BÍ ẨN LỊCH SỬ 67
(ĐC sưu tầm trên NET)
Vừa tham gia chiến dịch tình báo vừa viết sách
Peter Fleming sinh năm 1907, lớn hơn Ian 1 tuổi (Ian Fleming sinh năm 1908), và mất năm 1971, sống lâu hơn em trai 7 năm (Ian mất năm 1964, lúc 56 tuổi). Anh em nhà Fleming sinh trưởng tại London, quê gốc Scotland, có cha là một luật sư và nghị sĩ. Từ nhỏ hai anh em rất quấn quýt, thương yêu nhau và cùng theo học trường Eton.
Lớn lên, mỗi người một chí hướng. Ian tiếp tục học tại học viện quân sự Hoàng gia Sandhurst, ra trường được Cục tình báo hải quân (NID) tuyển dụng làm điệp viên. Còn Peter sau khi tốt nghiệp Trường Eton, năm 19 tuổi tiếp tục học Trường Christ Church, Oxford, tốt nghiệp khoa ngữ văn tiếng Anh loại xuất sắc.
Sau khi tốt nghiệp, Peter bắt đầu viết báo, ban đầu là những tờ
báo nhỏ ở địa phương, làm trợ lý biên tập văn chương cho tờ The
Spcetator, về sau làm phóng viên đặc biệt cho tờ The Times. Năm 1932,
Peter bắt đầu những chuyến du khảo viết sách khi ông đọc được một mẩu
quảng cáo trên tờ The Times, chiêu mộ người tham gia chuyến du khảo
những dòng sông ma quái ở miền Trung Brazil. Một năm trời tham gia đoàn
du khảo, Peter viết quyển sách nhan đề "Brazilian Adventure" (Cuộc phiêu
lưu ở Brazil) xuất bản năm 1933, bán rất chạy.
Kể từ sau bước ngoặt Brazil, Peter bắt đầu say mê những chuyến du khảo khắp thế giới, vừa đi du lịch, vừa nghiên cứu, tìm hiểu về vùng đất mình đi qua để viết ra những quyển sách du lịch, khảo cứu địa lý hấp dẫn. Đi đến đâu, viết đến đó là phong cách của nhà báo - nhà văn - điệp viên Peter Fleming. Trong vai trò là phóng viên đặc biệt của tờ The Times, Peter đi khắp châu Âu và đến châu Á bằng đường bộ.
Đầu tiên ông đến Moskva, rồi từ đó đi tàu hỏa đến vùng Kavkaz, qua Caspien, rồi Samarkand, Tashkent, bắt chuyến tàu hỏa Turksib, chuyển sang tuyến tàu hỏa xuyên Siberia để đến Bắc Kinh, Trung Quốc.
Ông viết 2 quyển sách du khảo, "One's Company", xuất bản năm 1934, và "News from Tartary", xuất bản năm 1936. Năm 1941, 2 quyển sách này được tổng hợp lại thành một, lấy tựa là "Travels in Tartary: One's Company and News from Tartary". Thời gian này, Peter có mối quan hệ tình cảm với nữ diễn viên khá nổi tiếng Celia Johnson. Họ cưới nhau ngay trước Chiến tranh thế giới lần thứ II.
Mùa thu năm 1939, Chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ, Peter
gia nhập đơn vị quân dự bị phòng vệ địa phương, sau đổi thành Vệ binh
nội địa, thuộc đơn vị Lữ đoàn Vệ binh Grenadier. Chưa được bao lâu sau,
Peter được tuyển mộ vào làm việc cho Cơ quan tình báo quân sự (MI-5),
phụ trách công tác nghiên cứu tình báo. Chuyến hành quân đầu tiên của
Peter là một chiến dịch quân sự ngắn ở Na Uy vào năm 1940.
Đó là chiến dịch đầu tiên nước Anh sử dụng các lực lượng đặc biệt trên thực tế sa trường. Sau chiến dịch này, Peter được cấp trên giao cho nhiệm vụ nghiên cứu đề xuất những phương án chiến lược nhằm thiết lập mạng lưới quân tình nguyện trợ chiến ở Anh để chuẩn bị cho trường hợp quân Đức xâm lược nước Anh thành công.
Ngay trong thời điểm nước sôi lửa bỏng, cả nước Anh khẩn trương chuẩn bị đối phó kế hoạch xâm lược của phát xít Đức vào mùa hè năm 1940, Peter Fleming đã ghi nhận lại không khí chuẩn bị chiến tranh đó và viết quyển sách nổi tiếng "Invasion 1940", xuất bản năm 1957.
Quyển sách này phơi bày những điểm chính trong kế hoạch xâm lược mang mật danh Operation Sea Lion (Chiến dịch Sư tử biển) của Hitler và công tác chuẩn bị đối phó của chính phủ Anh. Peter tham gia kháng chiến trong mạng lưới các đơn vị tình nguyện quân tiến hành các hoạt động bí mật như gián điệp, phá hoại và ám sát binh sĩ và chỉ huy quân địch. Đây là một kế hoạch tuyệt mật, chỉ có Thủ tướng Winston Churchill và vài chỉ huy cao cấp của quân đội Anh biết.
Các tình nguyện quân được tổ chức thành những đơn vị quân trợ chiến (Auxiliary Unit), được huấn luyện đặc biệt để chiến đấu và tồn tại trong những điều kiện chiến tranh khắc nghiệt và được bố trí rải rác ở miền Nam nước Anh, nơi được xem là mặt trận chính nếu Hitler xua quân xâm lược Anh. Những đơn vị này được lệnh ém quân thật kỹ cho đến khi nào nhận pháo lệnh xung trận mới xuất quân.
Đại úy Peter Fleming là một trong những người được giao nhiệm vụ tổ chức các đơn vị trợ chiến (Auxiliary Unit) đóng ở Quận Kent, thuộc miền Nam nước Anh (anh em nhà Fleming có rất nhiều mối quan hệ thân quen ở Kent). Peter đã thiết lập nên hạt nhân của một đơn vị được biết đến với cái tên Kent XII Corps Observation Unit.
Hạt nhân này về sau được mở rộng lên tới 3 tiểu đoàn phủ khắp Quận Kent và được đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Đại tá Colin Gubbins, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy tác chiến đặc biệt (SOE) của Anh. Riêng tại Kent có khoảng 30 đơn vị nhỏ, thành phần bao gồm công dân bản địa thông thuộc địa bàn. Ban ngày, các dân quân đặc biệt này vẫn làm việc, sinh sống bình thường, nhưng được huấn luyện để thực hiện nhiệm vụ bí mật và không được phép hé răng nửa lời về những hành động của mình, ngay cả với người thân gia đình.
Họ cũng được cảnh báo rằng, quân Đức sẽ không xem họ như những người lính bình thường mà sẽ xem họ là "gián điệp" và hành quyết họ ngay khi bị bắt. Đích thân Đại úy Fleming lựa chọn nhiều địa điểm ẩn nấp để ém quân và các điểm quan sát cho các đơn vị tình nguyện quân bí mật. Ông vận động cấp trên chu cấp đầy đủ quân trang, vũ khí và khẩu phần ăn uống nhằm bảo đảm nuôi quân trong nhiều tuần lễ liền. Giai đoạn này, Peter viết quyển sách nhan đề "The Flying Visit", nội dung đưa ra kịch bản quân Đức đổ bộ xâm lược Anh nhưng thất bại.
Sau những chuyến phiêu lưu ở Na Uy, Ai Cập và Hy lạp, Peter quay trở lại châu Á trong vai trò là một sĩ quan tình báo. Năm 1942, ông được phân công đến New Delhi, Ấn Độ, làm chỉ huy Cục D (Cục Tình báo đánh lừa đối phương) thuộc MI-6.
Nhiệm vụ của ông là nghĩ ra các kế hoạch để đánh lừa, gài bẫy đối phương. Peter tham gia vào một cuộc chiến tranh tâm lý tối mật, vận dụng các thủ đoạn đánh lừa quân phát xít Nhật đang lăm le xâm chiếm Ấn Độ. Một trong những thủ đoạn của Peter là chủ động giả vờ đánh rơi một cặp đựng giấy tờ, hồ sơ công vụ bí mật để cho lính Nhật thu nhặt được.
Tất cả giấy tờ, hồ sơ này đều do Peter tự nghĩ ra và soạn thảo giống như thật, nhưng toàn bộ nội dung thông tin trong đó đều là giả tạo, cố tình làm cho quân Nhật nghĩ rằng Ấn Độ đã được phòng thủ rất kiên cố (nhưng trên thực tế thì không được như thế). Quả nhiên, cú lừa của Peter đã có hiệu nghiệm, nó làm cho quân Nhật tạm thời chưa thực hiện ý đồ xâm chiếm Ấn Độ.
Ngoài chiêu lừa tâm lý chiến đối với quân Nhật, Peter còn thực hiện nhiều điệp vụ lừa đối phương khác thông qua những điệp viên người Ấn Độ, trong đó đặc biệt đáng chú ý là điệp viên "siêu lừa" Bhagat Ram Talwar mà Peter tuyển mộ được ngay khi đặt chân đến New Delhi và đặt cho bí danh Silver.
Silver là điệp viên đa mang xuất sắc nhất thời kỳ Chiến tranh Thế giới lần thứ II, hoạt động chuyển thông tin tình báo qua lại giữa New Delhi và Kabul, Afghanistan cho nhiều cơ quan tình báo khác nhau, cả phe Đồng minh và phe Trục trong Chiến tranh.
Trong một chuyến công tác từ Afghanistan trở về Delhi, Silver mang theo một thiết bị truyền tin do tình báo Đức trang bị nhằm mục đích thu thập thông tin tình báo bí mật của người Anh. Thế là Peter đã lợi dụng thiết bị truyền tin này để phối hợp cùng với Silver truyền những thông tin giả cho tình báo Đức (và cả Italia) ở Kabul mà họ không hay biết gì.
Hai anh em nối gót nhau trong nghề tình báo-viết văn
Năm 1945, chiến tranh kết thúc, Peter trở về vừa kịp lúc ra mắt bộ phim duy nhất của vợ. Hai năm sau, khi con gái thứ hai chào đời (1947), một tai nạn té ngã làm gãy xương chậu, đã chấm dứt hoàn toàn những chuyến đi xa để viết sách của Peter.
