nhỏ này, virus có cấu trúc cực kỳ tối giản. Sự tối
giản của nó đạt đến độ chẳng có con virus nào xuất hiện những hoạt động
sống như tế bào.
Nhìn vào bên trong phần tử virus hoàn chỉnh, bạn
thường chỉ thấy một dạng vật liệu di truyền, có thể là DNA hoặc RNA,
được bao bọc bởi một lớp protein gọi là capsid. Đôi khi, virus có thể
khoác lên trên nó một lớp chất béo, nhưng là mượn từ tế bào chủ.
Vì
cấu trúc quá tối giản, virus không có ribosome, vì vậy chúng không thể
tạo ra protein và tự sinh sản. Virus cần đột nhập vào tế bào vật chủ,
chiếm quyền kiểm soát quá trình trao đổi chất để nhân lên.
Sự phụ
thuộc quá lớn vào tế bào vật chủ đẩy virus đến giới hạn của định nghĩa
sự sống. Một số nhà khoa học nói rằng virus sống, nhưng số khác sẽ có cơ
sở để nói rằng chúng chỉ là những thực thể vô tri. 1. Virus tiến hóa lên từ các phân tử vô tri hay tiến hóa lùi từ vi khuẩn?
Có
rất nhiều lý thuyết đang cạnh tranh nhau nhằm giải thích quá trình tiến
hóa của virus. Một trong số đó nói rằng virus là hậu duệ của một dòng
sinh vật cổ. Loài sinh vật này đã từng có dạng sống tế bào. Nhưng cũng
như virus, chúng sống kí sinh trong tế bào khác.
Lâu dần, có thể
chúng đã nhận ra rằng nếu cứ sống một cuộc sống ký sinh như vậy thì cũng
không cần thiết có bào quan nữa. Tổ tiên của virus tự đơn giản hóa bản
thân nó và trở thành virus bây giờ. Vậy là virus có thể đã tiến hóa từ
một sinh vật sống.
Nhưng có một giả thuyết khác, đề xuất rằng
virus ban đầu là những tác nhân di truyền không có chỗ đứng trong bộ
gen. Bởi vậy mà chúng di chuyển khắp nơi, lêu lổng và thoát cả khỏi sự
giam cầm của tế bào.
Tại thời điểm đó, nó có thể liên quan đến
những phần tử chuyển vị hay còn gọi là gen nhảy. Những gen này có thể sự
sao chép hoặc cắt chúng ra từ một bộ gen. Sau đó chúng cũng tự dán mình
vào các phần khác của DNA.
Nếu đúng như vậy thì khả năng cao,
virus chỉ là kết quả của một vụ tai nạn phân tử sau đó ổn định trong quá
trình tiến hóa. Nó cũng có nghĩa là virus chưa từng, cả trong quá khứ
và hiện tại, là một sinh vật sống hoàn chỉnh. 2. Virus xâm nhập vật chủ như thế nào?
Do
cấu trúc đơn giản của chúng, virus không thể tự di chuyển hoặc thậm chí
sinh sản bên ngoài tế bào vật chủ. Để có thể tồn tại, chúng buộc phải
tìm kiếm một vật chủ ký sinh để lây lan và nhân lên.
Virus xác
định đúng vật chủ của chúng bằng các thụ thể trên bề mặt, khớp với tế
bào lý tưởng mà chúng đã được tiến hóa để lây nhiễm. Sau khi dùng các
thụ thể này như tấm vé để lẻn vào bên trong tế bào, virus sẽ tiếp cận
vật liệu di truyền bên trong đó, các DNA, để chiếm quyền điều khiển toàn
bộ bộ máy tế bào. Sau đó, virus sẽ tha hồ điều khiển, sai khiến các bào
quan làm việc cho nó, tự nhiên RNA và các protein của mình lên hàng
triệu lần.
Theo ước tính từ một nghiên cứu trên tạp chí mBio của
Hiệp hội Vi sinh vật học Mỹ, động vật có vú hiện đang là bể chứa cho ít
nhất 320.000 loài virus khác nhau. Mở rộng sang các loài động vật có
xương sống, chúng ta có thêm hơn 3,6 triệu loài virus khác. Và nếu tính
cả các loài động vật không xương sống, thực vật, địa y, nấm và tảo, con
số có thể lên tới hơn 100 triệu loài.
