NỖI NIỀM OAN KHUẤT 51/h
Lần dở lại những cuộc đời oan khuất
Thương xót biết bao những ước vọng linh hồn
Căm giận biết bao lũ gà mờ giai cấp
Nỡ đày đọa nhau bất chấp lẽ sống còn(!)
----------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
:51 chiều (. Lê Đạt, . Nguyễn Hữu Đang, . Phan Khôi, . Thụy An, . Trần Thiếu Bảo, Nhân Văn Giai Phẩm)
Trương Tửu (1913 - 1999) – một trong những nhân vật từng bị coi
là “có vấn đề” trong lịch sử văn học Việt Nam, từng bị buộc thôi giảng
dạy sau vụ án Nhân văn – Giai phẩm, đã được “giải oan” qua hội thảo khoa
học về nhà văn – giáo sư Trương Tửu nhân kỷ niệm 95 năm ngày sinh của
ông, tại Đại học Sư phạm Hà Nội ngày 28.11.
Trương Tửu là tác giả của những công trình nghiên cứu gây tranh cãi nảy lửa suốt hơn nửa thế kỷ qua như Kinh thi Việt Nam, Triết lý Truyện Kiều, Văn chương Truyện Kiều, Tương lai văn nghệ Việt Nam. Chẳng hạn, trong Văn chương Truyện Kiều (1945), Trương Tửu không những phê phán phương thức nghiên cứu cũ kỹ của các học giả nổi tiếng lúc bấy giờ như Đào Duy Anh, Trần Trọng Kim mà còn đưa ra những nhận định gây sốc như “Nguyễn Du là một con bệnh thần kinh. Bệnh của ông thuộc về thứ bệnh không có sự thương tổn về khí quan”, là bởi thi sĩ họ Nguyễn thừa hưởng “cái khí tiết hiên ngang không chịu khuất phục” của vùng Nghệ Tĩnh – quê cha, nhưng lại đan xen cái “chất phong tình diễm lệ” của vùng đất Kinh Bắc – quê mẹ. Gay gắt hơn, Trương Tửu còn phê phán: “Truyện Kiều chỉ là kết tinh của những cái suy nhược trong cốt tính Việt Nam”. Chưa bàn về nhận thức đúng sai, nhưng trong lúc số đông học giả thời bấy giờ đều đồng loạt ca ngợi Truyện Kiều mà Trương Tửu lại muốn “vạch ra một lối đi mới”, không “tấu” vào bản hòa ca ấy. Chỉ điều đó thôi cũng đã chứng tỏ bản lĩnh của nhà nghiên cứu này.
Theo GS Đặng Thanh Lê, một học trò của Trương Tửu, cho dù trong nghiên
cứu khoa học, Trương Tửu đôi chỗ có những kết luận cực đoan, đôi chỗ máy
móc do bản tính nghệ sĩ chi phối, nhưng ông vẫn là người có tư duy tỉnh
táo và nhất định không phải là người phản bội dân tộc như cái án ông bị
lịch sử quy kết. PGS-TS Nguyễn Hữu Sơn (Viện Văn học) cũng khẳng định
cuộc đời Trương Tửu là một chuỗi những thăng trầm, những cuộc dấn thân
trên tinh thần trung thực, tranh đấu vì học thuật và lẽ phải. PGS-TS
Nguyễn Thị Bình băn khoăn: “Trong suốt một thời kỳ dài, chúng tôi không
sao hiểu nổi ông (Trương Tửu) là ai giữa những lời kết án nặng trịch
bằng giấy trắng mực đen và vô số câu chuyện đồn thổi. Ông là người luôn
đề cao trách nhiệm với quần chúng lao động khi nói đến văn hóa, là một
trong những nhà phê bình văn học đầu tiên ở Việt Nam theo quan điểm
Mác-xít nhưng tại sao cuốn Tương lai văn nghệ Việt Nam lại bị
một người Mác-xít rất có uy tín phê phán? Ông đã chống lại quan điểm của
báo Phong hóa - Ngày nay khi báo này đề cao cái cá nhân mà quên nói tới
trách nhiệm với quốc gia dân tộc, rồi vì sao sau đó ít lâu ông lại
thành kẻ “xét lại”, thành Trốt-kit? Vì sao có những việc ông làm với
động cơ hoàn toàn trong sáng, chính trực với mong muốn đất nước ngày
càng phát triển, xã hội ngày càng dân chủ mà lại bị kết tội là gieo rắc
chất men bất phục tùng và phản kháng chính thể dân chủ nhân dân?”.Những năm gần đây, trong không khí đổi mới, nhiều trước tác của
Trương Tửu đã được giới thiệu trở lại. Năm ngoái, Trung tâm Văn hóa và
Ngôn ngữ Đông Tây cùng NXB Lao Động đã phát hành quyển Trương Tửu -
Tuyển tập nghiên cứu phê bình với một số ý kiến đánh giá lại sự nghiệp
cũng như nhân cách của nhà nghiên cứu này. Việc nghiên cứu, nhìn nhận
lại những trường hợp như Trương Tửu, theo PGS - TS Nguyễn Thị Bình là có
ý nghĩa không nhỏ, vì “nếu làm tốt thì bức tranh văn hóa, văn học Việt
Nam thế kỷ XX sẽ trở nên phong phú, trung thực hơn” và “có nhiều bài học
hữu ích, mà sâu xa hơn là vấn đề nuôi dưỡng niềm tin vào lẽ công bằng,
tình yêu đối với chân lý khoa học” của thế hệ sau.
Thương xót biết bao những ước vọng linh hồn
Căm giận biết bao lũ gà mờ giai cấp
Nỡ đày đọa nhau bất chấp lẽ sống còn(!)
----------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
Nhân Văn Giai Phẩm 9 - Vai trò của nhạc sĩ Văn Cao trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm
Sự thành lập Nhân Văn và vai trò của Phan Khôi, Nguyễn Hữu Ðang và Thụy An trong tờ Nhân Văn. – Pv Lê Đạt
:51 chiều (. Lê Đạt, . Nguyễn Hữu Đang, . Phan Khôi, . Thụy An, . Trần Thiếu Bảo, Nhân Văn Giai Phẩm)
Nguồn Thụy Khê
Nếu Giai Phẩm Mùa Xuân dựa vào một
nhóm văn nghệ sĩ thuần túy, thì tờ Nhân Văn có những khuôn mặt chính
trị. Sự buộc tội nặng nề nhất của nhà cầm quyền hướng về “những tên đầu
sỏ” Phan Khôi, Thụy An, Nguyễn Hữu Ðang, Trần Thiếu Bảo, Lê Ðạt… Nhưng
sự thật ra sao? Ai là “đầu sỏ”? Phan Khôi, Thụy An, Nguyễn Hữu Ðang,
Trần Thiếu Bảo.. làm gì trong tờ Nhân Văn?Lần đầu tiên Lê Ðạt trả lời
công khai về những sự kiện này.