Giữa hai anh em Fleming có sợi dây quan hệ thật đặc biệt. Họ dành
cho nhau những tình cảm gắn bó không hề phai nhạt theo thời gian. Một
điều thú vị là anh em Fleming, kẻ trước người sau, tham gia vào hai đơn
vị tình báo khác nhau.
Peter tham gia MI-5 vào năm 1939, 5 tháng sau đến lượt Ian gia nhập Cục tình báo Hải quân (NID). Hai anh em hoạt động trong cùng mạng lưới tình báo quốc gia, trên cùng địa bàn, tiếp xúc và khai thác thông tin với cùng đối tượng và cùng am hiểu về thế giới tình báo bí mật. Tuy nhiên, khác với Ian, Peter là người tận mắt chứng kiến hoạt động của tình báo trên chiến trường, đặc biệt là khi ông tham gia chiến dịch ngắn ở Na Uy vào tháng 4-1940.
Ian xem anh trai mình như một thần tượng về khoản viết văn. Và chính điều này đã thôi thúc Ian đi theo con đường viết văn của người anh trai. Ian quyết định đã đến lúc mình phải viết được những quyển sách hay như anh Peter. Nhưng sách của Ian không phải là loại sách du khảo, tư liệu du lịch như sách của Peter, mà là tiểu thuyết hư cấu. Nhiều năm trong nghề tình báo là nguồn tư liệu dồi dào, đủ để Ian vận dụng trí tưởng tượng phong phú của mình dệt nên những câu chuyện tình báo hư cấu tuyệt hảo.
Như để khích lệ người em thực hiện ngay ý định của mình, ngay trước khi Ian viết quyển tiểu thuyết James Bond đầu tiên (Casino Royale), Peter cho xuất bản một quyển truyện cười nổi tiếng "The Sixth Column", xuất bản năm 1952, nội dung viết về một đại tá tình báo mang bóng dáng của Ian.
Một năm sau, năm 1953, tiểu thuyết James Bond đầu tiên, "Casino Royale"- "Sòng bạc Hoàng gia"- ra đời, đánh dấu sự mở đầu cho loạt tiểu thuyết tình báo ăn khách và sự xuất hiện của một nhà văn đặc biệt trên văn đàn nước Anh: Ian Fleming. Peter có ảnh hưởng nhất định trong sự ra đời của quyển tiểu thuyết này. Chính ông đã cùng bàn bạc với Ian về việc đặt tên cho các nhân vật trong tiểu thuyết. Và cũng chính Peter là hình tượng để Ian xây dựng một trong những nhân vật của mình, đó là "Bác sĩ Nitpick".
Năm 1964, Ian qua đời. Peter lại là người đứng ra bảo vệ di sản văn chương và uy tín, danh dự của em mình. Đến khi Peter qua đời vào năm 1971, thì hai con gái ông, Kate và Lucy đã thay cha giữ gìn, bảo vệ di sản tiểu thuyết James Bond của chú Ian cho đến ngày nay.
Nguyên Khang (tổng hợp)
Ngoại trưởng Liên Xô Molotov (ngồi) ký Hiệp ước Không Xâm lược lẫn nhau giữa Đức và Liên Xô ở Moscow ngày 23/8/1939, chỉ vài ngày trước khi nổ ra Thế chiến 2. Phía sau ông là Lãnh tụ Liên Xô Stalin.
Cây
bút người Nga Ekaterina Blinova đã mổ xẻ vấn đề phương Tây hỗ trợ
Hitler, với hy vọng và mục tiêu xóa sổ Liên Xô khỏi bản đồ thế giới. Bỏ
mặc lời kêu gọi của Liên Xô, phương Tây hỗ trợ cho Hitler bằng nhiều
hình thức khác nhau với hy vọng y sẽ phát động chiến tranh tiêu diệt
Liên Xô.
Hiệp ước Xô-Đức được ký kết giữa Liên Xô và nước Đức Quốc xã vào ngày 23/8/1939. Hiệp ước này hiện đang được các "chuyên gia" và hệ thống truyền thông chủ lưu của phương Tây khai thác để tố cáo Liên Xô đã "câu kết" với trùm phát xít Hitler và "phản bội" các đồng minh Pháp và Anh. Tuy nhiên các bằng chứng lịch sử lại cho ta câu chuyện khác...
Vào ngày 23/8/1939, Liên Xô và nước Đức Quốc xã đặt bút ký vào một Hiệp ước Không Xâm lược lẫn nhau, còn được biết đến với cái tên Hiệp ước Molotov-Ribbentrop. Tài liệu này hiện vẫn gây nên các tranh cãi sôi nổi, và tạo lý do để phương Tây kết tội Liên Xô "cấu kết" với Hitler vào đêm trước Thế chiến thứ 2. Hơn nữa, kể từ năm 2008, cứ vào ngày này các quốc gia châu Âu lại kỷ niệm "Ngày châu Âu Tưởng nhớ các Nạn nhân của chủ nghĩa Stalin và chủ nghĩa Quốc xã".
Trong một bài viết cho Quỹ Văn hóa Chiến lược, Giáo sư Michael Jabara Carley của Đại học Montreal (Canada) nhấn mạnh: "Đó là một sự kiện tổ chức hàng năm vào ngày 23/8, được các nhà tuyên truyền "sợ Nga" ở phương Tây ngóng chờ với mong muốn nhắc nhở chúng tôi về vai trò "xấu xa" của Liên Xô khi khởi động Thế chiến thứ 2. Tất nhiên, thời nay khi truyền thông chủ lưu của phương Tây nhắc đến 2 chữ "Xô viết" là họ muốn công chúng nghĩ đến Nga và đương kim Tổng thống Vladimir Putin. Các nhà báo phương Tây không thể nhất quán về ông Putin: Khi thì họ gọi ông là một Hitler thứ 2, khi lại coi ông là một Stalin thời hiện tại".
Điều thú vị là, các "chuyên gia" và truyền thông đại chúng phương Tây lại im lặng về một thực tế lịch sử, đó là hầu hết các cường quốc lớn của châu Âu đều đã ký các hiệp ước tương tự với Adolf Hitler trước khi Liên Xô làm vậy.
Chẳng hạn, chính Ba Lan - mà người ta coi là "nạn nhân" của hiệp ước không xâm lược lẫn nhau giữa Liên Xô và Đức - cũng đã ký một hiệp ước không xâm lược lẫn nhau với Đức Quốc xã vào ngày 26/1/1934.
Giáo sư Carley hỏi một cách ẩn ý: "Trong thập niên 1930, Ba Lan đóng vai trò của kẻ phá bĩnh. Đó là một chính thể cực hữu rất giống kiểu độc tài, bài Do Thái và có cảm tình với chủ nghĩa phát xít. Năm 1934, khi Liên Xô cảnh báo về Hitler, Ba Lan đã ký ngay một hiệp ước không xâm lược lẫn nhau ở Berlin. Vậy ai đâm sau lưng ai?"
Trong lúc chỉ tay kết tội phía Liên Xô đưa quân vào lãnh thổ của "Ba Lan" (khi không còn nhà nước Ba Lan nào tồn tại nữa ở đây sau khi Đức xâm lược nước này vào ngày 1/9/1939), một số sử gia phương Tây bắt đầu mắc chứng "mất trí nhớ", và quên rằng chính các lãnh thổ này - Tây Ukraine và Tây Belarus - đã bị Ba Lan sáp nhập trong cuộc chiến tranh Ba Lan-Nga từ năm 1919-1921. Cuộc chiến này do Ba Lan đơn phương phát động để chống lại nước Nga Xô viết - lúc đó đã tan hoang vì nội chiến.
Giáo sư Carley nhấn mạnh: "Cho đến năm 1939, Ba Lan đã làm tất cả những gì có thể để phá hoại các nỗ lực của Liên Xô trong việc xây dựng một liên minh chống chủ nghĩa Quốc xã, dựa trên liên minh chống Đức từ thời Thế chiến thứ 1, bao gồm Pháp, Anh, Italy và vào năm 1917 cả Mỹ... Trong các năm 1934-1935, khi Liên Xô tìm kiếm một hiệp ước tương trợ với Pháp thì Ba Lan lại cố công cản trở điều này".
Thế còn Anh và Pháp? Đáng ngạc nhiên, vào thập niên 1930 cả London và Paris đều không vội gia nhập liên minh chống Đức của Liên Xô. Carley chỉ ra rằng chính Maksim Litvinov, Dân ủy Đối ngoại Xô viết (tức Ngoại trưởng Liên Xô - ND) là người "đầu tiên thai nghén ý tưởng về một "Đại Liên minh" chống Hitler". Tuy nhiên đại liên minh đó đã không bao giờ tồn tại khi ấy.
Châu Âu chỉ muốn Nga-Đức đánh nhau
Các sử gia nhất trí rằng các quan chức châu Âu bảo thủ đã coi Adolf Hitler là ít "tệ" hơn nước Nga Xô viết. Hơn nữa, theo nhà kinh tế học Mỹ Guido Giacomo Preparata, đối với chính quyền Anh và Mỹ, chủ nghĩa Quốc xã được xem là động lực làm sụp đổ Liên Xô, và hoàn thành một quá trình đã bắt đầu từ Thế chiến thứ 1 - đó làm tan rã hoàn toàn Đế chế Nga cũ.
Nhà kinh tế học Preparata viết trong cuốn sách "Làm thế nào mà Anh và Mỹ đã tạo ra Đế chế 3 (Đức Quốc xã)": "Nói với Churchill, Thủ tướng Anh Stanley Baldwin tóm tắt vấn đề vào tháng 7/1936 như sau: "Nếu chiến sự có diễn ra ở châu Âu thì tôi mong được chứng kiến cảnh tụi Bolshevik và Đức Quốc xã nện nhau".
Giới chức châu Âu và Mỹ không chỉ không sẵn lòng thiết lập quan hệ liên minh với Liên Xô, mà còn tích cực đổ tiền vào nền kinh tế Đức Quốc xã, tạo điều kiện cho bộ máy chiến tranh của phát xít Đức phát triển.