Đó là còn chưa kể đến các
thể thực khuẩn, là virus lây nhiễm vi khuẩn và sinh vật đơn bào. Các nhà
khoa học ước tính lượng thể thực khuẩn có trong các đại dương có thể
lên tới 1031. 3. Con đường lây lan của virus
Bên
trong tế bào vật chủ, virus có thể tạo ra một số lượng lớn các bản sao
và tiếp tục lây nhiễm sang các tế bào khác. Ví dụ, nếu bạn bị cúm, cơ
thể bạn sẽ trở thành một cỗ máy sản sinh hàng trăm nghìn tỷ virus chỉ
sau vài ngày, nhiều hơn 10.000 lần số người có mặt trên Trái Đất.
Làm
thế nào mà virus có thể lây lan từ người này sang người khác thì phụ
thuộc vào từng chủng và từng hoàn cảnh. Nhiều loài virus có thể được lan
truyền dễ dàng qua đường hô hấp, hay nói cách khác là trong cùng một
bầu không khí bạn hít thở với người bệnh.
Một số lượng lớn virus có thể bay xa tới 4 mét khi một người hắt hơi hoặc ho. Chúng được truyền đi qua một đám mây gọi là "sol khí", chứa các hạt chất lỏng mang trong đó dịch cơ thể của người bệnh và cả virus trong đó.
Cũng
có trong các dịch lỏng cơ thể này, virus có thể lây lan qua đường tiếp
xúc, khi người bệnh không rửa tay thường xuyên, anh/cô ấy có thể truyền
virus mình có qua những cái bắt tay, qua các vật trung gian khi cả hai
người chạm vào như mặt bàn, tay nắm cửa, nút thang máy…
Một số
loài virus khác lây lan qua đường máu, phân hoặc chất nôn, chẳng hạn như
Ebola. Không giống như nhiều loại virus khác, các nhà khoa học nghĩ
rằng Ebola không thể lây lan qua không khí sau khi những người nhiễm
virus ho hoặc hắt hơi.
Các loài vật trung gian truyền bệnh như muỗi cũng có thể trở thành một "chuyến taxi"
cho virus đi nhờ từ người này sang người khác. Một ví dụ điển hình là
virus dengue gây bệnh sốt xuất huyết, virus Zika, Chikungunya và West
Nile.
4. Điều gì sẽ xảy ra nếu virus tiến hóa?
Khi
virus lây lan, nó có thể lấy một số DNA của vật chủ và đưa nó đến một
tế bào hoặc một sinh vật khác. Sự tương tác với DNA của vật chủ này có
thể khiến virus tiến hóa và biến đổi.
Chúng ta biết một số loài
virus trước đây chỉ lây nhiễm trên động vật, chúng được gọi là zoonoses.
Nhưng nếu một zoonoses tình cờ xâm nhập được vào cơ thể người, và chúng
lấy một số DNA của con người, chủng virus này có thể tiến hóa thành một
loại mới có thể lây nhiễm sang cho chúng ta, và sau đó lan truyền từ
người sang người.
Sự lan truyền lệch loài xảy ra ở tần suất rất
rất thấp. Nhưng một khi diễn ra, nó sẽ trở thành thảm họa. Hầu hết các
đại dịch của thế giới, từ HIV, cúm gia cầm cho tới, Ebola, Zika và mới
đây nhất là dịch viêm phổi cấp ở Vũ Hán đều bắt nguồn từ động vật.
Các
nhà khoa học cho biết trong nhóm virus có khả năng lây truyền từ động
vật sang người được gọi là zoonoses, số lượng các chủng chúng ta chưa
biết có thể lên tới 1,67 triệu loài. Các nhà khoa học hiện mới chỉ phân
loại được trên dưới 600 virus zoonoses lây nhiễm động vật. 5. Các bệnh và đại dịch do virus gây ra
Khi
lây nhiễm cho con người, virus giống như những không tặc, chúng xâm
chiếm các tế bào chức năng và sử dụng các tế bào đó để nhân lên, tạo ra
các bản sao mới giống với chúng. Quá trình này làm gián đoạn hoạt động
của tế bào, virus sẽ chỉ đạo tế bào dốc toàn nguồn lực nó có, bao gồm
năng lượng và các protein để sinh sôi ra các virus mới.
Các hoạt
động tế bào khỏe mạnh bình thường do đó bị đình trệ, làm cơ quan mất
chức năng. Khi virus nhân lên đến số lượng đủ lớn, chúng sẽ khiến tế bào
vật chủ nổ tung, giải tán một lượng khổng lồ virus tiếp tục lây nhiễm
các tế bào mới, tạo ra hiệu ứng sụp đổ dây chuyền khiến bạn bị ốm và
bệnh.
