NỖI NIỀM OAN KHUẤT 51/g
Lần dở lại những cuộc đời oan khuất
Thương xót biết bao những ước vọng linh hồn
Căm giận biết bao lũ gà mờ giai cấp
Nỡ đày đọa nhau bất chấp lẽ sống còn(!)
----------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
© 1984-2012 Thụy Khuê
446Chia sẻ
Thương xót biết bao những ước vọng linh hồn
Căm giận biết bao lũ gà mờ giai cấp
Nỡ đày đọa nhau bất chấp lẽ sống còn(!)
----------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
Nhân Văn Giai Phẩm 8 - Hình thức kỷ luật trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm
Báo Nhân Văn bị đóng cửa vào giữa tháng 12 năm 1956. Hơn hai năm sau đó, những người liên quan đến Nhân Văn hay bị ảnh hưởng của Nhân Văn, mà nói theo ngôn ngữ thời đó, là bị "nọc độc của Nhân Văn" mới bị kỷ luật. Kỳ này, chúng tôi điểm qua hình thức kỷ luật dành cho những người chủ chốt.
Trong cuốn sách dày 370 trang mang tựa đề "Bọn Nhân Văn giai phẩm trứơc toà án dư luận" do nhà xuất bản Sự Thật ấn hành vào tháng sáu năm 1959 tại Hà nội, 83 văn nghệ sĩ đã có những bài viết về Nhân Văn Giai Phẩm và những người chủ trương.
Nội dung chung của tất cả các bài viết ấy là những lời nhẹ thì phê bình, lên án, nặng hơn thì thóa mạ, hạ nhục không tiêc lời những nhà văn, nhà thơ Nhân Văn Giai Phẩm, từng có thời là bạn đồng hội đồng thuyền với các tác giả.
Văn phong của họ khác nhau, và theo nhận xét của nhà nghiên cứu Thụy Khuê, thì qua những "văn bản tố, các tác giả đã để lại nhân cách trí thức của mình trong ký ức dân tộc." Bà cũng ngậm ngùi nhận định rằng quyển sách đã "ghi lại một thời kỳ mà nhân cách con người đạt tới đáy sâu của sự tha hóa".
Cuốn sách ghi rõ tên của những người đựơc gọi là "bọn đầu sỏ nhóm Nhân Văn Giai Phẩm", đứng đầu là nữ sĩ Thụy An, nhưng chính nhà văn nữ này thực ra lại không họat động gì hết cho Nhân Văn như những kỳ trước chúng tôi đã trình bày.
Chúng tôi mong mỏi nhận được ý kiến đóng góp, bổ sung từ quý vị và các bạn nghe đài, nhất là những người mà Nhân Văn là một cơn ác mộng. Mọi email xin gửi về Vietweb@rfa.org
Những người bị kết án tù là Nguyễn Hữu Đang, Trần Duy, Phùng Cung, Trần Thiếu Bảo chủ nhà xuất bản Minh Đức còn các văn nghệ sĩ đều bị đưa đi lao động cải tạo, bị cô lập và không có một tác phẩm nào được xuất hiện trước công chúng trong ít nhất 30 năm.
Trong cuộc chuyện trò vào năm 1999 với nhà nghiên cứu Thụy Khuê của chương trình Văn học đài RFI, nhà thơ Lê Đạt nhớ lại: (Xin theo dõi trong phần âm thanh bên trên)
Ông cũng nói về sự đối xử của xã hội lúc bấy giờ với ông: (Xin theo dõi trong phần âm thanh bên trên)
Một thành phần quan trọng của môi trường sống, nhất là đối với văn nghệ sĩ là bè bạn. nhà thơ Lê Đạt kể lại về mối quan hệ lúc đó giữa ông với người bạn thân Văn Cao, đồng nghiệp Xuân Diệu và bạn thân Nguyễn Đình Thi như sau: (Xin theo dõi trong phần âm thanh bên trên)
Nhà thơ Hoàng Cầm thì kể lại với nhà nghiên cứu Thụy Khuê rằng không ngờ cái kỷ luật ấy kéo quá dài, chứ không phải chỉ ba năm lao động như đã tưởng lúc ban đầu. Ông nói là "thời gian cứ thể kéo đi, nó kéo thế nào mà cho đến năm 1988. Tức là kỷ luật suốt 30 năm. Năm người Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán, và Hoàng Cầm, Đặng đình Hưng không đựơc in một cái gì cả trong suốt 30 năm.
Trong thời gian đó, nhà thơ phải lao động đủ mọi cách để sống còn, kể cả rủ Trần Dần đi làm nghề kéo xe bò. Một kết quả của những năm tháng đọa đầy đó là nhà thơ bị bệnh tâm thần, cụ thể là hỏang lọan và trầm uất mãi cho đến cuối năm 1988 mới tự phục hồi. Bệnh bắt đầu từ sau khi nhà thơ bị bắt giam 18 tháng sau vụ bản thảo "Về Kinh Bắc". Lúc ấy, Lê Đạt đến thăm và ông mô tả lại rằng Hoàng Cầm đúng là "một cái rẻ rách".
Sau này, khi đã đựơc phục hồi về cả sức khỏe lẫn vị trí trong nền văn học, Nhà thơ vẫn không dấu đựơc ngậm ngùi khi nhìn lại quãng đời đã qua của mình, như ông tâm sự với đài RFA: (Xin theo dõi trong phần âm thanh bên trên)
Lê Đạt
(1929-2008)
Trong ba người bạn thân cùng hoạt động NVGP,
Trần Dần viết nhật ký, Hoàng Cầm thuật lại dĩ vãng trong các bài ký, hồi ký,
băng ghi âm nói chuyện với bạn bè, chỉ Lê Đạt là không viết gì về đời mình.
Tại sao? Một phần, dường như ông không coi tiểu sử nhà văn là vấn đề quan
trọng, nhưng có lẽ còn lý do nữa, vì đời ông, nếu viết rõ ra, chỉ "có
hại" cho gia đình. Ông không muốn các con biết về hoạt động của cha để
đỡ bị liên lụy. Đào Phương Liên, con gái ông, hỏi: Bố là ai? Các con
không biết cha đã từng làm thơ, vì trong nhà "không
có một quyển truyện một quyển thơ nào".
Lê Đạt tên thật là Đào Công Đạt, sinh ngày 10/09/1929 tại xã Âu Lâu, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái, mất ngày 21/4/2008 tại Hà Nội. Cha là Đào Công Đệ, mất năm 1975, quê phường Á Lữ, xã Mỹ lộc, Phủ Lạng Giang, Bắc Giang, làm việc trong sở hoả xa Vân Nam tại Yên Bái, gặp mẹ ông là Nguyễn Thị Sen, mất năm 1982, bà người làng Đình Bảng, Bắc Ninh, theo gia đình lên Yên Bái buôn bán. Lê Đạt học tiểu học ở Yên Bái. 1941, 12 tuổi lên Hà Nội học trường Bưởi. Chiến tranh bùng nổ, trở về quê cha, tiếp tục trung học tại Á Lữ. Rồi đi theo kháng chiến. Về thời kỳ này, Lê Đạt chỉ ghi vài hàng sơ lược:
"Năm 45 khi cách mạng tháng 8 bùng nổ, tôi theo cách mạng, rồi đi kháng chiến, chủ yếu hoạt động trong ngành tuyên huấn. Năm 49, tôi về công tác tại ban tuyên huấn của TU đảng Cộng Sản Việt Nam. Năm 1952, tôi chuyển hẳn về Hội văn nghệ TU và bắt đầu cuộc đời sáng tác của nhà văn chuyên nghiệp"[1].
Trong Từ điển văn học, Nguyễn Huệ Chi viết: "Đầu kháng chiến, học tiếp trung học ở vùng kháng chiến rồi về công tác tại Ban Tuyên Huấn tỉnh Vĩnh Phúc và tiếp tục theo học trường đại học Pháp Lý[2] cho đến khi trường giải thể. 1949, chuyển lên ban Tuyên Huấn Trung Ương Đảng Lao Động VN. 1952 về Hội Văn Nghệ. Sau 1954, về Hà Nội, tiếp tục công tác ở Hội Văn Nghệ".
Đấy là những gì ghi trong tiểu sử chính thức.
Nhưng Hoàng Cầm cho biết, từ 1948 (19 tuổi), Lê Đạt đã là bí thư văn nghệ của Trường Chinh. Điều này dường như Lê Đạt không muốn nhắc đến.
Hoàng Cầm viết: "Đầu năm 1949, anh Lê Đạt, phái viên của Tổng bí thư Trường Chinh từ ban tuyên huấn được cử sang Hội Văn Nghệ làm trợ lý cho ông Tố Hữu"[3].
Hoàng Cầm trong băng ghi âm cho biết rõ hơn:
"Lê Đạt kể lại với tôi: Năm 1949, khi ông
Trường Chinh cử anh sang làm trợ lý cả chính trị và chuyên môn cho ông Tố
Hữu, ông ấy có dặn hai điều:
Thứ nhất, trình độ văn hóa của anh Lành (tức
Tố Hữu) có hạn, lãnh đạo anh em văn nghệ mà trình độ thấp thì bất lợi, vậy
anh phải giúp cho anh ấy nâng cao trình độ văn hoá lên. Thứ hai, anh Lành là
người tính nết arrogant, kiêu căng, hợm mình lại khinh người, mà trong văn
nghệ có những cây đa cây đề như Ngô Tất Tố, Nguyễn Tuân, Nguyễn Xuân Khoát,
Thế Lữ, Đoàn Phú Tứ... tất cả họ tập trung về theo kháng chiến, thì phải
khéo léo lắm, nếu làm mất lòng họ, họ bỏ về tề[4]
là một thất bại lớn.
Lê Đạt xử sự rất khéo, với tính kiêu căng
của ông Tố Hữu thì việc gì muốn làm, anh cũng bảo là do chỉ thị của ông
Trường Chinh, vì thế năm 1949, anh tổ chức được ba cuộc hội thảo quan trọng
tranh luận về thơ, nhạc, kịch. Làm cho không khí văn nghệ lúc bấy giờ sống
động hẳn lên, có thảo luận trong sinh hoạt hàng ngày của anh em văn nghệ.
Khoảng 1952, 53, tôi có đọc mấy bài thơ ngắn
của anh, như bài Lúa Bác Hồ gì đó, đăng trên báo Nhân Dân, thấy thơ
anh rất mới, khác hẳn thơ tôi. Anh không làm theo vần điệu cũ, thơ anh bám
sát đời sống hàng ngày, mà chữ rất mới. Tôi thấy Lê Đạt tính nết trẻ trung
nhưng học vấn uyên bác. Anh làm việc trên Tuyên Huấn từ đầu, ở Tuyên Huấn có
đủ loại sách báo, anh lại chịu học, chịu đọc, thơ tượng trưng, siêu thực của
Pháp, anh hiểu sâu sắc lắm.
Cuối năm 1954, chúng tôi gặp lại nhau ở Hà
Nội. Lê Đạt còn rất trẻ[5]
anh vừa ly dị cô vợ cốt cán,
lấy trong cải cách ruộng đất, đang yêu Thúy Thúy trong đoàn kịch Thế Lữ.
Lúc bấy giờ chúng tôi thân nhau lắm. Từ đầu
năm 1955, thường hẹn nhau, khoảng bốn rưỡi, năm giờ chiều ở quán trà Phúc
Châu của người Tàu, ở Hàng Giầy: Văn Cao, Đặng Đình Hưng, Lê Đạt, Trần Dần,
Hoàng Cầm... ta gọi là bộ ngũ. Quán này khi có khách đến thì đem ra một cái
khay, với phích nước sôi và một ấm có sẵn trà. Chúng tôi tha hồ uống, có khi
pha đến nước thứ 6, thứ 7, đến nước chủ nhật, loãng toẹt ra rồi. Nhiều hôm
gọi đến ấm thứ nhì, thứ ba. Bàn toàn chuyện thơ văn, khuyến khích nhau viết,
Lê Đạt, Trần Dần đọc nhiều, biết nhiều lý luận về thơ, các nhà thơ hiện đại
Pháp, Tử Phác nói chuyện âm nhạc mới... Thỉnh thoảng Phùng Quán cũng ghé qua
nghe các ông anh nói chuyện thi ca: Thơ Đông phương, thơ Tây phương. Lê Đạt,
Trần Dần, đọc nhiều, rồi họ nói lại thành ra mình học thêm được. Tiếng Pháp
tôi chẳng kém gì các ông ấy nhưng tôi lười lý luận. Đọc thơ tượng trưng của
Pháp, có chỗ tôi không hiểu, hỏi: Bài này nó hay ở chỗ nào? Tao dốt lắm. Thì
Lê Đạt lại thân mật giảng cho tôi rất kỹ, tôi quý anh ở chỗ đó.