Preparata tiếp tục nêu các chi tiết: Hãng sản xuất vũ khí danh tiếng của Anh, Vickers-Armstrong, đã cung cấp vũ khí hạng nặng cho Berlin, trong khi các công ty Mỹ như Pratt & Whitney, Douglas, Bendix Aviation... cung cấp cho các hãng của Đức như là BMW, Siemens... các bằng sáng chế, bí mật quân sự và các động cơ máy bay tối tân.
Vụ "phản bội" Munich 1938
Biên bản cuối cùng ghi lại trò chơi chính trị này là Thỏa thuận Munich do các cường quốc lớn tại châu Âu (gồm Anh, Đức, Pháp, Italy) (loại trừ Liên Xô và Tiệp Khắc) ký kết vào ngày 30/9/1938. Thỏa thuận này cho phép nước Đức Quốc xã sáp nhập các khu vực biên giới phía bắc và phía tây của Tiệp Khắc.
Chính các tài liệu lưu trữ của Anh được công bố vào năm 2013 đã phơi bày thực tế khiến phương Tây phải bối rối là nước Anh không chỉ phản bội Tiệp Khắc bằng việc cho phép Hitler xâm lược nước đó mà còn tình nguyện trao gần 9 triệu USD tiền vàng vốn thuộc về Tiệp Khắc cho Đức Quốc xã. Các thỏi vàng của Tiệp Khắc đã được gửi ngay cho Hitler vào tháng 3/1939 khi y chiếm Praha.
Giám đốc Trung tâm Nga học tại Đại học Nhân văn Moscow và Viện Phân tích Chiến lược Hệ thống - sử gia Andrei Fursov nhấn mạnh: "Vụ phản bội Munich ngày 29-30/9/1938 thực sự đánh dấu điểm bắt đầu Thế chiến thứ 2".
Sử gia này dẫn lại lá thư của Churchill (chính trị gia nổi tiếng của Anh) gửi Thiếu tá Ewal von Kleist, thành viên nhóm kháng chiến Đức và là phái viên của Bộ Tổng tham mưu Đức trước khi Hitler "nuốt" Tiệp Khắc: "Tôi chắc rằng việc binh sĩ hoặc máy bay Đức vượt qua biên giới của Tiệp Khắc sẽ mang lại một sự mới mẻ cho chiến tranh thế giới... Một khi một cuộc chiến như vậy bắt đầu, chúng ta phải tính xem không chỉ những gì có thể xảy ra trong vài tháng đầu mà còn là vị trí của chúng ta sẽ ra sao vào cuối năm thứ 3 hoặc thứ 4 của cuộc chiến tranh".
Đấy chưa phải là tất cả. Rất khó tin nhưng chính phủ Anh thực sự đã ngăn chặn một âm mưu đảo chính nhằm vào Adolf Hitler vào năm 1938. Một nhóm sĩ quan cao cấp của quân đội Đức lên kế hoạch bắt giữ Hitler vào thời điểm Quốc trưởng Đức ra lệnh tấn công Tiệp Khắc. Không thể giải thích được: Chính quyền Anh khi đó không chỉ từ chối giúp đỡ phong trào chống Hitler mà còn làm phá sản các kế hoạch của phong trào này.
Trong bài luận về giai đoạn 1938 này, tác giả Anh Michael McMenamin kể: "Về mặt lịch sử, không có nghi ngờ gì về việc phong trào kháng chiến Đức đã liên tục cảnh báo người Anh về ý đồ của Hitler muốn xâm lược Tiệp Khắc vào tháng 9/1938... Tuy nhiên, để đáp lại, chính phủ của Thủ tướng Anh khi đó là Chamberlain đã thực hiện mọi bước đi ngoại giao có thể để... phá hoại phe đối lập với Hitler".
Trích dẫn các nguồn tài liệu chính thức, tác giả McMenamin viết: "Thay vì công bố việc Hitler xâm lược châu Âu, vào ngày 28/9/1938, ông Chamberlain "đề xuất [với Quốc trưởng Đức] một hội nghị 5 bên giữa Anh, Đức, Tiệp Khắc, Pháp, và Italy, trong đó Chamberlain bảo đảm với Hitler rằng nước Đức có thể "nhận ngay tất cả những thứ thiết yếu mà không phải phát động chiến tranh". Tác giả này cho biết thêm, Chamberlain cũng nhắm mắt làm ngơ trước thực tế Đức đã loại bỏ Tiệp Khắc ra khỏi hội nghị này.
Tác giả Menamin nhấn mạnh, sau khi 4 quốc gia còn lại nhất trí chấp nhận việc Đức chiếm vùng Sudetenland của Tiệp Khắc trước bất kỳ một cuộc trưng cầu dân ý nào và cưỡng chế người Tiệp Khắc tuân theo, Chamberlain và Hitler đã ký bản Thỏa thuận Không Xâm lược lẫn nhau giữa Anh và Đức.
Cũng thú vị không kém, Giáo sư Carley thuật lại rằng trong cuộc khủng hoảng Tiệp Khắc, Ba Lan ("nạn nhân" tự xưng của Hiệp ước Molotov-Ribbentrop) yêu cầu rằng nếu "Hitler chuẩn bị chiếm vùng lãnh thổ Sudeten thì Ba Lan cũng phải có phần là khu Teschen (cũng ở Tiệp Khắc). Nói cách khác, nếu Hitler được gắp khúc thịt, thì người Ba Lan chí ít cũng phải được xơi bìa đậu".
Và như vậy, cây bút Nga Ekaterina Blinova hỏi xoáy: Ai câu kết với ai đây? Ai mới là kẻ phản bội đây?
Biến Hiệp ước Molotov-Ribbentrop thành ác quỷ
Theo Andrei Fursov, ở Munich 4 nước nói trên đã tạo ra một "dạng khối quân sự tiền thân của NATO" thực sự nhằm chống lại Liên Xô. Cơ sở công nghiệp của Tiệp Khắc được nhắm tới để hỗ trợ cho việc phát triển sức mạnh quân sự Đức và bảo đảm nước Đức đủ khả năng mở một cuộc chiến tranh lớn chống lại "tụi Bolshevik" ở phía Đông, nhằm mở rộng không gian sinh tồn của dân tộc Đức. Và giới tinh hoa châu Âu rất khoái ý tưởng về một cuộc chiến như thế, họ mong chờ cuộc chiến này sẽ làm kiệt sức cả Đức và Nga.
Dưới ánh sáng của các sự kiện này, nước cờ duy nhất để phá hoại kế hoạch đó và làm trì hoãn việc thực hiện nó là hoàn tất một hiệp ước không xâm lược lẫn nhau giữa Liên Xô và Đức, tương tự như các hiệp ước giữa Đức và các nước châu Âu. Ngoài ra, việc hòa hoãn này còn giúp Liên Xô có thời gian tích trữ các nguồn lực cần thiết để đối phó với một cuộc xâm lược hung tàn không thể tránh khỏi từ phía Tây.
Michael Jabara Carley dẫn lời chính trị gia Winston Churchill (về sau là Thủ tướng Anh) phát biểu vào ngày 1/10/1939 trong một cuộc phỏng vấn với hãng phát thanh quốc gia Anh rằng hành động của Liên Xô "rõ ràng là cần thiết cho sự an toàn của Nga trước hiểm họa Quốc xã".
Nếu vậy thì tại sao phương Tây hiện nay lại luôn cố gắng vẽ ra một bức tranh ác quỷ về Hiệp ước Không Xâm lược lẫn nhau Xô-Đức?
Giáo sư Carley nhận xét rằng đây là nỗ lực vô vọng của phương Tây muốn tẩy rửa các lỗi lầm nghiêm trọng vào những năm 1930, đó là việc họ không thể (hay không muốn) chặn đứng sự trỗi dậy của nước Đức Quốc xã và thiết lập một liên minh chống Hitler vào đầu thập niên 1930.
Giáo sư Carley nhấn mạnh rằng trùm phát xít Hitler khơi mào Thế chiến 2, còn Anh liên tục khước từ các đề xuất của Liên Xô về an ninh tập thể. Ông nói, Anh thậm chí còn ép Pháp làm những điều tương tự.
Nhận xét: Khi đó: "Phương Tây giúp Hitler chống lại Liên Xô như thế nào?" Bây giờ: "Phương Tây giúp khủng bố chống lại Nga như thế nào?"
Cuộc Chiến Hymalaya - Bí Mật Thế Kỷ
Chuyện hai anh em nhà văn - điệp viên Fleming và những tác phẩm để đời
14:55 15/08/2017Nhiều người biết đến Ian Fleming - cha đẻ của điệp viên huyền thoại James Bond 007 - nhưng ít ai biết đến một người có ảnh hưởng quyết định đến sự ra đời của James Bond. Đó là nhà văn, nhà du khảo, đại úy tình báo Peter Fleming, anh trai của điệp viên - nhà văn Ian Fleming. Không có tài viết văn của Peter, Ian đã không làm nhà văn chuyên viết tiểu thuyết tình báo xuất sắc như thế.
- Triển lãm nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của nhà văn Ivan Fleming
- Ian Fleming, nhà tưởng tượng vĩ đại
Vừa tham gia chiến dịch tình báo vừa viết sách
Peter Fleming sinh năm 1907, lớn hơn Ian 1 tuổi (Ian Fleming sinh năm 1908), và mất năm 1971, sống lâu hơn em trai 7 năm (Ian mất năm 1964, lúc 56 tuổi). Anh em nhà Fleming sinh trưởng tại London, quê gốc Scotland, có cha là một luật sư và nghị sĩ. Từ nhỏ hai anh em rất quấn quýt, thương yêu nhau và cùng theo học trường Eton.
