HIỆN THỰC KỲ ẢO 169
(ĐC sưu tầm trên NET
Những bất ngờ và bí ẩn dưới lòng đại dương luôn là nơi khiến con người muốn khám phá và tìm hiểu nhất.
Phát hiện nhiều dãy núi dưới đáy đại
dương chưa từng được phát hiện chạy dọc theo đáy biển. Các nhà khoa học
đã tìm ra bằng cách sử dụng những dữ liệu mới nhất từ vệ tinh.
Dân trí dẫn tin DailyMail cho
biết, cho đến nay, đáy đại dương trên hành tinh của chúng đã được khám
phá một phần, tuy nhiên còn đến 80% chưa từng được biết đến.
Bằng cách sử dụng dữ liệu từ NASA và Cơ quan không gian Châu Âu, các nhà khoa học đã có thể xây dựng bản đồ chi tiết cho các dãy núi, cao nguyên và vực sâu dưới lòng đại dương.
Hình ảnh từ vệ tinh cho thấy phía trên dãy núi bị bao phủ bởi một lớp trầm tích dày trong lòng biển. Đây cũng là manh mối quan trọng để tìm ra nguồn gốc về sự hình thành các lục địa. Bản đồ được nêu trên tạp chí Khoa học cho thấy, những ngọn núi hoặc núi đang hình thành trong lòng biển trải dài hơn nửa dặm (1km) chạy dọc đáy biển.
Theo Vietnamnet, tin từ BBC, nhà nghiên cứu Dave Sandwell đến từ Viện Hải dương học Scripps (Mỹ) và các cộng sự đã khám phá ra sự tồn tại của những ngọn núi này dưới nước nhờ sử dụng các vệ tinh radar và cho công bố phát hiện của họ trên tạp chí Science Magazine.

Các vệ tinh mang theo cao độ kế (một thiết bị đặc biệt dùng để đo độ cao, chiều sâu) được đặt ở nhiều nơi trên mặt đại dương để có thể mô phỏng địa hình dưới đáy. Những cảm biến sẽ ghi lại những phản ứng, tín hiệu lực hút... tất cả sẽ thể hiện kiến tạo địa tầng bị vùi lấp.
Cho đến ngày nay, độ phân giải của những hình ảnh này vẫn còn rất giới hạn bởi số lượng của các phép đo lường khả thi. David Sandwell đã thu thập các phép đo trên 2 trong số 4 vệ tinh hiện được trang bị cao độ kế có độ nét cao, có tên gọi CryoSat 1 và Janson 1. Sau đó họ kết nối dữ liệu này với một chương trình máy tính để xây dựng mô hình lực hấp dẫn trong lòng biển để mô phỏng tình hình thực tế do vệ tinh quan sát. Từ đó tạo nên một bản đồ về lòng đại dương có độ chính xác cao.
Vài tháng qua, trong quá trình tìm kiếm chiếc máy bay MH 370 bị mất tích, các nhà khoa học đã phát hiện các ngọn núi khổng lồ dưới lòng đại dương. Điều này càng khiến cho việc nghiên cứu địa hình dưới lòng biển trở nên hấp dẫn giới khoa học. Trong tương lai không xa, con người có thể lập bản đồ chi tiết cho các đại dương cũng như những vùng xa xôi như phần bên dưới của hai địa cực.
Tiến Khê
Lý do chìm tàu ở Tam giác quỷ có thể
là do phản ứng của băng cháy nhanh chóng giải phóng khí methane, nó sẽ
tạo ra một lượng khí lớn, khiến nhiệt độ đại dương nóng lên, làm giảm
sức nổi và các con tàu sẽ nhanh chóng chìm dưới nước.
“Tam giác quỷ” tọa lạc ở phía tây Đại Tây Dương. Với hơn 300 xác tàu lưu lạc ngoài khơi bờ biển, Bermuda trở thành khu bảo tồn xác tàu ở đại dương lớn thứ hai thế giới.

Ngày nay, Bermuda trở thành địa điểm thám hiểm lý tưởng đối với những thợ lặn ưa mạo hiểm. Họ có thể tận mắt thấy các xác tàu lịch sử tại khu vực bí ẩn này. Lý giải về nguyên nhân dẫn tới hàng loạt tai nạn bí ẩn của các tàu khi di chuyển qua Bermuda, giới khoa học nêu ra các yếu tố như địa hình, thời tiết. Một trong số đó là dòng hải lưu Gulf (hay “dòng Vịnh”) với vận tốc di chuyển 8 km/h đã hút những con tàu khi chúng di chuyển qua khu vực.
Vnexpress cho biết, quá trình giải phóng khí đột ngột dẫn đến sự hình thành các miệng hố bí ẩn ở Siberia, Nga, có thể là nguyên nhân tương tự lý giải cho sự biến mất bí ẩn của hàng loạt con tàu ở Tam giác quỷ Bermuda.

Băng cháy là một dạng methane bị mắc kẹt trong cấu trúc tinh thể nước và có dạng rắn như băng. Ở điều kiện nhiệt độ thấp và áp suất cao, chúng tồn tại dưới các lớp băng vĩnh cửu và tầng địa chất sâu dưới lòng đại dương.
