BÀI VIẾT HAY 78
(ĐC sưu tầm trên NET)
THÌ RA, DẤU HIỆU TRỞ CỜ CỦA ÔNG PHAN HUY LÊ ĐÃ BỊ PHÁT HIỆN TỪ LÂU
Lời dẫn của Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn:
Cần
nhìn nhận lịch sử một cách khách quan, tránh dựng chuyện để cho mình có công
phát hiện như kiểu: " lần đầu chúng tôi đưa vào" hay "chúng
tôi thay đổi cụm từ này .... Bằng cụm từ khác chính xác hơn" mà vừa qua một
số nhà sử học hay nói song thực chất chẳng có gì mới mà chỉ gây hiểu lầm, hiểu
sai về bản chất sự việc hết sức nguy hiểm. Tôi xin đăng bài viết của Nguyễn
Minh Tâm đăng trên báo Văn nghệ TP HCM để mọi người nghiên cứu. Theo tôi đây là
bài viết phản biện hay.
Bổ
sung lời dẫn của Hoàng Ngân Thương:
Bùi
Diễm- tay chân thân tín của Phan Huy Quát, cách đây 30 năm, dù muốn nhưng không
chùi được vết nhọ ô nhục "ngụy" trên mặt anh trai ông Phan Huy Lê. (Mời xem bài ANH TRAI ÔNG PHAN HUY LÊ-
THỦ TƯỚNG VNCH PHAN HUY QUÁT ĐÃ “RA THÔNG CÁO” MỜI QUÂN ĐỘI MỸ VÀO MIỀN NAM NHƯ
THẾ NÀO?). Ông Quát, dù là "thủ lãnh" tối cao tại cái gọi là VNCH, vậy mà thằng
Mỹ nó muốn đưa quân đội của nó vô bắn giết đồng bào VN, nó có thèm hỏi ý kiến
đâu?
Ông
Nguyễn Ánh còn phải lạy lục bọn Pháp nó mới đưa quân vào. Còn ông Phan Huy Quát
thì khác: Thằng Mỹ nó đưa quân vào không thèm hỏi ý kiến Quát. Vậy mà sau khi
quân Mỹ đã vào m Nam VN rồi, Quát vấn phải ký Thông cáo chung theo lệnh Mỹ, rằng
VNCH "mời" Mỹ vào!
Vậy
"Thủ tướng VNCH" Phan Huy Quát còn phản động hơn cả tên phản động
Nguyễn Ánh.
Điều đó lý giải tại sao Phan Huy Lê muốn bào chữa cho cả Nguyễn Ánh!
Điều đó lý giải tại sao Phan Huy Lê muốn bào chữa cho cả Nguyễn Ánh!
ĐỪNG
MƯỢN DANH KHOA HỌC ĐỂ ĐÁNH TRÁO LỊCH SỬ
Sáng
22-2-2017 tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức buổi thông tin khoa học
“Một số thành tựu mới trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam” do Giáo sư – Nhà giáo
Nhân dân Phan Huy Lê – Chủ tịch danh dự Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, trình
bày. Xin nhớ đây chỉ là một buổi báo cáo “Thông tin khoa học”. Nó không phải là
một cuộc tọa đàm, một cuộc hội thảo, càng không phải là một hội nghị khoa học để
ở đó, người ta có thể nêu lên những kết luận.
Về
ý kiến của GS-NGND Phan Huy Lê, báo chí đưa tin rất loạn xạ, hàng chục tờ báo
điện tử đã đăng nhiều bài và hầu như chỉ có một cái tít giống nhau: “Giáo sư
Phan Huy Lê đề nghị công nhận công lao của nhà Nguyễn”. Họ giật tít như vậy
cũng có lý do, bởi trong buổi thông tin khoa học này, ông Phan Huy Lê đã nói:
“Một trong những công lao rất lớn của chúa Nguyễn và nhà Nguyễn là mở mang bờ
cõi, thống nhất đất nước, khai phá đồng bằng sông Cửu Long. Năm 1757, nhà Nguyễn
đã định hình được lãnh thổ VN mà về cơ bản gần giống như lãnh thổ VN hiện nay từ
phía Bắc vào Cà Mau, từ Tây Nguyên ra biển, bao gồm cả vùng biển, các đảo ven bờ
và hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa. Nhà Nguyễn có công rất lớn trong việc
hình thành và định hình một nhà nước thống nhất và xác lập lãnh thổ – không
gian sinh tồn của nước Việt Nam. Công lao nhà Nguyễn về phương diện này không
thể chối cãi. Đã đến lúc cần nhìn rõ công, tội của nhà Nguyễn”.
Vậy thực
hư của vấn đề ra sao?
1.
Chúa Nguyễn, vua Nguyễn và nhà/triều Nguyễn – phải rạch ròi khái niệm
Ai
cũng biết rằng trong lịch sử Việt Nam, Nhà Nguyễn chỉ là một vương triều phong
kiến hoàn chỉnh, có toàn vẹn lãnh thổ, có hệ thống chính trị của mình cai trị
trên toàn bộ lãnh thổ ấy, có địa vị nhà nước thống nhất và duy nhất để bang
giao với nước ngoài kể từ năm 1802, khi Nguyễn Ánh hoàn thành việc lật đổ Nhà
Tây Sơn, triều đại đã trị vì trước đó để lên nắm quyền cai trị Đại Việt.