Thụy Khuê: Thưa
anh, có thể nói giai đoạn thứ nhì của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm bắt
đầu từ sự ra đời của tờ Nhân Văn, vậy thưa anh, báo Nhân Văn đã ra đời
trong hoàn cảnh nào, ở thời điểm nào và do ai chủ xướng?
Lê Ðạt: Tháng 5 năm
1956, bắt đầu ở Trung Quốc có phong trào Trăm Hoa Ðua Nở thì ở Việt Nam
cũng bắt đầu có cuộc học tập văn nghệ về vấn đề dân chủ. Trong cuộc
học tập này, anh em phê phán văn nghệ rất nhiều, trong đó nổi bật lên
vai trò của anh Nguyễn Hữu Ðang. Và tôi phải nói về anh Ðang như thế
này: Anh Ðang là người hoạt động lâu năm ở trong Ðảng, nhưng đã từ lâu –
hình như có cái gì không bằng lòng mà trong danh từ của chúng tôi
người ta thường gọi là “bất mãn” – anh không hoạt động nữa. Lúc bấy giờ
Nguyễn Huy Tưởng có đón anh ấy ra để làm báo Văn Nghệ, cùng với tôi.
Trong buổi học tập văn nghệ đó, anh Ðang có đọc một bài tham luận rất
hùng hồn về những sai lầm của lãnh đạo văn nghệ. Lúc đó Ðang có nói một
câu với Nguyễn Ðình Thi -Nguyễn Ðình Thi lúc ấy là một trong những
người chịu trách nhiệm tờ Văn Nghệ- Ðang nói rằng: “Thế nào tao cũng ra
một tờ báo, tờ báo chưa biết tên là gì, tao thì không làm được nhưng để
cho bọn Giai Phẩm Mùa Xuân nó làm”. Ðó là lời nói của Ðang như thế.
Trong tất cả các anh em Giai Phẩm Mùa Xuân chỉ có tôi là biết Ðang
thôi, nhưng do việc họp văn nghệ như thế thì Ðang cũng dần dần biết anh
em chúng tôi nhiều hơn, tiếp xúc với nhóm Giai Phẩm Mùa Xuân nhiều
hơn, nhưng Ðang cũng chỉ thân với tôi thôi. Thế còn Trần Dần, Văn Cao,
và các anh em… cũng không thân gì với Ðang lắm.
Ðang nói với tôi: “Thế nào cũng phải ra báo và ra báo thì chắc là tụi mày phải làm thôi.”
Vì tình hình Trung Quốc họ làm như thế, cho nên ở Việt Nam cũng có cởi
mở hơn về vấn đề dân chủ, tháng 9 năm 1956, cho tái bản Giai Phẩm Mùa
Xuân. Như thế bước đầu, có thể gọi là một thắng lợi. Và trong tình hình
sôi sục như thế Ðang có đề nghị ra một tờ báo, tờ báo này chính là tờ
Nhân Văn.
Tờ Nhân Văn thì không
do tôi đặt tên, điều đó chắc là rõ ràng rồi. Và khi Giai Phẩm Mùa Xuân
được tái bản thì lập tức nó đẻ ra một loạt những giai phẩm khác: Giai
Phẩm Mùa Thu, Giai Phẩm Mùa Ðông và bên phiá sinh viên, là tờ Ðất Mới.
Tức là lúc đó tự nó hình thành một phong trào rộng lớn của trí thức miền
Bắc: Giai Phẩm Mùa Thu, Giai Phẩm Mùa Ðông, Ðất Mới… Vì người ta tôn
trọng Giai Phẩm Mùa Xuân mà thực tế cũng là thế, nên người ta vẫn cho
rằng, chính cái gốc của tất cả những giai phẩm này cũng như của Ðất Mới
là Giai Phẩm Mùa Xuân. Lúc đó, anh Minh Ðức có nói với tôi rằng: “Hay
là bây giờ anh chịu trách nhiệm Tổng biên tập tất cả các giai phẩm
này”, thì thôi nói: “Tôi bận quá, tôi không thể làm được”. Sau đó các
anh ấy làm với nhau thôi, chắc là một phần là anh Ðang, một phần là các
anh ấy làm, tôi không làm.
T.K.: Thưa anh,
tất cả các Giai Phẩm Mùa Xuân, Mùa Thu, Ðất Mới, … này ra đời, là một
hiện tượng bộc phát hay là có sự bàn bạc chung giữa các anh chị em tham
gia phong trào Nhân Văn Giai Phẩm?
L.Ð.: Cái đó không phải
là bàn bạc gì với nhau, nhưng mà tự nhiên nó hình thành một phong trào
đòi hỏi dân chủ và cách tân văn hóa ở miền Bắc, tập trung chung quanh
Giai Phẩm Mùa Xuân và nhóm Ðại Học do anh Ðào Duy Anh, anh Trương Tửu,
anh Thảo … và tôi thấy tình hình lúc ấy bắt đầu khó khăn. Tại vì lúc nó
chỉ là một tập Giai Phẩm Mùa Xuân thì được, nhưng đến khi nó trở thành
phong trào rộng lớn như thế này thì chắc là phải suy nghĩ một cách kỹ
lưỡng hơn. Và chúng tôi lúc đó đều mệt mỏi lắm rồi. Làm xong Giai Phẩm
Mùa Xuân cũng mệt lắm, vì cũng chỉ định làm một việc ngắn hơi thôi,
phải nói thật là tôi không nghĩ đến việc dài hơi, để thành ghê gớm như
thế này, tôi cũng không nghĩ như thế! Nhưng đời nó vẫn thế, mình làm là
một chuyện, rồi cuộc đời nó đẩy đưa mình đi. Những Giai Phẩm Mùa Thu,
Mùa Ðông cũng vẫn tiếp tục việc của Giai Phẩm Mùa Xuân, với những bài
này, bài khác rồi chị sẽ đọc sau, trong các tài liệu… Ðiểm chính là
phong trào đã phát triển và cái này thì đúng là có ảnh hưởng Trăm Hoa
Ðua Nở của Trung Quốc: Tại vì phong trào Trăm Hoa Ðua Nở của Trung Quốc
nó làm cho Việt Nam phải suy nghĩ về chính sách văn học nghệ thuật của
mình; chắc chắn đó là có ảnh hưởng, mình không nên phủ nhận cái ảnh
hưởng của người ta. Nhưng ảnh hưởng sinh ra Giai Phẩm thì không có, tôi
muốn nhấn mạnh ở chỗ ấy.