Sự nóng lên trên bề mặt do điều kiện khí hậu ấm lên bất thường, cùng với tác động từ bên dưới của các đường đứt gãy dẫn dến hiện tượng giải phóng băng cháy, khiến khí methane vốn bị giữ lại bên dưới các lớp băng cũng giải phóng đột ngột. Quá trình này sẽ khiến "hỗn hợp" nước, muối và khí phát nổ dưới lòng đất, hình thành miệng hố khổng lồ.
Việc lớp băng trên bề mặt và các lớp phía trên của băng vĩnh cửu tiếp xúc với nhiệt độ mùa hè cao hơn bình thường sẽ thúc đẩy quá trình giải phóng khí. Dựa vào kích thước các miệng hố, các nhà khoa học nhận định rằng hoạt động địa chấn tại bán đảo Yamal, vốn nằm ở giao điểm của hai mảng đứt gãy, cũng có thể là nhân tố.
Theo các nhà nghiên cứu thuộc Viện Dầu khí Địa chất và Địa vật lý Trofimuk ở Novosibirsk, đây cũng có thể là nguyên nhân giải thích cho sự biến mất bí ẩn của hàng loạt máy bay hay tàu thuyền ở khu vực Tam giác quỷ.
Dựa trên kết quả khảo sát, nhóm chuyên gia cho rằng các miệng hố ở Siberia cliên quan đến tam giác quỷ Bermuda. Tuy nhiên, họ sẽ tiếp tục nhiều nghiên cứu chuyên sâu hơn để đưa ra kết luận chính xác.
Trà Mi
Thị lực kém, có thể giả chết, có thể tiêu diệt con mồi lớn hơn chúng nhiều lần...là những sự thật ít người biết về loài rắn.
Mới đây, các nhà khoa học Mỹ đã đưa ra
nhận định những con rắn đầu tiên trên thế giới có chân sau nhỏ, mắt cá
chân và cả ngón chân.
Hàng trăm thùng chất thải phóng xạ nằm
trong con tàu sân bay mới được phát hiện dưới đáy đại dương, cách thành
phố San Francisco, Mỹ, khoảng 50km khiến nhiều nhà khoa học lo lắng.
Những cặp sinh đôi thường thuận tay
trái, họ có thể ra đời cách nhau vài tiếng, vài tuần hay thậm chí vài
tháng…là những sự thật thú vị về các cặp song sinh.
Bí Ẩn Đại Dương
15 sự thật không ngờ về đại dương
15 sự thật không ngờ về đại dương
1. Lượng nước có trong các tảng băng khổng lồ ở Nam Cực được cho là ngang bằng với lượng nước ở toàn bộ Đại Tây Dương.
2. Độ sâu khoảng 3m của toàn bộ đại dương có lượng nhiệt tương đương với toàn bộ không khí trên trái đất.

3. Ở trong nước, tốc độ của âm thanh là 1.435 m/giây. Tốc độ đó nhanh gấp gần năm lần tốc độ âm thanh trong không khí.
4. 90% núi lửa trên Trái đất là nằm ở dưới đáy đại dương sâu thẳm.
5. Áp suất đại dương tương đương với việc bạn đặt 50 chiếc máy bay phản lực jumbo trên ngực. Bây giờ bạn có thể hiểu lý do tại sao khám phá đáy đại dương là rất khó khăn.

6. Tính đến 2015, có khoảng 226.408 loài động vật dưới nước được xác định.
7. Các nhà khoa học ước tính có thể có khoảng 25 triệu loài sinh vật biển sống trong đại dương, nhưng số sinh vật biển được con người phát hiện ít hơn 1%.
8. 90% diện tích đại dương chưa thể khám phá, và người ta gọi chung cái tên cho nó là biển sâu.
9. Độ sâu ở dưới đáy biển có thể tới khoảng 1800m, thực tế số người du hành vào không gian còn nhiều hơn số người đã khám phá tới độ sâu kể trên ở đại dương.
10. Bạn càng lặn sâu xuống dưới đáy đại dương, ánh sáng mặt trời sẽ nhanh chóng biến mất và áp suất tăng lên nhanh chóng. Như vậy, đại dương lạnh, có màu đen và sâu thẳm.
11. Thực tế, con người biết về bề mặt của Mặt trăng còn nhiều hơn hiểu biết về biển sâu.
12. Các sinh vật biển là minh chứng cho sự sống bất diệt nơi đáy đại dương. Ánh sáng mặt trời không thể lọt tới nên những sinh vật phải dựa vào các nguồn năng lượng thay thế để sinh tồn.
13. Thực tế, có các sinh vật sống dưới đáy đại dương trong vùng nước đen sâu thẳm và không có không khí xung quanh miệng núi lửa, nơi có thể nóng đến 150 độ C. Trong điều kiện không khí bình thường thì lượng nhiệt này có thể đun sôi nước.
14. Nếu đỉnh Everest chìm sâu dưới phần sâu nhất của Thái Bình Dương thì đỉnh của nó cách bề mặt khoảng gần 2km

15. 1/3 Trái đất bao phủ bởi Thái Bình Dương.
Khoahocthuvi.net
Nguồn: Kiến Thức
1. Lượng nước có trong các tảng băng khổng lồ ở Nam Cực được cho là ngang bằng với lượng nước ở toàn bộ Đại Tây Dương.
2. Độ sâu khoảng 3m của toàn bộ đại dương có lượng nhiệt tương đương với toàn bộ không khí trên trái đất.
3. Ở trong nước, tốc độ của âm thanh là 1.435 m/giây. Tốc độ đó nhanh gấp gần năm lần tốc độ âm thanh trong không khí.