Còn
trước thời điểm ấy, Nhà Tây Sơn, bằng cách dựa vào ý chí của nhân dân, huy động
sức mạnh của toàn dân, trong 16 năm (1771-1787) đã lần lượt đánh dẹp các thế lực
phong kiến cát cứ ở Đàng Ngoài (Vua Lê – Chúa Trịnh) và Đàng Trong (Chúa Nguyễn),
thu giang sơn Việt Nam về một mối, đất nước thoát khỏi cảnh bị chia cắt Bắc –
Nam trong suốt 148 năm (1627-1775). Trong thời gian 148 năm chia cắt Đàng Ngoài
– Đàng Trong ấy, các thế lực phong kiến họ Trịnh (Đàng Ngoài) và họ Nguyễn
(Đàng Trong) đã gây ra 8 cuộc nội chiến lớn và hàng trăm cuộc xung đột vũ trang
nhỏ. Có những cuộc chiến kéo dài hàng chục năm. Cuộc chiến Trịnh – Nguyễn đã
làm hao tổn không biết bao nhiêu sức người, sức của của nhân dân, triệt phá
hàng loạt đồng ruộng, xóm làng.
Tượng Vua Quang Trung
Trong
quá trình xây dựng đất nước từ đống hoang tàn, đổ nát, hậu quả cuộc chiến kéo
dài gần một thế kỷ rưỡi, nhà Tây Sơn còn hai lần đánh bại hai thế lực phong kiến
hùng mạnh xâm lược Đại Việt là triều đình Xiêm La (Thái Lan) ở phía Nam và Nhà
Thanh ở phía Bắc. Điểm đặc sắc là trong cả hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm
do Nhà Tây Sơn tiến hành, quân xâm lược đều có sự tiếp tay của những kẻ phản
dân, hại nước. Đó là Lê Chiêu Thống cầu viện giặc Thanh và Nguyễn Ánh cầu viện
giặc Xiêm La.
Trong
lập luận của mình, ông Phan Huy Lê đã đánh đồng các Chúa Nguyễn, một thế lực
phong kiến cát cứ ở phía Nam mà người Việt Nam cũng như lịch sử Việt Nam chưa từng
công nhận là một nhà nước hoàn chỉnh ngang hàng với một vương triều phong kiến
với Nhà/Triều Nguyễn. Bởi vì về danh nghĩa, đứng trên cả hai thế lực phong kiến
cát cứ này còn có Nhà Lê trung hưng, và cả hai thế lực này đều trương khẩu hiệu
chính trị “Phò Lê”. Bằng việc này, ông Phan Huy Lê đã phủ nhận sự thống nhất
lãnh thổ của Việt Nam, công nhận tính hợp pháp và hợp lý của việc chia cắt đất
nước. Đó là sai lầm về đạo đức nghề nghiệp không thể tha thứ.
Điểm
thứ hai là công lao mở cõi được quy cho cái gọi là “Nhà Nguyễn” mà theo ý của
ông Phan Huy Lê, nó bao gồm cả các chúa Nguyễn và các vua Nguyễn. Cho đến nay,
công lao mở cõi về phương Nam là công của 9 đời Chúa Nguyễn. Công lao thống nhất
đất nước, xóa bỏ sự chia cắt Đàng Trong – Đàng Ngoài là của Nhà Tây Sơn, Nguyễn
Ánh chỉ tọa hưởng kỳ thành. Là một nhà sử học gạo cội, liệu ông Phan Huy Lê có
thể phân biệt được đâu là các vua, đâu là các lãnh chúa phong kiến không?
Với
việc gộp cả 9 đời Chúa Nguyễn có công mở mang bờ cõi với 13 đời Vua Nguyễn,
trong đó có đến 5 ông vua cắt đất cho giặc và cam tâm làm tay sai bán nước cho
giặc, rước voi về giày mồ (Gia Long, Tự Đức, Đồng Khánh, Khải Định, Bảo Đại,
riêng Bảo Đại bán nước 2 lần cho Nhật và cho Pháp); ông Phan Huy Lê đã “trộn phấn
với vôi” để rửa mặt cho các triều đình của Gia Long, Tự Đức, Đồng Khánh, Khải Định
và Bảo Đại.
2. Ý thức về quyền dân tộc tự quyết
Nếu
chỉ xem qua những phát biểu của ông Phan Huy Lê tại buổi thông tin khoa học nói
trên như báo chí đã đăng thì vẫn còn chung chung và chưa rõ ràng. Phải tìm đến
những phát biểu của ông ấy trước đây 9 năm, khi trả lời phỏng vấn của phóng
viên Khánh Linh của báo Vietnamnet, chúng ta mới thấy rõ những ẩn ý của ông ấy.
Trong cuộc phỏng vấn, khi được phóng viên hỏi: “Còn những hạn chế của vương triều
Nguyễn thì sao, thưa GS? Nguyễn Ánh có tội hay không, khi đưa quân Xiêm vào để
chống lại nhà Tây Sơn? Hay vua Tự Đức có bán nước?”; ông Phan Huy Lê đã trả lời:
-
Đúng là trong cuộc đấu tranh chống Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã đưa quân Xiêm vào.
