TT&HĐ I - 8/b

 
Tìm hiểu và cội nguồn của Kinh dịch, quá trình phát triển và ứng dụng
 
VTC14_Người Việt đã sáng tạo ra Kinh Dịch?

PHẦN I:     CÓ MỘT CÁI GÌ ĐÓ

“Tại sao có một cái gì đó chứ không phải là không có gì?”
CHƯƠNG VIII: HOÀNG LÃO
Không biết mà nói là ngu, biết mà không nói là hiểm.
CHU-HI
 
Ở đời cái gì thung dung thì còn, cấp bách quá thì mất. Việc mà thung dung thì có ý vị. Người mà thung dung thì sống lâu.
Làm việc nghĩa chớ kể thiệt hại. Luận anh hùng chớ kể hơn thua.
Tâm niệm trầm tĩnh thì lẽ gì nghĩ chẳng tới. Chí khí cao rộng thì việc gì làm chẳng xong.
Tầm thuật quý nhất là sáng suốt. Tướng mạo quý nhất là chính đại. Ngôn ngữ quý nhất là giản dị, Chân thật.
Khí kiêng nhất là hung hăng. Tâm kiêng nhất là hẹp hòi. Tài kiêng nhất là bộc lộ.
Tâm phải rộng để dung nạp người trong thiên hạ. Tâm phải công bằng để làm việc trong thiên hạ.Tâm phải trầm tĩnh để xét lý trong thiên hạ. Tâm phải vững vàng để chống lại những biến cố trong thiên hạ.
Việc sắp xảy ra mà ngăn được, việc đang xảy ra mà cứu được, đó là quyền biến. Chưa có việc mà biết việc sắp đến, mới có việc mà biết được việc sau, có tài năng. Định việc mà biết việc xảy ra thế này, thế nọ, như vậy là biết lo xa. Người như thế là người có kiến thức rộng rãi. 
LÃ-TƯ-PHÚC
 
Khiến người ta nể lời, Không bằng khiến người ta tin lời.
Khiến người ta tin lời, Không bằng khiến người ta vui vẻ nhận lời.
Đem họa phước mà răn dọa là khiến người ta sợ.
Đem lý lẽ mà răn dụ là khiến người ta tin
Dùng tâm lý mà giác ngộ là khiến người ta vui lòng mà nghe theo. 
VƯƠNG DƯƠNG MINH
 
Biết đủ trong cái đủ của mình thì luôn luôn đủ.
Biết người là trí, biết mình là sáng
Không có lỗi nào to bằng ham muốn; Không có tai hoạ nào to bằng không biết đủ.
Lo thắng người thì loạn; Lo thắng mình thì bình.
Lời thành thật thì không đẹp; Lời đẹp thì không thành thật.
LỄ KÝ
 
“Lời của ta rất dễ hiểu, rất dễ làm, mà thiên hạ không ai hiểu được, làm được. Lời của ta có tôn chỉ, việc của ta có căn bản. Vì thiên hạ không hiểu ngôn luận của ta nên không biết ta. Người hiểu ta rất ít, người theo ta được là rất hiếm. Cho nên thánh nhân mặc áo vải thô mà ôm ngọc quý trong lòng.”
Lão Tử




(Tiếp theo)



                                                                      ***

Đang nói chuyện Hoàng Lão, chúng ta lại nhắc đến Vêđa và Upanishad vì chúng ta có cảm giác thấy hai nền triết học cổ đại Trung Quốc và Ấn Độ có những điểm tương đồng sâu sắc một cách bất thường. Hình như ngay từ đầu đã có sự giao lưu về tư tưởng văn hóa giữa hai nền văn minh cổ đại ấy và sự “học hỏi lẫn nhau” giữa hai nền triết học ấy kéo dài suốt quá trình tồn tại của chúng. Hơn nữa, điều này mới thực sự lý thú, nếu xem xét chi tiết trên tinh thần tổng quan và bất chấp những nhận định chủ quan từ trước đến nay về tiền sử của triết học Phương Đông - khoảng nửa đầu thời cổ đại, thì sẽ thấy hiển hiện ra một tồn nghi khổng lồ là hình như hai nền triết học cổ đại ấy, và rất có thể là toàn bộ nền triết học thế giới thời cổ đại đều nếu không trực tiếp thì cũng gián tiếp, nếu không hình thành nên từ sự chủ động thừa hưởng thì cũng từ tàn dư của duy nhất một quan niệm về thực tại khách quan đã xuất hiện vào thời đại còn cổ xưa hơn nữa, tạm gọi là thời đại văn minh trước Đại Hồng Thủy nếu thực sự đã từng xảy ra biến cố Đại Hồng Thủy - một thiên tai nước-lửa vĩ đại có phạm vi toàn cầu, mang tính hủy diệt khủng khiếp nhất đối với loài người từ trước đến nay và vì thế cũng tạc thành ấn tượng không phai mờ trong tâm trí con người dù trải qua hàng ngàn thế hệ, thể hiện ra bàng bạc ở truyền thuyết, huyền thoại của hầu như mọi dân tộc trên khắp thế giới!