4. 90% núi lửa trên Trái đất là nằm ở dưới đáy đại dương sâu thẳm.
5. Áp suất đại dương tương đương với việc bạn đặt 50 chiếc máy bay phản lực jumbo trên ngực. Bây giờ bạn có thể hiểu lý do tại sao khám phá đáy đại dương là rất khó khăn.
6. Tính đến 2015, có khoảng 226.408 loài động vật dưới nước được xác định.
7. Các nhà khoa học ước tính có thể có khoảng 25 triệu loài sinh vật biển sống trong đại dương, nhưng số sinh vật biển được con người phát hiện ít hơn 1%.
8. 90% diện tích đại dương chưa thể khám phá, và người ta gọi chung cái tên cho nó là biển sâu.
9. Độ sâu ở dưới đáy biển có thể tới khoảng 1800m, thực tế số người du hành vào không gian còn nhiều hơn số người đã khám phá tới độ sâu kể trên ở đại dương.
10. Bạn càng lặn sâu xuống dưới đáy đại dương, ánh sáng mặt trời sẽ nhanh chóng biến mất và áp suất tăng lên nhanh chóng. Như vậy, đại dương lạnh, có màu đen và sâu thẳm.
11. Thực tế, con người biết về bề mặt của Mặt trăng còn nhiều hơn hiểu biết về biển sâu.
12. Các sinh vật biển là minh chứng cho sự sống bất diệt nơi đáy đại dương. Ánh sáng mặt trời không thể lọt tới nên những sinh vật phải dựa vào các nguồn năng lượng thay thế để sinh tồn.
13. Thực tế, có các sinh vật sống dưới đáy đại dương trong vùng nước đen sâu thẳm và không có không khí xung quanh miệng núi lửa, nơi có thể nóng đến 150 độ C. Trong điều kiện không khí bình thường thì lượng nhiệt này có thể đun sôi nước.
14. Nếu đỉnh Everest chìm sâu dưới phần sâu nhất của Thái Bình Dương thì đỉnh của nó cách bề mặt khoảng gần 2km
15. 1/3 Trái đất bao phủ bởi Thái Bình Dương.
Khoahocthuvi.net
Nguồn: Kiến Thức
Phát hiện nhiều dãy núi dưới đáy đại dương
Bằng cách sử dụng dữ liệu từ NASA và Cơ quan không gian Châu Âu, các nhà khoa học đã có thể xây dựng bản đồ chi tiết cho các dãy núi, cao nguyên và vực sâu dưới lòng đại dương.
Hình ảnh từ vệ tinh cho thấy phía trên dãy núi bị bao phủ bởi một lớp trầm tích dày trong lòng biển. Đây cũng là manh mối quan trọng để tìm ra nguồn gốc về sự hình thành các lục địa. Bản đồ được nêu trên tạp chí Khoa học cho thấy, những ngọn núi hoặc núi đang hình thành trong lòng biển trải dài hơn nửa dặm (1km) chạy dọc đáy biển.
Theo Vietnamnet, tin từ BBC, nhà nghiên cứu Dave Sandwell đến từ Viện Hải dương học Scripps (Mỹ) và các cộng sự đã khám phá ra sự tồn tại của những ngọn núi này dưới nước nhờ sử dụng các vệ tinh radar và cho công bố phát hiện của họ trên tạp chí Science Magazine.
Các nhà khoa học đã có thể xây dựng bản đồ chi tiết cho các dãy núi, cao nguyên và vực sâu dưới lòng đại dương. (Ảnh: Dân trí)
Giáo sư Sandwell cho biết: "Trong các bộ dữ liệu radar thu thập được trước đây, chúng tôi có thể nhìn thấy mọi thứ cao hơn 2km và 5.000 ngọn núi dưới đáy biển. Với bộ dữ liệu mới, chúng tôi vẫn chưa hoàn tất kết quả nghiên cứu, nhưng tôi phỏng đoán là có thể quan sát những thứ cao 1,5km... Số lượng các ngọn núi dưới nước đang tăng lên với cấp số nhân và kích thước giảm xuống. Vì vậy, chúng ta có thể phát hiện thêm 25.000 ngọn núi nữa ngoài 5.000 ngọn núi đã biết".Các vệ tinh mang theo cao độ kế (một thiết bị đặc biệt dùng để đo độ cao, chiều sâu) được đặt ở nhiều nơi trên mặt đại dương để có thể mô phỏng địa hình dưới đáy. Những cảm biến sẽ ghi lại những phản ứng, tín hiệu lực hút... tất cả sẽ thể hiện kiến tạo địa tầng bị vùi lấp.
Cho đến ngày nay, độ phân giải của những hình ảnh này vẫn còn rất giới hạn bởi số lượng của các phép đo lường khả thi. David Sandwell đã thu thập các phép đo trên 2 trong số 4 vệ tinh hiện được trang bị cao độ kế có độ nét cao, có tên gọi CryoSat 1 và Janson 1. Sau đó họ kết nối dữ liệu này với một chương trình máy tính để xây dựng mô hình lực hấp dẫn trong lòng biển để mô phỏng tình hình thực tế do vệ tinh quan sát. Từ đó tạo nên một bản đồ về lòng đại dương có độ chính xác cao.