Lớn lên, mỗi người một chí hướng. Ian tiếp tục học tại học viện quân sự Hoàng gia Sandhurst, ra trường được Cục tình báo hải quân (NID) tuyển dụng làm điệp viên. Còn Peter sau khi tốt nghiệp Trường Eton, năm 19 tuổi tiếp tục học Trường Christ Church, Oxford, tốt nghiệp khoa ngữ văn tiếng Anh loại xuất sắc.
| Ian Fleming. |
Kể từ sau bước ngoặt Brazil, Peter bắt đầu say mê những chuyến du khảo khắp thế giới, vừa đi du lịch, vừa nghiên cứu, tìm hiểu về vùng đất mình đi qua để viết ra những quyển sách du lịch, khảo cứu địa lý hấp dẫn. Đi đến đâu, viết đến đó là phong cách của nhà báo - nhà văn - điệp viên Peter Fleming. Trong vai trò là phóng viên đặc biệt của tờ The Times, Peter đi khắp châu Âu và đến châu Á bằng đường bộ.
Đầu tiên ông đến Moskva, rồi từ đó đi tàu hỏa đến vùng Kavkaz, qua Caspien, rồi Samarkand, Tashkent, bắt chuyến tàu hỏa Turksib, chuyển sang tuyến tàu hỏa xuyên Siberia để đến Bắc Kinh, Trung Quốc.
Ông viết 2 quyển sách du khảo, "One's Company", xuất bản năm 1934, và "News from Tartary", xuất bản năm 1936. Năm 1941, 2 quyển sách này được tổng hợp lại thành một, lấy tựa là "Travels in Tartary: One's Company and News from Tartary". Thời gian này, Peter có mối quan hệ tình cảm với nữ diễn viên khá nổi tiếng Celia Johnson. Họ cưới nhau ngay trước Chiến tranh thế giới lần thứ II.
| Peter Fleming. |
Đó là chiến dịch đầu tiên nước Anh sử dụng các lực lượng đặc biệt trên thực tế sa trường. Sau chiến dịch này, Peter được cấp trên giao cho nhiệm vụ nghiên cứu đề xuất những phương án chiến lược nhằm thiết lập mạng lưới quân tình nguyện trợ chiến ở Anh để chuẩn bị cho trường hợp quân Đức xâm lược nước Anh thành công.
Ngay trong thời điểm nước sôi lửa bỏng, cả nước Anh khẩn trương chuẩn bị đối phó kế hoạch xâm lược của phát xít Đức vào mùa hè năm 1940, Peter Fleming đã ghi nhận lại không khí chuẩn bị chiến tranh đó và viết quyển sách nổi tiếng "Invasion 1940", xuất bản năm 1957.
Quyển sách này phơi bày những điểm chính trong kế hoạch xâm lược mang mật danh Operation Sea Lion (Chiến dịch Sư tử biển) của Hitler và công tác chuẩn bị đối phó của chính phủ Anh. Peter tham gia kháng chiến trong mạng lưới các đơn vị tình nguyện quân tiến hành các hoạt động bí mật như gián điệp, phá hoại và ám sát binh sĩ và chỉ huy quân địch. Đây là một kế hoạch tuyệt mật, chỉ có Thủ tướng Winston Churchill và vài chỉ huy cao cấp của quân đội Anh biết.
Các tình nguyện quân được tổ chức thành những đơn vị quân trợ chiến (Auxiliary Unit), được huấn luyện đặc biệt để chiến đấu và tồn tại trong những điều kiện chiến tranh khắc nghiệt và được bố trí rải rác ở miền Nam nước Anh, nơi được xem là mặt trận chính nếu Hitler xua quân xâm lược Anh. Những đơn vị này được lệnh ém quân thật kỹ cho đến khi nào nhận pháo lệnh xung trận mới xuất quân.
Đại úy Peter Fleming là một trong những người được giao nhiệm vụ tổ chức các đơn vị trợ chiến (Auxiliary Unit) đóng ở Quận Kent, thuộc miền Nam nước Anh (anh em nhà Fleming có rất nhiều mối quan hệ thân quen ở Kent). Peter đã thiết lập nên hạt nhân của một đơn vị được biết đến với cái tên Kent XII Corps Observation Unit.
Hạt nhân này về sau được mở rộng lên tới 3 tiểu đoàn phủ khắp Quận Kent và được đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Đại tá Colin Gubbins, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy tác chiến đặc biệt (SOE) của Anh. Riêng tại Kent có khoảng 30 đơn vị nhỏ, thành phần bao gồm công dân bản địa thông thuộc địa bàn. Ban ngày, các dân quân đặc biệt này vẫn làm việc, sinh sống bình thường, nhưng được huấn luyện để thực hiện nhiệm vụ bí mật và không được phép hé răng nửa lời về những hành động của mình, ngay cả với người thân gia đình.
Họ cũng được cảnh báo rằng, quân Đức sẽ không xem họ như những người lính bình thường mà sẽ xem họ là "gián điệp" và hành quyết họ ngay khi bị bắt. Đích thân Đại úy Fleming lựa chọn nhiều địa điểm ẩn nấp để ém quân và các điểm quan sát cho các đơn vị tình nguyện quân bí mật. Ông vận động cấp trên chu cấp đầy đủ quân trang, vũ khí và khẩu phần ăn uống nhằm bảo đảm nuôi quân trong nhiều tuần lễ liền. Giai đoạn này, Peter viết quyển sách nhan đề "The Flying Visit", nội dung đưa ra kịch bản quân Đức đổ bộ xâm lược Anh nhưng thất bại.
Sau những chuyến phiêu lưu ở Na Uy, Ai Cập và Hy lạp, Peter quay trở lại châu Á trong vai trò là một sĩ quan tình báo. Năm 1942, ông được phân công đến New Delhi, Ấn Độ, làm chỉ huy Cục D (Cục Tình báo đánh lừa đối phương) thuộc MI-6.
Nhiệm vụ của ông là nghĩ ra các kế hoạch để đánh lừa, gài bẫy đối phương. Peter tham gia vào một cuộc chiến tranh tâm lý tối mật, vận dụng các thủ đoạn đánh lừa quân phát xít Nhật đang lăm le xâm chiếm Ấn Độ. Một trong những thủ đoạn của Peter là chủ động giả vờ đánh rơi một cặp đựng giấy tờ, hồ sơ công vụ bí mật để cho lính Nhật thu nhặt được.
Tất cả giấy tờ, hồ sơ này đều do Peter tự nghĩ ra và soạn thảo giống như thật, nhưng toàn bộ nội dung thông tin trong đó đều là giả tạo, cố tình làm cho quân Nhật nghĩ rằng Ấn Độ đã được phòng thủ rất kiên cố (nhưng trên thực tế thì không được như thế). Quả nhiên, cú lừa của Peter đã có hiệu nghiệm, nó làm cho quân Nhật tạm thời chưa thực hiện ý đồ xâm chiếm Ấn Độ.
Ngoài chiêu lừa tâm lý chiến đối với quân Nhật, Peter còn thực hiện nhiều điệp vụ lừa đối phương khác thông qua những điệp viên người Ấn Độ, trong đó đặc biệt đáng chú ý là điệp viên "siêu lừa" Bhagat Ram Talwar mà Peter tuyển mộ được ngay khi đặt chân đến New Delhi và đặt cho bí danh Silver.
Silver là điệp viên đa mang xuất sắc nhất thời kỳ Chiến tranh Thế giới lần thứ II, hoạt động chuyển thông tin tình báo qua lại giữa New Delhi và Kabul, Afghanistan cho nhiều cơ quan tình báo khác nhau, cả phe Đồng minh và phe Trục trong Chiến tranh.
Trong một chuyến công tác từ Afghanistan trở về Delhi, Silver mang theo một thiết bị truyền tin do tình báo Đức trang bị nhằm mục đích thu thập thông tin tình báo bí mật của người Anh. Thế là Peter đã lợi dụng thiết bị truyền tin này để phối hợp cùng với Silver truyền những thông tin giả cho tình báo Đức (và cả Italia) ở Kabul mà họ không hay biết gì.
Hai anh em nối gót nhau trong nghề tình báo-viết văn
Năm 1945, chiến tranh kết thúc, Peter trở về vừa kịp lúc ra mắt bộ phim duy nhất của vợ. Hai năm sau, khi con gái thứ hai chào đời (1947), một tai nạn té ngã làm gãy xương chậu, đã chấm dứt hoàn toàn những chuyến đi xa để viết sách của Peter.
| Ian Fleming với Sean Connery (trái) nam diễn viên đóng vai James Bond. |
Peter tham gia MI-5 vào năm 1939, 5 tháng sau đến lượt Ian gia nhập Cục tình báo Hải quân (NID). Hai anh em hoạt động trong cùng mạng lưới tình báo quốc gia, trên cùng địa bàn, tiếp xúc và khai thác thông tin với cùng đối tượng và cùng am hiểu về thế giới tình báo bí mật. Tuy nhiên, khác với Ian, Peter là người tận mắt chứng kiến hoạt động của tình báo trên chiến trường, đặc biệt là khi ông tham gia chiến dịch ngắn ở Na Uy vào tháng 4-1940.
Ian xem anh trai mình như một thần tượng về khoản viết văn. Và chính điều này đã thôi thúc Ian đi theo con đường viết văn của người anh trai. Ian quyết định đã đến lúc mình phải viết được những quyển sách hay như anh Peter. Nhưng sách của Ian không phải là loại sách du khảo, tư liệu du lịch như sách của Peter, mà là tiểu thuyết hư cấu. Nhiều năm trong nghề tình báo là nguồn tư liệu dồi dào, đủ để Ian vận dụng trí tưởng tượng phong phú của mình dệt nên những câu chuyện tình báo hư cấu tuyệt hảo.
Như để khích lệ người em thực hiện ngay ý định của mình, ngay trước khi Ian viết quyển tiểu thuyết James Bond đầu tiên (Casino Royale), Peter cho xuất bản một quyển truyện cười nổi tiếng "The Sixth Column", xuất bản năm 1952, nội dung viết về một đại tá tình báo mang bóng dáng của Ian.
Một năm sau, năm 1953, tiểu thuyết James Bond đầu tiên, "Casino Royale"- "Sòng bạc Hoàng gia"- ra đời, đánh dấu sự mở đầu cho loạt tiểu thuyết tình báo ăn khách và sự xuất hiện của một nhà văn đặc biệt trên văn đàn nước Anh: Ian Fleming. Peter có ảnh hưởng nhất định trong sự ra đời của quyển tiểu thuyết này. Chính ông đã cùng bàn bạc với Ian về việc đặt tên cho các nhân vật trong tiểu thuyết. Và cũng chính Peter là hình tượng để Ian xây dựng một trong những nhân vật của mình, đó là "Bác sĩ Nitpick".