Cuối năm 1955, lúc ấy Trần Dần, Tử Phác còn
đang đi học tập cải cách ruộng đất ở Yên Viên; gần Tết, Lê Đạt bảo tôi:
Mày có nhiều bài không? Tết có gởi bài cho báo nào không? Các báo thì đông
lắm, nhưng thơ mới kiểu chúng mình thì chưa chắc nó đã đăng đâu, hay ta soạn
ra một tập, gọi là tác phẩm mới gì đó, giao cho Thầy Bảo (tiếng lóng của
chúng tôi, nghiã là in tự do, không qua kiểm duyệt). Lúc đó vẫn còn
vài nhà in sách báo tư nhân như nhà xuất bản Xây Dựng, nhà Minh Đức. Tao
vẫn còn giữ cái bài Nhất Định Thắng của thằng Trần Dần, mày đi thúc đẩy Văn
Cao, nó còn nhiều tiềm năng lắm, chỉ có mày bằng vai vế, mới thúc đẩy được
nó, tao còn nhỏ, mà lại chưa có sự nghiệp gì, nói nó mắng cho. Thì tôi
nghe lời Lê Đạt đến thúc đẩy Văn Cao. Lúc ấy Văn Cao không sáng tác nhạc
nữa, anh đang mê vẽ, Lê Đạt giục tôi xuống nhà anh, Văn Cao hứa: - Được,
rồi tao sẽ có bài. - Liệu mấy ngày, một tuần nhé? - Ừ, được, ít nhất
tao có một bài, hào hứng lên là có hai. Thế là có bài Anh có nghe
chăng? của Văn Cao trong Giai Phẩm Mùa Xuân[6].
Lời Hoàng Cầm trong băng ghi âm, cho thấy
sinh hoạt vô tư và tự do của nhóm Giai Phẩm Mùa Xuân lúc ấy, cùng sự hình
thành cuốn giai phẩm đầu tiên và vai trò của Lê Đạt.
Việc Lê Đạt và Nguyễn Hữu Đang hoạt động
trong báo Văn Nghệ, đã được đề cập trong chương trước, ở đây chỉ nhắc lại
lời Hoàng Cầm: "Anh Lê Đạt lúc đó làm bí thư chi bộ
của báo Văn Nghệ, anh là người của Tuyên Huấn gửi sang như một nhân viên
nhưng thực sự là để lãnh đạo tờ báo vì anh ấy là bí thư chi bộ"[7].
Vậy Lê Đạt và Nguyễn Hữu Đang dường như đã
bàn tính với nhau từ trước, nắm báo Văn Nghệ. Cùng thời điểm đó, bên quân
đội, Tử Phác và Trần Dần nắm tờ Văn Học Nghệ Thuật. Hai tờ báo này sẽ
"thao túng" dư luận văn học qua vụ phê bình Vượt Côn Đảo của
Phùng Quán và Việt Bắc của Tố Hữu.
Trong bài "thú nhận", Lê Đạt có câu:
"Đảng đối với tôi có rất nhiều ân huệ, kéo tôi ra khỏi bàn tay phản động của bọn Quốc Dân Đảng, cho tôi công tác gần các đồng chí lãnh tụ"[8].
Như vậy, có thể tạm sắp xếp lại tiểu sử Lê Đạt, giai đoạn kháng chiến như sau: Năm 1945, 16 tuổi, còn học trường Bưởi, Lê Đạt chưa theo Việt Minh, lúc đó ông đang chịu ảnh hưởng Tự Lực văn đoàn, mẫu người lý tưởng đương nhiên là Dũng (trong Đoạn tuyệt và Đôi bạn) của Nhất Linh, tâm cảm Lê Đạt thời trẻ rất lãng mạn:
Yên Bái
dăm cô gái lỡ thì
thổn thức Nhất Linh
tay Loan Dũng
lên
ô kính bụi
Sau này, Lê Đạt hết sức chống lại cái lãng
mạn của Tự Lực văn đoàn, có lẽ cũng là cách chôn "lỗi lầm tuổi trẻ". Lê Đạt
theo Quốc Dân Đảng trong bao lâu? Có thể từ rất trẻ, theo cha, bài
Cha tôi, có những câu thơ úp mở:
Ngày nhỏ cha tôi dẫn đầu lũ trẻ chăn trâu
Phát ngọn cờ lau vào rừng Na Lương đánh
trận
Mơ làm Đề Thám...
Bởi thời ấy, chống Pháp, chỉ có vài con
đường: Việt Minh hoặc Quốc Dân Đảng. Nếu theo Việt Minh, đã là chính nghĩa,
có thể nói công khai. Vậy chắc Quốc Dân Đảng.
Từ 1945 đến 47 (16 đến 18 tuổi), tiểu sử
chính thức ghi là theo cách mạng, rồi theo kháng chiến. Vậy
tạm hiểu: theo cách mạng là thời theo Quốc Dân Đảng; đến 1947, mới theo
kháng chiến, tức là mới "giác ngộ" Việt Minh.
Hoàng Cầm trong băng ghi âm cho biết nhiều
thông tin về Lê Đạt, chưa thấy ghi ở đâu, có lẽ do chính Lê Đạt kể:
"Lê Đạt và Đặng
Đình Hưng, lúc đầu đi kháng chiến cũng là đi lang thang như vợ chồng Hoàng
Cầm thôi, tức là chưa biết tạt vào đâu để móc nối với kháng chiến. Bộ đội
thì bí mật, họ lại ăn mặc như người dân, rất khó phân biệt. Hai anh đi lang
thang thì gặp một người quen với anh Hưng, làm trưởng ty văn hoá Vĩnh Yên,
sau này là Vĩnh Phúc. Anh trưởng ty vớ được hai ông sinh viên trường Luật,
lại giỏi, thích quá. Một hôm ông Trường Chinh đi công tác, đêm về ngủ tại cơ
quan, anh trưởng ty khoe: Báo cáo anh, em có hai người giúp việc giỏi
lắm. Ông Trường Chinh cho gọi họ lên nói chuyện, rồi trò chuyện cả đêm
về công tác tuyên truyền, văn hoá. Sáng sau, ông Trường Chinh dặn anh trưởng
ty: Cậu thu xếp ngay cho hai anh này lên làm việc với tôi trên Tuyên Huấn
Trung Ương. Ông
Trường Chinh lúc bấy giờ (1947) làm tổng bí thư, chọn hai người làm thư ký
riêng, là Đặng Đình Hưng và Lê Đạt. Ông ấy muốn huấn luyện cả hai thành lý
thuyết gia của đảng Cộng Sản"[9].
Như vậy, Lê Đạt gia nhập Việt Minh lúc 18
tuổi, vì có tài, được tuyển ngay vào Tuyên Huấn Trung Ương, làm bí thư cho
Trường Chinh cùng với Đặng Đình Hưng (cháu họ Trường Chinh), nhạc sĩ, nhà
thơ, nhà trí thức có tầm vóc.
Trường Chinh quả biết dùng người: ông chọn
phụ tá Lê Đạt và Đặng Đình Hưng, sau này sẽ trở thành những nhà thơ tiên
phong cho thi ca hiện đại Việt Nam, tiếc rằng ông lại không tính đến cái tự
do của họ.
Vẫn theo Hoàng Cầm, 1949, khi Tố Hữu phụ
trách toàn bộ văn nghệ kháng chiến, Trường Chinh cử Lê Đạt sang làm trợ lý
cho Tố Hữu, thực chất là dạy văn hoá và sửa đổi tính tình Tố Hữu. Như vậy,
cấp lãnh đạo -Hồ Chí Minh hay Trường Chinh- đã thấy ở Lê Đạt, ngoài khả năng
văn hoá, còn có khả năng chiến lược và chính trị cao hơn Tố Hữu. Khi chuyển
Lê Đạt sang làm bí thư chi bộ báo Văn Nghệ, 1954, trung ương lại một lần nữa
xác định "lòng tin" vào Lê Đạt.
Những dữ kiện trên đây giải thích tại sao Lê
Đạt thấy mình vững hơn Nguyễn Hữu Đang, khi làm báo Nhân Văn. Thực chất Lê
Đạt khôn khéo và mềm dẻo hơn Nguyễn Hữu Đang, lại là "thầy" của Tố
Hữu, cho nên trong vụ thanh trừng Giai Phẩm Mùa Xuân, tuy Lê Đạt chủ xướng,
nhưng Tố Hữu vẫn còn nể Lê Đạt, chũi cả mũi dùi vào Trần Dần; cũng như ở
Thái Hà ấp, Tố Hữu đã có một thái độ tương đối mềm mỏng với Lê Đạt.
Lê Đạt thân thiết, kính trọng Thụy An và Phan
Khôi, bởi cả ba đều đã từng hoạt động hoặc có cảm tình với Quốc Dân Đảng. Lê
Đạt tranh đấu trên hai mặt: Về chính trị, chống chính sách đảng trị, đòi hỏi
tự do dân chủ và về văn nghệ, chủ trương đổi mới thơ ca.
● Đổi mới thi ca
Thất bại trong đấu tranh chính trị, nhưng Lê
Đạt thành công trong việc đổi mới thi ca. Sau hơn 30 năm cấm in, Lê Đạt được
"phục hồi" năm 1988. Tập Bóng chữ
[10]
tác phẩm đầu tiên xác định ông như một nhà thơ lớn, cùng với Thanh Tâm
Tuyền, Đặng Đình Hưng, Trần Dần, bốn nhà thơ mới, đã xây dựng nền thơ Việt
Nam hiện đại. Tiếp đến tập truyện ngắn Hèn đại nhân (Phụ Nữ, 1994),
thơ Ngó lời (Văn Học, 1997), Từ tình Epphen (Tạp Chí Thơ,
California, 1998), tập truyện ngắn Mi là người bình thường (Phụ Nữ,
2007), Thơ và đoản ngôn U75 từ tình (Phụ Nữ, 2007), và Tuyển tập
Đường chữ (Hội Nhà Văn và Bách Việt, 2009) in sau khi ông mất.
Chủ trương đổi mới thi ca của Lê Đạt bắt đầu
từ năm nào? Chắc từ trong
kháng chiến. Hiện nay, tập
Tỉnh mẹ (in trong Đường chữ) là chứng từ đầu tiên, chưa rõ năm
nào. Hoàng Cầm cho biết: sau Giai Phẩm Mùa Xuân, Lê Đạt làm thơ về quê
hương. Đến năm 1959, Đặng
Đình Hưng viết được tập Cửa ô[11],
tôi viết Về Kinh Bắc, Trần Dần viết Cổng tỉnh, Lê Đạt làm một
số thơ về vùng Yên Bái. Vậy tạm coi Tỉnh mẹ, làm trong khoảng 1955-
1959.
Một sự kiện ít người biết đến: Lê Đạt tổ chức
cuộc tranh luận về thơ năm 1949, là để bênh vực thơ không vần của Nguyễn
Đình Thi, đang bị phe thủ cựu Tố Hữu đánh. Hoàng Cầm viết:
"Đầu năm 1949, anh Lê Đạt, phái viên của
Tổng bí thư Trường Chinh từ ban tuyên huấn được cử sang Hội Văn Nghệ làm trợ
lý cho ông Tố Hữu. Vốn là một anh sinh viên rất trẻ, rất sôi nổi, vừa đặt
chân đến Hội, Lê Đạt đã làm thân với các bậc cha chú như Ngô Tất Tố, Nguyễn
Tuân, Thế Lữ, Nguyễn Xuân Khoát. (...) Lê Đạt khởi xướng ra cuộc tranh luận
về một đề tài mới mẻ và có vẻ hấp dẫn lắm: Vấn đề thơ không vần của Nguyễn
Đình Thi (...) Anh Nhị Ca (...) nói: "Tiếc quá! Cậu không dự hôm ấy, giá có
cậu thì có lẽ cũng góp được nhiều ý kiến bênh vực cho cái gọi là thơ không
vần. Đằng này chỉ có tớ với Lê Đạt thêm một thằng Lưu Quang Thuận. Và anh
Bửu Tiến. Cũng may có thêm bác Phan Khôi. Ông già này lại bênh rất hùng hồn,
mày ạ. Còn một tá những ông già khác không chịu nói gì, hoặc có nói lại về
hùa với ông Lành[12].
Anh Thi đâm ra yếu thế, sau cứ đành giơ sườn ra cho các ông ấy thụi. Thành
thử, cái loại thơ tự do không vần bị ăn một trận đòn đếch cãi vào đâu được"[13].
Lê Đạt cũng nói:
"Thời kháng chiến, tôi và Nguyễn Đình Thi mới đầu chịu ảnh hưởng Eluard và
tôi cũng làm thơ không vần như anh Thi. Tôi trọ ở nhà Eluard không lâu. Một
thời gian dài tôi và Trần Dần chịu ảnh hưởng của Maïakovski rất đậm[14]".
Như vậy, Lê Đạt cùng trường phái thơ không
vần với Nguyễn Đình Thi từ 1948.
●
Đem bục công an đặt giữa tim người
Bài thơ Nhân câu chuyện mấy người tự tử,
gây sóng gió suốt thời kỳ NVGP, tiêu biểu sức phản kháng mãnh liệt của nhà
thơ đối với chế độ độc tài, ngăn cấm tự do luyến ái, can thiệp vào đời tư
của con người, khởi đi từ những sự kiện có thật trong đời Lê Đạt:
Lê Đạt kết duyên với cô Nguyện, một cốt cán trong Cải cách ruộng đất, nhưng họ không hợp nhau, chỉ sống chung một thời gian ngắn rồi hai bên thoả thuận ly dị. Thời gian sau, Lê Đạt yêu Thúy Thúy (Nguyễn Thị Thúy), nghệ sĩ đang lên của đoàn Kịch Trung Ương. Năm 1956, hai người sống chung. Việc "bỏ người vợ cốt cán", để lấy vợ nghệ sĩ, đã gây cho Lê Đạt và Thúy Thúy, không ít khó khăn, cả hai đều bị kiểm thảo, Trần Dần ghi trong nhật ký những ngày từ 23 đến 27/9/1955 như sau:
"Phê phán Lê Đạt:
Đồng chí định bỏ vợ lấy Thúy là bỏ cục vàng
lấy cục đất. Còn gì quý hơn là người làm việc cho Đảng? Đi CCRĐ[15]
bao nhiêu đợt rồi. Thành phần nông dân cốt cán. Đồng chí còn muốn gì? Không
yêu nhân dân thì yêu ai? Chỉ có kẻ thù mới không yêu nhân dân thôi chứ!
Kể xấu Thuý. Con lính đế quốc.
Nhăng nhít nọ kia bao nhiêu vụ rồi. Tôi không thể đồng ý đề nghị của đồng
chí. Không bao giờ Đảng đồng ý những cái sai. Đồng chí lắm lý luận lắm, đao
to búa lớn, vợ đồng chí hiền lành, đồng chí có đem lý luận đàn áp, dù vợ
đồng chí có bằng lòng ly dị, Đảng cũng không đồng ý vì biết chắc chắn rằng
đó chỉ là vì bị đồng chí đàn áp, bằng lòng mồm chứ không bằng lòng thực"[16].
Trần Dần cung cấp một số thông tin đáng quý: Cô Nguyện là thành phần cốt cán, có lẽ đã được Đảng "gả" cho Lê Đạt. Cô Nguyện bằng lòng ly dị (trên thực tế cô Nguyện đứng đơn xin ly dị). Vì vậy, Đảng răn đe: "dù vợ đồng chí có bằng lòng ly dị, Đảng cũng không đồng ý".
Nhưng không chỉ có mình Lê Đạt, mà Hoàng Cầm,
Trần Dần, Tử Phác, Đặng Đình Hưng, Trần Đức Thảo, Hoàng Yến,... đều bị Đảng
xen vào đời tư, ngăn cấm tự do luyến ái, hoặc phá vỡ hạnh phúc gia đình.
♦ Hoàng Cầm
Hoàng Cầm kể:
"Tôi gặp bà Hoàng
Yến lần đầu vào khoảng tháng giêng năm 1945, lúc đó bà ấy đã nhận lời đóng
vai Kiều Loan và đã tập được 4, 5 buổi, không hiểu sao ông chồng cũ của bà
ấy lại đổi ý, không cho tập tiếp. Chín năm sau, khi đi kháng chiến về, tôi
gặp lại ở Hà Nội, thì ông chồng đã chết cách đấy hai năm. Trông bề ngoài có
vẻ quý tộc, đài các, còn đẹp lắm, tuy bên trong cuộc sống rất cực khổ, vì
ông chồng bị phá sản, tự tử chết đi để lại toàn nợ nần. Gặp bà ấy, trong tôi
nổi lên một sự thương cảm lạ lùng và quyết định xây dựng với bà ấy. Lúc đầu
chỉ đi chơi với nhau, tối tôi về doanh trại.
Từ tháng 3, tháng
4/1955, tôi ăn ở với bà Hoàng Yến, tuy không tổ chức cưới xin gì, cứ độ mấy
ngày tôi ra ngủ ở 43 Lý Quốc Sư một tối, sáng lại về trại. Tôi là trưởng
đoàn văn công nên có thẻ đỏ, đi về lúc nào cũng được. Lúc ấy cũng là lúc tôi
tham gia kiến nghị đòi hủy bỏ vai trò chính trị viên trong quân đội, trả văn
nghệ về cho văn nghệ của Trần Dần, Tử Phác.
Đến khoảng tháng
4/1955, một hôm tôi nhận được giấy triệu tập của Cục Tổ Chức, thuộc Tổng Cục
Chính Trị, yêu cầu đồng chí Hoàng Cầm phải có mặt đúng 9 giờ sáng ngày... có
việc cần. Giấy ký tên Thành, Lê Thành gì đó, cục phó Cục Tổ Chức. Tôi lên.
Thấy hắn tỏ ra rất oai, mình chào nó không chào lại. Tôi tự kéo ghế ngồi,
bảo đã nhận được cái giấy anh triệu tập, xin anh cho biết việc gì? Bằng một
giọng lạnh lùng, hách dịch, hắn bảo: "Ít lâu nay, chúng tôi được báo cáo
anh có quan hệ với một người đàn bà tư sản ở ngoài phố. Tôi gọi anh lên đây
báo cho anh biết kể từ hôm nay, anh phải cắt đứt ngay quan hệ với người đàn
bà đó, nếu không, anh sẽ bị thi hành kỷ luật rất nặng".
Thế là mình biết
rõ ý định của nó rồi, nó đưa ra cái đường lối của Đảng là không quan hệ với
giai cấp tư sản vì đó là kẻ thù. Nhưng cái bà Lê Hoàng Yến mà nó gọi là tư
sản thì vừa chua chát vừa buồn cười, hay tại cái dáng đẹp đài các của bà ta?
Người đàn bà ấy phải nuôi một đàn con 6 đứa, đứa lớn nhất 11 tuổi, với một
mẹ già, một quả trứng không có mà ăn, chỉ toàn ăn rau muống với dưa, lương y
tá công nhật hạng bét, 100 đồng, làm ở bệnh viện Việt Đức.
Tôi bèn xích cái
ghế lại gần hắn, hỏi: "Anh Thành à, anh cho tôi biết thế nào là tư sản?"
Thế là nó thấy mình vặn lý, nó đập bàn quát: "Này, tôi không lý luận
gì với anh nhá! Chính sách tiếp quản thủ đô anh đã học hết rồi! Tôi gọi anh
lên đây để cảnh cáo anh. Anh cứ liệu hồn đấy". Thế là tôi lấy chân gạt
cái ghế ra, đứng dậy đi phắt ra cửa, đóng sầm một cái, rồi ra về. Tôi viết
ngay một cái thư xin giải ngũ hoặc chuyển ngành sang Hội Văn Nghệ, gửi đủ
bốn ông: đồng chí tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, đồng chí chủ nhiệm Tổng Cục
Chính Trị Nguyễn Chí Thanh, đồng chí trưởng Ban Tuyên Huấn Lê Quang Đạo,
đồng chí phó Ban Tuyên Huấn Võ Hồng Cương.
Viết xong tôi đưa
cho ông Võ Hồng Cương xem trước, ông trố mắt hỏi: Tại sao anh lại làm cái
này nhỉ? Tôi trả lời đại ý: "Tôi đi bộ đội cũng tám năm rồi, mà trong
quân đội tôi đã làm trọn nghiã vụ, thì bây giờ hoà bình, tôi xin chuyển
ngành hoặc giải ngũ". Anh Cương nói: "Trong quân đội anh được mọi
người rất yêu mến, nhất là anh Giáp rồi anh Thanh đấy, cái đơn anh xin giải
ngũ thật vô lý". Tôi bắt buộc phải kể lại câu chuyện sáng nay: "Anh
Thành bên Cục Tổ Chức triệu tập tôi, cảnh cáo tôi có quan hệ với một người
phụ nữ ngoài phố, cái đó tôi không chối, nhưng lại nói là quan hệ bất chính
với một người đàn bà tư sản, phải cắt đứt ngay. Tôi chỉ hỏi thế nào là tư
sản thì anh ấy đập bàn đập ghế với tôi, thì anh bảo tôi còn ở lại quân đội
sao được. Anh là cục phó Cục Tuyên Huấn, nhưng Cục Tổ Chức vẫn nắm sinh mệnh
của anh vì họ nắm lý lịch của anh. Tôi là nghệ sĩ, tôi quen sống tự do, mà
lại phải ở dưới quyền một người như thế thì làm sao tôi chịu được". Anh
Cương hơi lúng túng: "Cái này là bệnh ấu trĩ, chứ anh Thành làm sao có thể
thi hành kỷ luật anh về chuyện ấy được!" "Người ta là cục phó Cục Tổ Chức mà
người ta nói như thế thì người ta thừa sức kỷ luật tôi về việc hủ hoá, đạo
đức không tốt, có quan hệ với tư sản, kẻ thù của cách mạng". Nhưng anh Cương
nhất quyết từ chối. Thế là lá đơn tôi xin giải ngũ cứ nằm chờ, từ tháng 5
đến tháng 11, tôi nhất định không đổi ý, mà các anh, anh Giáp, anh Thanh,
anh Cương, đều muốn giữ tôi lại. Nhưng tôi biết mình là người sống buông
thả, lãng mạn về chuyện phụ nữ, mình biết bệnh của mình, không thể ép vào
cái kỷ luật ấy được. Trong kháng chiến đã ba lần tôi từ chối vào đảng, chỉ
vì nghe đọc cái kỷ luật của đảng viên, là tôi đã ngại rồi. Sau cùng tôi nghĩ
chỉ còn cách nhờ ông Tố Hữu. Tố Hữu lúc bấy giờ đối với tôi chỉ có vụ phê
bình thơ Việt Bắc, đối với ông ấy thì cũng nặng nề đấy, nhưng cũng chưa tan
vỡ lắm, ông ấy vẫn có phần nể mình. Tôi mới viết thư cho ông Tố Hữu, muốn
xin sang làm việc bên Hội Văn Nghệ, nghiã là xin chuyển ngành thôi, chứ
không xin giải ngũ nữa. Tố Hữu viết thư cho ông Lê Quang Đạo, mọi việc được
giải quyết ngay. Ngày 8/11/1955 tôi ra khỏi quân đội. Về Hội Văn Nghệ, thì
được ông Hoài Thanh phân sang làm việc ở nhà xuất bản Văn Nghệ với Tô Hoài
và Kim Lân.
Lúc đó là tháng
1/1956.
♦ Trần Dần
Hoàng Cầm kể:
Từ cuối năm 1954, Trần Dần yêu một người phụ
nữ. Một hôm đi xem chiếu bóng với Cao Nhuệ, tình cờ hai anh gặp hai cô gái
có dáng đi uyển chuyển, bèn lân la làm quen, rồi rất nhanh anh Dần có cuộc
tình với cô Khuê. Hẹn với cô Khuê, thì anh ấy, hoặc mượn thẻ đỏ của tôi để
ra trại, hoặc trèo tường ở chỗ đầu Lý Nam Đế.
Lúc bấy giờ, trong quân đội có tin đồn rất
ghê: Vì cô Khuê theo đạo Cơ Đốc, lại là con nuôi ông tổng giám mục, tên là
Douley (?) gì đó, nên nó tung tin cô Khuê được gài lại làm gián điệp, mà
gián điệp thì trước tiên nó xông vào quân đội, và như thế là Trần Dần mắc
cạm bẫy gián điệp. Tôi mới hỏi ông Võ Hồng Cương: "Có gì mà bảo cô ấy là
gián điệp hở anh?" Ông Cương rất lành và thật thà, ông ấy bảo: "Cái
này là bên Cục Tổ Chức và Cục Bảo Vệ, bao giờ người ta cũng theo dõi tất cả
hành động của cán bộ khi mới về tiếp quản, tôi cũng chẳng biết thế nào,
nhưng anh là bạn thân của anh ấy, anh bảo anh ấy thôi đi, chuyện này nó
phiền phức quá, mà tôi thì không muốn làm cái gì nặng nề với anh ấy".
Nhưng cái dư luận ấy càng ngày càng tăng, bởi vì Trần Dần và Tử Phác còn đưa
ra cái Đề nghị cải tổ, mà họ cho hai anh là chính, Hoàng Cầm không sâu sắc
gì, chỉ a dua thôi, không phải chủ mưu. Thế là họ mở cái lớp đấu tranh nội
bộ chống Trần Dần Tử Phác, ông Võ Hồng Cương phải chịu trách nhiệm, học tập
tình hình trong Cục Tuyên Huấn, có biểu hiện không tốt, học tập để đấu tranh
chống tư tưởng tư sản của Trần Dần. Sau đó, Trần Dần và Tử Phác bị kỷ luật
hai tháng[17],
bị giam trong hai cái phòng, để viết kiểm điểm, tối họ khoá cửa để anh ấy
khỏi trèo tường ra ngoài. Hoàng Cầm thì được ở Liễu Giai với đoàn văn công
và không bị truy tố gì cả, mặc dầu có tham gia bản kiến nghị. Độ mấy ngày
viết xong kiểm điểm, thì anh ấy làm thơ. Anh Dần có bài thơ nhớ cô Khuê hay
lắm. Cũng trong thời gian đó Trần Dần viết bài thơ dài Nhất Định Thắng.
♦ Tử Phác
Về trường hợp nhạc sĩ Tử Phác, Hoàng Cầm kể:
Tử Phác là con nhà tư sản, sau 1954, về Hà
Nội, anh vẫn giữ nếp sống tư sản, về ở nhà riêng, phố Hàng Giấy, trước cửa
chợ Đồng Xuân, nhà to lắm. Anh có bà vợ chính thức là cô Nghiã, dạy piano,
violon, ở trường nhà nước. Tử Phác làm trưởng phòng Văn Nghệ Quân đội, vì
dan díu với một cô diễn viên, nên bị mất chức. Tử Phác, Trần Dần và tôi, đều
bực mình về việc văn nghệ sĩ bị trói buộc trong cái kỷ luật nghiệt ngã, nên
bàn nhau làm cái kiến nghị lên ông Nguyễn Chí Thanh để cải tiến lãnh đạo văn
nghệ.
Tử Phác bị đánh không phải vì chuyện tình
duyên mà vì thái độ của anh: Anh luôn luôn chống lại những giáo điều. Khi
cán bộ lên lớp dạy dỗ mọi người thì Tử Phác cứ khinh khỉnh, quay mặt đi,
không thèm nghe, ngồi quấn thuốc lá hút. Vì thái độ kiêu kỳ, khinh cấp trên,
nên Tử Phác bị ghét, bị coi là đồng loã với Trần Dần chống Đảng, bị bắt hai
lần cùng với Trần Dần[18].
Ngoài thái độ kiêu kỳ, Tử Phác còn là thư ký
toà soạn báo Sinh Hoạt Văn Nghệ của quân đội. Ông bị liệt vào tội cùng Trần
Dần tổ chức hội họp soạn bản Dự thảo và chiến dịch chống Đảng trên báo Sinh
Hoạt Văn Nghệ.
♦ Đặng Đình
Hưng
Hoàng Cầm kể:
"Năm 1952, Đặng
Đình Hưng nhận chỉ thị của ông Trường Chinh đứng ra thành lập Đoàn Văn Công
Nhân Dân Trung Ương, anh làm đoàn trưởng kiêm chính trị viên. Bà Kim Thoa vợ
anh Hưng đã về Hà Nội từ trước 1952. Cũng năm ấy, bà Thái Thị Liên, nữ dương
cầm nổi tiếng, ở Pháp, được ông Pham Văn Đồng mời về nước. Bà Liên là vợ goá
của ông Trần Ngọc Danh, em ruột ông Trần Phú. Đón bà Liên về, ông Đồng đưa
lên sinh hoạt ở Đoàn Văn Công Trung Ương của Đặng Đình Hưng. Chẳng bao lâu
hai người yêu nhau. Lúc ấy, bà Thoa đã về Hà Nội và người ta chưa biết cuộc
chiến khi nào kết thúc. Việc đến tai Tố Hữu, nếu là người khác, thì đã bị
ông quác lên ngay, nhưng ông Hưng thì ông Tố Hữu không dám, vì là bí thư và
cháu họ của ông Trường Chinh. Sau 1954, ông Hưng thuê nhà phố Hai Bà Trưng ở
với bà Liên[19],
nhưng cũng không bỏ hẳn bà Thoa. Rồi có chuyện bà Thoa kiện lên ông Trường
Chinh, ông này giao cho ông Tố Hữu giải quyết.
Một hôm, khoảng 8
giờ tối, bà Liên đi vắng, chúng tôi đang ngồi uống rượu với ông Hưng thì ông
Tố Hữu sai liên lạc xuống nói với ông Hưng: Anh Tố Hữu mời anh lên nói
chuyện. Ông Hưng bảo tôi: Thằng đó gọi tao làm gì, tao đâu có quan hệ
gì với nó, ban ngày thì là việc hành chánh, ban đêm tao đéo đi!
Tôi can: Hưng ơi, dù sao cậu cũng là đảng viên, đoàn trưởng đoàn văn
công, thì vẫn ở dưới quyền Tố Hữu, mà người ta mời lên chứ có gọi đâu!
Tôi kích lên như thế thì ông ấy mới đi. Độ một tiếng sau, thấy trở về, mặt
lầm lầm lì lì, chẳng nói chẳng rằng, ngồi xuống uống rượu tiếp. Một lúc tôi
mới hỏi: Có việc gì quan trọng không? Thế là Hưng cáu: Mẹ nó đập
bàn với tao, thì tao đập lại. Nó bảo: Anh không cắt đứt với bà Liên
thì anh coi chừng cái sinh mạng chính trị của anh. Tao bảo: Tôi không
có lỗi gì với Đảng hết, việc làm tôi không sai phạm gì hết. Việc bà Liên và
bà vợ tôi là chuyện riêng của tôi, Đảng không có quyền can thiệp. Thế là
nó đập bàn: Anh coi chừng cái sinh mạng chính trị của anh. Tao cũng
đập bàn: Tôi chả coi anh ra cái thá gì cả, anh
không là cái thá gì mà anh dọa tôi!
Thế là ngày hôm
sau Tố Hữu chỉ thị cho Nguyễn Xuân Khoát, tổ trưởng đảng bên âm nhạc, kiểm
điểm Đặng Đình Hưng, bắt nhận lỗi hủ hoá với bà Liên. Ông Khoát nhận chỉ thị
thì phải làm chứ ông biết thừa tính ông Hưng. Ông Khoát tổ chức ba buổi, hỏi
ý kiến anh Hưng nghĩ thế nào về việc bà Liên, ông Hưng trả lời dứt khoát:
Tôi không có lỗi gì hết mà phải kiểm điểm. Việc tôi
với bà Liên là việc riêng, Đảng không có quyền can thiệp.
Sau ba ngày kiểm
điểm kết quả zéro, đến ngày thứ tư Tố Hữu ra lệnh khai trừ khỏi Đảng và cất
chức đoàn trưởng, Thế Lữ lên thay. Việc này hoàn toàn không dính dáng gì đến
NVGP, bởi vì Đặng Đình Hưng không viết bài cho NVGP, chuyện gia đình anh
Hưng là chuyện riêng, nhưng người ta kéo vào NVGP, bởi vì cái gì cưỡng lại
chỉ thị của Đảng, chống lại Tố Hữu thì bị quy là NVGP"[20].
Hai nhạc sĩ Đặng
Đình Hưng và Tử Phác hầu như không đóng góp bài vở cho NVGP -Tử Phác chỉ
viết một bài nghiên cứu âm nhạc- nhưng vẫn bị thanh trừng nặng nề vì Đặng
Đình Hưng được coi là đệ nhất quân sư. Tử Phác, thư ký toà soạn báo Văn Học
Nghệ Thuật, là đệ nhị quân sư, đã cùng Trần Dần chủ mưu chống Đảng.
●
Áp
lực bắt vợ Nhân Văn bỏ chồng
Hoàng Cầm kể:
Sau NVGP, ở những
nơi có vợ Nhân Văn làm việc, đều được người ta vận động chi bộ, nếu là đảng
viên hoặc công đoàn, nếu ngoài đảng, cho người đó bỏ chồng. Lập luận đưa ra:
NVGP có tư tưởng cực kỳ xấu, phản Đảng, mà sống với người chồng như thế thì
không thể hạnh phúc được.
Ví dụ, bà Nhất là
vợ ông Trần Đức Thảo, dạy trường Cao Đẳng Sư Phạm. Hai người lấy nhau lâu
rồi nhưng không có con. Thì chi bộ đại học vận động bà Nhất phải làm đơn ly
dị, vì chồng có tư tưởng xấu, chống tổ quốc, chống Đảng. Chuyện đến tai ông
Phạm Văn Đồng, ông Đồng mời bà Nhất lên vì ông rất kính trọng ông Trần Đức
Thảo, can gián đại ý: "Việc anh Thảo tham gia NVGP, nếu ta gọi là sai lầm
thì đó cũng chỉ là cái sai lầm nhất thời, nếu chị lấy cái cớ đó để ly dị,
tôi e rằng nó xấu hổ cho người trí thức lắm". Quả nhiên bà Nhất về có
rút cái đơn ly dị đi. Và chi bộ cũng biết ý kiến ông Đồng như thế, nên nó
đình lại 5 năm, rồi sau nó làm lại, thủ tục rất nhanh, ông Đồng không biết,
lần này ly dị thật. Đấy là chuyện họ ép bà Nhất.
Còn chuyện tôi
với bà Lê Hoàng Yến thì như thế này: khoảng năm 1959, sau khi thi hành kỷ
luật, tôi đi lao động ở Thái Bình về, bà Yến kể: Một buổi sáng, anh thư ký
công đoàn ở bệnh viện Việt Đức, ông giám đốc và một người nữa, đến nói
chuyện với tôi, đề nghị tôi bỏ chồng: "Chồng chị là NVGP, tội nặng đấy,
tư tưởng chống Đảng là xấu lắm, như ở bên Trung Quốc thì người ta đã bắn bỏ
rồi, bên ta nhờ có cụ Hồ bao giờ cũng khoan hồng...". Bà ấy trả lời:
"Báo Nhân Văn thì tôi cũng chả đọc, mà có đọc tôi cũng chả hiểu họ viết gì,
mà cho là phản động. Bây giờ các anh lại bảo Nhân Văn là xấu, tôi cũng chả
hiểu xấu là thế nào, mà đến nỗi phải bỏ chồng. Thôi xin các anh miễn cho tôi
nghe cái chuyện ấy". Rồi họ ra về. Mấy hôm sau họ lại đến nữa, lần này
thì bà ấy đuổi thẳng: "Nếu các anh đến thăm tôi về chuyện bênh viện Việt
Đức thì mời các anh vào, còn nói chuyện như lần trước thì mời các anh về,
tôi chả nghe cái chuyện ấy nữa đâu."
Sang đến chuyện
Lê Hoàng Yến. Anh Yến có viết bài phê bình thơ Tố Hữu năm 1955, đăng báo
trước bài của tôi, và sau đó anh tham gia NVGP. Năm 1959, anh ấy phải đi lao
động ở Phú Thọ, vợ là chị Thao, Xuân Thao gì đấy, vẫn ở Hà Nội, chị tuy năm
con nhưng còn đẹp lắm. Anh Lê Hoàng Yến trước kia là trưởng ty công an tỉnh
Quảng Nam, nhưng anh mê kịch, bỏ ngành công an về làm sân khấu. Anh có uy
tín vì am hiểu sân khấu lắm, anh đọc nhiều kịch nước ngoài. Sau Nhân Văn anh
cũng bị phê phán nặng, nhưng kỷ luật thì giống tôi, nghiã là chỉ bị khai trừ
một năm.
Anh là đảng viên,
thì cái tổ Đảng bên Sân Khấu của anh nó đến vận động bà Thao bỏ chồng. Bà
Thao đã 5 con nhưng còn xuân sắc lắm, hơ hớ như độ đôi mươi. Chúng nó vận
động thế nào mà bà Thao sốt sắng viết đơn đệ toà ngay. Người ta mời anh Lê
Hoàng Yến từ Phú Thọ về ra toà để ly dị. Buổi đầu còn hoà giải. Anh Yến bảo
"Tôi hoàn toàn không biết có lỗi gì, tôi yêu quý vợ tôi lắm và tôi luôn
luôn giữ đủ bổn phận với gia đình, không hiểu sao vợ tôi lại có đơn này".
Toà hỏi chị Thao thì chị trả lời: "Anh Yến từ trước đến giờ quả thực
không có lỗi gì, trước kia anh còn làm đến trưởng ty công an, nhưng không
ngờ anh ấy lại tham gia vào cái bọn khốn nạn NVGP. Nhờ ơn Đảng nuôi dậy suốt
đời các anh được hiểu biết, được sáng tác, như anh Hoàng Cầm viết được Bên
Kia Sông Đuống, anh Trần Dần viết Người người lớp lớp, anh Văn Cao cũng
thế... Vậy mà chỉ vài năm nay, không biết các anh ăn phải cái bả gì, người
ta bảo là cái bả tiền nong, gái đẹp, khiến các anh đi vào con đường xấu xa
phá hoại, chống Đảng, vì thế sống với anh, tôi mất hết hạnh phúc, tôi làm
cái đơn này, mong toà giải quyết ngay cho, sớm ngày nào hay ngày ấy!"
Anh Lê Hoàng Yến thuật lại với tôi như thế, bà ấy cứ một giọng chắc nịch,
anh đi từ chỗ ngạc nhiên, đến chỗ buồn, buồn lắm, anh không hiểu sao vợ mình
lại thay đổi nhanh chóng như thế. Tôi buồn quá, tôi nói như van vỉ vợ tôi:
"Thôi em hãy nghĩ đến hạnh phúc của năm đứa con, nếu như tôi có lỗi gì
thì tôi cũng đã vui vẻ đi lao động cải tạo để xây dựng lại cho tốt, xin Thao
rút cái đơn đó đi, nghĩ đến tương lai các con mà rút đơn đi". Chị Thao
vẫn một mực khăng khăng: "Chính vì tôi nghĩ đến tương lai các con, không
muốn chúng nhiễm tư tưởng độc hại NVGP của bố nó, trở thành những phần tử
xấu xa của xã hội mà tôi phải ly dị!" Sau đó toà giải tán, hẹn nửa tháng
nữa gặp lại. Trước khi về Phú Thọ, anh Yến xin với cô ấy: "Anh muốn gặp
em để nói chuyện một tý", cô ấy trả lời: "Chả có gì mà phải gặp, tôi
đã nói hết ở toà rồi, anh Nhân Văn là khốn nạn lắm, tôi không thể sống được
với anh nữa". Lần hoà giải thứ nhì cũng vậy, bà ấy vẫn một giọng.
Đến phiên toà
chính thức, đông người xem, tôi cũng đến. Chị Thao lên nói một cách oai
phong lẫm liệt, đanh thép và rất ác: "Tôi với anh Yến lấy nhau có 5 mặt con,
không có chuyện gì, nhưng gần đây, tư tưởng chồng tôi thay đổi một cách rất
rõ rệt, trước kia là người tốt, công tác, tư tưởng, lập trường rất rõ ràng,
nhưng từ khi anh ấy tham gia nhóm phá hoại NVGP, có tư tưởng cực kỳ xấu,
phản Đảng, phản nhân dân, tôi nghĩ nếu tôi còn tiếp tục sống với anh ấy nữa
thì đời tôi chỉ là đống bùn hôi thối..."[21].
Bi kịch của các văn nghệ sĩ bị Đảng can
thiệp vào đời sống riêng tư, được
Lê Đạt thuật lại trong bài "Nhân câu chuyện mấy người tự
tử" với hai câu thơ "để đời":
Đem bục công an máy móc
đặt giữa tim người.
Bắt tình cảm ngược xuôi
theo đúng luật đi đường nhà nước
Lời thơ phát xuất từ những chuyện cá nhân, nhưng đã nói lên bi kịch của những người muốn tự do trong tình yêu, nhưng bị Đảng trực tiếp gán ép hoặc ngăn cản. Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Tử Phác, đều chung cảnh ngộ: bị Đảng can thiệp vào đời sống cá nhân.
Riêng những người vợ Nhân Văn, nếu không chịu bỏ chồng, thì phải gánh chịu hậu quả việc chồng làm, trong suốt cuộc đời còn lại.
Lê Đạt kể: "Khi ấy, Thúy mới 18 tuổi. Ngày nào cũng có những cán bộ tốt bụng đến vạch rõ "bộ mặt phản động của Lê Đạt và khuyên cô cắt đứt với tôi (...) Cô không được làm diễn viên nữa, bị đẩy xuống làm phục trang và bị đối xử như một con chiên ghẻ. Có một điều chắc chắn là không có vợ tôi, thì tôi đã thân tàn ma dại rồi. Tôi đã làm lỡ cuộc đời nghệ thuật của cô và cô vì tôi mà mắc bệnh suy nhược thần kinh cho đến bây giờ. (...) Được phục hồi, tôi còn nhúc nhắc sáng tác được, nhưng Thúy thì được gì ngoài chứng bệnh suy nhược thần kinh, tê buốt khắp mặt đến mức nhiều khi không thể hé miệng được"[22].
Lê Đạt ghi lại bi kịch gia đình trong thơ như một lời tạ lỗi vợ con, như một ân hận suốt đời, bài thơ vượt khỏi khuôn khổ gia đình để nói lên nghịch cảnh chung của tất cả những người vợ Nhân Văn mà Lê Đạt đã khắc chân dung họ vào văn học sử:
● Vợ Nhân Văn
Lịch sử quýt làm cam chịu
Xin lỗi em
và em
khóc
Xin lỗi em
những lời khuyên "cắt đứt"
Vạ gì đeo hai tiếng "liên quan"
Những buổi sớm
muốn chui đầu xuống
đất
Mặt trời soi ngày kiểm thảo bắt đầu
Xin lỗi em
tiếng oan vợ thằng phản
động
Lý lịch ba đời mấy đứa con thơ
Xin lỗi em
tuổi ước mơ không được sống
Những giấc ngủ
chưa một lần tròn mộng
Chung thân tâm thần
trọng tội đa mang
Đời sau ơi!
May còn đoái đến tôi
Hãy trả giùm tôi món nợ
Người vợ nhỏ
vừa thoát tuổi khăn quàng
đỏ
Đã chụp mũ chồng
lưng thập tự Sói ăn
Và Đức Phật
duyệt xuất biên vào Tĩnh
thổ
Xin độ trì
những Thị Kính-vợ-Nhân Văn.
● Con Nhân Văn
Đào Phương Liên ghi lại cuộc sống gia đình
nhân ngày giỗ đầu của cha.
Bài văn khơi động một bi kịch kinh hoàng mà
người ngoại cuộc không thể hình dung nổi:
"... Suốt tuổi thơ, con luôn trăn trở mãi
trong lòng câu hỏi Bố là ai? (...)
Nhưng con không dám hỏi Bố vì sao sau
những buổi vui vẻ ấy, Mẹ lại lo lắng nhắc Bố: “Ông đừng có nói to, cười lớn
như thế!". Bố thế nào cũng nổi cáu, quặc lại: "Tôi có làm gì khuất tất đâu
mà không được cười to, nói to?" Con đã bênh Bố vì nghĩ đó không phải là một
tội nhưng lại thầm thắc mắc: "Vì sao nhỉ? Hay cười nói to thế là không lịch
sự?".
Rồi một hôm Mẹ đi làm về, nhỏ to thì thầm:
"Bà vợ ông Văn Cao dặn tôi nhắc ông vẫn có người theo dõi đấy. Ông phải cẩn
thận. Đừng có cười to, nói to. Người ta để ý đấy!" Con đã quá quen với lời
nhắc nhở đó, giờ chỉ còn mỗi bận tâm: "Văn Cao nào nhỉ? Làm sao mà Bố quen
được với tác giả TIẾN QUÂN CA cơ chứ?"
Trên chiếc thùng gỗ tạp mà bề mặt xù xì
dăm gỗ, chỉ rộng bằng tờ báo, kê dưới chiếc cửa sổ có chấn song nhỏ xíu của
căn gác 3 như chuồng chim cu nhà ta, bố úp đáy làm bàn ngổn ngang giấy tờ,
sách báo, Bố ngồi bệt dưới sàn, hý hoáy viết rồi gạch xóa. Bố là nhà thơ,
nhà văn ư? Con thoáng nghĩ đến cái nghề cao siêu đó. Con lén tìm đọc. Con
chỉ thấy vài chữ nguệch ngoạc bên lề những mẩu báo, bên lề những bài kiểm
tra của con hay ở mặt sau những tờ giấy đen xì nổi gai: "chi chi…chành
chành, rồng rắn lên mây, cái đanh thổi lửa"…(Mà mỗi khi con hỏi bố tìm gì vì
thấy bố hoảng hốt, cáu gắt loạn lên thì bố chỉ im im rồi thở dài. Bố đâu
biết mẹ con con khi lau dọn tưởng là rác vứt đi rồi!). Con vội gạt đi ngay
vì nhà mình không có một quyển truyện, một quyển thơ nào (...) Và con lại
trăn trở với câu hỏi: Bố là ai? Làm nghề gì? (...)
Cho đến tận năm 1975, năm lớp 10 cuối
cấp, một cậu bạn cùng phố, học từ thời vỡ lòng với con, con một cán bộ miền
Nam tập kết cấp cỡ, đến lớp bô bô: "Bố cái Liên là phản động chúng mày ạ".
Con nghe máu nóng bốc rát mặt nhưng cúi mặt vờ không nghe thấy. Một cậu bạn
kế bên đế thêm: "Bố nó sỏ nhầm giầy à?" Lúc đó, con chỉ muốn độn thổ vì sợ.
Về nhà, con len lén để ý xem Bố có đúng là
"phản động" không? Con không dám hỏi vì sợ… đúng???. Vì sợ… đụng phải nỗi
đau cần phải che giấu của Bố dù con không hề tin!
Con đã tự trấn an mình bằng những kiến
thức thu nạp được qua biết bao chuyện công an bắt gián điệp những tối thứ
bẩy, qua những câu chuyện trong các tạp chí QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN, qua những
nhân vật phản diện xấu xa trong các tác phẩm văn học. Con vừa là công an
theo dõi Bố, vừa là luật sư phản biện, bảo vệ Bố. Con chịu khó lục tìm mọi
chứng cớ có lợi cho Bố. (...) Con tự lý giải: Nếu Bố là "phản động" thì Bố
đã không khóc ngày Bác Hồ mất! Nếu Bố "phản động" thì đã không có thẻ thương
binh! (Lúc đó con không biết đó là thẻ Bố được tặng?) (...) Rồi con không
được xét vào Đoàn dù lần kết nạp nào con cũng được giới thiệu, (....) Rồi
con làm hồ sơ thi đại học, anh con bác hàng xóm cười khẩy: "Rồi em cũng như
tụi anh thôi. Có giỏi mấy cũng chẳng vào được đại học. Cùng lắm là Sư phạm.
Mà mày chưa Đoàn viên thì đừng mơ!" Đem thắc mắc đó về hỏi, Bố cười gạt đi:
"Làm gì có chuyện đó. Con cứ thi đi. Mà Bố thấy Sư phạm cũng tốt". Bố chợt
trầm ngâm: "Chắc không có chuyện gì đâu. Bút danh của Bố là Lê Đạt cơ mà. Có
phải Đào Công Đạt đâu mà lo?". Rồi Bố lo lắng hỏi lại: "Thế có thật không
phải Đoàn viên thì không được vào Sư phạm không con?". Và bố lại tất tả dắt
xe đi… Cho đến lúc ấy con mới được nghe từ Bố cái bút danh Lê Đạt nhưng quả
thật không gây ấn tượng gì với con vì con chưa bao giờ nghe tới phong trào
NVGP.
Và Bố không biết đâu, ngay những ngày đầu
của năm thứ nhất Sư phạm ngoại ngữ, trong một giờ văn học sử Pháp, thầy giáo
không biết sao lại nhắc đến “bọn Nhân văn Trần Dần, Lê Đạt” với những câu
“bôi xấu chế độ”.
"Ta đi không thấy phố thấy phường
Chỉ thấy mưa sa trên nền cờ đỏ"
Của bác Trần Dần
Và của Bố:
"Đặt bục công an giữa trái tim người
Bắt tình cảm ngược xuôi theo chế độ".
Con đã cúi gằm mặt, người nổi gai vì ngỡ
cả hội trường dồn mắt nhìn mình. Dẫu trong lòng con vang lên “nếu thế thì
sai quá còn gì” dù con không biết những câu sau. Cho tới ngày Bố đi xa, cô
chủ nhiệm của con mới móm mém: “tao đến khổ vì chuyện vào Đoàn của mày”. Con
thật thà: “vì em chưa xứng đáng”. Cô vỗ vai: “vì cái lý lịch”[25].
Và câu trả lời của Đào Công Uẩn, trước linh
cữu Lê Đạt, có đại diện của chính quyền: "Cha chúng tôi là
một người luôn sống và trả giá "cho một đất nước
độc lập, tự do, một nền văn học nghệ thuật độc lập, tự do".
● Lê Đạt và Hồ Chí Minh
Trái với Nguyễn Hữu Đang, dứt khoát xác định
trách nhiệm của Hồ Chí Minh trong việc đàn áp NVGP, Lê Đạt có một thái độ
gần như băn khoăn, khó hiểu.
Trong buổi nói chuyện với ông (ghi âm ngày
13-04-1999) tại Paris, ở đoạn cuối, tôi có hỏi ông về Hồ Chí Minh. Khi phát
thanh trên RFI, 2004, Lê Đạt đồng ý là nên cắt bỏ. Nay đã có khoảng cách
thời gian, xin ghi lại hai câu đã bị cắt như một tư liệu, giải thích thái độ
của Lê Đạt đối với vị lãnh tụ cộng sản:
TK:
Chính ở trong phong trào của các anh cũng có điều khó hiểu: Ngay từ đầu, các
anh đã phê bình tập thơ Tố Hữu, chỉ trích tập thơ đó thần tượng hóa cụ Hồ,
và toàn bộ tinh thần NVGP đều chống lại sự thần tượng lãnh tụ. Nhưng trong
thâm tâm các anh, ít nhất ba người Lê Đạt, Trần Dần, Hoàng Cầm, đều thấm
nhuần Tây học, mà vẫn thần tượng hóa cụ Hồ, có phải như thế không? Điều này
làm cho người ta khó hiểu.
LĐ: Dĩ nhiên chị ạ. Mình có thể phê phán
người khác, nhưng mình vẫn phạm sự thần tượng hóa, là tất nhiên. Nhưng khi
tôi viết tôi không thần tượng hóa nữa. Tôi rất chú ý đến việc ấy,
nhưng chắc là trong ngóc ngách tâm hồn tôi, chắc còn có nhiều chỗ vẫn
thần tượng hóa.
TK: Trong thâm tâm
các anh vẫn coi cụ Hồ là "thần tượng". Nhưng cụ Hồ lại chủ trương điều mà
các anh chống lại, đó là sự toàn trị, và cụ Hồ cấm đoán cái mà các anh đòi
hỏi, đó là tự do tư tưởng. Mình không thể nào "tranh đấu" với một thần tượng
mình tôn thờ và đòi lật đổ sự độc tôn thần tượng đó. Đấy là điểm mâu thuẫn,
không thể giải thích được trong lập luận của các anh?
LĐ: Tôi không bao giờ coi cụ Hồ là đại diện
tự do và dân chủ cho đất nước Việt Nam. Tôi thần tượng là thần tượng
ở những khía cạnh khác. Chị nên thông cảm với tôi. Thần tượng trên mọi
phương diện thì tôi không bao giờ có, không bao giờ tôi nghĩ cụ Hồ là thần
tượng của tự do dân chủ trên đất nước Việt Nam. Không có. Trong khi tôi đấu
tranh thì có nghĩa là tôi đấu tranh cả với cụ Hồ. Nhưng một góc của
tâm hồn tôi... Đó là bi kịch của tôi. Điều đó chị thông cảm cho tôi.
Ngoài micro, tôi nói đùa với nhà thơ: "Cụ
Hồ đã làm các anh điêu đứng suốt đời mà anh vẫn còn bênh được thì lạ quá!".
Lê Đạt cười: "Thì mình cũng phải tin là còn có
một người tử tế, chứ nếu cả nước đều một bọn vứt đi thì làm sao sống nổi!"
Lê Đạt có viết bài trường ca
Bác[26].
Đây là bài thơ ca tụng bác Hồ với những tình cảm
chung chung, không thấy bộc lộ cảm xúc chân thực, phát xuất tự đáy lòng:
"Trong lặng im trắng
mênh mông
mỗi tấc lòng
Ta càng nghe rất rõ
cái thủa Ba Đình
Di chúc
bác mở tay
mở bay
trang rộng"[27]
Thời đầu kháng chiến, hầu hết người Việt đều
coi bác Hồ là "cứu tinh của dân tộc", và nhà thơ nào cũng có bài ca tụng
thần tượng, kể cả Vũ Hoàng Chương.
Nhưng không hiểu sao, Lê Đạt lại làm bài
Bác ở thời điểm khá trễ này? Phong Lê trong bài "Có một trường ca về
Hồ Chí Minh..." cho biết trường ca này viết năm 1970 để kỷ niệm ngày giỗ
đầu của HCM, nhưng phải 20 năm sau, mới được in[28].
Đào Phương Liên cho biết, khi "Ông" mất, bố mẹ để tang "Ông". Như vậy bài
thơ Bác đã làm sau khi Hồ Chí Minh mất, như một lời tạ ơn chăng?
Kết thúc lớp Thái Hà, Tố Hữu đe dọa Lê Đạt:
"Tội của anh cũng nặng như tội Nguyễn Hữu Ðang. Lẽ ra anh
cũng bị đi tù. Nhưng mà Ðảng vì nghĩ đến anh, chiếu cố đến anh còn trẻ, có
khả năng và còn có thể giúp ích được cho đời nữa nên Ðảng khoan hồng với anh
thôi chứ anh-đừng-nên-nghĩ-rằng-anh-tội-nhẹ!"
Ðó là lời dặn dò của Tố Hữu với tôi trước khi tôi về."[29]
Trong "lời dặn dò" của Tố Hữu, hình như Đảng
chính là Bác?
"Tội" của Lê Đạt nếu truy kỹ, nặng hơn "tội"
Nguyễn Hữu Đang, vì những câu thơ Lê Đạt viết về chế độ cộng sản sẽ không
bao giờ xóa được trong lòng ký ức dân tộc.
Nhưng Lê Đạt không bị đi tù. Phải chăng đã có
sự "khoan hồng" ở Bác, đối với một nhà thơ có tài? Lê Đạt đã cảm nhận
như thế và đó chính là bi kịch của ông? Tạm hiểu bài thơ Bác và tình
cảm "khoan hồng" của Lê Đạt đối với bác, nằm trong bối cảnh như thế.
● Những bài thơ khóc bác Hồ không được
đăng
Trong băng ghi âm, Hoàng Cầm cho biết "lý
lịch" một số những bài thơ ca tụng bác Hồ:
"Làm thơ ca tụng
bác Hồ, trước tiên là Tố Hữu. Thời trước cách mạng, tôi đọc được trên báo
một số bài thơ ký tên Tố Hữu, trong đó có một bài tên là Hồ Chí Minh. Lúc
bấy giờ, chưa mấy ai biết rõ bác Hồ. Phải đến ngày 2/9/1945, người ta mới
biết đó là một lãnh tụ ở xa về. Còn tên Tố Hữu chưa biết là ai. Bài thơ Hồ
Chí Minh rất dài trong có một câu làm tôi chú ý: "Hồ Chí Minh mắt sáng
quắc tay xanh lè mã tấu. Quyết vùng lên thề phanh thây uống máu lũ cường
quyền. Ôi khoái trá vô biên". Bài thơ tả một người: mắt sáng quắc, tay
xanh lè mã tấu, thế ông ấy là tướng cướp à? Còn câu: Thề phanh thây uống
máu quân thù thì có trong quốc ca của Văn Cao, trong bài Đêm Liên Hoan
của tôi cũng có moi gan uống máu quân thù, và ngay quốc ca Pháp cũng
có, nghe thấy mà ghê. Nhưng đặc biệt câu này: Ôi khoái trá vô biên,
mới thật là rùng rợn, uống máu quân thù mà thấy khoái trá vô biên thì ghê
quá, khát máu quá, không thể chấp nhận nổi. Đấy, tôi biết Tố Hữu qua bài thơ
ấy.
Đến khi ông Hồ mất, năm 1969, Đặng Đình Hưng
mới đưa ra ý kiến: Một người như bác Hồ mất đi thì ai cũng có cái xúc động.
Vậy nhân dịp này, nếu chúng ta còn cái cảm tình gì đối với ông Hồ thì mỗi
thằng nên làm một bài thơ, gửi lên Trung Ương để tỏ rằng: chúng tôi là những
người công dân chân chính, cái gì đáng yêu đáng kính thì chúng tôi trân
trọng. Trước cái chết của bác Hồ, chúng tôi biết rung động, tác phẩm của
chúng tôi đây. Mọi người đều tán thành. Đặng Đình Hưng viết bài "Bác
còn", tức là Bác không chết đâu. Tôi viết bài "Bác về", Lê Đạt
viết "Bác Hồ" gồm 3 bài dài như trường ca. Riêng Trần Dần quanh quẩn
mãi sau chịu thua: "Tao loay hoay mãi mà không làm nổi một câu nào!"
Đành thôi. Thế là được ba bài, gửi lên bốn nơi: Ban Tuyên Huấn Trung Ương,
đồng chí Lê Duẩn, đồng chí Trường Chinh và Hội Nhà Văn.
Chúng tôi nhận được hai danh thiếp trả lời:
Ông Phạm Văn Đồng trả lời anh Đặng Đình Hưng, đại ý: "Anh Hưng thân mến,
tôi đã nhận được bài thơ anh viết về Bác, tôi đọc và rất xúc động. Ở trên
này chúng tôi vẫn hết sức đấu tranh, thảo luận để làm thế nào cho anh em trở
lại sáng tác như trước." Hoàng Cầm nhận được thiếp của ông Trường Chinh
vỏn vẹn: "Cảm ơn đã nhận được bài thơ về Hồ Chủ
Tịch".
Lê Đạt không nhận được gì cả.
Lê Duẩn, Tố Hữu không viết lời nào.
Đến Tết năm ấy, trên báo Nhân Dân người ta mở
cái mục gọi cảm tình của "Quần chúng với Bác Hồ", tôi cũng gửi bài
thơ ấy đến báo Nhân Dân, kèm lá thư cho ông chủ nhiệm Hoàng Tùng, giãi bày:
nhân danh công dân, trước cái chết của bác Hồ, tôi làm bài thơ "Bác về"
mong được báo Nhân Dân trích dăm ba câu, như một tác giả vô danh, đăng trong
mục "Quần Chúng với bác Hồ".
Gửi hôm trước thì hôm sau anh Nguyễn Địch
Dũng cầm trả tôi bản thảo cả bài thơ đó, bảo anh Hoàng Tùng có nhận được thư
anh nhưng báo chật chỗ quá rồi. Điều đó chứng tỏ, người ta thù ghét anh em
NVGP đến thế nào, đến khóc bác Hồ mà cũng không được phép đăng báo"[30].
Việc làm thơ khóc bác Hồ của ba thành viên
NVGP, có thể có hai ý nghiã: ý nghiã trữ tình, phát xuất tự tâm hồn của họ
và ý nghiã chiến lược: muốn nhân dịp này để đo mức độ tình cảm của Đảng dành
cho họ.
Sự trả lời của Đảng thật rõ ràng, tàn nhẫn,
nhất là đối với Lê Đạt.
Tóm lại, dường như ở những nhà thơ như Hoàng
Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán, luôn luôn có một con người ngây thơ, lãng
mạn, trữ tình, khi nhìn vị lãnh tụ.
Trong khi những nhà trí thức như Phan Khôi,
Trương Tửu, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Hữu Đang... phán xét lãnh tụ sáng
suốt, rạch ròi hơn, vì họ không mấy lãng mạn mà nghiêng về lý trí.
● Quốc Dân Đảng
1- Trong bản "tự thú" Lê Đạt viết một câu đáng chú ý: "Đảng đối với tôi có rất nhiều ân huệ, kéo tôi ra khỏi bàn tay phản động của bọn Quốc Dân Đảng, cho tôi công tác gần các đồng chí lãnh tụ, cho tôi đi thực tế để cải tạo, nâng đỡ những sáng tác của tôi, đến khi va chạm vào quyền lợi cá nhân, tôi trở mặt tấn công vào Đảng, nhẩy sang trận địa của giai cấp tư sản phản động và làm người phát ngôn của chúng"[31].
2- Khi trả lời phỏng vấn Phạm Tường Vân, Lê
Đạt cho biết:
"Nhà mẹ vợ tôi là cơ sở cách mạng, hai anh
của Thúy một người là bí thư chi bộ xã, một người đi bộ đội. Hồi cải cách mẹ
vợ tôi bị quy là gián điệp và anh cả bị quy là Quốc Dân Đảng chờ đem ra xử
bắn. Thúy đương được ở đoàn kịch trung ương, lúc nào cũng nơm nớp sợ bị đưa
về xã đấu tố. Thì vừa lúc sửa sai bắt đầu, cả nhà may mắn thoát nạn"[32].
3- Truyện ngắn "Thế là… chị ơi!" của
Vũ Ngọc Tiến, đăng trên Talawas, gián tiếp viết về đời sống nhà thơ Trần Dần
và bà Bùi Thị Ngọc Khuê, vợ ông, đặc biệt có đoạn tả cái chết của ông Phán
Hậu (ân nhân của bà Khuê) như sau:
"Cuối cùng thì thơ anh cũng được tôn vinh
(...) . Song cái án oan kết tội ông Phán Hậu, nhà chí sĩ yêu nước giầu có,
danh giá bậc nhất tỉnh Nam Định bị bôi nhọ là tên phản động Quốc Dân Đảng,
tay sai đế quốc Pháp ai rửa cho ông? Đêm trước ngày bị các Ông Đội sai cán
bộ chuỗi, rễ đến nhà bắt trói ông đem đi đấu tố, ông lập bàn thờ giữa sân
nhà, có bài vị Nguyễn Thái Học bằng chữ Nho, rồi ông đội khăn xếp, mặc áo
the đen, lầm rầm khấn vái: “Tiên sinh năm nào lên máy chém vẫn để lại lời
bất hủ rằng “không thành công cũng thành nhân”. Giờ độc lập thành công rồi,
mai tôi lên đoạn đầu đài sẽ thành gì đây? Tiên sinh hỡi, tiên sinh!...” Cái
án oan ấy khiến anh đang đi công tác Cải cách ruộng đất ở Thái Bình bị triệu
hồi về giam lỏng ở đơn vị. Ngày ấy, nếu lần anh tự tử bằng dao lam trót lọt
thì còn đâu những tác phẩm sau này anh viết cho người đời chiêm ngưỡng, hậu
thế tôn vinh?"
Câu chuyện ông anh cả của Thuý Thuý, và ông
Phán Hậu, ân nhân của Ngọc Khuê, khơi lại chính sách thanh trừng những người
có "liên quan" với Quốc Dân Đảng và hiểu tại sao Lê Đạt phải tuyệt đối giấu
quá khứ Quốc Dân Đảng của mình. Trong NVGP, ba người có "liên quan" với Quốc
Dân Đảng là Phan Khôi, Thụy An và Lê Đạt, vì thế, một mối thâm tình liên kết
họ với nhau:
- Trả lời phỏng vấn RFI, Lê Đạt nhắc đến Thụy
An và Phan Khôi, với những lời đầy ý nghiã: "Phan Khôi với tôi vốn có
những quan hệ đặc biệt". "Trong thâm tâm tôi, bao giờ tôi cũng coi ông là
người lãnh đạo tờ Nhân Văn". Việc công nhận Phan Khôi là người lãnh đạo
tờ Nhân Văn, chứng tỏ Lê Đạt chỉ coi Nguyễn Hữu Đang như bạn đồng hành, Phan
Khôi mới là thủ lãnh. Ngoài uy tín của Phan Khôi trong văn học, còn có lý do
nào khác, nếu không vì Phan Khôi là người theo Quốc Dân Đảng, lý tưởng
đầu đời của Lê Đạt?
- "Tôi có thể bảo đảm 100% chị Thụy An
không phải gián điệp",
"Chị Thụy An rất thân với anh em trong NVGP và đặc biệt là thân với tôi".
"Riêng tôi thì không bao giờ tôi quên công của chị Thụy An đối với tôi".
Tại sao Lê Đạt dám bảo đảm 100% Thụy An không phải gián điệp, nếu ông
không biết rõ hành động của Thụy An? Nếu họ không cùng một lý tưởng?
Câu "Tôi không bao giờ quên công của chị
Thụy An đối với tôi", có nhiều ý nghiã. Công gì? Thụy An có công với
nhiều người, công dạy Phùng Quán tiếng Pháp tiếng Anh, công giúp đỡ vợ con
Lê Đạt... Nhưng từ khi Thụy An bị nạn cho đến khi chết, những bạn đồng hành
không ai nói một lời biện hộ công khai cho bà, trừ Lê Đạt. Vậy có thể hiểu
chữ "công" này là một công lớn: Ngoài sự kính phục người chị văn nghệ can
trường, còn có sự hàm ơn Thụy An, đã không "khai" những điều bà biết về Lê
Đạt, như một thành viên cũ của VNQDĐ.
Câu châm ngôn mà Lê Đạt cho ghi lại trong bộ
Nhà Văn Việt Nam Hiện Đại[33]
là: "Một nhà văn tự trọng nên bận tâm đến việc thành nhân hơn là thành
danh" có gì rất gần với lời Nguyễn Thái Học:
"Không thành công thì thành nhân".
● Tinh thần yêu nước phát sinh từ Yên Bái
Đất Yên Thế và đất Yên Bái đối với Lê Đạt có
những gắn bó sâu xa: Yên Thế, quê nội và Yên Bái, quê ngoại.
Yên Thế là đất của Đề Thám, triều Nguyễn
thuộc phân Phủ Lạng Giang (nay thuộc tỉnh Bắc Giang), có 2 mảnh đất lịch sử:
tổng Nhã Nam và tổng Yên Thế:
- Nhã Nam, nơi Hoàng Hoa Thám làm lễ tế cờ
khởi nghiã (1889), và cũng là nơi Lương Tam Kỳ đem thủ cấp Đề Thám nộp cho
Pháp lãnh thưởng (1913).
- Yên Thế, nơi Đề Thám đặt đại bản doanh
chiến đấu trong hơn 20 năm, vị trí hiểm trở, "rừng thiêng nước độc", nằm
giữa rặng Cai Kinh (Lạng Sơn) và đồi núi Thái Nguyên.
Yên Thế, một địa hình, một bối cảnh đất nước
lâm nguy, một can trường chống Pháp thất bại:
Đất quê cha tôi
đất quê Đề Thám
Rừng rậm sông sâu
Con gái cũng theo đòi nghề võ
Ngày nhỏ
cha tôi dẫn đầu
lũ
trẻ chăn trâu
Phát ngọn cờ lau
vào rừng Na Lương đánh
trận
Mơ làm Đề Thám...
(Cha
tôi)
Rồi người cha buông tay, bỏ cuộc, vì miếng
cơm manh áo. Người con, tiếp tục lên đường:
Cuộc sống hàng ngày
nhỏ
nhen
tàn bạo
Rác rưởi gia đình
miếng cơm
manh áo
tàn phá con người
Những mơ ước thời xưa
như
con chim gẫy cánh
Rũ đầu chết ngạt trong bùn
Năm tháng mài mòn
bao nhiêu khát
vọng.
Cha đã dạy con một bài học lớn
Đau thương
kiên quyết làm người.
(Cha tôi)
Bài Cha tôi sáng tác tháng 7/56, giữa
Giai Phẩm Mùa Xuân và Nhân Văn, trong thời kỳ phục xuống mà
sáng tác theo lời Văn Cao, như một tuyên ngôn, xác định con đường tranh
đấu của Lê Đạt, lấy đất Yên Thế làm khởi điểm. Yên Thế được Lê Đạt công khai
xác nhận, vì Yên Thế là tỉnh cha, là đất của Đề Thám.
Ngược lại, Lê Đạt không thể công khai trình
làng Yên Bái, quê ngoại, bởi Yên Bái là quê hương Quốc Dân Đảng.
Yên Bái có pháp trường xử lòng ái quốc. Khi
Nguyễn Thái Học và 12 bạn đồng hành lên đoạn đầu đài (1930), Lê Đạt mới lên
một. Yên Bái là đất sinh, Yên Bái là Tỉnh mẹ. Yên Bái, hơn là một nơi
chôn rau cắt rốn, đã trụ lại như cái mốc đầu đời, là khởi điểm của cõi viết
Lê Đạt và nẩy mầm ý chí cách mạng vùng lên chống Pháp.
Tỉnh mẹ
là tỉnh mình sinh ra, là đất mẹ: Yên Bái. Tập thơ Tỉnh mẹ, tạm coi
như tập thơ đầu đời của Lê Đạt, âm thầm dành cho Yên Bái chỗ đứng thiêng
liêng, nói lên tâm sự người thanh niên sinh ở Yên Bái. Tỉnh mẹ, in
trong phần di cảo của Đường chữ, tác giả mơ hồ cho biết đây là tập
thơ bị thất lạc đã 40 năm. Không một bài thơ nào có ghi ngày tháng ở dưới.
Lê Đạt cũng không hề nhắc đến Tỉnh mẹ khi còn sống. Vậy Tỉnh mẹ
có thật sự bị thất lạc? Hay đã bị "tịch thu", sau này mới được trả lại?
Tỉnh mẹ bị tịch thu, hay vì Yên Bái là một "liên quan" thầm
kín mà tác giả cần phải giấu đi? Cũng như, về nơi sinh, Lê Đạt chỉ ghi Âu
Lâu, trên bờ sông Hồng, không dám nhắc đến tên Yên Bái?
Tỉnh mẹ
nói lên tinh thần chống Pháp của một thanh niên, nguồn gốc
quốc dân đảng. Thơ làm theo lối leo thang, không vần, đã là giọng thơ Lê
Đạt, đã có những hình ảnh lạ, táo bạo hơn thơ người khác. Điểm đặc biệt là
sự gắn bó với Yên Bái, như cái nôi của hành động và tư tưởng, như một tiền
trạm của lòng yêu nước, như một ý chí cách mạng, một sự đổi thay, một sự lập
thân, khởi đi từ Yên Bái. Từ Yên Bái, cậu bé đã thấy một "người hàng xóm",
"người chị", và cũng là "người yêu", bị con trai quan phủ làm nhục, bị xóm
làng hắt hủi:
Đêm ấy
chị ra sông tự tử
Theo những chiếc lá dâu ngày xưa
Áo trắng
như buồm mộng
về một chân
trời nào
cao rộng
thăm thẳm
xa
[34]
Từ Yên Bái, cậu bé nhìn thấy người ăn mày
chết trước cửa giáo đường, bèn hỏi Chúa có thấy không?
Chúa về tự bao giờ
Có phải thật Người không?
Tiếng chuông
lu loa
hối hả
giục
người bõ già
Quét
chiếc xác
nằm co quắp
Chết
Từ Yên Bái, nhà thơ thấy một người anh, ban
đầu có "chí lớn", rồi chí ấy lụi tàn trong bổng lộc quan trường, cuối cùng
nhìn lại sổ đời: Người anh không sống trong thời Pháp thuộc mà đang ở thời
cách mạng:
"Trong khoảnh khắc
đối
diện cùng sự thật
Sởn tóc gáy
như kẻ sát nhân
đột nhiên
thấy
người mình
thủ tiêu
lững thững
hiện theo về
đối
chất.