Vài tháng qua, trong quá trình tìm kiếm chiếc máy bay MH 370 bị mất tích, các nhà khoa học đã phát hiện các ngọn núi khổng lồ dưới lòng đại dương. Điều này càng khiến cho việc nghiên cứu địa hình dưới lòng biển trở nên hấp dẫn giới khoa học. Trong tương lai không xa, con người có thể lập bản đồ chi tiết cho các đại dương cũng như những vùng xa xôi như phần bên dưới của hai địa cực.
Tiến Khê
Tìm ra lý do chìm tàu ở Tam giác quỷ?
Có thể biết được nguyên nhân những xác tàu đắm ở Tam giác quỷ
Theo Zing news, tam giác Bermuda hay còn gọi là “tam giác quỷ” vốn là một khu vực bí ẩn với nhiều câu chuyện về những vụ mất tích liên quan tới tàu thủy, máy bay hay thủy thủ đoàn. Đây là địa điểm tập trung nhiều xác tàu đắm nhất trên thế giới.“Tam giác quỷ” tọa lạc ở phía tây Đại Tây Dương. Với hơn 300 xác tàu lưu lạc ngoài khơi bờ biển, Bermuda trở thành khu bảo tồn xác tàu ở đại dương lớn thứ hai thế giới.
Ngày nay, Bermuda trở thành địa điểm thám hiểm lý tưởng đối với những thợ lặn ưa mạo hiểm. Họ có thể tận mắt thấy các xác tàu lịch sử tại khu vực bí ẩn này. Lý giải về nguyên nhân dẫn tới hàng loạt tai nạn bí ẩn của các tàu khi di chuyển qua Bermuda, giới khoa học nêu ra các yếu tố như địa hình, thời tiết. Một trong số đó là dòng hải lưu Gulf (hay “dòng Vịnh”) với vận tốc di chuyển 8 km/h đã hút những con tàu khi chúng di chuyển qua khu vực.
Vnexpress cho biết, quá trình giải phóng khí đột ngột dẫn đến sự hình thành các miệng hố bí ẩn ở Siberia, Nga, có thể là nguyên nhân tương tự lý giải cho sự biến mất bí ẩn của hàng loạt con tàu ở Tam giác quỷ Bermuda.
Miệng hố đầu tiên được phát hiện trên bán đảo Yamal. Ảnh: Live Sience
Ba miệng hố bí ẩn được phát hiện ở Siberia từ giữa tháng 7, lần lượt ở
các vị trí trên bán đảo Yamal, phía bắc Nga và trên bán đảo Taymyr,
thuộc vùng Kransoyark. Các giả thiết ban đầu được cho là liên quan đến
sự va chạm của thiên thạch, vật thể bay không xác định hay tên lửa đi
lạc. Tuy nhiên theo một số chuyên gia, miệng hố có thể hình thành sau
quá trình hoạt động địa chất có liên quan đến sự nóng lên toàn cầu.Băng cháy là một dạng methane bị mắc kẹt trong cấu trúc tinh thể nước và có dạng rắn như băng. Ở điều kiện nhiệt độ thấp và áp suất cao, chúng tồn tại dưới các lớp băng vĩnh cửu và tầng địa chất sâu dưới lòng đại dương.
Sự nóng lên trên bề mặt do điều kiện khí hậu ấm lên bất thường, cùng với tác động từ bên dưới của các đường đứt gãy dẫn dến hiện tượng giải phóng băng cháy, khiến khí methane vốn bị giữ lại bên dưới các lớp băng cũng giải phóng đột ngột. Quá trình này sẽ khiến "hỗn hợp" nước, muối và khí phát nổ dưới lòng đất, hình thành miệng hố khổng lồ.
Việc lớp băng trên bề mặt và các lớp phía trên của băng vĩnh cửu tiếp xúc với nhiệt độ mùa hè cao hơn bình thường sẽ thúc đẩy quá trình giải phóng khí. Dựa vào kích thước các miệng hố, các nhà khoa học nhận định rằng hoạt động địa chấn tại bán đảo Yamal, vốn nằm ở giao điểm của hai mảng đứt gãy, cũng có thể là nhân tố.
Theo các nhà nghiên cứu thuộc Viện Dầu khí Địa chất và Địa vật lý Trofimuk ở Novosibirsk, đây cũng có thể là nguyên nhân giải thích cho sự biến mất bí ẩn của hàng loạt máy bay hay tàu thuyền ở khu vực Tam giác quỷ.
Dựa trên kết quả khảo sát, nhóm chuyên gia cho rằng các miệng hố ở Siberia cliên quan đến tam giác quỷ Bermuda. Tuy nhiên, họ sẽ tiếp tục nhiều nghiên cứu chuyên sâu hơn để đưa ra kết luận chính xác.
Trà Mi
14 sự thật không ngờ về loài rắn
1.
Rắn có khả năng tiêu diệt các sinh vật lớn hơn chúng rất nhiều nhờ nọc
độc, một số khác sử dụng kích thước của chúng để siết chặt con mồi.