Các loại virus thường tấn công một số tế bào trong cơ thể
bạn như gan, hệ hô hấp, máu hoặc hệ thần kinh. Trong quá trìn đó, chúng
gây ra rất nhiều bệnh, bao gồm: bệnh đậu mùa, cảm lạnh thông thường và
các loại cúm, sởi, quai bị, rubella, thủy đậu và bệnh zona, viêm gan,
mụn rộp, bệnh bại liệt, bệnh dại, Ebola và Hanta, HIV/AIDS, Hội chứng hô
hấp cấp tính nặng (SARS), sốt xuất huyết, Zika và Epstein-Barr...
Một số virus như virus gây u nhú ở người ( HPV ), có thể dẫn đến ung thư.
Từ
quá khứ tới nay, nhân loại đã chứng kiến nhiều dịch bệnh và đại dịch
gây ra bởi virus. Ví dụ như đại dịch Cúm Nga (1889-1890) do virus H2N2
hoặc H3N8 gây ra đã giết chết khoảng 1 triệu người, Đại dịch cúm Tây Ban
Nha (1918) đã giết chết 50 triệu người, dịch cúm Châu Á (1956-1958) do
virus H2N2 gây ra giết chết 2 triệu người, dịch cúm Hồng Kông do virus
H3N2 gây ra giết chết 1 triệu người, đại dịch HIV/AIDS (1981-nay) đã
giết chết 36 triệu người. 6. Cơ thể chống lại virus như thế nào?
Khi
hệ thống miễn dịch của chúng ta phát hiện virus xâm nhập, nó bắt đầu
phản ứng để bảo vệ cơ thể nhằm giữ cho các tế bào sống sót. Một quá
trình gọi là can thiệp RNA sẽ phá vỡ vật liệu di truyền của virus, từ đó
giết chết và phá hủy chúng.
Hệ thống miễn dịch cũng tạo ra các
kháng thể đặc biệt có thể bám vào virus, từ đó khiến chúng không thể lây
lan và chui vào các tế bào mới được nữa. Trong khi đó, các tế bào miễn
dịch T được huy động để tiêu diệt virus trôi nổi trong dòng máu.
Hầu
hết các trường hợp nhiễm virus đều kích hoạt phản ứng bảo vệ từ hệ
thống miễn dịch của cơ thể, chỉ có một số virus như HIV và virus thần
kinh có thể lẩn trốn khỏi hệ thống phòng thủ miễn dịch.
Virus thần
kinh lây nhiễm các tế bào thần kinh. Chúng chịu trách nhiệm về các bệnh
như bại liệt, bệnh dại, quai bị và bệnh sởi. Virus thần kinh có thể ảnh
hưởng đến cấu trúc của hệ thống thần kinh trung ương (CNS) ngay cả khi
bệnh nhân đã khỏi bệnh. 7. Thuốc kháng virus và vắc-xin
Chúng
ta biết rằng các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn có thể được điều trị bằng
kháng sinh. Nhưng kháng sinh không có hiệu quả điều trị bệnh do virus
gây ra. Đối với những căn bệnh này, chúng ta chỉ có thể tiêm vắc-xin để
ngăn chặn chúng ngay từ đầu, hoặc điều trị bằng thuốc kháng virus.
Thuốc
kháng virus ban đầu được phát triển để đối phó với đại dịch AIDS. Những
loại thuốc này không tiêu diệt mầm bệnh, nhưng chúng ức chế sự phát
triển của virus và làm chậm tiến trình nhân lên của chúng.
Hiện
tại, chúng ta đã có nhiều loại thuốc kháng virus để đặc trị một số bệnh
bao gồm herpes simplex, viêm gan B, viêm gan C, cúm, bệnh zona và thủy
đậu.
Nhưng đối với một số chủng virus mới, đôi khi chúng ta chỉ có
các loại thuốc giúp giảm triệu chứng. Việc cần làm chỉ đơn giản là đợi
hệ miễn dịch của bệnh nhân tiêu diệt virus. Hoặc trong trường hợp xấu
nhất là ngăn chặn các nhiễm trùng thứ cấp xảy ra có thể giết chết bệnh
nhân.
Phải nói rằng, tiêm vắc-xin vẫn là cách rẻ nhất và hiệu quả
nhất để ngăn ngừa virus. Một số vắc-xin đã thành công trong việc loại bỏ
và xóa sổ các căn bệnh chết người trong quá khứ, chẳng hạn như bệnh đậu
mùa.
Đối với các chủng virus mới nổi hiện nay, các công ty dược phẩm
thường chỉ mất từ 3-6 tháng để sản xuất ra một vắc-xin chống lại nó. Tuy
nhiên, nếu chúng ta dự đoán được trước dịch bệnh và tiến hành nghiên
cứu từ trước khi nó bùng phát, con người sẽ có được đầy đủ các loại
vắc-xin để ngăn ngừa dịch bệnh từ khi nó còn chưa xảy ra.
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét