NỖI NIỀM OAN KHUẤT 51/i
Lần dở lại những cuộc đời oan khuất
Thương xót biết bao những ước vọng linh hồn
Căm giận biết bao lũ gà mờ giai cấp
Nỡ đày đọa nhau bất chấp lẽ sống còn(!)
----------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
- Gần
nửa thế kỷ từ khi có chủ trương "quét sạch những nọc độc của Trần Đức
Thảo trong việc giảng dạy triết học", ngày 7/5, lớp hậu sinh ngồi lại
nơi ngày xưa ông làm Phó Giám đốc, nhắc tới những “món nợ” mà ngày hôm
nay cần trả.
Lớp cha chú, những người có học ở quê tôi thường lấy tấm gương ham học của gia đình ông để khuyên dạy lũ con cháu chúng tôi. Rằng đó là một gia đình hiếu học, có lòng yêu nước, yêu quê. Thời trước, Song Tháp còn là làng nghèo, người cha của ông, là cụ Trần Đức Tiến, có lòng hảo tâm đã bỏ tiền xây cây cầu bắc qua con ngòi để dân làng đi lại cho thuận tiện.
Cụ Tiến là người nho học chuyển sang tây học, luôn đi đầu trong việc xóa bỏ các hủ tục, kêu gọi mọi người học quốc ngữ, rồi cụ tham gia phong trào Đông kinh nghĩa thục. Chẳng biết đất Song Tháp tích tụ âm dương phát tích thế nào, mà hầu hết các ngôi mộ dài (mộ chưa sang cát) quê tôi đều đặt hướng quay đầu về Song Tháp, hướng đêm đêm có quầng sáng của thủ đô Hà Nội vọng về.
Sinh thời, triết gia Trần Đức Thảo sống như người khổ hạnh. Có lẽ
người chú tâm làm những việc lớn, nên sao nhãng việc đời thường. Những
năm tháng sống trong căn hộ khu tập thể Kim Liên, ông lặng lẽ như một
cái bóng. Những người hàng xóm, là những người lao động tốt bụng, thi
thoảng vẫn thấy ông cụ đạp cái xe đạp thiếu nhi Liên Xô thấp, phía sau
buộc mớ rau, khi củ su hào, khi mấy thanh củi bé nhỏ như thanh đóm từ
chợ về, tự lo cơm nước.
Từ lâu, ông quen cuộc sống một mình. Không vợ, không con. Hình như ông muốn khước từ tất cả hoặc số phận buộc ông như thế, để ông tập trung hết năng lực cho việc nghiên cứu triết học. Có khi, vừa đạp xe, ông vừa ngửa cổ lên trời, cười nói một mình. Họ đâu ngờ, đó lại là một triết gia danh tiếng thế giới.
Thời gian cuối đời, ông lại được nhà nước cử sang Pháp để nghiên cứu tiếp các công trình dang dở. Tuy ở ngay tại khu nhà đại sứ, nhưng ông vẫn lặng lẽ, lọ mọ như một cái bóng khiêm nhường và bí ẩn.
Cái số lận đận thì lận đận cho tới khi chết. Tâm niệm của ông, khi chết, được nằm yên nghỉ trên cánh đồng quê cha đất tổ, làng Song Tháp (Từ Sơn, Bắc Ninh). Nhưng rồi cũng không thực hiện được. Di hài của ông, Sứ quán của ta bên Pháp, đưa từ nghĩa trang Pere Lachaise về Hà Nội. Mà lọ tro cốt nhà triết học Trần Đức Thảo lại phải nằm đợi hơn bốn mươi ngày tại Nhà tang lễ Phùng Hưng, để chờ thủ tục.
Việc phân cấp chôn cất tại nghĩa trang Mai Dịch chỉ dành cho những người được Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất. Giáo sư triết học Trần Đức Thảo chỉ được Huân chương Độc lập hạng Ba. Dùng dằng mãi, di hài ông được chuyển về chôn cất tại khu A, nghĩa trang Văn Điển.
Thương thay, người tri thức lớn, khi chết rồi vẫn phải long đong.
Những ngày lọ tro cốt của ông còn dùng dằng tại nhà tang lễ Phùng Hưng, nhiều người cao tuổi ở làng quê Song Tháp vô cùng ái ngại. Họ muốn được đưa hài cốt nhà triết học về chôn cất tại nghĩa trang quê hương. Nhưng lực bất tòng tâm. Người cháu thân thiết của nhà triết học, người nhà gần gũi duy nhất, đã là người cao tuổi, đang ốm yếu trong thành phố Hồ Chí Minh.
Những cán bộ địa phương sở tại, là thế hệ trẻ, họ không hiểu rõ tầm vĩ đại và gốc gác của người tri thức xa quê lâu năm. Không ai dám quyết việc này. Và thế là, nguyện vọng trở về nằm nghỉ trên cánh đồng quê cha đất tổ của nhà triết học Trần Đức Thảo không thành hiện thực.
Nhiều giáo sư hàng đầu bộ môn khoa học xã hội, những năm 1956-1957, may mắn được là học trò của ông, đều chung nhận định, đó là người thầy "siêu sư phạm".
Trường đại học Sư phạm những năm ấy luôn ấn tượng những tiết giảng của triết gia Trần Đức Thảo. Đấy là người thầy đặc biệt, lên lớp không mang giáo án, không ngồi ghế, không nhìn học sinh, mà ông thường ngước nhìn vòm cao giảng đường. Khi giảng về các trào lưu triết học đình đám thế giới, thi thoảng ông mỉm cười một mình.
Theo GS Nguyễn Đình Chú, thì đó là người thầy tưởng như "phản sư
phạm", nhưng thật là "siêu sư phạm". Con đường nghiên cứu triết học của
ông luôn thống nhất, thông suốt. Nhưng cuộc đời của ông lại chịu nhiều
khúc ngoặt, gập ghềnh.
Từ giảng đường sang trọng tại thủ đô Pa-ri hoa lệ, ông tự nguyện về nước, hăng hái lên chiến khu Việt Bắc tham gia cách mạng, với lý tưởng phụng sự Tổ quốc. Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng vui mừng đón tiếp ông. Song Bác Hồ và thủ tướng cũng băn khoăn vì cách mạng đang thời kỳ khó khăn, không có đủ tài liệu và phương tiện để triết gia làm việc.
Ngay vụ Nhân văn giai phẩm, Trần Đức Thảo cũng chịu nhiều hệ lụy. Chỉ khi Thủ tướng Phạm Văn Đồng trực tiếp gửi tấm danh thiếp động viên, ông mới đỡ phiền túy. Những học giả đương thời với ông, đều kính trọng mà nói rằng "Ông vừa là sản phẩm, vừa là nạn nhân của thời đại. Đồng thời, là người góp phần tạo ra thời đại".
Họa sỹ Bùi Quang Ngọc là người bạn vong niên và từng làm việc cùng tờ báo với tôi một thời gian dài. Họa sỹ Ngọc kể, bức chân dung vẽ vào những năm tháng cuối, trước khi ông Thảo sang Pháp. Vẽ ròng rã cả mấy ngày liền. Vẽ với lòng trân trọng triết gia, cùng nỗi niềm sẻ chia và đồng cảm của một họa sỹ từng chịu nhiều hệ lụy, thăng trầm. Bức chân dung thể hiện được thần thái của triết gia: Vầng trán cao. Đôi mắt nghĩ ngợi, thẳm buồn.
Khi họa sỹ Bùi Quang Ngọc trao bức tranh cho triết gia Trần Đức Thảo, khuôn mặt đau khổ của triết gia chợt ánh lên niềm vui trong trẻo.
Triết gia trân trọng treo bức tranh lên tường.
Rồi ông loanh quanh tìm trong căn phòng trống trơn và sơ sài của mình một cái gì đó. Mà không có gì thật. Cuối cùng, ông bóc tấm ảnh mình trong thẻ chứng minh thư, trao tặng cho họa sỹ.