(Nguồn: Reuters)
2. Có khoảng 3000 loài rắn trên thế giới, trong đó 700 loài là rắn độc. Trong số 700 loài rắn độc có 250 loài có nọc độc rất mạnh khi có thể giết chết người với chỉ một vết cắn. (Nguồn: AP)
3. Rắn không có tai ngoài và chúng ngửi bằng lưỡi của mình. Loài bò sát này lột da của chúng nhiều lần trong năm. (Nguồn: Getty Images)\
4. Thị lực của rắn rất kém vì chúng không có mí mắt. Tuy nhiên, bù lại rắn lại có cảm biến nhiệt tinh tế giúp chúng phát hiện ra sự chuyển động của các con mồi. (Nguồn: AFP)

5. Loài rắn không cắn thức ăn của chúng. Với sự trợ giúp của bộ hàm, chúng thường nuốt chửng con mồi. Rắn có thể nuốt chửng con mồi lớn hơn đầu của chúng. (Nguồn: Getty Images)
6. Rắn đa số sinh sản bằng cách đẻ trứng. (Nguồn: Getty Images)
7. Trăn mắt lưới là loài rắn lớn nhất thế giới. Chúng có thể dài tới 10m. (Nguồn: AP)
8. Trăn thường giết con mồi bằng quá trình có tên là co thắt. Nó quấn quanh thân con mồi thật chặt, bóp nghẹt nó đến chết. (Nguồn: Rex)
9. Dù có kích thước khá lớn nhưng trăn Anacondas lại không hề có nọc độc. (Nguồn: Getty Images)
10. Rắn cỏ và rắn hổ mang có thể giả chết khi đang bị đe dọa. (Nguồn: Getty Images)
11. Barbados threadsnake là danh pháp khoa học của loài rắn nhỏ nhất thế giới. Chúng chỉ dài khoảng 10cm. (Nguồn: Rex)

12. Black Mambas được coi là loài rắn nhanh nhất thế giới. (Nguồn: Getty Images)
13. Rắn hổ mang là loài rắn độc nhất thế giới. Chúng có thể dài tới 5,6m. (Nguồn: Getty Images)

14. Rắn Inland taipan được mệnh danh là chúa tể nọc độc. Chỉ với một nhát cắn, lượng độc của nó có thể giết chết 100 người khỏe mạnh. (Nguồn: Getty Images)
Khoahocthuvi.net
Nguồn: Vietnam+
2. Có khoảng 3000 loài rắn trên thế giới, trong đó 700 loài là rắn độc. Trong số 700 loài rắn độc có 250 loài có nọc độc rất mạnh khi có thể giết chết người với chỉ một vết cắn. (Nguồn: AP)
3. Rắn không có tai ngoài và chúng ngửi bằng lưỡi của mình. Loài bò sát này lột da của chúng nhiều lần trong năm. (Nguồn: Getty Images)\
4. Thị lực của rắn rất kém vì chúng không có mí mắt. Tuy nhiên, bù lại rắn lại có cảm biến nhiệt tinh tế giúp chúng phát hiện ra sự chuyển động của các con mồi. (Nguồn: AFP)
5. Loài rắn không cắn thức ăn của chúng. Với sự trợ giúp của bộ hàm, chúng thường nuốt chửng con mồi. Rắn có thể nuốt chửng con mồi lớn hơn đầu của chúng. (Nguồn: Getty Images)
6. Rắn đa số sinh sản bằng cách đẻ trứng. (Nguồn: Getty Images)
7. Trăn mắt lưới là loài rắn lớn nhất thế giới. Chúng có thể dài tới 10m. (Nguồn: AP)
8. Trăn thường giết con mồi bằng quá trình có tên là co thắt. Nó quấn quanh thân con mồi thật chặt, bóp nghẹt nó đến chết. (Nguồn: Rex)
9. Dù có kích thước khá lớn nhưng trăn Anacondas lại không hề có nọc độc. (Nguồn: Getty Images)
10. Rắn cỏ và rắn hổ mang có thể giả chết khi đang bị đe dọa. (Nguồn: Getty Images)
11. Barbados threadsnake là danh pháp khoa học của loài rắn nhỏ nhất thế giới. Chúng chỉ dài khoảng 10cm. (Nguồn: Rex)
12. Black Mambas được coi là loài rắn nhanh nhất thế giới. (Nguồn: Getty Images)
13. Rắn hổ mang là loài rắn độc nhất thế giới. Chúng có thể dài tới 5,6m. (Nguồn: Getty Images)
14. Rắn Inland taipan được mệnh danh là chúa tể nọc độc. Chỉ với một nhát cắn, lượng độc của nó có thể giết chết 100 người khỏe mạnh. (Nguồn: Getty Images)
Khoahocthuvi.net
Nguồn: Vietnam+
Những con rắn đầu tiên trên Trái đất từng có chân
Rắn có thể từng có chân
Nhóm chuyên gia Đại học Yale phân tích hóa thạch, gene và giải phẫu học của 73 loài rắn và thằn lằn, sau đó phác họa cây gia đình về quá trình tiến hóa của rắn. Kết quả cho thấy loài động vật này ban đầu tiến hóa trên đất liền, không phải trên biển. Chúng có nguồn gốc từ các hệ sinh thái rừng và môi trường ấm áp ở siêu lục địa Laurasia, khoảng 128 triệu năm trước. Đây là giai đoạn nhiều loài chim và động vật có vú xuất hiện trên Trái Đất.
Theo nhóm nghiên cứu, rắn có thể từng có cặp chân sau nhỏ và là loài săn mồi lén lút, thường tấn công động vật xương sống thân mềm và động không xương sống. Tuy nhiên, chúng chưa phát triển khả năng tóm gọn con mồi lớn hơn bằng cách siết chặt đến chết như các loài rắn ngày nay.