Năm 1964, Ian qua đời. Peter lại là người đứng ra bảo vệ di sản văn chương và uy tín, danh dự của em mình. Đến khi Peter qua đời vào năm 1971, thì hai con gái ông, Kate và Lucy đã thay cha giữ gìn, bảo vệ di sản tiểu thuyết James Bond của chú Ian cho đến ngày nay.
Nguyên Khang (tổng hợp)
Thế Chiến II: Phương Tây hỗ trợ Hitler chống lại Liên Xô như thế nào?

Ngoại trưởng Liên Xô Molotov (ngồi) ký Hiệp ước Không Xâm lược lẫn nhau giữa Đức và Liên Xô ở Moscow ngày 23/8/1939, chỉ vài ngày trước khi nổ ra Thế chiến 2. Phía sau ông là Lãnh tụ Liên Xô Stalin.
Hiệp ước Xô-Đức được ký kết giữa Liên Xô và nước Đức Quốc xã vào ngày 23/8/1939. Hiệp ước này hiện đang được các "chuyên gia" và hệ thống truyền thông chủ lưu của phương Tây khai thác để tố cáo Liên Xô đã "câu kết" với trùm phát xít Hitler và "phản bội" các đồng minh Pháp và Anh. Tuy nhiên các bằng chứng lịch sử lại cho ta câu chuyện khác...
Vào ngày 23/8/1939, Liên Xô và nước Đức Quốc xã đặt bút ký vào một Hiệp ước Không Xâm lược lẫn nhau, còn được biết đến với cái tên Hiệp ước Molotov-Ribbentrop. Tài liệu này hiện vẫn gây nên các tranh cãi sôi nổi, và tạo lý do để phương Tây kết tội Liên Xô "cấu kết" với Hitler vào đêm trước Thế chiến thứ 2. Hơn nữa, kể từ năm 2008, cứ vào ngày này các quốc gia châu Âu lại kỷ niệm "Ngày châu Âu Tưởng nhớ các Nạn nhân của chủ nghĩa Stalin và chủ nghĩa Quốc xã".
Trong một bài viết cho Quỹ Văn hóa Chiến lược, Giáo sư Michael Jabara Carley của Đại học Montreal (Canada) nhấn mạnh: "Đó là một sự kiện tổ chức hàng năm vào ngày 23/8, được các nhà tuyên truyền "sợ Nga" ở phương Tây ngóng chờ với mong muốn nhắc nhở chúng tôi về vai trò "xấu xa" của Liên Xô khi khởi động Thế chiến thứ 2. Tất nhiên, thời nay khi truyền thông chủ lưu của phương Tây nhắc đến 2 chữ "Xô viết" là họ muốn công chúng nghĩ đến Nga và đương kim Tổng thống Vladimir Putin. Các nhà báo phương Tây không thể nhất quán về ông Putin: Khi thì họ gọi ông là một Hitler thứ 2, khi lại coi ông là một Stalin thời hiện tại".
Điều thú vị là, các "chuyên gia" và truyền thông đại chúng phương Tây lại im lặng về một thực tế lịch sử, đó là hầu hết các cường quốc lớn của châu Âu đều đã ký các hiệp ước tương tự với Adolf Hitler trước khi Liên Xô làm vậy.
Chẳng hạn, chính Ba Lan - mà người ta coi là "nạn nhân" của hiệp ước không xâm lược lẫn nhau giữa Liên Xô và Đức - cũng đã ký một hiệp ước không xâm lược lẫn nhau với Đức Quốc xã vào ngày 26/1/1934.
Giáo sư Carley hỏi một cách ẩn ý: "Trong thập niên 1930, Ba Lan đóng vai trò của kẻ phá bĩnh. Đó là một chính thể cực hữu rất giống kiểu độc tài, bài Do Thái và có cảm tình với chủ nghĩa phát xít. Năm 1934, khi Liên Xô cảnh báo về Hitler, Ba Lan đã ký ngay một hiệp ước không xâm lược lẫn nhau ở Berlin. Vậy ai đâm sau lưng ai?"
Trong lúc chỉ tay kết tội phía Liên Xô đưa quân vào lãnh thổ của "Ba Lan" (khi không còn nhà nước Ba Lan nào tồn tại nữa ở đây sau khi Đức xâm lược nước này vào ngày 1/9/1939), một số sử gia phương Tây bắt đầu mắc chứng "mất trí nhớ", và quên rằng chính các lãnh thổ này - Tây Ukraine và Tây Belarus - đã bị Ba Lan sáp nhập trong cuộc chiến tranh Ba Lan-Nga từ năm 1919-1921. Cuộc chiến này do Ba Lan đơn phương phát động để chống lại nước Nga Xô viết - lúc đó đã tan hoang vì nội chiến.
Giáo sư Carley nhấn mạnh: "Cho đến năm 1939, Ba Lan đã làm tất cả những gì có thể để phá hoại các nỗ lực của Liên Xô trong việc xây dựng một liên minh chống chủ nghĩa Quốc xã, dựa trên liên minh chống Đức từ thời Thế chiến thứ 1, bao gồm Pháp, Anh, Italy và vào năm 1917 cả Mỹ... Trong các năm 1934-1935, khi Liên Xô tìm kiếm một hiệp ước tương trợ với Pháp thì Ba Lan lại cố công cản trở điều này".
Thế còn Anh và Pháp? Đáng ngạc nhiên, vào thập niên 1930 cả London và Paris đều không vội gia nhập liên minh chống Đức của Liên Xô. Carley chỉ ra rằng chính Maksim Litvinov, Dân ủy Đối ngoại Xô viết (tức Ngoại trưởng Liên Xô - ND) là người "đầu tiên thai nghén ý tưởng về một "Đại Liên minh" chống Hitler". Tuy nhiên đại liên minh đó đã không bao giờ tồn tại khi ấy.
Châu Âu chỉ muốn Nga-Đức đánh nhau
Các sử gia nhất trí rằng các quan chức châu Âu bảo thủ đã coi Adolf Hitler là ít "tệ" hơn nước Nga Xô viết. Hơn nữa, theo nhà kinh tế học Mỹ Guido Giacomo Preparata, đối với chính quyền Anh và Mỹ, chủ nghĩa Quốc xã được xem là động lực làm sụp đổ Liên Xô, và hoàn thành một quá trình đã bắt đầu từ Thế chiến thứ 1 - đó làm tan rã hoàn toàn Đế chế Nga cũ.
Nhà kinh tế học Preparata viết trong cuốn sách "Làm thế nào mà Anh và Mỹ đã tạo ra Đế chế 3 (Đức Quốc xã)": "Nói với Churchill, Thủ tướng Anh Stanley Baldwin tóm tắt vấn đề vào tháng 7/1936 như sau: "Nếu chiến sự có diễn ra ở châu Âu thì tôi mong được chứng kiến cảnh tụi Bolshevik và Đức Quốc xã nện nhau".
Giới chức châu Âu và Mỹ không chỉ không sẵn lòng thiết lập quan hệ liên minh với Liên Xô, mà còn tích cực đổ tiền vào nền kinh tế Đức Quốc xã, tạo điều kiện cho bộ máy chiến tranh của phát xít Đức phát triển.
Preparata tiếp tục nêu các chi tiết: Hãng sản xuất vũ khí danh tiếng của Anh, Vickers-Armstrong, đã cung cấp vũ khí hạng nặng cho Berlin, trong khi các công ty Mỹ như Pratt & Whitney, Douglas, Bendix Aviation... cung cấp cho các hãng của Đức như là BMW, Siemens... các bằng sáng chế, bí mật quân sự và các động cơ máy bay tối tân.

© AP
Từ trái qua phải: Thống chế-Chủ tịch Quốc hội phát xít Đức Hermann Goering, Ngoại trưởng Italy Count Ciano cùng trùm phát xít Italy Benito Mussolini bắt tay Thủ tướng Anh Neville Chamberlain trong hội nghị 4 nước tổ chức ở Munich, Đức vào năm 1938
Từ trái qua phải: Thống chế-Chủ tịch Quốc hội phát xít Đức Hermann Goering, Ngoại trưởng Italy Count Ciano cùng trùm phát xít Italy Benito Mussolini bắt tay Thủ tướng Anh Neville Chamberlain trong hội nghị 4 nước tổ chức ở Munich, Đức vào năm 1938
Biên bản cuối cùng ghi lại trò chơi chính trị này là Thỏa thuận Munich do các cường quốc lớn tại châu Âu (gồm Anh, Đức, Pháp, Italy) (loại trừ Liên Xô và Tiệp Khắc) ký kết vào ngày 30/9/1938. Thỏa thuận này cho phép nước Đức Quốc xã sáp nhập các khu vực biên giới phía bắc và phía tây của Tiệp Khắc.
Chính các tài liệu lưu trữ của Anh được công bố vào năm 2013 đã phơi bày thực tế khiến phương Tây phải bối rối là nước Anh không chỉ phản bội Tiệp Khắc bằng việc cho phép Hitler xâm lược nước đó mà còn tình nguyện trao gần 9 triệu USD tiền vàng vốn thuộc về Tiệp Khắc cho Đức Quốc xã. Các thỏi vàng của Tiệp Khắc đã được gửi ngay cho Hitler vào tháng 3/1939 khi y chiếm Praha.
Giám đốc Trung tâm Nga học tại Đại học Nhân văn Moscow và Viện Phân tích Chiến lược Hệ thống - sử gia Andrei Fursov nhấn mạnh: "Vụ phản bội Munich ngày 29-30/9/1938 thực sự đánh dấu điểm bắt đầu Thế chiến thứ 2".