Đó là kỷ niệm thiêng liêng của triết gia Trần Đức Thảo với họa sỹ Bùi Quang Ngọc. Tấm ảnh nhỏ bé đó, họa sỹ vẫn lưu giữ cho đến ngày nay.
Vũ Từ Trang
Triết gia Việt Nam duy nhất
Cuốn sách Hành trình Trần Đức Thảo - Hiện tượng học và chuyển giao văn hoá (dịch từ nguyên bản tiếng Pháp: L’itinéraire de Tran Duc Thao. Phénoménologie et transferts culturels) là kết quả của cuộc hội thảo khoa học về triết gia Trần Đức Thảo trong hai ngày 22 và 23/6/2012 tại Trường Sư phạm Cao cấp, phố Ulm, Paris (École Normale Supérieure, Rue d’Ulm/ENS).
Đây là ngôi trường lừng danh của nước Pháp và cũng là nơi đào tạo Trần Đức Thảo vào đầu những năm 40 của thế kỷ trước. Cuộc hội thảo này do chính nhà trường phối hợp với Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu khoa học Pháp (CNRS) và Kho lưu trữ Husserl tổ chức.
Cuốn sách được coi là tác phẩm nghiêm túc và mới nhất ở Việt Nam phản ánh toàn diện, sâu sắc, có giá trị học thuật cao, là kết quả nghiên cứu của các nhà triết học, các học giả uy tín, các giáo sư danh tiếng của Pháp, Bỉ, Canada...
Công trình đồ sộ này đã tiếp tục khẳng định tầm vóc của triết gia Trần Đức Thảo và vai trò của triết học Trần Đức Thảo đối với sự chuyển giao giữa các nền triết học trong thế giới đương đại. Cuốn sách do Nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn chủ trì dịch, hiệu đính và giới thiệu, các dịch giả uy tín: Bùi Văn Nam Sơn, Đinh Hồng Phúc, Phạm Anh Tuấn, Phạm Văn Quang.
Một hành trình lưu đày đáng ngẫm ngợi
Cuốn sách gồm hai phần chính. Phần thứ nhất tuyển chọn các bài nghiên cứu của học giả quốc tế về triết gia Trần Đức Thảo. Phần thứ hai là tác phẩm quan trọng nhất, nổi tiếng nhất của ông được nhà Minh Tân xuất bản tại Pháp năm 1951 – Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng (Phénoménologie et matérialisme dialectique).
Trong Phần thứ nhất, đáng chú ý là bài viết của sử gia người Pháp Philippe Papin (được độc giả trong nước biết tới với cuốn Lịch sử Hà Nội hàm súc, chân thực). Bằng lối văn mộc mạc và hàm triết, sử gia này đã kể cho chúng ta nghe về một hành trình “lưu đày nội tại” của triết gia trong thời gian ở Việt Nam, đặc biệt là sau thời kỳ Nhân văn Giai Phẩm (1956-1991).
Lắng dưới trầm tích của câu chữ là một nỗi đau khôn nguôi không chỉ của triết gia duy nhất người Việt mà còn là niềm cảm thông sâu sắc của một sử gia người Pháp hậu sinh với bậc tiền bối.
Ở phần hai, các dịch giả cũng đã tiếp thu một số thuật ngữ từ bản dịch của Đinh Chân năm 2004 khi dịch lại tác phẩm kinh điển Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng của Trần Đức Thảo. Tác phẩm này cho thấy một Trần Đức Thảo sâu sắc khi phân tích các khía cạnh khác nhau của tư tưởng Hegel và Hurssel, đặt nền móng cho những hiểu biết về triết học duy vật biện chứng, đặc biệt trong khía cạnh hiện tượng học.
Đọc sách triết, không phải đắm chìm nơi phần nổi của miên man câu chữ mà cần lắng lại những chỗ câu chữ không hề nói đến và vấp vào những việc trên thực tế đời sống mỗi người.
Lưu ý rằng, vào năm 1955, triết gia Trần Đức Thảo từng là Phó giám đốc Đại học Văn khoa, tiền thân của Đại học Sư phạm Hà Nội, cơ quan chủ quản NXB Sư phạm. Ngẫm kỹ, đây là điều đáng mừng và cũng là tấm lòng đáng trân trọng của lớp hậu sinh với triết gia Trần Đức Thảo.
Thương xót biết bao những ước vọng linh hồn
Căm giận biết bao lũ gà mờ giai cấp
Nỡ đày đọa nhau bất chấp lẽ sống còn(!)
----------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
Nhân Văn Giai Phẩm 10 - Nhận định của những nhà nghiên cứu về vụ án Nhân Văn Giai Phẩm
Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm đã đưa đến vụ án Nhân Văn Giai phẩm với con số không nhỏ cả văn nghệ sĩ, nhà hoạt động văn hoá lẫn người dân bình thường bị đầy đoạ vì có liên quan nhưng không rõ là bao nhiêu.
Kết thúc loạt bài này, mời quý thính giả nghe một số đánh giá của những nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề.
ó thể nhìn thấy ảnh hưởng của vụ án Nhân Văn Giai Phẩm trên ba bình diện: cá nhân, nền văn học và cả xã hội. Về ảnh hưởng trên các cá nhân, chúng tôi đã có dịp trình bày hoàn cảnh của một số văn nghệ sĩ mà hoạt động sáng tác của họ bị ngưng trệ trong ba bốn chục năm, và như một phép lạ, một số vị đã vượt thoát đựoc cái định mệnh oan nghiệt để lại vươn lên khi đựơc phục hồi. Tiếc rằng một số vị đã ngã gục và một số đã qua đời.
Trong số những văn nghệ sĩ là nạn nhân và có dịp nói lên tâm trạng và hoàn cảnh của mình trong suốt mấy chục năm bị vứt ra ngoài lề xã hội, chúng tôi chú ý đặc biệt đến nhà thơ Lê Đạt. Ông mô tả cái tâm trạng lúc nào cũng e ngại, sợ hãi của người bị "giang sơn ruồng bỏ giống nòi khinh", và ông sử dụng từ "rẻ rách hoá" thật là tài tình mà cũng thật là đau xót:
Ông Nguyễn Minh Cần, trong thời gian xẩy ra vụ án là phó bí thư thành uỷ Hà nội phụ trách tuyên huấn thì nói lên hoàn cảnh của lụât sư Nguyễn Mạnh Tường để minh hoạ tình cảnh bị bao vây chẳng những về chính trị mà cả về kinh tế nữa.
Ông cũng nói lên ảnh hưởng của vụ án đối với nền văn học Việt Nam: (Xin theo dõi trong phần âm thanh bên trên)
Chúng tôi mong mỏi nhận được ý kiến đóng góp, bổ sung từ quý vị và các bạn nghe đài, nhất là những người mà Nhân Văn là một cơn ác mộng. Mọi email xin gửi về Vietweb@rfa.org
Về điểm này, thì nhà nghiên cứu Sử Trần Gia Phụng từng sống ở miền Nam sau năm 1954 cũng nhận xét: (Xin theo dõi trong phần âm thanh bên trên) 'Món nợ' với giáo sư Trần Đức Thảo
08/05/2013
15:19
GMT+7
|
|
|
Ngày 7/5,
Trường ĐH Sư phạm Hà Nội tổ chức hội thảo khoa học quốc tế “Tư tưởng triết học
và giáo dục của Trần Đức Thảo”.Ảnh: Lê Văn Long |
Một con người
đặc biệt
GS Trần Đức Thảo thuộc “thế hệ vàng một đi không trở lại” trong lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ 20: học hành bài bản ở nước ngoài và trở về tham gia cách mạng.
Cuộc đời và sự nghiệp của ông được đánh dấu bằng những sự kiện tinh thần và chính trị đặc biệt: từ cuộc tranh luận với nhà văn nổi tiếng Jean Paul Sartre 1949 đến việc trở về Việt Nam tham gia cách mạng 1951/1952, từ sự hiện diện trong vụ ánNhân Văn-Giai Phẩm 1956đến việc trở lại và qua đời trong âm thầm tại Pháp 1993, và cuối cùng là việc tác phẩmTìm cội nguồn ngôn ngữ và ý thứcđược tặng "Giải thưởng Hồ Chí Minh" đợt II, năm 2000.
Trong tham luận của mình,GS văn học Nguyễn Đình Chú đã phác họa “con người – sự nghiệp” của Trần Đức Thảo với 5 khía cạnh cơ bản:
Là người con ưu tú của Kinh Bắc – Bắc Ninh, cái nôi của người Việt, văn hóa Việt; là một trí thức trọn đời yêu nước với nhiều biểu hiện;là một lưu học sinh đã làm vẻ vang cho tổ quốc trên đất Pháp với tấm bằng thủ khoa thạc sĩ triết học đến nay chưa có người thứ hai; là triết gia duy nhất của Việt Nam trên trường quốc tế với những hành động, tác phẩm nổi trội, có ý nghĩa phát triển chủ nghĩa Mác theo hướng “duy vật biện chứng nhân bản” và người khai sinh bộ môn Lịch sử tư tưởng triết học cho giáo dục Việt Nam.
GS Phạm Thành Hưng (cùng biên soạn 2 công trình nổi tiếng trong số di sản đồ sộ của GS Thảo), nhìn nhận: Ông là hiện tượng tiêu biểu của người trí thức Việt Nam thế kỷ 20, người vừa là sản phẩm, vừa là nạn nhân của thời đại; đồng thời cũng là người góp phần tạo ra thời đại. Ông không thể thành thiên tài mà chỉ là môt "thần đồng triết học", vì đã chấp nhận làm một trí thức hiến thân cho cách mạng.
Các tác phẩm của Trần Đức Thảo được nghiên cứu nhiều ở nước ngoài.Một số tác phẩm nổi tiếng của ông đã được nhắc tới ở Việt Nam như:Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng, Tìm cội nguồn ngôn ngữ và ý thức, Vấn đề con người và chủ nghĩa lý luận không con người,v.v...
Trước đó, Trường CĐ Sư phạm phố Ulm - Pháp (nơi GS Thảo tốt nghiệp thủ khoa lúc 26 tuổi) cũng đã dành hẳn 2 ngày tổ chức hội thảo về Trần Đức Thảo và dự kiến sẽ tiếp tục tổ chức vào năm 2013. GS Trần Văn Đoàn (ĐH Đài Loan, ủy viên liên đoàn triết học thế giới) nói, Trần Đức Thảo là “nhà triết học có một vị trí đặc biệt” khi phản ánh về vị trí của ông trong giới triết học quốc tế.
Sửa sai lối làm khoa học "mờ, nhòe"
Được nhìn nhận là danh giá nhất trong "những ôm trùm văn hóa sáng danh của đất nước", nhưng số phận của Trần Đức Thảo nghiệt ngã chẳng ai bằng. Ông đã gặp bi kịchsuốt cuộc đời làm triết học trong hoàn cảnh phi triết học, hoàn cảnh mà người ta chỉ cần minh họa và phổ biến những luận điểm triết học có sẵn, không cần sự nghiên cứu, khám phá.
Sau khi qua đời, giá trị của GS Trần Đức Thảo được Nhà nước nhìn nhận lại với những truy tặng: huân chương Độc lập, giải thưởng Hồ Chí Minh. Một phần nhỏ trong số di sản đồ sộ của ông đã được tập hợp, dịch sang tiếng Việt và xuất bản. Tiến sĩ Cù Huy Chữ đã bỏ công lưu trữ di sản bề thế của ông với gần 200 tác phẩm bằng tiếng Việt, Pháp và Đức với khoảng 15 ngàn trang, mà chỉ riêng danh mục để liệt kê về "di sản Trần Đức Thảo" đã dày hơn 500 trang.
Cho rằng"một đất nước hùng cường, sánh với với năm châu không thể không có triết học",GS Nguyễn Đình Chú đặt vấn đề: cần nghiên cứu, khám phá toàn diện và thấu đáo giá trị tư tưởng triết học Trần Đức Thảo, để từ đó thúc đẩy triết học Việt Nam.
Tuy nhiên, vị giáo sư cao tuổi cũng nhận thấy "điều này không dễ" bởi đòi hỏi người làm phải có trình độ tiếng Pháp, đặc biệt là tiếng Đức thật giỏi; có trình độ hiểu biết nhất định về triết học thế giới; có hiểu biết về khoa học tự nhiên như vật lý học hiện đại, sinh vật học, khoa học nhân văn (nhân chủng học, sử học, tâm lý học, ngôn ngữ học, logic học) và quan trọng nhất là năng lực tư duy trừu tượng khoa học, trong khi thế mạnh của người Việt lại là tự duy cụ thể.
Nhìn nhận ở khía cạnh khác, GS Hoàng Chí Bảo phân tích, lâu nay việc nghiên cứu triết học ở Việt Nam bị mờ, nhòe vì lẫn với lý luận chính trị. Vị ủy viên Hội đồng lý luận trung ương này đề xuất cần sửa sai; trả lại cho triết học vị trí độc lập, tách hẳn nghiên cứu triết học độc lập với lý luận chính trị, nếu không thì nghiên cứu khoa học sẽ tiếp tục lạc hậu.
Bài học "siêu sư phạm"
Tiếp thu những bài học từ di sản đồ sộ của GS Trần Đức Thảo là điều không dễ với đa số người Việt Nam. Tuy nhiên những học trò, trực tiếp hoặc gián tiếp, đã thụ giáo được ít nhiều tinh thần cao đẹp từ nhà khoa học chân chính này.
Một số học trò khóa 1 Trường ĐH Sư phạm Hà Nội vẫn còn nhớ tới hình ảnh người thầy đến lớp không một mẩu giáo án, không ngồi ở ghế mà ngồi lên bàn, không hề nhìn sinh viên, chỉ ngước lên trần giảng đường, nói thì lúng túng, thỉnh thoảng tự mỉm cười. Giờ giảng cho sinh viên sư phạm nhưng sinh viên y dược học chung sân cũng sang nghe, đại giảng đường 35 Lê Thánh Tông từ phòng chính đến chuồng gà chật ních người nghe và tĩnh lặng.
Theo GS Nguyễn Đình Chú, người thầy tưởng như "phản sư phạm" ấy chính là một bậc "siêu sư phạm" vì đã gieo vào lòng ông mộtám ảnh suốt đờivề phải đeo đẳng và phấn đấu thèm khát suy nghĩ, thèm khát một năng lực tư duy trừu tượng khoa học.
Còn PGS Phạm Thành Hưng đúc kết, việc nghiên cứu và xuất bản di sản triết học của Trần Đức Thảo để lại hai bài học. Bài học về phương pháp tư duy và bài học "không kém phần quan trọng, đồng thời dễ có nhất", là bài học về nhân cách của người trí thức, cũng là bài học làm người.
GS Hưng cũng đem tới hội thảo một câu chuyện ông quan sát bấy nay.
Do điều kiện sống thiếu thông tin trầm trọng, phải đợi đến khi xuất bản sách Trần Đức Thảo, PGS Hưng mới có trong tay trọn vẹn văn bản "Nội dung xã hội truyện Kiều" mà GS Thảo viết cho Tập san ĐH Sư phạm. Bài phê bình văn học sử này khiến ông có cảm giác như đã đọc ở đâu rồi, những ý kiến này có vẻ trùng lặp với một số quan niệm, luận điểm trong các chuyên luận hay giáo trình đại học nào đó. Đọc lại nhiều lần, đưa ra so sánh, PGS Hưng mới biết các tác giả chuyên luận và một số nhà phê bình đàn em đã thực sự kế thừa các luận điểm của Trần Đức Thảo mà không hề chú thích nguồn, xuất xứ.
"Tôi nghĩ, chắc các tác giả đó cũng không có điều kiện, hoặc không có đủ dũng khí đến gặp mà "có nhời" với cụ. Giai phẩm Tập san... chắc chắn thuộc số tư liệu kín, độc giả phổ thông rất khó có điều kiện tiếp xúc. Hơn nữa, việc chú thích một nhân vật hàng đầu của phong trào Nhân văn - Giai phẩm sẽ để những hệ lụy khó lường" - PGS Hưng phỏng đoán.
GS Trần Đức Thảo thuộc “thế hệ vàng một đi không trở lại” trong lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ 20: học hành bài bản ở nước ngoài và trở về tham gia cách mạng.
Cuộc đời và sự nghiệp của ông được đánh dấu bằng những sự kiện tinh thần và chính trị đặc biệt: từ cuộc tranh luận với nhà văn nổi tiếng Jean Paul Sartre 1949 đến việc trở về Việt Nam tham gia cách mạng 1951/1952, từ sự hiện diện trong vụ ánNhân Văn-Giai Phẩm 1956đến việc trở lại và qua đời trong âm thầm tại Pháp 1993, và cuối cùng là việc tác phẩmTìm cội nguồn ngôn ngữ và ý thứcđược tặng "Giải thưởng Hồ Chí Minh" đợt II, năm 2000.
Trong tham luận của mình,GS văn học Nguyễn Đình Chú đã phác họa “con người – sự nghiệp” của Trần Đức Thảo với 5 khía cạnh cơ bản:
Là người con ưu tú của Kinh Bắc – Bắc Ninh, cái nôi của người Việt, văn hóa Việt; là một trí thức trọn đời yêu nước với nhiều biểu hiện;là một lưu học sinh đã làm vẻ vang cho tổ quốc trên đất Pháp với tấm bằng thủ khoa thạc sĩ triết học đến nay chưa có người thứ hai; là triết gia duy nhất của Việt Nam trên trường quốc tế với những hành động, tác phẩm nổi trội, có ý nghĩa phát triển chủ nghĩa Mác theo hướng “duy vật biện chứng nhân bản” và người khai sinh bộ môn Lịch sử tư tưởng triết học cho giáo dục Việt Nam.
GS Phạm Thành Hưng (cùng biên soạn 2 công trình nổi tiếng trong số di sản đồ sộ của GS Thảo), nhìn nhận: Ông là hiện tượng tiêu biểu của người trí thức Việt Nam thế kỷ 20, người vừa là sản phẩm, vừa là nạn nhân của thời đại; đồng thời cũng là người góp phần tạo ra thời đại. Ông không thể thành thiên tài mà chỉ là môt "thần đồng triết học", vì đã chấp nhận làm một trí thức hiến thân cho cách mạng.
Các tác phẩm của Trần Đức Thảo được nghiên cứu nhiều ở nước ngoài.Một số tác phẩm nổi tiếng của ông đã được nhắc tới ở Việt Nam như:Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng, Tìm cội nguồn ngôn ngữ và ý thức, Vấn đề con người và chủ nghĩa lý luận không con người,v.v...
Trước đó, Trường CĐ Sư phạm phố Ulm - Pháp (nơi GS Thảo tốt nghiệp thủ khoa lúc 26 tuổi) cũng đã dành hẳn 2 ngày tổ chức hội thảo về Trần Đức Thảo và dự kiến sẽ tiếp tục tổ chức vào năm 2013. GS Trần Văn Đoàn (ĐH Đài Loan, ủy viên liên đoàn triết học thế giới) nói, Trần Đức Thảo là “nhà triết học có một vị trí đặc biệt” khi phản ánh về vị trí của ông trong giới triết học quốc tế.
Sửa sai lối làm khoa học "mờ, nhòe"
Được nhìn nhận là danh giá nhất trong "những ôm trùm văn hóa sáng danh của đất nước", nhưng số phận của Trần Đức Thảo nghiệt ngã chẳng ai bằng. Ông đã gặp bi kịchsuốt cuộc đời làm triết học trong hoàn cảnh phi triết học, hoàn cảnh mà người ta chỉ cần minh họa và phổ biến những luận điểm triết học có sẵn, không cần sự nghiên cứu, khám phá.
Sau khi qua đời, giá trị của GS Trần Đức Thảo được Nhà nước nhìn nhận lại với những truy tặng: huân chương Độc lập, giải thưởng Hồ Chí Minh. Một phần nhỏ trong số di sản đồ sộ của ông đã được tập hợp, dịch sang tiếng Việt và xuất bản. Tiến sĩ Cù Huy Chữ đã bỏ công lưu trữ di sản bề thế của ông với gần 200 tác phẩm bằng tiếng Việt, Pháp và Đức với khoảng 15 ngàn trang, mà chỉ riêng danh mục để liệt kê về "di sản Trần Đức Thảo" đã dày hơn 500 trang.
Cho rằng"một đất nước hùng cường, sánh với với năm châu không thể không có triết học",GS Nguyễn Đình Chú đặt vấn đề: cần nghiên cứu, khám phá toàn diện và thấu đáo giá trị tư tưởng triết học Trần Đức Thảo, để từ đó thúc đẩy triết học Việt Nam.
Tuy nhiên, vị giáo sư cao tuổi cũng nhận thấy "điều này không dễ" bởi đòi hỏi người làm phải có trình độ tiếng Pháp, đặc biệt là tiếng Đức thật giỏi; có trình độ hiểu biết nhất định về triết học thế giới; có hiểu biết về khoa học tự nhiên như vật lý học hiện đại, sinh vật học, khoa học nhân văn (nhân chủng học, sử học, tâm lý học, ngôn ngữ học, logic học) và quan trọng nhất là năng lực tư duy trừu tượng khoa học, trong khi thế mạnh của người Việt lại là tự duy cụ thể.
Nhìn nhận ở khía cạnh khác, GS Hoàng Chí Bảo phân tích, lâu nay việc nghiên cứu triết học ở Việt Nam bị mờ, nhòe vì lẫn với lý luận chính trị. Vị ủy viên Hội đồng lý luận trung ương này đề xuất cần sửa sai; trả lại cho triết học vị trí độc lập, tách hẳn nghiên cứu triết học độc lập với lý luận chính trị, nếu không thì nghiên cứu khoa học sẽ tiếp tục lạc hậu.
Bài học "siêu sư phạm"
Tiếp thu những bài học từ di sản đồ sộ của GS Trần Đức Thảo là điều không dễ với đa số người Việt Nam. Tuy nhiên những học trò, trực tiếp hoặc gián tiếp, đã thụ giáo được ít nhiều tinh thần cao đẹp từ nhà khoa học chân chính này.
Một số học trò khóa 1 Trường ĐH Sư phạm Hà Nội vẫn còn nhớ tới hình ảnh người thầy đến lớp không một mẩu giáo án, không ngồi ở ghế mà ngồi lên bàn, không hề nhìn sinh viên, chỉ ngước lên trần giảng đường, nói thì lúng túng, thỉnh thoảng tự mỉm cười. Giờ giảng cho sinh viên sư phạm nhưng sinh viên y dược học chung sân cũng sang nghe, đại giảng đường 35 Lê Thánh Tông từ phòng chính đến chuồng gà chật ních người nghe và tĩnh lặng.
Theo GS Nguyễn Đình Chú, người thầy tưởng như "phản sư phạm" ấy chính là một bậc "siêu sư phạm" vì đã gieo vào lòng ông mộtám ảnh suốt đờivề phải đeo đẳng và phấn đấu thèm khát suy nghĩ, thèm khát một năng lực tư duy trừu tượng khoa học.
Còn PGS Phạm Thành Hưng đúc kết, việc nghiên cứu và xuất bản di sản triết học của Trần Đức Thảo để lại hai bài học. Bài học về phương pháp tư duy và bài học "không kém phần quan trọng, đồng thời dễ có nhất", là bài học về nhân cách của người trí thức, cũng là bài học làm người.
GS Hưng cũng đem tới hội thảo một câu chuyện ông quan sát bấy nay.
Do điều kiện sống thiếu thông tin trầm trọng, phải đợi đến khi xuất bản sách Trần Đức Thảo, PGS Hưng mới có trong tay trọn vẹn văn bản "Nội dung xã hội truyện Kiều" mà GS Thảo viết cho Tập san ĐH Sư phạm. Bài phê bình văn học sử này khiến ông có cảm giác như đã đọc ở đâu rồi, những ý kiến này có vẻ trùng lặp với một số quan niệm, luận điểm trong các chuyên luận hay giáo trình đại học nào đó. Đọc lại nhiều lần, đưa ra so sánh, PGS Hưng mới biết các tác giả chuyên luận và một số nhà phê bình đàn em đã thực sự kế thừa các luận điểm của Trần Đức Thảo mà không hề chú thích nguồn, xuất xứ.
"Tôi nghĩ, chắc các tác giả đó cũng không có điều kiện, hoặc không có đủ dũng khí đến gặp mà "có nhời" với cụ. Giai phẩm Tập san... chắc chắn thuộc số tư liệu kín, độc giả phổ thông rất khó có điều kiện tiếp xúc. Hơn nữa, việc chú thích một nhân vật hàng đầu của phong trào Nhân văn - Giai phẩm sẽ để những hệ lụy khó lường" - PGS Hưng phỏng đoán.
Nghỉ mà chưa an
Sau khi nghỉ ở Trường ĐH Sư phạm Hà Nội, cuộc đời GS Thảo là chuỗi cô đơn, với những câu chuyện rớt nước mắt về một lối sống không thể giản tiện hơn (bỏ gạo lẫn nước mắm nấu cơm, bán dần đồ đạc, sách vở để sống, đi trên vỉa hè thường lẩm bẩm một mình...).
Trong những năm cuối đời, GS thiết tha một điều là sau khi mất, sẽ được về an giấc ngàn thu nơi quê cha đất tổ ở làng Song Tháp.
GS Nguyễn Đình Chú không giấu nổi nước mắt khi nhắc nhớ: "Triết gia không vợ con, lại xa quê họ tổ, chỉ có một người cháu ruột đã cao tuổi và sống trong Nam. Hài cốt của ông được nhà nước lệnh cho sứ quán đưa từ nghĩa tang Pere Lachaise về Văn Điển, nhưng ông nghỉ mà chưa an. Mong quê nhà đón ông về yên nghỉ".
Sau khi nghỉ ở Trường ĐH Sư phạm Hà Nội, cuộc đời GS Thảo là chuỗi cô đơn, với những câu chuyện rớt nước mắt về một lối sống không thể giản tiện hơn (bỏ gạo lẫn nước mắm nấu cơm, bán dần đồ đạc, sách vở để sống, đi trên vỉa hè thường lẩm bẩm một mình...).
Trong những năm cuối đời, GS thiết tha một điều là sau khi mất, sẽ được về an giấc ngàn thu nơi quê cha đất tổ ở làng Song Tháp.
GS Nguyễn Đình Chú không giấu nổi nước mắt khi nhắc nhớ: "Triết gia không vợ con, lại xa quê họ tổ, chỉ có một người cháu ruột đã cao tuổi và sống trong Nam. Hài cốt của ông được nhà nước lệnh cho sứ quán đưa từ nghĩa tang Pere Lachaise về Văn Điển, nhưng ông nghỉ mà chưa an. Mong quê nhà đón ông về yên nghỉ".
-
Hạ Anh
|
GS Trần Đức Thảo sinh tại làng Song Tháp, Châu Khê, Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, năm
1917 Năm 1936, ông được nhận học bổng sang Paris, Pháp để thi vào trường Đại học Sư phạm Paris. Ông tốt nghiệp thạc sĩ triết học hạng nhất tại Pháp lúc mới 26 tuổi (1942). Thay mặt sinh viên và trí thức Việt Nam du học ở Pháp, Trần Đức Thảo đã viết thư gửi về Tổ quốc, bày tỏ tình yêu nước nồng nàn. Năm 1952 ông về chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp. Sau 1954 về Hà Nội, ông kết hôn, đến năm 1967 thì ly hôn. Năm 1955, ông trở thành giáo sư Triết học và là Phó Giám đốc Đại học Sư phạm Văn khoa, Chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Ông bị quy tội dính líu đến phong trào Nhân văn Giai phẩm khi công bố hai bài báo có bàn đến một số vấn đề về tự do, dân chủ. |
Nhớ "nhà khổ hạnh" Trần Đức Thảo
11:08 29/06/2019Làng Song Tháp quê ông, cách làng tôi một cánh đồng. Ông là một trong những nhà nghiên cứu triết học hàng đầu của Việt Nam.
- Nhà giáo Lê Gia Linh: Người thờ triết gia Trần Đức Thảo tại từ đường
- Triết gia Trần Đức Thảo: Đạo đức người trí thức
Lớp cha chú, những người có học ở quê tôi thường lấy tấm gương ham học của gia đình ông để khuyên dạy lũ con cháu chúng tôi. Rằng đó là một gia đình hiếu học, có lòng yêu nước, yêu quê. Thời trước, Song Tháp còn là làng nghèo, người cha của ông, là cụ Trần Đức Tiến, có lòng hảo tâm đã bỏ tiền xây cây cầu bắc qua con ngòi để dân làng đi lại cho thuận tiện.
Cụ Tiến là người nho học chuyển sang tây học, luôn đi đầu trong việc xóa bỏ các hủ tục, kêu gọi mọi người học quốc ngữ, rồi cụ tham gia phong trào Đông kinh nghĩa thục. Chẳng biết đất Song Tháp tích tụ âm dương phát tích thế nào, mà hầu hết các ngôi mộ dài (mộ chưa sang cát) quê tôi đều đặt hướng quay đầu về Song Tháp, hướng đêm đêm có quầng sáng của thủ đô Hà Nội vọng về.
Từ lâu, ông quen cuộc sống một mình. Không vợ, không con. Hình như ông muốn khước từ tất cả hoặc số phận buộc ông như thế, để ông tập trung hết năng lực cho việc nghiên cứu triết học. Có khi, vừa đạp xe, ông vừa ngửa cổ lên trời, cười nói một mình. Họ đâu ngờ, đó lại là một triết gia danh tiếng thế giới.
Thời gian cuối đời, ông lại được nhà nước cử sang Pháp để nghiên cứu tiếp các công trình dang dở. Tuy ở ngay tại khu nhà đại sứ, nhưng ông vẫn lặng lẽ, lọ mọ như một cái bóng khiêm nhường và bí ẩn.
Cái số lận đận thì lận đận cho tới khi chết. Tâm niệm của ông, khi chết, được nằm yên nghỉ trên cánh đồng quê cha đất tổ, làng Song Tháp (Từ Sơn, Bắc Ninh). Nhưng rồi cũng không thực hiện được. Di hài của ông, Sứ quán của ta bên Pháp, đưa từ nghĩa trang Pere Lachaise về Hà Nội. Mà lọ tro cốt nhà triết học Trần Đức Thảo lại phải nằm đợi hơn bốn mươi ngày tại Nhà tang lễ Phùng Hưng, để chờ thủ tục.
Việc phân cấp chôn cất tại nghĩa trang Mai Dịch chỉ dành cho những người được Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất. Giáo sư triết học Trần Đức Thảo chỉ được Huân chương Độc lập hạng Ba. Dùng dằng mãi, di hài ông được chuyển về chôn cất tại khu A, nghĩa trang Văn Điển.
Thương thay, người tri thức lớn, khi chết rồi vẫn phải long đong.
Những ngày lọ tro cốt của ông còn dùng dằng tại nhà tang lễ Phùng Hưng, nhiều người cao tuổi ở làng quê Song Tháp vô cùng ái ngại. Họ muốn được đưa hài cốt nhà triết học về chôn cất tại nghĩa trang quê hương. Nhưng lực bất tòng tâm. Người cháu thân thiết của nhà triết học, người nhà gần gũi duy nhất, đã là người cao tuổi, đang ốm yếu trong thành phố Hồ Chí Minh.
Những cán bộ địa phương sở tại, là thế hệ trẻ, họ không hiểu rõ tầm vĩ đại và gốc gác của người tri thức xa quê lâu năm. Không ai dám quyết việc này. Và thế là, nguyện vọng trở về nằm nghỉ trên cánh đồng quê cha đất tổ của nhà triết học Trần Đức Thảo không thành hiện thực.
Nhiều giáo sư hàng đầu bộ môn khoa học xã hội, những năm 1956-1957, may mắn được là học trò của ông, đều chung nhận định, đó là người thầy "siêu sư phạm".
Trường đại học Sư phạm những năm ấy luôn ấn tượng những tiết giảng của triết gia Trần Đức Thảo. Đấy là người thầy đặc biệt, lên lớp không mang giáo án, không ngồi ghế, không nhìn học sinh, mà ông thường ngước nhìn vòm cao giảng đường. Khi giảng về các trào lưu triết học đình đám thế giới, thi thoảng ông mỉm cười một mình.
| Ảnh: L.G. |
Từ giảng đường sang trọng tại thủ đô Pa-ri hoa lệ, ông tự nguyện về nước, hăng hái lên chiến khu Việt Bắc tham gia cách mạng, với lý tưởng phụng sự Tổ quốc. Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng vui mừng đón tiếp ông. Song Bác Hồ và thủ tướng cũng băn khoăn vì cách mạng đang thời kỳ khó khăn, không có đủ tài liệu và phương tiện để triết gia làm việc.
Ngay vụ Nhân văn giai phẩm, Trần Đức Thảo cũng chịu nhiều hệ lụy. Chỉ khi Thủ tướng Phạm Văn Đồng trực tiếp gửi tấm danh thiếp động viên, ông mới đỡ phiền túy. Những học giả đương thời với ông, đều kính trọng mà nói rằng "Ông vừa là sản phẩm, vừa là nạn nhân của thời đại. Đồng thời, là người góp phần tạo ra thời đại".
* * *
Trong số các bức chân dung triết gia Trần Đức Thảo, theo tôi, bức
chân dung sơn dầu do họa sỹ Bùi Quang Ngọc vẽ, là đẹp nhất, thể hiện
đúng nhất cốt cách của triết gia.Họa sỹ Bùi Quang Ngọc là người bạn vong niên và từng làm việc cùng tờ báo với tôi một thời gian dài. Họa sỹ Ngọc kể, bức chân dung vẽ vào những năm tháng cuối, trước khi ông Thảo sang Pháp. Vẽ ròng rã cả mấy ngày liền. Vẽ với lòng trân trọng triết gia, cùng nỗi niềm sẻ chia và đồng cảm của một họa sỹ từng chịu nhiều hệ lụy, thăng trầm. Bức chân dung thể hiện được thần thái của triết gia: Vầng trán cao. Đôi mắt nghĩ ngợi, thẳm buồn.
Khi họa sỹ Bùi Quang Ngọc trao bức tranh cho triết gia Trần Đức Thảo, khuôn mặt đau khổ của triết gia chợt ánh lên niềm vui trong trẻo.
Triết gia trân trọng treo bức tranh lên tường.
Rồi ông loanh quanh tìm trong căn phòng trống trơn và sơ sài của mình một cái gì đó. Mà không có gì thật. Cuối cùng, ông bóc tấm ảnh mình trong thẻ chứng minh thư, trao tặng cho họa sỹ.
Đó là kỷ niệm thiêng liêng của triết gia Trần Đức Thảo với họa sỹ Bùi Quang Ngọc. Tấm ảnh nhỏ bé đó, họa sỹ vẫn lưu giữ cho đến ngày nay.
|
Một con người tầm vóc
Giáo sư Trần Đức Thảo là người quê làng Song Tháp (Châu
Khê, Từ Sơn, Bắc Ninh). Ông sinh ngày 26-9-1917, mất ngày 24-4-1993,
từng là học sinh xuất sắc của trường Albert Sarraut (Hà Nội). Năm 1935,
đỗ tú tài xuất sắc, ông theo học Trường luật Hà Nội.Năm 1936, ông được gửi sang Pháp học. Năm 1939, ông thi đỗ vào Trường cao đẳng sư phạm phố d'Ulm (Pa-ri), trường nổi tiếng về truyền thống tư tưởng tân tiến, văn hóa, khoa học. Đây cũng là nơi đào tạo các nhà tư tưởng, chính khách cho nước Pháp. Năm 1944, ông bảo vệ thành công thạc sĩ triết học. Trần Đức Thảo là một trí thức có lòng yêu nước cao cả, sẵn sàng hiến thân cho cách mạng. Giã từ Pa-ri, thủ đô ánh sáng với đầy đủ tiện nghi cho sinh sống và nghiên cứu, ông tự nguyện về Việt Nam, vào chiến khu Việt Bắc tham gia cách mạng, 1951-1952. Hòa bình 1954, ông được cử làm Phó Giám đốc Đại học Sư phạm Văn khoa. Là Chủ nhiệm khoa Lịch sử, dạy môn Lịch sử triết học ở Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1956-1957). Những hướng nghiên cứu chính của triết gia Trần Đức Thảo, là: Đối chiếu hiện tượng học của Hussert với chủ nghĩa duy vật biện chứng. Sự chuyển hóa phép biện chứng duy tâm Hegel thành phép biện chứng duy vật ở Mác, cùng vai trò của chủ nghĩa Mác trong nhận thức và cải tạo thế giới. Nhà thơ Huy Cận nhận định "Trần Đức Thảo là nhà triết học lớn của thế kỷ". Giáo sư Trần Văn Giàu thì khẳng định "Việt Nam chỉ có một nhà triết học duy nhất là Giáo sư Trần Đức Thảo". Năm 2000, Giáo sư Trần Đức Thảo được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cho công trình "Tìm cội nguồn của ngôn ngữ và ý thức". |
Một tác phẩm đồ sộ về sự nghiệp và cuộc đời triết gia Trần Đức Thảo
Cuốn sách “Hành trình Trần Đức Thảo - Hiện tượng học và chuyển giao văn hoá” vừa được dịch tại Việt Nam.
Thế hệ 8X trở lại đây, ít người biết rằng Việt Nam có một triết
gia được thế giới công nhận. Đó là Trần Đức Thảo, người có cuộc tranh
luận nổi tiếng và nhuốm màu huyền thoại với triết gia hiện sinh người
Pháp Jean-Paul Sartre (1905-1980) – người từ chối giải Nobel Văn học năm
1964.Triết gia Việt Nam duy nhất
Cuốn sách Hành trình Trần Đức Thảo - Hiện tượng học và chuyển giao văn hoá (dịch từ nguyên bản tiếng Pháp: L’itinéraire de Tran Duc Thao. Phénoménologie et transferts culturels) là kết quả của cuộc hội thảo khoa học về triết gia Trần Đức Thảo trong hai ngày 22 và 23/6/2012 tại Trường Sư phạm Cao cấp, phố Ulm, Paris (École Normale Supérieure, Rue d’Ulm/ENS).
Đây là ngôi trường lừng danh của nước Pháp và cũng là nơi đào tạo Trần Đức Thảo vào đầu những năm 40 của thế kỷ trước. Cuộc hội thảo này do chính nhà trường phối hợp với Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu khoa học Pháp (CNRS) và Kho lưu trữ Husserl tổ chức.
Cuốn sách được coi là tác phẩm nghiêm túc và mới nhất ở Việt Nam phản ánh toàn diện, sâu sắc, có giá trị học thuật cao, là kết quả nghiên cứu của các nhà triết học, các học giả uy tín, các giáo sư danh tiếng của Pháp, Bỉ, Canada...
Công trình đồ sộ này đã tiếp tục khẳng định tầm vóc của triết gia Trần Đức Thảo và vai trò của triết học Trần Đức Thảo đối với sự chuyển giao giữa các nền triết học trong thế giới đương đại. Cuốn sách do Nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn chủ trì dịch, hiệu đính và giới thiệu, các dịch giả uy tín: Bùi Văn Nam Sơn, Đinh Hồng Phúc, Phạm Anh Tuấn, Phạm Văn Quang.
| Tập sách Hành trình Trần Đức Thảo - Hiện tượng học và chuyển giao văn hoá.
|
Cuốn sách gồm hai phần chính. Phần thứ nhất tuyển chọn các bài nghiên cứu của học giả quốc tế về triết gia Trần Đức Thảo. Phần thứ hai là tác phẩm quan trọng nhất, nổi tiếng nhất của ông được nhà Minh Tân xuất bản tại Pháp năm 1951 – Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng (Phénoménologie et matérialisme dialectique).
Trong Phần thứ nhất, đáng chú ý là bài viết của sử gia người Pháp Philippe Papin (được độc giả trong nước biết tới với cuốn Lịch sử Hà Nội hàm súc, chân thực). Bằng lối văn mộc mạc và hàm triết, sử gia này đã kể cho chúng ta nghe về một hành trình “lưu đày nội tại” của triết gia trong thời gian ở Việt Nam, đặc biệt là sau thời kỳ Nhân văn Giai Phẩm (1956-1991).
Lắng dưới trầm tích của câu chữ là một nỗi đau khôn nguôi không chỉ của triết gia duy nhất người Việt mà còn là niềm cảm thông sâu sắc của một sử gia người Pháp hậu sinh với bậc tiền bối.
Ở phần hai, các dịch giả cũng đã tiếp thu một số thuật ngữ từ bản dịch của Đinh Chân năm 2004 khi dịch lại tác phẩm kinh điển Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng của Trần Đức Thảo. Tác phẩm này cho thấy một Trần Đức Thảo sâu sắc khi phân tích các khía cạnh khác nhau của tư tưởng Hegel và Hurssel, đặt nền móng cho những hiểu biết về triết học duy vật biện chứng, đặc biệt trong khía cạnh hiện tượng học.
Đọc sách triết, không phải đắm chìm nơi phần nổi của miên man câu chữ mà cần lắng lại những chỗ câu chữ không hề nói đến và vấp vào những việc trên thực tế đời sống mỗi người.
Lưu ý rằng, vào năm 1955, triết gia Trần Đức Thảo từng là Phó giám đốc Đại học Văn khoa, tiền thân của Đại học Sư phạm Hà Nội, cơ quan chủ quản NXB Sư phạm. Ngẫm kỹ, đây là điều đáng mừng và cũng là tấm lòng đáng trân trọng của lớp hậu sinh với triết gia Trần Đức Thảo.
GS Trần Đức Thảo - Một tài năng triết học nổi tiếng thế giới
Dân trí Việc xuất hiện một tài năng triết học hiện đại ở một đất nước còn nghèo nàn, lạc hậu, khoa học chưa phát triển như nước ta là một hiện tượng hiếm lạ.
Một hiện tượng hiếm lạ
Giáo sư Trần Đức Thảo
sinh ngày 26/9/1917 tại xã Song Tháp, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Phụ
thân ông là một viên chức nhỏ. Thời trẻ, Trần Đức Thảo theo học Trường
Albert Sarraut, đỗ "tú tài Tây" về triết loại loại xuất sắc, vào học
Trường đại học Luật tại Hà Nội một thời gian, rồi sang Pháp ôn luyện để
thi vào École normale supérieure d'Ulm (Đại học Sư phạm phố Ulm). Đây là
một trong mấy grandes écoles (trường lớn) của nước Pháp, nơi từng đào
tạo nên nhiều nhà tư tưởng, nhà khoa học lừng danh.
Trường tuyển sinh rất
khó, học bổng rất cao. Nhiều chính khách lỗi lạc, nhiều nhà bác học đoạt
Giải thưởng Nobel vẫn lấy làm hãnh diện nếu thời trẻ mình từng là
normalien - "học trò sư phạm". Một vài trí thức nước ta đầu thế kỷ 20 ưa
dùng từ Hán-Việt thường gọi trường này là "tối cao học phủ" của nước
"Pháp Lan Tây" (phiên âm đầy đủ từ France)! Trước kia, chỉ một số rất ít
người Việt Nam ta như Hoàng Xuân Hãn, Phạm Duy Khiêm, Lê Văn Thiêm,
Trần Đức Thảo, Trần Thanh Vân(1)... trúng tuyển vào bậc đại học, cao học
hay bậc nghiên cứu sinh của trường này. Gần đây, một số nhà toán học
trẻ Việt Nam xuất sắc như Ngô Bảo Châu(2), Phan Dương Hiệu(3)... cũng đã
bảo vệ thành công luận án tiến sĩ tại đây.
|
Mấy tháng cuối năm 2007 vừa
qua, nhân kỷ niệm lần thứ 90 ngày sinh của nhà triết học Trần Đức Thảo,
trong giới trí thức nước ta, đã diễn ra một số hoạt động nhằm tưởng nhớ
và tôn vinh tài năng cũng như nhân cách của ông, đồng thời, khẳng định
một lần nữa những đóng góp quý báu mà ông đã mang lại cho triết học thế
giới. Triết học - nhất là triết học hiện đại - là một lĩnh vực khoa học
hết sức trừu tượng, đòi hỏi phải có năng lực tư duy khái quát rất cao.
|
Năm
1939, Trần Đức Thảo đỗ rất cao vào Đại học Sư phạm phố Ulm. Năm 1942,
ông tốt nghiệp cao học (diplôme d'études approfondies - DEA) với bản
luận văn Phương pháp hiện tượng học của Husserl. Năm sau, ông đỗ thạc sĩ
triết học hạng nhất, ở tuổi 26. Cần lưu ý điều này: Kỳ thi để nhận học
vị agrégé, mà hồi đầu thế kỷ 20 các cụ nhà ta vẫn dịch là thạc sĩ, là
một kỳ thi tuyển rất khó, số người đỗ rất ít, không giống với việc thi
cao học (master) mà giờ đây ta cũng dịch là thạc sĩ. Tuy vẫn là tấm bằng
mà tiếng Việt gọi là thạc sĩ, nhưng tính chất khác nhau nhiều lắm!
Lúc bấy giờ, một số tờ
báo ở Pháp và ở Đông Dương đã coi việc một người Việt Nam đỗ đầu kỳ thi
thạc sĩ tại Đại học Sư phạm phố Ulm là một hiện tượng hiếm lạ, biểu hiện
của một tài năng xuất chúng. Ngay sau đó, vị thạc sĩ trẻ đăng ký viết
luận án tiến sĩ triết học về đề tài hiện tượng học của Husserl.
Lúc bấy giờ, Pháp và
nhiều nước châu Âu đang nằm dưới ách thống trị phát-xít Hitler. Giới
triết học phương Tây hy vọng có thể khôi phục tinh thần của văn minh
nhân loại qua việc nghiên cứu Hegel và Husserl.
Edmund Husserl là một
nhà triết học Đức nổi tiếng, bị bọn Hitler cấm giảng dạy tại các trường
đại học ở Tây Âu. Người hướng dẫn Trần Đức Thảo viết luận án tiến sĩ là
Giáo sư Jean Cavaillès rời bỏ Paris ra "bưng biền" tham gia kháng chiến
chống phát-xít. Điều đó đã ảnh hưởng sâu sắc đến việc "nhận đường" của
nhà triết học Việt Nam trẻ tuổi.
Nguyện vọng trở về tham gia cách mạng
|
Năm
1944, Paris giải phóng. Thạc sĩ Trần Đức Thảo được cử làm báo cáo viên
chính trị tại Đại hội kiều dân Đông Dương họp trong toà thị chính
Avignon, nơi mà ông thị trưởng là một đảng viên cộng sản. Trước Đại hội,
Trần Đức Thảo trình bày bản dự thảo cương lĩnh đòi thiết lập nền dân
chủ ở Đông Dương.
Cách
mạng Tháng Tám thành công ở Việt Nam càng khích lệ ông hăng say hoạt
động xã hội. Ông viết tài liệu tuyên truyền, tổ chức các cuộc họp báo để
ủng hộ Việt Minh và Chính phủ Hồ Chí Minh. Trong một buổi họp báo, một
nhà báo Pháp hỏi: "Người Việt Nam sẽ đón tiếp ra sao khi quân đội viễn
chinh Pháp đổ bộ?". Thạc sĩ Trần Đức Thảo trả lời ngắn gọn mà đanh thép:
"Nổ súng!"
Tháng 10/1945, ông và 50
kiều bào ta bị nhà cầm quyền Pháp bắt giam về cái "tội" gọi là "vi phạm
an ninh nhà nước". Báo L'Humanité (Nhân đạo) và báo Les Temps modernes
(Thời hiện đại) đăng bài phản đối hành động đàn áp đó.
Ba tháng bị đoạ đày
trong xà - lim kín mít khiến cho ông thấm thía nhiều điều. Ra tù, ông
liên tiếp viết bài cho nhiều tờ báo Pháp, bác bỏ những luận điệu vu
khống Mặt trận Việt Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương.
Năm 1946, trong thời
gian Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm nước Pháp, ông bày tỏ với Chủ tịch
nguyện vọng sẽ trở về nước tham gia cách mạng ngay sau khi bảo vệ xong
luận án tiến sĩ.
Tháng 8/1951, cuốn Hiện
tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng dày 368 trang, luận án tiến sĩ
của Trần Đức Thảo, được Nhà xuất bản Minh Tâm in ở Paris.
Tác phẩm triết học kinh điển
Mấy tháng sau, thực hiện
lời hứa của mình trước Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông rời nước Pháp trở về
Tổ quốc qua đường London - Prague - Moskva - Bắc Kinh - Tân Trào. Ông
trở thành một vị giáo sư đại học giữa rừng già chiến khu và, năm 1953,
làm việc tại Văn phòng Tổng Bí thư, dịch tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của đồng chí Trường Chinh ra tiếng Pháp.
Ông còn được cử làm Uỷ
viên Ban Văn - Sử - Địa (tiền thân của Viện Khoa học xã hội Việt Nam),
Phó Giám đốc Trường đại học Sư phạm văn khoa, rồi chủ nhiệm Khoa Sử
Trường đại học Tổng hợp (tiền thân của Đại học Quốc gia Hà Nội).
Trong những năm
1958-1965, mặc dù phải chịu đựng nhiều nỗi đau buồn, ông vẫn tập trung
nghiên cứu các tác phẩm kinh điển của Marx, Engels và Lenin, rồi trở
thành chuyên viên cao cấp của Nhà xuất bản Sự thật - Chính trị quốc gia.
Có thể nói, công trình
triết học đầu tiên của Trần Đức Thảo gây tiếng vang lớn trong giới học
thuật phương Tây là cuốn Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật bịên chứng.
Theo Bernard và Dorothée Rousset viết trong cuốn Dictionnaire des
phylosophes (Từ điển các nhà triết học) do Nhà xuất bản Đại học ở Paris
in năm 1984, thì cuốn sách ấy của nhà triết học Việt Nam là "một tác
phẩm gây sửng sốt" mà tính táo bạo trong cách nhìn và sự sáng tỏ trong
cách diễn đạt đã nhanh chóng được coi là "kinh điển"... Cuốn sách "đóng
vai trò quan trọng trong việc đào luyện nhiều nhà triết học trẻ"...
Từ điển các nhà triết
học là một công trình hàn lâm đồ sộ, dày 2.725 trang, giới thiệu thân
thế và sự nghiệp của các nhà triết học trên thế giới từ thời cổ đại cho
đến thời nay. Có những tên tuổi chỉ được dành cho 2-3 dòng ngắn ngủi.
Nhưng Trần Đức Thảo được trang trọng giới thiệu tới 3 trang khổ lớn.
Để lại dấu ấn trong cả một thế hệ trí thức Pháp
Năm 1973, Nhà xuất bản
Xã hội ở Paris in cuốn sách chuyên khảo Nghiên cứu nguồn gốc của ngôn
ngữ và ý thức của Trần Đức Thảo, dày 344 trang. Lời giới thiệu của nhà
xuất bản cho biết: Nhà triết học Việt Nam đã để lại dấu ấn "trong cả một
thế hệ trí thức Pháp qua những bài giảng của ông tại Đại học Sư phạm
phố Ulm cũng như qua cuốn sách in năm 1951" (tức cuốn Hiện tượng học và
chủ nghĩa duy vật biện chứng).
Nhiều tiểu luận triết học của ông được in đều đặn trên tạp chí La Pensée (Tư duy) ở Paris.
Năm 1978, Nhà xuất bản
Goldolat ở Budapest (Hungary), dịch từ bản tiếng Pháp và in cuốn Nghiên
cứu nguồn gốc ngôn ngữ và ý thức của Trần Đức Thảo, rồi đề nghị ông viết
một cuốn sách khác cũng về triết học. Một nhà xuất bản ở Mỹ, ngay sau
đó, dịch (cũng từ bản tiếng Pháp) và in cuốn Hiện tượng học và chủ nghĩa
duy vật biện chứng của Trần Đức Thảo. Một số tác phẩm của ông được in
lại tại Anh, Đức, hoặc được dịch sang tiếng Nhật, tiếng Tây Ban Nha...
Giới triết học Đức mời Giáo sư Trần Đức Thảo sang Berlin để trao đổi ý kiến về vấn đề con người.
Cuối năm 1988, cuốn Vấn
đề con người và chủ nghĩa "lý luận không có con người" (Le Problème de
l'homme et l'antihumanisme théorique) viết bằng tiếng Việt và được chính
tác giả dịch sang tiếng Pháp, đề cập nhiều vấn đề triết học hiện đại
theo quan điểm mác-xít, được in tại TP Hồ Chí Minh.
Khoả lấp nỗi buồn bằng nghiên cứu khoa học
Đến với triết học duy
vật biện chứng từ những năm trẻ trung sôi nổi nhất, và rồi, trong những
năm đau buồn cay đắng về sau, ông vẫn không vì thế mà quay ra "đốt cháy"
những gì mình từng "tôn thờ" thời trẻ. Nhân cách ấy, sự nghiệp ấy rất
đáng để cho ta suy ngẫm.
Còn về đời tư, thì có
thể nói vắn tắt, ông là người kín đáo, trầm tư, đãng trí, sống giản dị,
thanh bạch. Dù có lúc do sự hiểu lầm mà bị đối xử bất công, ông vẫn
không hề tỏ ra hằn học, oán thù, luôn lấy lòng đam mê nghiên cứu để khoả
lấp nỗi buồn riêng...
Trong một đợt đi công
tác ngắn hạn tại Pháp, lưu trú ở nhà khách Đại sứ quán Việt Nam, không
may lâm bệnh, Giáo sư Trần Đức Thảo đã đột ngột qua đời hồi 8 giờ 10
phút ngày 24/4/1993, tại Bệnh viện Broussais, Paris, thọ 76 tuổi.
Tháng 2/2000, ông được
Nhà nước ta truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về công trình Nghiên cứu
nguồn gốc ngôn ngữ và ý thức. Dù gặp nhiều trắc trở nhưng, cuối cùng,
giá trị khoa học đích thực của công trình nghiên cứu mà ông là tác giả
cũng được xã hội ta thừa nhận.
Hàm Châu
Ghi chú:
(1) Hiện là Chủ tịch tổ chức khoa học Rencontres du Vietnam (Gặp
gỡ Việt Nam), người đã cùng GS Nguyễn Văn Hiệu tổ chức sáu kỳ hội nghị
quốc tế lớn về vật lý hạt và vật lý thiên văn tại Việt Nam, và cùng GS
Odon Vallet (Đại học Sorbonne), trong suốt sáu năm qua, trao 10.560 suất
học bổng cho các học sinh, sinh viên và nghiên cứu sinh xuất sắc ở nước
ta.
(2) Con trai GS Ngô
Huy Cẩn, được mời làm giáo sư Đại học Paris-Nam khi mới 32 tuổi, đoạt
Giải thưởng quỗc tế Clay về toán học năm 2004, hiện là giáo sư thỉnh
giảng tại Đại học Ptinceton (Mỹ).
(3) Con trai GS Phan Đình Diệu, bảo vệ luận án tiến sĩ năm 27 tuổi.


Nhận xét
Đăng nhận xét