Giới chuyên gia trên thế giới từng đưa ra nhiều nhận định về quá trình tiến hóa của loài rắn. Trong nghiên cứu hồi đầu năm nay, một nhóm chuyên gia cho rằng 4 loài đầu tiên đã xuất hiện từ 140-160 triệu năm trước, sớm hơn 70 triệu năm so với các mẫu cổ nhất từng được tìm thấy trước đây.
Khoahocthuvi.net
Nguồn: VnExpress
Nhóm chuyên gia Đại học Yale phân tích hóa thạch, gene và giải phẫu học của 73 loài rắn và thằn lằn, sau đó phác họa cây gia đình về quá trình tiến hóa của rắn. Kết quả cho thấy loài động vật này ban đầu tiến hóa trên đất liền, không phải trên biển. Chúng có nguồn gốc từ các hệ sinh thái rừng và môi trường ấm áp ở siêu lục địa Laurasia, khoảng 128 triệu năm trước. Đây là giai đoạn nhiều loài chim và động vật có vú xuất hiện trên Trái Đất.
Theo nhóm nghiên cứu, rắn có thể từng có cặp chân sau nhỏ và là loài săn mồi lén lút, thường tấn công động vật xương sống thân mềm và động không xương sống. Tuy nhiên, chúng chưa phát triển khả năng tóm gọn con mồi lớn hơn bằng cách siết chặt đến chết như các loài rắn ngày nay.
Mô phỏng rắn có chân sau của các nhà khoa học Đại học Yale, Mỹ. Ảnh: Julius Csotonyi
Các nhà khoa học đồng thời nhận định vào thời điểm này, chúng là loài
sống về đêm và chỉ thay đổi đặc tính này cách đây khoảng 50 triệu năm.
"Nguồn gốc của rắn là chủ đề được tranh luận trong thời gian dài, nhưng
đây là lần đầu tiên những giả thuyết này được kiểm tra kỹ lưỡng bằng các
phương pháp tiên tiến. Bằng cách phân tích gene, hóa thạch và giải phẫu
của các loài rắn và bò sát, bao gồm còn sống và đã tuyệt chủng, chúng
tôi tái dựng lại toàn diện các đặc điểm của loài rắn tổ tiên", IB Times
dẫn lời người đứng đầu nghiên cứu Allison Hsiang nói.Giới chuyên gia trên thế giới từng đưa ra nhiều nhận định về quá trình tiến hóa của loài rắn. Trong nghiên cứu hồi đầu năm nay, một nhóm chuyên gia cho rằng 4 loài đầu tiên đã xuất hiện từ 140-160 triệu năm trước, sớm hơn 70 triệu năm so với các mẫu cổ nhất từng được tìm thấy trước đây.
Khoahocthuvi.net
Nguồn: VnExpress
Hàng trăm thùng chất thải phóng xạ nằm ngoài khơi bờ biển Mỹ
Cuộc
thám hiểm của Cơ quan Đại dương và khí quyển quốc gia Mỹ (NOAA) mới đây
phát hiện tàu USS Independence ở độ sâu hơn 790 m so với mực nước biển
ngoài khơi Farallon Islands, San Francisco. Đây là khu vực chính phủ
liên bang từng thả gần 48.000 thùng chất thải phóng xạ mức thấp xuống
biển trong giai đoạn 1946 - 1970.
USS Independence CVL-22 hoạt động ở Thái Bình Dương trong Thế chiến II từ năm 1943 đến 1945. Năm 1946, nó trở thành một trong 90 tàu tham gia các vụ thử nghiệm bom nguyên tử Bikini Atoll. Bị phá hủy nặng nề, con tàu sau đó trở thành một phòng thí nghiệm khử hạt nhân đỗ tại xưởng đóng tàu Hải quân Hunters Point ở San Francisco. Hải quân Mỹ đưa lên tàu một số thùng chất thải phóng xạ và kéo ra biển, đánh đắm bằng hai đầu nổ ngư lôi.
Việc phát hiện USS Independence hiện nay đặt ra vấn đề về sức khỏe và mối nguy về môi trường với các loài sinh vật sống quanh khu vực chứa chất thải phóng xạ Farallon Islands, nơi trú ẩn của nhiều loài sinh vật biển.

Đại dương cũng đóng vai trò như một vùng đệm tự nhiên cho chất phóng xạ, theo Kai Vetter, một giáo sư về hạt nhân ở Đại học Kai Vetter, người hỗ trợ nghiên cứu. Vetter nhấn mạnh rằng các địa điểm bị nhiễm ở quy mô nhỏ nên không ảnh hưởng tới chuỗi thức ăn ở phạm vi rộng hơn.
Tuy nhiên, Quentin Kopp, một nhà lập pháp đã về hưu, người từng thúc đẩy việc nghiên cứu chất phóng xạ ngoài khơi Bắc California, cho rằng câu hỏi của ông về những rủi ro của chất thải hạt nhân với con người và sinh vật biển vẫn chưa được trả lời.
"Nếu được bầu lại là một nhà lập pháp, của bang hoặc của quốc gia, tôi sẽ đưa vấn đề này ra bàn thảo", ông Kopp nói.
Vetter thì hy vọng có thể thu thập các mẫu từ USS Independence để nghiên cứu tác động của phóng xạ lên kim loại trong năm tới. Tuy nhiên, Delgado cho biết hiện không có kế hoạch nào nghiên cứu chiếc tàu chìm.
Khoahocthuvi.net
Nguồn: VnExpress
USS Independence CVL-22 hoạt động ở Thái Bình Dương trong Thế chiến II từ năm 1943 đến 1945. Năm 1946, nó trở thành một trong 90 tàu tham gia các vụ thử nghiệm bom nguyên tử Bikini Atoll. Bị phá hủy nặng nề, con tàu sau đó trở thành một phòng thí nghiệm khử hạt nhân đỗ tại xưởng đóng tàu Hải quân Hunters Point ở San Francisco. Hải quân Mỹ đưa lên tàu một số thùng chất thải phóng xạ và kéo ra biển, đánh đắm bằng hai đầu nổ ngư lôi.
Việc phát hiện USS Independence hiện nay đặt ra vấn đề về sức khỏe và mối nguy về môi trường với các loài sinh vật sống quanh khu vực chứa chất thải phóng xạ Farallon Islands, nơi trú ẩn của nhiều loài sinh vật biển.
Một số nhà khoa học lo ngại về lượng chất thải phóng xạ trên tàu USS Independence. Ảnh: Reuters
James Delgado, quan chức NOAA, người dành hai năm qua nghiên cứu về
tàu đắm ở quanh Khu bảo tồn biển của San Francisco (Gulf of the
Farallones National Marine Sanctuary), nghi ngờ hàng trăm thùng chất
thải phóng xạ có thể vẫn ở trong tàu Independence. Tuy nhiên, ông không
cho rằng chúng gây nguy hại đến môi trường hay sức khỏe cho con người.
Những thùng chất thải này được đổ đầy bê tông và đóng kín trong động cơ
của tàu và các phòng điều khiển, nơi có các bức tường bằng thép dày, ông
nói.Đại dương cũng đóng vai trò như một vùng đệm tự nhiên cho chất phóng xạ, theo Kai Vetter, một giáo sư về hạt nhân ở Đại học Kai Vetter, người hỗ trợ nghiên cứu. Vetter nhấn mạnh rằng các địa điểm bị nhiễm ở quy mô nhỏ nên không ảnh hưởng tới chuỗi thức ăn ở phạm vi rộng hơn.
Tuy nhiên, Quentin Kopp, một nhà lập pháp đã về hưu, người từng thúc đẩy việc nghiên cứu chất phóng xạ ngoài khơi Bắc California, cho rằng câu hỏi của ông về những rủi ro của chất thải hạt nhân với con người và sinh vật biển vẫn chưa được trả lời.
"Nếu được bầu lại là một nhà lập pháp, của bang hoặc của quốc gia, tôi sẽ đưa vấn đề này ra bàn thảo", ông Kopp nói.
Vetter thì hy vọng có thể thu thập các mẫu từ USS Independence để nghiên cứu tác động của phóng xạ lên kim loại trong năm tới. Tuy nhiên, Delgado cho biết hiện không có kế hoạch nào nghiên cứu chiếc tàu chìm.
Khoahocthuvi.net
Nguồn: VnExpress
16 sự thật thú vị về các cặp song sinh
1.
Không giống nam giới mỗi lần yêu có thể xuất “hàng triệu” tinh trùng
trong 1 tháng, phụ nữ chỉ có thể rụng 1 trứng, đôi khi con số này có thể
lên thành 2 và 2 trứng này có thể được thụ tinh bởi tinh trùng của 2
người đàn ông hoàn toàn khác nhau. Và nếu như việc này xảy ra, người phụ
nữ sẽ cho ra đời cặp song sinh cùng mẹ nhưng…khác bố.
2. Với hàng triệu khả năng, những cặp sinh đôi có thể được sinh ra đời với màu da hoàn toàn khác biệt nhau.
3. Nếu như một cặp song sinh nam kết hôn với một cặp song sinh nữ và cho ra đời những đứa con thì theo mặt pháp lý, những đứa con của họ sẽ là anh chị em họ, nhưng là anh chị em theo mặt di truyền vì ba mẹ của chúng sở hữu gen di truyền giống hệt nhau.
4. Nhiều người tin rằng những người phụ nữ khỏe mạnh thường dễ sinh đôi. Vậy nên điều này cũng có thể được hiểu những người mẹ có cặp sinh đôi thường sống lâu hơn.

5. Những quốc gia có tỉ lệ phụ nữ có chiều cao hơn mức trung bình thường có tỷ lệ sinh đôi cao hơn. Những người phụ nữ cao thường có hormone tăng trưởng tốt hơn, đồng nghĩa cơ hội để họ có một cặp song sinh cũng cao hơn so với những người còn lại.
6. Những phụ nữ thích uống sữa cũng thường có khả năng sinh đôi cao gấp 5 lần khi cơ thể họ có rất nhiều vitamin và khoáng chất tốt từ sữa.
7. Những cặp sinh đôi đã dần hình thành một liên kết trong bụng mẹ kể từ tuần thai thứ 14. Khi thai được 18 tuần, các cặp sinh đôi cũng thường chạm vào anh chị em của mình hơn là tự chạm vào bản thân.
8. Khoảng một phần tư các cặp song sinh nằm đối mặt với nhau trong bụng mẹ sẽ trở thành bản sao của nhau khi mới ra đời. Có thể một người sẽ thuận tay trái và một người sẽ thuận tay phải. Trong khi vết bớt xuất hiện ở trên cơ thể người này nhưng sẽ ở vị trí đối diện trên cơ thể người kia.