Sử gia này dẫn lại lá thư của Churchill (chính trị gia nổi tiếng của Anh) gửi Thiếu tá Ewal von Kleist, thành viên nhóm kháng chiến Đức và là phái viên của Bộ Tổng tham mưu Đức trước khi Hitler "nuốt" Tiệp Khắc: "Tôi chắc rằng việc binh sĩ hoặc máy bay Đức vượt qua biên giới của Tiệp Khắc sẽ mang lại một sự mới mẻ cho chiến tranh thế giới... Một khi một cuộc chiến như vậy bắt đầu, chúng ta phải tính xem không chỉ những gì có thể xảy ra trong vài tháng đầu mà còn là vị trí của chúng ta sẽ ra sao vào cuối năm thứ 3 hoặc thứ 4 của cuộc chiến tranh".
Đấy chưa phải là tất cả. Rất khó tin nhưng chính phủ Anh thực sự đã ngăn chặn một âm mưu đảo chính nhằm vào Adolf Hitler vào năm 1938. Một nhóm sĩ quan cao cấp của quân đội Đức lên kế hoạch bắt giữ Hitler vào thời điểm Quốc trưởng Đức ra lệnh tấn công Tiệp Khắc. Không thể giải thích được: Chính quyền Anh khi đó không chỉ từ chối giúp đỡ phong trào chống Hitler mà còn làm phá sản các kế hoạch của phong trào này.
Trong bài luận về giai đoạn 1938 này, tác giả Anh Michael McMenamin kể: "Về mặt lịch sử, không có nghi ngờ gì về việc phong trào kháng chiến Đức đã liên tục cảnh báo người Anh về ý đồ của Hitler muốn xâm lược Tiệp Khắc vào tháng 9/1938... Tuy nhiên, để đáp lại, chính phủ của Thủ tướng Anh khi đó là Chamberlain đã thực hiện mọi bước đi ngoại giao có thể để... phá hoại phe đối lập với Hitler".
Trích dẫn các nguồn tài liệu chính thức, tác giả McMenamin viết: "Thay vì công bố việc Hitler xâm lược châu Âu, vào ngày 28/9/1938, ông Chamberlain "đề xuất [với Quốc trưởng Đức] một hội nghị 5 bên giữa Anh, Đức, Tiệp Khắc, Pháp, và Italy, trong đó Chamberlain bảo đảm với Hitler rằng nước Đức có thể "nhận ngay tất cả những thứ thiết yếu mà không phải phát động chiến tranh". Tác giả này cho biết thêm, Chamberlain cũng nhắm mắt làm ngơ trước thực tế Đức đã loại bỏ Tiệp Khắc ra khỏi hội nghị này.
Tác giả Menamin nhấn mạnh, sau khi 4 quốc gia còn lại nhất trí chấp nhận việc Đức chiếm vùng Sudetenland của Tiệp Khắc trước bất kỳ một cuộc trưng cầu dân ý nào và cưỡng chế người Tiệp Khắc tuân theo, Chamberlain và Hitler đã ký bản Thỏa thuận Không Xâm lược lẫn nhau giữa Anh và Đức.
Cũng thú vị không kém, Giáo sư Carley thuật lại rằng trong cuộc khủng hoảng Tiệp Khắc, Ba Lan ("nạn nhân" tự xưng của Hiệp ước Molotov-Ribbentrop) yêu cầu rằng nếu "Hitler chuẩn bị chiếm vùng lãnh thổ Sudeten thì Ba Lan cũng phải có phần là khu Teschen (cũng ở Tiệp Khắc). Nói cách khác, nếu Hitler được gắp khúc thịt, thì người Ba Lan chí ít cũng phải được xơi bìa đậu".
Và như vậy, cây bút Nga Ekaterina Blinova hỏi xoáy: Ai câu kết với ai đây? Ai mới là kẻ phản bội đây?
Biến Hiệp ước Molotov-Ribbentrop thành ác quỷ
Theo Andrei Fursov, ở Munich 4 nước nói trên đã tạo ra một "dạng khối quân sự tiền thân của NATO" thực sự nhằm chống lại Liên Xô. Cơ sở công nghiệp của Tiệp Khắc được nhắm tới để hỗ trợ cho việc phát triển sức mạnh quân sự Đức và bảo đảm nước Đức đủ khả năng mở một cuộc chiến tranh lớn chống lại "tụi Bolshevik" ở phía Đông, nhằm mở rộng không gian sinh tồn của dân tộc Đức. Và giới tinh hoa châu Âu rất khoái ý tưởng về một cuộc chiến như thế, họ mong chờ cuộc chiến này sẽ làm kiệt sức cả Đức và Nga.
Dưới ánh sáng của các sự kiện này, nước cờ duy nhất để phá hoại kế hoạch đó và làm trì hoãn việc thực hiện nó là hoàn tất một hiệp ước không xâm lược lẫn nhau giữa Liên Xô và Đức, tương tự như các hiệp ước giữa Đức và các nước châu Âu. Ngoài ra, việc hòa hoãn này còn giúp Liên Xô có thời gian tích trữ các nguồn lực cần thiết để đối phó với một cuộc xâm lược hung tàn không thể tránh khỏi từ phía Tây.
Michael Jabara Carley dẫn lời chính trị gia Winston Churchill (về sau là Thủ tướng Anh) phát biểu vào ngày 1/10/1939 trong một cuộc phỏng vấn với hãng phát thanh quốc gia Anh rằng hành động của Liên Xô "rõ ràng là cần thiết cho sự an toàn của Nga trước hiểm họa Quốc xã".
Nếu vậy thì tại sao phương Tây hiện nay lại luôn cố gắng vẽ ra một bức tranh ác quỷ về Hiệp ước Không Xâm lược lẫn nhau Xô-Đức?
Giáo sư Carley nhận xét rằng đây là nỗ lực vô vọng của phương Tây muốn tẩy rửa các lỗi lầm nghiêm trọng vào những năm 1930, đó là việc họ không thể (hay không muốn) chặn đứng sự trỗi dậy của nước Đức Quốc xã và thiết lập một liên minh chống Hitler vào đầu thập niên 1930.
Giáo sư Carley nhấn mạnh rằng trùm phát xít Hitler khơi mào Thế chiến 2, còn Anh liên tục khước từ các đề xuất của Liên Xô về an ninh tập thể. Ông nói, Anh thậm chí còn ép Pháp làm những điều tương tự.
Nhận xét: Khi đó: "Phương Tây giúp Hitler chống lại Liên Xô như thế nào?" Bây giờ: "Phương Tây giúp khủng bố chống lại Nga như thế nào?"
Tổng thống Kennedy và em trai Robert Kennedy bị sát hại bởi giới An ninh - Quân sự Mỹ
Giới truyền thông đĩ điếm, như tờ Telegraph
của Anh, đã dành nhiều công sức phản bác những tài liệu vạch trần các
âm mưu của chính phủ. Ví dụ, hàng ngàn kiến trúc sư địa ốc cao tầng, các
kỹ sư xây dựng cấu trúc, các nhà vật lý, các nhà hóa học nano, các
chuyên gia hủy phá, những nhân viên cứu hộ đầu tiên tại hiện trường, các
phi công quân sự và dân sự và các cựu quan chức chính phủ đã cung cấp
vô số bằng chứng rằng bản tường trình chính thức về sự kiện 11/9 của nhà
nước Mỹ là một câu chuyện cổ tích hư cấu mâu thuẫn đối nghịch với tất
cả các bằng chứng và các định luật vật lý học, nhưng bọn báo chí đĩ điếm
vẫn bác bỏ, cho đó chỉ là những "thuyết âm mưu".
Cũng tương tự như vậy, từng có những người, chẳng hạn như ông James W. Douglass, đã đưa ra luận điểm chứng minh không có chút khe hở nào rằng Tổng thống John F. Kennedy không bị ám sát bởi Oswald mà bởi chính giới An ninh Quân sự chống cộng hoang tưởng của ông ta, và họ cũng bị bác bỏ cho là những thuyết âm mưu.
Báo cáo của Ủy ban Tường trình sự kiện 9/11 và báo cáo của Ủy ban Warren (điều tra sự kiện ám sát tổng thống Kennedy) là những trò bưng bít giấu giếm. Phó tổng thống Dick Cheney và đám tân bảo thủ mà ông ta tài trợ cần một sự kiện "Trân Châu Cảng mới" để bắt đầu các cuộc tấn công quân sự vào các quốc gia vùng Trung Đông đang có những chính sách đối ngoại độc lập thay vì làm chư hầu cho Mỹ / Israel. Sự kiện 11/9 chính là màn "Trân Châu Cảng mới" được dàn dựng của chúng và sự thật này phải được che đậy đi khi các gia đình nạn nhân vẫn khăng khăng tiếp tục đòi mở một cuộc điều tra vào sự kiện 9/11 và không thể bị mua chuộc bằng những số tiền khổng lồ.
Cũng tương tự như vậy, Ủy ban Warren đã không có lựa chọn nào hơn là che đậy đi sự thật phũ phàng rằng một tổng thống được dân chúng yêu mến của Mỹ, John F. Kennedy, đã bị sát hại bởi chính Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội, Cục Tình báo CIA và Bộ Mật vụ của Mỹ bởi vì ông ta bị một nhóm quan chức chống cộng hoang tưởng cho là đã "mềm yếu với cộng sản" và do đó là mối đe dọa cho an ninh của Hoa Kỳ. Chiến tranh lạnh đang diễn ra ở thời điểm đó, và Uỷ ban Warren không thể buộc tội những kẻ chịu trách nhiệm mà không đánh mất niềm tin của dân chúng Mỹ vào hệ thống cơ quan quân sự và an ninh của Mỹ.
Dù vậy, bất cứ ai hiểu về vụ án hư cấu đổ tội cho Oswald đều biết chuyện gì đã xảy ra. Một trong những người này chính là Bộ Trưởng Tư Pháp Robert Kennedy, em trai của JFK.
Bobby Kennedy hiểu rõ tình hình. Ông biết rằng là một thành viên của chính quyền đang cố ý che giấu, ông không thể làm gì được. Tuy nhiên, ông biết rằng, nếu ông thắng cử chức tổng thống Mỹ, thì ông sẽ đủ khả năng bắt những tên quan chức an ninh nhúng tay vào cuộc ám sát JFK chịu trách nhiệm về tội ác của chúng. Anh trai của ông từng nói với ông rằng sau khi tái đắc cử, anh trai của ông sẽ "đập tan CIA thành hàng nghìn mảnh." Khi chiến tranh Việt Nam làm tiêu tan vị thế của Tổng thống Lyndon Johnson, Bobby Kennedy hiện rõ là vị tổng thống kế tiếp của nước Mỹ.