Trước đây có quan điểm cực đoan gọi đây là hành động “cõng rắn cắn gà nhà”, là
“bán nước”. Đúng là không thể biện hộ cho hành động “không sáng” này, cũng có
thể coi là một tì vết trong sự nghiệp của Nguyễn Ánh, nhưng phải nhìn nhận công
bằng. Trong những cuộc đấu tranh bên trong quyết liệt, việc nhờ đến ngoại viện
là chuyện thường xảy ra trong lịch sử. Nhưng điều quan trọng nhất là người cầu
ngoại viện phải giữ được độc lập chủ quyền của dân tộc, đưa lại lợi ích cho đất
nước, còn nếu cầu ngoại viện mà bất lực để mất nước thì có tội lớn. (Bài báo đó
vẫn còn đây: http://vietnamnet.vn/vanhoa/2008/10/808823/)
Đúng
là tận cùng của sự lắt léo. Ông ấy biện hộ rằng: “Trong những cuộc đấu tranh
bên trong quyết liệt, việc nhờ đến ngoại viện là chuyện thường xảy ra trong lịch
sử”. Vậy, ông Phan Huy Lê có thể dùng lập luận này để biện hộ cho việc Trần Ích
Tắc cầu viện giặc Nguyên vào xâm lược nước ta không? Liệu ông có thể dùng lập
luận này để biện hộ cho Trần Thiêm Bình cầu viện giặc Nhà Minh vào xâm lược nước
ta và gây ra thảm cảnh: “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống
dưới hầm tai vạ” không? Liệu ông có thể dùng lập luận ấy để biện hộ cho hành động
cầu viện giặc Thanh vào xâm lược miền Bắc nước ta của Lê Chiêu Thống không? Và
ông có thể dùng lập luận ấy để biện hộ cho Bảo Đại cộng tác với giặc Pháp xâm
lược đất nước ta một lần nữa không? Ông có thể dùng lập luận ấy để biện hộ cho
việc Nguyễn Văn Thiệu kêu gọi Mỹ hãy đem B-52 ném bom cho tan nát Hà Nội vào cuối
năm 1972 được không?
Cuộc
chiến của Nguyễn Ánh chống lại Nhà Tây Sơn và đưa ông ta lên cầm quyền vào năm
1802 thực chất là một cuộc chiến tranh phản cách mạng với sự trợ giúp về tiền bạc,
vũ khí và cả cố vấn quân sự của thực dân Pháp. Về bản chất, sự trợ giúp của người
Pháp cho Nguyễn Ánh là sự can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, vi phạm
thô bạo chủ quyền của Việt Nam (và sau này là lãnh thổ Việt Nam). Vậy mà ông
Phan Huy Lê bảo rằng “Trong những cuộc đấu tranh bên trong quyết liệt, việc nhờ
đến ngoại viện là chuyện thường xảy ra trong lịch sử”. Vậy thì ý thức về độc lập,
chủ quyền của người Việt ở chỗ nào trong con người ông Phan Huy Lê? Vậy thì nhận
thức về quyền tự quyết dân tộc của ông Phan Huy Lê ở đâu?
3. Ai đã không công nhận công lao của các chúa Nguyễn?
Điều
nực cười là trong buổi thông tin khoa học do Ban Tuyên giáo TW tổ chức vừa qua,
ông Phan Huy Lê lại nhắc lại một lần nữa ý kiến của ông ta trong Hội thảo về
nhà Nguyễn tổ chức tại Thanh Hóa năm 2008 rằng: “Cần ghi nhận cả về mặt công
tích lẫn những hạn chế về thời kỳ Chúa Nguyễn và Vua Nguyễn”. Lưu ý là ở Hội thảo
2008, ông Lê còn phân biệt Chúa Nguyễn và Vua Nguyễn. Còn ở buổi thông tin khoa
học vừa qua thì ông ta đã dấn thêm một bước, gọi cả hai là “Nhà Nguyễn”.
Ô
hay? Lịch sử Việt Nam cho đến nay, có tác phẩm nào là không ghi công tích mở
mang bờ cõi cho đất nước ta, phát triển kinh tế Đàng Trong của các chúa Nguyễn
đâu nhỉ? Tôi xin dẫn ra đây mấy đoạn ở trang 333 trong cuốn
“Lịch
sử Việt Nam – Tập 1” do NXB Khoa học xã hội ấn hành năm 1971:
“Đàng
Trong là đất mới khai phá, kinh tế công thương chưa trải qua quá trình lâu dài
như ở Đàng Ngoài. Tuy vậy, vào thế kỷ thứ XVII – XVIII, nền kinh tế đó đã phát
triển khá mạnh mẽ và đạt trình độ không kém gì Đàng Ngoài. Thuận Hóa, Quảng
Nam là nơi tập trung nhiều làng và phường thủ công có tiếng như nghề dệt, gốm,
nấu đường, rèn sắt, đúc đồng… Nghề khai mỏ sắt, mỏ vàng ở miền núi Quảng Nam
cũng khá phát đạt.