T.K.: Thưa anh,
tóm lại Giai Phẩm Mùa Xuân ra đời vào tháng giêng năm 1956, sau đó bị
tịch thu; nhờ có phong trào Trăm Hoa Ðua Nở ở Trung Quốc mà tháng
9/1956, Giai Phẩm Mùa Xuân được tái bản, đồng thời có thêm Giai Phẩm Mùa
Thu, Giai Phẩm Mùa Ðông, Ðất Mới và tờ Nhân Văn. Xin anh nói về sự
thành lập tờ Nhân Văn như thế nào và ban biên tập có những ai?
L.Ð.: Xong Giai Phẩm
Mùa Xuân thì tình trạng anh em, phải nói như thế này: Bấy giờ anh Dần
mới sinh cháu thứ nhất tức là cháu Kha bây giờ và tôi cũng bắt đầu lập
gia đình thành ra chúng tôi đều có những lo lắng mới cả. Mà trong anh
em thì cũng có nhận định như thế này: Vai trò của mình như thế cũng là
xong, mình làm xong Giai Phẩm Mùa Xuân rồi thì cũng có thể nghỉ được.
Ðến lúc ra báo Nhân
Văn, cũng lại có nhiều khó khăn lắm: Anh Dần muốn trực tiếp lo chuyện
gia đình vì anh ấy gặp nhiều khó khăn quá: bị bắt rồi lại phải lo cho
con cái. Còn tôi lúc đó, tôi cũng muốn nghỉ. Anh Ðang lại không thuộc
nhóm Giai Phẩm Mùa Xuân, anh Ðang là một cán bộ chính trị cũ thì anh
chỉ biết tôi thôi, thế còn quan hệ với các anh ở Giai Phẩm Mùa Xuân thì
anh Ðang lại không có. Mà các anh ở Giai Phẩm Mùa Xuân thì cũng không
thích anh Ðang. Rồi anh em mới quyết định thế này: Anh Cầm anh ấy đang
rỗi rãi thì giao cho anh Cầm, tách anh Cầm ra để làm việc cùng với anh
Ðang.
Về số 1 Nhân Văn,
nguồn gốc cái tên Nhân Văn, bây giờ kể lại, nó có hơi phức tạp, vì tôi
không hiểu là ai nói đúng. Tôi chắc rằng các anh ấy cũng chẳng phải nói
dối đâu nhưng mà chắc là trí nhớ của các anh không phục vụ các anh ấy
một cách trung thành: Anh Cầm thì nói rằng tên Nhân Văn là do anh ấy
nghĩ ra. Còn anh Ðang cũng nói Nhân Văn do anh ấy nghĩ ra, thì tôi cũng
không hiểu như thế nào, nhưng có một điều khẳng định là tôi không nghĩ
ra cái tên tờ Nhân Văn ấy. Cái ấy thì rõ. Còn việc ấy cứ để các anh
tĩnh trí nghĩ lại. Mà tôi thấy việc ấy cũng chẳng đáng gì (cười). Nhưng
sau, thấy tờ Nhân Văn lung tung quá, nhiều người đến, những nhà xuất
bản ở nhiều nơi cũng đến ủng hộ tiền nong, mọi thứ, nhiều quá. Tự nhiên
trở thành một phong trào rất to. Lúc ấy, các anh Giai Phẩm mới nói: “Thế này thì chắc là Lê Ðạt phải vào rồi”,
tại vì các anh vẫn nghĩ rằng tôi là người có cái nhìn quán xuyến, còn
Cầm thì chắc là không làm xuể. Anh em nói thế, thì tôi cũng đành vào
thôi. Vào một cái, thì anh Ðang đặt luôn vấn đề: “Cậu phụ trách nhé!” Tôi nói rằng: “Cậu
là đảng viên mà cậu đã thôi sinh hoạt, cậu còn chẳng phụ trách, mình
là đảng viên đang sinh hoạt thì mình phụ trách thế nào được? Mình tham
gia với cậu thế cũng là quá rồi còn gì, cậu đã biết kỷ luật của Ðảng
như thế, thì làm sao tham gia được?” Sau hai anh em bàn với nhau – thì sáng kiến này là của Ðang – Ðang bảo: “Hay là mời cụ Phan Khôi?
Mà cụ Phan Khôi cũng lại không thân gì với Ðang lắm. Thế là anh Hoàng
Cầm đến mời cụ Phan Khôi. Thì Phan Khôi khẳng khái nhận lời ngay. Sau
đó vì cụ Phan Khôi với tôi vốn có những quan hệ đặc biệt và cụ vốn biết
tôi là người phụ trách chính trong tờ báo, thì tôi phải đến gặp cụ ấy.
Tôi có nói với cụ Phan Khôi rằng: “Tôi phải nói thật với bác, tổ
chức của báo thì nó không như một tờ báo chính thống đâu, nó lung tung
lắm, cho nên tôi không thể nào đem tất cả các bài đến để cho bác duyệt
được, với tư cách bác là chủ nhiệm tờ báo.” Thế là ông Phan Khôi trợn mắt lên, nhìn tôi và nói rằng: “Ông
buồn cười thật! Tôi đứng ra là tôi chịu trách nhiệm chứ, thế còn tôi
tín nhiệm các ông, các ông làm, chứ tôi, làm sao tôi làm được!”
Riêng việc ấy tôi rất phục ông. Tôi rất trọng thái độ của Phan Khôi.
Mặc dầu ông Phan Khôi không có lãnh đạo trực tiếp gì tờ Nhân Văn cả
nhưng trong thâm tâm tôi, bao giờ tôi cũng coi ông là người lãnh đạo tờ
Nhân Văn. Do thái độ tự trọng của ông ấy. Một thái độ tốt của ông như
thế. Chứ còn báo chí cứ nói rằng ông Phan Khôi lãnh đạo Nhân Văn thì
quả thật ông Phan Khôi không làm gì trong tờ Nhân Văn cả, cái đó là rõ
ràng. Nhưng mà nguyên cái việc một người dám đứng lên chịu trách nhiệm
một việc tầy đình như thế, thì việc ấy đáng phải đề cao mới được. Nhưng
mà cái gì phải rõ ràng: Ông Phan Khôi không dính gì đến công việc hàng
ngày của báo Nhân Văn cả. Chỉ lúc nào có việc gì lớn lắm tôi mới nói
với ông ấy thôi, còn công việc là do chúng tôi làm cả.
T.K.: Nhưng
thưa anh, tờ Nhân Văn số 1 có đăng bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ của
Phan Khôi, thì bài này cũng mạnh lắm chứ ạ?(thật ra bài Phê bình lãnh
đạo văn nghệ của Phan Khôi đăng ở Giai Phẩm Mùa Xuân)
L.Ð.: Vâng, ông Phan
Khôi, đó là ông ấy chịu trách nhiệm về bài viết của ông ấy thôi. Ông
Phan Khôi từ xưa đến nay vốn là người viết văn thì ai cũng biết là ông
ấy nói rất mạnh mà ông nói thì không bao giờ ông ấy rụt tay rồi. Nhưng
mà, tôi nói thế này: ở trong tờ Nhân Văn số 1, có một bài của ông Phan
Khôi, một bài của Hoàng Cầm nói về Trần Dần và một bài thơ Tự tử của
tôi đăng như bài xã luận. Ðó là ba bài sau này gây nhiều tiếng vang
nhất ở Hà Nội đó. Nhất là cái bài Những người tự tử. Tôi nói thế không
phải để hạ thấp vai trò của ông Phan Khôi mà tôi nói thế là tôi đề cao
vai trò của ông Phan Khôi rất ghê, nhưng mà đồng thời mình cũng phải rõ
ràng, không nên có những lẫn lộn trong những người làm việc, chắc là
chị hiểu ý tôi chứ?
T.K.: Dạ, thưa
anh còn một người nữa mà trong cuốn sách Bọn Nhân Văn Giai Phẩm trước
tòa án dư luận của Nxb Sự Thật in năm 1959, thì họ coi đó là một trong
những thủ phạm rất nguy hiểm, đó là chị Thụy An. Theo anh vai trò của
chị Thụy An trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm là như thế nào? Bởi vì
cho đến nay thì mỗi người nói một cách khác nhau, thí dụ như là anh
Nguyễn Hữu Ðang thì có lần anh đã bảo là bà ấy không thuộc phong trào
Nhân Văn Giai Phẩm, vậy theo anh, chị Thụy An đã làm gì trong phong
trào Nhân Văn Giai Phẩm ?
L.Ð.: Tôi phải đính
chính một điểm mà mọi người đều hiểu lầm: Chị Thụy An chưa bao giờ ở
trong Nhân Văn Giai Phẩm cả, đó là dứt khoát. Tại vì khi tôi thay mặt
anh em làm Nhân Văn Giai Phẩm, thì tôi có đề ra mấy nguyên tắc mà tôi
cho là rất nghiêm khắc: Một là, tất cả những người viết cho Nhân Văn
Giai Phẩm phải đều là những người kháng chiến trở về. Lẽ dĩ nhiên là
không phải mình phân biệt đối xử gì giữa anh em kháng chiến với anh em
trong thành đâu, nhưng vấn đề Nhân Văn nó là vấn đề nguy hiểm, nếu có
anh em trong thành viết, người ta sẽ dễ gây những lẫn lộn lắm. Hai là,
không được nhận bất cứ số tiền nào của tất cả các nhà xuất bản. Tại vì
lúc đó các nhà xuất bản đến ủng hộ tiền rất nhiều. Lẽ dĩ nhiên chị Thụy
An là bạn của tôi mà tôi rất kính trọng nhưng chị Thụy An là người ở
trong thành.
T.K.: Thưa anh,
anh vừa nói là các anh không lấy tiền của bất cứ nhà xuất bản nào muốn
giúp đỡ Nhân Văn, như vậy anh Trần Thiếu Bảo, chủ nhà xuất bản Minh
Ðức phải là một người nhiều tiền lắm thì mới có thể bỏ ra để in Nhân
Văn, Giai Phẩm và các tờ báo khác chứ ạ?
L.Ð.: Ðó là một sự lầm
lẫn. Anh Trần Thiếu Bảo cũng không có nhiều tiền gì cả. Anh ta cũng là
người tháo vát thôi. Mà anh ta từ kháng chiến về, Trần Thiếu Bảo chỉ có
cái vỏ thôi, chứ Trần Thiếu Bảo làm gì có tiề! (cười). Nếu anh ấy có
tiền thì anh ấy đã bị đi tù nhiều rồi. Anh ấy có một xu nào đâu! (cười).
Nhưng mà anh này giỏi lắm, anh ấy đi mua giấy, mua chịu, việc nhà in
anh ấy rất giỏi. Hơn nữa anh Trần Thiếu Bảo là một nhà in ở kháng chiến
về. Việc quản trị tờ Nhân Văn là do anh Ðang lo, tôi không có thì giờ
lo việc ấy lắm nhưng mà thế này: nói chung là chúng tôi đều mua chịu
giấy báo và sau đó thì hoặc là anh em vay nợ để mua giấy báo và in chịu
và bán xong thì lại giả nợ. Ðó là mình không lấy tiền nhưng mình lấy
sự ủng hộ. Và cái việc ấy phải nói đến vai trò của anh Ðang. Anh Ðang
là trước anh ấy hoạt động ở giới văn hóa trong nội thành, cho nên anh ấy
quen rất nhiều những người làm văn hóa và những cơ sở in ấn ở nội
thành. Ðó là nguyên tắc đề ra thế, còn có vi phạm hay không thì cái đó
tôi cũng chưa được kiểm tra một cách rõ rệt lắm.
T.K.: Thưa anh bây giờ trở lại câu chuyện chị Thụy An một chút. Thưa anh người ta buộc chị Thụy An vào những tội gì?
L.Ð.: Tôi nhắc lại một
lần nữa là chị Thụy An chưa bao giờ ở trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm cả.
Nhưng chị Thụy An rất thân với anh em trong Nhân Văn Giai Phẩm và đặc
biệt là thân với tôi. Người ta buộc tội chị Thụy An, người ta cứ buộc
tội mập mờ thế thôi, nhưng tội chính của chị Thụy An là thế này: Là
gián điệp cài lại để lũng đoạn nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Nhưng cho đến
khi tôi biết thì tôi cũng chẳng thấy chị ấy viết bài nào cho Nhân Văn
Giai Phẩm cả. Thế mà chị ấy đối với tôi thì lại rất quý, chị ấy luôn
luôn mua đồ đạc cho tôi, cho vợ con tôi, và tôi cũng chẳng thấy chị ấy
bàn với tôi về việc viết một bài nào cho Nhân Văn Giai Phẩm cả. Thế cho
nên việc ấy tôi cho cũng là một cái oan rất lớn.
T.K.: Người ta buộc tội chị ấy là gián điệp, nhưng theo anh, anh rất thân với chị ấy thì anh thấy chị ấy có là gián điệp không?
L.Ð.: Tôi có thể bảo
đảm 100% chị ấy không phải là gián điệp. Tại vì thế này: Nếu là gián
điệp thì phải có chứng cớ chứ! Chị nhận tiền của ai? Nhận tiền ở đâu?
Liên lạc với ai? Cho đến bây giờ tôi vẫn thấy đó là một câu hỏi mà nhà
nước chưa trả lời tôi được. Chưa có chứng cớ thì làm sao có thể kết luận
người ta là gián điệp được. Thì cứ cho tôi là người mù mờ đi, tôi bị
chị mua chuộc đi. Tôi nhớ lại tất cả cuộc đời của tôi, thì chị ấy chưa
mua chuộc tôi lần nào cả. Và chị ấy chỉ giúp đỡ tôi rất nhiều. Cho nên
đến bây giờ tôi thấy là: Riêng về trường hợp chị Thụy An, tôi vẫn rất
ân hận. Tại vì chúng tôi đã được phục hồi nhưng chị Thụy An chưa được
phục hồi gì cả. Mà một trong những tội lớn nhất của chị ấy là mua chuộc
tôi. Thì như các bạn đã biết, tôi chưa từng cảm thấy bị mua chuộc mà
chắc cũng chưa ai mua chuộc được tôi. Cho nên tôi thấy riêng tôi bây
giờ nói những dòng này, tôi vẫn khao khát và thiết tha có một dịp nào
đó, người ta phục hồi chị Thụy An một cách chính thức. Không có thì
riêng tôi, tôi đối với chị Thụy An, tôi vẫn cho là món nợ. Còn về chị
Thụy An, tôi phải nói thế này: Chị Thụy An là một người rất giỏi. Chị
ấy là một trong những cây bút nữ đầu tiên của Việt Nam. Mà theo tôi,
chị Thụy An nói kín hở cho tôi biết, thì chị ấy đã từng tham gia kháng
chiến! Việc liên lạc với kháng chiến trong thời ấy thì mình mất mối là
chuyện bình thường, mà mất mối thì mình không thể chứng minh được. Bây
giờ cũng đã lâu rồi, đã gần 50 năm rồi. Tôi thấy chúng ta có thể mở
những kho tài liệu ra để buộc tội hoặc minh oan cho một người cho rõ
ràng và khi mình đặt rõ ràng về phận vị rồi thì mình phải trả lại danh
dự cho người ta. Và lúc đó chúng ta hãy bàn đến vấn đề chị Thụy An đóng
góp gì trong cái phong trào thời ấy. Lúc đó chúng ta có dủ bình tĩnh
hơn để bàn về vấn đề này. Riêng tôi thì không bao giờ tôi quên công của
chị Thụy An đối với tôi cả.
Lật lại hồ sơ Trương Tửu
Trong xu thế đổi mới, nhiều nhân vật lịch
sử một thời từng bị phê phán, đả kích, nay đã được nhận thức lại với
thái độ bình tĩnh, khách quan, khoa học. Trương Tửu là một trong số đó.
Trương Tửu là tác giả của những công trình nghiên cứu gây tranh cãi nảy lửa suốt hơn nửa thế kỷ qua như Kinh thi Việt Nam, Triết lý Truyện Kiều, Văn chương Truyện Kiều, Tương lai văn nghệ Việt Nam. Chẳng hạn, trong Văn chương Truyện Kiều (1945), Trương Tửu không những phê phán phương thức nghiên cứu cũ kỹ của các học giả nổi tiếng lúc bấy giờ như Đào Duy Anh, Trần Trọng Kim mà còn đưa ra những nhận định gây sốc như “Nguyễn Du là một con bệnh thần kinh. Bệnh của ông thuộc về thứ bệnh không có sự thương tổn về khí quan”, là bởi thi sĩ họ Nguyễn thừa hưởng “cái khí tiết hiên ngang không chịu khuất phục” của vùng Nghệ Tĩnh – quê cha, nhưng lại đan xen cái “chất phong tình diễm lệ” của vùng đất Kinh Bắc – quê mẹ. Gay gắt hơn, Trương Tửu còn phê phán: “Truyện Kiều chỉ là kết tinh của những cái suy nhược trong cốt tính Việt Nam”. Chưa bàn về nhận thức đúng sai, nhưng trong lúc số đông học giả thời bấy giờ đều đồng loạt ca ngợi Truyện Kiều mà Trương Tửu lại muốn “vạch ra một lối đi mới”, không “tấu” vào bản hòa ca ấy. Chỉ điều đó thôi cũng đã chứng tỏ bản lĩnh của nhà nghiên cứu này.