Bobby Kennedy bị ám sát ngay vào buổi tối khi ông ta thắng cử chính thức trở thành ứng viên tổng thống cho đảng Dân Chủ tại California. Sirhan Sirhan bị đổ tội. Anh ta đứng ở trước Kennedy. Anh ta cầm khẩu súng lục có 8 viên đạn, và đã bắn. Anh ta bắn trúng Paul Schrade, người đứng cạnh Robert Kennedy. Nhưng anh ta không bắn trúng Kennedy. Kennedy, theo các bằng chứng khám nghiệm thi thể và những nhân chứng tại hiện trường, đã bị giết chết bởi những viên đạn bắn vào sau lưng và sau đầu của ông.
Điều này được khẳng định với tôi từ nhiều năm trước bởi một nhà báo uy tín kiêm nhà sản xuất phim tài liệu, người đã đứng ngay phía sau Robert Kennedy khi ông bị bắn chết. Ông nói với tôi rằng ông cảm thấy được viên đạn bắn trúng Kennedy đi ngang qua mang tai mình và thấy nó trúng đích. Ông đã viết một bài báo cáo đầy đủ cho FBI và bất chấp uy tín của ông, ông không bao giờ được liên lạc bởi nhóm điều tra.
Giờ đây 48 năm sau, vào thứ Tư tuần trước, Paul Shrade đã đưa ra bằng chứng chắc như đinh đóng cột tại phiên tòa ân xá Sirhan Sirhan, người nay đã 71 tuổi, rằng Robert Kennedy đã bị bắn bởi một người khác từ phía sau, chứ không phải từ phía trước, nơi Sirhan Sirhan đang đứng.
Bạn có thể đọc lời tuyên bố của Paul Shrade ở đây. Và tất nhiên, bọn truyền thông đĩ điếm sẽ nói rằng Paul Shrade, người bản thân cũng bị bắn khi Kennedy bị ám sát, là một nhân vật với "thuyết âm mưu". Hãy nhớ rằng: một nhân vật với thuyết âm mưu là bất cứ ai, dựa trên cơ sở bằng chứng sắt thép, dám thách thức một chính phủ đang tìm cách đổ lỗi cho một nhân vật thứ ba vô tội về tội ác của chính họ.
Vào thời điểm vụ ám sát Robert Kennedy, cơ quan Tình báo Mỹ CIA đang thực hành thí nghiệm điều khiển tâm não con người (Project MKUltra) Các chuyên gia cho rằng Sirhan Sirhan là một trong những người nằm dưới sự điều khiển tâm não của CIA. Điều này giải thích tại sao Sirhan Sirhan không có tí ký ức gì về vụ ám sát.
Tổng thống John F. Kennedy từng vấp phải mức độ bất phục tùng cao của Bộ Tổng tham mưu Quân đội Mỹ dưới quyền Tham mưu trưởng Lyman Lemnitzer. Trong một cuộc họp tại tòa Bạch Ốc, Lemnitzer đã tỏ thái độ khinh thường tổng thống. Khi Lemnitzer nêu ra Dự án Northwoods với dự định sẽ bắn giết công dân Mỹ trên các đường phố của Mỹ và cho nổ tung các máy bay dân sự Mỹ trên bầu trời, rồi đổ tội ác này lên Castro của Cuba để Mỹ có thể xâm lược và thực hiện việc "thay đổi chế độ", một thuật ngữ phổ biến của chính quyền George W. Bush, Tổng thống Kennedy lập tức dẹp bỏ chức vị Tổng tham mưu trưởng của Lemnitzer và thuyên chuyển hắn tới Âu châu trong chức vụ chỉ huy trưởng NATO.
Kennedy không biết gì về Chiến dịch Gladio, một chương trình ám sát ở Âu châu do NATO và CIA thực hiện. Khối cộng Sản đã bị đổ tội cho những vụ đánh bom giết hại thường dân ở các trạm xe lửa của Chiến dịch Gladio để làm xói mòn ảnh hưởng chính trị của khối cộng sản, nhất là ở Ý. Oái oăm thay, cách loại trừ Lemnitzer của Kennedy đã đặt Lemnitzer phụ trách đúng cái chương trình ám sát đã tạo cơ hội cho Lemnitzer một phương cách để loại trừ chính John F. Kennedy.
Bất cứ ai nghĩ rằng các chính phủ dân chủ sẽ không giết hại công dân của họ thì rõ là chẳng am hiểu gì cả. Nếu, hỡi quý độc giả thân mến, bạn là một trong những người thiếu hiểu biết cả tin này, xin bạn hãy truy cập vào Internet và làm quen dần, ví dụ với Chiến dịch Operation Northwoods và Chiến dịch Operation Gladio—-Operation Gladio: CIA Network of "Stay Behind" Secret Armies
Dịch bởi Đông Sơn Phóng / Phi Quyền Chính
Cũng tương tự như vậy, từng có những người, chẳng hạn như ông James W. Douglass, đã đưa ra luận điểm chứng minh không có chút khe hở nào rằng Tổng thống John F. Kennedy không bị ám sát bởi Oswald mà bởi chính giới An ninh Quân sự chống cộng hoang tưởng của ông ta, và họ cũng bị bác bỏ cho là những thuyết âm mưu.
Báo cáo của Ủy ban Tường trình sự kiện 9/11 và báo cáo của Ủy ban Warren (điều tra sự kiện ám sát tổng thống Kennedy) là những trò bưng bít giấu giếm. Phó tổng thống Dick Cheney và đám tân bảo thủ mà ông ta tài trợ cần một sự kiện "Trân Châu Cảng mới" để bắt đầu các cuộc tấn công quân sự vào các quốc gia vùng Trung Đông đang có những chính sách đối ngoại độc lập thay vì làm chư hầu cho Mỹ / Israel. Sự kiện 11/9 chính là màn "Trân Châu Cảng mới" được dàn dựng của chúng và sự thật này phải được che đậy đi khi các gia đình nạn nhân vẫn khăng khăng tiếp tục đòi mở một cuộc điều tra vào sự kiện 9/11 và không thể bị mua chuộc bằng những số tiền khổng lồ.
Cũng tương tự như vậy, Ủy ban Warren đã không có lựa chọn nào hơn là che đậy đi sự thật phũ phàng rằng một tổng thống được dân chúng yêu mến của Mỹ, John F. Kennedy, đã bị sát hại bởi chính Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội, Cục Tình báo CIA và Bộ Mật vụ của Mỹ bởi vì ông ta bị một nhóm quan chức chống cộng hoang tưởng cho là đã "mềm yếu với cộng sản" và do đó là mối đe dọa cho an ninh của Hoa Kỳ. Chiến tranh lạnh đang diễn ra ở thời điểm đó, và Uỷ ban Warren không thể buộc tội những kẻ chịu trách nhiệm mà không đánh mất niềm tin của dân chúng Mỹ vào hệ thống cơ quan quân sự và an ninh của Mỹ.
Dù vậy, bất cứ ai hiểu về vụ án hư cấu đổ tội cho Oswald đều biết chuyện gì đã xảy ra. Một trong những người này chính là Bộ Trưởng Tư Pháp Robert Kennedy, em trai của JFK.
Bobby Kennedy hiểu rõ tình hình. Ông biết rằng là một thành viên của chính quyền đang cố ý che giấu, ông không thể làm gì được. Tuy nhiên, ông biết rằng, nếu ông thắng cử chức tổng thống Mỹ, thì ông sẽ đủ khả năng bắt những tên quan chức an ninh nhúng tay vào cuộc ám sát JFK chịu trách nhiệm về tội ác của chúng. Anh trai của ông từng nói với ông rằng sau khi tái đắc cử, anh trai của ông sẽ "đập tan CIA thành hàng nghìn mảnh." Khi chiến tranh Việt Nam làm tiêu tan vị thế của Tổng thống Lyndon Johnson, Bobby Kennedy hiện rõ là vị tổng thống kế tiếp của nước Mỹ.
Bobby Kennedy bị ám sát ngay vào buổi tối khi ông ta thắng cử chính thức trở thành ứng viên tổng thống cho đảng Dân Chủ tại California. Sirhan Sirhan bị đổ tội. Anh ta đứng ở trước Kennedy. Anh ta cầm khẩu súng lục có 8 viên đạn, và đã bắn. Anh ta bắn trúng Paul Schrade, người đứng cạnh Robert Kennedy. Nhưng anh ta không bắn trúng Kennedy. Kennedy, theo các bằng chứng khám nghiệm thi thể và những nhân chứng tại hiện trường, đã bị giết chết bởi những viên đạn bắn vào sau lưng và sau đầu của ông.
Điều này được khẳng định với tôi từ nhiều năm trước bởi một nhà báo uy tín kiêm nhà sản xuất phim tài liệu, người đã đứng ngay phía sau Robert Kennedy khi ông bị bắn chết. Ông nói với tôi rằng ông cảm thấy được viên đạn bắn trúng Kennedy đi ngang qua mang tai mình và thấy nó trúng đích. Ông đã viết một bài báo cáo đầy đủ cho FBI và bất chấp uy tín của ông, ông không bao giờ được liên lạc bởi nhóm điều tra.
Giờ đây 48 năm sau, vào thứ Tư tuần trước, Paul Shrade đã đưa ra bằng chứng chắc như đinh đóng cột tại phiên tòa ân xá Sirhan Sirhan, người nay đã 71 tuổi, rằng Robert Kennedy đã bị bắn bởi một người khác từ phía sau, chứ không phải từ phía trước, nơi Sirhan Sirhan đang đứng.
Bạn có thể đọc lời tuyên bố của Paul Shrade ở đây. Và tất nhiên, bọn truyền thông đĩ điếm sẽ nói rằng Paul Shrade, người bản thân cũng bị bắn khi Kennedy bị ám sát, là một nhân vật với "thuyết âm mưu". Hãy nhớ rằng: một nhân vật với thuyết âm mưu là bất cứ ai, dựa trên cơ sở bằng chứng sắt thép, dám thách thức một chính phủ đang tìm cách đổ lỗi cho một nhân vật thứ ba vô tội về tội ác của chính họ.