Quan
hệ hàng hóa – tiền tệ phát triển có tác dụng mở rộng thị trường địa phương. Rất
nhiều hội chợ mọc lên khắp nơi. Một số thành thị, thương cảng phát triển. Hội
An là thương cảng lớn nhất có quan hệ kinh tế với nhiều vùng… Lúa gạo ở Gia Định
được chở ra bán ở Thuận Hóa và Đồng Nai và hàng thủ công từ Thuận Hóa lại được
buôn vào Gia Định…”
Bản
thân lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam khi nói về vai trò, vị
trí, về công và tội của các chúa Nguyễn và các vua Nguyễn cũng rất công tâm,
công bằng, không thiên vị. Quan điểm của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đối với lịch
sử là rất sòng phẳng, phân minh. Người không hề công kích các chúa Nguyễn. Cùng
với việc kịch liệt phê phán Gia Long và Tự Đức, Người đã từng viết bài trên báo
chí nước ngoài để đề cao tinh thần yêu nước của 3 ông vua thứ 8, thứ 10 và thứ
11 của vương triều nhà Nguyễn là Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân.
Trong
báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản ngày 12-7-1940, Nguyễn Ái Quốc viết: “Năm 1885 vua
Hàm Nghi và năm 1916 vua Duy Tân đã đứng ra lãnh đạo chống Pháp”. Ngày
24-2-1920, Nguyễn Ái Quốc đã nhận được thư của Hoàng thân Vĩnh San (vua Duy
Tân), gửi cho Chủ nhiệm báo L’Humanité về việc đòi độc lập cho Việt Nam. Trung
tuần tháng 3-1920, Nguyễn Ái Quốc gặp hai đồng chí Maxele Cachin và Jan Longé
và báo L’Humanité đã mời Nguyễn Ái Quốc đến trụ sở để bàn về vấn đề này.
Không
chỉ Bác Hồ, trong thế kỷ XX, các đồng chí lãnh đạo lỗi lạc của Đảng, Nhà nước
và Quân đội ta (như Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm
Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp…) cũng đều đánh giá đúng về vương triều nhà Nguyễn,
hoàn toàn nhất trí với quan điểm của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Không ai bài
bác và bôi nhọ thanh danh các chúa Nguyễn. Cũng chẳng có ai phủ nhận sự đóng
góp của triều nhà Nguyễn trong các lĩnh vực phát triển kinh tế, văn hoá và văn
nghệ…
Vậy
thì ông Phan Huy Lê và các đồ đệ của ông còn đòi hỏi cái gì nữa đây?
4. Mượn danh khoa học để thực hiện “diễn biến hòa
bình” trong lĩnh vực nghiên cứu lịch sử
Việc
mượn công lao của các chúa Nguyễn để “rửa mặt” cho Nguyễn Ánh và các vua Nguyễn
như Tự Đức, Đồng Khánh, Khải Định và Bảo Đại thì dứt khoát là không thể được.
Sách
“Lịch sử Việt Nam – Tập 1” do NXB Khoa học xã hội Việt Nam ấn hành năm 1971,
trang 380 đã ghi rõ:
“Từ
cuối thế kỷ XVIII, thực dân Pháp đã lợi dụng cuộc chiến tranh phản cách mạng của
Nguyễn Ánh để can thiệp vào nước ta. Sau khi lên làm vua, Gia Long đã “trả ơn”
bọn xâm lược bằng cách lưu dụng một số người Pháp làm quan lại trong triều và để
cho giáo sĩ người Pháp tự do truyền đạo trong nước. Nhờ đó, bọn chúng đã vận động
Gia Long lập Hoàng tử Cảnh, người chịu ảnh hưởng của Pháp làm thái tử. Số người
Pháp làm quan trong triều giữ liên lạc với chính quyền Pháp. Chúng nhận nhiệm vụ
vận động triều đình Huế ký những điều ước ngoại giao, thương mại có lợi cho chủ
nghĩa tư bản Pháp. Đặc biệt, Hội truyền giáo nước ngoài và bọn gián điệp đội lốt
tôn giáo nấp dưới chiêu bài truyền đạo càng đẩy mạnh hoạt động do thám và gây dựng
cơ sở phản động trong nước ta… Bọn chúng điều tra tình hình mọi mặt của nước
ta, âm mưu phá hoại khối đoàn kết dân tộc, chia rẽ lương – giáo”.
Có
lẽ cần phải nhắc lại rằng, ông Phan Huy Lê chính là 1 trong hơn 100 nhà sử học
Việt Nam khi đó đã tham gia biên soạn bộ “Lịch sử Việt Nam” nói trên. Bản thân
ông ta cũng có 2 tác phẩm viết riêng (các cuốn “Lịch sử chế độ phong kiến Việt
Nam – Tập II” và “Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ) cùng 2
tác phẩm viết chung (các cuốn “Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam – Tập III” và
“Khởi nghĩa Lam Sơn và phong trào giải phóng đất nước vào thế kỷ XV”) được dùng
làm tài liệu tham khảo để biên soạn bộ sách trên. Thế mà nay, ông ta lại nói
ngược lại. Thái độ không nhất quán trong khoa học ấy chỉ có thể gọi là chủ
nghĩa xét lại lịch sử, là một thứ “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” trong khoa học
lịch sử, tất yếu sẽ dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về chính trị. Đây
là điều mà các thế lực thù địch và phản động mong muốn.
9
năm trước đây, khi theo dõi cuộc Hội thảo về chúa Nguyễn và nhà Nguyễn được tổ
chức với quy mô lớn tại tỉnh Thanh Hóa, được báo chí tuyên truyền rầm rộ, nhiều
người dân ở thành phố Hồ Chí Minh đã ngạc nhiên. Họ phát biểu: “‘Những câu:
“‘Gia Long cõng rắn cắn gà nhà”, “Rước voi về giày mả tổ”, “Phan – Lâm mãi quốc,
triều đình khí dân”… đâu phải đến thời bây giờ mới có và đâu phải chỉ lưu hành
riêng ở miền Bắc. Nhớ khi còn ngồi trên ghế nhà trường tại thành phố này qua
các bậc trung học và đại học, chúng tôi đã từng nghe các giáo sư dưới chế độ cũ
khi bước lên bục, đều giảng như vậy cả. Thế nhưng không hiểu vì sao, hàng chục
năm qua, một số người làm công tác nghiên cứu sử học ở miền Bắc lại tìm mọi
cách để phản bác những câu nói đó?”.
Giáo
sư Trần Văn Giàu, một chiến sĩ cách mạng kiên trung, một nhà sử học lão thành,
là bậc thầy của ông Phan Huy Lê, được cán bộ và nhân dân mến mộ, cũng đã giữ
quan điểm đúng đắn trong việc đánh giá vương triều nhà Nguyễn. Chính vì lẽ ấy,
Giáo sư Trần Văn Giàu đã không đồng tình với tác giả cuốn tiểu thuyết lịch sử
viết về Phan Thanh Giản bằng lối văn hư cấu tùy tiện, thoát ly hiện thực lịch
sử… Giáo sư Trần Văn Giàu đã tạ thế, Phan Huy Lê và các môn đệ của ông ta như
được “dọn vật cản”, đã lấn thêm những bước mới.
Vào
tháng 7-2016, khi Cục Xuất bản, Bộ Thông tin và truyền thông đề nghị ông Nguyễn
Đình Đầu, tác giả cuốn “Trương Vĩnh Ký – Nỗi oan thế kỷ” sửa lại tên cuốn sách
này và một số đoạn viết cho trung thực, khách quan thì ông này kiên quyết khước
từ. Những đoạn viết không trung thực, không khách quan về Trương Vĩnh Ký chính
là việc tác giả đã đánh lộn sòng công và tội của Trương Vĩnh Ký, biến những
hành vi đi ngược lại quyền lợi dân tộc của Trương Vĩnh Ký thành công lao. Kết
quả là cuốn sách không được phép phát hành. Thế nhưng, ông Phan Huy Lê vẫn lớn
tiếng bênh vực cho cuốn sách này qua lời giới thiệu của mình.
Về
cuốn sách nói trên, tạp chí mạng “Tôn giáo và dân tộc” đã thẳng thừng đặt câu hỏi:
“Trương Vĩnh Ký phản bội Tổ quốc, sao gọi là nỗi oan thế kỷ?”. Với nhiều tài liệu,
chứng cứ xác đáng được dẫn ra, tác giả Bùi Kha đã vạch rõ: “Với những chứng cớ
quá rõ ràng qua các văn thư do chính Trương Vĩnh Ký và các viên chức cao cấp thực
dân Pháp viết, chúng ta có thể kết luận dứt khoát rằng Trương Vĩnh Ký là một
người phản bội Tổ quốc. Ông không có một mảy may công lao nào đối với dân tộc,
ngược lại, ông hoàn toàn là kẻ có tội. Từ những ý đồ và hành động chính trị,
cho đến các công trình mang tính văn hóa nói chung của họ Trương, tất cả chỉ xoáy
vào một mục đích duy nhất là phục vụ cho chính sách của thực dân Pháp để nô lệ
hóa và đồng hóa dân tộc ta”.
Vào
tháng 10-2009, trên tạp chí Xưa và Nay, ông Phan Huy Lê còn phủ nhận sự kiện liệt sĩ Lê Văn Tám tẩm xăng vào thân mình để đốt kho xăng Thị Nghè của thực dân Pháp. Chứng cứ duy nhất mà ông ta bảo rằng mình có là lời dặn của Giáo sư Trần
Huy Liệu nhưng ông ta lại không đưa ra được một bằng chứng xác thực nào. Thiết
nghĩ, việc ông Phan Huy Lê dẫn ra lời dặn ấy chẳng khác gì Trương Huy San “nhét
chữ vào miệng” một anh chàng Hàn Quốc nào đó bảo rằng: “Tao không nghĩ là chúng
mày đã đánh đuổi hai đế quốc lớn mà chúng mày đã đánh đuổi hai nền văn minh lớn
của thế giới” để rồi từ đó, biện hộ cho những lập luận sai lầm của mình.
Một
trong những sai lầm trong đánh giá của ông Phan Huy Lê về quá trình
nghiên cứu lịch sử Việt Nam từ năm 1954 đến nay là ông ta cho rằng có
“Quan điểm chính thống”. Đây là một sự bịa đặt. Bởi đối với khoa học thì
không bao giờ có cái gọi là “quan điểm chính thống” và “quan điểm không
chính thống”. Đảng Cộng sản Việt Nam không bao giờ đặt vấn đề “quan
điểm chính thống” đối với khoa học trong tất cả các văn kiện của mình.
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh về sử học
thống nhất với nguyên tắc chép sử vốn có từ xưa là:
1. “Có gì thì viết
nấy – không có thì không viết”.
2. “Thiếu thì viết
thêm cho đủ – không viết thừa”.
3. “Sai thì viết
lại cho đúng – không bịa đặt”.