![]() |
| Bìa sách "Trương Tửu – Tuyển tập nghiên cứu phê bình" |
|
Năm 1927, khi mới 14 tuổi, Trương Tửu đã bị bắt, bị đuổi
học vì tham gia bãi khóa ở Hà Nội để đòi thực dân Pháp thả Phạm Tất Đắc -
tác giả Chiêu hồn nước. Ba năm sau, khi đang học trường Kỹ
nghệ thực hành Hải Phòng, Trương Tửu vận động học sinh bãi khóa nên lại
bị đuổi học. Năm 1937, Trương Tửu làm chủ bút báo Quốc gia khuynh tả, vì đả kích Bảo Đại và triều đình Huế nên ông bị truy tố trước tòa án Hà Nội và bị xử phạt. Năm 1940, ông viết Kinh thi Việt Nam nhưng bị cấm, viết truyện Thằng Hóm nhưng bị tịch thu ngay lúc ở nhà in. Từ năm 1941-1946, Trương Tửu chủ trì NXB Hàn Thuyên và tập san Văn mới,
chủ trương in sách của mọi tác giả, mọi xu hướng. Sau 9 năm tham gia
kháng chiến chống Pháp, ông tiếp tục giảng dạy lý luận và lịch sử văn
học Việt Nam tại Đại học Sư phạm và Đại học Văn khoa Hà Nội. Sau này, vì
viết bài trên tập san Giai phẩm mùa thu và Giai phẩm mùa đông,
Trương Tửu bị thi hành kỷ luật, buộc thôi công tác. Từ đó, ông chuyển
sang nghiên cứu, viết sách, làm nghề Đông y và mất tại Hà Nội. |
Y Nguyên
Trương Tửu - người bạn của cha tôi
Sinh thời, cha tôi hay kể đến những
người bạn cùng dạy học ở trường Thanh Niên (gần Ô chợ Dừa - cuối phố
Khâm Thiên) như Lê Văn Trương, Lê Tráng Kiều, Nguyễn Vỹ và Trương
Tửu. Sau Hiệp định Genève, 3 người bạn kể trên đã vào Sài Gòn làm
việc, chỉ còn lại bác Trương Tửu ở Hà Nội.
Thỉnh thoảng, cha tôi từ Hải Phòng
lên Hà Nội thăm bác. Thực ra, Trương Tửu ít tuổi hơn cha tôi, bằng tuổi
mẹ tôi, nhưng lúc nào nhắc đến ông, cha tôi thường gọi là “bác Tửu”. Ông
khen Trương Tửu thông minh, tự học mà biết rộng. Bởi thế, năm 1957, ông
đã được phong chức danh giáo sư cùng đợt với Đào Duy Anh, Đặng Thai
Mai, Trần Văn Giàu, Nguyễn Mạnh Tường... Sau đó ít lâu, tôi nghe anh tôi
về thì thầm với cha tôi chuyện gì đấy bí mật lắm. Từ dạo ấy, ít thấy
cha tôi nhắc đến “bác Tửu”.
Sau ngày thống nhất đất nước, nhất là từ khi đổi mới, tôi mới có dịp đọc ít nhiều các tác phẩm của Trương Tửu, mới vỡ lẽ cái chuyện anh tôi thì thầm với cha tôi hồi xưa lại cái chuyện “bác Tửu” bị dính líu vào vụ Nhân Văn Giai Phẩm, thôi không dạy học nữa mà chuyển sang nghiên cứu Đông y, sống bằng nghề cắt thuốc và châm cứu ở nhà riêng tại phố Hàng Gà. Đến khi tái bản “Thi nhân Việt Nam” năm 1988, tôi chép bài thơ “Gửi Trương Tửu” của Nguyễn Vỹ về đọc cho cha tôi nghe, ông cười và nói: “Các bác ấy toàn là những người chơi ngông. Không hiểu sao mà họ lại quý cha?”. Cha tôi cũng cho biết thêm họ rất thân nhau. “Dạo ông Thế Lữ viết báo công kích thơ Nguyễn Vỹ, bác Lê Tràng Kiều viết bài công kích lại ngay”. Đúng là đọc “Gửi Trương Tửu” mới thấy hai người thân nhau tới mức nào: “Dạo ấy chúng mình nghèo xơ xác/ Mà coi đồng tiền như cỏ rác/ Kiếm được xu nào đem tiêu hoang/ Rủ nhau chè chén nói huênh hoang/ Xáo lộn văn chương với chả cá”.
Giọng điệu ngông đi lên đến tuyệt đỉnh: “Thời thế bây giờ vẫn
thấy khó/ Nhà văn An Nam khổ như chó/ Mỗi lần cầm bút nói văn chương/
Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương/ Và nhìn chúng mình hì hục viết/ Suốt mấy
năm rồi kiết vẫn kiết/ Mà thương cho tôi thương cho anh/ Đã rụng bao
nhiêu mớ tóc xanh”.
Đến khi cuốn “Văn nghệ sĩ tiền chiến” của Nguyễn Vỹ được Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành năm 1994, tôi lại mang về đọc cho cha tôi nghe đoạn ông viết về Trương Tửu. Cha tôi lắng nghe rất chăm chú. Thấy mắt ông rơm rớm. Bao kỷ niệm thuở thanh xuân như tràn ngập trở lại trong ông. Vậy mà bao nhiêu năm, ông đã không gặp lại bạn mình. Có lẽ vì đường sá cản trở thời chiến tranh. Có lẽ vì ông cũng muốn được yên thân để đỡ đi những rắc rối không cần thiết trong một thời mà điều gì cũng có thể làm mình liên lụy, và sau đó là tuổi già ông có nhắc tôi khi nào rỗi rãi, nên tìm thăm “bác Tửu” thay cha. Nhưng cũng phải vài năm sau, tôi mới có dịp đến thăm Trương Tửu ở khu tập thể Hoàng Cầu. Bữa đó cùng đến thăm ông với tôi, có nhà thơ Thanh Thảo.
Tôi nhớ hôm đó, bác cháu trò chuyện rất rôm rả. Chúng tôi kể lại về
“Thanh niên S.O.S”, “Khi chiếc yếm rơi xuống”, “Một chiến sĩ”, cả 3 cuốn
đều được in ở Nhà xuất bản Minh Phương trên phố Hàng Đẫy. Những cuốn
sách đã sống, đã chìm vào im lặng trong gần một vận hội. Trương Tửu cười
tươi khi tôi nói rằng, tôi là con trai ông giáo Chín - bạn ông. Ông
cũng thừa nhận là cha tôi lành, không ngông như ông và Nguyễn Vỹ nhưng
ông cũng bảo Nguyễn Vỹ viết “Gửi Trương Tửu” là hơi quá, bởi vì ông đâu
có phải là đệ tử của lưu ly, lúc nào cũng say bét nhè. Quá nhưng vui vì
rất khẩu khí.
Tôi đã từng nghe rất nhiều đàn anh học sư phạm thời ông còn đang giảng dạy và nổi tiếng với cái tên Nguyễn Bách Khoa, nói về cách giảng rất lôi cuốn của ông trước sinh viên. Vậy mà sau bao nhiêu năm im lặng, không còn tìm thấy sự lôi cuốn ấy ở ông. Nó đã chìm sâu vào quá vãng. Chỉ còn lại một Trương Tửu ăn nói chừng mực tuy có phần rôm rả hơn ngày thường. Cũng không còn nhận ra ở ông cái giọng điệu ngang tàng khi ông viết “Bệnh sùng bái cá nhân trong giới lãnh đạo văn nghệ” in trên “Giai phẩm mùa thu” (tập II). Chỉ thấy một Trương Tửu nhỏ nhẹ như thoát khỏi những vướng bận đời thường. Trong câu chuyện, tôi có nhắc đến ông Nguyễn Mạnh Tường mà tôi và nhà nhiếp ảnh Nguyễn Đình Toán có phỏng vấn và ghi hình dài 3 tiếng. Trương Tửu chú ý lắng nghe và hỏi thăm sức khỏe của ông Tường. Bữa ấy, cùng tôi, Thanh Thảo cũng hỏi khá nhiều chuyện, nhất là thời kỳ ông thành lập ra Nhà xuất bản Hàn Thuyên, rồi quan điểm của ông nhìn nhận về L. Trôtxki - một nhân vật cách mạng Nga mà làm liên lụy tới rất nhiều người Việt Nam khi bị quy chụp theo tư tưởng của nhà cách mạng này trong đó có ông, bởi ông bị Stalin đả phá kịch liệt.
Trương Tửu thở dài. Dường như ông không muốn nhắc đến cái thời ấu trĩ
về sự nhìn nhận ấy nữa. Nhưng cái công của ông khi đưa ra một giọng
điệu phê bình kiểu mới của thế kỷ XX thì dù thế nào cũng không thể lãng
quên. Từ sau những năm Đổi Mới, Trương Tửu đã được đánh giá lại và hàng
loạt tuyển tập của ông được xuất bản. Giữa tháng 11.1999, khi đang công
tác ở Sài Gòn, tôi nghe tin ông qua đời. Tết năm 2000, tôi về báo tin
cho cha tôi. Ông ngồi lặng im. Ngày bánh trôi, bánh chay mùng 3.3, Canh
Thìn 2000, cha tôi cũng lặng lẽ ra đi khỏi cõi đời ở tuổi 92. Chắc ở nơi
xa xăm ấy, hai người bạn đã gặp nhau.
Sau ngày thống nhất đất nước, nhất là từ khi đổi mới, tôi mới có dịp đọc ít nhiều các tác phẩm của Trương Tửu, mới vỡ lẽ cái chuyện anh tôi thì thầm với cha tôi hồi xưa lại cái chuyện “bác Tửu” bị dính líu vào vụ Nhân Văn Giai Phẩm, thôi không dạy học nữa mà chuyển sang nghiên cứu Đông y, sống bằng nghề cắt thuốc và châm cứu ở nhà riêng tại phố Hàng Gà. Đến khi tái bản “Thi nhân Việt Nam” năm 1988, tôi chép bài thơ “Gửi Trương Tửu” của Nguyễn Vỹ về đọc cho cha tôi nghe, ông cười và nói: “Các bác ấy toàn là những người chơi ngông. Không hiểu sao mà họ lại quý cha?”. Cha tôi cũng cho biết thêm họ rất thân nhau. “Dạo ông Thế Lữ viết báo công kích thơ Nguyễn Vỹ, bác Lê Tràng Kiều viết bài công kích lại ngay”. Đúng là đọc “Gửi Trương Tửu” mới thấy hai người thân nhau tới mức nào: “Dạo ấy chúng mình nghèo xơ xác/ Mà coi đồng tiền như cỏ rác/ Kiếm được xu nào đem tiêu hoang/ Rủ nhau chè chén nói huênh hoang/ Xáo lộn văn chương với chả cá”.
|
Trương Tửu. Ảnh: Tác giả cung cấp. |
Đến khi cuốn “Văn nghệ sĩ tiền chiến” của Nguyễn Vỹ được Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành năm 1994, tôi lại mang về đọc cho cha tôi nghe đoạn ông viết về Trương Tửu. Cha tôi lắng nghe rất chăm chú. Thấy mắt ông rơm rớm. Bao kỷ niệm thuở thanh xuân như tràn ngập trở lại trong ông. Vậy mà bao nhiêu năm, ông đã không gặp lại bạn mình. Có lẽ vì đường sá cản trở thời chiến tranh. Có lẽ vì ông cũng muốn được yên thân để đỡ đi những rắc rối không cần thiết trong một thời mà điều gì cũng có thể làm mình liên lụy, và sau đó là tuổi già ông có nhắc tôi khi nào rỗi rãi, nên tìm thăm “bác Tửu” thay cha. Nhưng cũng phải vài năm sau, tôi mới có dịp đến thăm Trương Tửu ở khu tập thể Hoàng Cầu. Bữa đó cùng đến thăm ông với tôi, có nhà thơ Thanh Thảo.
| Một số tác phẩm của Trương Tửu. |
Tôi đã từng nghe rất nhiều đàn anh học sư phạm thời ông còn đang giảng dạy và nổi tiếng với cái tên Nguyễn Bách Khoa, nói về cách giảng rất lôi cuốn của ông trước sinh viên. Vậy mà sau bao nhiêu năm im lặng, không còn tìm thấy sự lôi cuốn ấy ở ông. Nó đã chìm sâu vào quá vãng. Chỉ còn lại một Trương Tửu ăn nói chừng mực tuy có phần rôm rả hơn ngày thường. Cũng không còn nhận ra ở ông cái giọng điệu ngang tàng khi ông viết “Bệnh sùng bái cá nhân trong giới lãnh đạo văn nghệ” in trên “Giai phẩm mùa thu” (tập II). Chỉ thấy một Trương Tửu nhỏ nhẹ như thoát khỏi những vướng bận đời thường. Trong câu chuyện, tôi có nhắc đến ông Nguyễn Mạnh Tường mà tôi và nhà nhiếp ảnh Nguyễn Đình Toán có phỏng vấn và ghi hình dài 3 tiếng. Trương Tửu chú ý lắng nghe và hỏi thăm sức khỏe của ông Tường. Bữa ấy, cùng tôi, Thanh Thảo cũng hỏi khá nhiều chuyện, nhất là thời kỳ ông thành lập ra Nhà xuất bản Hàn Thuyên, rồi quan điểm của ông nhìn nhận về L. Trôtxki - một nhân vật cách mạng Nga mà làm liên lụy tới rất nhiều người Việt Nam khi bị quy chụp theo tư tưởng của nhà cách mạng này trong đó có ông, bởi ông bị Stalin đả phá kịch liệt.
| Một số tác phẩm của Trương Tửu. |
TRƯƠNG TỬU
Sinh ngày 18.10.1913, trong một gia đình trung lưu ở ngoại ô Gia Lâm (Hà Nội). Mẹ mất sớm, cha là một nhà nho thủ cựu, nghiêm khắc.
Ông học hết năm thứ nhất bậc trung học, rồi học trường Kỹ nghệ thực hành ở Hải Phòng (nghề thợ tiện) nhưng chỉ được một năm rưỡi thì bị đuổi học (1927), vì tham gia bãi khóa ở Hà Nội. Bị buộc rời trường, ông tự học chương trình Tú tài Pháp - Việt.
Từ năm 1941 - 1946, làm Giám đốc Văn chương (tương tự Tổng biên tập) Nhà xuất bản Hàn Thuyên. Thời kháng chiến chống Pháp, ông là Ủy viên Hội Văn hóa Việt Nam, tham gia Bí thư đoàn liên đoàn Văn nghệ kháng chiến liên khu IV, dạy trường Thiếu sinh quân, trường Dự bị đại học…
Sau hiệp định Genève 1954, ông về Hà Nội, dạy Trường Đại học Sư phạm, Đại học Văn khoa Hà Nội. Năm 1957, ông được phong chức danh Giáo sư…
Đầu năm 1958, bị buộc thôi việc vì dính líu đến vụ Nhân văn giai phẩm. Sau đó, ông chuyển sang nghiên cứu y học và sống bằng nghề Đông y.
Trương Tửu mất vào ngày 16.11.1999, tại Hà Nội, thọ 86 tuổi.
MỘT SỐ TÁC PHẨM:
Truyện ngắn, tiểu thuyết: “Thanh niên S.O.S” (1937), “Một chiến sĩ” (1938), “Khi chiếc yếm rơi xuống” (1939), “Khi người ta đói” (1940), “Một cổ đôi ba tròng” (1940), “Trái tim nổi loạn” (1940), “Đục nước béo cò” (1940), “Một kiếp đọa đày” (1941), “Tráng sĩ Bồ Đề” (1943), “Năm chàng hiệp sĩ” (1944)…
Nghiên cứu, lý luận, phê bình Văn, sử học: “Những thí nghiệm của ngòi bút tôi” (1939), “Uống rượu với Tản Đà” (1938), “Kinh thi Việt Nam” (1940), “Nguyễn Du và Truyện Kiều” (1943), “Nhân loại tiến hóa sử” (1943), “Nguồn gốc văn minh” (1943), “Văn minh sử” (1943), “Nguyễn Công Trứ” (1944), “Văn chương Truyện Kiều” (1944), “Tương lai văn nghệ Việt Nam” (1945). “Đại quan về 40 năm văn học Việt Nam hiện đại 1905 - 1945” (1948), “Phương pháp phê bình văn học” (1948), “Văn nghệ bình dân Việt Nam” (1952), “Truyện Kiều và thời đại Nguyễn Du” (1956), “Chỉnh huấn là gì?” (1956), “Chống văn hóa nô dịch” (1956), “Mấy vấn đề văn học sử Việt Nam” (1958)...
Sinh ngày 18.10.1913, trong một gia đình trung lưu ở ngoại ô Gia Lâm (Hà Nội). Mẹ mất sớm, cha là một nhà nho thủ cựu, nghiêm khắc.
Ông học hết năm thứ nhất bậc trung học, rồi học trường Kỹ nghệ thực hành ở Hải Phòng (nghề thợ tiện) nhưng chỉ được một năm rưỡi thì bị đuổi học (1927), vì tham gia bãi khóa ở Hà Nội. Bị buộc rời trường, ông tự học chương trình Tú tài Pháp - Việt.
Từ năm 1941 - 1946, làm Giám đốc Văn chương (tương tự Tổng biên tập) Nhà xuất bản Hàn Thuyên. Thời kháng chiến chống Pháp, ông là Ủy viên Hội Văn hóa Việt Nam, tham gia Bí thư đoàn liên đoàn Văn nghệ kháng chiến liên khu IV, dạy trường Thiếu sinh quân, trường Dự bị đại học…
Sau hiệp định Genève 1954, ông về Hà Nội, dạy Trường Đại học Sư phạm, Đại học Văn khoa Hà Nội. Năm 1957, ông được phong chức danh Giáo sư…
Đầu năm 1958, bị buộc thôi việc vì dính líu đến vụ Nhân văn giai phẩm. Sau đó, ông chuyển sang nghiên cứu y học và sống bằng nghề Đông y.
Trương Tửu mất vào ngày 16.11.1999, tại Hà Nội, thọ 86 tuổi.
MỘT SỐ TÁC PHẨM:
Truyện ngắn, tiểu thuyết: “Thanh niên S.O.S” (1937), “Một chiến sĩ” (1938), “Khi chiếc yếm rơi xuống” (1939), “Khi người ta đói” (1940), “Một cổ đôi ba tròng” (1940), “Trái tim nổi loạn” (1940), “Đục nước béo cò” (1940), “Một kiếp đọa đày” (1941), “Tráng sĩ Bồ Đề” (1943), “Năm chàng hiệp sĩ” (1944)…
Nghiên cứu, lý luận, phê bình Văn, sử học: “Những thí nghiệm của ngòi bút tôi” (1939), “Uống rượu với Tản Đà” (1938), “Kinh thi Việt Nam” (1940), “Nguyễn Du và Truyện Kiều” (1943), “Nhân loại tiến hóa sử” (1943), “Nguồn gốc văn minh” (1943), “Văn minh sử” (1943), “Nguyễn Công Trứ” (1944), “Văn chương Truyện Kiều” (1944), “Tương lai văn nghệ Việt Nam” (1945). “Đại quan về 40 năm văn học Việt Nam hiện đại 1905 - 1945” (1948), “Phương pháp phê bình văn học” (1948), “Văn nghệ bình dân Việt Nam” (1952), “Truyện Kiều và thời đại Nguyễn Du” (1956), “Chỉnh huấn là gì?” (1956), “Chống văn hóa nô dịch” (1956), “Mấy vấn đề văn học sử Việt Nam” (1958)...

Nhận xét
Đăng nhận xét