"Anh có thể lừa
cha mẹ
vợ
con
lừa cả nước
Nhưng thế nào
cũng có lần
anh phải lôi ra
trước vành móng
ngựa bản thân anh"[36]
Yên Bái, một xã hội Việt Nam thoi thóp, tê
liệt, đợi chờ:
Yên Bái
dăm cô gái
lỡ thì
thổn thức
Nhất Linh
tay
Loan Dũng
lên ô kính bụi
Chơ chỏng
mấy con búp bê
gẫy
cẳng
bạc màu
Yên Bái
một phố chiều
thượng du nắng
lụi
Một con đường
rơm rớm
máu
rơi
Đôi vợ chồng già
không con
nhìn
bóng tối
Ôm con mèo gầy
nhức nhối
chuyện ngày xưa
Yên Bái
hôm nào
cũng ra ga
Hôm nào
cũng nhỡ tàu
ở lại
Với những tiếng còi
rứt ruột
gọi
đi
Và một chân trời
nhêu nhếch
khói
(...)
Yên Bái
những ngày trích lục nhau
sao thành nhiều
bản (...)
Yên Bái
một quê hương vỡ nợ (...)
Và người thanh niên ấy đã gửi những lời tạ
tội về Yên Bái, tạ tội đã trót đốt quê hương. Tiêu thổ là bài thơ duy
nhất trong thời kháng chiến đặt lại vấn đề tiêu thổ kháng chiến như
một tội đồ đối với quê hương, dân tộc:
Yên Bái
chỉ để lại
trong tôi
những kỷ niệm
nhạt
như nước ốc
Sao hôm nay
khi tiêu thổ quê hương
tôi bỗng khóc
(...)
Yên Bái ơi!
Cố sống
lấy thêm
dăm
ngày nữa (...)
Hôm nay
ta đánh vỡ
quê
hương
Đánh vỡ
từng viên gạch
tổ tiên ta
cóp
nhặt (...)
Quê hương ơi!
Ta không phải
kẻ ăn tàn phá hại
Vén tay áo xô
đốt gia tài
Yên Bái chính là khởi điểm của cuộc lên
đường, cũng là cuộc đi vào tan nát, khổ đau:
"Ôi! Những ngày đầu
quê
hương tan nát lửa
Như đàn cò
vỡ tổ
bế
nhau đi
Đằng trước một chân trời sẹo đạn
Đằng xa
thông thống một đường về
Ta đã
chọn
đường
đi về phía trước
Chân chảy máu
nạng
vào nhau ta bước
Điểm chỉ
trên khắp mọi ngả đường
Trong bản giao kèo
ta ký
Yên Bái còn là mẹ của cả những người lính
viễn chinh:
Bà mẹ Âu Lâu
ngồi
như gốc mai nở trắng
giữa đàn con
đủ
các giống
người
Thằng cả
Xa lum
người Xê nê gan
làm
mỏ than Ma rốc
Vào hầm than
đen
như
thấy dân tộc mình
mấy ngàn đời
vùi dập
chết
ở đây
Tan tầm về
ra
bờ sông nước trong
rửa mặt
Rửa xong
nhìn
mặt
vẫn nhọ than
Thằng hai
Ma
Hô Mét
Công nhân bốc vác
An Giê
Gù gù
lưng cánh phản
Ngày ngày
khuân tổ quốc
xuống tàu buôn...[40]
Đối diện với những hô hào chém giết, máu,
thù, trong thi ca thời ấy, Mẹ là bài thơ phản chiến, nhân bản nhất
trong văn chương Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp. Nhà thơ không phân
biệt chiến tuyến, "dám" coi "quân thù" cũng là con của mẹ Âu Lâu. Vì vậy
"tội" của Lê Đạt phải là rất nặng, nặng từ trườc thời kỳ NVGP.
● Nhân Văn Giai Phẩm
Xuân Diệu lên giọng: "Đã rõ rệt như ban ngày, tập Giai Phẩm Mùa Xuân 1956 phất lá cờ đầu tiên chống Đảng, chống chế độ, và Lê Đạt là nhà lý luận trong đó. Lê Đạt mở đầu Giai phẩm với cái tuyên ngôn: "Trích thơ gửi người yêu" (...) và bài thơ tuyên ngôn thứ hai "Mới" đăng trong Giai phẩm (...) Lê Đạt là một người chủ chốt của báo Nhân Văn, tham mưu cho cả tờ báo, tự tay sửa chữa nhiều bài đả kích chế độ ta rất cay độc (...) Cùng với Nguyễn Hữu Đang làm bộ óc của báo Nhân Văn, đứng làm "nhà lý luận" của bọn chống Chế độ (...) Sau khi báo Nhân Văn bị cấm, Lê Đạt liên lạc cấu kết với Thụy An, Lê Đạt đóng vai trò quan trọng trong việc lũng đoạn Hội Nhà Văn, Lê Đạt tích cực dùng ngòi bút viết lối văn hai mặt; Lê Đạt luôn luôn giữ một cương vị đứng chủ trường phái; mãi đến trong lớp học văn nghệ lần thứ hai (tháng 3 và 4/1958) vẫn còn tìm cách quay quắt. Cho nên, xét Lê Đạt, ta phải nhìn thấy cho hết, rằng Lê Đạt chống đối ta, phá hoại ta từ trong bản chất giai cấp thù địch"[41].
Lê Đạt không chối cãi vai trò chủ chốt của
mình trong bài tự kiểm thảo: "Tôi tham gia Nhân Văn với ý thức là người
lãnh đạo lý luận của tờ báo vì tôi cho tôi vững vàng hơn Nguyễn Hữu Đang.
Ban biên tập lúc đó gồm có 4 người: Nguyễn Hữu Đang, Trần Duy, Hoàng Cầm và
tôi. Để tấn công quan điểm vô sản chuyên chính của Đảng, tôi vận động Thanh
Châu viết bài Mậu Dịch, tôi góp ý, vẽ tranh một người đẽo chân cho
vừa giày mậu dịch. (...) Nhân Văn bị đóng cửa nhưng tư tưởng Nhân Văn, tư
tưởng chống đối vẫn chưa hết. Sau một thời gian các báo ngớt đánh, tình hình
trở lại bình thường, chúng tôi lại vẫn gặp nhau đả kích Đảng, cho là độc
đoán"[42].
Trong thời kỳ NVGP, ngoài những bài xã luận chính trị ký tên Người Quan Sát cùng với Nguyễn Hữu Đang, Lê Đạt là nhà thơ sáng tác nhiều nhất và chống đối mạnh mẽ nhất. Ngoài những bài thơ in trên báo, còn có: Thế giới này là của chúng ta (phát hành tháng 12/1955). Bài thơ trên ghế đá (nxb Hội Nhà Văn, 1957). Cửa hàng Lê Đạt, (đang in, bị đình chỉ, Lê Đạt bị khai trừ khỏi đảng, tháng 7/1957). Đụng long mạch (in trên Tự Do Diễn Đàn, tháng12/56, báo bị cấm). Lê Đạt còn nói đến bút ký "Vào 21", viết về thời kỳ bị kỷ luật. Hiện nay không biết văn bản này thất lạc ở đâu.
Trong tinh thần Đỗ Phủ, thơ Lê Đạt phản ảnh
xã hội thời ông sống. Nhưng thơ bị cấm, bị tịch thu, hoặc bị thất lạc. Nếu
muốn tìm hiểu thực chất của xã hội Việt Nam dưới chế độ cộng sản cần phải
tìm lại những tác phẩm này, không chỉ của Lê Đạt, mà của toàn thể các tác
giả trong NVGP đã bị chôn vùi. Những tác phẩm viết trong tù của Thụy An, có
lẽ ở Sài Gòn, gia đình các em, hoặc bạn bà là Trinh Tiên -tên thật là Trinh
Nữ, chồng là Bửu Đảo- còn giữ.
Nhờ hai bài đánh Lê Đạt của Xuân Diệu và Xuân
Hoàng mà chúng ta có thể biết được nội dung một số thơ Lê Đạt sáng tác trong
thời kỳ NVGP, đã bị cấm. Tập Bài thơ trên ghế đá, theo Xuân Diệu
"dưới sự lũng đoạn của Hoàng Cầm" nhà xuất bản Hội Nhà Văn đã in tập thơ
này năm 1957, sau khi Nhân Văn bị đóng cửa. Vẫn theo Xuân Diệu, tác phẩm này
"là cả một hệ thống có ý thức phá hoại tinh thần từ đầu chí cuối",
"anh ta [Lê Đạt] vẫn cứ "đầu thai nhầm chế độ", bài "Đu"
là "một sự khiêu khích". Bài "Gia đình", với những câu như:
"Nhiều dự định sa lầy trong đống tã", "tình yêu bị những cái
hàng ngày bóp cổ", "Lê Đạt đưa những xót xa đau đớn ra và cho nó thắng
trận". Bài thơ trên ghế đá "đầy một điệu hưởng
lạc, chết lịm trong tình yêu".
Vẫn theo Xuân Diệu, trong bản đánh máy đưa
cho nhà xuất bản còn có bài "Trong hầm bí mật", nhưng không in, bài
này rất tiêu biểu cho cái triết lý "máu, sướng và chết" của Lê Đạt.
Xuân Diệu viết tiếp:
"Bài thơ trên ghế
đá "còn có dã tâm đả kích Đảng. Cho Đảng là phao phí nhân tài (Con búp bê,
Tình người), ví Đảng như một anh thợ cầu già chưa vợ, bắc rất nhiều cầu, xây
dựng kinh tế được nhiều đấy, nhưng chưa bắc qua được một lòng người".
"Hàng triệu lòng người đã nhờ Đảng mà tái
sinh, yêu Đảng sâu sắc, nhưng cố nhiên lòng của bọn Nhân văn-Giai Phẩm thì
chỉ có bọn tư sản phản động mới bắc được cầu"[43].
Nhờ bài đả kích của Xuân Hoàng, chúng ta
biết thêm nội dung bài Đụng long mạch, in trên Tự Do Diễn Đàn,
tháng 12/56, báo bị cấm:
"Trong bài thơ "Đụng long mạch" (...)
Lê Đạt dựng lên khung cảnh một địa phương đang bị hạn hán, có cán bộ về
khuyên đào giếng nhưng vì sợ bị "đụng long mạch" nên các cụ nhất định không
nghe. Sau có vợ chồng anh Ân đêm về bí mật bàn với nhau nên lén lút đem cuốc
ra vườn đào giếng, đến sáng hôm sau bà con thức dậy thấy "mạch nước đùn lên
nước phun loang loáng", và từ đấy cả làng noi gương vợ chồng anh đào giếng
chống hạn khắp nơi.
(...) Lê Đạt hết lời khen ngợi vợ chồng
Ân - những "anh hùng" trong câu chuyện qua cái nhìn của Lê Đạt đã "dám cả
gan đánh bốc với những già nua cũ kỹ của cuộc đời". Lê Đạt đã kêu ầm lên một
cách hậm hực rằng:
"Những con người ụ
Ềnh ra cản đường"
Và Lê Đạt hô hào:
"Cần biết bao nhiêu
Những cái đầu táo bạo
Dám nghĩ, dám làm
Không nô lệ chung quanh"
(...) Còn đây là cái nhìn của Lê Đạt về
Đảng. Đó là:
..."lưng con rồng,
Ai đào giếng đụng vào long mạch
Thì phải tội mù hai con mắt
Cả nhà hộc máu chết tươi"
Và nhay đi nhay lại cái ý đó một cách
dọa dẫm:
"Long mạch này mà đứt
Cả nhà không thoát một người"
hoặc:
"Long mạch hôm nay rung chuyển
Phen này rồi chết cả nhà"[44].
Đời chữ của Lê Đạt chia làm hai thời kỳ,
dưới hai ngòi bút: Nhà thơ thời thế, theo truyền thống Đỗ Phủ, ghi
lại bộ mặt của xã hội toàn trị trên đất nước ta. Nhà thơ cách tân,
theo truyền thống Mallarmé, mở một kỷ nguyên mới cho
đường chữ.
Lê Đạt, nhà thơ thời thế, xác định tính chất cơ bản của lịch sử:
Lịch sử muôn đời duyệt lại
Không ai lừa được cuộc đời.
Lê Đạt, nhà thơ cách tân, gửi lại hậu thế
những lời trăn trối đau thương:
Vũ trụ ơi
tha cho tôi
Tất cả những gì
thơ tôi chưa làm
được
Khi tắt thở
mắt tôi đừng ai
vuốt
Còn gì buồn hơn
màn đóng lại mục
đời.
© 1984-2012 Thụy Khuê
1:10 / 10:07
Nhân Văn Giai Phẩm 8 - Hình thức kỷ luật trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm
21.857 lượt xem
•19 thg 9, 2013
20,7 N người đăng ký
Nhận xét
Đăng nhận xét