4. “Viết sử phải
khách quan, có minh chứng – không viết lung tung”.
5. “Bình luận,
đánh giá lịch sử phải có căn cứ xác đáng – không phán xét bừa bãi”.
Mặc
dù ông Phan Huy Lê là một trong những người đấu tranh đến cùng để giữ lại môn Lịch
sử là một môn học độc lập trong các chương trình dạy học phổ thông; nhưng càng
ngày, càng lộ rõ rằng ông ấy muốn giữ lại lịch sử nào. Với cái mạch tư duy kiểu
như của ông Phan Huy Lê và một số người muốn xét lại lịch sử hay nói đúng hơn
là lật đổ lịch sử, người ta sẽ công nhận việc thực dân Pháp xâm lược Việt Nam
là chuyện đương nhiên đúng đắn, sẽ công nhận việc đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam
là chuyện đương nhiên đúng đắn, sẽ công nhận việc chia cắt miền Bắc, miền Nam
sau Hiệp định ngừng bắn Genève là chuyện tất – lẽ – dĩ – ngẫu. Và sau đó, sẽ
là việc thừa nhận chính quyền ngụy Sài Gòn là hợp pháp; sẽ là phủ nhận toàn bộ
hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Từ đó, dẫn đến việc phủ nhận chế độ
chính trị hiện nay ở Việt Nam, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam. Những lập luận của ông Phan Huy Lê sẽ được bọn phản động sử dụng để biện hộ
cho luận điệu của tay văn sĩ bồi bút Trương Huy San (tức Huy Đức, tức San Hô)
trong cái gọi là tác phẩm Bên thắng cuộc của anh ta. Là một nhà khoa học, ông
Phan Huy Lê có cảm thấy mình có trách nhiệm gì với dân tộc, với đất nước không
khi ông tung ra một vấn đề rất hệ trọng mà lại có lối nói nước đôi, không nhất
quán như thế?
Nếu
những vấn đề trên đây không được giải quyết rốt ráo, sẽ dẫn đến sự rối loạn về
nhận thức trong xã hội. Thật vậy! Trong việc đánh giá vương triều nhà Nguyễn,
hàng chục triệu nhân dân ta – nhất là một khối lượng rất lớn học sinh, sinh
viên, nghiên cứu sinh đang ngồi học tập và viết luận án khoa học trên ghế nhà
trường sẽ nghe và viết theo quan điểm của ai? Nghe và viết theo sự chỉ dẫn của
tư tưởng Hồ Chí Minh, theo quan điểm sử học của Đảng ta, hay nghe và viết theo
quan điểm của một số nhà nghiên cứu lịch sử đã và đang được công khai quảng bá
trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong buổi thông tin khoa học do Ban
Tuyên giáo Trung ương vừa tổ chức, trong cuộc hội thảo năm 2008 tại tỉnh Thanh
Hóa và trong những cuộc hội thảo trước đó.
Chúng
ta đặc biệt quan tâm đến chủ trương của Hội Khoa học lịch sử về việc gấp rút tiến
hành chỉnh sửa sách giáo khoa phổ thông về sử học và chuẩn bị biên soạn bộ Quốc
sử mới, như báo chí đã nhất loạt đưa tin. Đây là nhiệm vụ cực kỳ hệ trọng.
Chúng ta hoàn toàn không yên tâm nếu như nhiệm vụ này được giao trọn gói cho những
người đã từng đi chệch chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về sử học
và đã nặng lời công kích “Phương pháp luận sử học mác-xít là ấu trĩ, giáo điều,
công thức”. Vậy thì thử hỏi, nếu giao cho họ chỉnh sửa sách giáo khoa sử học và
biên soạn bộ Quốc sử của nước nhà, họ sẽ đứng trên quan điểm lập trường nào và
theo phương pháp luận sử học của ai? Điều đó chắc chắn sẽ gây ra cho chúng ta
những tổn thất không nhỏ trong lĩnh vực công tác giáo dục, cũng như trên địa hạt
tư tưởng.
Sử
học là một trong những lĩnh vực hoạt động hết sức nhạy cảm và có tầm quan trọng
sống còn trên mặt trận tư tưởng. Nếu chúng ta không quan tâm chăm lo củng cố sự
vững mạnh của ngành sử học kể cả trên ba mặt: về chính trị, về tư tưởng và về tổ
chức, ắt sẽ dẫn đến những hậu quả khó lường. Tôi xin nhắc lại một lần nữa rằng,
một trong những nguyên nhân làm cho Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp
đổ là những nhà lãnh đạo các Đảng Cộng sản và Công nhân cầm quyền ở những nước
đó đã mất cảnh giác, đã bị tên gián điệp Aleksandre Yakovlev, Ủy viên dự khuyết
Bộ Chính trị, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô thao túng,
đã để cho chủ nghĩa xét lại lịch sử hoành hành. Kết quả là chế độ xã hội chủ
nghĩa ở những nước đó bị lật đổ trước hết là về lịch sử và sau đó là về chính
trị.
Nguyễn Minh Tâm
Tuần
Báo Văn Nghệ TP.HCM số 440
6 nhận xét:

Hoàng Trọng Đức01:37 10 tháng 9, 2017Valentin Falin đánh giá về Nhà tư tưởng YakolevTrả lời
Falin từng 7 năm là đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên Xô ở CHLB Đức (từ 1971 tới 1978). Sau đó, ông đã là Phó trưởng ban thứ nhất Ban Thông tin đối ngoại BCH TƯ Đảng Cộng sản Liên Xô.