Vào thời điểm vụ ám sát Robert Kennedy, cơ quan Tình báo Mỹ CIA đang thực hành thí nghiệm điều khiển tâm não con người (Project MKUltra) Các chuyên gia cho rằng Sirhan Sirhan là một trong những người nằm dưới sự điều khiển tâm não của CIA. Điều này giải thích tại sao Sirhan Sirhan không có tí ký ức gì về vụ ám sát.
Tổng thống John F. Kennedy từng vấp phải mức độ bất phục tùng cao của Bộ Tổng tham mưu Quân đội Mỹ dưới quyền Tham mưu trưởng Lyman Lemnitzer. Trong một cuộc họp tại tòa Bạch Ốc, Lemnitzer đã tỏ thái độ khinh thường tổng thống. Khi Lemnitzer nêu ra Dự án Northwoods với dự định sẽ bắn giết công dân Mỹ trên các đường phố của Mỹ và cho nổ tung các máy bay dân sự Mỹ trên bầu trời, rồi đổ tội ác này lên Castro của Cuba để Mỹ có thể xâm lược và thực hiện việc "thay đổi chế độ", một thuật ngữ phổ biến của chính quyền George W. Bush, Tổng thống Kennedy lập tức dẹp bỏ chức vị Tổng tham mưu trưởng của Lemnitzer và thuyên chuyển hắn tới Âu châu trong chức vụ chỉ huy trưởng NATO.
Kennedy không biết gì về Chiến dịch Gladio, một chương trình ám sát ở Âu châu do NATO và CIA thực hiện. Khối cộng Sản đã bị đổ tội cho những vụ đánh bom giết hại thường dân ở các trạm xe lửa của Chiến dịch Gladio để làm xói mòn ảnh hưởng chính trị của khối cộng sản, nhất là ở Ý. Oái oăm thay, cách loại trừ Lemnitzer của Kennedy đã đặt Lemnitzer phụ trách đúng cái chương trình ám sát đã tạo cơ hội cho Lemnitzer một phương cách để loại trừ chính John F. Kennedy.
Bất cứ ai nghĩ rằng các chính phủ dân chủ sẽ không giết hại công dân của họ thì rõ là chẳng am hiểu gì cả. Nếu, hỡi quý độc giả thân mến, bạn là một trong những người thiếu hiểu biết cả tin này, xin bạn hãy truy cập vào Internet và làm quen dần, ví dụ với Chiến dịch Operation Northwoods và Chiến dịch Operation Gladio—-Operation Gladio: CIA Network of "Stay Behind" Secret Armies
Dịch bởi Đông Sơn Phóng / Phi Quyền Chính
Kinh ngạc lý do Đức xâm lược Liên Xô thành công (1)
Cùng War History Online
khám phá những sự thật ít người biết về cách phát xít Đức xâm lược thành
công Liên Xô giai đoạn đầu cuộc chiến tranh thế giới 2.
Xâm lược Liên Xô
là mục tiêu lớn nhất của trùm phát xít Hitler trong Chiến tranh Thế
giới thứ II. Thậm chí hắn ta còn kỳ vọng đánh bại Moscow chỉ trong ba
tháng bằng học thuyết chiến tranh chớp nhoáng Blitzkrieg nổi tiếng của
quân Đức.
Ngày 18/12/1940,
Hitler chính thức ký lệnh phát động chiến dịch quân sự chống lại Liên
Xô và chiến dịch này do đích thân ông ta chỉ huy. Với mục tiêu Đức xâm lược Liên Xô hoàn toàn chỉ trong một chiến dịch duy nhất.
Đến tháng
2/1941, tình báo Anh và Mỹ đã phát hiện ra kế hoạch này của Đức và ngay
lập tức thông báo với Liên Xô nhằm khuyên Iosif Stalin – lãnh đạo tối
cao Liên Xô lúc đó thực hiện tấn công phủ đầu Đức trước tại Ba Lan. Tuy
nhiên Stalin lại không tin lời đồng minh và tin vào hiệp ước cấm xâm
phạm được Đức và Liên Xô ký trước đó vào năm 1939.
Hải quân Đức cũng góp phần đáng kể vào những chiến thắng đầu tiên trong chiến dịch xâm lược Liên Xô của Hitler, khi giữ chân hạm đội tàu chiến Liên Xô ở vùng Biển Baltic không cho chúng tiến lên phía tây.
Xâm lược Liên Xô
là chiến dịch quân sự lớn nhất của Đức trong Chiến tranh Thế giới thứ
II với sự tham gia của 3 triệu quân với 152 đơn vị, 13 sư đoàn cơ giới
cùng 17 sư đoàn Panzer.
Bên cạnh đó quân Đức còn điều động 625.000 ngựa và 600.000 xe cơ giới tham gia chiến dịch quân sự này.
Trong giai đoạn đầu của cuộc chiến, quân Đức được trang bị 3.350 xe tăng, 7.146 khẩu pháo các loại và 1.950 máy bay.
Và có một điều
khá ngạc nhiên là Phần Lan cũng tham gia vào đạo quân xâm lược Liên Xô
của Đức với 17 sư đoàn và 2 lữ đoàn. Một trong những nguyên nhân khiến
Phần Lan hành động như vậy là do Liên Xô từng xâm lược đẫm máu quốc gia
Bắc Âu này vào năm 1939.
Một quốc gia
khác là Romania cũng góp quân vào chiến dịch xâm lược Liên Xô của Đức
với 14 sư đoàn, 7 lữ đoàn và 1 sư đoàn Panzer.
Đại sức Đức tại
Moscow tuyên bố chiến tranh với Liên Xô vào ngày 22/6/1941 với lý do
Liên Xô vi phạm các điều khoản trong hiệp ước Xô-Đức.
Khu vực biên giới Liên Xô mà Đức tiến hành xâm lược kéo dài từ tận Biển Baltic đến Biển Đen với hơn 3.000km chiều dài.
Với ba cánh quân
chính gồm Tập đoàn quân phía Nam do Thống chế Gerd von Rundstedt chỉ
huy, Tập đoàn quân phía Bắc của Thống chế Wilhelm von Leeb và Tập đoàn
quân Trung tâm do Thống chế Fedor von Bock đứng đầu.
Và chiến dịch
xâm lược Liên Xô được Hitler đặt tên là Barbarossa theo tên một trong
những người sáng lập ra Đệ nhất Đế chế Đức vào thế kỷ 12.
Dù huy động tới
hơn 3 triệu lính nhưng trên thực tế chỉ có khoảng 20% quân lực của Đức
tiến vào bên trong lãnh thổ Liên Xô trong khi đó số quân còn lại thì di
chuyển theo phía sau do không theo kịp tốc độ hành quân của học thuyết
Blitzkrieg.
Stalin lúc đó
hoàn toàn sốc trước kế hoạch xâm lược Liên Xô của Đức, thậm chí ông ta
đã không nói bất cứ lời nào trong 11 ngày đầu của cuộc chiến.
Và ở phía bên
kia chiến tuyến Liên Xô sở hữu số xe tăng và máy bay chiến đấu nhiều gấp
3 lần Đức nhưng đa phần chúng đều đã lỗi thời và không có đủ khả năng
đối đầu với các sư đoàn chủ lực của Đức.
Nguồn : Kienthuc.net.vn
Dù có trong tay những chiếc xe tăng tốt nhất thời bấy giờ, như T-34 mạnh
hơn cả các loại tăng Panzer Đức thời bấy giờ. Thế nhưng, việc vận hành
cỗ tăng mới gặp nhiều vấn đề đã khiến các cánh quân Liên Xô đại bại hoàn
Vào thời điểm đầu của chiến dịch Đức xâm lược Liên Xô
Barbarossa, Liên Xô có khoảng 150 đơn vị quân sự bố trí dọc khu vực biên
giới phía tây. Quân chủ lực của cả hai bên ngay lập tức chạm trán với
nhau ngay sau khi quân Đức vừa vượt qua biên giới.
Tuy nhiên chỉ sau hai tuần giao tranh dọc khu vực biên giới Liên Xô các
tướng lĩnh Đức đã ngay lập tức tin vào một chiến thắng dễ dàng trước
Liên Xô khi quân chủ lực của Moscow bị đánh bại hoàn toàn khi cuộc chiến
mới chỉ bắt đầu.
Với tốc độ hành quân nhanh chưa từng có đã giúp cho quân Đức kịp giành
được số lương thực trong vụ thu hoạch mùa hè ở Ukraine củng cố đáng kể
nguồn cung lương thực dành cho hàng triệu quân, trong khi đó Liên Xô
chịu tổn thất nặng nề.
Trong các trận đánh tại Minsk và Smolensk Đức bắt sống hơn 600.000 tù binh Liên Xô, con số này ở Kiev lên tới 665.000 người.
Chỉ sau hơn 1 tháng bắt đầu chiến dịch Barbarossa Đức đã chiếm được từ Liên Xô diện tích lãnh thổ gấp hai lần diện tích nước Pháp.
Đến giữa tháng 8/1941 theo thông kê đã có khoảng 200 đơn vị vũ trang
Liên Xô tham gia chiến tranh với số quân số đông hơn Đức gấp nhiều lần.
Nhưng yếu tố con người không thôi cũng chưa đủ để Liên Xô có thể đánh
bại đại quân của Đức.
Một trong những nguyên nhân nữa khiến Quân đội Liên Xô
đại bại trước quân Đức là họ không được chỉ huy bởi các tướng lĩnh
giỏi, khi hầu hết các đại nguyên soái lập quốc của Liên Xô lúc đó đều đã
bị Stalin bức hại trong cuộc thanh trừng vào năm 1930.
Để có thể tiếp tục duy trì cuộc chiến Liên Xô đã di chuyển hầu hết các
nhà máy chế tạo vũ khí của nước này về vùng Viễn Đông nằm cách xa hoàn
toàn chiến trường phía tây và ngoài tầm với của máy bay ném bom Đức.



Nhận xét
Đăng nhận xét