9. Một số cặp song sinh dính liền có chung vùng đồi thị. Vì vậy, đôi khi họ có thể nhìn xuyên qua đôi mắt của người còn lại và có thể lắng nghe suy nghĩ của người anh chị em sinh đôi của mình.
10. Khi cho cặp song sinh bú, vùng ngực ở cơ thể phụ nữ sẽ tự động điều chỉnh nhiệt độ để giúp cho cặp song sinh cảm thấy thoải mái nhất.
11. Đặc điểm nhận dạng dễ nhất của những cặp song sinh là vùng rốn. Chúng là vết sẹo để lại từ dây rốn và những vết sẹo thường không giống nhau.
12. Nếu như một người phụ nữ có người anh hoặc hoặc người chị sinh đôi, rất có thể cô ấy cũng sẽ cho ra đời một cặp sinh đôi. Khả năng này còn cao hơn nếu trước đó cô ấy đã có một cặp sinh đôi hay cô ấy có anh chị em họ là những cặp sinh đôi.
13. Ngay cả những cặp sinh đôi giống hệt nhau cũng không có vân tay giống nhau mặc dù họ chia sẻ DNA giống hệt nhau.
14. Những cặp sinh đôi thường thuận tay trái.
15. Những cặp sinh đôi có thể ra đời cách nhau vài tuần hoặc thậm chí là vài tháng. Có một kỷ lục đã được lập ra khi có một cặp sinh đôi được sinh ra đời với khoảng thời gian cách nhau 87 ngày.
16. Với việc những cặp sinh đôi giống hệt nhau chia sẻ chung 99.9% DNA, sẽ rất khó khăn nếu một trong hai trở thành tội phạm.
Khoahocthuvi.net
Nguồn: Yan
2. Với hàng triệu khả năng, những cặp sinh đôi có thể được sinh ra đời với màu da hoàn toàn khác biệt nhau.
3. Nếu như một cặp song sinh nam kết hôn với một cặp song sinh nữ và cho ra đời những đứa con thì theo mặt pháp lý, những đứa con của họ sẽ là anh chị em họ, nhưng là anh chị em theo mặt di truyền vì ba mẹ của chúng sở hữu gen di truyền giống hệt nhau.
4. Nhiều người tin rằng những người phụ nữ khỏe mạnh thường dễ sinh đôi. Vậy nên điều này cũng có thể được hiểu những người mẹ có cặp sinh đôi thường sống lâu hơn.
5. Những quốc gia có tỉ lệ phụ nữ có chiều cao hơn mức trung bình thường có tỷ lệ sinh đôi cao hơn. Những người phụ nữ cao thường có hormone tăng trưởng tốt hơn, đồng nghĩa cơ hội để họ có một cặp song sinh cũng cao hơn so với những người còn lại.
6. Những phụ nữ thích uống sữa cũng thường có khả năng sinh đôi cao gấp 5 lần khi cơ thể họ có rất nhiều vitamin và khoáng chất tốt từ sữa.
7. Những cặp sinh đôi đã dần hình thành một liên kết trong bụng mẹ kể từ tuần thai thứ 14. Khi thai được 18 tuần, các cặp sinh đôi cũng thường chạm vào anh chị em của mình hơn là tự chạm vào bản thân.
8. Khoảng một phần tư các cặp song sinh nằm đối mặt với nhau trong bụng mẹ sẽ trở thành bản sao của nhau khi mới ra đời. Có thể một người sẽ thuận tay trái và một người sẽ thuận tay phải. Trong khi vết bớt xuất hiện ở trên cơ thể người này nhưng sẽ ở vị trí đối diện trên cơ thể người kia.
9. Một số cặp song sinh dính liền có chung vùng đồi thị. Vì vậy, đôi khi họ có thể nhìn xuyên qua đôi mắt của người còn lại và có thể lắng nghe suy nghĩ của người anh chị em sinh đôi của mình.
10. Khi cho cặp song sinh bú, vùng ngực ở cơ thể phụ nữ sẽ tự động điều chỉnh nhiệt độ để giúp cho cặp song sinh cảm thấy thoải mái nhất.
11. Đặc điểm nhận dạng dễ nhất của những cặp song sinh là vùng rốn. Chúng là vết sẹo để lại từ dây rốn và những vết sẹo thường không giống nhau.
12. Nếu như một người phụ nữ có người anh hoặc hoặc người chị sinh đôi, rất có thể cô ấy cũng sẽ cho ra đời một cặp sinh đôi. Khả năng này còn cao hơn nếu trước đó cô ấy đã có một cặp sinh đôi hay cô ấy có anh chị em họ là những cặp sinh đôi.
13. Ngay cả những cặp sinh đôi giống hệt nhau cũng không có vân tay giống nhau mặc dù họ chia sẻ DNA giống hệt nhau.
14. Những cặp sinh đôi thường thuận tay trái.
15. Những cặp sinh đôi có thể ra đời cách nhau vài tuần hoặc thậm chí là vài tháng. Có một kỷ lục đã được lập ra khi có một cặp sinh đôi được sinh ra đời với khoảng thời gian cách nhau 87 ngày.
16. Với việc những cặp sinh đôi giống hệt nhau chia sẻ chung 99.9% DNA, sẽ rất khó khăn nếu một trong hai trở thành tội phạm.
Khoahocthuvi.net
Nguồn: Yan
Nhận xét
Đăng nhận xét