Năm 1982, ông bị “thất sủng” và phải quay ra làm bình luận viên quốc tế báo Izvestia và lãnh đạo hãng tin APN. Trong đỉnh điểm của công cuộc cải tổ, Falin đã giữ cương vị Trưởng ban Đối ngoại BCH TƯ Đảng Cộng sản Liên Xô và Bí thư Trung ương Đảng (trong những năm 1989–1991).
Ông hãy kể về Aleksandr Yakovlev. Ông này đã là “đốc công của cải tổ”, còn dưới thời Yeltsin đã trở thành nhà tư tưởng chủ đạo của nền dân chủ Nga.
- Về việc Yakovlev sống dựa vào túi tiền người Mỹ thì tôi đã biết từ năm 1961. Một người quen làm việc trong KGB đã cho tôi biết điều này. Gần 10 năm trời Aleksandr Nikokayevich làm đại sứ Liên Xô ở Canada. Ông ấy không phải là gián điệp Mỹ theo cái nghĩa thông thường của từ này.
Tới thời điểm Gorbachev trở thành Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô, Yakovlev đã là một trong những điệp viên quan trọng nhất trong việc gây ảnh hưởng của Mỹ ở Liên Xô. Công bằng mà nói thì ông ấy là một người thiên bẩm rất tài năng và thông minh, thông minh và tài năng có lẽ gấp đôi Gorbachev. Thêm vào đó, chủ nhân của ông ta bên kia đại dương cũng không phải là những kẻ ngốc nghếch đần độn mà nắm được rất rõ những gì diễn ra trong thượng tầng chính trị Liên Xô khi đó.
Ở giai đoạn ấy tại Moskva, Chủ tịch KGB Vladimir Kryuskov đã mang những tài liệu vạch rõ chân tướng Yakovlev tới phòng làm việc gặp ông ta. Trước mọi câu hỏi của Vladimir Aleksandrovich, Yakovlev đều làm thinh. Và Kryuskov đã mang báo cáo lên gặp Gorbachev. Mikhail Gorbachev bặm môi rồi đưa ra một nhận xét kỳ quặc.
Ông ấy bảo, thì ngày trẻ ai chẳng có những sai lầm? Yakovlev là người có ích cho cải tổ nên ông ấy cần cho đất nước và cần phải cho ông ấy tham gia vào nền chính trị lớn. Và họ đã cho ông ta vào. Như thả dê vào vườn rau.
Quá trình thăng tiến của Yakovlev bắt đầu không phải theo đường chính trị mà theo đường quan hệ kinh tế đối ngoại. Việc này bắt đầu sau khi thông tin về mối quan hệ của ông ta với người Mỹ đã được chuyển tới Yuri Andropov và ông ta bị chuyển từ Ottawa về Moskva với chỉ lệnh “theo dõi, và không được để lọt vào BCH TƯ Đảng Cộng sản Liên Xô”.
Trần Thịnh02:46 10 tháng 9, 2017
Lính Liên Xô đứng gác bức tường Berlin năm 1989
Tháng 4/1989, Gorbachev kêu gọi các ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô tuổi đã cao hãy nghỉ hưu. 115 ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã viết đơn xin nghỉ hưu vì tin rằng đất nước sẽ phát triển hơn với đội ngũ được trẻ hóa. Đây chính là sai lầm của những người cộng sản trung thành trong Đảng Cộng sản Liên Xô. Trong ba năm 1987-1989, khoảng 50% cán bộ cơ quan chiến lược trong quân đội, hơn 100 cán bộ chính trị cấp chiến dịch - chiến lược và 30% tướng lĩnh bị cách chức hoặc loại khỏi quân đội với lý do “tư tưởng bảo thủ, không ủng hộ cải tổ”, thay thế họ là những phần tử “cấp tiến”[22] Sức kháng cự của những Đảng viên trung thành dần suy yếu và cuối cùng đã tê liệt.
Phương Tây cũng đã thành công trong việc cài cắm những nhân vật có tư tưởng cải cách nắm quyền tại các cơ quan truyền thông, báo chí, tuyên truyền lớn của Liên Xô. Từ 1986 đến 1988, một loạt cán bộ chủ chốt của các tờ báo lớn tại Liên Xô được thay thế bởi những người ủng hộ chủ trương “Tây hóa”, mặt trận báo chí của Đảng Cộng sản Liên Xô dần bị "đánh chiếm". Từ đó, báo chí Liên Xô liên tục gây khuynh đảo dư luận khi ngấm ngầm (rồi sau đó công khai) viết bài chỉ trích lịch sử cách mạng, trong khi lại tán dương chủ nghĩa tư bản phương Tây. Ảnh hưởng từ báo chí, tư tưởng Đảng viên và nhân dân Liên Xô trở nên dao động dữ dội, ngày càng có nhiều người bi quan về đất nước trong khi lại ảo tưởng về phương Tây[23] Năm 1994, nhà văn Yuri Boldarev khi nhìn lại tình cảnh của thời kỳ này đã nói: “Trong sáu năm, báo chí Liên Xô đã thực hiện được mục tiêu mà quân đội Đức Quốc xã với hàng triệu quân tinh nhuệ nhất cũng không thể thực hiện được khi xâm lược nước ta, đó là đánh đổ Nhà nước Liên Xô. Quân đội Đức có thiết bị kỹ thuật hàng đầu nhưng thiếu một thứ, đó là hàng triệu ấn phẩm mang vi khuẩn hủy diệt tư tưởng của nhân dân Liên Xô”[24].