Nếu không là thế thì không thể hiểu được quan niệm về cái gì đó được gọi là Thực Thể Tối Cao cùng với những khái niệm Cái Một, Cái Ấy, Brahman, Atman của Vêđa - Upanishad lại "đồng chí hướng" với quan niệm về cái gọi là Đạo của Hoàng Lão đến thế, trong khi khó mà khẳng định dứt khoát khái niệm Đạo là rút ra từ quan niệm Brahman một cách trực tiếp được. Hay chúng ta đang nổi cơn điên rồ nhỉ!??? Vậy thì...thôi, hãy quên sự tồn nghi đi, và cứ cho rằng trong quá trình xây dựng khái niệm "Đạo" của mình, Lão Tử đã "ngộ"được mặt hợp lý trong suy tư của Vêđa - Upanishad và tiếp nhận nó! Tạm thế đã, cho...đỡ mệt!
 Chúng ta đã nói về Cái Một, còn Cái Ấy thì chúng ta sẽ nói thêm cho rõ hơn, qua lời của triết gia Ấn Độ, Radhaksishnan:

“Chúng ta là phần tử hữu hạn, chúng ta không thể xác định tính chất của thực tại lý tưởng, tuy rằng Upanishad nhấn mạnh rằng cái thực tại ấy không phải là trống rỗng. Tuy vậy, để phản đối những ý tưởng sai lầm về cái tối cao và để vạch rõ sự thật là Cái Ấy không phải sự trừu tượng, Kinh Upanishad đã ngã vào những khái niệm không thích đáng. Nói gọn lại, chúng ta không có thể nói gì về thực tại ấy được. Nhưng vì mục đích bàn luận, chúng ta bắt buộc phải dùng đến những khái niệm tri thức với giá trị hữu hạn của chúng”.

Trong Tathiriya Upanishad có đoạn:

“Sự thực, cái do đấy tất cả vật thể sinh xuất, cái nhờ đấy chúng sinh sống, cái mà chúng trở về đấy lúc chết, chính là Cái Ấy phải tìm kiếm, Cái Ấy là Brahman”.

Còn Đạo thì như chính Lão Tử nói:

“Có một vật hỗn độn mà thành trước cả trời đất. Nó yên lặng (vô thanh) trống không (vô hình), đứng một mình mà không thay đổi (vĩnh viễn bất biến), vận hành khắp vũ trụ mà không ngừng, có thể coi nó là mẹ của vạn vật trong thiên hạ. Ta không biết tên nó là gì, tạm đặt tên cho nó là Đạo, miễn cưỡng gọi nó là Lớn (vô cùng)”.

Phải chăng Lão Tử nói về Cái Một, và khi “tạm đặt tên cho nó là Đạo” thì lại là Cái Ấy và “miễn cưỡng gọi nó là Lớn” chính là Thực tại Tối Cao, Brahman hay là cái mà ngày nay chúng ta gọi: Tự Nhiên Tồn Tại?

Nếu sự phán đoán của chúng ta là đúng thì xét về thời điểm ra đời, cần phải cho rằng khởi thủy quan niệm về Tự Nhiên Tồn Tại như cái được gọi là Đạo của Đạo Gia, là có nguồn từ quan niệm về cái Thực tại Tối Cao của triết học Ấn độ cổ đại, còn xét về những nét khác biệt của hai quan niệm ấy thì phải cho rằng chúng phát xuất từ cùng nguồn gốc, hình thành và tồn tại tương đối độc lập nhau, nhưng "song hành" bên nhau và có sự liên hệ với nhau ở mức độ nhất định.

Tiếp thu được mặt hợp lý của cái quan niệm còn ở mức sơ phác nhưng phần nhiều là đúng hướng ấy của các hiền triết Ấn Độ cổ đại; kết hợp với thuyết âm dương biến đổi đã xuất hiện trước đó của bản thân dân tộc mình (do Bá Dương Phụ đề xướng, có nhiều khả năng là dựa trên ý niệm lưỡng phân-lưỡng hợp đã xuất hiện trước đó rất lâu rồi, tận thời tối cổ, của tổ tiên người Lạc Việt!), Lão Tử đã xây dựng được một học thuyết triết học tương đối hoàn chỉnh, mà nền tảng lý luận của nó là Đạo, và về đại thể là một nhận thức trác tuyệt về Tự Nhiên Tồn Tại.

Kính thưa Lão Tử, hôm nay hậu thế đã bắt đầu hiểu Ông! Chúng con xin mượn viên ngọc quí mà Ông đã giữ trong lòng suốt 2500 năm, để trưng ra cho người đời chiêm ngưỡng. Mong Ông không còn phải ngậm cười nơi Chín Suối nữa mà thoải mái mở miệng cười  ha hả trong cõi thần tiên nào đó, âm rền vang vọng đến vô thủy vô chung Quỉ Cốc!

 ***

Để trình bày được rõ ràng hơn và cũng nhằm dễ bề luận giải thuyết Hoàng Lão, chúng ta cũng bắt chước Nguyễn Hiến Lê khi chú giải Đạo Đức Kinh, phân định tương đối ra thành ba phần: vũ trụ quan, nhân sinh quan và chính trị quan.

Trước hết chúng ta nói về vũ trụ quan Hoàng Lão.

Không có quan sát thì không có vũ trụ quan. (Quan sát xét cho đến cùng cực chính là kết quả của cảm giác, có nguồn gốc từ đặc tính phân biệt được của thế giới và mối quan hệ tương hỗ giữa các sự vật - hiện tượng. Để khỏi phải dông dài lan man, chúng ta “khóa” lại: quan sát chỉ bắt đầu từ động vật). Vũ trụ quan của động vật là cái gì đó còn đầy hỗn độn, rối rắm, mờ mịt, nói chung là còn hầu như bất minh. Vũ trụ quan của con người tư duy trừu tượng, nhờ có hồi ức và vì đã qua nhận thức ngày một sâu sắc nên khác hẳn của loài động vật. Đó là một thế giới sâu rộng đến cùng cực, vô cùng sống động với vô vàn sự vật - hiện tượng biến hóa, xoay vần, sinh sinh diệt diệt có lớp có lang, vừa minh định tỏ tường vừa khôn lường kỳ ảo …Do đó, Vũ Trụ mà con người quan sát được có thể "tạm" hiểu được, nhưng khó lòng mà hiểu cặn kẽ được. Thậm chí, không thể hiểu tuyệt đối được!

Viết đến đây, chúng ta chợt thấy u hoài:

                              Em không nghe mùa thu

                              Lá thu kêu xào xạc

                              Con nai vàng ngơ ngác

                              Đạp trên lá vàng khô

(Thơ Lưu Trọng Lư)

Em đã từng nghe tiếng đàn bầu nhỏ giọt buồn hằng cửu chưa em? Chính là cái thanh âm ấy đấy. Ôi, tiếng lo âu của ngàn lá xào xạc trước sự bỡn đùa của ngọn gió thời gian? Và nai ơi, sao còn vô tình đạp lên lá vàng cho rợn tiếng vụn vỡ của xương khô và biết gì không mà ngơ ngác?! Đất trời có thấy phong cảnh đó, Vũ Trụ có nghe khúc hòa tấu đó như chúng ta thấy và nghe không nhỉ?! …

Có một cái gì đó vừa có vẻ rành mạch vừa vô cùng mông lung, bao trùm lên tất cả, chứa đựng tất cả, kể cả “cái tôi nhận thức”. Không biết nó là cái gì, không biết gọi nó là gì cho đúng, cho phải. Các hiền triết Vêđa - Upanishad đành tạm gọi nó là Cái Một, Cái Như Nhất, Cái Ấy; Lão Tử tạm gọi là Đạo, và chúng ta tạm gọi là Tự Nhiên Tồn Tại .

Tuy đều nhằm chỉ “cái gì đó” tối cao nhưng Cái Một, Cái Ấy, Cái Như Nhất mới chỉ là những nhãn mác giản đơn có ý nghĩa sơ phác thì Đạo lại là một khái niệm hàm chứa một nội dung rộng đến vô cùng; vừa dùng để chỉ cái thực thể của Tối Cao (mà chúng ta gọi là Tồn Tại) vừa dùng để chỉ cái nguyên lý vận hành của cái Thực thể Tối cao ấy (mà chúng ta gọi là Tự Nhiên). Có thể nói toàn bộ vũ trụ quan của Hoàng Lão được gói gọn trong chữ Đạo ấy.

Mở đầu “Đạo Đức Kinh”, Lão Tử viết:

“Đạo mà có thể diễn tả được thì không phải là đạo vĩnh cửu bất biến; tên mà có thể đặt ra để gọi nó (Đạo) thì không phải là tên vĩnh cửu bất biến.

“Không”, là gọi cái bản thủy của trời đất; “Có” là gọi mẹ sinh ra muôn vật

Cho nên, tự thường đặt vào chỗ “Không” là để xét cái thể vi diệu của Đạo, tự thường đặt vào chỗ “Có” là để xét cái (dụng) vô biên của nó.

Hai cái đó (Không và Có) cũng từ Đạo mà ra, chỉ khác tên, và đều là huyền diệu.

Huyền diệu rồi lại thêm huyền diệu, đó là cửa của mọi biến hóa kỳ diệu”.

Không thể áp đặt cho Tồn Tại bất cứ một ý nghĩa hữu hạn nào vì nó vô nghĩa. Nhưng nếu đặt nó là “vô nghĩa” cũng sai, vì nó rõ ràng là một sự thực, vẫn cảm nhận được nó, nó vẫn có nghĩa đối với nhận thức, thậm chí là toàn nghĩa! Tạm gọi nó là "Đạo" chứ nó không phải là Đạo, cũng không phải với bất cứ danh xưng nào. Lão Tử nói như vậy là đã thấy được cái tính nước đôi của Tồn Tại, dù rằng ông chưa thấy được cái tính nước đôi ấy do chính nhận thức mà ra: Tồn Tại là duy nhất nhưng qua nhận thức đã bị phân định thành hai Tồn Tại: thực và ảo, hiện và ẩn, danh và thực…

Lão Tử còn có một phát hiện thứ hai mà chúng ta cho là tuyệt diệu không kém, đó là đặc tính đồng nhất và dị biệt cùng thể hiện của Tồn Tại. Nếu nhìn thế giới xung quanh vào ban ngày, chúng ta sẽ phân biệt được rõ ràng, minh bạch vạn vật thì cũng cái thế giới ấy trong một đêm tối mịt, chúng ta chẳng thấy được gì hết ngoài một khối đồng nhất, đen kịt. Nếu ban đêm nhìn lên trời cao, chúng ta thấy cả một bầu sao sáng huyền vĩ thì ban ngày lại chẳng thấy gì và nếu ngày đó là quang mây thì chúng ta sẽ chỉ thấy một nền xanh đồng nhất. Hoặc cũng tương tự như chúng ta đang nhìn và rồi nhắm mắt lại: hiện thực vẫn ở đó, các sự vật vẫn hiện hữu nhưng chúng ta nào có phân biệt được gì nữa đâu (?), mà chỉ có thể suy tưởng ra được từ kinh nghiệm trước đó mà thôi. Do vậy mà xuất hiện cặp khái niệm Hữu và  Vô (Có và Không). Đồng nhất, không phân biệt được chính là Không (không phải trống rỗng!) nhưng cả cái thế giới đồng nhất ấy, lại là Có. Một vật khi không phân biệt được với xung quanh thì phải là Không, khi phân biệt được với xung quanh (dị biệt) thì nó phải là Có.

Khi nhìn lên bầu trời xanh, chúng ta nói không có sao, nhưng thực ra là sao vẫn ở đó, chỉ có điều tại mắt ta vào ban ngày không thấy đó thôi.

Như thế đoạn “… đặt vào chỗ “Có” là để xét cái (dụng) vô biên của nó” theo cách dịch của Nguyễn Hiến Lê, nên hiểu là “… đặt vào chỗ “Có” là để xét cái sự phân biệt của nó”.

Với cặp khái niệm Có - Không này, Lão Tử đã đạt đến một khám phá thứ ba (thật tài tình) về Tồn Tại, đó là đặc tính tương phản. “Có” hay “Không” thì cũng là tồn tại, từ Tồn Tại mà ra, là một cặp khác tên gọi nhưng cũng xuất hiện từ một gốc, “đều là huyền diệu”, cùng làm nên huyền diệu.

Chúng ta đã cho rằng cặp khái niệm Có - Không là gốc của hệ thống khái niệm tương phản. Có - Không cũng là gốc của mọi hình thức tương phản giữa các sự vật - hiện tượng, và thể hiện ra như một tình thế làm xuất hiện động lực vận động của Tồn Tại. Ở đây, Lão Tử cũng cho là như thế: “đó là cửa của mọi biến hóa kỳ diệu”.

Với từng đó câu chữ (nguyên văn chữ Hoa còn ngắn hơn nữa!). Lão Tử nói lên tất cả những gì cơ bản nhất, thiết yếu nhất về Đạo, về Tự Nhiên Tồn Tại, và nếu đó thực sự là  chân lý thì quả ông phải là một thiên tài. Bản thân Lão Tử đã coi đó là chân lý tối thượng và mọi câu nói về Đạo khác trong “Đạo Đức Kinh” của ông chỉ nhằm mục đích dẫn giải cho rõ hơn, mở rộng, làm sâu sắc hơn, cụ thể hơn chân lý ấy để dựa vào mà luận chuyện thiên hạ, để mà phân định đúng - sai trong họat động xã hội - nhân sinh. Chúng ta sẽ liệt kê những đoạn nói về Đạo của ông trong “Đạo Đức kinh”, chỗ nào thấy cần thiết “khua môi” thì chúng ta “múa mép” một chút, thấy không cần thì thôi:

Ông nói về sự tương phản trong quan niệm:

“Ai cũng cho cái đẹp là đẹp, do đó mà phát sinh ra cái gọi là xấu; ai cũng cho điều thiện là thiện, do đó mà phát sinh ra điều gọi là ác”. Là vì “có” và “không” sinh lẫn nhau; dễ và khó tạo nên lẫn nhau; ngắn và dài làm rõ lẫn nhau; cao và thấp dựa vào nhau; trước và sau theo nhau”.

Ông nêu thí dụ rất hay về tính tương đối cũng như mối quan hệ “keo sơn” của cặp khái niệm “có - không”:

“Ba mươi tay hoa cùng qui vào một cái bầu, nhưng chính nhờ khoảng trống không trong cái bầu mà xe mới dùng được. Nhồi đất sét để làm chén bát, nhưng chính nhờ khoảng trống không ở trong mà chén bát mới dùng được. Đục cửa chính và cửa sổ để làm nhà, chính nhờ cái trống không đó mà nhà mới dùng được.

Vậy ta tưởng cái “có” (bầu, chén bát, nhà) có lợi cho ta mà thực ra cái “không” mới làm cho cái “có” hữu dụng”.

Để diễn giải cái vi diệu của Đạo, Lão Tử nói:

“Đạo, bản thể thì hư không mà tác dụng thì cơ hồ vô cùng, nó huyền ảo mà tựa như làm chủ tể vạn vật”

Hình như ông đã cảm nhận được có một cái gì đó ở tầng nền tảng, cái không thể nắm bắt được nhưng lại là “chủ tể vạn vật”:

“Nhìn không thấy gọi là di, nghe không thấy gọi là hi, nắm không được gọi là vi. Ba cái đó (vô sắc, vô thanh, vô hình) truy cứu đến cùng cũng không biết gì được, chỉ thấy trộn lộn làm một thôi. Ở trên không sáng, ở dưới không tối, thâm viễn bất tuyệt, không thể gọi tên, nó lại trở về cõi vô vật, cho nên bảo là cái trạng không có hình trạng, cái tượng không có vật thể. Nó thấp thoáng, mập mờ. Đón nó thì không thấy đầu, theo nó thì không thấy đuôi…”

Ở chỗ khác:

“Có một vật hỗn độn mà thành trước cả trời đất. Nó yên lặng, trống không, đứng một mình mà không thay đổi (vĩnh viễn bất biến), vận hành cùng khắp mà không ngừng, có thể coi nó là mẹ của vạn vật trong thiên hạ. Ta không biết nó tên là gì, tạm đặt tên là Đạo, miễn cưỡng gọi nó là Lớn.

Lớn thì lưu hành, lưu hành thì ra xa, ra xa thì về gần. Cho nên Đạo lớn, trời lớn, đất lớn, người cũng lớn. Trong vũ trụ có bốn cái lớn mà người là một. Người làm theo đất, đất làm theo trời, trời làm theo Đạo, Đạo làm theo Tự Nhiên”.

Tự nhiên là luật vận hành của Đạo, là nguyên lý tối thượng mà vạn vật phải theo. Vạn vật phải theo nhưng lại như không theo, không cảm thấy sự cưỡng bức mà làm như vốn dĩ, làm như thế là lẽ phải, hồn nhiên mà tồn tại, cho nên gọi là Tự Nhiên. Theo Lão Tử thì Đạo là duy nhất, do đó mà nguyên lý Tự Nhiên ấy cũng không thể ngoài Đạo mà thuộc về Đạo, chính là Đạo và gọi là Đạo lớn (nhằm phân biệt với những nguyên lý nhỏ, cục bộ địa phương, hay còn gọi là qui luật (luật bất biến); có nguồn gốc xuất phát từ nguyên lý Tự Nhiên. Ông viết:

“Đạo lớn lan tràn khắp, có thể qua bên trái, qua bên phải. Vạn vật nhờ nó mà sinh trưởng mà nó không can thiệp vào, công thành rồi mà không nhận là của mình; nó nuôi dưỡng vạn vật mà không làm chủ vạn vật. Nó vĩnh viễn là “không”, vô vi, cho nên có thể bảo nó là ẩn vi (vô hình); muôn vật qui về nó mà nó không làm chủ, cho nên có thể bảo nó là lớn. Vì cho tới cùng, nó không tự nhận nó là lớn cho nên mới hoàn thành được cái vĩ đại của nó”.

Hay:

“Âm nhạc với mỹ vị làm cho khách qua đường ngừng lại, còn Đạo mà nói ra thì nó nhạt nhẽo, vô vị, nhìn kỹ nó không thấy, lắng nghe nó không thấy. Nhưng dùng nó thì không bao giờ hết”.

Và đây chính là một trong những cơ sở lý luận của các nhà tư tưởng, xây dựng nên học thuyết "xuất thế vô vi":

“Đạo vĩnh cửu thì không làm gì (vô vi vì là tự nhiên), mà không gì không làm (vô bất vi, vì vạn vật nhờ nó mà sinh, mà lớn, mà tồn tại)”.

Lão Tử nói về nội dung của cái nguyên lý tối cao ấy như sau:

“Luật vận hành của Đạo là trở lại lúc đầu, diệu dụng của Đạo là khiêm nhu.

Vạn vật trong thiên hạ từ “có” mà sinh ra; “có" lại từ “không” mà sinh ra”.

Rõ ràng, Lão Tử đã thấy được tính xoay vần, chu kỳ, sự chuyển hóa qua lại giữa các mặt tương phản trong sự vận động của vạn vật, của Vũ Trụ. Ông còn viết:

“Đạo sinh ra một, một sinh ra hai, hai sinh ra ba, ba sinh ra vạn vật. Vạn vật đều cõng âm mà ôm dương, điều hòa bằng khí trùng hư”.

Về câu này, nhiều người hiểu khác nhau. Theo chúng ta hiểu thì cái gốc của mọi hình thức tương phản là cặp có - không. Sự chuyển hóa qua lại giữa có và không là cái gốc của huyền diệu, của biến hóa. Nhưng có và không muốn tồn tại để chuyển hóa, để “sinh lẫn nhau” được thì phải có cái ở giữa, cái trung dung, cái không có mà cũng không không. Cái đó là gốc của gốc cho nên gọi nó là “một”. Nhờ cái một ấy mà có sự phân định ra có và không, ra hai thể tương phản nhau. Hai thể tương phản ấy tác động chuyển hóa lẫn nhau thông qua “ông trọng tài” tên là Một mà thành ra ba. Ba cái đó hợp thành nên một thực thể tế vi hoàn chỉnh và sống động. Vạn vật đều được cấu tạo nên từ những thực thể tế vi đó và nội tại của chúng cũng phân định thành những lực lượng tương phản nhau gọi là âm và dương, tương tác chuyển hóa nhau thông qua lực lượng trung dung, gọi là “khí trùng hư” (năng lượng?). Theo quan niệm thời đó, âm và dương là hai nguyên khí, hai thể cơ bản, có tính tương phản nhau (quan hệ, tương tác với nhau cực kỳ uyển chuyển chứ không cực đoan, siêu hình, "cứng còng" như quan niệm "mâu thuẫn" của Hêghen mà Mác đã tiếp thu hầu như trọn vẹn!), làm nên Vũ Trụ. Hình tượng “cõng âm và ôm dương” cho ta thấy có cái ở giữa. Chính cái ở giữa ấy làm cho âm, dương điều hòa, hướng đến cân bằng mà vật tồn tại được. Nhưng vận động toàn thể của cái tổng thể (thực thể) ấy lại có nguyên nhân sâu xa của cái bên ngoài nó, của môi trường: nhằm mục đích hòa hợp với môi trường (môi trường tác động lên thực thể cũng nhằm hòa hợp với thực thể, cho nên gọi là tác động tương hỗ). Cuối cùng tất cả những cái đó đều tuân theo những qui định của nguyên lý Tự Nhiên; là Tự Nhiên. Lão Tử viết:

“Hết sức giữ được cực hư, cực tĩnh xem vạn vật sinh trưởng, ta thấy được quy luật phản phục (vạn vật từ vô sinh ra rồi trở về vô).

Vạn vật phồn thịnh đều trở về căn nguyên của chúng (qui căn, tức Đạo). Trở về căn nguyên thì tĩnh (cân bằng, hài hòa), trở về căn nguyên là “trở về mệnh” (trạng thái ban đầu?). Trở về mệnh là luật bất biến (qui luật) của vật. Biết luật bất biến thì sáng suốt, không biết luật bất biến thì vọng động mà gây họa. (Đòi tự do-dân chủ bất chấp luật bất biến rõ ràng là vô lối, cùng một giuộc với đòi vô chính phủ, vô hiệu hóa tính nghiêm minh của luật pháp. Một xã hội vô chính phủ tất yếu ngay lập tức lâm vào trạng thái hoang mang, hỗn loạn và đầy bạc ác!).

Biết luật bất biến thì bao dung, bao dung thì công bằng (vô tư), công bằng thì bao khắp, bao khắp thì phù hợp với tự nhiên, phù hợp với tự nhiên thì phù hợp với Đạo, hợp với Đạo thì vĩnh cửu, suốt đời không nguy”.

Toàn bộ vũ trụ quan của Hoàng Lão, cốt yếu chỉ có thế, ngắn gọn nhưng thâm sâu, không hiểu được nó thì cho là huyền bí, duy tâm, hiểu được nó thì thấy thật giản dị, duy vật. Chúng ta cho rằng tất cả những quan niệm về Tồn Tại (về Vũ Trụ) rải rác trong các sách Liệt Tử, Trang Tử… đều là những luận giải làm rõ ràng hơn, cụ thể hơn và có thể bổ sung, điều chỉnh chút ít (nhưng không cơ bản) giúp cho việc nhận thức những luận điểm cốt yếu ấy được dễ dàng hơn mà thôi.
(Còn tiếp)

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32