Sau này, Tổng thống Nga Vladimir Putin cho biết ông phản đối sự tan rã của Liên Xô. Ông cho rằng lẽ ra Liên bang Xô Viết đã không bị sụp đổ, nếu như Đảng Cộng sản Liên Xô tiến hành cải cách đúng hướng và không “thả cửa” cho những tư tưởng phá hoại đất nước[26] của báo chí cũng như các phần tử cơ hội trong nội bộ Đảng.
http://vi.wiki.hancel.net/wiki/Li%C3%AAn_X%C3%B4




"Tôi đã tìm được bạn của mình để thực hiện mục tiêu giống nhau, trước hết là Yakovlev và Shevarnadze, họ đã lập công to lớn trong việc đánh bại chủ nghĩa cộng sản” (Trích phát biểu của Gorbachev tại Hội thảo của các trường Đại học Mỹ tổ chức tại Ankara (thủ đô Thổ Nhĩ Kỳ) tháng 4/1999
Alexandre Nikolaevich Yakovlev là Đại sứ Liên Xô tại Canada trong thập niên 70 của thế kỷ XX và là kẻ bị V.Kryuhkov (Chủ tịch KGB) vạch mặt là người của CIA. Quá trình chuyển biến về mặt tư tưởng của Yakovlev có thể tóm tắt như sau : Yakovlev đã từng cầm súng trong chiến tranh Vệ quốc (1941 – 1945), cũng chính trong giai đoạn này, khi rời xa lãnh thổ Liên Xô để đi đến các đất nước tư bản ở Đông Âu và ngay cả nước Đức để giải phóng châu Âu ra khỏi hiểm hoạ của chủ nghĩa phát xít, Yakovlev nói rằng mình đã "nhận thức" được một số giá trị của nền dân chủ tư sản. M.Rudinski , luật sư bảo vệ Đảng Cộng sản Liên Xô đã hỏi Yakovlev về điều này trong phiên toà vụ án "Đảng Cộng sản Liên Xô tại Toà án Hiến pháp" (năm 1992) : “Ngài nói hồi còn trẻ, khi ở ngoài mặt trận có cái gì đã vỡ ra, như ngài đã mô tả trong nhận thức của mình. Sau đó ngài có vẻ sửng sốt trước nghị quyết của Đại hội đảng XX. Tôi không hiểu, ngài cảm thấy không tin lắm vào chân lý chủ nghĩa cộng sản hay ngài đã đi theo hướng dân chủ hoá và lên án các hành động dưới thời Stalin?". Thực ra, hoàn cảnh của Liên Xô trong chiến tranh đã tác động rất nhiều mặt đến tư tưởng của các tầng lớp xã hội. Chiến thắng đối với chủ nghĩa phát xít đã nâng cao địa vị và uy tín đối với Liên Xô trên trường quốc tế. Đó cũng là chiến thắng của chủ nghĩa xã hội, là biểu hiện của tính ưu việt của chế độ mới. Chiến thắng đã củng cố niền tin vào tương lai của chủ nghĩa xã hội. Vinh quang và uy tín của Stalin, người tổ chức và lãnh đạo cuộc chiến thắng lợi lên đến tột đỉnh. Đổng thời, những tư tưởng tự do, tự lập cũng phát triển trong tầng lớp sĩ quan cao cấp của quân đội. Tầng lớp hạ sĩ quan, mà đa số là học sinh và sinh viên, tình nguyện hoặc được động viên ra trận trong cuộc chiến tranh được gọi là "thế hệ của những người tháng Chạp" mới. Họ cùng quân đội không chỉ đi qua nửa nước Nga mà cả một nửa châu Âu trong cuộc chiến tranh giải phóng và từ những điều đã chứng kiến trong xã hội phương Tây, họ có những quan niệm khác hơn so với quan niệm chính thống về cuộc sống công bằng sau chiến tranh. Ngay cả Nikita Sergreevich Khrushchev, Tổng Bí thư Đảng Cộng Sản Liên Xô (1953 – 1964) với sự nghiệp "đổi mới” tại Đại hội Đảng XX cũng là một vị tướng ở ngoài mặt trận Xô - Đức, tham gia giải phóng Đông Âu và công phá Berlin. Yakovlev là một trường hợp điển hình cho sự nhận thức các giá trị của phương Tây sau cuộc Chiến tranh Vệ quốc, ông ta là một người lính, một người trí thức và đồng thời là một người nông dân. Yakovlev đã mô tả về "sự thay đổi nhận thức” của ông ta tại Phiên toà "Vụ án Đảng Cộng sản Liên Xô tại Toà án Hiến pháp" năm 1992 : “Khi tôi biết việc một chị hàng xóm - một nhân viên đánh máy quy cho một chị hàng xóm khác là kẻ thù của nhân dân để chị ta bị tử hình còn mình thì nhận được một căn phòng, làm sao mà không thay đổi các nhìn nhận những hành động thực tế đã xảy ra lúc đó được?”.